GS/TS MAI THANH TRUYẾT: Tản Mạn Về Ngày Cách Mạng 10-6




KIỀU MỸ DUYÊN – CHA ƠI, CON THƯƠNG CHA LẮM!




YÊN SƠN – GIỚI THIỆU TRANG VĂN HỌC THƠ NHẠC YÊN SƠN (VietLife TV, June 06th. 2025)




THƯ ĐÔNG KINH THÁNG 6 – ĐỖ THÔNG MINH




CAO MỴ NHÂN – VĂN: HUYỀN THOẠI 12 – 6. Đóa Hoa Vô Ưu- Và Chùm THƠ Cao Mỵ Nhân.

HUYỀN THOẠI 12 Tháng 6

Cao Mỵ Nhân

Giai thoại thơ Tố của Hoàng ơi có hai bài chính:

Mười Hai Tháng Sáu

Tố Của Hoàng Ơi

Tìm một ý có vẻ giới thiệu cuộc tình thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cứ như là giận lắm mối duyên gãy đổ của mình, nhà thơ viết:

Năm mười hai tháng, ai không biết

Đã tháng nào không tháng sáu chưa?

Đây là hai câu trong một đoạn thơ ở bài sau, Tố của Hoàng ơi, tác giả viết năm 1972, còn khẳng định thời gian đã trên 30 năm không có Tố, tức là khởi sự Tố với Hoàng kết thân khoảng từ 1950 đến 1952.

Bây giờ đi vào chi tiết.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (5/5/1916 – 6/9/1976) vừa xong hoa giáp thì ra đi vào cõi mịt mù, sau cũng cả năm trời bị nhốt trong khám Chí Hoà vì là một nhà thơ trí thức tiểu tư sản, lẽ nào bạo quyền duy vật để cụ yên.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cùng với thi sĩ Đinh Hùng (1920 – 1967) em cụ bà Vũ là hai nhà thơ lãng mạn nổi tiếng một lượt với các thi sĩ tiền chiến Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, nhưng nhị vị đương nêu không theo cộng sản mà đã di cư vào Nam năm 1954.

Vô Nam, thi sĩ Đinh Hùng thành lập ban Tao Đàn, tiếng nói thơ văn miền tự do cùng với quý ông Thanh Nam, Văn Quang, Thái Thuỷ, v.v.. Thi si Vũ Hoàng Chương thì đi dạy học ở Sài Gòn.

Song có điều lạ là các thi sĩ lớn ở đâu cũng vậy, người ta tức là đông đảo độc giả, thính giả thường ưa nghe huyền thoại của nhà thơ hơn là theo dõi hành trình thơ đã tiến tới đâu.

Có khi những đoạn đời sau cũng có những điều riêng tư đáng ngợi ca nhưng độc giả vẫn cứ quen thuộc huyền thoại, đến không quên một chi tiết nhỏ.

Thí dụ nhắc tới thi sĩ Cung Trầm Tưởng là lập tức khách thơ nói ngay: Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế… Nhắc tới thi sĩ Đinh Hùng thì cứ đánh thức hồn mà dậy…

Và ngay với cụ Vũ Hoàng Chương thì Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, cũng khuôn vàng thước ngọc, nhưng xem ra thua kém Tố của Hoàng ơi hẳn.

Do đó huyền thoại này là bất biến với nhà thơ. Tố của Hoàng ơi cứ lừng lững năm này qua năm khác đi vào những khúc quanh thơ ca Vũ Hoàng Chương.

Mười hai tháng sáu

Mở màn cho thiên hạ thấy tình sử, bốn khổ thơ đầu khổ nào cũng có Tố của Hoàng ơi theo thứ tự:

Tố của Hoàng ơi, hỡi nhớ thương…

Tố của Hoàng ơi, Tố của anh…

Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi…

Tố của Hoàng nay, Tố của ai…

Tiếp tới bốn đoạn sau của bài thơ tám khổ ấy chỉ toàn hò, xừ, xang, xế với danh tính Kiều Thu.

Vậy Kiều Thu là nhân vật nào nữa đây?

Xin thưa Kiều Thu lẫn lộn trong hò, xừ, xang, xế mà thôi. Kiều Thu hề Tố em ơi có nghĩa Kiều Thu chính là Tố vậy.

Kiều Thu hề Tố em ơi

Ta đang lửa đốt tơi bời mái Tây

Hàm ca nhịp gõ khói bay

Hò, xừ, xang, xế, bàn tay điên cuồng…

Nếu huyền thoại chỉ bấy nhiêu thì thật quả câu chuyện chỉ là trách móc, rồi dùng hò, xừ, xang, xế… xênh phách cho quên đời.

Nhưng có một đoạn thơ như bật cái điều bí mật ra, thi sĩ Vũ Hoàng Chương nói thẳng cho những ai muốn biết:

Huyền thoại Tố của Hoàng ơi chỉ là một cuộc tình cuồng, tình si không hơn không kém. Không vì một lý do to lớn nào hay một chuyện tình lồng trong một sứ mệnh gì của sơn hà xã tắc chẳng hạn. Chỉ là tình buồn, mãi mãi tình buồn…

Men khói đêm nay sầu dựng mộ

Bia đề tháng sáu, ghi mười hai

Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc

Tố của Hoàng nay Tố của ai?

Tố của Hoàng ơi

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương với hơn 30 năm nỗi oan hờn, ẩn ức không thể một mình ấp ủ được mãi.

Không lý chuyện tình cảm riêng mà bắt vợ con gia đình chia sẻ? Nỗi đau trở thành mối thù ma quái vì sự thực Tố đó không chết mà vẫn sống trong dằn vặt, oan khiên, cay đắng của một nhà thơ lớn mà cứ phải lụy tình một người…

Nên tới năm 1972, đúng ngày 12 tháng 6, cụ làm một bài thơ bảy khổ tứ tuyệt lấy hẳn tựa đề Tố của Hoàng ơi.

Bài thơ này gần như bạch hoá mối tình cuồng si, mê loạn trong hơn 30 năm.

Có thể trên cương vị một người làm thơ, dù mê đắm tới đâu, tôi nghĩ với thời gian dài dằng dặc hơn 30 năm bao tang thương đó, tình cảm cũng đứng lại. Dù Tố của Hoàng đẹp tới thế nào cũng không là tiên, là Phật trong tranh để trẻ mãi không già.

Một dịp hội thơ đầu thập niên 80 thế kỷ trước tại Uyển Đình, tư thất của nữ sĩ Uyển Hương, cũng vào một ngày tháng 6 năm 1982, tình cờ tôi lại ngồi cạnh nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh, phu nhân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã quá cố, đồng thời là hiền tỷ cố thi sĩ Đinh Hùng…

Nhị vị thi sĩ lớn quá, dễ gây ấn tượng.

Bất giác tôi ngó nữ sĩ Thục Oanh, mỉm cười: Tố của Hoàng ơi đâu rồi chị?

Nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng hài không kém, bèn đổi giọng nói kiểu… thơ:

Tố của Hoàng xưa, Tố đã già… rồi.

Mừng quá, tự dưng biết tin Tố của huyền thoại cụ Vũ, tôi ỡm ờ: Biết rồi, nhưng Tố ở đâu xa?

Tất nhiên, nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng đẩy xa câu chuyện vào huyền thoại cho đẹp mãi tình phu, nghĩa phụ cụ Vũ cùng Đinh nữ sĩ trong văn chương lẫn ngoài cuộc sống bình thường vậy.

Hoá cho nên, yêu đây là yêu cái dĩ vãng thôi, phải xoá trắng cái dĩ vãng mới gọi là không còn dính líu tới nhau:

Tháng có 30 ngày để giết

Ngày 12 vẫn sống như xưa

Hay:

Còn đó 12, còn tháng 6

30 năm lẻ vẫn chưa vừa…

Đã đến lúc tình yêu thương trở nên nghiệt ngã, hằn học, cực đoan… Thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở thành độc đoán, dằn vặt giai nhân Tố:

Ngày mai, ngày mốt, anh nằm xuống

Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ

Đập nát ra cho trời đất uống

Thì em sẽ rụng khỏi đêm mờ…

Đoạn trên mới chỉ khai vị, chưa uống được cái cơn say tàn nhẫn hơn nữa bởi vì bị khựng lại do trong tâm khảm người bị thất tình vẫn còn lại chút gì để tiếc nhớ.

Tới giai đoạn những gì quý giá, ân tình nhất đã bị gạt đi, chỉ còn lại hai sự kiện để chọn lựa là hy sinh hay thù hận, mới quên được người tình hay cuộc tình.

Thi vương Vũ Hoàng Chương có lẽ vì mất mát tình cảm nhiều quá nên không thể cho thêm, hay mất thêm:

Mười hai tháng sáu, cung Hồ, Xế

Một mối tình si, một mối thù

Giây phút cũng tan thành suối lệ

Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu.

Độc giả, thính giả tưởng rằng mối tình si đã biến thành mối tình thù không sao gỡ được.

Nhưng như tôi đã trình bày ở trên, sau 30 năm nhà thơ vẫn có thể viết tiếp những vần điệu cũ để tô điểm thêm cho huyền thoại, tưởng như thất thoát, mà cũng được đền bù.

Huyền thoại Tố của Hoàng ơi âm hưởng phảng phất những chuyện tình buồn trong cổ tích, ngoài dân gian ở bất cứ nơi đâu và thời gian nào…

CAO MỴ NHÂN

**

Không biết cây vô ưu cao thấp to nhỏ thế nào, nên cành vô ưu cũng là trong tưởng tượng đối với tôi, xin quý vị tha lỗi cho một kẻ tò mò, ham hố, nhưng đầy thiện chí. 

Nhưng hoa vô ưu thì hình như tôi có vài lần thấy thấp thoáng trong tâm tưởng…

Đóa hoa ấy không rõ nét, lại càng không thấy mầu sắc rõ ràng…nó mơ hồ thoắt ẩn, thoắt hiện, trên trang giấy khói hương, hay là ở một không gian nào huyền ảo khó nhận ra được nơi đâu trên thế gian này…

Tôi cứ bâng khuâng, rồi lại băn khoăn tự hỏi: ” Hay là mình hệ lụy quá, nên không được hưởng phút giây thanh thoát cao vời, thưởng lãm hương vô ưu đang ngạt ngào tỏa khắp đó đây …

Nhưng phải năng đến chùa, có đến chùa không mà đòi thấy hoa vô ưu chứ. 

Cũng đến nhưng không thường xuyên. 

Hôm xưa về Già Lam, bạn đạo dắt tới một gốc cây thật to, lối cổng đi vào Chùa, bên tay phải, bảo rằng đó là cây bồ đề. 

Mình nhìn kỹ cây bồ đề, tưởng tượng Phật tổ ngôi ngay ngắn, thẳng thớm dưới gốc cây bồ đề, ở xứ Phật xa xôi…

Mình lén hỏi: ” Còn cây vô ưu chỗ nào, xin chỉ cho tôi biết với” 

Người bạn đạo chợt nghĩ chắc tôi không phải Phật Tử mới hỏi dớ dẩn thế, bèn nhìn tôi từ đầu xuống chân, ăn mặc tầm xoàng, hỏi sao tới chùa mà không mặc áo tràng, còn ngơ ngẩn thăm hỏi …tào lao . 

Làm gì có cây vô ưu, đóa hay hoa vô ưu thôi chớ, sao hỏi lôi thôi vậy, may mà không gặp thầy, đóa hay hoa vô ưu luôn nở trên tay Phật. 

Hoa vô ưu từ lòng Phật, tâm Phật mà ra …

Phải tu tâm, dưỡng tính, ngay lành, từ bi hỉ xả…nghĩa là phải tôn trọng, thanh tịnh ghê lắm mới thấy được hoa vô ưu ấy. 

Thế thì …lâu quá, làm sao thấy được ngay …

Ô hay, nội cái tính nôn nóng của chị, đã cho mọi người thấy, và cả bản thân chị cũng thấy không có hoa vô ưu trong tâm hồn, trong tư tưởng chị rồi. 

Thế phải làm sao ? 

Phải chấm dứt ngay sự việc nôn nóng, vội vã, tồn tại trăm thứ suy nghĩ trong đầu óc chị, mới …vô ưu được chớ, phải không, thử nghĩ xem…

Bạn đạo cười: ” Tự mình sẽ tìm thấy hoa vô ưu đó, xưa tôi cũng vậy, nhưng bây giờ thì đóa vô ưu đó luôn tươi tốt trong lòng tôi đấy “.

Bạn đạo lẻn đi mất, còn mình tiếp tục hoang tưởng, giữ mãi cái trạng thái đó lênh đênh về nhà. 

Vô ưu ? Là không ưu tư, không suy nghĩ, không buông mình theo những tạp niệm vô cớ, vô tình …mà xả bỏ hết, đạt tới tuyệt đỉnh của chữ vô: vô ưu. 

Chắc cũng…khó lắm, nhưng phải kiên trì, phải nhìn tấm đại gương, coi mức chiếu sáng tới đâu, để phẩm chất tiến tới, không quá lố, vì tính chất vô ưu trước nhất phải tự nhiên. 

Anh mỉm cười lửng lơ, một chút khôi hài, vì anh biết mình đã từng nhận một vài ” công tác ” với đám đông, trong sinh hoạt xả bỏ, nhưng phải hỉ xả, nghĩa là cho đi, vứt đi một cách vui vẻ …chớ đừng chấp nhận như bắt buộc.

Nhưng chính mình cũng thoáng chút nghi ngờ, sự cố gắng làm việc thiện, lại không phải cho đối tượng tha nhân cần thiết, mà là cho bản thân người muốn đi ban phát. 

Tôi có thể chứng minh với quý vị, một nhà thơ nữ bậc chị của tôi về tuổi tác, đã bất bình câu nói …trung thực mà tôi không cảm thấy hối hận, rằng : ” Từ bi chỉ có ở trong chùa ” .

Tại sao tôi lại nhận định vậy ? Vì quả thực tôi đã chứng kiến nỗi giận, hay phải nói là cuộc giận của bà chị nêu trên.

Bà đã gạt phứt những lý luận của mọi người đóng góp về danh xưng và danh nghĩa ” từ bi hỉ xả “, cứ cho là mình đúng vì mình, là họ không phải tôi, đã ở chùa suốt thời gian 24/24 giờ, 7/7 ngày một tuần, chỉ vì muốn xả hết, nhưng cứ gây cho người khác ấn tượng sân khiếp đảm của bậc …chân tu. 

Thành ra áo không mặc qua khỏi đầu là đúng, các cụ cố dân tộc ta, ít có dịp đánh giá sai con người: 

Thứ nhất là tu tại gia

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa . 

Bây giờ đã nhiều nhân vật tiếng tăm một thời qua đời rồi, nhưng quả ” ngựa chết để da, người chết để tiếng “, tôi có thời quen thân với quý phu nhân của các thi sĩ nổi tiếng như nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh hiền thê của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, rồi phu nhân của thi sĩ Đinh Hùng. 

Quý bà nêu trên thực sự ” từ bi hỉ xả ” đến nỗi hàng chục ( tôi không dám nói hàng trăm ) giai thoại tình trường của nhị vị thi gia lớn, mà có gây điều tiếng gì trong gia đình quý vị đó đâu, nếu không phải quý phu nhân ” từ bi hỉ xả ” à ? 

Nhưng có một nghĩa cử cao đẹp, mà chúng ta cũng nên biết về tấm lòng” từ ” cùng với nghĩa ” xả ” mà người nghệ sĩ diễn ngâm hàng đầu của Tao Đàn, Tiếng nói thơ văn miền nam tự do, đó là nghệ sĩ Hồ Điệp, một lần chị rủ tôi đến cuối đường Trương Tấn Bửu nối dài, Phú Nhuận, để thăm xã giao cụ thi sĩ Đường luật Như Ý. 

Tôi thấy chị Hồ Điệp ôm khư khư một gói giấy báo trước ngực. Tôi hỏi chị mang gì vậy ? Chị bảo: ” Đó là mấy cái áo tuy cũ nhưng bà hai cụ thi sĩ Như Ý thích lắm, chị đem biếu bà ấy” 

Sau 30-4-1975, dẫu cho ở Saigon xa hoa, sang giàu, nhưng nhà nào cũng kiệt quệ vì chủ nghĩa vô sản đó, 2 con trai nữ nghệ sĩ Hồ Điệp over sea tới Mỹ, chưa có tin tức, chị vẫn chia cho bạn gái niềm vui, dù thiếu thốn. 

Chị kể là, thi sĩ tài tử Như Ý, 

Đã phải làm thơ vì hoàn cảnh 2 bà của cụ: 

Bà lớn cóc cóc, coong coong ( gõ chuông niệm Phật) 

Bà bé lịch kịch chùi soong dưới nhà ( rửa chén, nồi niêu …) Tất nhiên chị tặng bà bé của cụ thi sĩ nêu trên . 

Tôi chẳng có ý tán rộng danh tính ” vô ưu” qua sự việc tầm thường nhất . Song, để đạt tới tiến trình “vô ưu” đôi khi dễ mà khó, hay ngược lại . 

Cái tâm là chính, nếu vô tâm, vô tính, vô lý, vô lễ …thì cũng gian nan mới tới được bờ giác . Phải ở bờ giác mới đạt được 2 chữ ” vô ưu”. 

Đồng thời theo thiển ý của tôi, có mon men tới được bờ giác cũng mệt nghỉ…

Thế nên, với tôi thôi, tràn đầy say đắm, mê si…để làm thơ, thì chắc chẳng thấy được đóa vô ưu nở hoa trên tay Đức Phật, Đấng chủ thuyết ” từ bi hỉ xả ” cho đời bớt chuyện khổ tâm , xây dựng hành trình ” vô ưu” để tự cứu mình ra khỏi …bản ngã phức tạp, mê lầm suốt kiếp …

         CAO MỴ NHÂN 

==

**

HOA QUỲNH MÙA HẠ.     CAO MỴ NHÂN

Hoa quỳnh nở mùa hạ

Lạt tựa nụ hôn phai

Em tô mầu phấn má

Cho tươi thắm lòng ai

*

Nhưng hương quỳnh đã tan

Chậu cây xanh héo tàn

Đoá quỳnh buồn rũ cánh

Anh về chở nắng sang

*

Chẳng còn gì cho em

Đoá quỳnh không thức giấc

Mầu hoa vàng võ thêm

Anh buồn se ánh mắt

*

Lệ em cũng vừa rơi

Gọi sầu trong tiếng hát

Tình thoáng vụt chơi vơi

Có gì như mất mát …

   CAO MỴ NHÂN

**

SẦU M.     CAO MỴ NHÂN

Ta về gom hết vần thơ cũ

Đọc lại, xem buồn lên tới đâu

Tình vẫn đầy vì chưa rạn vỡ

Ý còn vui hẳn chẳng hờn đau

*

Nhưng sao khói toả phai hàng chữ

Để mãi sương bao đậm cõi sầu

Có viết ngàn chương, thì cũng vậy

Từ xưa và tất cả … thời sau …

*

 Hawthorne – Đại hạn Utah.

         CAO MỴ NHÂN 

**

SẮC HẠ.      CAO MỴ NHÂN

Ngó nghiêng thấy được bầu trời

Cũng nghiêng như thủa để rơi mất cờ

Từ phen chất ngất đỉnh thơ

Ánh vàng chiếu rực rỡ bờ đại dương

*

Chiều hoang nắng chiếu tơ vương

Đưa tay kéo áo khói sương che buồn

Núi sông sắc hạ đọng hồn

Bâng khuâng thấp thoáng mộng còn đây kia

*

Làm sao tình cạn mộ bia

Cuối đời lệ đổ sầu chia đôi hàng

Rằng ta vẫn khách quan san

Em ơi, nán gọi hạ mang nắng về …

*

Lẽ nào tình muộn sơn khê

Cờ bay khắp chốn nắng thề vàng hoa

Trở mình, trời đất bao la

Hình non, bóng nước vỡ oà hạ ơi…

         CAO MỴ NHÂN

**

CƠN MƯA MÙA HẠ.     CAO MỴ NHÂN

Cơn mưa mùa hạ thật buồn

Như khi thu tới, hay còn tiếc xuân

Bởi vì mưa hạ bâng khuâng

Như khi anh bỏ tình nhân xa rời

*

Một khung kỷ niệm thiếu thời

Chúng mình ngồi đếm mưa rơi bạt ngàn

Ôi mưa mùa hạ lỡ làng

Giơ tay che mặt hai hàng lệ tuôn

*

Mấy mươi năm ướt át hồn

Hong khô từ độ anh còn cạnh em

Bây giờ mùa hạ buồn thêm

Vì mưa mang cả nỗi niềm sầu đau

*

Mưa làm nát ngọc, tan châu

Đêm đi càng nhớ lời nhau giã từ

Mưa ơi, mưa đến bao giờ

Xoá xong hình ảnh trong thơ mê cuồng…

      CAO MỴ NHÂN   

**

THĂM MỘ LÍNH XƯA .     CAO MỴ NHÂN

Em về giữa buổi bình minh

Tươi như máu đổ trên hình người xưa

Cả không gian bỗng tiễn đưa

Hồn chinh phu trải gió mưa nơi này

*

Chiến trường cạn chén riêng tây

Tình yêu nước đã khô bay mộ chàng 

Trao anh nguyên sắc cờ vàng

Này đây, tất cả lỡ làng quê ta

*

Em về câm nín xót xa

Sau lưng lạnh toát hồn ma tượng đài

Bó nhang chợt tắt u hoài

Nắng hong nỗi nhớ ngang trời Tiếc Thương

*

Thôi anh, tóc rối tơ vương

Vòng tay buông lỏng nghe hương khói tàn

Một mình thương tủi vô vàn

Buồn ơi mộng mị quan san bái từ …

            CAO MỴ NHÂN




THẾ HỮU VĂN ĐÀN – Firmament JULY 2025.

Lời Giới thiệu:

Dear Friend and Reader,

Long-term memory clings like a barnacle to the mind, consciousness, or brain, I don’t know which, but gustation and olfaction appear to  cling just as tenaciously to long-term memory as barnacles, and allow this French novelist to produce 1.5 million words of adorable reminiscences of the past, and the humanist Nguyễn  Bảo  Hưng to comment with profound thoughts of his own, having benefited as student from his professor at Sorbonne, who happened to be an expert on this writer. The Vietnamese language sure is a curious invention. It takes a lowly number such as one or three, and combine it with other words to form everyday idiomatic expressions of incomparable color and wit. We owe it to this one-of-a-kind researcher Nguyễn Ngoc Hà and her unbounded scholarship to bring them to light. You know Hoàng-Tâm Hilton as a Zen meditation guru, but did you read her collection of actionable tips and applicable quotations for those in their golden years? You’ll be glad to heed what she brought to you. What’s seven years compared to 50? A fraction, but to Yên Sơn it’s might as well be a lifetime. His comparatively short stint of the former VN Air Force is an obsession he can’t live down. This time he describes the Apocalypse.  Engineers are such a protean category of beings! Take Nguyễn Giụ Hùng, for instance. He delves into the minute detail of the classical examination regime of old Vietnam (a sequel),  travels to the must-see Perfume temple (another sequel), and fools around with a literally tongue-in-saliva licking stamp society. Or the intrepid philologist Nguyễn Văn Ưu who eats language theoretic controversy for lunch every time. However, this time he approaches etymology in a noncontroversial way. Or Phí Minh Tâm–you have to gently slap him on the wrist before he admits it–is a dyed-in-the-wool lover of Chinese poetry, particularly that in the famed Tang period.  If a picture is  a thousand words, then what is a graph? It’s mouthwatering frosting on a scrumptious cake. Physicist turned computer application developer in chief Trương Thiệu Hùng proposes to train you in the art and science of developing graphs for all purposes. So hurry, no, fly to his tutorial before somebody beats you to it.

The ecologist Thái Công Tụng worries about pollution in air, water and soil as well as sustainable development. He shows that development and ecology are intertwined. He digs deep into the river system in North Vietnam to point out environmental issues to address before it is too late. Scholar Nguyễn Cẩm Xuyên depicts the resurgence of the game of Zen parallel sentences written in Chinese characters on paper, which offer endless entertainment value, all depending on brush strokes. This time the topic is “bamboo.”

 Move over Dean Koontz, Steven King, Dan Brown. Here comes Nguyễn Tuấn Huy. Our newly-minted suspense writer is offering the second episode of Black Society involving a female character. It’s quite compelling read.    Cao My Nhân is being mysterious in claiming somebody she knew was over 100 years old  and sand in the desert is indecipherable ! The master psychodrama Linh Vang is back to mystify us with a trip back to the old home. Sigh! As an incorrigible romantic, Kim Oanh‘s life is a string of Valentines. Out West Phương Hoa was having a ball with an award event for the Overseas Youth, which is quite a spectacle to behold. And from Melbourne, Võ Thị Như Mai sent a cornucopia of short gems of bite-sized prose, each with its own irresistible charm.

Up in Parnassus, Nguyễn Ngọc Hà reminds me of Verlaine. Both wrote in French. I love the rains in both. Verlaine’s rain is hauntingly melancholy without an iota of relief while Hà’s is unabashedly philosophical. Hers is a deep sense of rejection, of life’s treachery and  indifference while her heart aches with compassion for lonely souls. Võ Thị Như Mai lavishes us with rich poems from The Rhythm of Vietnam. Kim Oanh is nothing but unrelenting love, all-season love, crazily tender love.  Cao My Nhân is lost in lost love and inconsolable. Return to Phan Khâm is a journey of futility.  The spirit of Valentine has made Phương Hoa a captive with a heart full of compassion. The long-absent Khuất Duy Tường did it again, this time with translation into polished French of two of the most beloved poems of a late poet-philosopher who was also his teacher. I am speechless in witnessing so much beauty in such a confined space.

Moliere’s comedy-ballet The Middle-Class Gentleman, Le Bourgeois gentilhomme is sympathetic with this incorrigible social climber who meant no harm. No doubt the ballet would be a relief though invisible to the reader. The play ends with this installment.
In Letters from Vincennes space, Thomas Le is a lost soul in the maze which is the infamous triad of mind, consciousness, and brain. As a stroke survivor. he will never give up pursuing an understanding of the trio.  In the Critical Thinking section he tries to understand human stupidity, by way of persuasion, manipulation and propaganda.

Firmament thrives when widely read and shared with pride. It’s your brainchild, contributors and readers alike. So, spread it far and wide. Good reading! ■                       
Thomas D. Le, Editor, April 2025




KIỀU MỸ DUYÊN – BINH CHỦNG BIỆT ĐỘNG QUÂN MỘT THỜI HÀO HÙNG.




CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN

THỦA BAN ĐẦU –  CAO MỴ NHÂN

 *

Trời không nắng, không mưa

Ngày không mới, không xưa

Chỉ có tình thay đổi

Ta đã chán nhau chưa

 *

Sao anh lại lặng thinh

Biết em khổ vì tình

Suốt đời thương với nhớ

Suốt đời hờn giận anh

 *

Mong manh một nỗi buồn

Bình minh tới hoàng hôn

Mắt xanh tràn sóng biếc

Lệ chảy ngập đại dương

 *

Em vô thay áo vàng

Sắc áo đẹp cao sang

Hồn mang sầu vời vợi

Lòng sao phủ tóc tang

*

Lênh đênh tàu trở về

Biển mây thả đam mê

Vòng tay anh xiết chặt

Nối ngàn dặm sơn khê

 *

Vẫn còn thiết tha nhau

Từ kiếp trước, đời sau

Vẫn bao la tình mộng

Yêu dấu thủa ban đầu…

Rancho Palos Verdes  24 – 5 – 2025

CAO MỴ NHÂN

==

TRONG MƯA SÀI GÒN.      CAO MỴ NHÂN

*

Tàn dư một cuộc tỉnh say

Xếp vô hành lý đã đầy tình em

Sao không đón giấc êm đềm

Mà như xóa vội nỗi niềm dở dang

Ta về đứng giữa tan hoang

Ưu tư vừa cạn lại mang nỗi buồn

Đêm qua chợt thấy trong hồn

Không còn hình ảnh trăng tròn ngày xưa

*

Sáng ra vuốt tóc nàng thơ

Bụi hoàng kim đọng bơ thờ niềm riêng

Thầm mong một chút thần tiên

Cho ta có lại lòng tin thủa nào

*

Trời mưa ơi hỡi nguồn đau

Bỗng tan thành lũ dâng trào tâm tư

Mai sau  chỗ đợi, nơi chờ

Sẽ phai mờ dấu hẹn hò hôm nay …

         CAO MỴ NHÂN 

    24 – 5 – 2025

==

NÚI MÙA XUÂN VÀO HẠ.       CAO MỴ NHÂN

*

Trên rặng  “Núi mùa xuân “

Có người tình trăm năm

Đưa thơ về Thiên cổ

Cùng nỗi buồn xa xăm

*

Người tình luôn dấu mặt

Nhưng  nhân dáng tuyệt vời

Khiến ta mang nỗi khổ

Đi tít tắp mù khơi

*

Núi mùa xuân vào hạ

Nồng nàn nhớ thương mây

Ngó tri âm như lạ

Nghe thao thức  đêm  ngày

*

Tháng năm buồn tuổi  mộng

Nguội dần khí phách  xưa

Sông hồ tan ước  vọng

Ta đợi người đã trưa

*

“Núi  mùa xuân”  che chở

Mộng mị  gởi  gió  sương

Từ đây và mãi mãi

Ủ tình  ấm …một  phương  …

   CAO MỴ NHÂN

==

CON CHIM BAY LẠC.     CAO MỴ NHÂN

*

Tiếng hót buồn của con chim bay lạc

Ảo não, bi thương

Tiếng súng buồn của người thua trận mạc

ở cuối sa trường

*

Chim nhớ rừng

Người nhớ bạn

Nắng võ vàng xao xác trên đường

Thê lương, buồn nản

*

Những con quạ hoang thì thào trong tổ

Trên cành cao rầm rì lá thở

Con chim lạc xếp cánh lặng yên

Trong lùm cây sương khói phủ im

*

Nhói buốt trong tim

Giờ đã vào đêm

Đón giấc cô miên

Tiếng hót con chim lạc nghẹn ngào, tắt lịm…

*

  CAO MỴ NHÂN

==

ĐOÁ HOA SEN.    CAO MỴ NHÂN

*

Bông sen hổ thẹn vì bùn

Làm tanh gốc rễ, lại còn bủa vây

Dù cho sóng nước dâng đầy

Sen vươn xa khỏi tháng ngày tù câm

*

Nhìn hoa tươi mát dáng thân

Sắc hoa trắng,đỏ, vàng, tâm ngọc ngà

Sen từ bùn đọng vượt  ra

Đời ưu ái đắp kiêu sa cho người

*

Hoa từ cùng cực lên ngôi

Người từ quý phái vào đời khổ đau

Thế nhân vương nỗi muộn sầu

Hương chan chứa tỏa ngát màu kệ kinh

*

Sen hoa che phủ ảnh hình

Xếp trong hành lý u  tình nước non

Mai sau sương lấp nẻo mòn

Đăng cao mây khói lượn vờn cõi tiên…

        CAO MỴ NHÂN 

==

BÂY GIỜ.     CAO MỴ NHÂN

*

Bây giờ đứng trước gương soi

Tay vun tình tự trên môi hẹn hò

Không gian thầm lặng vô bờ

Khói sương nơi ấy, là thơ chốn này

*

Ngôi nhà giữa núi sông đây

Mái trăng, nền cỏ vương đầy châu thân

Lệ mừng hạnh ngộ trăm năm

Còn chi lầm lạc để thần thoại đâu

*

Anh về tình đậm nghĩa sâu

Bỏ trang cổ tích nát nhàu lưu vong

Nửa đời đã gởi hư không

Giờ hoang liêu tóc bềnh bồng sắc mây

*

Ố ô, thì vẫn đắm say

Bật cười đôi chút heo may nhớ người

Dẫu đang cuối  biển chân trời

Cứ xin dệt mộng cho đời điểm trang…

       CAO MỴ NHÂN  




HOÀNG MAI NHẤT -LỄ MEMORIAL DAY  HOA  KỲ  (26/5/2025)  tại  WAR  MEMORIAL  PARK  IN  TACOMA,  WASHINGTON  STATE.

LỄ MEMORIAL DAY  HOA  KỲ  ( 26/5/2025 )  tại  WAR  MEMORIAL  PARK  IN  TACOMA,  WASHINGTON  STATE.

Sau buổi Lễ Tưởng Niệm 50 Năm Quốc Hận (30/4/1975 – 30/4/2025) tổ chức tại Tổ Đình Việt Nam  TP Seattle, TB WA.  Có sự tham dự của  vị Đại Tá Hải Quân HK và các cựu chiến binh Hoa Kỳ ở chiến trường VN. 

Ông John Mc Elroy(Đại Tá Navy Mỹ tham dự chiến tranh VN) đã trân trọng gởi lời mời TổĐình VN và Toán ThủKỳ (Color Guard)

đến tham dự Lễ Memorial DAY được tổ chức vào ngày  5/26/2025 tại War Memorial Park in Tacoma, Washington State.

Đúng 8:00am ngày 26/5/25, tất cả tập họp ở Shop May của anh Sơn trên đường số 1 và rồi cùng đi chung hai xe xuống dịa diểm làm Lễ ở Tacoma. Trời vẫn còn lạnh, mây đen lại giăng đầy trời báo hiệu một cơn mưa sẽ đến không biết lúc nào.

Khoảng 10:00am, quan khách lần lượt đến. Mưa bắt đầu rơi, tuy không lớn nhưng cũng đủ làm ướt áo  và gieo thêm cái lạnh vào lòng người. Mọi người vẫn giữ trật tự, ngồi tại chổ  mà không bỏ chạy  tìm chổ  núp mưa; các chị vợ  cựu QN  đi theo chồng cũng cùng chia sẻ, chiụ đựng cơn mưa  như người Mỹ  và  còn nhường dù mình mang theo  đến đưa cho quan khách Mỹ, làm họ cảm động và cảm ơn rối rít.

Anh HQ Chi ra xe lấy bốn cây dù mang theo có sẵn trong xe, đem vô  đưa cho Toán Thủ Kỳ chúng tôi  để che mưa, tôi nói: “mình là Lính dạn dày sương gió, đâu thể  nào  dùng dù  che mưa  lúc này được, mình phải chấp nhận  đội mưa thôi.  Anh đem dù đi đưa cho quan khách để họ thấy cái giá trị và tư cách của quân nhân VNCH mình”.
Anh Chi bèn  đem dù  đưa  cho mấy người Mỹ,  làm họ thêm cảm động, cảm ơn với tất cả lòng thiện cảm, trân quý dành cho người Việt mình..

Chuyện này làm tôi nhớ  đến hôm  Lễ  30/4/2025  được tổ chức ở Auburn. Khi đọc bài Diễn Từ tiếng Việt do tôi viết ( con gái Thiên Thanh của tôi dịch và đọc phần tiếng Anh),đến câu:“để tưởng nhớ đến 58.000  quân nhân Hoa kỳ  đã  hy sinh  trên chiến trường VN.
Dứt câu này, tôi bước lui một chút  và cúi đầu  để bày tỏ sự tưởng tiếc thật sự của mình. Quan khách Mỹ vổ tay cảm ơn hành động này ”.  

Sau khi chấm dứt tôi bước ra,đi về phía cuối hàng ghế quan khách ngồi; bất chợt một cựu quân nhân Mỹ  mặc thường phục bước lại, chập chân rồi đưa tay lên ngang trán chào tôi và nói cảm ơn đồng thời đưa tay ra để bắt tay tôi; làm tôi cũng chập chân chào lại và cũng nói cảm ơn anh. Chúng tôi bắt tay nhau trong niềm vui kính trọng của những người lính chung chiến tuyến.

Sau buổi Lễ, tôi  có mời anh  chụp hình với gia đình tôi, nhưng tôi lại quên hỏi tên anh(dù anh có giới thiệu tên anh,hỏi tên tôi nhưng lúc đó ồn ào quá nên không nhớ được).

Đúng 11:00am,  buổi lễ bắt đầu  sau phần giới thiệu chương trình buổi lễ, Ông mời mọi người đứng lên làm lễ rước  Quốc Kỳ Việt Mỹ do Toán Thủ Kỳ của Tổ Đình VN phụ trách.
 
  
                @ WAR MEMORIAL PARK . TACOMA, WASHINGTON

– BB Lê Anh Thượng( Cầm Súng Hộ Kỳ )         
– HQ Phạm Ngọc Anh ( Cờ VNCH )- HQ Trương Văn Chi ( Cờ Hoa Kỳ )
– BB Nguyễn Lam Sơn ( Cầm Súng Hộ Kỳ )
– HQ Bùi Đức Ly ( Trưởng Toán )    TrưởngBan TổChức: ĐạiTá Andy Leneweaver (Ret) (người 
   đứng bên bục diễn thuyết)

Khi Toán Thủ Kỳ chúng tôi đã rời lễ đài, Ông Đại Tá đã mời mọi người cùng đứng lên vổ tay khen ngợi, chúc mừng, cảm ơn Toán Thủ Kỳ chúng tôi.

Tiếng vỗ tay  với lời chúc mừng nồng nhiệt  và cái quay đầu nhìn về phía chúng tôi  trong lúc vỗ tay tán thưởng  đã làm cho chúng tôi thấy hãnh diện cùng vui sướng vì  được chào đón, tán thưởng và nhất là  đã không để có sai sót gì làm mất đi nét đẹp hào hùng của QLVNCH.

                                    “ Gian nguy thử thách đời trai trẻ
                                       Dẫu bước cạn cùng vẫn ngẩn cao”
                                                (thơ Hoàng Mai Nhất)

Seattle, WA   Mùa Quốc Hận
    H.O.26 Lê Anh Thượng
           (May 27/2025)




BÀI SƯU TẦM -HẬU DUỆ VIỆT NAM CỘNG HÒA. A SENSE OF DUTY: MỘT HỒI KÝ, HAI CUỘC ĐỜI. – NGUYỄN MẠNH TRINH

Cuốn sách mở đầu bằng: “Tôi mở mắt chào đời ở Việt Nam tại một Nhà thương Pháp cổ xưa sáu tháng trước khi tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson ra lịnh cho hàng ngàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ lên đất nước chúng tôi..”. Đó là một thiên hồi ký của một cậu bé hồi nhỏ sống ở Phi Cảng Tân Sơn Nhứt với ước mơ thành một hoa tiêu vùng vẫy trời cao. Và cũng là những hồi tưởng từ hai đời người, một cha một con, cùng theo nghiệp bay bổng nhưng phục vụ đất nước khác nhau và trong những hoàn cảnh cá nhân khác nhau.

<!>

Người cha luôn luôn là hình bóng đi bên cạnh đời người con với nét hào hùng của một người chiến đấu vì tự do và hiểu được ý nghĩa của tự do. Khi chiến đấu cho đất nước, trung tá Phạm văn Hòa bay chiến đấu cơ A1 sau là hoa tiêu vận tải C130, đã mang cả một thời tuổi trẻ của mình trong ước vọng thực hiện được lý tưởng của mình. Cũng như khi chiến đấu cho đất nước Hoa Kỳ, đại úy Phạm Xuân Quang, một hoa tiêu trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, cũng hiểu được giá trị của tự do và nghĩ rằng đã được hưởng ân huệ của đất nước định cư thì cũng phải có nhiệm vụ phải bảo vệ đất nước ấy.

Cầm tập hồi ký “A Sense of Duty: My Father, My American Journey” của Quang X. Pham, tự nhiên tôi lại nhớ đến câu hát “Hòn VọngPhu”. Ở đây, người cha, một phi công của Không Quân Việt nam, bay khu trục rồi chỉ huy một phi đoàn vận tải. Người con, tốt nghiệp đại học rồi gia nhập Thủy Quân lục Chiến Hoa Kỳ thành một phi công trực thăng. Chuyện ấy cũng có thể bình thường. Nhưng người con viết hồi ký về cuộc đời của cha mình và cũng là dịp để nhìn lại một cuộc chiến đã chấm dứt từ ba mươi năm nay, chuyện ấy mới là đáng nói. Qua bóng dáng của người cha, một thời lửa khói được kể lại. Và, tiếp nối, là người con của thế hệ tiếp theo. Không gian bao la nhưng vẫn nằm trong bàn tay người phi công. Tác phẩm, là hồi ký của một người con nhưng đa phần là hình bóng của người cha và những người đồng đội cũ. Cuộc chiến dù đã ba mươi năm qua, nhưng vẫn còn dư âm, tưởng như mới ngày nào…

Cuốn sách mới xuất bản mà đã được sự chú ý rất nhiều. Nhựt báo Los Angeles Times và Orange County Register đều có bài điểm sách. Tuần báo Publishers Weekly và tạp chí Orange Coast Magazine cũng giới thiệu đầy cảm tình và trang trọng. Nhiều tác giả nổi tiếng có nhiều hiểu biết về Việt Nam như Richard Pyle, như Larry Engelmann, như Robert Olen Butler, như James R. Reckner… cũng có những nhận xét xác đáng về tầm vóc cũng như giá trị của tác phẩm. Và, với người Việt Nam, những chính khách như Bùi Diễm, Đỗ Ngọc Yến, Hoàng Đức Nhã,… cũng đã cho nhiều ý kiến đồng tình chia sẻ…

Với riêng cá nhân tôi, tôi đọc “A Sense OF Duty” không phải vì những bài giới thiệu hoặc điểm sách như thế. Bản tâm tôi đã rất thích đọc những cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam. Trong tủ sách của tôi cũng có hàng trăm cuốn Anh ngữ, Pháp ngữ và Việt ngữ về đề tài này. Và, càng đọc nhiều tôi lại có một điều làm tôi ấm ức và cảm thấy bất công. Hầu như những cuốn ngoại ngữ đều chung một luận điệu. Chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt, người lính Nam Việt Nam chỉ là vai trò phụ thuộc. Hiếm có cuốn sách nào có cái nhìn chính xác hơn. Khi học môn sử ở chương trình cử nhân, tôi đã nhiều lần nói lên cái tâm trạng và suy nghĩ của mình trong lớp học, của một người lính đã tham dự cuộc chiến. 

Thú thực tôi có cảm giác là người cô đơn, một mình phải thuyết phục đám đông đã sẵn ấn tượng từ sách vở. Mà tôi biết, trong dư luận Hoa Kỳ, những người phản chiến nắm phần chủ động. Ngay, một người như John Steinbeck, là một nhà văn nổi tiếng đoạt giải Nobel văn chương năm 1962, tác giả của “The Grapes of Wrath” hay “Of Mice and Men” nổi tiếng nhân bản, mà khi viết những bài ủng hộ chiến tranh Việt Nam như hàng ngày viết “Letters from Việt nam” cho nhựt báo “News Day” hay tranh luận với nhà thơ Liên Xô Evgueni Evtusensko, cũng bị chê là hiếu chiến.

Thành ra, đọc một cuốn sách có nhiều điểm đồng tình với mình, cũng là một điều thích thú. Dù không thích chiến tranh, nhưng chúng tôi vẫn vì bổn phận và chiến đấu hết mình vì bổn phận ấy. Tôi sẽ mang cuốn sách cho những người bạn bản xứ và khoe như tôi đã làm với cuốn sách mới tinh còn thơm mùi mực của nhà văn Ngô Thế Vinh. Có cuốn sách của người Việt Nam viết về chiến tranh Việt Nam tại sao không phổ biến? Để nói thêm một tiếng nói cho những người đáng được nhắc đến.

Ngoài lý do kể trên, còn một lý do khác, kể ra thì cũng hơi riêng tư. Tôi đọc cuốn sách này vì người viết là một Không Quân viết về một người cha Không Quân, niên trưởng của chúng tôi. Và ở đó, tôi tìm được không khí của những phi trường mà tôi quen thuộc. Đời sống ấy, dù đã ba mươi năm qua, nhưng còn phảng phất đâu đây. Mỗi lần nhắc lại là bồi hồi trong tâm. Bạn bè chúng tôi, bao nhiêu người gục ngã. Những chiếc trực thăng nổ tung trên trời, những chiếc khu trục cháy đỏ vỡ toang tầng không, những cái chết hào hùng. Lạ kỳ, khi tôi đọc những trang sách viết về một niên trưởng phi công kỳ cựu, tôi nghe bên tai mình văng vẳng những nốt nhạc của bài Không Quân Hành Khúc. Bài hát ấy, bạn bè chúng tôi thường hợp ca mỗi khi họp mặt như tiếng hát gọi đàn “Giờ đoàn người từng vượt bao biên giới đã chiến đấu. Đã chiếm chiến công ngang trời. Giờ đoàn người còn vượt qua biên giới, quyết chiến đấu. Đi không ai tìm xác rơi. Lúc đất nước muốn, bao người con thân yêu ra đi. Tiếc tấm thân làm gì…”.

Phạm Xuân Quang đã viết “A Sense of Duty” như một tác phẩm đầu tay của một người tỵ nạn đã trở thành một Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từ những tác động ký ức liên quan đến số phận, niềm hy vọng cũng như những hậu quả phát khởi từ biến cố trong cuộc chiến Việt Nam. Là một người trẻ Việt thuộc thế hệ thứ hai trưởng thành ở Hoa Kỳ, anh biểu lộ tấm lòng tri ân với đất nước đã bảo bọc anh và đã tự mình tình nguyện gia nhập quân đội và trở thành một phi công trực thăng nối nghiệp người cha là một phi công khu trục của Không Quân Việt Nam. Cuộc trùng phùng giữa hai cha con sau một thời gian dài chia cách cũng là một yếu tố để anh có quyết định trên.

Năm 1964, người cha, phi công Phạm Văn Hòa của phi đoàn khu trục 514 bị phòng không Việt Cộng bắn trong khi đang yểm trợ tiếp cận cho bộ binh dưới đất. Được trực thăng Hoa Kỳ cứu cấp sau khi bị đáp ép buộc, ông trở về nhà đúng vào ngày sanh của đứa con trai ông, tên Quang. Sau đó ông lại tiếp tục những phi vụ oanh kích, thi hành bổn phận của một quân nhân trong thời binh lửa. Thâm tâm ông không muốn làm hành động của một anh hùng, nhưng ông hiểu nhiệm vụ của mình để hoàn tất những công việc ấy.

Trước khi Saigon bị quân cộng sản xâm chiếm, Trung tá Hòa chắc chắn rằng vợ con mình đã được di tản. Ông gởi vợ và mấy đứa con lên một chiếc C130 di tản đến Hoa Kỳ. Riêng ông ta không được may mắn. Ông bị ở lại và bị tù ngục hơn mười năm. Những trại khổ hình mà ông đã trải qua như Long Giao, Suối Máu, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh, toàn những nơi nổi tiếng là rừng thiêng nước độc. Sau khi gần được phóng thích, Cộng Sản chuyển ông về trại Z0D ở Rừng Lá. Năm 1987, ông được thả về và năm năm sau ông được sang Hoa Kỳ gặp gỡ lại vợ con sau một thời gian sống nghẹt thở vì sự canh chừng của hệ thống công an khắc nghiệt và đa nghi.

Quang Phạm đến Hoa Kỳ lúc chỉ mới mười tuổi và biết vỏn vẹn vài ba chữ Anh Ngữ. Anh bắt đầu vào trường học. Mẹ anh cũng rất cố gắng hội nhập vào xã hội mới và sau đó đã hành nghề kế toán để nuôi cả gia đình. Quang sống trong một gia đình vắng mặt người cha và người mẹ đóng vai trò chủ gia đình. Tất cả đều chung một cố gắng sống sao cho có ý nghĩa trong cuộc đời mới. Bà mẹ muốn Quang học những nghành như y khoa hay dược khoa rất bất ngờ khi nghe Quang nói muốn gia nhập Thủy Quân Lục Chiến sau khi tốt nghiệp cử nhân. Bà không thể nào vui với một ý định như thế. Rồi, rốt cuộc Quang cũng thành một phi công như ước muốn của anh thời niên thiếu.

Năm 1992, gia đình Quang đoàn tụ ở về thành phố Oxnard, California. Quang tốt nghiệp cử nhân và sau đó tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến thành một phi công đầu tiên của thế hệ Việt Nam thứ hai. Khi Quang vừa tốt nghiệp sĩ quan thì người cha được rời khỏi trại tù Việt Cộng và trở về sống vất vưởng ở Sài Gòn chờ ngày sang Hoa Kỳ định cư. Trong khi đó thì Quang thi hành những phi vụ trong cuộc chiến Bão Sa Mạc tấn công quân Iraq của Saddam Hussein. Hai năm sau, người cha được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO và đoàn tụ với cả gia đình. Nhưng hai ngày sau Quang phải lên đường trên chiến hạm USS Tarawa từ San Diego trên hải trình ở Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, vùng Vịnh Trung Đông, biển Somalia. Sau đó Quang lên bờ làm sĩ quan tùy viên cho Tư lệnh Không Đoàn Ba TQLC. Lúc này, cha con mới có dịp nói chuyện với nhau cũng như gặp gỡ lại những người là chiến hữu Không Quân Việt Nam Cộng Hòa cũ cùng với nghiệp bay bổng.

Trung tá Phạm Văn Hòa đã có dịp kể lại tất cả những chi tiết của cuộc đời nhiều thăng trầm của mình với con và tìm ở đó như một chiến hữu có cùng những giấc mộng thời thơ ấu dù lớn lên và trưởng thành từ thời gian không gian khác nhau.

Khi gặp gỡ lại thân phụ mình, Quang vì những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời người cha nên có ý định viết một cuốn sách kể lại những ngày tháng trải qua. Anh ghi chép lại tất cả chi tiết để thành một hồi ký. Năm 2000, ông cựu trung tá Không Quân Việt Nam Phạm Văn Hòa bị xuất huyết não và từ trần. Như thế chỉ còn một mình Quang thực hành chương trình đã định từ trước.

Hành trình của ngươì cha dường như được nối tiếp từ người con. Phi công Phạm Văn Hòa, tức Hòa Điên, một biệt danh mà bạn bè ông thường gọi, chiến đấu để bảo vệ cho tự do của đất nước ông. Là phi công khu trục và vận tải, ông có cái hãnh diện của một chiến sĩ làm nhiệm vụ. Con ông, Phạm Xuân Quang, tình nguyện vào lính để trở thành một phi công trực thăng cũng với ý nguyện phục vụ đất nước đã bảo bọc anh và gia đình và cũng để thỏa mãn cái mộng ước đã có khi còn nhỏ ở phi trường Tân Sơn Nhứt.

“A Sense of Duty: My Father, My American Journey” là một chuyện kể cảm động của những người đến Hoa Kỳ định cư từ những xứ sở xa lạ và đã thành công khi nhập được vào dòng chính. Một độc giả Hoa Kỳ đã viết rằng đã cảm được nỗi đau, nỗi buồn của người kể chuyện khi đọc cuốn hồi ký này. Hoa Kỳ là một xứ sở có rất nhiều những câu chuyện như thế, của những người làm lại cuộc đời từ bàn tay trắng.

Hồi ký này là câu chuyện của gia đình Quang với những người làm trọn nhiệm vụ của mình. Người cha, làm tròn bổn phận với đất nước mình. Người mẹ, làm tròn nhiệm vụ hiền mẫu của mình. Người con, làm tròn nhiệm vụ với đất nước đã nuôi dưỡng bảo bọc mình. Tất cả, là những nỗ lực của những người hiểu được cái giá của tự do.

Bút pháp của Quang là một cách viết tự nhiên có pha lẫn chút trào lộng cay đắng nhưng tràn đầy sức sống của một người hiểu được mình phải bắt đầu từ đâu và đi trên những con đường nào. Trong nhiều chương sách, ít nhất là hơn một nửa trong tổng số 24 chương, tác giả đã nhắc lại thời nhỏ của mình trong khu cư xá trong phi trường Tân Sơn Nhứt, nhìn những phi cơ cất cánh để mơ mộng nối gót hành trình của cha. Cũng như, khi sang định cư ở mỹ, phải phấn đấu thế nào, và hội nhập vào dòng chính ra sao cũng như phải chịu những sự kỳ thị bất công dành cho một cậu bé Mỹ gốc Việt. Quang có nhiều kinh nghiệm từ những va chạm ấy và rút ra một kết luận muốn thành công trong xã hội Mỹ phải làm việc gấp hai và suy nghĩ gấp bốn một đứa bé da trắng bản xứ.

Hình như, Quang cũng có những ngoái nhìn về phía cuộc chiến đã qua. Hành trình của anh, khởi đầu một cách gián tiếp từ thân phụ, qua chiến tranh Việt Nam đến chiến tranh vùng Vịnh, từ một cậu bé con của nguồn gốc quê hương đến một người lính bảo vệ đất nước mà mình trưởng thành. Anh không có mục đích nhìn lại quá khứ mà chỉ muốn nhìn lại những gì mà chúng ta nhớ lại từ quá khứ ấy. Có nhiều câu hỏi được đặt ra với Quang, từ lúc thơ ấu đến lúc trưởng thành.

Những câu hỏi bao quanh cuộc chiến đã tàn lụi và những hệ quả của nó cho toàn dân Việt Nam nói chung và gia đình Quang nói riêng. Những suy nghĩ về tự do và cái giá phải trả của nó. Chính vì suy nghĩ trên nên Quang đã nhập cuộc, như phản ứng của một người trẻ hiểu biết được trách nhiệm của mình.

Cho nên, có một độc giả đã viết “Trước đây, không bao giờ tôi hỏi cha tôi về những chuyện đã xẩy ra từ hồi chiến tranh Việt Nam. Bây giờ, đọc xong cuốn sách này, tôi sẽ hỏi…”

Phải rồi, chiến tranh Việt Nam có những bí ẩn kể như phi lý. Hàng triệu người lính của cả hai bên Nam Bắc và 58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ bị tử trận. Không chỉ thế, còn hàng triệu nạn nhân chiến cuộc với những biến cố kinh hoàng. Chiến tranh chấm dứt, hơn hai trăm ngàn sĩ quan viên chức Nam Việt Nam vào tù Cộng sản. Hàng triệu người vùi thân biển cả. Tất cả, là trả giá cho tự do. Cái giá khá mắc cho một dân tộc vốn thông minh cần cù…

In một cuốn sách như tác phẩm này có nhiều trạng huống tế nhị mà tác giả phải vượt qua. Rất nhiều nhà xuất bản đòi hỏi phải theo những ý hướng đã định và đề tài chiến tranh Việt Nam không phải là đề tài có nhiều hấp dẫn. Khi nhà xuất bản Random House đồng ý xuất bản thì lại gặp nhiều vấn đề như hình bìa có bản đồ Việt nam với tên thành phố được Cộng sản cải danh lại mà không phải là Sài Gòn. Nhưng rốt cuộc, nhà xuất bản phải nhượng bộ và hình bìa là ảnh hai cha con với bản đồ Việt nam làm nền phía sau với tên của thành phố Sài Gòn. Cũng như trong giai đoạn “edit” có rất nhiều đoạn bị cắt bỏ bởi chủ quan của nhà xuất bản. Dẫu sao, đó cũng là chuyện thông thường khi xuất bản một tác phẩm ở Hoa Kỳ.

Tác giả đã mang sự thành thực cũng như tôn trọng sự thực để làm thành sự quyến rũ cho tác phẩm. Ông không cao giọng rao giảng cũng như muốn làm người phê phán. Ông chỉ mang cuộc đời của mình và của cha mình để tôn vinh tự do và biết phải chiến đấu để có sự cao quý ấy.

Tác giả “A Sense of Duty”, Phạm Xuân Quang, đã phục vụ như một phi công của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đã tham gia chiến dịch vùng Vịnh và Somalia. Anh cũng là người điều hành công ty QTC Medical Services và CEO của Lathian Systems, công ty mà anh là người sáng lập. Anh cũng là một khuôn mặt quen thuộc của giới truyền thông Hoa Kỳ, đã góp mặt trên nhiều shows vô tuyến truyền hình và truyền thanh. Viết “A Sense of Duty “, anh muốn làm tròn bổn phận của một người với cha anh mình, đất nước mình. Chúng ta hãnh diện có những khuôn mẫu Việt Nam thành công như thế: trung hậu trong gia đình, dũng cảm trong chiến trường và nhạy bén hiệu quả trên thương trường…

Nguyễn Mạnh Trinh




KIỀU MỸ DUYÊN – Chương Trình CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.




VTLV TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN/HOÀNG PHONG LINH.

VĂN THƠ LẠC VIỆT rất đau buồn

Kính tiễn anh hùng VÕ ĐẠI TÔN

Suốt cả một đời yêu Tổ Quốc

Và tròn hết kiếp giữ quê hương

Giờ trong bệnh viện còn thơ gửi

Phút cuối dương trần vẫn phát ngôn

“Nhớ nước thương nhà” – nhờ Lạc Việt

Lưu giùm sáng tác PHONG LINH – TÔN

*

PHONG LINH – TÔN, chiến sĩ kiêu hùng

Đất nước hòa bình trách nhiệm chung

Chàng bước dấn thân vào chết chóc

Người đi chiến đấu với gông cùm

Tuổi già sức tận kêu lời chính

Phận lão thân tàn vắt máu trung

Nhắn gửi hậu nhân gìn Tổ Quốc

ĐẠI TÔN quả đúng bậc anh hùng!

Văn Thơ Lạc Việt – Kính Viếng – MAY 25/2025

**

Tưởng Nhớ Nhà Tranh Đấu cho Tự do Võ Đại Tôn
 *

Một đời yêu Tổ Quốc,
Trọn kiếp giữ quê hương.
Dấn thân vào trận tuyến,
Không quản chốn nhiễu nhương.

*

Chống chủ nghĩa vay mượn
Vượt khổ để tìm đường
Tuổi già vẫn gắng gượng
Đối Cộng chẳng hề nương

*

Giữa phút giây vô thường
 Viết vần thơ.tưởng tượng
“Nhớ nước, nhà tình thương”
Gửi vào vườn văn học

*

Hoàng Phong Linh thi sĩ,
Bút thép quá gan lì
Gió lộng hồn thi vị
Lửa cháy chí nam nhi!

*

Anh hùng danh đích thị
Truyền lửa Việt quang huy
Sử xanh mãi còn ghi,
Võ Đại Tôn bất nhị !!!🙏🙏🙏

Nguyễn Hồng Dũng

**

Tiễn Chú Võ Đại Tôn 

*
Con yêu Tổ Quốc đã xa rời 
Võ Đại Tôn giờ được nghỉ ngơi 
Sứ mệnh ươm nòi dù xác bỏ
Vai trò giữ nước dẫu xương rơi
Anh hùng tiếng đẹp lưu nhân thế 
Dũng sĩ danh thơm để cuộc đời 
Chiến hữu Cộng Hoà an thỏa mộng 
Chèo thuyền Bát Nhã trí nhàn chơi 

Minh Thúy Thành Nội 
Tháng 5/23/2025

**

TIỄN ÔNG VÕ ĐẠI TÔN

*

Chiều rơi mây vắng lặng,
Tiễn người về cõi xa.
Lòng chan hòa lệ trắng,
Nén hương gửi phương xa.

*

Một đời son sắt chí,
Đấu tranh chẳng ngại ngần.
Mười năm nơi lao lý,
Tâm vẫn giữ chân tâm.

*

Ngục tù không khuất phục,
Dẫu bóng tối bủa vây.
Lời thơ còn lay động,
Mẹ Việt vẫn nơi đây.

*

Cánh chim trời đã khuất,
Tổ quốc mãi ghi công.
Người đi như trăng lặng,
Sáng mãi giữa lòng dân.

*

Xin nguyện mười phương Phật,
Tiếp dẫn bậc anh hùng.
Về nơi miền Cực Lạc,
Thoát khổ, được an dung.

*

PhamPhanLang

25/5/2025

**




Tưởng Nhớ Nhà Thơ Hoàng Phong Linh Võ Đại Tôn

Vương Trùng Dương

Chiến Hữu Võ Đại Tôn, sau nhiều năm lâm bệnh trầm trọng, qua đời tối Thứ Sáu 23/5/2025 tại bệnh viện Bankstown (NSW), hưởng thọ 90 tuổi. Ngoài thơ, văn, anh được gọi là nhà hoạt động chính trị, nhà đấu tranh cho quê hương, Tổ Quốc. Với tôi trong tình thân đồng hương (đề cập trong bài viết nầy) nên anh cho biết gọi nhau là “chiến hữu”.

Các tác phẩm thơ, văn: Lời Viết Cho Quê Hương (Năm 1979 tại Hoa Kỳ). Đoản Khúc Người Ra Đi  (Năm 1986 tại Úc Châu). Hồi ký Tắm Máu Đen (Năm 1992 tại Úc, Hoa Kỳ năm 2000). Thơ Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy (Năm 1992 tại Úc Châu và năm 2000 tái bản tại Hoa Kỳ). Tập Truyện Chim Bắc Cành Nam (2002). Tuyển Tập Thơ Văn Tổ Quốc – Hành Trình 30 Năm” (Úc Châu 2005).

Trước đây, cũng vào tháng 5, tôi viết bài Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn. Theo lời anh, tăm đắc với bài viết nầy vì chỉ có người đồng hương mới hiểu rõ nơi chốn để chia sẻ.

Nay đăng lại bài viết:

Hồi ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn ra đời cách nay một thập niên. Tại California, sách đã ra mắt ngày 16/5/2010, tại phòng họp của cơ quan Stockton Boulevard Partnership, Bắc California quy tụ các hội đoàn, đoàn thể, nhân sĩ và đồng hương tham dự rất đông để nghe diễn giả Võ Đại Tôn từ Úc sang, với tuổi đời 75. Trong bài viết của Khuất Đẩu ở trong nước “Để Tang Cho Sách” ghi lại thời điểm từ “chiến dịch bài trừ văn hóa” xuống đường đốt sách 21/5/1975… trong đó, những tài liệu trung thực về giai đoạn lịch sử nầy đã bị tiêu hủy. Bài viết mới nhất (4/2021) của Song Thao ở Canada: Tháng Tư Nghĩ Về Sách Sài Gòn Xưa “Gần hai chục năm trước, khi Cộng Sản tiếp thu Hà Nội, trò đốt sách đã được bày ra. Trên hai thập niên sau, họ làm y chang lại, bài vở là một thứ bổn cũ soạn lại”. Đọc lại với bao nỗi ngậm ngùi!

Ngày 12/6/2010 trong buổi sinh hoạt “Hành trình công tâm để xây dựng lại niềm tin” và ra mắt thơ văn của tác giả Võ Đại Tôn tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana đã được các văn hữu như Cao Tiêu, Nguyên Sa, Đỗ Tiến Đức và các nhân sĩ… ca ngợi tinh thần đấu tranh của chiến sĩ Quốc Gia cho lý tưởng tự do, dân chủ.

Nay đọc các bài viết trong nước đã bị lệch lạc, bóp méo sự thật vì dựa vào tài liệu tuyên truyền… Vì vậy viết lại hồi ký của tác giả Võ Đại Tôn, chứng nhân thời cuộc để trả lại sự thật của giai đoạn lịch sử: “Cái gì của César, hãy trả lại César”.

Với hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” trong tháng 6/2010 qua nhận định của Nguyễn Mạnh Trinh cho thấy: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ, ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước…

Sau khi dẫn chứng những đoạn trong hồi ký, phân tích với đoạn kết: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ , ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước.

Trong hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của Võ Đại Tôn in bài giới thiệu của Trần Trung Đạo, là đồng hương, tuy tuổi đời cách nhau hơn hai mươi năm nhưng cùng chung cảnh ngộ đau buồn và cùng chung tâm cảm.

“Chúng tôi những người con đi xa, gánh trên vai đôi gánh nặng. Đất nước, quê hương, tình thương và nỗi nhớ. Nhiều khi tôi thèm làm một con chim nhỏ, bay về đậu trên tấm bia và đọc cho mẹ nghe những bài thơ được đan kết từ mấy mươi năm trầm luân thống khổ. Nhưng không, đôi cánh chúng tôi quá nhỏ và quảng trời thì quá xa, ước mơ cũng chỉ là mơ ước. Chúng tôi chọn lựa một cách sống mà chúng tôi nghĩ là đúng nhất cho đời mình và đất nước nhưng chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Chúng tôi đã phải hy sinh những riêng tư thân thiết nhất.

… Từ thuở chào đời, tôi đã là một đứa bé bất hạnh. Mẹ và anh chị tôi đều mất rất sớm. Trí nhớ của tôi còn quá non nớt để giữ lại hình ảnh mẹ. Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có đến một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống.

Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ giòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ.

Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn là tuyệt đối. Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu, một ngôi làng dệt lụa bên bờ sông Thu Bồn. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ, nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày buồn và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Một tuổi thơ như thế có thể tạm gọi là tuổi thơ bất hạnh. Nhưng tuổi thơ tôi không phải là bất hạnh nhất hay ít bất hạnh hơn anh Võ Đại Tôn.

… Anh bất hạnh hơn tôi vì mẹ anh, người đàn bà vốn đang trọng bịnh trong người, đã phải chết trong hoàn cảnh vô cùng thảm thương, đau đớn.

… Anh Võ Đại Tôn cũng đã xác định quan điểm này trong hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh: “Viết lại cho tuổi trẻ của tôi trong nỗi trầm luân của cả một Dân Tộc và viết cho Tuổi Trẻ Việt Nam với niềm mong ước các thế hệ tương lai hiểu thấu, tránh xa, ngăn chặn, cùng nhau vượt qua mọi chướng ngại để cứu nguy Tổ Quốc và hóa giải mọi trở lực để quang phục quê hương.

… Với tuổi đã ngoài bảy mươi, lẽ ra anh nên dành khoảng thời gian mà anh tự nhận là “hoàng hôn của một đời người” để đi đây đi đó thăm viếng người thân, tạm biệt bạn bè, hay ngồi an nhàn bên tách trà, chén rượu, nhìn mặt trời lên cao ngoài biển rộng, nhìn bóng tà dương khuất dần sau đỉnh núi cao, không, anh không thể an nhàn như thế được. Còn một hơi thở anh còn đóng góp, còn cất lên được một tiếng nói anh còn tìm cách để trao gởi những ước mơ chưa làm được hết của anh cho các thế hệ mai sau. Anh cố gắng dành thời gian còn lại để viết. Dù bàn tay anh có run hơn, đôi mắt có yếu hơn, anh vẫn cố gắng viết, bởi vì con người ai cũng phải chết nhưng sự thật lịch sử phải được sống, sống cho hôm nay và cho mãi mãi về sau…”.

Với hồi ký của anh Võ Đại Tôn qua các bài viết của các văn hữu, trong đó có Trần Trung Đạo và Nguyễn Mạnh Trinh, tôi thấy cũng đủ để cảm nhận những gì tác giả Võ Đại Tôn chia sẻ sau sáu thập niên về nơi cố hương.

Trong thời gian qua, anh và tôi thường viết qua email, anh than tuổi già sức yếu, mỗi lần nghĩ đến đất nước và cố hương lòng đau quặn thắt, không cầm được nước mắt. Cho đến lúc nầy, anh vẫn mang niềm đau vì không về được cố hương, không ôm mồ mẹ trong vòng tay như lúc tuổi thơ!

Trong mùa đại dịch quái ác nầy, ở nhà chán quá, tôi lục lại những quyển sách cũ ra đọc lại để giết thời giờ, nào ngờ hồi ký của anh Võ Đại Tôn, một lần nữa làm tôi xúc động nên ghi lại những dòng cảm nghĩ.

Sau biến cố tang thương của đất nước, tháng năm 1975, vợ chồng anh Võ Đại Tôn vượt biển sang Mã Lai đến định cư tại Úc Châu năm 1976.

Năm 1972, Võ Đại Tôn (Trung Tá) kết hôn với chị Tuyết Mai, dạy ở trung học Long Khánh và làm xướng ngôn viên đài truyền hình Việt Nam, băng tần số 9. Năm 1978, vợ chồng sinh được cháu trai Võ Đại Nam (Cu Lỳ) và sau đó mở quá cà phê Cu Lỳ để có dịp gặp gỡ thân hữu. Với cuộc sống gia đình đang hạnh phúc như vậy nhưng anh mang nặng tấm lòng nợ nước nên tháng 2 năm 1981 trở về lại quê hương để tham gia kháng chiến phục quốc (qua đường rừng Thái-Lào) nhưng đã bị sa cơ vào tháng 10, 1981, tại biên giới Lào Việt.

Anh bị tù biệt giam hơn 10 năm tại tại trại tù Thanh Liệt (B-14), ngoại thành Hà Nội. Thế nhưng từ khi ở tù cho đến khi được thả ra để trở về Úc, anh là người đi giữa hai lằn đạn bởi thủ thuật Cộng Sản Hà Nội đã dàn dựng, gài bẫy, bôi nhọ… khi anh nói rồi bị cắt xén để phát thanh và đăng báo!

Trong cuộc họp báo quốc tế ngày 13 tháng 7 năm 1982 tại Hà Nội, anh lên án chế độ tàn bạo CSVN nhưng do CS tổ chức, dàn dựng thì thành phần hiện diện (trong và ngoài nước) là người của tổ chức nên việc phổ biến qua thủ thuật tráo trở, đánh lận con đen. (Trong bài Phỏng Vấn Võ Đại Tôn, 40 Năm Đấu Tranh của Hữu Nguyên đã trả lời chi tiết về chuyến trở lại phục quốc và cuộc họp báo).

Khi được ra khỏi trại tù CS, anh cũng được ăn uống và chụp hình đăng báo… Từ nhỏ anh đã chứng kiến những trò gian manh, lật lọng của Việt Minh trong gia đình nhưng không hiểu vì sao anh lại bị gài bẫy dàn dựng như vậy? Điều bí ẩn đó tuy bất thường với mọi người nhưng với anh chỉ là “vở kịch” của bọn chúng trong giai đoạn, anh vẫn tiếp tục con đường đấu tranh suốt cuộc đời ở hải ngoại.

Trong thời điểm đó có hàng vạn sĩ quan, viên chức VNCH đang bị cầm tù ở miền Bắc nhưng CS không dàn dựng mà đem con cờ phục quốc ra với dụng ý đen tối cho thành phần nầy trước công luận. Vào thời điểm năm 1981, ở Úc có ít người Việt tỵ nạn, chưa có tổ chức đấu tranh nào, anh dấn thân trong đơn lẽ, tổ chức là trái tim và con đường quang phục là quê hương.

Với tôi, khi còn ở trong nước đã biết và khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ khi đọc hai nguồn tin trái ngược nhau bênh vực và chống đối… nên im lặng. Ngay cả bản thân anh cũng bị xuyên tạc là “Hạ sĩ quan thông dịch viên, viên chức quèn của VNCH”!.

Khi người chồng ra đi, cuối năm 1981 chị Tuyết Mai dẹp quán rồi vào làm việc ở Bưu Điện Úc. Sau khi biết tin chồng bị cầm tù, chị đã vận động với báo chí và chính quyền can thiệp cho chồng (thân phụ chị bị chết trong lao tù CS) nên chị quyết tâm tranh đấu đến cùng cho đến khi cuối năm 1991, Bộ Ngoại Giao Úc báo tin cho biết anh Võ Đại Tôn được ra tù và trở lại Úc… Có lẽ trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, bi thảm nhất chỉ có người vợ mới cảm thông và lặng lẽ tìm mọi cách để cứu thoát cho chồng. Hình ảnh chị cũng như bao người “vợ tù cải tạo”  đã viết nên “trang sử” đẹp, đáng trân trọng…

Trong email, tôi nói anh viết vài dòng tiểu sử cho chính xác, và anh chỉ viết là người lính, viên chức VNCH, là chiến sĩ đấu tranh cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc. Cấp bậc, chức vụ có gì đáng nói… mà điều đáng nói đã thể hiện qua thơ văn của Hoàng Phong Linh, Võ Đại Tôn trong bốn thập niên qua. Nay tuổi anh đã gần đất xa trời, đau yếu những vẫn giữ vững tinh thần chống Cộng, yêu chuộng tự do, dân chủ cho quê hương, đất nước. Tôi hiểu và nhân quyển hồi ký nầy để chia sẻ cho nhau.

Thật ra, viết về hồi ký nầy chỉ là phần nhỏ với tóm lực, phải đọc từng dòng trong hồi ký mới cảm nhận được những gì tác giả nói lên trong tận đáy lòng.

*

Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, từ cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện – Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)… Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xưa. Làng Kim Bồng rất nổi tiếng về nghề mộc, hầu hết các kiến trúc cổ kính của Hội An đều do bàn tay tài hoa của nơi nầy. Nghề diệt chiếu phổ biến ở nhiều làng.

Dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn trong hai xã Xuyên Quang, Xuyên Thái, quận Duy Xuyên (nay là xã Duy Phước) cũng gần với làng Kim Bồng. Nhà thờ Tộc Trần của tôi có ở Phú Chiêm và nhà thờ Tộc Võ của anh ở Kim Bồng.

Cũng như các nơi khác của Quảng Nam, đất đai khô cằn vào mùa hè, nghề nông vất vả nên người dân phải sống bằng những ngành nghề khác. Hơn nữa ở địa danh nầy gần sông Thu Bồn nên gánh chịu bao thiên tai vào mùa bão lụt. Quê nội anh Võ Đại Tôn ở Kim Bồng, cũng khoảng thập niên 1920, thân phụ anh ra Đà Nẵng lập nghiệp, xây dựng cơ ngơi vững chắc.

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” dày 212 trang, bài giới thiệu của Trần Trung Đạo (trang 5 đến trang 26) ghi nhận những điều, theo tôi, là đồng hương, cùng cảnh ngộ, cùng văn giới, chứng nhân nỗi thống khổ với nhau, nơi cố hương, thăng trầm của lịch sử, cảm nhận nỗi lòng anh Võ Đại Tôn qua thơ văn… mới viết được như vậy. Bài viết là tâm bút, khó có người cầm bút thứ hai trang trải với tận đáy lòng.

“Tôi sinh ra tại Hải Châu, thị xã Đà Nẵng nhưng thực ra nguyên quán dòng họ Ông Cha là làng Kim Bồng, xã Điện Phương… Tôi là đứa con thứ tám trong số mười người con của cha mẹ tôi, chín anh em trai và một chị gái” (trang 32).

“Gia đình bác, cha mẹ và chú tôi, đầu sống chung trong một ngôi nhà tạ Ngã Năm thành phố Đà Nẵng Được xây cất từ năm 1924, hiện nay là Long Phụng Từ Đường thuộc Tộc Võ)” (trang 34). Bác, cha và chú anh trúng thầu với người Pháp xây cất ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo Chính Tòa (nhà thờ Con Gà) năm 1923, nổi danh công trình độc đáo. Vì vậy cha mẹ anh cho con cái học trường Pháp ở Đà Nẵng.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật đầu hàng, Việt Minh cướp chính quyền. Pháp trở lại Việt Nam, khi Pháp chiếm lại Đà Nẵng và lập lại hệ thống cai trị, cuộc chiến xảy ra… Hồi ký ghi lại giai đoạn tản cư vì chiến tranh (1945-1950). Giữa năm 1946, sợ chiến tranh xảy ra ở thành phố Đà Nẵng nên gia đình anh di tản về quê nội ở Kim Bồng “Tuổi thơ của tôi bắt đầu đi vào một khúc quanh gai góc, vì chiến tranh” (trang 51).

Rồi từ đó người dân sống trong tình cảnh “một cổ hai tròng”, ngày thì bị Pháp bố ráp (ruồng, càn), Việt Minh bắt phải nộp gạo để nuôi quân trong khi người dân thiếu thốn ăn cơm độn với khoai, sắn. Và đêm thì bị Việt Minh bắt thanh niên (nam, nữ) tham gia lực lượng chống Pháp. Riêng gia đình anh gặp phải tình cảnh trớ trêu vì nghi còn thân Pháp. Việt Minh còn bắt buộc nhà của anh phải treo hình “cụ Hồ” cũng là trò thâm độc vì khi Pháp đi ruồng bố vào nhà mà thấy hình nầy thì đốt nhà để gây lòng hận thù với Pháp. Trong hồi ký, anh tả từng chi tiết về thủ đoạn gây tai họa cho gia đình anh.

Trong một lần Pháp đi ruồng, vào nhà anh lục soát, chú và các anh chị nói chuyện bằng tiếng Tây nên không làm khó dễ gì cả. Nhưng tai họa lại giáng lên đầu nhà anh “Từ lúc có Tây qua làng ruồng bố, rồi có người cố tình phao tin đồn là nhà tôi điềm chỉ cho Tây bắt cán bộ Việt Minh…” (trang 88). Ông “chủ tịch, cán bộ cao cấp của Cộng Sản” là con trai của người tá điền làm ruộng cho nhà anh, trở thành hung thần. Trong khi tất cả cơ ngơi song thân anh ở Đà Nẵng bị Tây tịch thu thì gia đình anh ở làng quê bị kết tội thân Tây. Gia đình bị cô lập, sống trong hoàn cảnh khó khăn, luôn luôn bị rình rập, cả tuổi thơ của anh chịu đựng mọi cơ cực. Nỗi đau tột cùng khi mẹ anh bị ho lao, làm cái chòi nhỏ để ở riêng vì sợ bị lây (theo ý mẹ anh), không có thuốc men nên bị cơn đau hành hạ ngày đêm. Trước tình thế đó “Sau nhiều đêm bàn tán, thêm nhiều ý kiến tính tới tính lui. Tôi được biết bác và cha tôi đồng thuận để cho mẹ tôi về lại Đà Nẵng, có hai chú đi theo” (trang 104). Đoạn đường từ Kim Bồng theo đường bộ ra Đà Nẵng rất khó khăn vì bị kiểm soát gắt gao cả Việt Minh và Tây. “Lúc ra đi, mẹ tôi 43 tuổi, chú Tám Dương 47, còn chú Mười 31 (Tháng 6 năm 1947)” (trang 110). Chuyến đi định mệnh đã biệt tăm cho đến năm 1959, 1960 mới biết thảm cảnh xảy ra!.

“Đến năm 1955, các anh tôi đều đã là sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia. Tôi vẫn còn đi học tại Sài Gòn. Anh Hai tôi được đi tu nghiệp tại Pháp (trường bộ binh  Saint Maxent), có gởi về cho anh Năm tôi một bức thư dài kể lại chi tiết sự kiện năm 1949 về đôi giày cườm của mẹ tôi tại làng Cổ Lưu (xã Điện Nam, Quảng Nam), kèm theo một bản đồ ghi rõ địa điểm liên hệ… Lúc nầy anh Năm tôi phục vụ tại Phân Khu Nam-Ngãi-Định trong chiến dịch tiếp thu hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Anh Sáu tôi thì đã mãn khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức (khóa 4/54, và đi tu nghiệp khóa “commando” ở Watchay – Hải Phòng (Ghi thêm: Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhập khóa ngày 23 tháng 11 năm 1953 (dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại) và mãn khóa ngày 1 tháng 6 năm 1954. Tổng số sĩ quan ra trường hồi đó là 1200)… Chúng tôi phải đợi đến năm 1959 (gần 13 năm sau, đêm mẹ và hai chú tôi ra đi từ làng Kim Bồng, 1947) sau khi anh Năm tôi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 2 Bộ Binh… Năm 1960, anh Năm tôi được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Quảng Nam” (trang 118, 119).

Tác giả chỉ gọi anh chị theo thứ tự trong đình như cách gọi của nhiều gia đình mà thôi. Anh Năm của anh là Đại Tá Võ Hữu Thu, lúc đó ở Quảng Nam có sự tranh chấp đảng phái và tôn giáo nên chọn vị tỉnh trưởng của địa phương, không tôn giáo. Đại Tá Võ Hữu Thu nổi tiếng thanh liêm, cương trực, người dân nơi nầy rất quý mến (sau nầy ứng cử vào Dân Biểu Quốc Hội).

(Ghi thêm: Năm 1960, anh Võ Đại Tôn làm Trưởng Ban 5, Trại Biệt Kích Long Thành, anh thông thạo tiếng Pháp và Anh nên không cần thông dịch viên nên sau nầy họ xuyên tạc, gán anh là hạ sĩ quan thông dịch viên. Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chính phủ Phan Huy Quát thành lập ngày 16/02/1965 nâng Phủ Đặc Ủy Dân Vận Chiêu Hồi thành Bộ Chiêu Hồi. Tổng Trường đầu tiên là Trần Văn Ân (trong tháng 3) kế đến là đến là Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị. Anh Võ Đại Tôn, sĩ quan cấp tá trong QL Việt Nam Cộng Hòa, đã từng được biệt phái ngoại ngạch sang nhiều công vụ dân chính và sau cùng Giám Đốc Công Tác Bộ Chiêu Hồi).

Trở lại với hồi ký “Anh Năm tôi có nhờ ông Quận Trưởng quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ (ông Trần Quốc Thái) đưa đi thám sát vùng làng Cổ Lưu (theo bản đồ của anh Hai tôi vẽ lại)… Ông Quận Trưởng còn cho biết là trước đây trong thời kỳ chiến tranh, khu vực nầy do Việt Minh (Cộng Sản) kiểm soát. Có một đảng viên Cộng Sản tên là Huỳnh Thân làm trưởng ban ám sát, nổi tiếng giết người không run tay trong làng nầy và các vùng lân cận. Trong một cuộc hành quân của Quân Đội Quốc Gia, t5en6 thân bị bắt và hiện còn giam tại lao xá tỉnh Quảng Nam ở Hội An…

Qua hồ sơ lý lịch và những bản cung khai của tên Thân nầy, các cơ quan anh ninh Quốc Gia tại địa phương kiểm chứng, anh Năm tôi cho chuyển đương sự về sở An Ninh Quân Đội để thẩm vấn thêm, Anh tôi đích thân hỏi cung, ghi thêm chi tiết nhiều sự kiện vào hồ sơ tội ác của đương sự” (trang 118, 119).

Theo lời kể của hai ông Minh và Miêng (chủ nhà, ân nhân giúp tá túc) và lời cung khai của Huỳnh Thân, tên sát thủ ghi lại:

“Mẹ và hai chú tôi từ giã nhà hai ông Minh và Miêng vào giữa đêm khuya sau khi vào nhà xin tạm nghỉ chân một lúc, băng qua làng Cổ Lưu để ra đường cái thì bị một nhóm Việt Minh (Cộng Sản) bắt giữ… Cả ba người đã bị tra kháo, đánh đập suốt 3 ngày đêm, bị kết tội là tìm đường đi “liên lạc” với Tây” (trang120) và đề cập đến các thủ đoạn tra khảo quá tàn nhẫn, nhất là người đàn bà đang bị bệnh ho lao trầm trọng.

“Hắn và hai tên thanh niên dẫn ba người ra một bãi cát trống, đêm sáng lờ mờ qua ánh trăng khuyết. Không có đem theo đèn đuốc gì cả, chỉ có cầm theo hai cái cuốc. Hắn bắt mẹ tôi ngồi riêng một chỗ. Còn hai chú thì được lệnh lấy cuốc tự đào một cái hố nhỏ. Xong rồi, khi chú Mười tôi còn đang đứng bên miệng hố, chưa biết làm gì thêm, thì thình lình tên Thân chụp một cái cuốc, phang ngang lưng chú một nhát mạnh làm chú ngã chúi xuống hố, nằm sấp, đau quằn quại.

Trước cảnh tượng bất ngờ như vậy, chú Tám Dương tôi chưa kịp la lên thì hắn đứng phía sau dùng chân đạp chú té xuống hố. Chú tôi vừa cố lóp ngóp bò lên vừa la xin tha mạng. Hắn đứng trên miệng hố cát, cầm cuốc phang xuống, trúng ngay vào trán của chú tôi, làm chú té bật ngửa ra, nằm đè trên lưng chú Mười. Hai người chưa chết.

Rồi, hắn đến xốc mẹ tôi đứng dậy trong khi mẹ tôi đang ôm mặt khóc lớn. Hắn lạnh lùng dẫn mẹ tôi đến cạnh miệng hố, xô xuống thật mạnh, mẹ tôi rớt xuống, nằm sấp trên người chú Tám. Hắn đứng trên hố, cầm cuốc cúi xuống phang mấy nhát thật mạnh vào lưng mẹ tôi, làm cả thân hình mẹ tôi quằn cong lại.

Cả ba người chưa chết, nhưng không còn sức bò dậy được nữa, nằm im trong máu, chung một hố cát cạn. Tên Thân và đồng bọn dùng cuốc xúc cát lấp hố lại rồi bỏ đi. Chôn sống!” (trang 124, 125).

Với tội ác dã man tày trời của tên Huỳnh Thân, nhưng người con của mẹ – Đại Tá Tỉnh Trưởng Quảng Nam –  với cái tâm nhân bản của người Quốc Gia, không đem ra xử bắn mà “Sau nhiều ngày bàn tính trước sự đau khổ cùng cực của gia đình, anh Năm tôi đành phải chuyển tên Thân ra lao xá Thừa Phủ ở Huế để cho chính quyến xét xử theo luật pháp về nhiều tôi trạng giết người khác, không để cho chúng tôi thấy mặt hắn” (trang 130).

Ba quan tài được di chuyển từ làng Cở Lưu về bờ sông Thu Bồn gần Hội An để an táng.

Anh lại chứng kiến hình ảnh quá bi thương: Nước Trôi Mồ Mẹ. Năm 1972, anh từ Sài Gòn ra Quảng Nam trong một chuyến công tác, đứng bên nầy bờ sông Hội An thấy nước lụt dâng lên ngập cả làng Kim Bồng bên kia sông, tưởng chừng nước cuốn trôi luôn mồ mẹ anh nên xúc động làm bài thơ:

“Con quỳ bên ni dòng sông

Bên tê mồ Mẹ!

Trời ơi, nước ngập tràn đồng

Từng khúc xương trôi đau lòng con trẻ.

Con mang trong người thịt xương của Mẹ

Chừ trông nước lụt dâng về

Con còn bên ni, Mẹ mất bên tê,

Sóng bao la vỗ, bốn bề Mẹ mô?

Ngày xưa Mẹ chết, con khóc mắt khô,

Chừ xương Mẹ trôi, hồn con nước lụt.

Con quỳ bên ni, linh hồn tê buốt

Mần răng mà về bên tê chừ, Mẹ ôi!

Quê hương nước ngập tận trời

Hồn con khóc suốt một đời không nguôi!…”

(Trang 142, 144)

Sau khi mẹ anh và hai người chú ra đi biệt tăm, cha và người thân trong gia đình anh còn ở lại làng quê Kim Bồng trong 3 năm, năm tháng đó với anh là tháng này bất hạnh, đau thương nhất, địa ngục của của cuộc đời. Tuổi thơ của anh được mẹ cưng nhất, nuông chìều, lúc nào cũng gần gũi bên mẹ nay mất đi hình ảnh thiêng liêng, cao quý nhất mà anh luôn luôn tơn thờ cùng với cuộc sống tận cùng của xã hợi với bao đắng cay!

“Chúng tôi về lại Đà Nẵng sau gần 5 năm (1945-1950) đi tản cư về làng quê Kim Đồng, vì chiến tranh… Tôi đã mất tuổi thơ và điều đau đớn nhất, còn in sâu vào suốt đời tôi mãi đến hôm nay, là tôi đã mất mẹ!” (trang 183).

Cũng như anh, quê nội tôi ở các làng nơi đây lâu đời, thầy tôi là nhà nho, sùng đạo Phật nên rời quê rất sớm khoảng năm 1920 theo dòng Trường Giang vào Thăng Bình mưu sinh với chữ  nghĩa, lập nghiệp và các anh chị ra đời từ đó. Tuổi thơ học ở Hội An nên thỉnh thoảng tôi ghé về quê nội… cho đến nay hơn sáu thập niên, tôi chưa biết gì về cố hương, ngay nhà thờ Tộc Trần và nơi chốn xa xưa chỉ được biết qua hình ảnh, email của các cháu…

Trong thời kỳ Việt Minh, tôi chưa biết gì, chỉ nghe qua lời kể của anh chị trong gia đình, hình như các làng quê miền Trung dọc theo duyên hải, ở đâu cũng vậy, người dân hoàn cảnh “một cổ hai tròng” qua các năm dài. Tôi đã đọc nhiều về sử liệu trong giai đoạn nầy như quyển Chiến Tranh 1946-1954 (từ chiến tranh Việt Minh – Pháp đến chiến tranh ý thức hệ Quốc – Cộng) của Trần Gia Phụng năm 2018, dày 568 trang. Đây là một quyển sách viết rất công phu với chú thích và hình ảnh trong bộ sách Sử Việt Đại Cương của tác giả trong mấy thập niên ở Canada. Nhưng chưa đọc tác phẩm nào viết lại giai đoạn nầy ở làng quê của 3 miền để am tường. Bút ký lịch sử Một Cơn Gió Bụi của cụ Trần Trọng Kim cho đến nay được đánh giá là tác phẩm quan trọng của giai đoạn lịch sử nhưng tổng quát trên chính trường…

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của tác giả Võ Đại Tôn chỉ đề cập đến quãng thời gian 5 năm (1945-1950) xảy trong gia đình và nơi cố hương với gọng kìm giữa Việt Minh & Pháp. Tháng 6 năm 1948, Hiệp định Vịnh Hạ Long, Pháp đồng ý thành lập Quốc Gia Việt Nam gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên Hiệp Pháp. Hè năm 1949 chính phủ Quốc Gia Việt Nam ra đời, cựu hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng, đất nước có hai chính phủ trong tình trạng tranh tối tranh sáng. Theo sách của Trần Gia Phụng: “Lãnh thổ hai chính phủ không phân biệt giới tuyến rõ rệt. Chính phủ nào cũng tự nhận là chủ nhân chính thống toàn bộ đất nước” (Sđd trang 235)… nên ngoại trừ ở những thành phố lớn, những nơi “xôi đậu”, làng quê bị Việt Minh răn đe, ám sát người theo Quốc Gia và đảng phái đối lập… tình trạng càng căng thẳng và bi đát giữa cuộc chiến ý thức hệ Quốc/Cộng trước khi phân chia hai miền chiến tuyến. Qua sử liệu giúp tôi liên tưởng đến các bài viết đã đọc với bối cảnh, thân phận, nỗi đau thực sự trên quê hương!

Từ lâu, qua thơ văn của anh Võ Đại Tôn mới nhận nhau là đồng hương, khi đọc lại hồi ký của anh Võ Đại Tôn mới biết thêm được gốc gác, gợi lại trong tôi niềm cảm xúc.

Anh viết hồi ký nầy, theo lời chia sẻ, bằng trái tim, cảm xúc tột cùng và theo anh, nhiều lúc mắt nhòe đi trước màn hình computer vì quá xúc động. Lời thật chân tình và thán phục anh có trí nhớ rất tốt.

Có hiểu nỗi lòng, lý tưởng của anh mới hiểu được vì sao khi vừa mới tỵ nạn tại Úc, vợ anh còn trẻ, con thơ nhưng anh đành từ bỏ để chọn con đường gian nguy.

Tôi không đề cập đến vấn đề chính trị ở đây vì trong quá khứ, như đã nói, anh là nạn nhân “đi giữa hai lằn đạn”. Anh đã đi  khắp nơi gặp gỡ, trình bày công cuộc dấn thân cho chính nghĩa. Như đã đề cập, anh không bao giờ nhắc đến thân thế của gia đình, của những người anh trong Quân Lực VNCH mà chỉ nói về bản thân từ khi rời quê hương và trở lại cố hương với cái mộng, nếu gọi là “đội đá vá trời” để “quang phục quê hương”! Vì sao và tại sao, chỉ có trái tim chân chính của anh với tinh thần đầy nhiệt huyết người con họ Võ ở Kim Bồng ảnh hưởng những bậc tiền nhân ngày xưa của Quảng Nam đã hy sinh cho đại cuộc.

Sự dấn thân cho quê hương của anh Võ Đại Tôn đã trả cái giá quá đắt từ lao tù và cả thị phi, từ tấm lòng chân chính của bản thân đến sự hoài nghi của nhiều người và sự đánh phá của kẻ thù… nhưng với tôi, anh vẫn là chiến sĩ, người lính của QLVNCH.

Với bút hiệu Hoàng Phong Linh qua các bài thơ trước năm 1975. Sau nầy với các thi phẩm Lời Viết Cho Quê Hương, Đoản Khúc Người Ra Đi và Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy, nhà xuất bản Bất Khuất ấn hành năm 1992, dày 119 trang.

Một số bài thơ của anh đã được phổ nhạc, trong đó có bài Mẹ Việt Nam Ơi! Chúng Con Vẫn Còn Đây, sáng tác năm 1972 được Nguyễn Ánh 9 phổ thành ca khúc vào tháng Giêng 1975. Ca khúc nầy được các ca sĩ trình bày, phổ biến rộng rãi vào thời điểm đó. Ở hải ngoại, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh khi lưu diễn khắp nơi đều mở đầu với ca khúc nầy. Bài thơ và ca khúc nầy cho đến nay vẫn được người Việt tị nạn hải ngoại coi như lời tâm niệm.

Lời kết trong hồi ký của anh: “Tôi đã mất Tuổi Thơ và điều đau đớn nhất in sâu vào suốt cuộc đời tôi mãi đến hôm nay là tôi đã mất Mẹ” niềm đau và nỗi lòng của người con, chiến sĩ Quốc Gia bị đánh mất quê hương!

*

Trong những năm qua, anh nằm trong bệnh viện, thỉnh thoảng hai anh em email với nhau, anh không than cho bệnh tật bản thân vì đã một đời cống hiến cho quê hương và đã trải qua bao nhiêu nghiệt ngã, đau thương nhưng than cho tuổi già đau yếu nên không được theo đuổi giấc mơ cho quê hương được tự do, thanh bình!

Nay anh đã ra người thiên cổ! Vĩnh biệt Chiến Hữu Võ Đại Tôn! Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến anh.

Little Saigon 5/2025

Vương Trùng Dương




TRANG THƠ NHẠC LÊ TUẤN

Trên Đỉnh Mây Bay

Là bài thơ tự do tôi viết để thực hiện tình khúc Trên Đỉnh Mây Bay 

theo giai điệu dân ca Quan Họ Bắc Ninh kết hợp với Ca Trù.

Giọng ca thánh thót, êm dịu hòa cùng âm thanh Stero, hình ảnh sống động, 

tất cả đã tạo thánh một tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Xin mời thưởng thức.

Lê Tuấn

Trên Đỉnh Mây Bay

Mênh mông mênh mông nhạt nhòa mưa thu

Vi vu, vi vu, gió thổi sương mù

Nỗi nhớ hiện về thương kẻ si tình

Lối vắng thầm thì nhớ người trong mộng.

Trên đỉnh núi cao mây trời lồng lộng

Xuống tìm thung lũng thảm cỏ hoa vàng

Hồn anh lang thang

Vào thăm nhà cỏ, nhớ em tình muộn

Ta hỏi thăm một câu

Tình từ đâu che giấu.

Khi nào hết vấn vương?

Cao tận mây trời phiêu bạc chim bay

Chốn trần gian hão huyền như cõi mộng

Tình ở nơi đâu, nơi đâu

Đi đâu . . . về đâu?


Gãy cánh chim bằng giữa trời lồng lộng

Chạm mối tình si, người ôm trọn nỗi sầu

Một thời dấu yêu vét cạn dòng sông sâu.

Ta hỏi em một câu

Bao giờ ta hết tơ vương?

Tình tan theo lẽ vô thường?

Tế Luân

05-25-25

Mênh Mông Sương Khói

Mênh mông sương khói nhẹ bay

Em xòe tay bắt chùm mây sương mù

Tưởng rằng nắm cả thiên thu

Nào ngờ một nhúm phù du hão huyền.

Một làn khói chợt thôi miên

Vào thăm ký ức lụy phiền trăm năm

Lụa vàng óng ánh tơ tằm

Khoác lên tấm áo hương trầm vấn vương.

Đêm trăng huyền ảo mù sương

Ngày mai tiếp bước bụi đường phong vân

Buồn thương nỗi nhớ xa gần

Để cho lệ ấy tần ngần vết đau.

Người đi tình vội theo sau

Phố xưa trời rộng đổi màu hoàng hôn

Hoa sen chớm nở bên cồn

Sương khuya thấm ướt cõi hồn thi nhân.

Hoa vàng sương khói phù vân

Mây bay phủ bóng đường trần tha phương

Lang thang khắp nẻo đoạn trường

Đời trôi ngày tháng vô thường mai sau

Tế Luân

====

Nỗi Buồn Volume 1&2 – Thơ Louis Tuấn Lê – Hòa Âm AI

Nỗi Buồn

Có nỗi buồn bay chạm nhánh cây

Chiều nghiêng thấp thoáng tím chân mây

Men theo kỷ niệm ngày tháng cũ

Nghe gió vui đùa ngọn cỏ may.

Hoa lá xanh mùa đã hóa thân

Như còn tiếp nối tuổi thanh xuân

Sao nghe nức nở hồn viên mãn

Nối nhịp cầu đưa tình đến gần.

Tiếng nhịp đêm thâu khóc tiếng đời

Nhấn chìm mộng ước lòng chơi vơi

Đèn đêm vụt tắt trong đêm tối

Để mất tương lai mất nụ cười.

Cuộc sống còn vương bao khốn khó

Bàn tay giữ lấy những đường tơ

Đông về áo mỏng che đêm lạnh

Lạnh cóng tay buồn viết ý thơ.

Tế Luân




ĐỖ THÔNG MINH – THƯ ĐÔNG KINH -15/5/2025




SƯƠNG LAM – Về Miền Đất Phật – Nơi Phật Đản Sinh.

****

***




Tiếng Hát Ngọc Huyền Mtl: Ca Khúc Lettre à Elise (Cho Tình Yêu). 2) Toi Jamais – (Anh Thì Không).

**




Ca Khúc NHỚ SÀI GÒN – Thơ Tuyết Vân – Music Created By Phương Hoa – Trình Bày: SunoSinger




KIỀU MỸ DUYÊN – NÊN MUA NHÀ MÙA NÀO? – ĐỪNG ĐỢI MÙA HÈ! – NGƯỜI CÙI SAO NHIỀU QUÁ? và Chương Trình CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA!




MEMBER LIST (TEST)






    Trang thơ Tuyết Nhung




    CA KHÚC MỚI: MỘNG TƯỞNG và NIỀM QUÊ. Thơ: Phạm Phan Lang – Nhạc: Trần Đại Bản và Mộc Thiêng. Ca sĩ: Anka Ngọc Thúy & Đông Nguyễn.

    ==