TS MAI THANH TRUYẾT: 1. Sự Tái Định Hình Của Nền Văn Minh Nhân Loại – 2. Muối – Chất Keo Gắn Kết Dân Tộc Lại Với Nhau – 3. Giảng Dạy Lịch Sử Chủ Nghĩa Cộng Sản.

==1.Sự Tái Định Hình Của Nền Văn Minh Nhân Loại

==2. Muối – Chất Keo Gắn Kết Dân Tộc Lại Với Nhau

==3. Giảng Dạy Lịch Sử Chủ Nghĩa Cộng Sản




Phương Hoa: NGHỀ MC – CÓ PHẢI LÀ “TÂM ĐIỂM” CỦA SÂN KHẤU?


NGHỀ MC – CÓ PHẢI LÀ “TÂM ĐIỂM” CỦA SÂN KHẤU?

Phương Hoa

Người ta thường bảo, sân khấu là một “Thánh đường”, nơi nghệ sĩ thăng hoa dưới ánh đèn màu. Nhưng để dẫn dắt hàng ngàn khán giả bước vào thánh đường ấy một cách trơn tru, mê đắm, thì không thể thiếu một nhân vật đặc biệt.  Tuy không phải là một nghệ sĩ hay ca sĩ, nhưng người MC (Master of Ceremonies) chính là “linh hồn” của chương trình, góp phần dẫn dắt cảm xúc khán giả.  

Dạo gần đây, truyền thông quốc tế lẫn các giải thưởng lớn liên tục vinh danh những nhân vật đặc biệt đứng sau chiếc micro. Người ta chứng kiến và hâm mộ Yoo Jae-suk, được tôn vinh là vị “MC Quốc dân” của Hàn Quốc, vừa thiết lập những kỷ lục vô tiền khoáng hậu khi càn quét các giải thưởng lớn (Daesang) nhờ lối dẫn dắt chân thành, kết nối mọi thế hệ. Anh ta nổi tiếng đến độ chỉ cần gõ tên Yoo Jae-suk vô Google, là cả tiểu sử “Tam đại đồng đường”, nói theo người Việt mình, đều xuất hiện, kể cả anh ta thích ăn món gì, sợ con gì…không thiếu một đường tơ kẽ tóc.

Tại Mỹ, những MC khét tiếng như Ryan Seacrest, hay James Corden, tiếp tục chứng minh vị thế “MC triệu đô” khi một tay họ gánh vác những sự kiện quy mô toàn cầu như American Idol, Brit Awards, hay các đêm trao giải Grammy.   

Hồi năm ngoái, hình như là sau Tết Tây vài ngày, trong một chiều Chúa Nhật tôi có coi đài CBS phát trực tiếp Lễ trao giải Quả Cầu Vàng lần thứ 82 (82nd Golden Globe Awards).  Nữ danh hài Nikki Glaser đã đi vào lịch sử Quả Cầu Vàng với vai trò MC độc diễn (solo host) độc đáo với những câu đùa “xé gió tung mây” của cô.  Trên đài CBS đêm đó Nikki đã tạo nên một “cơn sốt” thực sự trên khắp các mạng xã hội và truyền thông Mỹ vì những câu khôi hài vô cùng thú vị làm mọi người cười đến… “té ghế”, nói theo ngôn ngữ trong nước hiện giờ.

Xưa nay ai cũng biết các lễ trao giải Hollywood thường rất trang trọng, và vì trang nghiêm quá đôi khi lại bị khô cứng. Thế nhưng, lần này khi nữ MC Nikki Glaser bước ra giữa sân khấu Beverly Hilton, cô đã ngay lập tức làm đảo ngược toàn bộ không khí.  Vì tiếng tăm của Nikki Glaser lừng lẫy, nên tôi có quay video lại một đoạn để dành học hỏi, vì tôi rất thích hài hước.  Vừa bước ra, nhìn xuống dàn “siêu sao” hạng A bên dưới, cô “phán” ngay một câu… xanh dờn:

“Tôi nhìn quanh hội trường này và thấy tất cả các bạn ở đây đều tài năng, xinh đẹp,… và hầu như AI CŨNG ĐANG DÙNG OZEMPIC! (Thuốc giảm cân) Tôi xin thề, là bầu không khí ở đây… ‘mỏng dính’ không phải vì độ cao, mà vì phổi của các bạn đang bị… siết lại bởi cái thuốc giảm cân đó đấy!” (Nguyên văn tiếng Anh: “I look around this room and I see so many talented, beautiful people… and almost all of you are on Ozempic! I swear, the air in this room is thin, not because of the altitude, but because all your lungs are being… squeezed by weight-loss drugs!”)

Cả khán phòng bùng nổ trong những tràng cười nghiêng ngả; các siêu sao Hollywood ôm mặt cười ầm lên không thể kềm chế.  Tôi cũng cười lăn cười bò, ruột gan cứ như là xoắn lại từng hồi, làm chàng xã nhà tôi (người thường nghiêm nghị ít cười) từ phòng trong cũng giật mình chạy ra xem và tiếp tục đứng đó…cười ké!  Nikki còn tiếp tục “cù lét” cả thế giới trong suốt buổi lễ trao giải.  Báo chí truyền thông sau đó không ngừng ca ngợi Nikki Glaser là “người MC đã ‘gánh’ trọn đêm Quả Cầu Vàng”!

Chắc quý độc giả sẽ tò mò, cái nghề MC sao mà quyền lực và diệu kỳ đến thế? Nghề MC thực sự bắt nguồn từ đâu; tại sao cái nghề tưởng như “chỉ nói vớ vẩn vài câu vô thưởng vô phạt” này lại có sức mạnh chi phối cả một nền công nghiệp giải trí?

Thật ra từ MC tức “Master of Ceremonies” vốn có nguồn gốc rất uy nghi từ Giáo Hội Công Giáo La Mã vào khoảng thế kỷ 5.  Theo Bách Khoa Toàn Thư Britannica của Anh Quốc, “Magister Caeremoniarum” là chức danh chính thức trong Phủ Giáo Hoàng, có phận sự quản lý, điều hành các nghi lễ Công Giáo quan trọng tại Vatican.  Vị chức dịch này chịu trách nhiệm bảo đảm các nghi lễ tại Tòa thánh Vatican diễn ra đúng chuẩn mực, không một chút sai sót.

Đến thế kỷ 19, khái niệm này mới bước ra khỏi cửa giáo đường để đi vào đời sống nghệ thuật đại chúng, xuất hiện trong các buổi diễn nhạc kịch và sân khấu “Vaudeville” ở Anh và Mỹ. MC lúc này chuyển mình thành người giữ nhịp, kết nối các tiết mục, và khuấy động không khí. Đến thế kỷ 20, cùng sự bùng nổ của Radio và Truyền hình tại Hollywood, MC chính thức trở thành một nghề quyền lực. Những “đế chế MC” tỉ đô và những giây phút “đi trên dây” của MC cũng được truyền thông quan tâm, soi mói rất kỹ.  Trên thế giới, MC là người hướng dẫn chương trình và là những người định hình văn hóa đại chúng.

Điển hình như Ed Sullivan (Mỹ), với show truyền hình The Ed Sullivan Show (1948–1971), ông chính là người đã đưa nhóm nhạc The Beatles bước chân vào nước Mỹ, tạo nên bước ngoặt lịch sử làm thay đổi nền âm nhạc thế giới.  Oprah Winfrey (Mỹ), cũng từ một cô gái có tuổi thơ nghèo khó, Oprah đã biến nghề dẫn chương trình thành một “đế chế” truyền thông, trở thành nữ tỉ phú da màu đầu tiên trên thế giới, nhờ sự chân thành và khả năng chạm đến trái tim người nghe.

Tuy nhiên, sân khấu trực tiếp tại Mỹ cũng là nơi thử thách bản lĩnh MC qua những “tai nạn” đi vào lịch sử.  Ai có thể quên câu chuyện “cười ra nước mắt” tại đêm trao giải Oscar 2017, khi phong bì bị đưa nhầm làm tên La La Land được xướng cho giải “Phim Hay Nhất” thay vì Moonlight?  Hay vụ đọc nhầm tên Tân Hoa Hậu tại Miss Universe 2015 là Ariadna Gutiérrez (Hoa hậu Colombia) thay vì Hoa Hậu chính thức được Vương Miện là Pia Wurtzbach (Hoa hậu Philippines) của MC Steve Harvey? Kết quả là Ariadna Gutiérrez của Colombia đã được trao vương miện, đeo băng rôn, và vẫy tay chào khán giả khoảng vài phút, trước khi Steve Harvey “mất vía” bước ra sân khấu gửi lời xin lỗi rối rít, và đính chính lại sự thật.   Những giây phút “thót tim” đó cho thấy, chiếc micro hào nhoáng thật, nhưng áp lực ứng biến của MC để “cứu sự cố” trước hàng triệu khán giả truyền hình là cực kỳ kinh khủng và đắt giá!

Dấu ấn về MC Sài Gòn thời kỳ trước 1975.  Nói về nghệ thuật điều khiển chương trình của người Việt, phải nhắc đến Thành Phố Sài Gòn trước năm 1975, nơi đã khai sinh ra những “ông Hoàng, bà Chúa” của đại nhạc hội và đại sảnh.  Thời bấy giờ, MC đã không đơn giản là giới thiệu “ai ra hát bài gì”, mà họ là những bậc thầy ngôn từ và ứng biến. Những danh xưng huyền thoại như Trần Văn Trạch (được mệnh danh là “Quái kiệt”), Thanh Hoài, Thanh Toàn… đã làm nức lòng khán giả qua các đại nhạc hội Quần Ngựa, Văn Hoa. Giọng nói của họ đặc biệt truyền cảm, phát âm chính xác từng dấu nhấn, và đặc biệt là lối nói chuyện dí dỏm nhưng vô cùng văn minh.  Họ chính là những người đã đặt nền móng cho mực thước của một MC chuyên nghiệp.  Nhã nhặn, am hiểu nghệ thuật, tài hoa và làm chủ sân khấu.

Về sau, còn có những tượng đài MC Việt tại hải ngoại.  Đặt chân đến xứ người, nghệ thuật dẫn chương trình Việt Nam lại tiếp tục thăng hoa với những cái tên đã trở thành huyền thoại. Làm sao có thể không nhắc đến MC Nguyễn Ngọc Ngạn, bậc thầy uyên bác, người đã dùng sự duyên dáng và kho tàng văn hóa đồ sộ của mình để gìn giữ tiếng Việt suốt mấy chục năm trên sân khấu Paris By Night.  Hay MC Nam Lộc, người đã mang đến sự ấm áp, dí dỏm trên sân khấu Asia, người đã dùng chiếc micro để kết nối cộng đồng, kêu gọi những quỹ từ thiện hàng triệu đô la gửi về cho người Thương Phế Binh VNCH từ nơi xa xứ. Họ chính là minh chứng rõ nhất cho việc một MC giỏi phải vừa lo việc giải trí, vừa lo chuyện nâng cao tầm vóc cho cả một chương trình văn hóa. Cho nên nếu nói rằng MC thời nay là “Chiến lược gia” nắm giữ chìa khóa thành công cho một sự kiện cũng không ngoa tí nào!

Tóm lại, ngày nay tiêu chuẩn của một MC đã vượt xa khỏi việc sở hữu một giọng nói hay. Một MC tài năng còn phải thu hút khán giả, có sức hút như “thỏi nam châm” giúp các show diễn bán sạch vé làm khán phòng luôn kín chỗ.  Tài năng gây quỹ (Fundraising) cũng phải thật …siêu đẳng trong các sự kiện cộng đồng hay từ thiện. Bằng sự khéo léo và chân thành, MC có thể biến những lời kêu gọi thành những con số gây quỹ ấn tượng ngoài mong đợi.  Chưa hết, họ còn phải tối giản tiến trình, giữ cho chương trình trôi chảy, giảm bớt áp lực nhân sự và tiết kiệm chi phí phát sinh cho ban tổ chức.

Nghề MC, đúng ra chính là nghệ thuật kết nối con người và kiến tạo cảm xúc. Dù ở bất kỳ thời đại nào, một MC hội tụ đủ sự tận tâm, nét duyên dáng, và sắp xếp chương trình bài bản luôn là “báu vật” của mọi sự kiện.  Những thông tin đầy thú vị trên đây về nghề MC là chút tâm tình tôi góp nhặt từ “thập phương thế giới bao la”…

Còn bây giờ, xin mời quý vị cùng nhìn lại “thế giới nhỏ” ấm áp của Thi Văn Đàn VTLV chúng tôi. Nhớ lại ngày trước, từ thời cố Chủ tịch VTLV Chính Nguyên còn sinh tiền, chính anh bằng sự tinh tường đã trân trọng mời MC Thanh Loan tham gia vào VTLV.  Và kể từ thời điểm ấy, việc tổ chức các sự kiện của chúng tôi đã hoàn toàn sang trang!

Thanh Loan là một người nghệ sĩ đúng nghĩa, dù làm MC bước đầu là “nghề tay trái” của cô.  Cô sở hữu một khối óc đầy sáng tạo và một trái tim luôn nồng nhiệt với nghệ thuật.  Nghề nghiệp chính của cô vốn là một “Auditor và Process Engineer” cho công ty chính phủ, những ngành nghề đòi hỏi sự chính xác, logic, và bài bản đến tuyệt đối.  Nhưng chính vì tình yêu nghệ thuật quá lớn, Thanh Loan đã “lấn sân” thêm sang nghề cầm mic và gắn bó với sân khấu cho đến giờ.  

Từ ngày có Thanh Loan, Ban Điều Hành VTLV như được “nhẹ gánh” đi rất nhiều! Trước kia, mỗi lần VTLV chuẩn bị cho một sự kiện là cả BĐH phải họp tới họp lui, bàn ra tính vào không biết bao nhiêu bận mới xong việc.  Còn với Thanh Loan, chỉ cần Chủ Tịch và BĐH đưa ra ý tưởng, thì loáng một cái, cô đã phác thảo nên một chương trình (plan) hoàn chỉnh, gọn ghẽ, và “cực kỳ” bài bản.  Cô rất có tài ăn nói trên sân khấu, giỏi quán xuyến phía sau hậu trường, giúp các sự kiện diễn ra trơn tru, nhanh gọn, và tiết kiệm tối đa các chi phí phát sinh.

Chưa dừng lại ở đó, nhờ sự kết nối rộng rãi cùng uy tín cá nhân, cô dễ dàng quy tụ các nhân tài, ca sĩ, nhạc sĩ, và nghệ nhân về chung vui trong mỗi sự kiện.  Sự chu đáo và tận tâm ấy khiến BĐH VTLV luôn cảm thấy thoải mái, an tâm vô cùng.  Có được một MC vừa có tâm, vừa có tài, lại vừa duyên dáng như Thanh Loan, VTLV chúng tôi thật sự may mắn và cảm thấy hãnh diện.  Với tâm hồn đầy mơ mộng, mỗi kịch bản (chương trình) của Thanh Loan đều là một tác phẩm nghệ thuật, mang đến sự tươi mới và khác biệt. Nhờ background kỹ sư, Thanh Loan “cầm mic” giỏi, tổ chức tài ba, mọi chi tiết đều được “soi” kỹ, từ flow chương trình đến cách ứng phó với những tình huống bất ngờ.

Và bây giờ, sau nhiều năm làm MC như một nghề tay trái, hiện tại Thanh Loan đã nhận ra mình rất yêu nghề, thích thú với những kết quả mình đạt được, cộng thêm sự yêu cầu của rất nhiều khán giả và nhiều Ban Tổ Chức sự kiện, nên cô đã quyết định … đổi qua tay mặt, đầu tư trọn vẹn vào lãnh vực làm một MC thực thụ.

VTLV xin chia vui cùng MC Thanh Loan và chúc cô thành công vững bước trên con đường sự nghiệp mới.  Hy vọng trong một ngày không xa Thanh Loan cũng sẽ trở thành một… “MC triệu đô” như Yoo Jae-suk của Nam Hàn.

Xin trân trọng giới thiệu MC Thanh Loan tới cộng đồng Việt mình nơi hải ngoại.

Liên lạc: mcthanhloan@gmail.com

Đt: (408) 613 9142

Phương Hoa – VTLV

BT:  Bài này gửi ra thì nhận được email “ĐÓNG MỘC” của anh Chủ Tịch VTLV Lê Văn Hải dưới đây. 

Cảm ơn “Sếp Hải!”

Đóng Mộc!…Số Một!…La Mã!

(Đã cầu chứng tại tòa!)

Trong vùng, có lẽ tôi là người có duyên, được hân hạnh cộng tác, làm việc với Thanh Loan rất nhiều lần, thời gian cũng rất lâu!

Công nhận Cô là một MC duyên dáng, tuyệt vời, óc tổ chức gỏi, độc đáo, nhiều khả năng, đầy trách nhiệm.

Đọc xong bài Chị Phương Hoa, không ngần ngại:
Đóng Mộc!…Số Một!…Tuyệt Vời!

Như ý trong bài, MC là linh hồn buổi tổ chức, nên ai có tổ chức, mà không nhờ, không nghĩ đến TL, thì đúng là… mất linh hồn!😄

Trân trọng rất vui để được giới thiệu.

(LVH)

==




Tsu A Cầu – 1. KHI LỊCH SỬ BỊ TƯỚC ĐẠT BỎI SỰ IM LẶNG – 2. KHI SỰ THỨC TỈNH KHÔNG ĐỦ – 3. Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát.

1- KHI LỊCH SỬ BỊ TƯỚC ĐẠT BỎI SỰ IM LẶNG

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Nhìn lại nửa thế kỷ hiện diện của cộng đồng người Việt trên đất Mỹ, một trong những bi kịch âm thầm nhưng sâu sắc nhất chính là sự đứt gãy ký ức giữa hai thế hệ. Xuất phát từ tình thương và ước mong bảo vệ con cái khỏi những đau thương của quá khứ, nhiều cựu quân nhân và người tị nạn thuộc thế hệ thứ nhất đã chọn cách khép chặt ký ức, giữ im lặng về những năm tháng chiến tranh tàn khốc, khoảng thời gian đày ải trong các trại cải tạo cũng như vượt biên, vượt biển nguy hiểm. Thế nhưng, chính sự im lặng mang danh tình thương ấy lại vô tình tạo ra một khoảng trống lịch sử nguy hiểm ngay trong lòng mỗi gia đình. Không có một lịch sử chân thực do cha mẹ truyền lại để tự hào, thế hệ trẻ lớn lên dễ rơi vào trạng thái tự ti bản sắc, thụ động chịu ảnh hưởng bởi những định kiến lệch lạc hoặc góc nhìn đơn giản hóa từ truyền thông đại chúng phương Tây.

Bài tham luận “Khi Lịch Sử Bị Tước Đạt Bởi Sự Im Lặng: Bài Học Từ Ký Ức Và Di Sản Của Thế Hệ Thứ Nhất” được viết ra nhằm nhận diện và đối thoại trực tiếp với thực trạng nhức nhối này. Khởi đi từ việc trân trọng những giá trị cảm xúc trong tản văn gần đây của tác giả Phạm Sơn Liêm — một tác phẩm đã khéo léo chạm vào nỗi niềm thức tỉnh bản sắc của một đứa trẻ gốc Việt, bài tham luận mở rộng góc nhìn sang bức tranh toàn cảnh của cộng đồng. Tác phẩm trình bày sâu sắc những hệ quả cay đắng khi khoảng trống ký ức bị lấp đầy bởi các góc nhìn tư tưởng bên ngoài, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về trách nhiệm bảo vệ và trao lại sự thật lịch sử.

Nhấn mạnh rằng thế hệ trẻ sinh ra ở phương Tây luôn tôn trọng các giá trị xác thực và lối suy nghĩ phản biện, bài tham luận khẳng định lịch sử không thể và không nên dựa vào sự tô vẽ hay hư cấu nghệ thuật. Giá trị vững chắc nhất để củng cố lòng tự hào dân tộc cho thế hệ sau phải nằm ở tính trung thực của chính sử.

Từ mẫu số chung đó, bài tham luận giới thiệu tác phẩm sắp được phổ biến nay mai, “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát”, như một nỗ lực tư liệu sát thực, góp phần bổ sung những mảnh ghép nhân chứng sống động và khách quan vào dòng chảy lịch sử.

Đây không chỉ là một văn bản phân tích lý luận hay phê bình văn học, mà còn là một lời thức tỉnh đanh thép nhưng đầy nhân văn gửi tới những nhân chứng lịch sử: Hãy bước ra khỏi sự im lặng để trao lại cho con cháu di sản thiêng liêng nhất — sự thật về danh dự và bản sắc, trước khi ngọn đèn ký ức vĩnh viễn tắt phụt vào hư vô.

Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi.

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 3 tháng 8 năm 2026.


KHI LỊCH SỬ BỊ TƯỚC ĐẠT BỎI SỰ IM LẶNG

Bài Học Từ Ký Ức Và Di Sản Của Thế Hệ Thứ Nhất

Tsu A Cầu


I.                   Từ Một Câu Chuyện Cảm Động Đến Nỗi Trăn Trở Thời Đại

Thời gian gần đây, trên các diễn đàn của cộng đồng người Việt hải ngoại, một tản văn ngắn của tác giả Phạm Sơn Liêm đã thu hút sự chú ý và được chuyền tay nhau rộng rãi. Bài viết hay và nhiều cảm xúc, “Ngày Con Tìm Thấy Hồ Sơ Của Cha”, kể về Emily — một cô gái gốc Việt sinh ra tại California. Giống như không ít người trẻ thuộc thế hệ thứ hai trên đất Mỹ, Emily lớn lên trong sự xa lạ với cội nguồn: thích hamburger hơn phở, ngần ngại mặc áo dài, và nghe nhạc lính cũ thì đeo tai nghe tránh né. Người cha — một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từng kinh qua chiến trường và trải qua thời gian tù cải tạo sau ngày 30/4/1975 — chọn cách hoàn toàn giữ im lặng về quá khứ. Ông giấu kín những vết thương với mong muốn con gái mình lớn lên như một người Mỹ hạnh phúc. Chỉ đến khi bước vào tuổi 30, qua một sự tình cờ tìm hiểu hồ sơ, Emily mới nhận ra những hy sinh thầm lặng của cha để rồi quay về hiểu và thương cha mình hơn.

Tác phẩm của Phạm Sơn Liêm đã khéo léo chạm vào cảm xúc người đọc nhờ một cái kết vô cùng nhân văn và ấm áp. Đáng trân trọng hơn cả, tản văn này đã khơi gợi đúng một nỗi trăn trở có thật và vô cùng nhức nhối trong lòng cộng đồng: sự đứt gãy ký ức liên thế hệ do sự im lặng của… cha mẹ.

Nhân vật Emily trong bài viết đại diện cho một trường hợp may mắn: cô còn cơ hội nhận ra sự thật khi người cha già vẫn còn sống. Nhưng trong thực tế của cộng đồng tị nạn suốt nửa thế kỷ qua, biết bao nhiêu gia đình đã không có được cơ hội ấy?

Biết bao người con thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba đã vĩnh viễn không thể đối thoại với quá khứ gia đình, bởi khi chúng bắt đầu trăn trở muốn biết “Tôi là ai? Tại sao gia đình tôi lại có mặt trên đất Mỹ?”, thì những nhân chứng đã mang toàn bộ ký ức xuống tuyền đài. Sự im lặng của cha mẹ — dù xuất phát từ tình thương muốn bảo vệ con khỏi tổn thương — vô tình đã tạo ra một khoảng trống lịch sử ngay trong lòng mỗi gia đình.


II. Khoảng Trống Lịch Sử Và Nguy Cơ Tự Ti Bản Sắc

Thế hệ thứ nhất khi đến Mỹ thường tự dặn lòng: “Hãy để đau thương dừng lại ở đời mình. Con cái mình cần ngẩng cao đầu làm người Mỹ hạnh phúc.” Nhưng khi khép lại quá khứ, chúng ta cũng vô tình tước đi điểm tựa bản sắc của thế hệ sau.

Một đứa trẻ không được trang bị hiểu biết về lịch sử gia đình sẽ dễ rơi vào thế bị động khi bước ra xã hội. Trong môi trường học thuật và truyền thông đại chúng tại Mỹ, Chiến tranh Việt Nam thường bị nhìn nhận qua lăng kính đơn giản hóa hoặc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi trào lưu phản chiến. Nếu không có những câu chuyện thực tế từ chính người cha để đối chứng, người trẻ rất dễ bị tác động bởi những định kiến quy chụp — rằng thế hệ cha anh họ thuộc về một lực lượng phụ thuộc, thiếu năng lực hoặc bị đào thải bởi thời cuộc.

Mối nguy hại ở đây không phải là giới trẻ cố tình quay lưng với cội nguồn, mà là sự thiếu hụt thông tin khiến họ không đủ luận cứ để tự tin bảo vệ danh dự của gia đình và cộng đồng. Khi không có một lịch sử chân thực để tự hào, người trẻ dễ rơi vào trạng thái tự ti bản sắc, né tránh khi nhắc đến nguồn gốc, hoặc tiếp nhận lịch sử qua những cái nhìn sai lệch từ bên ngoài.


III. Hệ Quả Trong Văn Học Hàn Lâm Và Trách Nhiệm Với Sự Thật Lịch Sử

Hệ quả của sự im lặng trong gia đình không chỉ dừng lại ở tâm lý cá nhân, mà còn lan sang cả không gian trí thức và sáng tác nghệ thuật.

Khi thế hệ sau bước vào con đường nghiên cứu hoặc viết lách, nếu thiếu đi nguồn tư liệu sống động và trung thực từ chính gia đình, họ buộc phải dựa vào các công trình nghiên cứu và tài liệu phương Tây. Môi trường xuất bản và viện hàn lâm Mỹ vốn ưa chuộng những chủ đề về “bi kịch phi lý”, “sự tha hóa do chiến tranh” hay “trauma tị nạn”. Do thiếu sự đối trọng từ những góc nhìn lịch sử chân thực của người trong cuộc, một số tác phẩm của các tác giả gốc Việt — dù đoạt các giải thưởng văn học lớn — đã vô tình khắc họa hình ảnh người lính VNCH dưới lăng kính lệch lạc, thụ động hoặc tiêu cực. Đây không phải do động cơ xấu của người viết, mà là hệ quả tất yếu khi khoảng trống ký ức bị lấp đầy bởi các góc nhìn tư tưởng bên ngoài.

Chính từ thực trạng này, chúng ta mới thấy trách nhiệm lớn lao của việc ghi chép và giữ gìn sự thật lịch sử. Trong sáng tác văn học, hư cấu nghệ thuật là một đặc quyền thể loại hoàn toàn chính đáng để phục vụ hiệu ứng cảm xúc. Tản văn của Phạm Sơn Liêm đã sử dụng rất thành công thủ pháp này khi mượn chi tiết Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ (NARA) làm chất liệu kết nối hai cha con.

Tuy nhiên, với riêng chủ đề Chiến tranh Việt Nam và đặc biệt là giai đoạn sau ngày 30/4/1975, chúng ta đang đối mặt với một hoàn cảnh rất đặc thù: lịch sử cải tạo và sự hy sinh của người lính VNCH đã và đang bị xóa nhòa hoặc bóp méo quá nhiều trong các tài liệu chính thống.

Vì lý do đặc biệt đó, bên cạnh những tác phẩm văn học trữ tình giàu cảm xúc, cộng đồng chúng ta lại càng cần có thêm những tài liệu mang tính chính sử, xác thực đến từng chi tiết. Bởi nếu không cẩn trọng bổ sung tư liệu thực tế, thế hệ thứ hai sinh ra ở hải ngoại — vốn quen với lối suy nghĩ tài liệu của Mỹ — sẽ dễ lầm tưởng những hư cấu nghệ thuật là tư liệu lưu trữ có căn cứ, từ đó vô tình hiểu sai về bản chất khốc liệt của lịch sử.


IV. “Bất Khuất Tân Cảnh” – Một Tư Liệu Bổ Sung Cho Dòng Chảy Chính Sử

Chính vì tản văn của Phạm Sơn Liêm đã chạm được vào một nỗi trăn trở có thật và giàu tính nhân văn của cộng đồng, nên đây cũng là một dịp rất tốt để chúng ta giới thiệu thêm những tư liệu bổ sung — những trang viết nhân chứng nhằm lấp đầy khoảng trống ký ức bằng các sự kiện lịch sử sát thực nhất.

Với tinh thần tiếp nối và đồng hành đó, bài viết “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát” đang chuẩn bị được phổ biến. Đây không phải là một tác phẩm hư cấu nghệ thuật, mà là một nỗ lực ghi chép lịch sử chiến trường theo phương pháp nhân chứng: sát thực từng mốc thời gian, từng địa danh, từng tên tuổi và diễn biến sự kiện.

Qua những trang ghi chép trung thực từ góc nhìn của một người lính trinh sát tại mặt trận Tân Cảnh, thế hệ sau sẽ có cơ hội tiếp cận thêm một mảnh ghép lịch sử khách quan:

  • Hiểu được bối cảnh tàn khốc và áp lực quân sự khổng lồ mà người lính VNCH phải đối mặt.
  • Thấy được tinh thần trách nhiệm, sự kiên cường và khí tiết của những con người đã chiến đấu đến những giây phút cuối cùng.
  • Nhìn nhận cuộc chiến không qua những nhãn gán đơn giản hóa, mà qua tính phức tạp và sự hy sinh có thật của những con người bằng xương bằng thịt.

Những tư liệu sát thực như “Bất Khuất Tân Cảnh” đóng vai trò là nguồn dữ liệu nền tảng, giúp thế hệ trẻ củng cố nhận thức, song hành cùng các tác phẩm văn học để giúp họ có cái nhìn toàn diện, công bằng và tự hào về di sản của gia đình.


V. Kết: Trách Nhiệm Với Di Sản Lịch Sử

Tản văn của Phạm Sơn Liêm đã mở ra một khoảng không gian lắng đọng tuyệt đẹp về tình cha con và sự thức tỉnh bản sắc. Nhưng để sự thức tỉnh đó trở thành một điểm tựa vững chắc ngoài đời thực, thế hệ đi trước cần chủ động hơn nữa trong việc chia sẻ ký ức.

Di sản quan trọng nhất mà thế hệ thứ nhất trao lại cho thế hệ sau không chỉ là sự thành đạt về kinh tế hay địa vị xã hội, mà là sự thật về danh dự và bản sắc.

Đã đến lúc thế hệ nhân chứng cần bước ra khỏi sự im lặng. Đừng ngần ngại, hãy chia sẻ câu chuyện lịch sử với con cháu bằng sự chân thành và chính xác nhất — dù quá khứ đó có gian khổ hay đau thương. Khi thế hệ thứ hai được tiếp cận với cả sự thấu hiểu từ tình cảm gia đình lẫn sự thật minh bạch từ chính sử, họ sẽ có đủ tri thức và bản lĩnh để tự tin khẳng định giá trị cội nguồn của mình.

Ghi chép và trao lại chính sử ngay hôm nay chính là trách nhiệm lớn nhất của chúng ta đối với quá khứ và tương lai!


Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 3 tháng 8 năm 2026

==

2- KHI SỰ THỨC TỈNH KHÔNG ĐỦ

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Mấy ngày nay, một số độc giả có hỏi thăm chừng nào bài viết “Bất Khuất Tân Cảnh” mới được phổ biến. Xin chia sẻ một tin vui: bài viết đã được đăng trên báo Viễn Đông ngày 7/8/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc ủng hộ.

Hôm nay, chúng ta cùng bàn về một đề tài cũng quan trọng không kém: Ai Trả Giá Cho Sai Lầm Của Người Trí Thức?

Tác phẩm văn học không bao giờ tồn tại trong một khoảng chân không lịch sử, và hành trình tinh thần của tác giả sáng tạo ra nó cũng vậy. Nhìn lại trường hợp nhà văn Nam Dao — từ một trí thức trẻ dấn thân trong Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada đến một cây bút đầy ưu tư với hàng loạt tác phẩm được xuất bản cả trong nước lẫn hải ngoại — người đọc không chỉ thấy bước đường sáng tác của một cá nhân, mà còn thấy bóng dáng của một giai đoạn lịch sử đầy biến động và rạn nứt.

Bài viết này đi sâu phân tích diện mạo văn chương và tư tưởng của Nam Dao qua những tác phẩm then chốt, đặc biệt là bộ ba tiểu thuyết Gió Lửa – Đất Trời – Bể Dâu cùng tập bút ký Những con người, những bóng ma (NXB Văn Mới, 2006). Nhìn từ góc độ cấu trúc và thông điệp, tác phẩm của ông vừa mang dáng dấp của một “lời tự thú”, một nỗ lực “trả nợ” tinh thần đối với đồng bào miền Nam, lại vừa chứa đựng những trăn trở sâu sắc về thân phận con người trong dòng chảy chính trị bão táp.

Tuy nhiên, bài viết không dừng lại ở việc soi chiếu văn bản hay ghi nhận sự “thức tỉnh” đơn thuần. Đặt Nam Dao vào không gian phê bình rộng lớn hơn — nơi cộng đồng văn học hải ngoại vẫn đưa ra những góc nhìn phản biện gay gắt và nghi vấn về tính trọn vẹn trong sự “sám hối” của ông — bài viết nỗ lực xây dựng một cái nhìn công tâm, đa chiều. Liệu những trang viết ấy là sự dũng cảm nhìn lại quá khứ, hay chỉ là nỗ lực xoa dịu để “được lòng cả đôi bên”?

Bằng sự tỉnh táo và tinh thần trách nhiệm tri thức, bài viết mở ra một cuộc đối thoại không phải để phán xét cá nhân hay xới lại oán thù cũ, mà để soi rọi vào bản chất của sự ngộ nhận. Qua đó, tác phẩm gửi gắm một lời cảnh báo đắt giá cho hậu thế: khi trí thức “lờ mờ, đờ đẫn, nhầm lẫn” trước lý tưởng, cái giá phải trả luôn thuộc về những người đang sống — những người dân vô tội nơi quê nhà.

Kính mời quý niên trưởng, quý chiến hữu cùng quý thân hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài tham luận: “Khi Sự Thức Tỉnh Không Đủ: Ai Trả Giá Cho Sai Lầm Của Người Trí Thức?”

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 7 tháng 8 năm 2026.

KHI SỰ THỨC TỈNH KHÔNG ĐỦ:

Ai Trả Giá Cho Sai Lầm Của Người Trí Thức?

Tsu A Cầu

 

DẪN NHẬP

Trong suốt chiều dài lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, có những vết thương đã khép miệng theo thời gian, nhưng cũng có những nỗi đau vẫn còn nhức nhối mỗi khi nhìn lại. Đó là bi kịch về những giấc mơ lãng mạn của tuổi trẻ, về những tấm lòng yêu nước chân thành nhưng bị đặt nhầm chỗ, và trên hết là về cái giá tàn nhẫn mà người dân lành phải gánh chịu cho những sai lầm nhận thức của tầng lớp trí thức một thời.

 

I. BÀI HỌC TỪ MỘT CUỘC ĐỜI: HÀNH TRÌNH DẤN THÂN VÀ VỠ MỘNG CỦA NHÀ VĂN NAM DAO

Để nhìn rõ bản chất hiện tượng này, chúng ta hãy nhìn lại câu chuyện của nhà văn Nam Dao (Giáo sư Kinh tế Nguyễn Mạnh Hùng). Đây không phải trường hợp cá biệt, mà là hồ sơ nhân chứng điển hình cho một bộ phận trí thức Tây học miền Nam thập niên 1960–1970.

1. Bối cảnh xuất thân và sự lãng mạn chính trị thời tuổi trẻ:

Nam Dao sinh ra ở miền Bắc, lớn lên trong gia đình thượng lưu tại miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (bố nuôi ông từng làm Chủ tịch Hội đồng Kiểm duyệt). Sau khi thụ hưởng nền giáo dục tinh hoa Sài Gòn, ông du học Canada bằng học bổng chính phủ VNCH, lấy bằng Tiến sĩ tại Đại học Toronto và trở thành Giáo sư Kinh tế Đại học Laval (Quebec).

Thế nhưng, đứng trước bão táp chiến tranh, ông đã chọn dấn thân bằng sự lãng mạn chính trị: xuống đường chống chính quyền Ngô Đình Diệm, gia nhập Hội Việt kiều Yêu nước tại Canada, ủng hộ “Lực lượng thứ ba” và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nơi xứ lạnh, ông ngây thơ tin rằng chỉ cần người Mỹ rút đi và thành lập chính phủ trung lập thì hòa bình, tự do sẽ tự khắc đơm hoa.

Sự ngộ nhận ấy xuất phát từ ngụy biện tri thức. Dù được một thanh niên ở Huế cảnh báo Mặt trận thực chất do Đảng Cộng sản lập ra, Nam Dao vẫn tự trấn an: “Biết là có Cộng sản, nhưng cũng biết có những người trong Mặt trận không phải Cộng sản”. Ông chọn tin vào những tuyên ngôn mười điểm hoa mỹ hơn là thực tế khắc nghiệt dưới chân.

2. Va chạm thực tế và đòn bẩy vỡ mộng sau năm 1975:

Ngày 30/4/1975, Nam Dao hân hoan trở về quê hương sau 14 năm xa cách với mong muốn dùng kiến thức kinh tế tái thiết đất nước. Chính lúc này, thực tế phũ phàng giáng đòn chí mạng vào niềm tin của ông:

  • Xã hội sợ hãi và biến chất: Không thấy miền Nam tự do như mơ ước, ông chỉ thấy bầu không khí sợ hãi bao trùm, con người phải sống “hai ba nhân cách” để sinh tồn.
  • Bị cự tuyệt khi góp ý chân thành: Ngỡ đang ở một đất nước tự do, ông gửi kiến nghị lên Hội đồng Bộ trưởng đề nghị mở cửa báo chí và áp dụng kinh tế thị trường. Kết quả, ông bị quy tội “Trời chưa sáng gà đã gáy” và bị cấm nhập cảnh quê hương suốt 6 năm.
  • Chứng kiến bi kịch đồng bào: Cay đắng nhất, ông phải chứng kiến cảnh các em gái tuổi hai mươi của chính mình lấm lét uống thuốc ngừa thai, chấp nhận “bảy phần chết ba phần sống” để vượt biển trốn chạy thể chế mà ông từng vô tình tiếp sức.

3. Sự dằn vặt và lời tự thú chặng cuối cuộc đời:

Nhận ra sự thật, Nam Dao dành chặng cuối cuộc đời đi tìm gặp các nhân chứng thảm kịch — từ nạn nhân Nhân văn – Giai phẩm miền Bắc (Phùng Cung, Trần Dần, Văn Cao) đến các nhà văn tị nạn tại Quận Cam. Tập bút ký Những con người, những bóng ma ra đời như một sự trăn trở dằn dỗi, một lời tự thú và đề nghị xin lập “Đại lễ Giải oan cho dân tộc”.

4. Mối liên kết tư tưởng: Khi hiện tượng Nam Dao không phải duy nhất:

Trường hợp Nam Dao nằm trong một “vòng lặp bi kịch” của miền Nam VNCH — nơi bầu không khí tự do, nhân bản vô tình nuôi dưỡng những tri thức tự diễn biến:

  • Từ biểu tượng văn nghệ đô thành: Một Phạm Công Thiện gào xé triết lý, truyền gieo chủ nghĩa hư vô vào thanh niên thời chiến; hay một Trịnh Công Sơn với những giai điệu phản chiến da diết làm xói mòn ý chí hậu phương và tạo lợi thế tâm lý to lớn cho đối phương.
  • Đến các giáo sư kinh tế thụ hưởng học bổng quốc gia: Ngay tại Sài Gòn, Tiến sĩ Kinh tế Châu Tâm Luân (Giáo sư Trường Cao đẳng Nông nghiệp) cũng sang Mỹ du học bằng học bổng VNCH, rồi trở về tham gia nhóm phản chiến xuống đường biểu tình. Sau năm 1975, khi nộp kiến nghị bị trù dập, ông phải vượt biển tị nạn. Chua chát thay, tại trại tị nạn ông bị chính các nạn nhân nhận diện và hành hung. Cuối đời, sau khi về thăm quê nhà, ông lại đưa ra những tuyên bố có lợi cho thể chế thống trị — ra đi mà chưa một lần công khai hối cải trước dân tộc.

Điểm chung của họ: Sử dụng chính thứ tự do, tiền bạc và sự bảo bọc mà Việt Nam Cộng hòa trao cho để xới gốc, làm suy yếu thể chế ấy từ bên trong. Để rồi khi miền Nam sụp đổ, sự vỡ mộng hay thái độ lập lờ của họ trở thành vết thương nhói lòng cho những người sống sót.

 

II. LỜI THỨC TỈNH CỦA TRÍ THỨC VÀ NỖI BẤT CÔNG ĐỐI VỚI NGƯỜI SỐNG

Hành trình của Nam Dao hay Châu Tâm Luân phác họa một kịch bản lặp đi lặp lại: Bắt đầu bằng lý tưởng lãng mạn ➔ Tiếp tay làm suy yếu thể chế tự do ➔ Vỡ mộng, bị trù dập hoặc trốn chạy ➔ Và cuối cùng là viết sách tự dằn vặt hoặc im lặng lập lờ đến cuối đời.

Câu hỏi đau đớn đặt ra: Liệu sự thức tỉnh nửa vời ấy có đủ bù đắp tổn thất, và ai mới là người thực sự phải trả giá?

Bi kịch này thể hiện qua ba góc nhìn thực tế:

1. Sự bất bình đẳng tàn nhẫn về cái giá phải trả:

  • Đối với trí thức ngộ nhận: Họ chỉ mất đi một niềm tin, sự dằn vặt tâm hồn hay chút giới hạn hành chính. Sự sám hối diễn ra an toàn trên trang sách, thậm chí còn được tôn vinh là “dũng cảm nhìn nhận sự thật”.
  • Đối với người dân bình thường: Hàng triệu quân dân cán chính miền Nam trả giá bằng hàng thập kỷ đày đọa trong trại cải tạo, kỳ thị lý lịch nhiều thế hệ, tịch thu tài sản, vùi thân dưới đại dương, và đẩy hậu thế vào nền kinh tế tụt hậu, thiếu vắng tự do.

➔ Sự thức tỉnh chỉ ở cấp độ tinh thần cá nhân, nhưng hậu quả lại nằm ở sinh mạng và vận mệnh cả một dân tộc.

2. Sự lệch chuẩn trong phê bình thời cuộc:

Giới trí thức thời đó đã khắt khe soi chiếu, phản đối từng thiếu sót của một chính quyền miền Nam đang chập chững thực thi dân chủ thời chiến, nhưng lại nhắm mắt làm ngơ trước mô hình toàn trị phía bên kia. Sự thiên lệch nhận thức ấy đã biến lòng tốt của họ thành nhiên liệu cho thảm kịch hậu chiến.

3. Dung dưỡng cho vòng lặp lừa dối qua nhiều thế hệ:

Khi xã hội quá dễ dãi tôn vinh sự “thức tỉnh muộn” mà bỏ qua trách nhiệm giải trình của trí thức, kẻ cầm quyền lại có cơ hội tiếp tục dùng khẩu hiệu hoa mỹ để ru ngủ hết thế hệ này sang thế hệ khác, rồi phủi tay rũ bỏ thảm kịch dưới hai chữ “hoàn cảnh khách quan”.

 

III. BỆ ĐỠ GIẢI PHÁP: Dứt bỏ vòng lặp bi kịch

Những người đang sống không thể quay ngược thời gian để đánh đổi những lời sám hối muộn màng lấy lại thanh xuân trong trại cải tạo hay sinh mạng dưới đại dương. Để bảo vệ thế hệ tương lai khỏi vòng lặp cay đắng ấy, chúng ta cần xác định ba nguyên tắc nhận thức:

  1. Thức tỉnh là bổn phận sám hối, không phải chiến công: Việc nhận ra sai lầm sau khi đã tiếp tay cho thảm kịch chỉ là khởi đầu của sự ăn ăn. Tuyệt đối không đánh tráo vị thế, biến người ngộ nhận thành “anh hùng nhận thức” trong khi đẩy các nạn nhân thầm lặng vào bóng tối.
  2. Không thể hòa giải nếu thiếu sự thật và công lý: Hòa giải chân chính không phải là sự lấp liếm dễ dãi. Nó đòi hỏi kẻ gây ra sai lầm phải thừa nhận tội lỗi; đồng thời danh dự, tài sản và nhân quyền của các nạn nhân phải được phục hồi sòng phẳng.
  3. Trang bị tư duy phản biện cho thế hệ trẻ: Dạy cho hậu thế đánh giá thể chế bằng hành vi thực tế, cơ chế kiểm soát quyền lực và sự thượng tôn pháp luật — chứ tuyệt đối không tin vào những khẩu hiệu hay lời hứa hẹn lãng mạn.

 

KẾT LUẬN

Hành trình từ sự ngộ nhận lãng mạn của Nam Dao hay Châu Tâm Luân đến cái giá đắt mà hàng triệu đồng bào phải trả không chỉ là nỗi đau quá khứ, mà là một lời cảnh báo đắt giá dành cho hậu thế. Lịch sử đã chứng minh: sự ngu ngơ về chính trị và việc nhân danh những lý tưởng viển vông của tầng lớp trí thức có thể biến thành tội ác vô hình đối với dân tộc.

Nhìn nhận thẳng thắn những sai lầm của tiền nhân không phải để xới lại oán thù, mà là để xác định lại công lý cho những người đang sống và trả lại sự thật cho lịch sử. Sự “sám hối” muộn màng — hay tệ hơn là sự im lặng không hối cải — của các cá nhân dù thế nào cũng không thể xóa sạch những vết thương mà lịch sử đã ghi nhận.

Nếu thế hệ tương lai tiếp tục nhắm mắt trước lịch sử, thiếu đi sự tỉnh táo và trách nhiệm tri thức, thì người sống sẽ còn phải tiếp tục trả giá cho những ảo tưởng của người đã qua. Chỉ khi nào sự thật được tôn trọng tuyệt đối, đất nước mới thực sự có được một tương lai bình yên, tự do và công bằng đúng nghĩa.

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 7 tháng 8 năm 2026.

==

3- Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Trong loạt bài “Chân Dung Người Lính Trận”, lần này chúng tôi xin giới thiệu một chiến sĩ Trinh sát. Đây là những người lính trận thực sự đối diện với địch và chưa bao giờ xem những vết sẹo trên thân thể mình hay chiến công là điều để khoe khoang. Đối với họ, sống sót trở về sau những giờ phút vào sinh ra tử đã là một may mắn lớn lao, còn những đồng đội nằm lại mới là những người anh hùng thực sự.Khi tôi ngỏ ý muốn ghi lại và phổ biến câu chuyện chiến trường này để làm tài liệu lịch sử cho hậu thế, vị Niên trưởng Khoá 23, cựu Trung úy Trinh sát Sư đoàn 22 — nhân vật chính trong bài viết — đã xua tay xót xa:

‘Chuyện tôi kể cho các anh nghe chẳng qua là lúc trà dư tửu hậu. Đừng để tên thật của tôi, kẻo người đời lại nghĩ mình khoe khoang chiến công. Ngoài chiến trường, Trung đội trưởng và Đại đội trưởng mới là người trực tiếp thấy lính mình gục ngã, nỗi đau đó theo mình suốt đời chứ danh vọng gì…’Để tôn trọng sự khiêm nhường sâu sắc đó của người lính già, tên thật của ông cũng như các cấp chỉ huy trực tiếp liên quan trong bài viết đã được viết tắt. Nhưng tất cả diễn tiến, tọa độ, địa danh và những sự kiện máu xương tại Mật khu Ngọk Tô Ba, Căn cứ 42 và chiến trường Tân Cảnh (KONTUM) năm 1972 hoàn toàn là sự thật.

Tôi viết lại câu chuyện này không phải để vinh danh bất kỳ cá nhân nào, mà để gìn giữ một mảnh ký ức chân thực cho hậu thế: Để mai sau người ta biết rằng đã từng có những người lính Trinh sát QLVNCH dấn thân vào chỗ chết không từ nan, chiến đấu và hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho lý tưởng Tự Do!Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài viết: “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát”

 Trân trọng,Tsu A Cầu

(K29/TVBQGVN)Huntington Beach, California, ngày 31 tháng 7 năm 2026.

CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH TRẬN

Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát

 

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Trong loạt bài “Chân Dung Người Lính Trận”, lần này chúng tôi xin giới thiệu một chiến sĩ Trinh sát. Đây là những người lính trận thực sự đối diện với địch và chưa bao giờ xem những vết sẹo trên thân thể mình hay chiến công là điều để khoe khoang. Đối với họ, sống sót trở về sau những giờ phút vào sinh ra tử đã là một may mắn lớn lao, còn những đồng đội nằm lại mới là những người anh hùng thực sự.

Khi tôi ngỏ ý muốn ghi lại và phổ biến câu chuyện chiến trường này để làm tài liệu lịch sử cho hậu thế, vị Niên trưởng Khoá 23, cựu Trung úy Trinh sát Sư đoàn 22 — nhân vật chính trong bài viết — đã xua tay xót xa: ‘Chuyện tôi kể cho các anh nghe chẳng qua là lúc trà dư tửu hậu. Đừng để tên thật của tôi, kẻo người đời lại nghĩ mình khoe khoang chiến công. Ngoài chiến trường, Trung đội trưởng và Đại đội trưởng mới là người trực tiếp thấy lính mình gục ngã, nỗi đau đó theo mình suốt đời chứ danh vọng gì…’

Để tôn trọng sự khiêm nhường sâu sắc đó của người lính già, tên thật của ông cũng như các cấp chỉ huy trực tiếp liên quan trong bài viết đã được viết tắt. Nhưng tất cả diễn tiến, tọa độ, địa danh và những sự kiện máu xương tại Mật khu Ngọk Tô Ba, Căn cứ 42 và chiến trường Tân Cảnh (KONTUM) năm 1972 hoàn toàn là sự thật.

Tôi viết lại câu chuyện này không phải để vinh danh bất kỳ cá nhân nào, mà để gìn giữ một mảnh ký ức chân thực cho hậu thế: Để mai sau người ta biết rằng đã từng có những người lính Trinh sát QLVNCH dấn thân vào chỗ chết không từ nan, chiến đấu và hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho lý tưởng Tự Do!

Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài viết: “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát”

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 31 tháng 7 năm 2026.



BẤT KHUẤT TÂN CẢNH – KÝ ỨC CỦA NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT

Tsu A Cầu

Lời Mở Đầu

Trong suốt chiều dài cuộc chiến, phần lớn truyền thông phương Tây chỉ ngồi ở các quán cà phê Sài Gòn rồi thêu dệt nên hình ảnh phiến diện về người lính Việt Nam Cộng Hòa. Họ không hề biết — hoặc không dám biết — đến những toán Viễn thám, Trinh sát lặng lẽ luồn sâu vào tận sào huyệt địch. Lời kể chân thực, mộc mạc của NT NTV23, cựu Trung úy Trinh sát Sư đoàn 22 dưới đây là câu trả lời hào hùng về lòng dũng cảm, sự hy sinh lẫm liệt và tình đồng đội thiêng liêng của người lính VNCH.

Vào Chuyện

Tôi là lính Trinh sát Sư đoàn 22 Bộ binh, được tăng phái lên vùng Tân Cảnh, Trung đòan 42 (KONTUM). Dân viễn thám chúng tôi thường thì cứ nhảy toán 5 ngày, về nghỉ 2 ngày.

Lần đó, tôi mang hai trung đội viễn thám lên tăng phái cho Trung Đoàn 42 mà Trung tá Thông là Trung Đoàn Trưởng (khóa 16 Đà Lạt, sau này là Đại tá). Gặp Trung tá, tôi chưa kịp nói lời trình diện, tôi thấy mắt ông ta sáng lên, vội đến chỉ vào cái huy hiệu Võ Bị tôi thường mang trên mép túi áo bên trái và hỏi: “Võ Bị phải không??”.

Trả lời: “Thưa phải”, Ông hỏi tiếp: “Khóa mấy?’. Trả lời: ‘Khóa 23”. “Khóa 23 học 4 năm mà râu tóc vậy nè”. Tôi hiểu đó chỉ là một lời mắng yêu của một đàn anh. Rồi ông bảo tôi: “Nếu muốn nhảy thì nhảy theo toán thì nhảy, còn không thì lên Căn cứ 6 làm đài tiếp vận (rele).”

Nhưng rồi bữa đó, ông Thông ra lệnh đi một cánh hành quân, yêu cầu nhảy hai toán và bảo tôi phải đi theo chỉ huy. Tôi mở bản đồ ra đo, hết hồn nói liền: “Thưa Trung tá, mật khu này của Việt Cộng nằm ở Vùng Ngọk Tô Ba, sát biên giới Việt – Miên rồi! Kỹ thuật viễn thám chúng tôi học là không bao giờ nhảy quá 10 cây số, vì ngoài tầm pháo binh thì không ông nào bắn yểm trợ nổi hết. Tới tầm đó là hết thuốc bồi, đạn pháo rớt sẽ bị ảnh hưởng của gió không kiểm soát được nữa!”

Ông Thông năn nỉ: “Anh ráng đi giùm tôi. Hễ anh cần là tôi kêu máy bay lên yểm trợ bất cứ lúc nào!” Thấy ông nói quá, tôi đành nhận công tác.

Sáng hôm sau, mới 7 giờ sáng, một người lính của Trung đoàn 42 chạy tới nói “lệnh Trung Tá Thông, lên kho vũ khí lãnh về 4 trái mìn chống chiến xa”. Anh biết trái mìn chống chiến xa nó bự cỡ nào không? Nó to như cái bánh xe. Hai thằng khiêng một trái! Tôi đi hai toán chỉ có 14 thằng, gánh 4 trái mìn hết trơn 8 thằng rồi còn đâu mà chiến đấu! Tôi chạy vội lên gặp ông Thông lần nữa: “Trung tá! Tôi đi là đi lấy tin tức gián điệp cho Ban 2 và An ninh Quân đội, chứ đâu phải lực lượng phá hoại mà bắt vác mìn nặng vậy?”

Ông dụ khị tôi: “Anh mà phá được một chiếc thiết giáp là được thưởng 100,000 đồng!”

Tôi trả lời thẳng: “Tôi không cần tiền đó! Đi kiểu này tôi không đi!”

Nói thiệt, có thằng lính nào dám từ chối lệnh hành quân không? Nhưng ông hứa dữ quá: “Bất cứ lúc nào mìn nổ, tôi cam đoan máy bay sẽ lên!” Nước tới chân, tôi đành dắt quân đi.


Tiếng Nổ Trong Mật Khu Ngọk Tô Ba

Sát giờ lên trực thăng nhảy toán, có một thằng phóng viên ngoại quốc mang máy ảnh lằn ngoằn trên vai tới đòi đi theo. Thấy vậy tôi gạt liền: “Từ hồi đi nhảy toán tới giờ chưa bao giờ có phóng viên nào đi theo hết, tao không cho đi!”

Tiếng Mỹ của tôi lúc đó không hay ho gì nhưng nó nhìn nét mặt là hiểu ngay. Đây là chuyến công tác đặc biệt luồn sâu vào mật khu địch, quân số toán viễn thám chỉ có 14 anh em mà đã phải vác thêm 4 trái mìn chống chiến xa nặng trịch, nhân sự thiếu hụt trầm trọng. Đi vào chỗ chết sống trong gang tấc như vậy, bản thân anh em tôi còn chưa biết sống chết ra sao thì làm sao bảo vệ an toàn cho nó được?

Gạt nó lại xong, anh em leo lên trực thăng thả xuống vùng đèo núi quanh co ở Mật khu Ngọk Tô Ba. Việc đầu tiên là đào đất chôn 4 trái mìn, mỗi trái cách nhau cả trăm thước. Chiều dài bốn trái rải ra tới 400 mét. Đào, cào, lấp, ngụy trang xong xuôi là mệt thở không ra hơi. Xong đâu đấy, anh em bò lên triền núi nằm phục kích. Đâu biết chừng nào tụi nó tới.

Đến khoảng 11 giờ 30 đêm, một đoàn xe từ ngả ba biên giới bật đèn sáng trưng chạy mò vào đường đèo… ĐÙNG! Trái mìn đầu tiên nổ tung, chiếc xe dẫn đầu bốc cháy rực một góc trời!

Chưa kịp báo cáo thì Ban 3 Trung đoàn (Trưởng ban là Phi Long) gọi đến hỏi; “Ông Địa cười phải không??”.”Báo cáo Phi Long, đã làm thịt một con cua rang muối rồi! Bây giờ tụi nó còn nguyên một đoàn xe đèn sáng trưng, cho phi cơ lên dội bom bắn cháy hết đi!”

Nhưng phía bên kia ống nghe… ông Thông im re! Xin lực lượng yểm trợ nhưng không có một chiếc phi cơ nào xuất hiện! Ổng hứa với tôi trước khi đi, nhưng rốt cuộc lại lực bất tòng tâm…

Bây giờ ngồi nghĩ lại, sau bao nhiêu năm nhìn lại toàn cục chiến trường, tôi mới hiểu hết cái hoàn cảnh trớ trêu và cay đắng lúc đó. Thực ra không phải ông Thông hứa lèo để gạt lính. Bình thường, đêm nào vùng này cũng có một chiếc C-47 Hỏa Long bay ề ề bao vùng, phi hành đoàn liên lạc trực tiếp vào máy vô tuyến của tôi: “Anh thấy điểm nào nghi ngờ cứ gọi, tôi bắn cho!” Cứ mỗi hai tiếng họ đổi ca một lần, chiếc ở trên bật đèn hiệu bụng, chiếc ở dưới bật đèn hiệu cánh giao phiên liên tục suốt đêm.

Thế mà đêm đó, tuyệt nhiên không có một chiếc Hỏa Long nào cất cánh! Hóa ra, quân Bắc Việt lúc ấy đã âm thầm bao vây, đặt “barrier” áp đảo và khống chế toàn bộ chiến trường Tân Cảnh rồi. Cấp trên đã bắt đầu rối loạn. Ông Thông dù là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi nhưng cũng chỉ biết lệnh từ trên xuống, ổng hoàn toàn không đủ thẩm quyền và cũng không thể ngờ được tình hình chung của Sư đoàn lúc đó đã quá nát và sụp đổ đến nơi rồi!

Đoàn xe dừng lại chừng nửa tiếng rồi tiếp tục mò lên… ĐÙNG! Trái thứ hai nổ tiếp, thêm một chiếc nữa bốc cháy!

Từ trên triền đồi nhìn xuống, tôi thấy bộ binh địch từ trong xe tràn ùa ra hai bên đường đông như ong vỡ tổ, chửi thề om sọm. Lúc đó sợ muốn chết luôn! Tụi nó cũng không ngờ có toán viễn thám nằm phục ở đây. Ban đầu mình nghe nói chỉ có thiết giáp, ai ngờ đâu là cả một đoàn quân đi trên hơn 20 chiếc xe Molotova đầy lính!

Thấy tụi nó tràn ra đông quá, tôi ra chuẩn bị lệnh thoát hiểm đào tẩu (chỉ khi nào nguy hiểm gần kề) nếu địch quân tìm thấy chúng tôi: “Chạy! Đi theo hướng phương giác này, chừng bao nhiêu cây số đó là ra tới Quốc lộ 14! Phải có một người còn sống để báo cáo.” Đoàn xe địch sau khi trúng mìn, sau một lúc lâu dừng lại, có lẽ để liên lac, nhận lệnh, đoàn xe không dám tiến thêm nữa mà liền quay đầu tháo chạy ngược trở lại ngả ba biên giới.


Trận Tân Cảnh Và Sự Hy Sinh Của Chuẩn Tướng Lê Đức Đạt

Anh có biết cái “hàm ếch” không? Tụi Việt Cộng đào sâu vào sườn núi, muốn chui vào phải khom lưng. Trên không nhìn xuống hoàn toàn không thấy, đánh bom cũng không trúng. Bò vào đó mới biết mình đã lọt tọt vô đúng ngay ổ của tụi nó, nhưng mình không làm gì được vì chẳng có chiếc máy bay nào lên yểm trợ.

Đến khoảng 7 giờ sáng, tôi nghe tiếng “bạch… bạch… bạch” của trực thăng bay từ hướng Sư đoàn ra. Họ xin tọa độ, bay xè qua nhìn xuống: “Úi! Hai con cua rang muối!” rồi quay đầu bay về Sư đoàn. Hóa ra họ sợ tôi báo cáo láo nên ra kiểm chứng!

Một lúc sau, cả một đoàn trực thăng kéo lên. Tôi được cho biết: “Trinh sát 42 làm an ninh bãi đáp! tránh ngộ nhận.” Chuẩn tướng Lê Đức Đạt (lúc đó là Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 22) cùng phái đoàn báo chí nhảy xuống ngay bãi đáp đó. Anh em chúng tôi trên núi chạy xuống để theo trực thăng về. Phái đoàn quay phim, chụp hình xong bay về Trung đoàn 42, ông Đạt tập họp chúng tôi lại tại sân Trung đoàn khen ngợi: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử bộ binh mình phá được xe molotova Việt Cộng!”

Ngay tại chỗ, ông thăng cấp mặt trận cho anh em. Kỳ đó tôi được thăng Đại úy (năm 1972). Lính viễn thám vốn tuyển từ Binh nhất, sau đợt đó đơn vị tôi toàn là Hạ sĩ quan và Sĩ quan! Hạ sĩ quan thì ông Đạt ký quyết định thăng cấp tại chỗ, còn Sĩ quan thì ông hứa: “Tôi sễ gởi đề nghi thăng cấp này về Bộ Tổng Tham Mưu.”

Trời xui đất khiến, ông không chịu về ngay mà cho tôi về phép trước. Ông ở lại.

Ở Tân Cảnh, nằm vùng Việt Cộng đông lắm, nên ít lâu sau đó, khi Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 bùng nổ, biết Tư lệnh Sư đoàn 22 đang ở Trung đoàn 42 nên tụi nó gom quân đánh úp. Chắc cái đám lính đi trên đoàn xe Molotova hôm trước lội bộ về tới nơi, kết hợp lực lượng đánh một trận ào ạt, dứt điểm toàn bộ Tân Cảnh!

Lúc đó tôi đang ở Quy Nhơn nghỉ phép. Chuẩn tướng Lê Đức Đạt đã hy sinh lẫm liệt ngay tại căn cứ Tân Cảnh và được truy thăng Chuẩn tướng với Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. (vậy là thăng cấp mặt trận của tôi cùng những sĩ quan khác cũng theo Đại tá!)


“Con Bò Lạc” Và Trận Đánh Ở Bồng Sơn

Trung đoàn 42 có tới 12 lớp rào kẽm gai và mìn bẫy. Mấy thằng lính may mắn chạy thoát về kể lại: “Lúc đó em chạy đại, không còn biết mìn bẫy gì nữa, cứ nhắm mắt băng qua rào, ai trúng mìn thì ráng chịu!”

Có thằng lính về còn kể một chuyện nghe nổi da gà: “Trung úy nhớ ‘con bò lạc’ không?”

Số là hồi còn ở Tân Cảnh, mỗi lần nhảy toán 5 ngày về nghỉ 2 ngày, anh em hay ra quán cà phê lớn nhất vùng. môt hôm, anh Thường vụ Đại đội Trinh sát 42 là Trung sĩ nhất Hải rủ tôi: “Trung úy, có ‘con bò lạc’ từ Pleiku mới lên, ông muốn không?” Lính xa nhà đâu có chê, tôi bảo: “Mày dẫn lại tao coi.”… Trời ơi, một cô gái tóc dài, bận áo dài đẹp mê hồn! “điện nước đầy đủ”. Tôi gật đầu liền.

Lúc Tân Cảnh mất, thằng lính chạy về mới thì thào: “Trung uý nhớ con bò lạc đó không? Lúc căn cứ thất thủ, chính nó mặc quần đen, cổ quấn khăn rằn, tay cầm súng AK đứng ra nhận diện từng tù binh từ quan tới lính! May mà Trung úy được ông Đạt cho về phép, chứ ở lại là tiêu đời rồi!”. Thì ra cô này là cán bộ giao liên từ Komtum, Pleiku, Tân Cảnh…Hú vía, nếu không chắc thành thái giám rồi!

Cổng Căn cứ 42 lúc đó có hai chiếc M113 đậu hai bên. Lần đầu tiên Việt Cộng xài hỏa tiễn dây AT-3. Nó bay xà xà như máy bay đồ chơi con nít, điều khiển bằng dây cáp remote. Tụi nó bắn hai trái diệt gọn hai chiếc M113 ngay tại cổng. Sau này tụi nó còn xài hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 nữa, dân thiết giáp sợ lắm, nghe tiếng pháo dập là nhảy vội ra khỏi xe ngay.


Máu Và Nước Mắt Ở Quốc Lộ 1

Sau khi Tân Cảnh mất, rồi Bồng Sơn. Trung đoàn 42, Trung đoàn 40 lần lượt thất thủ. Lúc đó Đại đội trưởng NĐT K21 bị bệnh, Sư đoàn gom 4 đại đội (gồm lính 40 và 42) còn lại cùng với Trinh sát Sư đoàn đóng dọc theo Phù Mỹ để chặn địch tràn xuống.

Đóng quân chừng một tháng thì rút về. Vừa về tới nơi, ông Đại đội trưởng bày ra bàn tiệc nhậu linh đình: “Lâu ngày chờ anh về nên đãi một bữa!”

Vừa nhấc ly rượu lên thì một chiếc xe Jeep trên Sư đoàn xé gió chạy xuống. Hai sĩ quan cầm hồ sơ hỏi: “Ai là Trung úy NTV?” — “Tôi đây!” — “Trung úy đi ra xe gấp, nhận sự vụ lệnh ra làm Đại đội trưởng Đại đội 2 Tiểu Đoàn 2 Trung đoàn 42!”

Tôi cằn nhằn: “Mẹ! Tao mới đi hành quân về, cho tao ăn nhậu một bữa đã! mai đi” Họ lắc đầu: “Không được, đây là lệnh trực tiếp của Trung tá Hoàng, Tham mưu trưởng Sư đoàn!”

Tôi phải bỏ dở bữa tiệc, nhận nhiệm vụ chỉ huy đại đội đánh mở đường từ Phù Mỹ ra tới Bồng Sơn suốt một tháng trời.


Sự Khác Biệt Giữa Trinh Sát Sư Đoàn Và Trinh Sát Trung Đoàn

Nhiều người thường thắc mắc Trinh sát và Viễn thám khác nhau thế nào?

Thế này, về tổ chức, một Đại đội Trinh sát thông thường sẽ có một Trung đội Viễn thám. Riêng Đại đội Trinh sát Sư đoàn 22 thì đặc biệt hơn: đại đội có tới hai Trung đội Viễn thám. Hai trung đội này chuyên trách nhận lệnh tăng phái cho các Trung đoàn để nhảy vào các vùng hiểm yếu.

Sự khác biệt giữa cấp Trung đoàn và Sư đoàn nằm ở phạm vi trách nhiệm:

  • Trinh sát Trung đoàn: Mỗi trung đoàn có một Đại đội Trinh sát, trong đó gồm một Trung đội Viễn thám. Trung đội viễn thám này chỉ nhảy và hoạt động trong phạm vi vùng trách nhiệm riêng của trung đoàn đó.
  • Trinh sát Sư đoàn: Đại đội Trinh sát Sư đoàn chịu trách nhiệm bao quát toàn bộ vùng hoạt động của cả Sư đoàn. Vì vậy, hai trung đội viễn thám của sư đoàn sẽ được điều động tăng phái ngay lập tức đến bất kỳ trung đoàn nào đang cần lực lượng luồn sâu yểm trợ. Đó là lý do tôi liên tục đi tăng phái nhảy toán cho cả bốn Trung đoàn 40, 41, 42 và 47. Dù các trung đoàn đều có lực lượng trinh sát riêng, nhưng quân số của họ không đủ để đáp ứng khi tình hình chiến trường căng thẳng.

Về quân số và quy mô tổ chức:

  • Một Trung đội Viễn thám: Quân số rất gọn nhẹ, cao lắm chỉ gồm 3 toán (mỗi toán 7 người), tức khoảng 21 anh em.
  • Một Đại đội Trinh sát: Khác với bộ binh thông thường, quân số thực tế rơi vào khoảng 50 đến 60 lính.

Lúc tôi nhận chức Đại đội trưởng Đại đội 2 tiểu đoàn 2 Trung đoàn 42, quân số cũ của đại đội gần như đã hy sinh và thất tán gần hết sau các trận đánh khốc liệt. Bộ chỉ huy mới bổ sung quân số đầy đủ cho tôi. Đợt đó, đại đội tôi được tăng cường đông nhất lên tới 70 anh em ngon lành.

Nhìn 70 thằng lính mới bổ sung, quân phục chỉnh tề đi thành một hàng dài dằng dặc xé rừng tiến quân, thú thật trông mát mắt và tự hào lắm! Nhưng trận mạc thì không có phút nào thảnh thơi — vừa nhảy xuống vùng Bồng Sơn để giải tỏa áp lực cho lực lượng bạn là đụng địch ngay. Ngày nào cũng đánh, tiếng súng nổ “kình… kình… kình” vang động cả góc rừng liên miên không dứt.

Sáng hôm sau, 6 chiếc trực thăng chở đại đội tôi nhảy xuống Núi Kho (Bồng Sơn). Vùng này mìn bẫy dữ lắm nên tôi cho lính xé rừng gai mà đi — cái loại rừng gai nhọn và dài như đinh sắt, ai ở Khánh Hòa, Nha Trang thì biết.

Đi xuống vùng đồng bằng, giao thông hào địch đào chằng chịt như bàn cờ ca-ro. Vì là vùng ven biển, tôi căng hai trung đội đi trước theo thế chân vạc, tiểu đoàn đi phía sau. Tôi nói vào máy giải tỏa áp lực cho anh em: “Hôm nay mình xả láng nghe tụi bay, có bao nhiêu chơi bấy nhiêu!”

Đánh riết ra tới Quốc lộ 1 thì tôi bị thương. Cả ba trung đội trưởng của tôi đều đã hy sinh. Một thằng bị nguyên trái B-40 găm thẳng vào đầu… thú thật tôi không dám nhìn!

Khi đánh ra gần Quốc lộ 1, thấy mấy ngôi nhà ngói là biết sắp tới đường lộ. Bất ngờ, một tiếng nổ “Ì” chấn động ngay ngôi nhà ngói trước mặt. Tôi nghe tiếng mảnh đạn bay “xẹt… xẹt…” liền né người tránh, nhưng BỊCH! một cái cực nặng trúng ngay ngực trái!

Lúc đó tôi mới biết: Mảnh đạn xé không khí bay vòng mà không bay thẳng, như viên đạn. Nó đập vào ngực tôi như ai cầm cây gỗ bự nện mạnh vào bao gạo: Bập! Một nhói đau điếng người. Thằng mang máy vô tuyến hốt hoảng: “Sao sao Trung úy?” Tôi sờ ngực thấy không chảy máu ngoài nên bảo không sao.

Nhưng chỉ vài giây sau, máu bên trong nội tạng cuồn cuộn trào lên. Hai tay tôi không còn sức cầm hai cái “ống liên hợp cabinêt” liên lạc nữa, phải buông rơi xuống đất. Vừa nằm xuống thì máu tươi từ mũi, miệng trào ra sặc sủa, ngộp thở ho húng hắng. Tôi phải ráng ngồi dậy mới thở được.

Thằng Thiếu úy Trợ y Tiểu đoàn chạy lại nhìn qua vết thương rồi la lên: “Ông này bị thương nặng lắm, chở đi gấp!” Trước khi tải thương, nó chích cho tôi một mũi Morphin vì sợ tôi không qua khỏi trên đường đến Quân Y Viện Qui Nhơn. Mũi thuốc chích vô, máu trong người chạy rần rần từ đỉnh đầu xuống tới mười đầu ngón chân, cảm giác thật sảng khoái!

Về tới Quân y viện Quy Nhơn, bác sĩ lại khám rồi ra lệnh ngay: “Trung úy này bị thương nặng, đưa vô phòng mổ gấp!”

Tôi thều thào: “Bác sĩ ơi, tôi đánh trận từ sáng tới giờ chưa có gì bỏ bụng hết…”

Bác sĩ bảo: “Chờ tới sáng mai mổ là anh chết!”

Họ đẩy tôi đi chụp hình phổi rồi đưa lên bàn mổ… mà hoàn toàn không có một giọt thuốc tê! Họ cột chặt tay chân tôi vào thành giường, cứ thế họ mổ, họ cắt. Ôi chao! đau không thể chịu được, tôi gồng mình, oằn oại nghiến răng trong tiếng rên đau đớn. Lúc bị thương chỉ thấy đau nhót rồi hết. Khi giải phẫu xong tôi mới biết họ đục một lỗ nơi sườn bên trái, nhét một đầu ông cao su vào bên trong phổi để lấy máu từ phổi ra đầu kia thì cắm vào một cái chai nơi chân giường, tôi nghiêng mình nhìn thấy máu mình đang nhỏ từng giọt vào chai đó. thì ra tôi bị một miểng đạn B40 vào phổi. Sau này có vài Bác Sĩ bảo tôi mổ lấy ra, nhưng tôi vẫn giữ cho tới giờ, như một kỷ vật thời chiến.

Có người hỏi: “Sao lúc đánh trận không mang áo giáp?” Thứ nhất là luộm thuộm, cồng kềnh khi đi rừng. Thứ hai là mang áo giáp lính nó nhìn vô nó… coi thường, khó chỉ huy lắm!


Xác Không Đầu Và Nước Mắt Mẹ Già

Sống trong Quân y viện Quy Nhơn, tình thầy trò đồng đội làm tôi vô cùng cảm động. Thằng đệ tử theo chăm sóc cho tôi từng chút một. Một hôm, nó chạy vô báo: “Trung úy ơi, có ba má của Thiếu úy Sơn — cái ông bị trúng B-40 vô đầu — tới thăm!”

Hai ông bà cụ tóc bạc phơ bước vào, hỏi thăm sức khỏe tôi rồi rớm nước mắt tâm sự: “Trung úy biết không, hồi đó thằng Sơn nhà tôi nó thương một cô gái cùng xóm, nhưng nhà cô đó nghèo nên tôi không chịu cưới. Nó giận bỏ nhà đi, tôi hối hận cho người đi tìm khắp nơi suốt hai năm trời. Nay tìm được tin nó thì thằng Sơn nhà tôi nó đã chết rồi… Trước khi mất, nó có trăn trối lại điều gì không Trung úy?”

Tôi ngơ ngác, nghẹn đắng trong cổ họng. Nguyên một trái B-40 găm thẳng vô đầu thì còn gì nữa đâu mà trăn trối! Nhưng làm sao tôi dám nói sự thật tàn nhẫn đó cho hai ông bà nghe?

Bà mẹ sụt sùi kể tiếp: “Khi tôi vô nhận xác con, thấy đầu nó băng trắng xóa. Tôi đưa tay rờ vô thấy… mềm… mềm, không biết nó bị thương ra sao…”

Tôi đành nhắm mắt dối lòng: “Dạ, lúc đó cháu đang chỉ huy phía trước nên không rõ…”

Thực ra, anh em đơn vị Chung sự ở Quân Y Viện đã phải dùng rơm, bện lại tạo lại hình hộp sọ cắm vào thân anh Sơn rồi quấn băng trắng phủ lên trước khi đặt vào quan tài. Thà để hai ông bà ôm niềm an ủi nghẹn ngào, còn hơn biết sự thật đau xót đến nát lòng.


Nước Mắt Nơi Nhà Xác Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

Nghe Niên trưởng NTV23 kể đến đây, tôi không khỏi chạnh lòng nhớ lại lần dẫn người dì đi nhận xác anh họ tôi — anh Va-Pẩu, một người lính gốc Nùng, pháo thủ Sư đoàn 5 Bộ binh — tử trận vì trúng mìn. Lúc đó, dượng tôi đang đóng quân ở Bình Dương chưa kịp về, nên Dì đành nhờ tôi đưa xuống Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

Đó là lần đầu tiên tôi bước chân vào khu vực nhà xác. Không khí âm u, ảm đạm và mùi tử khí đặc quánh trùm kín cả không gian. Trước khi vào khu lạnh, chúng tôi phải đi qua những hồ xi măng lớn cạn tới đầu gối, nước đỏ ngầu màu máu — nơi nhân viên chung sự rửa sạch thi thể các tử sĩ vừa từ chiến trường đưa về. Dì tôi nắm chặt lấy tay tôi, khép nép bước đi bên cạnh, mắt liếc nhìn chung quanh với vẻ bàng hoàng, sợ hãi.

Đến khu tủ lạnh, anh em nhân viên Chung sự tra hồ sơ rồi kéo một ngăn tủ sắt ra. Vừa nhìn thấy khuôn mặt quen thuộc, tôi nhận ra ngay liền nói nhỏ: “Dì ơi, anh Va-Pẩu đây này!”

Trông thấy đứa con trai nằm yên lặng trong ngăn kéo lạnh ngắt, mọi sự sợ hãi trong lòng người mẹ vụt biến mất hoàn toàn. Bản năng mẫu tử thiêng liêng khiến Dì lao tới, ôm chầm lấy đứa con yêu quý như thể anh vẫn còn sống. Dì nghẹn ngào, nước mắt dàn dụa ôm lấy con rồi nhờ tôi tìm xem anh bị trúng đạn ở đâu mà nên nông nỗi này. Thật đau đớn và nghiệt ngã… giữa bao nhiêu hiểm nguy chiến trường, chỉ một mảnh mìn nhỏ bằng hạt bắp xé gió xuyên thẳng qua ngực trái đã cướp đi đời người lính trẻ!

Dù biết con mình đã hy sinh, nhưng bậc cha mẹ nào khi nhận xác con cũng ngóng tìm một lý do, muốn tận mắt nhìn thấy và biết tại sao con mình chết. Với anh Va-Pẩu, dẫu xót xa vì chỉ một mảnh mìn nhỏ nơi lồng ngực vẫn còn vẹn toàn thân thể cho người mẹ ôm gục đầu vào. Còn với Thiếu úy Sơn, khi nguyên một trái B-40 tàn phá nát cả phần đầu, sự thật ấy quá đỗi kinh hoàng — thử hỏi người chỉ huy nào dám thốt ra lời thật trước đôi mắt ngấn lệ của người mẹ già?


Lời Kết

Đây chỉ là một trong hàng ngàn câu chuyện có thật nơi chiến trường miền Nam: Những người lính bằng xương bằng thịt, đánh trận thật, bị thương thật và chết thật!

Suốt một thời gian dài, giới truyền thông phương Tây đã nhắm mắt làm lơ, miêu tả QLVNCH như một lực lượng không chịu chiến đấu. Sự thật phũ phàng là những phóng viên ngoại quốc đó chưa bao giờ vác máy ảnh bám theo các toán Trinh sát hay Viễn thám vào tận sào huyệt địch ở Mật khu Ngọk Tô Ba, Căn cứ 42 hay Tân Cảnh. Họ chỉ ngồi trong phòng máy lạnh tại Sài Gòn, nhặt nhạnh những tin đồn, được kể lại, rồi thêu dệt nên những bài báo phiến diện.

Máu của những người lính Trinh sát Sư đoàn 22, sự hy sinh của Thiếu úy Sơn, Pháo thủ Nùng Va-Pẩu, và cái chết lẫm liệt của Chuẩn tướng Lê Đức Đạt tại Tân Cảnh chính là câu trả lời đanh thép nhất cho lịch sử: Người lính QLVNCH đã chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ lý tưởng Tự Do cho miền Nam Việt Nam!


Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, 31/7/2026

+++

==




KIỀU MỸ DUYÊN – SỐNG BÌNH THẢN VỚI CÂY KIỂNG




KIM LOAN (CGV) – Thơ Ước Ao – VĂN: CHỊ HÀNG XÓM CŨ & NGÀY XƯA NGUYỄN THỊ…

ƯỚC AO

Ước gì anh nắm lấy tay em
Một lần thôi em sẽ không quên
Chắc hẳn là bàn tay anh ấm?
Em sẽ run những ngón tay mềm

.

Một lần thôi, dù chỉ vài giây
Anh hãy hôn lên tóc em đây
Khi anh hờ hững không trở lại
Theo bước anh tóc em là mây

.

Ước gì anh cùng đi với em
Một đoạn đường thôi, trong hoàng hôn
Em sẽ bảo thời gian dừng lại
Để anh nhìn thấy mắt em buồn

.

Em sẽ vì anh, em làm thơ
Lòng em sẽ ướt lúc trời mưa
Lòng em sẽ nhạt theo màu nắng
Sẽ ngậm ngùi theo ánh trăng mờ

.

Ước gì anh đến tìm gặp em
Một hôm thế giới bỗng lặng im
Một hôm em thấy mình hạnh phúc
Nghe tim mình mơ chuyện nhân duyên

KIM LOAN 

==


CHỊ HÀNG XÓM CŨ
– KIM LOAN

Năm tôi học lớp 12, con nhỏ xinh nhất lớp đi lấy chồng, mời gần cả lớp đi dự. Lần đầu tiên trong đời được đi ăn cưới với tư cách đã trưởng thành (tuổi 18, chớ không phải đi …ăn theo bà con họ hàng chòm xóm). Tôi và nhỏ bạn thân bàn tính, phải ăn diện trang điểm cho thật đẹp, nhưng ở tuổi đó, vào thời đó, hai đứa chẳng có một bộ đồ “make-up” nào. Hơn nữa, mấy anh chị lớn trong nhà không đồng ý chuyện điểm phấn tô son ở tuổi học trò. Chúng tôi vẫn nhất quyết muốn được làm đẹp, bèn nhớ ra chị Hà trong xóm. Chị lớn hơn tôi 7-8 tuổi, thuộc thế hệ mấy ông anh tôi, nhưng chị là “thần tượng” của tôi vì chị thông minh, xinh đẹp với dáng người cao ráo, nước da trắng và nụ cười duyên dáng.

Cửa sau nhà tôi đối diện cửa sau nhà chị. Má tôi và má chị từng quen biết thân thiết, sau khi má tôi mất thì má chị hay qua nhà tôi, mỗi khi  có chuyện trọng đại như giỗ quảy, cưới hỏi, coi như thay mặt cho má tôi, nên tôi với chị coi như cũng là chỗ “người nhà”. Thế là chúng tôi đến nhờ chị bí mật trang điểm cho hai đứa, tụi tôi mặc quần áo sẵn sàng, ghé qua nhà chị, trang điểm xong là đi thẳng đến đám cưới.

Chị la oai oải:

– Thôi, thôi! Anh chị nhà em đã cấm, sao chị dám làm chớ, mặc dù chị không tiếc chuyện trang điểm cho tụi em.

Tụi tôi năn nỉ:

– Chị làm ơn giúp tụi em! Đây là lần đầu tiên tụi em được làm người lớn, đám cưới này có bạn bè và nhiều người khác bên đàng chú rể, tui em nhất định phải …đẹp!!!

– Nói thiệt, chị thấy tụi bay tuổi mới lớn, má đỏ môi hồng tự nhiên, mắt sáng da căng quá đáng yêu, cần gì trang điểm nữa! Mà thôi, chị sẽ đánh chút phấn thơm và thoa chút son, nha!

Chúng tôi đành chấp nhận, dù sao có vẫn còn hơn không. Nhà chị có người nhà bên Mỹ gửi quà về, nên chắc chắn đồ trang điểm của chị thuộc loại “xịn”. Nhưng sau khi xong xuôi, chúng tôi nhìn vào gương vẫn không hài lòng, không thấy mình…lộng lẫy thêm tí nào. Hai đứa rủ nhau về nhà nhỏ bạn, mượn cây son của chị dâu của nó, rồi trét lên môi đỏ chót, rồi kẻ cặp mắt đậm lè, rồi tự tin kêu xích lô đến tiệc cưới. Tưởng mọi chuyện êm xuôi, sau ngày đám cưới vài hôm, chị Hà gặp tôi, phàn nàn:

– Sao tụi em cãi lời chị, tô son kẻ mắt như bà đồng bóng, mất hết vẻ đẹp ngây thơ của tuổi học trò, bà chị của em mắng vốn chị kìa!!!

– Ủa, sao chị em biết chớ, trước khi về nhà đêm đó, tụi em đã xoá hết màu son màu mắt rồi mà?

– Làm sao chị biết được! Tụi bay làm mất uy tín của chị rồi!

Dĩ nhiên là tôi bị bà chị Cả và ông anh thứ tư (khó tính nhất nhà) mắng cho một trận nhớ đời. Sau lần đó, tôi đâu dám gặp chị vì biết chị còn giận, ai ngờ số phận đẩy đưa (chắc là mắc nợ nhau), vài năm sau đó, tôi và chị lại tái hợp trong một chuyến vượt biên.

Tờ mờ sáng hôm đó, hai chị em tỉnh dậy, (tối qua tôi đã qua nhà chị ngủ để sáng ra bến xe đi Miền Tây, vượt biên). Xuống dưới nhà, ba mẹ chị thắp nến bàn thờ Chúa, bốn người đọc 10 kinh, rồi mẹ chị gói hai gói xôi cho chúng tôi để vào giỏ hành lý. Chị hỏi tôi:

– Xuất phát cửa trước hay cửa sau đây?

– Cửa sau đi chị! Cửa trước sợ gặp mấy hàng xóm đi làm sớm, nhứt là chú Tư ba gác!

Hai đứa bèn đi cửa sau, vừa bước ra gặp bên hông Chùa, tiếng mõ dìu dặt nhịp nhàng của buổi công phu sớm làm lòng tôi xao xuyến:

– Chị Hà ơi, nghe tiếng chuông chùa, tiếng mõ thân quen, em bước đi …hổng đặng!

– Trời ơi! Nhà ngươi làm ơn bỏ cái tính cải lương sến sẩm, ưa mủi lòng đó được không? Cái miệng ăn mắm ăn muối nói tào lao, chưa ra bến xe đã chùn chân rồi!

– Úi, em xin lỗi chị! Nhưng lần sau tụi mình nên xuất phát cửa trước …

Chị đánh vào vai tôi thiệt mạnh:

– Lại nói bậy nữa rồi! Lần sau là sao? Bữa nay đi là đi luôn chớ!

– Dạ em xin chừa, từ giờ phút này hổng dám mở miệng nói gì nữa!!

– Mà lỡ rồi, chị nói luôn nà, đi cửa trước sẽ qua nhà thờ, lại có tiếng chuông kêu Lễ sớm, mày lại …xao xuyến, tốt nhứt là có cánh bay thẳng tới bến xe …

Hai chị em nhìn nhau cười mỉm chi. Vừa quẹo ra khỏi xóm Chùa ra đường cái, cả xóm vẫn ngủ im lìm trong bóng tối của trời nửa đêm về sáng, bỗng chị níu tôi lại:

– Ê, hình như có xe ba gác của chú Tư, mà còn có cả thím Tư ở trên xe nữa kìa, tính sao đây?

– Không xong rồi chị ơi! Thím Tư được xóm mình gọi là Thím “Tám” là chị đủ biết rồi đó! Vào đây núp đi chị!

Hai chị em tạt vào chiếc cổng của căn nhà bên đường, nép bên cột hàng rào. Tự dưng tôi rùng mình, nhìn lên cây dừa cao vút nơi góc sân căn nhà, run rẩy thì thầm:

– Chị Hà ơi, em sợ quá!

Chị cũng hoảng hốt:

– Vụ gì nữa đây?

Tôi chỉ cây dừa:

– Chị hổng nhớ gì sao!!

Tôi vừa dứt câu, chị cũng run lẩy bẩy. Căn nhà này, mới tuần trước, gia chủ có đám cưới, anh con trai trèo lên cây dừa hái lá để làm rạp cưới cho em gái, nhằm ngày trời mưa mới tạnh, dây điện giăng ngang cây dừa bị chập điên, anh ấy bị điện giựt nằm vắt vẻo đen thui trên ngọn dừa, cả xóm không ai dám nhìn, vậy mà khuya nay chúng tôi đang đứng dưới cây dừa, hỏi sao không toát mồ hôi hột ?? Chị Hà kéo tôi đi như chạy:

– Bây giờ có gặp mười thím “Tám” cũng chịu luôn em ơi!

Hai chị em vừa chạy, tuy sợ ma nhưng lại cười suốt cả đoạn đường cho đến lúc bắt được xe ra Xa Cảng thẳng tiến Cần Thơ. Chúng tôi ở Cần Thơ và Long Xuyên mỗi nơi vài ngày rồi đón xe lôi đến Sóc Trăng.

Đêm chờ ghe nhỏ tại ven sông Sóc Trăng, hai chị em thao thức, không ngủ được. Tôi hỏi:

– Tụi mình đi bất ngờ, chắc chị chưa có dịp chia tay chàng bác sĩ của chị ha?

– Ừa, chiều nhận tin là tối gói hành lý liền, đâu kịp gặp ai! Chị có viết mấy lời, khi nào ảnh tới nhà thì má chị sẽ đưa.

– Chị nói gì ở trỏng?

– Chị ghi gọn gàng lắm: Anh Giao, em đi vượt biên, anh đừng chờ đợi !

– Trời, sao mà phũ phàng còn hơn Lan cắt dây chuông không cho Điệp vào thăm vậy trời!!

– Thì mình đi rồi, phải cho người ta tự do chớ,! Còn em, có …nhắn gì cho ai không?!

– Dạ, em cũng chẳng kịp suy nghĩ, không biết nên nhắn… cho ai!!

Mà miệng tôi “ăn mắm ăn muối”thiệt, nói xui nói xẻo khi vừa bắt đầu, nên qua ngày hôm sau chúng tôi lại khăn gói trở về thành phố. Chàng Bác sĩ biết nỗi “đam mê” của chị nên hơn một năm sau, hai anh chị lên đường qua Cambodia rồi lên tàu vượt biển qua Thailand. Một năm sau tôi cũng đi theo, nhưng đến trại thì anh chị đã đi định cư, mãi hơn 20 năm sau hai chị em mới được tái ngộ tại Nam California.

Hôm nay tôi viết lại kỷ niệm này, mong chị đọc được, coi như tôi …tạ tội cho lần lỡ dại “điệu đà tuổi 18” và cái miệng “mắm muối” thuở nào!

KIM LOAN

==

NGÀY XƯA NGUYỄN THỊ…

Sài Gòn bị đổi chủ khi tôi mới chín tuổi, chưa kịp biết mộng mơ với những bản nhạc tình trước năm 1975. May mắn thay, vài năm sau đó, khi phong trào “đốt sách trả thù” của chính quyền Cộng Sản lắng xuống, mấy anh chị lớn trong nhà còn giữ lại được một số tờ nhạc, băng nhạc cũ, đem ra nghe lén mỗi đêm khuya vắng. Các tờ nhạc đa số là nhạc Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, nghe mấy ông anh ôm đàn và hát, tôi thích lắm. Băng nhạc cassette thì chỉ có một hai băng của ca sĩ Thái Thanh, nghe đi nghe lại, nào Ngàn Thu Áo Tím, Nghìn Trùng Xa Cách, Kỷ Vật Cho Em… nhưng chả hiểu sao đọng lại trong tôi nhiều nhất, là Ngày Xưa Hoàng Thị, có lẽ vì câu chuyện tình lãng mạn đẹp xinh của tuổi học trò làm tôi xao xuyến. Thuở ấy, không có Google hay báo chí để tra hỏi, nên tôi nào rành rẽ về bài thơ hay bài nhạc, chỉ biết yêu vô cùng lời nhạc, lời thơ, thế thôi.

Thế là tôi yêu tiếng hát Thái Thanh dù sau đó gia đình tôi có thêm các tiếng ca khác mà anh chị tôi thu thập từ bạn bè hoặc từ các tiệm sang băng lậu ngoài chợ trời Tạ Thu Thâu: Thanh Thuý, Nhật Trường, Thanh Lan, Phương Dung, Sĩ Phú, Duy Quang, Elvis Phương… với nhiều bài hát mới.

Riêng bài Ngày Xưa Hoàng Thị vẫn sống lâu nhất trong trái tim tôi, vì một buổi trưa đầu hè năm lớp 12, tôi bước vào lớp, thấy trong hộc bàn một tờ giấy màu xanh lơ, có ép một cánh bướm làm từ hoa phượng và mấy câu thơ:Em tan trường về
Cuối đường mây đó
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng…

Chẳng có tên người gửi, cũng chẳng ghi tên người nhận. Lập tức, đám “thám tử” con gái lớp tôi chạy đi “điều tra lý lịch” tác giả lá thư. Được biết, người ngồi cùng chỗ đó của tôi (lớp buổi sáng) là chàng tuổi trẻ tên là Hồng Ân, nhỏ hơn tôi một tuổi (học lớp 11), trắng trẻo, đẹp trai, con nhà giàu ngay ngã tư chợ Xóm Mới. Nhưng các “thám tử” không thể tìm ra, là lá thư ấy chàng trẻ tuổi cố ý gửi cho tôi, hay tính gửi cho… con bé nào khác mà để quên trong hộc bàn? Tôi chả quan tâm chuyện ấy, thư để trong hộc bàn của tôi, rất ngay ngắn gọn gàng, nghĩa là gửi cho tôi. (Ai cấm em trai tương tư… bà chị học trên lớp hở mấy nàng “thám tử” rách việc kia?) Cánh bướm đẹp quá, tờ thư xinh quá, và nhất là mấy câu thơ lần đầu tiên tôi được đọc vì trước đó chỉ nghe bài hát. Dù chỉ có mấy câu, tôi cũng đoán cả bài Thơ sẽ còn hay hơn nhiều. Tôi bỏ lá thư trong cặp, mang về nhà, đọc đi đọc lại nhiều lần, và mong “người ta” gửi tiếp cho trọn… bài thơ!

Tôi cũng chẳng ngờ bài hát đó lại có duyên, theo tôi đến tận con đường vượt biển, qua trại tỵ nạn Thailand. Hôm ấy, tôi đang say giấc nồng trưa hè thiu thiu thì bỗng nghe bên nhà hàng xóm mở cassette (xài bằng bình ắc-quy) bài Ngày Xưa Hoàng Thị qua giọng ca Thái Thanh. Tôi bỗng tỉnh ngủ, như chợt gặp lại “người xưa”, cầm theo giấy bút chạy qua để thưởng thức điệu nhạc quen thuộc và chép lời. Chị chủ nhà, cũng là người chung chuyến tàu với tôi, rất vui vẻ quay đi quay lại bài hát gần chục lần (sắp nhão cả tape) để tôi kịp ghi lại đầy đủ bài hát. Từ đó tôi cứ lẩm nhẩm bài này với bạn bè cùng lô nhà và cả khi chúng tôi tụ tập nhóm “đờn ca tài tử”.

Nhóm chúng tôi, những thanh niên thiếu nữ, trong đó Dzũng Lé là tay guitar cừ khôi, trước khi đi vượt biên, từng chơi cho các nhóm nhạc “Ca Khúc Chính Trị” tại Sài Gòn. Còn có Trung, chàng thư sinh Nhạc Viện, đi vượt biên ôm theo cây đàn Violin, khi tàu bị bão tố trên biển đông, hành lý phải quăng ra biển cho nhẹ con tàu, Trung vẫn cương quyết ôm cây đàn, che chở bảo vệ nó, mang nó vào trại tị nạn. Những buổi tối gió lạnh nhớ nhà, chúng tôi đề nghị Trung kéo đàn những bài tango nổi tiếng, như La Comparsita (mà nhạc sỹ Phạm Duy đặt lời Việt là Vũ Nữ Thân Gầy), La Paloma (Phạm Duy viết thành Cánh Buồm Xa Xưa), hay điệu Valse với nhạc phẩm trứ danh Blue Danube (Phạm Duy viết thành Dòng Sông Xanh). Giữa đêm đông se lạnh tha phương, tiếng đàn violin réo rắt, tha thiết, bay bổng đến lặng người. Khán giả tị nạn kéo đến càng đông, Trung nhắm mắt say sưa kéo đàn, chẳng để ý biết bao đôi mắt ngắm nhìn thán phục, cảm mến. Mến chàng nghệ sĩ ít nói, có duyên, hay mến tiếng đàn mênh mang vời vợi nơi trại tạm dung? Rồi tiếng đàn chuyển qua những nhạc phẩm trữ tình khác, nào Dấu Tình Sầu, nào Niệm Khúc Cuối, Đêm Nay Ai Đưa Em Về… khiến mọi người rưng rưng thổn thức.

Tôi không có giọng hát hay nhưng thuộc nhóm “hay hát”, nên sau phần độc tấu violin và phần solo của những giọng ca quyến rũ người nghe, cuối cùng cũng đến lượt tôi được… cầm giấy ca bài “tủ” của mình, rất hào hứng, say sưa: “Em tan trường về …”

Cứ ngỡ ca chơi trong nhóm cho vui, ai ngờ Dzũng Lé đã cho tôi một bất ngờ nhớ đời. Mùa Giáng Sinh 1992, trường Việt Ngữ và nhóm nhân viên ngoại quốc YWAM (Youth With A Mission) tổ chức buổi tiệc tiễn đưa cô hiệu trưởng Sue về Australia. Tôi là cựu giáo viên nên được mời và được yêu cầu mặc áo dài với các cô khác vì cô Sue cũng mặc áo dài. Tôi hớn hở đến dự, thảnh thơi ngồi ăn uống, xem văn nghệ có Dzũng Lé chơi đàn guitar trong ban nhạc. Đến giữa chương trình, Dũng Lé ghé tai người MC thì thầm gì đó, rồi anh MC ra giới thiệu:

– Kính thưa quý vị, sau đây là một giọng ca… bình thường, nhưng tâm hồn văn nghệ thì trên cả bình thường! Cô chưa bao giờ vắng mặt trong các nhóm văn nghệ bỏ túi trong các khu nhà trong trại. Xin mọi người cho một tràng pháo tay cho cô cựu nhân viên bưu điện và hiện nay là nhân viên Cao Uỷ Định Cư!

Tôi chưa kịp phản ứng gì, bà con vỗ tay rầm rộ và đẩy tôi lên sân khấu. Tôi nhăn mặt, liếc Dzũng Lé:

– Ca bài gì bây giờ?

– Thì cái bài Ngày Xưa Hoàng Thị bà hay ca đó.

– Nhưng tui không thuộc.

– Nhớ tới đâu ca tới đó, dễ mà.

– Nhưng chưa tập dợt với ban nhạc gì ráo.

– Bà khỏi lo, cứ tập trung vào chuyên môn… ca hát, tụi tui sẽ đuổi theo bà!

Tôi đành bấm bụng làm ca sĩ. Ban nhạc đánh bài Ngày Xưa Hoàng Thị theo điệu valse hơi nhanh, nhưng tôi bị ảnh hưởng cách hát luyến láy, “điệu chảy nước” của cô Thái Thanh nên mở đầu câu hát thật dẻo, thật dịu dàng đong đưa, rồi lên cao vút, thành ra ban nhạc bị trật nhịp, nhạc chơi đường nhạc, tôi hát đường tôi, họ ra sức rượt theo, vã mồ hôi hột. Đã vậy, lời bài hát cứ lặp đi lặp lại: “Em tan trường về… Anh theo Ngọ về… Em tan trường về… Mưa bay mờ mờ…” Tôi run quá, không nhớ lời kết, cứ đứng đó ca tới ca lui: “Em tan… Anh theo… Em tan… Anh theo…” Khán giả ở dưới cũng nhận ra điều ấy, càng vỗ tay lớn hơn theo nhịp để cổ vũ tôi đang mặt mũi xanh lè vì bối rối. Dù sao, Dzũng Lé cũng là tay guitar chuyên nghiệp, đã nhanh miệng làm “đạo diễn” dẫn dắt ban nhạc xuống “tông”, và nhắc tôi từ từ bình tĩnh, có Dzũng hát kèm phía sau, dìu tôi vào câu “coda”, kết thúc rất ngoạn mục trong tiếng reo hò của cả hội trường.

Sáng hôm sau tôi ra bưu điện dò thư, mấy anh bưu điện nhìn tôi cười mỉm chi:

– Chào em… Ngọ, chiều qua hát bài hát không có… lối ra luôn hen!

Từ đó, họ gọi tôi là “bé Ngọ”, và tôi cũng thích tên “Nguyễn Thị… Ngọ” vì tôi “đường đường chính chính” sinh năm Bính Ngọ, chớ không có ý nhận vơ mình là “nàng thơ” trong bài hát, bởi tôi biết, khi thi sỹ Phạm Thiên Thư “chân anh nặng nề, lòng anh nức nở” thì tôi chưa được sinh ra hoặc còn đang bận rộn… tắm mưa ngoài đường!

Và cũng nhờ “tiếng tăm” của buổi làm “ca sỹ” lan xa trong trại, mà chú nhà báo Hồ Ông (trước 1975 là cây viết châm biếm của tờ Con Ong, hiện đang định cư bên Úc) đem đến cho tôi tờ tạp chí Làng Văn viết về Phạm Thiên Thư có cả nguyên vẹn bài thơ “Ngày Xưa Hoàng Thị”. Tôi mừng rỡ sung sướng chép lại trên cuốn sổ Thơ của mình, và còn giữ đến nay trong tủ sách gia đình.

Kỷ niệm về Ngày Xưa Hoàng Thị và Thái Thanh thì còn nhiều lắm. Đến giờ giới nghiêm, cả trại im lìm trong bóng đêm, tôi và chị bạn chui vào mùng mở máy cassette nho nhỏ chạy bằng “pin”, nghe Thái Thanh phải nghe đêm khuya mới thấm. Có lần chú Tám kế bên vách vọng sang thì thào:

– Cô Loan ơi, cô làm ơn mở volume lên chút xíu cho tôi nghe rõ giọng Thái Thanh, được không cô?

Tôi sung sướng:

– Ủa, chú cũng mê tiếng hát Thái Thanh sao? Hổm rày con đâu biết!

– Chả giấu gì mấy cô, tui chỉ mê nhạc sến nhạc mùi của Tuấn Vũ, Chế Linh. Nhưng giọng cô Thái Thanh làm tôi… dễ ngủ, tôi vốn mắc chứng mất ngủ!

Dễ giận không nà! Nhưng mà thôi, mục đích nào cũng tốt hết á. Chúng tôi bên này thả hồn theo từng điệu nhạc lời ca cao vút điệu đà của Thái Thanh, còn bên kia chú Tám… ngủ ngon!

Thực ra, suốt một thời gian rất dài, tôi luôn ngại ngùng thú nhận mình là “fan” của Thái Thanh, Phạm Duy, Phạm Thiên Thư vì nhiều lần bị bạn bè chọc ghẹo:

– Úi chào, Thái Thanh là tiếng ca dành cho người già, thích loại nhạc khó hiểu, cao vời! Sao không nghe bolero cho dễ thở?

Mới đây tôi có nói với tụi bạn:

– Giờ tao đã là lứa tuổi U60 (trên 50), có thể công khai tuyên bố là “fan” của Thái Thanh là đủ tiêu chuẩn rồi nha, tụi bay chớ mà ý kiến ý cò!

Bất cứ lúc nào, hễ nghe ai nhắc Thái Thanh và Ngày Xưa Hoàng Thị thì trong tôi lại xốn xang những đoạn đời dấu yêu của “Ngày Xưa Nguyễn Thị… Tôi”, ùa về như thác đổ, lúc vui lúc buồn, có khi làm tôi thao thức mất ngủ cả đêm vì bồi hồi, nhớ nhung.

Ai mang bụi đỏ đi rồi?!

Kim Loan




SỎI NGỌC – NGỌC HUYỀN – Ca Khúc Sao Đành Xa Em