PHƯƠNG HOA: Tiễn Đưa Cựu Thiếu Tá Lê Phi Ô – Một Đời Vì Nước Vì Dân, Trọn Tình Cùng Đồng Đội
Tiễn Đưa Cựu Thiếu Tá Lê Phi Ô – Một Đời Vì Nước Vì Dân, Trọn Tình Cùng Đồng Đội
Phương Hoa
Trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động tại Oak Hill Funeral Home & Memorial Park, San Jose, California, hôm nay, ngày 12 tháng 8 năm 2026, đông đảo cựu quân nhân (Hình 1) Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), thân hữu và gia đình đã trang trọng tổ chức lễ tang tiễn đưa Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô (Pháp danh Thiên Lạc) về nơi an nghỉ cuối cùng.
Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô, sinh năm 1941, xuất thân Khóa 15 Thủ Đức QLVNCH. Sự ra đi của ông tuy rằng thọ đã cao ở tuổi 85, nhưng vẫn là một mất mát to lớn đối với gia đình và cộng đồng người Việt tị nạn tại hải ngoại và các chiến hữu đồng đội ở vùng San Jose, Bắc Cali và khắp các vùng có người Việt tị nạn.
Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô đã từ tạ “Khúc Quân Hành Cuối Cùng” cùng bạn bè, đồng hương, và đồng đội. Khi tôi, Minh Thúy, chị Mỹ Thanh bước vô thì gặp anh Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) Lê Văn Hải, anh cũng là Chủ Tịch của rất nhiều Hội Cựu Quân Nhân, Truyền Thông Báo Chí…đang chỉnh sửa vòng hoa thật lớn, thật đẹp, mà anh đã đại diện đặt đem đến để tiễn đưa vị anh hùng.
Khi giờ tang lễ bắt đầu, thì sảnh đường Sunshine Chapel cũng đã tràn ngập sắc áo đại lễ và quân phục của các cựu quân nhân QLVNCH. Hình ảnh những người lính năm xưa, dù mái đầu đã bạc, vẫn hiên ngang đứng thành hàng ngũ chỉnh tề, chào tay, nghiêm trang túc trực bên linh cữu đồng đội, tạo nên một cảnh tượng vô cùng xúc động (Hình 2).
Đó chính là tình đồng đội, nghĩa huynh đệ chi binh, dù đã hơn năm chục năm qua lưu lạc xứ người, mà vẫn không phai mờ theo năm tháng.
Bàn thờ vong được bài trí trang nghiêm với di ảnh Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô trong quân phục oai hùng, xung quanh là hương hoa trà quả và những mâm cỗ chay tịnh trông trang nghiêm thành kính vô cùng (Hình 3 – dưới). Phía sau là chiếc quan tài mở nắp, nơi vị niên trưởng kính yêu đang nằm chở mọi người đến tạ từ, chào vĩnh biệt, trước khi đưa anh đi yên giấc ngàn thu.
Buổi lễ diễn ra trong không khí nghẹn ngào khi đại diện các hội đoàn và chiến hữu lần lượt bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến người đồng đội kính yêu. Những lời vinh danh chân thành, những câu chuyện về lòng quả cảm nơi chiến trường, sự tận tụy trong đời sống dân sự nơi hải ngoại, đặc biệt là tinh thần hăng say phụng sự cộng đồng của Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô đã được tái hiện qua hồi ức của nhiều cựu sĩ quan QLVNCH (hình 4 – dưới)
Mọi người nhớ đến ông như một người anh nghĩa tình, luôn nhiệt huyết san sẻ với đồng hương cho đến tận những ngày cuối đời trên giường bệnh. Tinh thần “Vị quốc vong thân” trong máu thịt, và nếp sống chan hòa, ái hữu của ông mãi mãi để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tất cả những ai từng có dịp hội ngộ, tiếp xúc.
Anh Lê Văn Hải, Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, đã thay mặt Thi Văn Đàn và các Hội đoàn cựu quân nhân khác, lên dâng hương, và đọc lời chia buồn sâu sắc tới chị quả phụ Nguyễn Phan Ngọc An, chị là bạn trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc của nhóm chúng tôi, cùng toàn thể tang quyến (Hình 5 – trên). Sự hiện diện của anh Lê Văn Hải cùng bài nói chuyện thật xúc động ngỏ hầu sẻ chia phần nào nỗi đau mất mát to lớn của gia đình.
Phương Hoa, Minh Thúy, chị Mỹ Thanh, đã cùng anh Hải lên trước bàn vong. thành kính thắp nén hương thơm, nguyện chúc cho hương linh Cố Thiếu Tá sớm về miền Cực Lạc (Hình 6 – trên).
Giây phút xúc động và thiêng liêng nhất của buổi lễ là khi đại diện Hội Cựu Quân Nhân trang trọng thực hiện nghi thức trao tặng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, biểu tượng linh thiêng của Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hòa, cho chị Nguyễn Phan Ngọc An gia đình cựu Cố Thiếu Tá. Lá cờ được xếp gọn gàng, trân trọng trao vào tay chị quả phụ Nguyễn Phan Ngọc An, như một lời khẳng định về những đóng góp to lớn và sự hy sinh trọn đời của Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô cho lý tưởng tự do, dân chủ và sự toàn vẹn của quê hương. Nghi thức này để vinh danh người đã khuất và cũng để tri ân sâu sắc đối với gia đình đã luôn ủng hộ ông.
Dù có việc phải rời lễ tang Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô sớm hơn một chút, nhưng những hình ảnh về một người lính anh hùng, một người con ưu tú của Tổ Quốc, và một người bạn, người anh đáng kính của cộng đồng sẽ còn mãi trong trái tim của gia đình, đồng đội, và đồng hương.
Xin kính thắp thêm một nén tâm hương để tiễn đưa niên trưởng Lê Phi Ô về Miền Cực Lạc.
Kính mời quý vị nghe ca khúc “TIỄN TÌNH VỀ MIÊN VIỄN” thơ Nguyễn Phan Ngọc An – Thực hiện: Phương Hoa – Hòa âm và Trình bày: Suno AI:
Phương Hoa – Văn Thơ Lạc Việt & Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ
*Dưới đây là những lời hồi âm và bài thơ chị Nguyễn Phan Ngọc An mới làm xong trong đêm về, sau tang lễ, và sau khi chị đọc bài tường thuật. Chị nhờ đưa lên để gửi cho mọi người thay lời cảm ơn:
*Vô cùng xúc động khi đọc bài phóng sự của Phương Hoa, một nhà văn lỗi lạc đầy chân tình, cảm ơn bạn thật nhiều 👍💖🌺
Gia đình Ngọc An xin cảm tạ quý vị đã đến tiễn đưa, quý vị đã gửi những vòng hoa thương tiếc và quý vị đã dành cho anh bao la tình cảm trân quý – từ xa xôi vẫn đến với anh giờ ly biệt cuối cùng… xin linh hồn chồng tôi, anh Lê Phi Ô linh hiển phù hộ cho tất cả những trái tim yêu thương anh, anh nhé – trưa mai anh vĩnh viễn đi xa, trở về cùng cát bụi, sẽ mang theo anh nụ cười mãn nguyện của một kiếp người…
BÀI THƠ TRONG ĐÊM
Tình yêu đó anh mang về cõi khác
Nén hương buồn bia đá khóc rưng rưng
Ngày yêu nhau ôi tha thiết vô cùng
Giờ tất cả trả về năm tháng cũ
.
Anh nằm đây, nghìn đời yên giấc ngủ
Với tình mình, một thuở ấm vòng tay
Kỷ niệm còn chăng, nỗi nhớ giăng đầy
Xin quên lãng một thời yêu dấu đó !
.
Anh ra đi để làm người thiên cổ
Thiên thu buồn em khóc để ai nghe
Bóng cây xưa, chim tình ái không về
Hương khói toả ngát mùi thơm vĩnh biệt !!!
.
Anh vô tình có bao giờ hay biết
Em cúi đầu tưởng niệm bóng hình xưa
Lời thơ yêu như kinh cầu dâng tặng
Vòng hoa buồn kết lại những nhung tơ
.
Chân dung xưa em xin mãi phụng thờ
Thôi anh nhé ! Xin muôn đời…yên nghỉ .
nguyễn phan ngọc an
đêm buồn San Jose
HOÀNG MAI NHẤT – CANH ME VƯỢT BIỂN (Lần Thứ Nhất)
CANH ME VƯỢT BIỂN (Lần Thứ Nhất)
Đặt ly cà phê xuống bàn trước mặt tôi, Thư ngồi xuống và nói nhỏ : Anh chịu khó mỗi tối ra đây uống cà phê,có như vậy mới biết được tình hình mà em cũng dễ thông tin cho anh được.Anh nhớ kỷ, nếu tối nào thấy quán vắng khách là đêm đó gió chuyển, là đêm đó có vượt biển; còn không thì thanh niên sẽ có mặt ngồi đầy ở quán.
Trước khi đứng dậy đi về quầy, Thư bóp nhẹ tay tôi và nói: anh yên tâm, em không tính tiền đâu, anh uống gì cũng được..không chỉ cứ cà phê đen hoài như vậy, không tốt cho sức khỏe đâu!
Thật buồn mà cũng thật cảm động với ân tình đặc biệt này của Thư : một người con gái chỉ sống nhờ vào lượng khách đập đá trong núi Dinh và số thanh niên trong xóm đạo Long Hương, bên đường SaiGon đi Bà Rịa, Vũng Tàu; dành cho mình! Biết nói gì đây? Ra đây uống hoài, lấy gì để trả mỗi đêm khi mà tiền đập đá chỉ đủ cơm ăn hai bữa..rồi còn tiền chổ ở dù chỉ là một tấm ván mỏng ở một góc nhà tranh cho bốn năm thằng cơ nhở như mình! Và còn nhiều…nhiều thứ linh tinh khác nữa.
Mà nếu không ra quán thì làm sao biết được họ có tổ chức vượt biên đêm đó không? Để mà chạy ra bãi dành giựt với đám “ canh me ” khác (chỉ vì không có tiền đóng để có một chổ đàng hoàng trên ghe trong chuyến vượt biển; nên đành phải làm như vậy…) Ai hiểu cho mình đây! Tính làm sao đây?!
Đi tù ngoài Bắc CS: phải đập đá như tù khổ sai ( Đội 15 Đập Đá Lò Vôi, Trại 6 Nghệ Tỉnh ); và khi chúng thả về (thoát “nhà tù nhỏ” để vào “nhà tù lớn hơn” là cả Nước) cũng lại Đập Đá, nào có khác gì đâu…mĩa mai cay đắng thật.
“ Sai Gon thê thảm trưa ngày ấy Nước đã mất rồi tháng Tư ơi! Cộng sản tràn vào người trốn chạy Nháo nhào hỗn loạn, biết về đâu… Dân, Quân, Tướng, Tá chung một rọ Một chữ “ Tù “ cả nước chia nhau “ Hoàng Mai Nhất
Tính tới tính lui, không còn cách nào khác được; tôi đành chấp nhận chỉ ăn cơm với nước muối hay nước tương (đôi khi nhịn không ra quán để có thể mua một ít tép mỡ ăn cho có sức…) Và tôi lại ra quán ngồi, không phải thường xuyên nhưng lâu lâu cũng có mặt để thăm dò tình hình. “Ce qui doit arriver, arrivera”(Việc gì đến sẽ đến), đúng như câu ngạn ngữ Pháp ngày xưa đi học còn nhớ; mà mình không bao giờ tin là có lúc nó lại vận vào mình như thế này:
Tối đó như thuờng lệ, tôi lại ra quán uống cà phê; quán vắng lặng hẳn và Thư thì cứ đi ra đi vào như có cái gì đó phải lo lắng. Thấy tôi, Thư như mùng rở chạy ra cửa và nói nhanh trong sự hồi hộp, giọng đứt quảng: tối nay họ đánh, anh chị của em đi trong chuyến này; em không dám chỉ anh địa điểm vì nếu có gì họ sẽ thanh toán anh chị em ngoài biển, anh cứ đi ra ngoài đó…và rồi Thư đóng cửa quán.Sau này tôi mới hiểu ra, ai đi trong chuyến vượt biển có đóng tiền mà để lộ tin tức ra ngoài thì sẽ bị tổ chức thanh toán vì cho rằng mình bán thôngtin để lấy tiền qua mặt họ.
Tôi không biết làm sao, vừa mừng lại vừa lo với tin tức đầy bất ngờ này, mà ngoài đó là ngoài nào? Bải đổ gom khách ở đâu?? Bao nhiêu câu hỏi trong đầu không có lởi giải đáp. Tôi bèn rời quán và sau khi cố suy nghỉ để giải câu hỏi này mà khôg có đáp án, tôi quyết định đi xuống đám ruộng cỏ năng như một bải sình…đi được một đoạn, tôi dừng lại và suy nghỉ: cứ đi như vầy mà không biết điểm đến ở đâu thì làm sao tới dược, lạng quạng đi lòng vòng rủi bị tó thì làm sao?! Thế là tôi quay trở lại, ngồi xuống bên lề đường và suy nghỉ: nếu chúng nó đánh thì phải băng qua lộ ở chổ này, mình ngồi ở đây nếu chúng xuất hiện thì mình lủi xuống đám ruộng cỏ năng nằm chờ; đợi đám vượt biên đi dứt hết thì mình lẻn đi theo cho chắc ăn.
Ngước nhìn về phía Xí Nghiệp Khai Thác Đá núi Dinh chỉ thấy một màu tối đen, nhưng về bên tay phải của xí nghiệp vẫn in hẳn lên nền trời là ngon núi Dinh có hình một mặt người có trán, lông mày, mắt, sóng mũi, cằm và miệng đang há ra; bên trong miệng có một nhúm lá trông giống như là đang sắp ăn vậy. Điều đặc biệt là mặt người này đang nhìn về hướng Tây, hướng mặt trời lặn…Tất cả là hình ảnh được ghi lại trong đầu tôi trong khoảnh khắc để rồi sau đó thục tế kéo tôi quay trở lại với ý định rất đời thường là tìm cho mình một cách thoát ra nhữg trói buộc trong chế độ này… Nhưng điều đầu tiên để an toàn là phải tìm một chổ núp kín đáo không ai thấy, để dẫu không đi được cũng không bị phát hiện và bị bắt. Quay nhìn khắp chung quanh chổ tôi đang ngồi thì thấy ở đàng kia không xa chổ tôi đang ngồi có một gốc cây hơi lớn mà lại có đám cỏ rậm hơn đầu người mọc ở đó,có thể ẩn núp được; tôi bèn đi lại đó để ẩn mình.
Ẩn núp thật lâu khôg thấy có động tỉnh gì, chỉ có ánh đèn của vài chiếc xe hơi hay gắn máy chạy vụt qua, rồi trả lại khôg gian im ắng vắng lặng; tôi bèn bước ra khỏi chổ núp và đi trở lại nơi con đường mà bất cứ ai muốn đi ra mép nước giáp với biền đều phải đi qua. Và tôi cúi xuống hôn lên mặt đất như là lời từ giả với câu khấn thầm trong đầu là cầu ơn trên phù hộ cho tôi đi thoát được đêm nay để có lối thoát cho mình mà cũng cứu nguy cho ba má và các em đang khốn khổ.
Khi ngước đầu lên,tôi giựt mình vì câu hỏi gằn giọng mạnh và dứt khoát của hai tên dân quân Xã Đội Long Hương với hai khẩu súng chỉa thẳng vào tôi:
__ Anh làm gì ở đây giờ này?
Tuy hơi bất ngờ nhưng với kinh nghiệm của một đời chinh chiến đã dạy cho tôi là lúc nào cũng phải bình tỉnh dù trong lúc nguy hiểm nhất, tôi trả lời:
__ Tôi đợi người yêu của tôi!
__ Không có đợi gì hêt! Chúng tôi yêu cầu anh đi về ngay…giờ này đã khuay rồi không phải là giờ hẹn hò!!
Bực mình với thái độ hống hách của chúng, và với câu nói trên đã cho tôi biết chắc rằng…đêm nay chúng sẽ đánh (khách vượt biển sẽ được chúng dẫn đi ngay chổ này). Tôi phản ứng ngay:
__ Ủa! Tại sao tôi phải đi về khi chưa gặp được bạn gái của tôi! Không ai có quyền cấm đoán tôi trong chuyện này.
Thấy tôi phản ứng cứng rắn, hai thằng con nít cầm súng bực mình nhưng không biết làm sao bèn xuống giọng:
__ Anh nên đi về đi, bữa khác gặp!
__ Hừ! Các anh nói giỡn chơi không bằng! Tôi đi về, người yêu tôi ra không thấy sẽ giận, tôi sẽ ăn nói làm sao?
Thấy không bắt tôi đi về được, chúng dổi giọng:
__ Mà anh là ai, ở đâu..mà sao tôi không thấy anh bao giờ!
__ Tôi là công nhân ở XN Đá Núi Dinh. Rồi sao?
__ À! Thì ra anh mới vô làm công nhân…hèn chi tôi thấy mặt anh lạ hoắc. Thôi thế này đi…anh nghe lời tôi về đi, mai gặp xin lỗi có sao đâu!
Tôi vẫn cương quyết khôg đi. Hai tên du kích Xã bực mình mà không biết làm sao đành hậm hực bỏ đi. Ở đây tôi xin nói rõ điểm này là: anh em công nhân trong XN Đá Núi Dinh và toán bảo vệ XN thỉnh thoảng ra chợ trong Xả uống cà phê, đôi khi có xích mích lời qua tiếng lại đụng chạm với đám dân quân du kích Xả luôn hống hách nên hai bên không ưa nhau; mà dân quân du kích Xả không dám làm gì vì XN Đá Núi Dinh là XN làm ra tiền cho Tỉnh Ủy Đồng Nai (BiênHòa), cho nên khi thấy tôi nói tôi là công nhân trong XN Đá ND là chúng khó chịu mà không dám làm gì.
Đám DK Xã biết không làm gì được tôi nên chúng đành băng qua đường đi dọc theo mép đường phía bên kia và dừng lại nói chuyện nhỏ to gì đó với hai người con gái vừa mới xuất hiện mà mặt thì cứ hất về phía tôi.Và rồi hai cô gái giả bộ đi dạo mát đêm khuya băg qua đường đi về phía tôi, vừa đi vừa nói chuyện. Tôi đoán chắc chúng cho hai cô bé này giả bộ đi qua để nhận mặt tôi có phải là công nhân của XN Đá hay không hay là…điều mà chúng sợ nhất là người của công an TP HCM hay từ Hà Nội vào. Sau đó hai cô gái băng qua đường đi về phía hai tên du kích và rồi kéo nhau đi mất.
Kinh nghiệm một đời lăn lộn cho tôi thấy điều nguy hiểm có thể xảy ra cho tôi vì chúng có thể kéo đôg ra với súng ống để bắt tôi đem về Xả nhốt,vì tôi là chướng ngại cho chúng đêm nay. Thế là tôi đành phóng chạy về hướng Xí Nghiệp Đá. Nhưng không kịp nữa, đám công an du kích Xã đang hướng dẫn những con gà là khách vượt biển, có đóng tiền mua bảimà chúng đã ém núp sẵn trong nhà dân từ trước; giờ đang được chúng dẫn đi ra bải tập kết lên ghe.
Không về XN kịp được,tôi bèn chạy thẳng đến quán của Thư và trèo vội lên cây vú sữa trước sân quán, núp trong nhánh lá, bám chặt trên đó không dám nhúc nhích kể cả thở mạnh.Lúc này ngoài đường tiếng người đi nói chuyện ồn ào, réo gọi nhau và cười đùa như đi chợ.Dể hiểu thôi, vì đám vượt biển đã chung tiền mua công an hết rồi (không phải chỉ công an Xả mà còn mua cả công an tỉnh Đồng Nai tức Biên Hòa củ mà sau này công an trực thuộc Bộ Nội Vụ Trung Ương ngoài Hà Nội, đã vô bắt Đại Tá Mười Vân, Giám Đốc Công An Tỉnh Đồng Nai với tang vật là mấy thùng phuy vàng trong nhà).
Thư xô cửa rào chạy vào và liệng đại xe đạp xuống sân rồi vội vàng tụt quần xuống để tè. Tôi nghe rõ tiếng nước thoát ra và sợ run người vì tiếng con chó nhỏ cứ vừa sủa vừa ngước lên ngọn cây tôi đang nấp như muốn báo cho Thư biết rằng có người ở trên đó. Có lẽ vì gấp rút nên Thư khôg để ý đến dấu hiệu bất thườn này nên vừa kéo quần lên vừa lấy tay đuổi con chó cứ lẩn quẩn dưới chân và chạy vội vào nhà nói lớn lên cho ba má Thư biết là ghe đã đi rồi, rồi vội vàng chạy trở ra lấy xe đạp phóng đi với câu nói với lại: con ra đó xem sao cho yên tâm.!
Tiếng đóng cửa quán và tiếng chó không còn nữa, tôi bèn trèo xuống và chạy thẳng một mạch về chổ trú của mình, mà lòng thầm cảm tạ ơn trên đã phù hộ cho mình thoát cơn hiểm nghèo; bởi vì chỉ cần Thư ngước nhìn lên trên cây theo hướg sủa của con chó thì Thư sẽ giựt mình mà la toáng lên là có trộm; thế là công an, du kích sẽ túa vào bắt tôi ngay và chuyện gì xảy ra thì chắc ai cũng đều đoán được phần tệ hại nhất dành cho tôi;nhất là với hai tên du kích cầm súng xua đuổi tôi lúc nãy.
Tối hôm sau tôi lại ra quán như thường lệ uống cà phê, làm như không biết có chuyện gì xảy ra. Thư đem ly cà phê cho tôi và nói lời xin lỗi! Tôi nói: không có gì đâu tất cả là số mạng, cầu ơn trên phù hộ cho gia đình anh chị Thư đi được trót lọt; còn số tôi chưa thoát được đành chịu thôi.
Nhưng cũng từ đó tôi học khôn ra rằng, nếu muốn đi thoát được khi mà mình không có tiền đóng thì phải liều mạng canh me, thì phải nắm bắt rõ đường đi lối về của những chuyến chúng tổ chức vượt biển để không trật vuột nguy hiểm như chuyện vừa rồi.
Tôi bèn bàn tính cùng vài anh em lỡ vận đập đá như mình, đều muốn thoát đi bằng cách canh me chui khi không có tiền đóng để đi hợp pháp: cùng nhau hùn tiền sắm một lưới Vó Bè để mỗi đêm ra canh Vó,nhưng thật sự để nắm bắt tình hình khi Vó Bè nằm gần đường đi của khách vượt biển có đóng tiền thường hay đi, đặng theo dõi động tịnh; nếu có đánh là bám theo khách, lừa cơ hội nhào đại lên đi liền, hên sui nhờ trời….đồng thời vừa có thêm chất đạm của tôm, cá, tép để bồi bổ cơ thể,dù không là bao nhưng cũng đở được phần nào do phải ăn uống thiếu thốn,lại còn dầm mưa dãi nắng để sống qua ngày, vừa hy vọng…
Đây chỉ là câu chuyện mở đầu của một người lính đi tù cộng sản về, thật sự đã không còn gì để mất nữa.Hơn ba năm đập đá kiếm miếng cơm qua ngày.Hơn ba năm lặn lội trong đêm tối chỉ với ước mong duy nhất là đi thoát được để có lối thoát cho mình, để có thể cứu cả gia đình ( ba, má, các em..).Bao lần ghe ra gần tới Hải Phận QuốcTế mà đành trở vô vì bảo dập,ghe ngập nước phải thay nhau tát nước để có thể trở vô an toàn…và cũng không biết bao lần phải lẫn trốn để khôg bị bắt lại mỗi khi có chuyến vượt biển không thành…
Tsu A Cầu: KHI VẾT SẸO KHÔNG LÊN TIẾNG
KHI VẾT SẸO KHÔNG LÊN TIẾNG
LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,
Sáng nay, tôi nhận được email từ một người anh, cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh, hiện đang sinh hoạt tại Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng. Anh chuyển cho chúng tôi một chuỗi điện thư trao đổi giữa các thành viên thuộc Hội Giáo Chức, kèm theo một dòng cảm thán ngắn ngủi nhưng để lại nỗi đau não lòng đối với những người làm giáo dục: “Tuổi trẻ và sự tỉnh thức trí thức?”
Dòng thư u uẩn ấy lập tức nhói lên trong tôi một vấn nạn nhức nhối của cộng đồng — một chủ đề chúng ta đã trăn trở, thảo luận nhiều lần, nhưng đến hôm nay vẫn mang tính thời sự bỏng rát.
Trận chiến bảo vệ căn cước và sự thật lịch sử của cộng đồng tị nạn hôm nay không còn nằm ở những tiếng súng năm xưa. Nó đang lặng lẽ diễn ra ngay dưới mái nhà, qua từng trang sách song ngữ, và trên những lá phiếu bầu cử tại các thành phố cũng như các học khu lớn như Garden Grove. Ở đó, việc một số ứng cử viên trẻ thuộc các nhóm khuynh tả ra tranh cử đã mở ra một vết thương lòng nhói đau: Bi kịch của sự im lặng đầy tình thương nhưng mang nhiều thiếu sót từ thế hệ cha anh.
Trải qua thảm họa, thế hệ đi trước mang trên mình những vết sẹo khổng lồ. Nhưng vì thương con, họ chọn cách đóng chặt cánh cửa quá khứ, nén đau thương để bươn chải sinh tồn và mong con cháu lớn lên hồn nhiên dưới bầu trời tự do Hoa Kỳ. Tiếc thay, người mang vết sẹo đã không thể — và không nỡ — xé vết sẹo cũ ra thành vết thương rỉ máu làm chứng tích cho thế hệ sau. Họ quên rằng một vết sẹo bị giấu kín sẽ mờ nhạt theo thời gian, và đứa trẻ chưa từng thấy máu chảy sẽ không bao giờ hiểu hết cái giá đắt đỏ của hai chữ Tự Do.
Khoảng trống ký ức ấy trở thành một “chân không tư tưởng” nguy hiểm. Khi thế hệ kế thừa chao đảo tìm kiếm nguồn cội, họ dễ dàng bị dẫn dụ vào con hẻm tối của sự ngộ nhận qua những chiêu bài mỹ miều như “hướng về nguồn cội” hay các bộ sách lịch sử song ngữ bị cắt gọt, định hướng từ trong nước.
Nhằm biến những ưu tư thành giải pháp thực tiễn, bài tham luận không chỉ mổ xẻ nguyên nhân rạn nứt thế hệ mà còn đề xuất lộ trình tái cấu trúc hệ thống Trường Việt Ngữ hải ngoại: Chuyển dịch từ việc “ráp vần học vẹt” sang kỹ năng Nghe – Nói tương tác, kết hợp môn Lịch sử & Căn cước Tị nạn song ngữ, và chuyên nghiệp hóa giáo trình.
Đã đến lúc chúng ta mở lại trang ký ức — không phải để gieo rắc hận thù, mà để trao cho con cháu chiếc kính soi đường, giúp bước chân thế hệ kế thừa không còn loạng choạng trước những ảo ảnh tuyên truyền.
Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài viết “Khi Vết Sẹo Không Lên Tiếng: Khoảng Trống Ký Ức Và Bước Chân Loạng Choạng Của Thế Hệ Kế Thừa”.
Trân trọng,
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 10 tháng 8 năm 2026.
==
NHỮNG “NGÔI LÀNG POTEMKIN” THỜI HIỆN ĐẠI
LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,
Ái chà, sau khi phổ biến bài tham luận “Bất Khuất Tân Cảnh”, thú thật là tôi mới cảm nhận được thế nào là… “đụng ổ”!
Tối hôm qua, gạch đá quăng về hộp thư nhà tôi xôm tụ hơn hẳn những lần phổ biến trước — vốn lắm khi rơi vào im lặng vô tuyến đến mức “kim rớt mặt hồ”. Cái niềm vui giản dị của người cầm bút là có người chịu đăng (nói nhỏ nghe chơi: nếu không ai chịu đăng thì tự mình đăng như tôi đang làm) và có người chịu đọc — thế là trọn vẹn rồi. Lần này, không chỉ có báo chí nhận đăng, trang mạng phổ biến, mà đọc giả tứ phương còn hân hoan đóng góp thêm nhiều góc nhìn. Có người “ném đá” giúp gia chủ giật mình nhìn lại mình, có vị lại liệng thêm vài viên gạch tốt để giúp tác giả bồi đắp thêm bức tường: khả năng “giữ vững ngòi bút”.
Sau đây, tôi xin phép được “nói có sách, mách có chứng” — liệt kê danh tính trả lời của độc giả tứ phương để khỏi mang tiếng là “xã trưởng mà đòi lãnh giải Nobel”!
1. Một thi sĩ Hát Nói tuốt tận “miệt dưới” (Down-Under, Úc Châu)
HÁT NÓI — BÀI 753: Trinh Sát!
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Nhà Văn Võ Bị Quốc Gia K29 Tsu A Cầu đã chuyển đến những bài viết, tài liệu quý giá về công lao chiến đấu của các Chiến Sĩ QLVNCH, lần này là về các Đơn Vị Trinh Sát hành quân ở Tân Cảnh. Kính mời Quý Thi Hữu họa lại.)
Hành quân trinh sát!
Mắt xích quan trọng của trận chiến! Quán xét địch tình!
Những chiến sĩ ưu tú, gan dạ, tử công phu! Quên mình!
Mật Khu Ngọk Tô Ba, Tân Cảnh, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột…! Rập rình bóng giặc!
Quyết đánh! Không tha quân Cộng Tặc!
Hy sinh! Chẳng quản lệnh Ông Thầy!
Cố Chuẩn Tướng Lê Đức Đạt! Vị Tư Lệnh Anh Hùng! Kẽm gai bọc thây!
Mãnh hổ nan địch quần hồ! Bầy sói điên tràn vào đây! Thảm kịch!
Thượng Đức! “Mắt Ngọc Của Đầu Rồng”! Đã mất vào tay địch!
“Ai nắm được Tây Nguyên sẽ chiếm được Miền Nam”! Một nhận định rõ ràng!
Bao năm! Vận nước! Bàng hoàng!
Đức Hùng(Sydney, Úc Châu, 09/08/2026)
2. Một nữ sĩ “xếp sòng” trang web hơn 3 triệu lượt xem & cô dịch giả tnl phụ họa
Bấy lâu nay vẫn theo sát những bài viết của bạn, đôi khi cũng muốn góp vài dòng nhưng nội dung ngoài tầm hiểu biết nên đành im lặng. Hôm nay thấy đề tài Bất Khuất tôi đọc liền, đọc kỹ với ý định sẽ góp với bạn vài dòng về Trung Tá Thông K16 — những người con Võ Bị đã làm rạng danh Trường Mẹ…
Nhưng… đọc lại lời ngỏ của bạn có đoạn: ‘Tôi viết lại câu chuyện này không phải để vinh danh bất kỳ cá nhân nào…’, khiến tôi ngồi thừ thật lâu. Rồi lên giường nhưng không sao ngủ được! Bật dậy viết cho bạn vài dòng dù đã 12:30 khuya.
Đồng ý không vinh danh những kẻ hợm mình muốn người khác tung hô. Nhưng những người hùng đã chiến đấu làm rạng danh Trường Mẹ mà không nhắc quý danh của họ (vinh danh) thì lấy cái gì chứng minh sự chân thực cho hậu thế? 1/6 sĩ quan Võ Bị tốt nghiệp đã hy sinh trên chiến trường mà không nhắc tên họ thì lấy gì làm chứng? Các anh chiến đấu, hy sinh, tự sát vì mất nước đâu phải là người ‘BÊN LỀ’ cuộc chiến! Những kẻ bên lề mới là kẻ không đáng vinh danh.
Mong bạn tiếp tục những ‘Bất Khuất’ khác và mạnh dạn vinh danh những quân nhân VNCH đã chiến đấu và hy sinh, bất luận xuất thân từ quân trường nào — dù Quang Trung hay Đồng Đế.”
CaptovanK19”
4. Một ông anh đồng hương Hải Ninh (bắn đại bác 105 ly chưa tới) & Lời đáp trả tại chỗ
“Bạn Tsu A Cầu rất ‘Đa Hiệu’ của tui ơi,
Xin cảm ơn Bạn đã liên tục gửi đọc những bài viết rất ‘thời sự’ và giá trị trong thời buổi khan hiếm chữ nghĩa này. Chứng tỏ Bạn hiểu biết rất sâu rộng và viết rất chính xác, hấp dẫn.
Tuy nhiên, với bài ‘Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát’, xin phép Bạn cho người lính gốc ‘trường tư’ này được góp vài ý nhỏ nhằm giúp bài viết hoàn chỉnh hơn (đính kèm 5 điểm cần fact-check) …
Tình thân,N.”
Lời đáp từ tác giả Tsu A Cầu gửi ông anh tên N.:
Đồng ý.
Đúng vậy, nên suốt cả bài viết anh ta vẫn chỉ mang cấp bậc Trung Úy!
Vâng, bài viết đã giải thích điều này nhưng có lẽ đặt chưa đúng chỗ.
Sẽ điều tra và đính chính sau.
Sẽ chất vấn đương sự — ông Trung Úy xém bị ‘bò lạc’ xử thành thái giám!
5. Một ông anh “tiền trảm hậu tấu” sâu sắc về kỹ thuật pháo binh & y khoa
“Cảm ơn anh N. đã gửi cho tôi biết. Nếu được phép, tôi xin đính chính thêm một chút:
– Đại bác 155mm có tầm bắn tối đa 15km, 105mm có tầm bắn 11km (theo sách vở). Khi điều chỉnh gần tới giới hạn tối đa thì độ chính xác giảm hẳn.
– Còn vụ mổ không chụp thuốc mê thì nên xem lại (có thể xảy ra nhưng tỷ lệ 1/10.000). Quân y tại mặt trận tương đối đầy đủ trừ trường hợp bị vây dài ngày như Anh Lộc bị cắt đứt liên lạc hoàn toàn khoảng 2 tuần.
– Cố Đại Tá Lê Đức Đạt đã được truy thăng Chuẩn Tướng.
T.”
6. Một bà chị xa tận trời Tây gửi chút tâm sự thương cảm
“… Vừa đọc bài viết ‘Odyssey đến Bi Kịch Thuyền Nhân Việt Nam’. Niềm xúc động vì những lời kêu gọi của Cầu đã làm chị rơi nước mắt. Những người bạn thuyền nhân cũng từng kể cho chị nghe về chuyến vượt biển gian truân, sống chết trong gang tấc…
Nhưng giống như Cầu đã viết trong các bài tham luận, phần nhiều họ muốn quên, không muốn nhắc lại. Ngay như người thân trong gia đình chị vượt biển cũng vậy. Nhiều người bạn nay trở về VN thăm nhà nên họ muốn yên thân vì sợ bị khó dễ…
Chị H. Nga”
7. Và một ông anh than thở “Viết dài quá, đọc xong muốn xỉu!”
Dù than trách viết dài, thế mà Anh cứ liên tục thông báo bcc là đã chuyển bài viết — mà anh tôi chẳng bao giờ cho biết Anh chuyển đi đâu? Đi đâu cũng được, xin miễn hỏi, vì cho đến giây phút này vẫn chỉ toàn nhận được điều tốt lành!
Trần tình sơ qua như vậy để thấy: Giữ ngòi bút giữa thời buổi này tuy có lúc phải… “lì lợm, mặt dầy”, đôi khi chịu vài viên gạch ném qua hàng rào, nhưng được sống giữa tình nghĩa của huynh đệ, tri âm và độc giả xa gần — ấy là cái lộc lớn nhất của người cầm bút!
Để hạ nhiệt, bây giờ mời quý vị đi du lịch qua những mô hình xã hội chủ nghĩa từ xưa đến nay qua bài tham luận “Những “Ngôi Làng Potemkin” Thời Hiện Đại: Từ Bẫy Du Lịch Bắc Kinh Đến Bản Ảo Ảnh Tuyên Truyền Toàn Cầu”.
Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi.
Trân trọng,
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 9 tháng 8 năm 2026.
NHỮNG “CÁI LÀNG POTEMKIN” THỜI ĐẠI MỚI
Từ Bẫy Du Lịch Bắc Kinh Đến Bản Ảo Ảnh Tuyên Truyền Toàn Cầu
Tsu A Cầu
Dẫn Nhập
Một tác phẩm văn nghệ hay một thước phim truyền thông không bao giờ tồn tại trong một khoảng chân không lịch sử hay chính trị. Hành trình nhận thức của con người cũng vậy. Sự nguy hiểm nhất của một thể chế toàn trị Cộng sản không nằm ở sức mạnh quân sự hay tài chính đơn thuần, mà nằm ở khả năng vẽ nên một “phòng khách” lộng lẫy để che đậy những góc tối tàn nhẫn bên trong.
Khi một du khách “cưỡi ngựa xem hoa” lướt qua những đại lộ bóng lộn của Bắc Kinh rồi vội vã kết luận rằng “Trung Cộng không còn Cộng sản nữa”, hay khi giới truyền thông tự do lơ đễnh trước những mô hình “Xã Phường XHCN” đang được “rốt ráo” củng cố tại Việt Nam, lịch sử đang lặp lại một bi kịch cũ: Sự ngộ nhận được bảo trợ bởi công nghệ tuyên truyền.
Bài tham luận này mổ xẻ hiện tượng “Cái làng Potemkin” (Potemkin village) — từ vết nhơ lịch sử của điện ảnh Hollywood với bộ phim The North Star thời Thế chiến Thứ hai, qua mô hình kiểm soát kỹ thuật số, chế độ Hộ khẩu, cho đến chiếc bẫy truyền thông đang khuynh đảo thế giới tự do hôm nay.
I. Chiếc Bẫy “Phòng Khách” Và Sự Ngộ Nhận Của Du Khách
Lịch sử từng chứng kiến không ít trí thức và du khách Tây phương khi đặt chân đến Liên Xô thời Stalin hay Trung Cộng thời Mao Trạch Đông đã trở về với những lời ca tụng trên mây. Họ thấy những công trình đồ sộ, những nông trại tập thể ngăn nắp, những nụ cười được dàn dựng. Nhưng cái họ nhìn thấy chỉ là “phòng khách” — nơi chủ nhà đã lau chùi bóng bẩy và cẩn thận khóa chặt cửa “phòng vệ sinh” hay những góc tối đày đọa con người.
Thời gian gần đây, một chuyến du lịch vài ngày trôi qua trên tàu cao tốc, thanh toán bằng mã QR và ngắm nhìn bầu trời xanh được cưỡng chế dọn dẹp tại Bắc Kinh dễ dàng làm cho người ta quên mất:
Đằng sau sự hiện đại ấy là hệ thống theo dõi bằng quy mô camera dày đặc triệt tiêu mọi quyền riêng tư cá nhân.
Đằng sau những tập đoàn công nghệ tỷ đô-la là sự hiện diện tuyệt đối của các chi bộ Đảng Cộng sản Trung Hoa (CCP) và số phận mong manh của những thương gia chỉ cần chệch hướng là bị “sờ gáy”, như Jack Ma.
Đằng sau sự trật tự đô thị là chế độ hộ khẩu nghiệt ngã phân ban đẳng cấp và tước đoạt phúc lợi của hàng trăm triệu lao động ngoài tỉnh thành.
Nói “Trung Cộng không còn Cộng sản” chỉ vì họ có xe điện và trung tâm thương mại sang trọng là một sự ngộ nhận nông cạn. Thể chế ấy chưa bao giờ từ bỏ bản chất toàn trị; họ chỉ dùng kinh tế thị trường làm công cụ tích lũy tài chính để quay lại củng cố cỗ máy kiểm soát xã hội tinh vi hơn mà thôi.
II. Từ Bản Họa “The North Star” Đến Thảm Họa Holodomor
Khái niệm Potemkin village xuất phát từ giai thoại Thống chế Grigory Potemkin dựng nên các ngôi làng giả tạo bọc vải sơn dọc bờ sông Dnieper để lừa Nữ hoàng Catherine II về sự phồn vinh của vùng đất mới. Trong thế kỷ 20 và 21, kỹ thuật này đã được các thể chế toàn trị nâng lên thành một nghệ thuật thượng thừa.
1. Sự dối trá tàn nhẫn của The North Star (1943)
Năm 1943, trong bối cảnh Mỹ và Liên Xô là đồng minh chống Phát-xít, Điện ảnh Hollywood phát hành bộ phim The North Star (do Samuel Goldwyn sản xuất, Lewis Milestone đạo diễn). Những nhà làm phim Mỹ đã vẽ nên một nông trang tập thể (kolkhoz) ở Ukraine đẹp như mơ: những người nông dân no ấm, rạng rỡ, nhảy múa ca hát dưới ánh nắng mặt trời, bàn ăn đầy ắp thịt sữa, bánh mì: Thiên đường cộng sản tại hạ giới.
2. Sự thật lịch sử về thảm họa Holodomor (1932–1933)
Thực tế, chính tại vùng đất Ukraine đó, chỉ 10 năm trước khi bộ phim bấm máy, chính quyền Joseph Stalin đã thực hiện chiến dịch diệt chủng bằng lương thực mang tên Holodomor:
Chính sách cưỡng chế & Tịch thu: Thông qua Đạo luật “Ngăm bông lúa” (7/8/1932), ai lấy dù chỉ một nắm hạt ngũ cốc từ đồng ruộng tập thể đều bị tử hình hoặc đi tù 10 năm. Các đội thu gom NKVD (Narodny Komissariat Vnutrennikh Del – Bộ Nội vụ Nhân dân Liên Xô) về từng làng tịch thu đến hạt ngô, củ khoai cuối cùng.
Con số tử vong kinh hoàng: Khoảng 3,9 triệu đến 4,5 triệu người Ukraine đã chết vì đói trong giai đoạn 1932–1933. Vào đỉnh điểm mùa xuân 1933, trung bình mỗi ngày có khoảng 28.000 người chết đói.
Sự tẩy xóa lịch sử: Điện ảnh Hollywood đã hoàn toàn xóa bỏ 4 triệu xác chết và nạn ăn thịt người tột cùng nghèo khổ để thay bằng hình ảnh “thiên đường XHCN”. Sau Thế chiến Thứ hai, bộ phim trở thành một vết nhơ và sự xấu hổ của điện ảnh Mỹ. Nó chứng minh một bài học đắt giá: Khi nghệ thuật tự do bị ép phục vụ cho tính toán chính trị ngắn hạn, nó sẽ biến trí thức và nghệ sĩ thành kẻ tiếp tay cho sự dối trá.
III. Vạn Lý Tường Lửa Và Hộ Khẩu: Xiềng Xích Trong Không Gian Ảo Và Thực
1. Vạn Lý Tường Lửa (Great Firewall) — Cơ chế “Tự cấm đoán”
Vạn Lý Tường Lửa không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật chặn mạng (như chặn Google, Facebook, YouTube), mà là dự án kỹ thuật xã hội khép kín:
Hệ sinh thái thay thế bị kiểm soát: Thay thế bằng Baidu, WeChat, Weibo — nơi toàn bộ máy chủ đặt tại chỗ và chịu sự quản lý trực tiếp của các chi bộ Đảng.
Hiệu ứng tâm lý “Tự kiểm duyệt”: Khi mọi hành vi trên mạng gắn liền với số căn cước và hệ thống chấm điểm tín nhiệm xã hội (Social Credit System), người dân tự học cách “không tìm kiếm những điều không nên tìm”. Thế hệ trẻ sinh ra dưới tường lửa lâu dần không còn cảm thấy thiếu vắng tự do, thậm chí quay lại bài bác các giá trị dân chủ.
2. Chế độ Hộ khẩu (Hukou) — Công cụ phân ban đẳng cấp
Nếu Tường Lửa kiểm soát không gian ảo, thì Hộ khẩu là chiếc xiềng xăm kiểm soát không gian thực:
Chia cư dân thành Hộ khẩu nông thôn và Hộ khẩu đô thị, trói buộc con người vào nơi sinh ra.
Hàng trăm triệu lao động di cư lên thành phố bị coi là “tạm trú”, bị tước đoạt quyền tiếp cận y tế, giáo dục công lập cho con cái, và có thể bị cưỡng chế dọn dẹp, đẩy về quê bất cứ lúc nào khi chính quyền muốn “làm sạch đô thị”.
IV. Dự Án “Xã Phường XHCN”: Mô Hình Công An Hóa Cơ Sở
Sự kiện xây dựng thí điểm các mô hình “Xã Phường XHCN”, tăng cường lực lượng công an chính quy về bám nắm địa bàn cơ sở (đặc biệt được đẩy mạnh tại các địa phương trọng điểm) là một bước chuyển từ quản lý hành chính sang “quản trị an ninh trị”:
Công an hóa bộ máy cơ sở: Lực lượng công an chính quy trực tiếp chi phối toàn bộ chính quyền xã/phường.
Dữ liệu dân cư tích hợp (VNeID): Bắt buộc tích hợp toàn bộ thông tin cá nhân, tài sản, biến động cư trú, giao dịch vào một mã định danh do lực lượng an ninh nắm giữ.
Tổ an ninh tự quản ngõ ngách: Khôi phục các mô hình giám sát cơ sở để bắt mạch mọi biến động tư tưởng, triệt phá mầm mống phản biện từ sớm, từ xa.
Mô hình này biến mỗi xã/phường thành một “tiểu đồn công an”, bao phủ xã hội bằng sự nghi kỵ, triệt tiêu khả năng phản biện và năng lực tự tổ chức của người dân.
V. Truyền Thông Tuyên Truyền Khuynh Đảo Thế Giới Tự Do
Lợi dụng tính chất cởi mở của mạng xã hội và tự do ngôn luận tại các nước Dân chủ, các thể chế toàn trị đã và đang thực hiện các chiến dịch truyền thông đa tầng:
Gieo rắc chủ nghĩa ngụy biện (Whataboutism): Làm mờ ranh giới giữa Tự do và Toàn trị, khiến công chúng tin rằng “ở đâu cũng như nhau”, từ đó làm suy giảm ý chí bảo vệ các giá trị dân chủ.
Nội suy và chia rẽ cộng đồng: Tài trợ cho các kênh truyền thông “dơ và bẩn”, kích động xung đột văn hóa, tạo ra sự hoài nghi lẫn nhau trong các cộng đồng tị nạn và xã hội sở tại. Chúng ta hãy quan sát những cuộc biểu tình vừa qua sẽ thấy.
Mua chuộc và bẫy trải nghiệm: Biến những vlogger, du khách ngắn hạn hay các nhà làm phim ngây thơ thành những “Đại sứ tuyên truyền vô giác” (useful idiots), mượn miệng người nước ngoài để ngợi ca tính chính danh của chế độ.
Kết Luận: Trách Nhiệm Của Ngòi Bút Và Ký Ức
Lịch sử đã chứng minh: Một thể chế xây dựng trên sự dối trá chỉ có thể tồn tại khi con người chấp nhận sống chung với sự dối trá đó.
Việc nhận diện những “cái làng Potemkin” thời hiện đại không phải để gieo rắc sự thù hận, mà là để bảo vệ SỰ THẬT và TỰ DO. Trước một làn sóng truyền thông tuyên truyền đang khuynh đảo thế giới, trách nhiệm của những người cầm bút, của những nhân chứng lịch sử và của thế hệ đi trước là phải để lại những trang ghi chép trung thực.
Đừng để những thước phim như The North Star hay những chuyến du lịch “cưỡi ngựa xem hoa” tiếp tục ru ngủ hậu thế. Chỉ khi nào chúng ta dũng cảm nhìn vào cả “phòng khách” lẫn “phòng vệ sinh” của một thể chế, chúng ta mới không trở thành nạn nhân của những ảo ảnh tuyên truyền.
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 9 tháng 8 năm 2026.
KIỀU MỸ DUYÊN – TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO CÔNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI RA MẮT BAN ĐIỀU HÀNH
Tôi ở Big Island, Hawaii, cũng có vài bạn VN, nhưng nhà cách nhau khá xa, mỗi khi tổ chức gặp nhau, muốn tới nhà nào thì nhà khác cũng phải lái xe từ 45 phút tới 1 tiếng.
Vì vậy tôi nuôi gà, vịt, cừu… làm bạn. Mỗi sáng, mỗi chiều tôi đi dạo quanh vườn là cả đàn theo chân tôi mà bước. Tôi vừa đi vừa hát cho chính tôi và chúng cùng nghe. Gà thì thản nhiên không chú ý tới, nhưng bọn cừu thì ngơ ngẩn, có vẻ lắng nghe, nhưng cũng không tỏ ra có “ý kiến” gì.
Đặc biệt những nàng vịt nghe chăm chú hơn, thỉnh thoảng chúng quay qua nhìn các chàng vịt với đôi mắt như long lanh, ẩn tình ý. Chắc là các nàng nhận ra cái giọng khàn khàn của tôi đây còn tệ hơn giọng các chàng vịt nhà các nàng.
Tôi mới ngộ ra là nhờ tôi hát tệ quá nên hình như cả đám vịt tôi nuôi đã thương nhau hơn chăng? Tôi luôn ôn tồn, nhẹ nhàng giảng cho đám gia súc, (tôi làm thiệt đó), và tôi ngạc nhiên nhận ra cả đám đều dừng lại lắng nghe. Được thể, tôi vừa cười vừa tiếp lời:
– Bọn bây đừng khi nào so sánh chồng hay vợ chúng mày với loài khác, vì mỗi loài có một sở trường riêng. Những chàng vịt của chúng mày có cái giọng mà loài người chê là giọng dở nhất thế gian (giọng vịt đực), ấy thế đừng tưởng thật mà chê chồng vịt nhà bây hí, hôm nay chúng bây vừa khám phá ra giọng của ông già này còn tệ hơn nữa, đúng không? Vậy chúng bây hãy thuơng yêu nhau với những gì chúng bay đang có hí…
Ngày ngày cô đơn và buồn tẻ, tôi vẫn thường nói chuyện với đám gia súc như nói với nguời, được cái là chẳng bị chúng phản bác: “Ý kiến lẩm cẩm” bao giờ. Ngược lại, tôi còn được hiểu ra tâm tính từng loài vật: khi tôi cho chúng ăn một cách dịu dàng, nói chuyện nhỏ nhẹ thì bọn chúng xúm xít lại ăn cả trên tay tôi rất dễ thương. Mỗi khi thấy chúng tranh nhau mà ăn, tôi chỉ cần lên tiếng to thì tất cả dừng lại nhìn tôi, con nào bị tôi nhìn chằm chằm và nạt một tiếng là con đó chạy ra xa ngay; nhất là đám cừu, thường tranh ăn với bọn vịt, hễ bị tôi nạt to, dù là tôi đứng xa cách mấy thì chúng cũng nhảy dựng lên mà chạy mất tiêu cả đám. Còn nếu đứng gần, dù tôi không nói gì thì ánh mắt của chúng cũng len lén nhìn tôi để ướm thử xem có thể xông vào giành thức ăn với bầy vịt không? Đôi khi thấy những đôi mắt thơ ngây và trong sáng như năn nỉ của chúng, tôi động lòng an ủi:
-Thôi được! Hôm nay chúng mày vào ăn đi!
Thế là từng con chậm chạp tiến vào ăn, còn nếu tôi không cho phép, chúng chỉ rón rén vừa nhìn ông chủ già nua, vừa tiến chầm chậm tới chỗ vịt ăn cho đến khi nghe tiếng hét:
-Tụi bay tính làm gì?
Là cả đám chạy mất tiêu ngay. Tôi biết chúng không hiểu nhưng chúng nhận ra giọng nói lúc nào là giận dữ, khi mô rất hiền hòa của loài người. Nhờ được chúng hiểu thế mà cuộc sống cô độc của tôi không còn cô đơn nữa.
Gia súc còn hiểu được người, vậy mà lạ thay, sao loài người với nhau, lại là đồng hương, đồng bào mà không hiểu nhau? Kẻ gian, người xấu cứ tỵ hiềm, hành hạ, cướp phá, đánh đập, giết chóc lẫn nhau để tiếm đoạt danh lợi, quý bạn hỉ?
BẢO TRÂM
Tháng 7.2021
LÊ XUÂN MỸ – CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY
CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY
Buổi Họp Mặt Vui Hát “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy do chị Thanh Huệ tổ chức tại Walnut Creek đã kết thúc lúc 7 giờ tối, nhưng khi mọi người lần lượt ra về, trong lòng tôi vẫn còn nguyên một cảm giác bâng khuâng khó tả. Một buổi chiều chỉ kéo dài vài tiếng đồng hồ, vậy mà dường như chúng tôi đã đi qua rất nhiều năm tháng của cuộc đời. Có những buổi gặp mặt đến rồi đi, người ta vui một chút rồi quên. Nhưng cũng có những buổi gặp mặt mà khi trở về nhà, người ta vẫn còn nghe đâu đó tiếng đàn, tiếng hát, tiếng cười và những câu chuyện chưa kịp kể hết. “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đối với tôi là một buổi chiều như thế. Đó không chỉ là một buổi vui hát của hơn ba mươi người bạn, mà là một cuộc trở về. Một cuộc trở về không cần máy bay, không cần vé tàu, không cần phải đi hàng ngàn dặm đường. Chỉ cần một câu hát, một tiếng đàn, một cái tên quen thuộc của một người bạn cũ, là cả một khoảng trời quê hương có thể hiện về.
Buổi chiều hôm ấy có đến ba mươi bốn người tham dự, mà phần đông đều đã quá tuổi thất thập. Có những U90 như anh Mai, anh Toàn, còn U80 như tôi thì nhiều như lá rụng mùa thu. Anh Tiến, chú Bình, chị Bích Thọ, chị Hà anh An…ngay cả vợ chồng Xuân Mỹ tui. Nhìn những khuôn mặt bạn già ngồi bên nhau, tôi chợt nghĩ rằng nếu tính tổng số năm tháng của tất cả mọi người trong căn phòng ấy thì chắc chắn đó là một con số rất lớn. Mỗi người mang đến đây không chỉ một cuộc đời đã đi qua hơn bảy mươi năm, mà còn mang theo một trời ký ức riêng. Có người từng sống những năm tháng tuổi thơ ở Huế, có người từng học dưới những mái trường cũ, Quốc Học, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, có người từng yêu, từng lập gia đình, từng chia tay bạn bè để rồi cuộc đời đưa đẩy đến một phương trời rất xa quê nhà. Có người đã rời Việt Nam từ rất lâu, có người sang Mỹ khi tuổi đời còn trẻ, có người đến khi tóc đã bắt đầu pha màu bạc. Nhưng dù hoàn cảnh mỗi người khác nhau, chúng tôi có chung một điều, trong sâu thẳm của tâm hồn vẫn có một miền quê không bao giờ mất. Hơn ba mươi năm tôi chưa từng trở lại, quê hương ấy có thể đã thay đổi rất nhiều, những con đường ngày xưa có thể đã khác, những ngôi nhà cũ có thể không còn, những người thân yêu có thể đã lần lượt ra đi, nhưng ký ức về quê hương thì vẫn còn nguyên vẹn trong một góc nào đó của trái tim.
Có lẽ càng lớn tuổi, người ta càng hiểu giá trị của hai chữ “gặp nhau”. Khi còn trẻ, chúng ta thường nghĩ rằng ngày mai, tháng sau hay năm tới mình vẫn còn nhiều dịp để gặp lại bạn bè. Một cuộc hẹn có thể dời sang tuần sau, một chuyến đi có thể để năm sau, một người bạn lâu ngày không gặp có thể nói “khi nào rảnh mình gặp nhau”. Nhưng khi bước qua tuổi 70, chúng ta bắt đầu nhìn thời gian bằng một con mắt khác. Không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu rằng cuộc đời không còn dài như trước. Vì vậy, một lời mời gặp mặt, một buổi ca hát, một bữa cơm với bạn bè bỗng trở nên quý giá vô cùng. Chúng ta đến với nhau không chỉ vì thích hát, không chỉ vì thích nghe nhạc, mà còn vì muốn nhìn thấy nhau khi chúng ta vẫn còn có thể nhìn thấy nhau, muốn nghe tiếng nhau cười khi tiếng cười vẫn còn vang lên, muốn nắm bàn tay của một người bạn khi bàn tay ấy vẫn còn bên cạnh.
Và rồi những bài hát về Huế bắt đầu vang lên. Tôi không biết trong lòng mỗi người lúc ấy có một Huế như thế nào, nhưng chắc chắn Huế của mỗi người đều đẹp theo một cách rất riêng. Với người này, Huế có thể là dòng Hương Giang lặng lờ trôi. Với người khác, Huế có thể là tiếng chuông Thiên Mụ ngân vang trong một buổi sáng. Có người nhớ những con đường rợp bóng cây, nhớ những cơn mưa Huế dai dẳng, nhớ những tà áo dài đi qua sân trường, nhớ một người bạn cũ mà đã mấy chục năm không còn gặp. Có người chỉ cần nghe một câu hát là nhớ đến mẹ, đến cha, nhớ một căn nhà nhỏ, một khu vườn, một bữa cơm gia đình ngày xưa. Những điều ấy tưởng như đã ngủ yên trong ký ức, vậy mà âm nhạc có thể đánh thức tất cả chỉ trong vài phút. Với tôi là An Lăng dưới chân núi Ngự Bình quê ngoại, là Vĩ Dạ, Nam Phổ quê nội.
Đó là điều kỳ diệu của âm nhạc. Âm nhạc không có biên giới. Nó không hỏi chúng ta đang ở Việt Nam hay Hoa Kỳ, không hỏi chúng ta bao nhiêu tuổi, giàu hay nghèo, đang vui hay buồn. Một bài hát cũ có thể đưa một người 75 tuổi trở lại với tuổi 20 của mình. Một giai điệu quen thuộc có thể làm cho một người đang ngồi ở Walnut Creek tưởng như đang đứng bên dòng Hương Giang. Một câu hát có thể làm sống lại hình ảnh của một người thân mà ta đã tưởng rằng mình không còn nhớ rõ khuôn mặt. Có lẽ vì vậy mà những người xa quê thường yêu âm nhạc hơn. Bởi âm nhạc là một trong những chiếc cầu hiếm hoi có thể nối lại hiện tại với quá khứ, nối đất Mỹ với quê nhà, nối những người đang sống với những người đã khuất, nối tuổi già hôm nay với tuổi trẻ của ngày xưa.
“Chiều Nhớ Huế” không phải là một buổi chiều chỉ để nhớ và để buồn. Trái lại, tiếng hát càng vang lên thì niềm vui càng lớn. Sau những ca khúc về Huế là “Tiếng Dân Chài”, là chương trình dạ vũ sôi động với tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Không khí trong phòng như thay đổi hẳn. Những người vừa ngồi yên lặng nghe những bài hát đầy hoài niệm bỗng đứng lên, mời nhau khiêu vũ. Có những bước chân không còn nhanh, có những động tác không còn mềm mại như thời còn trẻ, nhưng chẳng ai quan tâm đến điều đó. Người ta cười. Người ta dìu nhau đi. Người ta nhìn nhau bằng ánh mắt đầy thân tình. Và trong khoảnh khắc ấy, tuổi tác dường như biến mất. Không còn 70, 75 hay 80 tuổi. Chỉ còn những chàng trai, những cô gái của một thời xa xưa đang trở lại với tuổi trẻ của mình.
Tôi thấy vừa vui vừa xúc động. Bởi chúng ta đã dành phần lớn cuộc đời để lo cho người khác. Khi còn trẻ, chúng ta lo học hành, lo công việc, lo cha mẹ, lo chồng vợ, lo con cái. Sang Mỹ rồi lại tiếp tục một cuộc sống mới với biết bao nhiêu trách nhiệm. Đi làm, mua nhà, trả tiền nhà, nuôi con, giúp con mua nhà, chăm sóc gia đình, rồi đến khi con cái trưởng thành, chúng ta lại lo cho cháu. Thời gian cứ thế trôi qua. Đến một ngày, khi nhìn vào gương, chúng ta mới chợt nhận ra tóc mình đã bạc, đôi chân không còn nhanh, đôi mắt không còn tinh anh như trước. Nhưng sâu bên trong, có lẽ người thanh niên hay cô gái của ngày xưa vẫn còn đó. Chỉ cần một tiếng nhạc, họ lại bước ra.
Tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi hôm ấy giống như một lời mời gọi. Và những người bạn của chúng tôi đã đáp lại lời mời ấy bằng những nụ cười. Các MC Bình, An và Hương Đức cũng góp phần làm cho chương trình thêm sinh động. Những lời giới thiệu, những câu nói vui, những tiếng cười làm cho buổi chiều trở nên gần gũi. Không cần một sân khấu lớn, không cần một chương trình cầu kỳ. Chỉ cần có tiếng đàn, tiếng hát và những người bạn cùng chung một tình yêu với âm nhạc, thế là đủ.
Tôi nghĩ điều đáng quý nhất của những buổi sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” không nằm ở chỗ hát hay hay hát dở. Cũng không nằm ở việc ai nhảy đẹp, ai nhảy chưa đẹp. Điều quý nhất là chúng ta còn muốn hát cho nhau nghe. Còn muốn nghe một người bạn hát. Còn muốn vỗ tay. Còn muốn cười. Còn muốn đứng lên khiêu vũ. Đó chính là dấu hiệu của sự sống. Có những người dù còn trẻ nhưng tâm hồn đã mệt mỏi, già nua. Cũng có những người tóc đã bạc nhưng tâm hồn vẫn còn trẻ trung. Tuổi trẻ thật sự có lẽ không nằm ở số tuổi mà nằm ở nơi của con người trong việc tiếp tục yêu thương, tiếp tục vui sống và tiếp tục mở lòng với cuộc đời.
Sống ở Mỹ, chúng ta có rất nhiều điều kiện để sống một cuộc sống đầy đủ hơn. Đường sá rộng rãi, nhà cửa tiện nghi, bệnh viện hiện đại, con cháu có cơ hội học hành và thành đạt. Nhiều người trong chúng ta đã có một cuộc sống mà thời trẻ ở Việt Nam chưa bao giờ dám nghĩ đến. Nhưng càng sống lâu ở Mỹ, tôi càng nhận ra rằng có những thứ tiền bạc không mua được. Đó là những người bạn cũ. Là những tiếng hát quen. Là một buổi chiều ngồi cạnh những người có cùng một ký ức, cùng một miền quê. Là cảm giác khi nghe ai đó nhắc đến một con đường, một mái trường, một góc phố mà mình từng đi qua cách đây hơn nửa thế kỷ. Là giây phút một bài hát vang lên và mình bất chợt thấy mẹ, thấy cha, thấy tuổi thơ, thấy kỷ niệm hiện về.
Có lẽ đó cũng là lý do những cộng đồng người Việt ở Mỹ vẫn luôn cần những buổi gặp gỡ văn nghệ như thế này. Chúng ta không chỉ cần những hội đoàn để tổ chức công việc, không chỉ cần những buổi họp để bàn chuyện cộng đồng. Chúng ta còn cần những nơi để hát, để cười, để kể chuyện, để nhớ quê hương. Những sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” âm thầm giữ lại một phần văn hóa Việt Nam giữa đời sống Mỹ. Một bài hát Việt được cất lên, một câu chuyện về Huế được kể lại, một người bạn cũ được gặp lại, tất cả đều góp một chút vào việc giữ cho ký ức của một thế hệ không bị mất đi.
Bởi thế hệ của chúng tôi là một thế hệ đã đi qua rất nhiều biến động. Chúng tôi lớn lên trong chiến tranh, trưởng thành trong những năm tháng đầy khó khăn, rồi rời quê hương đến một đất nước xa xôi để bắt đầu lại cuộc đời. Có người đi bằng máy bay, có người trải qua những ngày tháng gian nan trên biển, có người đến Mỹ với hai bàn tay gần như trắng. Chúng tôi đã học cách thích nghi với một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới, một cuộc sống mới. Chúng ta làm việc, xây dựng gia đình và nuôi con. Nhưng dù đã sống ở Mỹ bao nhiêu năm, trong tâm hồn chúng ta vẫn có một phần Việt Nam không thể thay thế. Và Huế là một phần như thế.
Huế không chỉ nằm trong những trang sách lịch sử. Huế nằm trong những bài hát. Huế nằm trong giọng nói của người bạn. Huế nằm trong cách chúng ta gọi tên nhau. Huế nằm trong những kỷ niệm tưởng như rất nhỏ. Đôi khi chỉ là một cơn mưa. Một hàng cây. Một chiếc xe đạp. Một buổi tan trường. Một ly cà phê. Một người con gái mặc áo dài đi ngang qua. Một người mẹ đứng trước cửa chờ con về. Những điều ấy, khi còn trẻ, chúng ta không biết rằng một ngày nào đó chúng sẽ trở thành gia tài của ký ức.
Bây giờ chúng ta đã ở tuổi quá 70. Những người thân của thế hệ trước phần lớn đã không còn. Những người bạn cũ ngày càng ít đi. Mỗi lần nghe tin một người bạn qua đời, chúng ta lại thấy vòng tròn của mình nhỏ hơn một chút. Vì vậy, mỗi lần có dịp gặp nhau, tôi càng trân trọng hơn. Nhìn hơn ba mươi người bạn ngồi bên nhau trong buổi chiều hôm ấy, tôi không nghĩ đó chỉ là những người đến dự một chương trình văn nghệ. Tôi nghĩ đó là 34 câu chuyện của một thế hệ. 34 cuộc đời. 34 vùng trời ký ức. Và trong vài tiếng đồng hồ, tất cả đã gặp nhau dưới một mái nhà ở Walnut Creek.
Có lẽ sau này, khi một trong chúng ta không còn nữa, những người còn lại sẽ vẫn nhớ đến buổi chiều hôm ấy. Có thể sẽ nhớ một bài hát. Có thể nhớ một người bạn đã cười rất vui. Có thể nhớ một đôi bạn đã cùng nhau khiêu vũ. Có thể nhớ tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Có thể nhớ giọng nói của các MC. Và cũng có thể nhớ người đã tổ chức, chị Thanh Huệ. Những kỷ niệm như thế tưởng rất nhỏ, nhưng càng về lâu càng trở nên quý giá.
Khi đồng hồ gần 7 giờ tối, chương trình kết thúc. Mọi người bắt đầu thu dọn, chào nhau và ra về. Có những người còn đứng lại nói chuyện. Có người hẹn lần sau gặp lại. Tôi nhìn theo những bước chân chậm rãi của bạn bè mà trong lòng bỗng thấy thương. Thương cho những người đã đi một đoạn đường thật dài của cuộc đời. Thương cho những người đã mất đi nhiều người thân yêu. Và cũng thương cho chính mình, bởi chúng ta đều biết thời gian không còn nhiều như trước.
Nhưng thay vì buồn, tôi lại thấy biết ơn. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn gặp nhau. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn nghe được tiếng nhạc. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn có thể hát. Biết ơn vì trong một đất nước rộng lớn như Hoa Kỳ, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những người bạn cùng quê, cùng thế hệ, cùng ký ức để ngồi lại bên nhau. Và trên hết, biết ơn vì chúng ta vẫn còn có một nơi để nhớ về.
Buổi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đã kết thúc, nhưng có lẽ không ai thật sự muốn nó kết thúc. Bởi những buổi chiều như thế này không chỉ được tính bằng số giờ từ lúc bắt đầu đến lúc 7 giờ tối. Nó được tính bằng số kỷ niệm mà mỗi người mang về. Một bài hát có thể kéo dài vài phút, nhưng ký ức mà nó đánh thức có thể kéo dài cả một đời người.
Đêm hôm ấy, khi trở về nhà, có lẽ nhiều người vẫn còn nghe tiếng đàn vang đâu đó trong trí nhớ. Có lẽ vẫn còn nhớ những bài hát về Huế. “ Mưa Trên Phố Huế”, “ Bài tình Ca Xứ Huế”, “Huế Xưa”…Có lẽ vẫn còn nhớ nụ cười của người bạn bên cạnh. Và biết đâu, trước khi đi ngủ, mỗi người lại một lần trở về với Huế của riêng mình.
Tôi cũng vậy. Tôi trở về với một Huế rất xa, một Huế của những ngày còn trẻ. Một Huế có những người thân mà bây giờ chỉ còn trong ký ức. Một Huế có những người bạn mà có lẽ cả đời này cũng không thể gặp lại. Một Huế mà mỗi lần nhớ đến, lòng vừa vui vừa buồn. Buồn muốn khóc.
Nhưng tôi hiểu rằng mình may mắn. Bởi không phải ai cũng còn có một quê hương để nhớ. Không phải ai cũng còn có những người bạn để cùng hát. Và không phải ai cũng có cơ hội, ở tuổi ngoài 70, được ngồi giữa những người bạn, nghe tiếng đàn, nghe tiếng hát, cười với nhau và một lần nữa sống lại thời tuổi trẻ.
Cảm ơn chị Thanh Huệ đã tổ chức “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy. Cảm ơn nhạc sĩ Nguyễn Tươi với tiếng đàn đã mang lại sức sống cho buổi chiều. Cảm ơn các MC đã làm cho chương trình thêm vui tươi và gần gũi. Và cảm ơn tất cả những người bạn đã có mặt. Mỗi người đến mang theo một câu chuyện, một ký ức, một nỗi nhớ, nhưng khi ra về, chúng ta đã có thêm một kỷ niệm chung. Và chắc chắn không thể không cảm ơn Vành Khuyên, người con của một mối tình đẹp của người chú Lê Khắc tài hoa, người em gái photographer dể thương luôn có mặt với mấy chú mấy bác với những tấm hình kỷ niệm tuyệt đẹp Có lẽ đó là món quà đẹp nhất của tuổi già, không phải có thêm bao nhiêu nhà cửa tiền bạc, mà là có thêm những kỷ niệm đẹp để nhớ.
Và nếu có ai hỏi tôi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy có gì đặc biệt, tôi sẽ không nói đó là một chương trình văn nghệ hay một buổi dạ vũ. Tôi sẽ nói rằng đó là một buổi chiều mà 34 người bạn đã tạm quên tuổi tác để trở lại làm những chàng trai, những cô gái của ngày xưa, một buổi chiều mà tiếng hát đã đưa những người xa quê trở về với Huế, một buổi chiều mà những người Việt ở Mỹ đã tìm thấy nhau giữa một đất nước rộng lớn; và một buổi chiều mà chúng tôi nhận ra rằng, dù thời gian có lấy đi rất nhiều thứ, vẫn có những điều không bao giờ mất. Đó là tình bạn. Đó là âm nhạc. Đó là ký ức. Và đó là quê hương.
Buổi chiều đã khép lại lúc 7 giờ tối nơi Walnut Creek. Nhưng trong lòng những người bạn, có lẽ một buổi chiều khác vẫn đang tiếp tục, một buổi chiều có tiếng đàn, có tiếng hát, có những bước chân khiêu vũ và có một dòng Hương Giang lặng lẽ chảy qua miền ký ức. Chiều Nhớ Huế lần thứ bảy đã qua. Nhưng Huế thì vẫn còn đó. Và chúng ta, những người đã đi hơn bảy mươi năm của một đời người như tôi, vẫn còn may mắn được cùng nhau nhớ Huế, nhớ nhau và nhớ một thời tuổi trẻ.