Ở ĐÂY KHÔNG CÓ TIẾNG VE SẦU

Crematorium (Nhà hoả thiêu) là một dinh thự vuông vắn nằm im lìm trong nghĩa trang Père Lachaise mênh mông rợp màu xanh lá. Père Lachaise là nghĩa trang lớn nhất thủ đô nước Pháp, có diện tích 44 hec ta với 4 mặt phố bao quanh, chia làm nhiều khu. Giao lộ rải đá rải nhựa giữa các khu đều được gắn biển ở đầu đường không khác gì mà y hệt biển tên phố xá, từ khuôn khổ, màu sắc cho tới kiểu chữ. Không có biển tên thì dễ đi lạc lung tung không tìm được đường ra. Vì sự giống nhau ấy mà Père Lachaise được thiên hạ mệnh danh là Thành phố Của Người chết.
Là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của Paris, Père Lachaise thu hút trung bình hằng năm ba triệu du khách. Thế là nhiều lắm. Không một nghĩa trang nào trên thế giới thu hút nhiều người viếng thăm đến thế. Père Lachaise được du khách yêu mến đặt cho cái tên gọi không ngoa chút nào là “Bảo tàng nghệ thuật ngoài trời”. Ở đây có rất nhiều tượng đồng tượng đá được những điêu khắc gia bậc thầy tạo tác trên các nấm mồ. Père Lachaise còn là nơi yên nghỉ của các danh nhân: Chopin, Moliere, Balzac, Oscar Wide…, không ngớt được người hâm mộ đến viếng.
Tôi quen lối tới Crematorium vì đã tới đây nhiều lần để chia tay với bè bạn. Ở tuổi tôi họ ngày một hiếm dần. Tòa nhà này khá lớn, có tầng trên tầng dưới, mỗi tầng có nhiều phòng, có điều phòng nào cũng nhỏ, diện tích không lớn hơn phòng trọ sinh viên. Thành thử nhiều khi thân nhân đã đứng chật phòng tang lễ thì người đi đưa chỉ nhoáng nhoàng rẽ vào vài phút từ biệt người quá cố rồi kéo nhau ra sân tán dóc.
Thời gian cho một đám tang cũng chóng vánh. Ai đó trong những người ruột thịt hoặc bè bạn thân thiết sẽ đọc điếu văn, người viếng theo chân nhau đi một vòng quan tài, bùi ngùi nhìn thêm một lần bức chân dung người quá cố, sờ thêm một lần vào tấm ván thiên. Đến lúc ấy một nhân viên nhà táng vận đồ đen tề chỉnh mới xuất hiện, đi những bước nhẹ nhàng tới bức tường cuối phòng, trang nghiêm và trịnh trọng nhấn nút cho quan tài chui vào một cái cửa vuông vừa mở ra. Một bản bản nhạc ảo não và quen thuộc cất lên. Quan tài sẽ theo bằng chuyền đi tới một nơi không ai thấy, ở đó cả quan tài và người nằm trong sẽ biến thành tro.
Thế là xong.
Tôi chỉ nghe nói chứ không rành chuyện an táng ở Père Lachaise. Năm 1804, khi khai trương nghĩa trang mang tên linh mục tư tế của vua Louis XIV là Francois d’Aix de la Chaise mới có vài ngôi mộ. Ngày nay đã có 70.000 ngôi, trong đó có mộ mấy chiến binh Việt đã hy sinh để bảo vệ nước Pháp trong cuộc kháng chiến chống Đức. Được an táng ở Père Lachaise là một vinh dự. Nghe nói người giàu cũng có thể được chôn cất ở đây nếu trả cho thành phố nhiều tiền. Nhiều là bao nhiêu tôi không biết, nhưng chắc là nhiều lắm, theo cách nói của ta là tiền tấn.
Thân xác được hoả thiêu ở Crematorium không có nghĩa là tro cốt sẽ được ở lại Père Lachaise. Thông thường người ta chỉ dùng hoả thiêu như một dịch vụ. Xong việc, thân nhân nhận bình tro rồi muốn làm gì thì làm. Theo di nguyện của người chết, nó có thể được rắc xuống sông, xuống biển hoặc xuống vườn cây vườn hoa. Muốn được đặt vào một ngăn trong bức tường dày ở kế bên Crematorium thì phải đóng tiền, mà không ít. Người Pháp không có tục để tro cốt trong nhà.
Tôi kể tỉ mỉ về nghĩa trang Père Lachaise và khu Crematorium để các bạn có dịp tới Paris đến thăm nó – một địa điểm du lịch không nên bỏ qua. Nó có liên quan tới tình bạn của tôi với hoạ sĩ Trần là nhân vật trong chuyện tôi sẽ kể.
2
Ông Niko ngồi lặng lẽ, mũ dạ đen đặt trên đùi, lơ đãng nhìn quanh, vuốt mái tóc bạc bù xù theo thói quen, rồi ghé vào tai tôi:
– Chúng ta chỉ có ba người thôi à?
– Vâng – tôi đáp khẽ.
Tôi quen Niko. Ông là người thường nhận tranh của Trần mang đi bán ở chợ Monmartre.
Ngồi ở một góc khuất là Yvonne, một cô gái lỡ thì xinh đẹp, đầu cúi thấp, mái tóc xoã xuống mặt, một hình hài bị nỗi đau khổ đánh gục.
– Bạn tôi có ông đến là vui rồi – tôi thì thào – Nếu Trần còn biết vui, ở một thế giới khác.
Niko nén hơi thở dài:
– Ông ấy không phải người của thế giới này.
Trần sống cô độc trong một căn phòng hẹp áp mái, người Pháp gọi là “phòng con sen” (chambre de bonne).
Trong nơi ở của anh toàn tranh – tranh trên tường, tranh dựa tường, tranh trên sàn, chỉ chừa diện tích vừa đủ cho một cái sô pha xộc xệch, vải bọc đã sờn và bạc phếch, điểm vài miếng vá bằng băng keo. Đến thăm anh, tôi phải len lỏi giữa những bức tranh đủ mọi khuôn khổ, vuông có, chữ nhật có, cái to cái nhỏ, cái vẽ theo chiều ngang, cái theo chiều dọc. Căn phòng sực mùi sơn dầu và mùi quần áo lâu ngày không giặt.
– Cậu sống mãi thế này không được – tôi trách anh – Cậu cần có một người đàn bà, một cái bếp, nói tóm lại – một gia đình. Như mọi người.
Anh hấm hứ:
– Mỗi người có một cách sống. Đừng xúc phạm tớ, nếu cậu còn muốn tớ coi cậu là bạn.
Tôi còn muốn là bạn Trần. Tôi im.
Chúng tôi có chung quá khứ từ những năm xa lắc xa lơ, khi cả hai còn mải đánh khăng đánh đáo. Thế rồi thời thế tách đất nước làm đôi, tách luôn chúng tôi mỗi đứa một nẻo. Tôi đến Pháp đi học, đi làm, lấy vợ Pháp, rồi ở lại hẳn. Trần lưu lạc qua Hongkong, được nước Pháp nhận cho tị nạn.
Tôi tình cờ gặp anh ở Père Lachaise. Chả là tôi ở đường Phillips Auguste, sát bên nghĩa trang. Tôi hay vào đấy đi bách bộ thay cho thể dục. Chúng tôi nhận ra nhau, mừng khôn tả. Trần giữ nguyên những nét thơ ngây của thuở học trò dù tóc đã điểm sương.
Người bạn năm xưa của tôi cuống quýt xếp giá vẽ lại, kéo tôi ngồi xuống bên nấm mồ có đứa bé bằng đá say sưa ngủ với gương mặt thiên thần. Hoá ra anh thường đến đây để ký hoạ những bức tượng đẹp.
Trần tâm sự:
– Tớ là thằng autodidacte (tự học). Tớ thích vẽ là vẽ, chẳng học ai, cũng chẳng ai dạy tớ. Cho nên tớ là thằng thất học. Cậu nhớ thằng Nhân không? Nó đã là một hoạ sĩ danh tiếng rồi đấy, chuyên về tranh thuốc nước. Tớ đến nó, hy vọng được nó chỉ dẫn. Nó phán độc một câu: “Hãy nhớ lời Tô Ngọc Vân: thấy thế nào vẽ thế ấy”. Tớ làm theo lời khuyên ấy. Tớ vẽ như tớ thấy.
– Rồi sao?
– Tô Ngọc Vân đúng. Chỉ thấy thế nào vẽ thế ấy mới có thể là hoạ sĩ. Không thể vẽ bằng mắt người khác. Không có tiền thuê mẫu sống thì tớ đến đây học bằng mẫu chết. Gì thì gì cũng phải kinh qua hình họa cơ bản, nó là cái tớ rất thiếu.
Tôi tò mò:
– Ngọn gió nào đưa cậu tới Paris?
Anh cười hì hì:
– Chẳng có ngọn gió nào hết. Tớ chán, tớ đi.
– Cậu chán cái gì? Chán chế độ?
– Một câu hỏi chính trị. Tớ phát ngán với những câu hỏi như thế. Tớ không quan tâm chế độ. Khi ở trại tị nạn Hongkong người của cơ quan di trú Pháp cũng hỏi tớ đúng cái câu cậu hỏi, nhưng rõ ràng hơn: “Ông chống lại đảng cộng sản, ông bị trấn áp ?” Tớ nói: “Tôi chống nó làm quái gì. Việc nó nó làm, việc tôi tôi làm. Bực mình với nó thì có, mà có nhiều. Tôi không thích cái lối nửa đêm bị dựng dậy để hỏi tôi ngủ một mình hay hai mình”?
Tôi bật cười. Anh cũng cười, hồn nhiên.
– Cứ như thể có một cô gái ngủ cùng là tớ có tội. Chán nhất là những cuộc họp. Liên miên. Không có mặt không được. Và họp cái gì thì kết quả là phải gật, không gật không được. “Kẻ nào không theo ta là kẻ đó chống ta”, ông vua nước ta dạy thế. Có mà rồ mới không sợ ông ấy. Láng cháng là đi tù. Khổ nhất là cái sự phát biểu. Tớ không biết phát biểu. Mà phát biểu cái gì cơ chứ? Người ta giục thì tớ nói: “Tôi đồng ý với mọi phát biểu rồi mà”. Anh chàng làm hồ sơ cho tớ cười toác: “Có những chuyện như thế sao?” Tớ gật. Anh ta suy nghĩ một phút rồi ký toẹt vào giấy, cho tớ đi Pháp.
Tôi cũng cười. Người Pháp thật dễ tính.
Khi mới định cư ở Paris, Trần xách giá vẽ lên đồi Monmartre. Ở đó có một cái chợ. Trong chợ có một dãy hoạ sĩ chuyên nghiệp và hoạ sĩ tay ngang chuyên vẽ tranh truyền thần. Làm nghề này không thể giàu, chăm làm, vẽ giỏi, đông khách, thì sống được, tuy không phong lưu.
Ngồi ở đấy ít lâu anh bỏ, vì lẽ gì tôi không biết, anh không nói. Anh sống bằng cách bán tranh qua ông Nikossian, một hoạ sĩ già người Armenie, kém tay nghề, ít khách, nhưng tốt bụng. Ông tự đặt cho mình cái tên rút gọn là Niko, nó dễ nhớ hơn cho người Pháp. Thỉnh thoảng ông rẽ vào thăm anh để thanh toán tiền bán tranh và tha đi những bức tranh sẽ bán.
Niko nói về tranh của Trần:
– Trong các nghệ thuật, hội hoạ là thứ khó hiểu nhất, nói là lăng nhăng nhất cũng được. Picasso là một thí dụ. Tranh Picasso không phải ai cũng hiểu. Nhưng có sự ca tụng Picasso bắt nguồn từ sự không hiểu ấy. Ông chớ chê tranh ông Trần. Ông ấy vẽ lạ lắm, chẳng thuộc trường phái nào, chẳng dừng lại ở chỗ nào, mỗi lúc vẽ mỗi khác. Trần là người suốt đời đi tìm, mà chẳng bao giờ thấy cái mình muốn.
Ông dừng lại, mặt ngẩn, suy nghĩ. Rồi như chợt nhớ mình đang nói gì, ông chậm chạp nhồi thuốc vào cái tẩu sứt sẹo đã lên nước, nói tiếp:
– Thế mà tranh của ông ấy cũng có khách mua đấy. Tôi đồ rằng chúng có sức mạnh khó hiểu cuốn hút những con mắt tinh đời, hay gọi là những con mắt dở hơi cũng được, tùy cách đánh giá. Tôi không hiểu thì người khác hiểu.
Tôi lẳng lặng nghe. Tôi hiểu tâm trạng người già. Người già thích triết lý vụn.
– Có bận tôi bán được một bức tranh của ông ấy mà tôi không tài nào hiểu nổi ý nghĩa của nó: một người đàn ông với cặp mắt to, đen ngòm và trống rỗng như hai hố mắt đầu lâu, hai tay xiết chặt một người đàn bà mơ hồ. Đôi tay rất lạ, dài thòng, giống hai sợi thừng xoắn lại. Nể ông ấy, thương ông ấy thì đúng hơn, tôi xách đi, chứ không hy vọng bán được. Thế mà rồi cũng có người mua, mới kỳ.
– Một may mắn?
– Không phải – Niko lắc – Ông khách kỳ lạ này đứng ngẩn người ngắm nghía bức tranh hồi lâu rồi bỏ đi, lát sau lại quay lại, không biết mấy lần. Rồi hỏi mua. Tôi nói giá, ông ta giơ hai tay ôm đầu kêu trời, sao rẻ thế. Và móc túi trả gấp đôi.
– Tôi cũng không hiểu tranh của ông Trần.
– Người mua tự xưng là một hoạ sĩ, nằng nặc đòi tôi cho ông ta gặp tác giả bức tranh – Niko trầm ngâm – Tôi từ chối. Bạn ông là một người kỳ quặc. Ông Trần không thích giao thiệp với ai.
– Tính ông ấy thế. Hơi gàn.
Niko nhìn tôi như lườm:
– Tôi không thể nói thế. Trần rất cần được yên tĩnh, một mình, không bị quấy rầy. Ông ấy sống bằng ý nghĩ, vẽ bằng ý nghĩ.
– Nhưng ông vẫn đến thôi?
– Tôi là ngoại lệ. Hồi ông ấy mới tới Monmartre chúng tôi ngồi cạnh nhau. Về ngón truyền thần, ông ấy kém. Thói đời nó thế – thiên hạ thích tranh truyền thần phải đẹp hơn thực. Không có khách đặt thì đói dài. Nhưng về tranh siêu thực thì không ai theo ông ấy được. Những mảng màu, những nét cọ bay bướm, rất khó hiểu, nhưng đẹp. Biết ông ấy đói, tôi san sẻ bữa ăn với ông ấy. Chúng tôi trở thành bạn.
Tang lễ kết thúc. Niko đứng lên, vặn mình cho đỡ mỏi, xương kêu lục cục.
– Ai sẽ ở lại nhận bình tro? – ông nhìn tôi.
Tôi hất hàm chỉ Yvonne.
– Cô ấy sẽ đợi.
Nhìn ông già ôm chặt cô gái, lấy ngón trỏ âu yếm quệt giọt nước mắt lăn trên má cô, rồi nhẹ nhàng vỗ vỗ vào lưng cô, như cách người cha với con gái. Cử chỉ ấy làm tôi ngạc nhiên – hoá ra Niko thân với Yvonne. Giữa họ có một tình bạn mà tôi không biết.
3
Tôi gặp Yvonne không ít lần ở căn phòng của Trần.
Tôi không biết gì về cô. Tôi không hỏi. Trần không nói. Cô là một mặc nhiên. Cô đến, lục cục trong cái bếp tí xíu bên cạnh cái toa lét cũng tí xíu như thế, làm bữa cho Trần. Trong khi Trần lười biếng khều từng miếng thức ăn trong đĩa đặt trên cái bàn xếp, thì cô ngồi bên anh, tay chống cằm, ngắm bức tranh mới vẽ xong.
Tôi nhìn cái sô pha hẹp. Không hiểu hai người yêu nhau cách nào trên cái diện tích ấy.
Yvonne chẳng mấy chú ý tôi. Cô đến đây với Trần. Ngoài anh ra, cô chẳng chú ý đến cái gì khác. Tôi thừa khi họ bên nhau.
Tuy nhiên, hoạ hoằn giữa tôi và Yvonne cũng có một đối thoại ngắn.
– Anh thấy bức này thế nào? – Yvonne hỏi để mà hỏi, không chờ câu trả lời.
– Được đấy – tôi nói để mà nói – Tôi không phải nhà phê bình hội hoạ. Trong lĩnh vực này tôi là kẻ ngoại đạo.
Trần cười mỉm.
– Tôi thấy nó thật tuyệt – Yvonne nói, cách phản bác – Ông không thấy nó đẹp à?
Tôi bực mình. Cô không phải cô giáo. Tôi không phải học trò cô.
– Tôi không đến xem tranh. Tôi đến thăm bạn.
– Đã xong đâu, em – Trần nói để xoá đi âm sắc hơi gay gắt của tôi, anh nghiêng đầu nhìn bức tranh – Anh chưa hài lòng với nó. Còn thiếu một cái gì đó mà anh chưa biết là cái gì.
Yvonne nguýt Trần:
– Anh bao giờ chả thế. Cái gì với anh cũng chưa xong, chưa xong. Cho tới khi Diko đến tha nó đi, không cho anh vẽ thêm.
4
Niko gọi điện cho tôi. Đó là sự lạ. Tôi không nhớ đã cho ông số điện thoại khi nào.
– Tôi có việc muốn hỏi ý kiến ông.
– Ông cứ nói.
Đầu dây bên kia im lặng, ngập ngừng.
– Có chuyện khó nói sao? Chúng ta có một người bạn chung. Thế là đủ để chúng ta là bạn của nhau.
– Thế này: tôi sẽ đi Việt Nam.
– Việt Nam là một nơi nên đến, một đất nước kỳ diệu – tôi không biết Niko tại sao lại đùng đùng muốn đến Việt Nam – Khi nào ông đi?
– Nếu đi thì ngay tuần sau.
– OK. Vậy điều ông muốn hỏi tôi là gì? Có một chữ “nếu”. Tức là ông vẫn chưa quyết?
– Vì thế tôi muốn hỏi ông.
Tôi sốt ruột:
– Ông hỏi đi.
– Tôi không phải là người dư dả để hứng lên thì xách va li đi du lịch – Niko ngập ngừng một giây rồi mới tiếp – Là Yvonne rủ tôi đi.
Tôi ngạc nhiên thật sự. Yvonne đi Việt Nam làm gì? Chắc hẳn chuyến đi mà cô nghĩ ra có liên quan tới cuộc đời của Trần.
– Ra là thế – tôi nói. Giữa bạn tôi và Yvonne có một mối tình. Hơi kỳ quặc, nhưng là có. Từ sau đám tang, tôi không gặp lại cô ấy.
– Yvonne chỉ thân với tôi thôi. Những lần tôi mang đi nhiều tranh thì cô ấy giúp tôi một tay. Ở chợ Monmartre tôi và Yvonne có nhiều thời giờ trò chuyện. Về hội hoạ và những thứ khác. Nhất là về ông Trần. Cô ấy không chỉ yêu. Cô ấy si mê. Rất có thể cô ấy mới là người hiểu ông Trần. Không phải tôi. Không phải ông.
Tôi gật. Điện thoại không chuyển đi cái gật ấy, nhưng Niko hiểu.
– Yvonne sẽ mua vé cho tôi. Mà tôi không muốn. Tôi không muốn ai bỏ tiền cho tôi vì bất cứ điều gì.
Tôi băn khoăn. Tôi không biết nên nói sao.
– Nếu Yvonne làm thế có nghĩa là cô ấy làm được.
– Tôi hiểu chứ. Cô ấy là một bác sĩ nha khoa. Ở nước Pháp này đó là một nghề kiếm bộn tiền.
– Thì ông cứ đi – tôi nói nước đôi – Nếu Yvonne cần có ông đi cùng. Cô ấy tin tưởng ông.
– Cô ấy đi thì tôi hiểu được. Nhưng tôi đi để làm gì chứ?
Đến lượt tôi ngần ngừ.
– Làm sao tôi biết được. Có thể Yvonne muốn tìm gia đình ông Trần. Có thể cô ấy muốn chuyến đi sẽ mang lại cho cô ấy những gì chưa biết về ông ấy.
– Vậy tôi đi nhé? – tôi nghe thấy một tiếng thở ra hài lòng – Ông đồng ý thì tôi yên lòng. Chứ tôi ngại.
– Lên đường vui vẻ nhé! Khi về kể chuyện tôi nghe.
– D’accord[1].
5
Dưới đây là lời Niko kể cho tôi nghe sau chuyến đi:
“Việt Nam là một đất nước kỳ diệu, đúng như ông nói. Nó có đủ mọi thứ cuốn hút người phương xa – những buổi bình minh rực rỡ, những hoàng hôn choáng ngợp, đầy màu sắc biến hoá không phải từng phút mà từng giây. Nhưng chỉ những ai ở biển mới được thấy cảnh đẹp phù thuỷ này. Salvador Dali, hay Jean Miro mà đến đây thì trong gia sản hội hoạ của họ còn tăng lên gấp bội. Chứ ở các thành phố thì, ố là là, thì chỉ có thể thấy bụi khói thay sương mù thôi.
Chúng tôi may mắn được gặp một hoạ sĩ biết ông Trần. Chính ông dẫn chúng tôi ra biển. Ông ấy biết tiếng Pháp, tình nguyện làm thông ngôn trong suốt chuyến đi. Cái không may là ông ấy tưởng Yvonne cũng là một hoạ sĩ.
Ông ấy ngớ người ra khi nghe Yvonne nói là cô ấy cần thu âm tiếng ve sầu.
– Để làm gì, thưa cô?
– Tôi cần cái đó, rất cần cho tôi, thưa ông.
Ông hoạ sĩ gãi đầu:
– Thế thì ta phải chọn một nơi khác, không phải ở Hà Nội. Người ta đã chặt hết những cây to là nơi trú ngụ của ve sầu rồi. Nhưng không phải đi xa lắm đâu.
– Vậy ta đi đến đấy ngay, ông nhé?
Ông ấy lại gãi đầu:
– Tôi không có nghề ghi âm. Tôi không có cái máy ghi âm nào. Mà không thể đến gần con ve sầu để ghi giọng nó. Ve sầu ở trên cao. Chỉ cần một tiếng động mạnh là nó im bặt, hoặc bay đi.
Rốt cuộc, ông ấy cũng giúp được Yvonne thực hiện cái yêu cầu kỳ dị, nếu không nói là dở hơi , của cô ấy. Chúng tôi tìm được một kỹ sư âm thanh thất nghiệp của một xưởng phim đã chết. Ông kỹ sư đòi một giá trên trời. Ông hoạ sĩ ra sức thuyết phục mới được ông ta hạ xuống một phần ba. Mà như thế đã là nhiều lắm. Một thứ ném tiền qua cửa sổ.
– Yvonne cần tiếng ve sầu để làm gì? – tôi trợn mắt.
– Tôi cũng ngạc nhiên không kém ông. Tôi tưởng cô ấy rủ tôi đi để tìm gia đình ông Trần, để tìm hiểu cuộc đời trước kia của ông ấy. Hoá không phải.
Yvonne kể rằng cô muốn thực hiện mong ước cuối cùng của ông Trần, Niko kể tiếp. Thì ra là khi bệnh ông Trần trở nặng, Yvonne hỏi: “Anh muốn em làm gì cho anh bây giờ?”. Ông Trần bảo: “Em không thể làm được điều anh muốn đâu”. Yvonne gặng: “Thì anh cứ nói đi, biết đâu em làm được”. Ông Trần bảo: “Tự nhiên anh muốn nghe thêm một lần tiếng ve sầu. Trong ngụ ngôn La Fontaine có nói tới ve sầu, mà ở đây anh chẳng bao giờ thấy nó. Ngày còn nhỏ anh hay nằm dưới gốc cây để nghe tiếng ve sầu kêu ve ve rồi ngủ thiếp trong tiếng hát của nó”.
Tôi nói:
– Đường Charonne có nhiều cây cối đâu mà ông Trần đòi nghe tiếng ve sầu.
Niko gật:
– Thì thế! Khi sắp lìa đời, người ta hay có những ước mong lạ thường. Tôi chẳng biết khi tôi chết tôi sẽ muốn cái gì?
– Ông còn sống lâu.
– Ai biết trước được ngày mình sẽ chết.
Tôi lảng tránh cái đề tài u ám.
– Rồi Yvonne mang băng ghi âm về?
– Tất nhiên – Niko nói, mặt buồn rượi – Mục đích của cô ấy là thế – ghi được tiếng ve sầu. Cô ấy sẽ tới mộ ông Trần và bật cuốn băng cho ông ấy nghe. Cô ấy rủ tôi đi cùng, nhưng tôi từ chối. Tôi không muốn thăm bạn theo cách ấy – bạn không còn, giờ nằm dưới lòng đất. Tôi quên không nói: sau khi hoả thiêu, Yvonne mang bình tro về quê ở Normandie và lập một nấm mộ ở đấy trong gia trang của tổ tiên.
6
Chuyện đến đây là hết.
Nếu có thể nói thêm điều gì cho câu chuyện này thì tôi sẽ nói:
– Tôi yêu những người dở hơi. Thiếu họ, trái đất của chúng ta khô cằn lắm!
2015-2019
[1] Đồng ý (tiếng Pháp).
About the author
Leave Comment