NHỮNG BÀI THƠ CỦA NGÀY XƯA THÂN ÁI

BS Lê Văn Sắc

NHỮNG BÀI THƠ (BÀI HỌC THUỘC LÒNG) dưới đây là những bài còn nhớ, học từ sách Tân Quốc Văn Lớp Nhất của 3 thầy Trần Ngọc Chụ, Nguyễn Quý Bính, Hoàng Đình Tuất như các bài Đài Chiến Sĩ, Hận Nam Quan, Hận Sông Gianh, Ngày Tang Yên Bái, Làng Chài Lưới, Cháy Quê Hương, của tác giả Đằng Phương và các tác giả khác, lâu ngày, quên không nhớ hết được, tôi cố gắng nhớ lại, viết lại để tặng các bạn ngày xưa đã học sách Tân Quốc Văn ấy để nhớ lại thuở là học trò (cỡ từ năm 1950-1954) và tặng các bạn trẻ muốn tìm về một thời xa xăm mà các bạn chưa được học, chưa được trải qua, làm tài liệu tìm hiểu về quê hương ngày xưa và những công trình sáng tác của các nhà thơ đi trước…,

 

Sách Tân Quốc Văn Lớp Nhất của 3 thầy giáo Trần Ngọc Chụ, Nguyễn Quý Bính và Hoàng Đình Tuất được soạn và xuất bản tại Hà Nội khoảng năm 1950 gì đó, mà ngày học tiểu học ở Ngoài Bắc, tôi đã học thuộc lòng kể cả tên tác giả và chú thích (Dân Việt). Trước Tân Quốc Văn là bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư (không biết tên các tác giả, hình như của các cụ Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Dương Bá Trạc…) mà các người đi trước như Công Tử Hà Đông (Hoàng Hải Thủy), các học sinh thời BS Vũ Quí Đài, BS Đỗ Thị Nhuận, bà giáo Hoa Thu Đặng Thị Đức Hoan, GS Nguyễn Văn Canh, LS Lê Duy San, ký giả Phan Văn Chí, GS Lã Huy Quý, … có thể đã học qua… Quý vị nào nhớ được các vị đã học trước, xin vui lòng bổ túc cho đầy đủ, thành thật cám ơn…

 

Ngoài ra, có bài Mẹ Tôi của nhà thơ Dương Diên Nghị mà tôi đọc được từ tạp chí Quân Đội (Quốc Gia, Việt Nam Cộng Hòa cỡ năm 1955-1956), do Trung Tá Trần Ngọc Nhuận chủ biên, sau này ông là Thượng Nghị Sĩ, Quốc Hội (Thượng Viện) Việt Nam Cộng Hòa)… Ngoài ra, có cả bài hát LÀNG TÔI của thầy Chung Quân Nguyễn Đức Tiến, không có nhạc, chỉ có lời mà thôi, tôi cũng thêm vào để giới thiệu với các bạn học trò cũ và các em, các cháu sau này.

 

 

ĐÀI CHIẾN SĨ

Cạnh Hoàn Kiếm giữa nơi thành thị

Dựng một đài chiến sĩ vô danh.

Chân đài một giải cỏ xanh,

Cây cao, bóng cả rủ quanh nền đài.

Trạnh lòng nhớ những ai qua đó,

Trạnh nhớ người oai võ khi xưa,

Tuốt gươm linh dưới trăng thề,

Liều thân một dạ, tiếc gì non sông.

Bức dư đồ Bắc Trung Nam đó,

Đã nhờ ai còn có tới nay?

Khách du qua lại chốn này,

Dừng chân mặc niệm vài giây trước đài.

Vô Danh

LÀNG TÔI

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh.

Có sông sâu lờ lững vờn quanh

êm xuôi về Nam.

 

Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau.

Bóng tre ru bên mấy hàng cau.

Đồng quê mơ màng!

 

Nhưng than ôi!

Có một chiều Thu lá thu rơi.

Có một chiều Thu lá thu rơi.

Ôm súng nhìn quê, tôi thầm mơ bóng ngày về.

 

Mơ trông bóng ngày về.

Quê tôi chìm chân trời mờ sương.

Quê tôi là bao nguồn yêu thương.

Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn.

Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương.

 

Chung Quân

Nguyễn Đức Tiến

(1936-1988)

 

CHÁY QUÊ HƯƠNG

Lửa giông tố cháy ngang trời yêu dấu,

Mây điên cuồng phủ kín bóng quê hương

Khói âm u kết tụ tự mười phương,

Vế xiết chặt lũy tre già mộc mạc.

Mái nhà tranh ngậm ngùi trong tiếng khóc

Dòng sông xanh cuồn cuộn sóng thương đau.

Những cụ già tóc bạc nhất theo nhau

Những thiếu phụ lo âu, tràn mắt lệ.

Những hài nhi nép mình bên vú mẹ,

Khóc thất thanh đạn xé vỡ quê hương.

Ôi ngoài kia những trai tráng can trường

Đã ngã gục bên đường phơi xác đạn.

Lửa nghi ngút đốt ngang trời chiến loạn

Mây điên cuồng phủ kín bóng quê hương…

Khói âm u kết tụ tự mười phương,

Về xiết chặt lũy tre già mộc mạc…

Đằng Phương

(Dân Việt)

MẸ TÔI

Lá rụng thu sang một thuở nào,

Gió cành vút nhẹ khúc tiêu tao,

Mẹ ngồi bên cửa vời xa thẳm,

Ảnh tượng khô gầy nét khổ đau

Mẹ lắng nghe gì vẫn lặng im,

Tuổi già quằn quại héo con tim,

Mẹ tìm một bóng người con trẻ,

Chiều trước chia ly nhẹ xuống thềm.

Gót nhẹ con đi khuất nẻo thôn,

Mắt me mỏi ngóng, dạ me buồn,

Dằn lòng me nguyện thân nam tử,

Chiến địa kiên hàn, nỗi sắt son.

Thân con từ thuở dấn tràng chinh

Đã quyết theo đòi một hy sinh.

Nghĩa vụ mang đầy đôi vai yếu,

Đâu còn tưởng lại cảnh bình thanh.

Rồi từ thu ấy đến thu nay,

Sân hương nhạt dấu, lá khô đầy,

Vườn quê quạnh vắng, chim lười hót,

Đoái cảnh cô sầu, mẹ chẳng khuây.

Cánh nhạn đâu về me ước mơ,

Ngày mai vang dậy khải hoàn ca,

Non sông rực rỡ trời tươi thắm,

Vạn đứa con me rộn dưới cờ.

Bàng bạc thu sang lá đổi mầu,

Gió cành vút nhẹ khúc tiêu tao.

Song thưa bóng mẹ hiền muôn thuở,

Mãi đợi con về nuốt khổ đau.

Diên Nghị

(Quân Đội)

LÀNG CHÀI LƯỚI

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới,

Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.

Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng,

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã,

Phăng mái chèo lặng lẽ vượt trường giang.

Cánh buồm vươn to như mảnh hồn làng,

Dướn thân trắng bao la thâu góp gió.

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ,

Khắp dân làng tấp nập, đón ghe về,

Nhờ ơn trời biển lặng, cá đầy ghe,

Những con cá tươi ngon, thân bạc trắng

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,,

Cả thân mình nồng thở vị xa xăm,

Chiếc thuyền im bến mỏi, trở về nằm,

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vó.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ,

Mầu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi…

Tác giả?

NGÀY TANG YÊN BÁI

Gió căm hờn rên rỉ tiếng gào than,

Từ lưng trời sương trắng phủ màn tang,

Ánh mờ nhạt của bình minh rắc nhẹ

Trên Yên Bái âu sầu và lặng lẽ,

Giữa bốn hàng gươm sáng tỏa hào quang,

Mười bà liệt sĩ Việt hiên ngang

Thong thả tiến đến trước Đài Danh Dự…

Trong quần chúng, đứng cúi đầu ủ rũ,

Vài cụ già đầu bạc, lệ ràn rơi,

Ngất người sau tiếng rú: Hỡi con ơi!

Nét u buồn chợt mơ màng  thoáng gợn

Trên khóe mắt đã từng khinh đau đớn

Của những trang oanh liệt sắp lìa đời.

Nhưng! Chỉ trong giây phút vể tươi cười

Lại xuất hiện trên gương mặt người quắc thước.

Đã là kẻ hiến thân đền nợ nước,

Tình thân yêu, quyến thuộc phải coi thường,

Éo le thay muốn phục vụ quê hương

Phải dẫm nát bao lòng mình kính mến,,,

Nhưng này đây phút thiêng liêng đã đến

Sau cái nhìn chào non nước bi ai,

Họ thản nhiên lần lượt bước lên đài

Và dõng dạc buông tiếng hô hung dung

Việt Nam Muôn Năm! Một đầu rơi rụng,

Việt Nam Muôn năm! Người kế tiến lên,

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc…

Đằng Phương

(Dân Việt)

HẬN SÔNG GIANH

Đây sông Gianh, đây biên cương thống khổ,

Đây sa trường, đây nấm mộ trời Nam

Đây dòng sông, dòng máu Việt còn loang,

Đây cổ độ, xương tàn xưa chất đống

Sông còn đây, hận phân ly nòi giống,

Máu còn đây cơn ác mộng tương tàn,

Và còn đây hồn dân Việt thác oan,

Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận

Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn,

Muôn ngàn sau để hận cho dòng sông,

Mộng bá vương Trịnh Nguyễn có còn không?

Nhục nội chiến, non song còn in vết.

Đằng Phương

(Dân Việt)

HẬN NAM QUAN;

Con yêu quý chớ xuôi lòng mềm yếu,

Gác tình riêng vỗ cánh trở về Nam.

Con về đi tận trung là tận hiếu,

Đem gươm mài bóng nguyệt dưới.khăn tang

Nếu trời muốn cho nước ta tiêu diệt

Thì lưới thù sẽ úp xuống đầu xanh.

Không bao giờ, không bao giờ con chết.

Về ngay đi, rồi chí nguyện công thành.

Nghĩ đến cha một phương trời ảm đạm

Thì nghiến răng vung kiếm, quét quân thù.

Trãi con ơi! Tương lai đầy ánh sáng,

Cha đúng đây trông suốt được ngàn thu

Cha nói đến tương lai đầy ánh sáng,

Khiến lòng con bừng tỉnh một cơn mê

Quỳ lậy cha, cha lên đường ảm đạm,

Rồi Nam Quan theo gió con bay về.

Ôi sung sướng trời cao chưa nỡ tắt,

Về ngay đi, ghi nhớ Hận Nam Quan.

Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,

Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.

Đằng Sơn

(Dân Việt)

 

About the author
Leave Comment