Có hàm hồ khi nói rằng, Ấn độ chỉ đóng góp cho nhân loại, ngoài 2 bộ sử thi Mahabharata và Ramayana, Kamasutra thì chỉ còn các tác phẩm của Tagore? Tagore không chỉ là đại diện văn hóa tiêu biểu của Ấn Độ, ông còn là nhà thơ châu Á đầu tiên được trao giải Nobel Văn học. Ông sáng tác hơn 2.000 bài hát và sáng tạo nên Rabindra-sangeet – một thể loại âm nhạc Bengal mang tên ông. Vở kịch opera đầu tiên – Valmiki Pratibha – ông sáng tác khi mới 20 tuổi. Truyện ngắn và tiểu thuyết của ông giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Bengal. Và có lẽ ông là nhà thơ duy nhất trên thế giới đã sáng tác quốc ca cho cả hai nước: bài Amar Shonar Bangla cho Bangladesh và Jana Gana Mana cho Ấn Độ.

Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quí khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, con người với thiên nhiên. Ông góp phần thức tỉnh nhân dân Ấn Độ ý thức tự do dân chủ khi màn khói sương thần bí của tôn giáo bao phủ đất nước này trong suốt mấy nghìn năm. Những vần thơ của Tagore đã đưa người dân Ấn Độ chủ động đi tìm cái đẹp, hạnh phúc trong cuộc đời. Và cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Tagore và Einstein diễn ra vào năm 1930. Khi Einstein hỏi: “Ông có tin vào một đấng linh thiêng tồn tại biệt lập khỏi thế giới?”

Thi hào đã trả lời: “Tính người vô tận đủ để thấu hiểu cả Vũ trụ. Chẳng có gì nằm ngoài khả năng lĩnh hội của con người, như vậy Chân lý của Vũ trụ cũng là một Chân lý thuộc về con người. Khi vũ trụ hài hòa với Con người, cái vĩnh hằng, ta nhận ra đó là Chân lý, ta cảm thấy đó là cái đẹp. Chân lý vốn được nhận thức bởi con người. Trong mọi trường hợp, nếu có một Chân lý nào đó hoàn toàn không liên quan tới con người, thì đối với chúng ta nó tuyệt đối không tồn tại”. Với Tagore, con người có đủ phẩm tính để tiếp cận Chân lý và do đó đủ tư cách để làm chứng cho tính khách quan ấy.

Trong niềm ngưỡng vọng, Thượng Đế mang dáng dấp của đấng quyền năng tối cao thần bí xa xôi. Nhưng đối với Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn vui, nguồn an ủi, là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống, thân thuộc như ngôi nhà, cũng như đền chùa, trong các lễ hội, sinh hoạt… “Người ở nơi kia, nơi nông dân đang vật lộn cùng đất cứng, nơi công nhân đang xẻ đá làm đường… Người tự buộc mình mãi mãi với chúng ta. Người là bầu trời và cũng là tổ ấm. Ôi người đẹp vô ngần! Nơi ấy, trong tổ ấm tình yêu của người lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn.”

Con người trong sáng tác của Tagore không tìm cách chối bỏ cuộc đời, không rời khỏi cuộc sống nhân sinh để tìm đến sự giải thoát, cõi thanh tịnh, cõi vô cùng. Ngược lại, con người chủ động tìm đến với cuộc đời, chủ động thâm nhập vào cõi đời, khao khát được sống mãi trong hiện thực muôn màu muôn vẻ.

“Trẻ thơ gặp nhau trên bờ đại dương thế giới mênh mông. Trên cao bầu trời bao la bất động, phía dưới mặt nước nôn nao không ngừng… Trẻ thơ xây nhà bằng cát, chơi đùa với vỏ sò rỗng không. Lấy lá úa kết thành thuyền, trẻ thơ hớn hở thả trên mặt nước thăm thẳm, bao la.”

“Nàng gần tim tôi như hoa đồng nội cỏ gần đất lành, nàng dịu dàng với tôi như giấc điệp thân thương với tay chân thấm mệt, rã rời. Tình yêu tôi dành cho nàng là cuộc đời tôi sống, tuôn chảy tràn trề như dòng sông mùa thu chảy tuôn phóng túng thảnh thơi. Thơ tôi làm với tình yêu là một, na ná tiếng suối rì rào, nao nao theo sóng vỗ, ngun ngút theo dòng nước chảy trôi.”

“Có phải trái tim anh đã một mình phiêu du qua bao thời đại qua bao thế giới chỉ để tìm em? Có phải cuối cùng lúc anh tìm được em, niềm khao khát bao năm trong anh đã kiếm yên bình tuyệt đối trong mắt, trên môi, trên suối tóc chảy dài và trong giọng nói dịu dàng của em?”

About the author
Leave Comment