Hoa Kỳ Phủ Nhận Gây Phương Hại Cho Chính Phủ Syria

 

David Gollust 

(VOA) Hôm 18/4/2011, Hoa Kỳ phủ nhận việc tìm cách gây phương hại cho chính phủ Syria, nhưng thừa nhận rằng có cố gắng củng cố cho các tổ chức xã hội dân sự ở đó. Theo tường thuật của thông tín viên VOA David Gollust từ Bộ Ngoại Giao, các nhận định vừa nêu được đưa ra sau một bản tin trên báo chí nói rằng các nguồn tài trợ của Hoa Kỳ đã được gửi thẳng tới các phe phái đối lập ở Syria. 

(Hình VOA: Phát ngôn viên Mark Toner nói rằng Hoa Kỳ vẫn duy trì các liên hệ ngoại giao với Syria, và không tìm cách lật đổ ông Bashar al-Assad.) 

Các giới chức Bộ Ngoại Giao cho hay các nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm xây dựng một xã hội dân sự ở Syria tương tự như các chương trình đang được xúc tiến ở các nước khác, nhưng điểm khác biệt là chính phủ Syria của Tổng Thống Bashar al-Assad lại coi các cố gắng này có tính cách muốn lật đổ chính quyền.

Các nhận định được đưa ra để đáp lại một bài báo đăng trên tờ Washington Post hôm qua trích dẫn những bức điện ngoại giao của Hoa Kỳ nói rằng Bộ Ngoại Giao đã bí mật tài trợ cho các nhóm đối lập của Syria.

Báo này cho biết đã nhận được các bức điện của trang Web hoạt động WikiLeaks, là cơ quan đã tiết lộ những điện ngoại giao dường như của Hoa Kỳ từ hồi cuối năm ngoái gây khó khăn cho bang giao của Mỹ với nhiều nước.

Nghe nói các văn kiện bị tiết lộ đã khẳng định rằng tiền của Hoa Kỳ được chuyển cho đài truyền hình Barada, một kênh dây cáp thành lập bởi những người Syria sống lưu vong có liên hệ mật thiết với Phong trào Công lý và Phát triển chống ông Assad có trụ sở ở Luân Ðôn.

Tại một cuộc họp báo, Quyền phó phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mark Toner nhắc lại chính sách của chính quyền Obama là từ chối không bình luận về tính xác thực của các văn kiện bị tiết lộ theo như lời tố giác.

Nhưng, ông Toner nói rằng Hoa Kỳ vẫn duy trì các liên hệ ngoại giao với Syria, và không tìm cách lật đổ ông Bashar al-Assad.

Ông Toner cho biết: “Chúng tôi không tìm cách gây phương hại cho chính phủ đó. Điều chúng tôi cố gắng làm ở Syria, qua sự hỗ trợ xã hội dân sự, là xây dựng loại cơ chế dân chủ, mà nói cho ngay, đó là việc chúng tôi đang tìm cách thực hiện ở các nước trên toàn thế giới.”

Ông Toner so sánh chương trình ở Syria với sự trợ giúp mà Hoa Kỳ dành cho xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ ở Đông Aâu hồi thập niên 1970. Nhưng ông nói điểm khác biệt là chính phủ Assad lại “coi loại hỗ trợ này như một mối đe dọa cho sự tồn vong của chính phủ này.”

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết đã dành hơn 7 triệu Mỹ kim cho các chương trình xây dựng xã hội dân sự ở Syria kể từ năm 2005, mặc dầu báo Washington Post nói rằng các bức điện bị tiết lộ cho thấy số tiền chi vào việc này cao hơn nhiều.

Khi nhậm chức, chính quyền Obama ủng hộ việc giao tiếp với chính phủ Syria và đã đưa đại sứ Hoa Kỳ trở lại Damas lần đầu tiên kể từ năm 2005.

Nhưng trong những ngày gần đây, Hoa Kỳ ngày càng chỉ trích chính phủ Syria về cách đối xử tàn tệ với những người biểu tình.

Hôm qua ông Toner nói các cuộc biểu tình đó là “nhưng lời phản đối hợp pháp trước những năm cai trị tàn ác của chế độ Assad” và bắt buộc chính phủ Syria phải giải quyết “các nguyện vọng phổ cập của nhân dân họ.”

Ông không đi đến chỗ kêu gọi một sự chuyển quyền ở Syria, và nói rằng việc quyết định tiến độ và quy mô cải cách là tùy thuộc vào nhân dân nước này.

 

Cơn Ác Mộng của Kim Jong Il: Bị Dân Chúng Ném Đá 

Trọng Nghĩa 

(Hình REUTERS: Lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Il.) 

(VNC) Dù là nhà độc tài thét ra lửa, cai trị đất nước bàn tay sắt, nhưng phải chăng lãnh tụ tối cao Bắc Hàn Kim Jong Il vẫn sợ bị “quả báo”? Đó là câu hỏi mà người Châu Á có thể đặt ra sau khi biết rằng ngay cả trong giấc ngủ, ông cũng bị cảnh tượng bị người dân ném đá ám ảnh.

Trong một lời thú nhận hiếm hoi, nhân vật đang lãnh đạo Bắc Hàn cho biết là đêm nằm, nhiều khi ông đã bị ác mộng, trong đó không những ông bị người Mỹ, người Nam Hàn ném đá, mà còn bị chính người dân của ông trừng phạt theo kiểu đó.
 

Thông tin có thể nói là “tuyệt mật” này đã được ông Chung Mong Joon, một chính khách Nam Hàn tên tuổi, tiết lộ ngày 27/3/2011 vừa qua, trong một buổi phỏng vấn trên Đài Truyền hình Văn hóa MBC (Munhwa Broadcasting Corporation). Đây là một trong bốn đài phát thanh và truyền hình lớn nhất tại Nam Hàn. 

Là một Dân biểu, thuộc Đại Quốc Dân đảng đang cầm quyền tại Nam Hàn, ông Chung Mong Joon được coi là người có nhiều triển vọng ra tranh cử chức Tổng Thống nước này vào năm 2012. Điểm quan trọng là ông là con ông Chung Ju-Yung, người sáng lập Tập đoàn Nam Hàn Hyundai, từng tổ chức công cuộc hợp tác kinh tế giữa hai miền Nam và Bắc Hàn trong thời gian trước đây. 

Ông Chung Ju Yung đã nhiều lần đi thăm Bình Nhưỡng từ năm 1998 đến 2000 và được tiếp xúc với giới lãnh đạo Bắc Hàn. Chính trong một lần gặp gỡ như vậy mà lãnh đạo Kim Jong Il đã nói với ông Chung là thường hay bị một cơn ác mộng lập đi lập lại, trong đó ông Kim Jong Il trước tiên là bị người Mỹ, kế đến là người Nam Hàn, và sau cùng là bị người Bắc Hàn ném đá. 

Ông Chung Ju Yung đã kể lại giai thoại này cho con mình nghe trước khi qua đời vào năm 2001. Kim Jong Il cũng nói với ông Chung Ju Yung rằng ông “hoàn toàn nhận thức rõ” là ông không hề được đồng bào của ông yêu mến, bất chấp các chiến dịch tuyên truyền rộng lớn mà ông đã tung ra. 

Từ năm 1948 đến nay, đất nước Bắc Hàn đã phải liên tục sống dưới bàn tay sắt của “triều đại nhà Kim”, thoạt đầu là Kim Nhật Thành (Kim Il Sung), lãnh đạo quốc gia này từ ngày thành lập vào đầu năm 1948, rồi sau đó là Kim Jong Il, con trai ông, mặc nhiên lên thay cha sau khi ông qua đời năm 1994. Trong suốt thời kỳ này, bất kỳ nỗ lực phản đối nào cũng đều bi loại bỏ. 

 
Cuba Mở Rộng Kinh Tế Để Cứu Vãn Mô Hình Xa Hội Chủ Nghĩa. 

Thanh Hà 

(Hình REUTERS: Một người dân chạy xe ba bánh chở một con heo trên đường phố thủ đô Havana, ngày 1/4/11. Buôn bán nhỏ đang được Nhà nước Cuba khuyến khích.) 

(VNC) Hơn 30 năm sau Trung Quốc và 25 năm sau Việt Nam, đến lượt Cuba tiến hành công cuộc cải tổ kinh tế. Lần đầu tiên từ năm 1968 người dân Cuba từng bước làm quen lại với khái niệm “sở hữu tư nhân”. Cũng lần đầu tiên cả một thế hệ dưới 50 tuổi không còn có thể trông chờ vào sổ mua hàng để được cấp nhu yếu phẩm hàng tháng.  

Sau 50 năm ngủ vùi trong một chế độ mà tất cả các hoạt động kinh tế tập trung cả trong tay nhà nước, hơn 80 % người trong tuổi lao động là các công nhân viên chức nhà nước, dư luận Cuba đón nhận kế hoạch cải tổ của chính quyền Havana như thế nào? 

Nới rộng hoạt động của khu vực tư nhân, cắt giảm nhân sự trong guồng máy hành chính nhà nước, cởi trói cho một nền kinh tế tập trung: Đại hội Đảng Cộng sản Cuba lần thứ VI vừa thông qua kế hoạch đổi mới kinh tế để “cập nhật hóa” mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa đã được áp dụng từ cuối thập niên 60 thế kỷ trước. 

Đại hội Đảng VI chính thức khép lại vào tối 19/4/2011. Một ngàn đại biểu từ ngày hôm qua đã thông qua chương trình cải tổ kinh tế bao gồm trên 300 điều khoản do Chủ Tịch Raul Castro đề xướng. Trong tiến trình cập nhật hóa mô hình kinh tế này thì Đảng Cộng sản Cuba nhấn mạnh: Đó là một con đường mà ở đó “Kế hoạch hóa vẫn được ưu tiên, tuy nhiên xu hướng thị trường cũng sẽ được xem xét… Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có khả năng vượt qua những khó khăn để duy trì những thành tựu của Cách Mạng”

Trên thực tế, theo nhận xét của nhà báo Braudio Moro, phụ trách hồ sơ kinh tế của ban tiếng Tây Ban Nha trên đài RFI: Cuba sớm muộn gì cũng phải tiến hành một cuộc cải tổ sâu rộng để bảo đảm cho sự tồn tại của Đảng. 

“Hơn bao giờ hết Cuba cần xét lại guồng máy kinh tế một cách toàn diện. Từ nhiều năm nay, Cuba không còn khả năng bảo đảm đời sống tối thiểu cho người dân. Chính xác hơn là kể từ khi chế độ Liên Xô cũ bị sụp đổ vào năm 1991, kinh tế hòn đảo này bị kiệt quệ và nếu như Havana không mạnh dạn cải tổ thì bản thân chế độ cộng sản Cuba khó có thể tồn tại”.

 

Hơn 300 Biện Pháp Để Nới Lỏng Kinh Tế 

Sau 14 năm đảng Cộng sản Cuba mới lại họp Đại hội với trọng tâm là hồ sơ kinh tế (Đại hội V được tổ chức vào năm 1997). Đơn giản là do ngân sách nhà nước đang cạn kiệt. Chính quyền không còn khả năng đài thọ và bảo đảm đời sống cho 11 triệu rưỡi con người. 

Vì vậy chính phủ Cuba đề nghị: sa thải tới một triệu công nhân viên chức nhà nước trong vòng 5 năm, kể từ tháng 3/2011. Đây là một quyết định hết sức “nhạy cảm” khi biết rằng tại Cuba có từ 5 đến 8 triệu người thuộc diện công nhân viên chức nhà nước – tức là tương đương với từ 80 đến 95% người trong tuổi lao động. Tình trạng này dẫn đến những trường hợp khó tin như là tại một bệnh viện, chỉ có một xe cứu thương nhưng bệnh viện đó lại phải tuyển dụng đến 8 ông tài xế! 

Theo thống kê chính thức tỷ lệ thất nghiệp tại Cuba hiện là 1,8% nhưng theo thẩm định của các viện nghiên cứu quốc tế thì có đến 1/4 dân số trên hòn đảo này không có việc làm. 

Tháng 10/2010 nhà nước quy định một danh sách bao gồm khoảng hơn 120 ngành nghề tư nhân có quyền “hoạt động tự do”. Trong Đại hội lần này thì danh sách đó đã được mở rộng ra thành 178 ngành nghề khác nhau. Havana cam kết cấp khoảng 250.000 giấy phép lao động từ nay đến cuối năm; tạo điều kiện để nền kinh tế tư nhân tuyển dụng khoảng 200.000 nhân công trong cùng thời kỳ. Bên cạnh đó văn bản vừa được Đại hội thông qua vào tối ngày 18/4/11 còn dự trù “nới lỏng” các điều khoản để tư nhân dễ dàng mở doanh nghiệp, tuyển dụng nhân công. 

Tuy nhiên giới quan sát lưu ý, trước mắt chính quyền Cuba mới chỉ “cởi trói” cho những ngành nghề có “trị giá gia tăng thấp”. Chẳng hạn như là cho phép tư nhân bảo đảm dịch vụ giữ xe đạp, chữa xe gắn máy và xe hơi. Nhà nước cũng sẽ không khống chế những dịch vụ như là đánh giầy, may quần áo hay cho thuê băng đĩa DVD.

 

Tự Lực Lương Thực: Còn Rất Xa Vời  

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhà nước Cuba đề nghị trao lại cho nông dân một phần đất canh tác. Từ năm 2008 tới nay chính phủ quy hoạch 1,18 triệu hecta đất để cấp cho koảng 130. 000 nông gia với thời hạn sử dụng là 10 năm. Trên thực tế đến nay mới chỉ có 30% diện tích đất kể trên được canh tác do nông dân Cuba còn thiếu phương tiện từ tài chính đến máy móc để bắt tay lại vào việc trồng trọt và chăn nuôi. 

Havana đang hướng tới mục tiêu giảm bứt mức độ lệ thuộc của Cuba vào các nguồn lương thực thực phẩm nhập từ bên ngoài vào. Một tuần lễ trước Đại hội VI cơ quan ngôn luận của Đảng đã phải nhìn nhận là “mục tiêu tự lực tự cường về phương diện lương thực của Cuba còn rất xa vời” 

Theo thống kê chính thức, năm 2010 tổng kim ngạch nhập cảng lương thực của Cuba đã kên tới 1,5 tỷ Mỹ kim. Lương thực, thực phẩm và dầu hỏa là những gánh nặng đối với ngân sách nhà nước. Chính phủ dự trù ngân sách dành để mua lương thực sẽ tăng thêm 25% so với năm 2010 do giá thực phẩm và dầu hỏa trên thế giới tăng cao. 

Trong bối cảnh đó Cuba coi việc cải tổ chính sách nông nghiệp, mở rộng hoạt động cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, và kể cả hệ thống phân phối là một ưu tiên hàng đầu. Điều này lại càng dễ hiểu khi chính quyền chuẩn bị dẹp bỏ sổ mua hàng vốn là nguồn cung cấp lương thực trọng yếu của các gia đình. 

Nhà báo Braudio Moro của ban ngoại ngữ Tây Ban Nha đài RFI trình bày qua về vấn đề này: 

“Trong số những đề nghị được đệ trình lên Đại hội Đảng lần này, có một vài biện pháp đáng chú ý. Chẳng hạn như là kế hoạch bãi bỏ sổ mua hàng “libreta” đã được áp dụng từ năm 1963 tới nay. Đây là một yếu tố hết sức quan trọng vì nó trực tiếp gắn liền với đời sống của người dân. Một đề nghị cải tổ thứ hai mà theo tôi cũng quan trọng không kém, liên quan đến việc hủy bỏ đồng tiền peso chuyển đổi CUC, tức là đơn vị tiền tệ giao dịch quốc tế của Cuba. Mục tiêu đề ra nhằm từng bước cân bằng nguồn ngoại tệ của hòn đảo này. Sau cùng, chúng ta cũng nên chú ý đến dự án phân phối đất đai cho nông dân để khuyến khích giới nông gia trồng trọt, chăn nuôi. Tại Cuba, phần lớn đất canh tác thuộc về nhà nước và quân đội. Trong cảnh đói kém hiện nay, Havana đã tính đến việc “trả lại” ruộng, đất cho nông dân sản xuất ; qua đó, bảo đảm lương thực và thực phẩm cho hơn 11 triệu dân. Ở đây đặt ra một vấn đề khác: nhà nước cấp đất cho nông dân, nhưng liệu họ có vốn và có phương tiện (như là máy cầy, máy bơm nước …) hay không để “gia tăng sản xuất”? Đấy lại là một chuyện khác”.

Ý thức được điều này, chính phủ ra chỉ thị cho ngân hàng nhà nước nới lỏng việc cấp tín dụng cho nông dân và một số tư nhân, bước đầu khuyến khu vực kinh tế tư nhân.
 

Người Dân Đón Nhận Mô Hình Kinh Tế Mới Ra Sao? 

Câu hỏi đặt ra là người dân Cuba đón nhận kế hoạch “cập nhật hóa” mô hình kinh tế này như thế nào, khi biết rằng 80% dân số Cuba hiện nay sinh ra và lớn lên với dưới chế độ Castro trong một nền kinh tế tập trung theo kiểu Liên Xô cũ. Về điểm này nhà báo Moro của đài RFI trả lời: 

“Tôi cho rằng trong giai đoạn đầu thì dư luận Cuba hân hoan đón nhận chương trình “cập nhật hóa” mô hình kinh tế do chính quyền đưa ra. Họ ý thức được rằng đây là điều cần thiết. Tuy nhiên chúng ta biết rằng chính phủ dự trù “sa thải” một triệu người lao động thuộc diện công nhân viên chức nhà nước. Nếu những người này không tìm được việc làm, không có việc làm không có lương để bảo đảm cho đời sống của họ, thì chắc chắn là tiến trình cải tổ kinh tế của Cuba sẽ gặp trở ngại. Phải đợi thêm vài tháng nữa mới có thể biết được là kế hoạch này có thực sự được toàn dân ủng hộ hay không. Ngoài ra, bản thân Chủ Tịch Raul Castro cũng đã kêu gọi các đảng viên không nên gây trở ngại cho côn cuộc cởi trói kinh tế đất nước. Đây là một điều hi hữu”. 

Chủ Tịch Cuba Raul Castro đã tìm cách trấn an dư luận là trong công cuộc đổi mới này, nhà nước không bỏ rơi bất kỳ một ai. Bằng chứng là trong văn bản mang tựa đề “Đường lối chính sách kinh tế, xã hội”, lộ trình cập nhật hóa mô hình kinh tế của Cuba trong tương lai vừa được Đại hội VI thông qua, chính quyền cũng đã nhấn mạnh đến nhu cầu bảo đảm đến 60% mức lương cho một công nhân viên chức bị sa thải cho đến khi người đó tìm được việc làm. Havana cũng cam kết nhà nước tiếp tục bảo đảm dịch vụ giáo dục và y tế cho người dân Cuba như hiện nay.

 

Cải Tổ Theo Kiểu Trung Quốc Hay Việt Nam? 

Một câu hỏi khác cần nêu lên là liệu Cuba chọn lấy cho mình con đường cải tổ theo như mô hình của Trung Quốc hay theo kiểu của Việt Nam? Chuyên gia kinh tế thuộc ban Tây Ban Nha của đài RFI, nhà báo Braudio Moro phân tích: 

“Hiện tại có khá nhiều các cuộc tranh luận về mô hình mở cửa kinh tế Cuba. Cuba sẽ áp dụng mô hình của Trung Quốc hay của Việt Nam? Tôi cho rằng, Cuba không thể noi gương Trung Quốc bởi lẽ hòn đảo này không có khả năng xuất cảng như là Trung Quốc trong giai đoạn 20, 25 năm vừa qua. Cuba cũng không dồi dào ngoại tệ để đầu tư rộng rãi như Trung Quốc từng làm. Có nhiều khả năng Cuba sẽ mở cửa theo kiểu của Việt Nam tức là đảng và nhà nước vẫn kiểm soát phần lớn các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên con đường mà Cuba chọn lấy còn tùy thuộc vào thế cân bằng giữa nhà nước, quân đội và nguyện vọng của người dân. 

Bản thân cựu lãnh tụ tối cao Cuba, Fidel Castro, trong một bài diễn văn vào tháng 11/2005 từng nhìn nhận trong số những sai lầm đã phạm phải, thì có lẽ sai lầm nghiêm trọng nhất “là trong một thời gian dài ông đã lầm tưởng rằng có một người nào đó hiểu rõ về xã hội chủ nghĩa, và người ấy biết rõ là cần phải làm những gì để xây dựng một xã hội chủ nghĩa” 

Mùa Xuân năm nay, nhân Đại hội Đảng Cộng sản Cuba lần thứ VI, đến lượt ông Raul Castro đưa cuộc Cách mạng Cuba vào một ngã rẽ mới với kế hoạch “cập nhật hóa” mô hình kinh tế Cuba để duy trì sự tồn tại của Đảng. 

Công cuộc cải tổ kinh tế Cuba dù muốn dù không cũng đang đẩy đảo quốc này vào một thời kỳ mới chưa biết ra sao. Chỉ biết là trước mắt 11,5 triệu dân Cuba không còn có thể trông chờ tất cả vào nhà nước, họ sẽ phải làm quen -hay làm quen trở lại- với những khái niệm như là cạnh tranh, luật cung cầu của thị trường. Có một điều chắc chắn là trong giai đoạn “mở cửa” tới đây, Cuba vẫn tiếp tục trông chờ được rất nhiều ở các đồng minh truyền thống của mình là từ Brazil, Venezuela hay Trung Quốc. Tất cả diễn ra ngay sát cạnh Hoa Kỳ. 

 

 Cuba : Bước Ngoặt Cải Tổ

Mai Vân 

(Hình REUTERS/Desmond Boylan: Bích họa do Đoàn Thanh niên Cộng sản Cuba thực hiện tại Havana. Ảnh chụp ngày 15/4/2011.) 

(VNC) Với những cải tổ được thông báo nhân Đại hội Đảng Cộng sản đang tiến hành, Cuba đang đứng trước một bước ngoặt mới, đặc biệt với việc giới hạn nhiệm kỳ của các lãnh đạo và viên chức quan trọng trong guồng máy chính quyền. Hai tờ L’Humanité và Le Monde ngày 18/4/2011 đã nêu bật chuyển đổi này. 

Theo L’Humanité, đây là một thời điểm then chốt trong lịch sử Cuba đang được phác họa tại Havana, với quyết định chưa từng thấy hầu trẻ hoá đội ngũ, và cả 311 đề án để ‘cập nhật hoá’ mô hình Cuba đã được đưa ra thảo luận trên toàn quốc trong 3 tháng, hầu ‘hiện đại hoá chế độ, phát triển Cuba, nâng cao đời sống người dân’. 

Những chủ trương đánh giá là không hợp thời nữa như là sổ tem phiếu đảm bảo cho người dân nhu yếu phẩm với giá bao cấp sẽ dần dần biến mất, đồng thời với việc nhà nước giảm biên chế và khuyến khích lãnh vực tư nhân. Quả là Cuba muốn chuyển mình cho phù hợp với thời đại. 

Trong bối cảnh đó, Le Monde nhìn vào thực tế xã hội Cuba ghi nhận trong hàng tựa trang quốc tế: Dân Cuba hoang mang trước sự nghèo khó ngày càng gia tăng. 

Trước tiên bài phóng sự đưa đọc giả đến ngôi chợ lớn ở Havana ở quảng trường Cuatros Caminos. Ngôi chợ hai tầng, nhưng chỉ có tầng trệt là đông đúc náo nhiệt, còn tầng trên hoang phế. Nóc thì bị thủng, cửa kính ở đây bị bể toang. Một cô bán hàng hoa giải thích là từ nhiều năm rồi cô vẫn thấy tầng trên bỏ hoang. Tác giả bài phóng sự nhìn thấy: Công trình một nửa đổ nát này giống như đất nước Cuba vào lúc mà Đại hội Đảng Cộng Sản chuẩn bị thông qua khúc quanh kinh tế mà Chủ Tịch Raul Castro đề xướng. 

Nếu những khu vực cổ của thủ đô còn che giấu nỗi khó khăn bên trong các sân nnhà của mình hay chung cư mà cả 3 thế hệ sinh sống, thì sự nghèo khó đập mắt ở vùng ngoại ô Havana mà các khu ổ chuột ngày mọc lên càng nhiều. Đây là nơi tập trung những người đến từ vùng nghèo phía Đông Cuba, những người sống chui, không giấy tờ hợp pháp vì họ không được phép đến ở thủ đô.

Nếu những người làm chui, những cô gái điếm là những gương mặt quen thuộc từ thập niên 90, thì những người ăn xin là hiện tượng mới phổ biến. Và bây giờ, đi đâu cũng thấy người rách rưới, người vô gia cư. Theo giới kinh tế và xã hội học, ít nhất 20% dân chúng Cuba sống trong cảnh nghèo khổ, túng thiếu. Theo họ, ngược lại với các nước láng giềng, ở Cuba chưa bao giờ có chương trình giảm nghèo khó. 

Theo tác giả bài phóng sự, trong tình hình căng thẳng đó, chính quyền Cuba đã giảm nhịp độ cải cách: việc giảm 500.000 biên chế thông báo trong quý đầu năm nay, 2011, đang được xem xét lại, giảm ít hơn hoặc dời lại về sau. 

Theo bài báo công nhân viên trong các công ty xí nghiệp đã ngấm ngầm chống lại việc sa thải kể trên. Đối với người dân Cuba, tình hình hiện nay đã trở thành quá sức chịu đựng: “không đủ ăn, phương tiện giao thông công cộng tồi tệ, con cái phải bán thân nuôi miệng, và chính phủ thì nói dối, như thế quá đủ rồi”.
 

Fukushima: Vùng Cấm Địa 

Về Châu Á, tình hình nhà máy điện nguyên tử Fukushima là hồ sơ lớn của Libération hôm 18/4, với bài phóng sự dài ở ‘Vùng cấm điạ Fukhushima’, tít lớn trang nhất. 

Phóng viên tờ báo đi đến khu vực bị nhiễm phóng xạ chung quanh nhà máy điện. Trong phạm vi 30 cây số, người dân đã bỏ đi gần hết, chỉ còn những người già, những người về hưu. Vấn đề đối với người dân Nhât là không ai nói rõ tình hình cho họ biết. 

Trong bài xã luận Libération tỏ nỗi thương tâm, thông cảm với người Nhật: “Sau thiên tai, giờ đây đến nỗi cực hình. Người Nhật chỉ mới biết sự thật vào hôm chủ nhật, qua lời thú nhận từ miệng lãnh đạo tập đoàn Tepco là phải mất 3 tháng nữa mới giới hạn được mức độ phóng xạ thất thoát và 9 tháng dài để kiẻm soát và ổn định các lò phản ứng điên cuồng tại Fukushima, nơi mà không ai dám đến gần. 

Libération ghi nhận là chưa bao giờ người dân trong một vùng bị thiên tai lại cảm thấy bị bỏ rơi như thế. Họ phải đợi đến cả tháng mới nghe được chính phủ thông báo là tình hinh Fukushima nghiêm trọng không kém Chernobyl, và mất 5 tuần lễ để nghe những lãnh đạo này công nhận họ bị bó tay trong một thời gian dài.

Không chỉ có vấn đề thông báo chậm trễ như trên, Libération còn thấy là vấn đề nghiêm trọng hơn ở chỗ những thông báo của Tepco về phóng xạ thất thoát gây ô nhiễm môi trường vẫn không đầy đủ. 

Libération trích lời một chuyên gia Pháp, David Boilley, cho là Tepco không phải là đã nói dối, nhưng tác hại đối với người chung quanh nhà máy điện đã bị họ giảm nhẹ. Kết quả là dân làng Iitate ở cách nhà máy điện 40 cây số chỉ được di tản vào ngày 11/04. Trong khi đó thì rau quả ở vùng cách trung tâm điện 80 cây số, qua thử nghiệm, cho thấy một nồng độ phóng xạ rất cao, không khác gì các chất thải nguyên tử. Không thể nào để người dân sống ở những khu vực như thế.

Hiện nay thì các chuyên gia và hiệp hội lo ngại trước vấn đề thiếu dữ liệu về mực độ nhiễm phóng xạ ở những vùng khác tại Nhật. Cho nên trong khi chờ đợi Tepco ổn định tình hình nhà máy điện Fukushima, vấn đề khẩn cấp là lo cho dân cư các vùng nhiễm xạ, khá xa nhà máy, như nói trên. 

Để bảo đảm an toàn cho người dân, theo Libération, vấn đề hiện nay không phải chỉ là nên hay không nên thành lập một vùng cấm điạ chung quanh nhà máy điện Fukushima, mà xem là tầm rộng lớn của nó như thế nào. 

Tờ Le Figaro hôm nay đã phỏng vấn lãnh đạo tập đoàn điện lực Pháp, EDF, về mức an toàn của các nhà máy điện nguyên tử. Tờ báo được Chủ Tịch EDF, ông Proglio xác định là tình trạng nhà máy điện nguyên tử Pháp rất tốt, tuy nhiên vẫn cần phải rút kinh nghiệm của Fukushima.
 

Libya: Liên Quân Quốc Tế Thiếu Đạn Dược 

L’Humanité nêu bật sự kiện Liên quân quốc tế thiếu đạn dược để oanh kích Libya, trong lúc mà lực lượng Kadhfi lại pháo kích ồ ạt vào những thành phố mà phe nổi dậy đang chiếm đóng như Misrata, Ajdabiya. 

Tờ báo đưa ra nhận xét nghiêm khắc là gần một tháng sau cuộc can thiệp của quốc tế vào Libya, lực lượng của ông Kadhfi đã không bị ‘giải trừ vũ khí’, mà ngược lại, NATO vừa thông báo thiếu đạn dược, thiếu loại bom toạ độ chính xác và những loại vũ khí khác. Tờ báo cũng trích lời Bộ Trưởng Quốc phòng Pháp, Gérard Longuet không loại trừ khả năng cuộc chiến Libya kéo dài.

Trong tình hình đó, Le Figaro nêu bật trong một hàng tựa trang nhất và tít lớn trang trong sự kiện là Hoa Thịnh Ðốn tìm một nơi sẵn sàng chứa chấp ông Kadhafi, (một khi ông rời khỏi Libya). Theo tờ báo, trước việc không có tiến triển trên mặt quân sự, các nước đồng minh muốn tim một quốc gia có thể tiếp đón lãnh đạo Libya, hầu loại bỏ được nhà độc tài này qua một giải pháp hoà bình. 

Tờ báo cũng nhắc lại là quốc gia đón nhận ông Kadhafi phải có đặc điểm là có quyền không giao nộp lãnh đạo Libya cho dù ông Kadhafi bị Toà án Hình sự Quốc tế truy tố, tức là một quốc gia không ký vào hiệp ước Roma thành lập Toà án. Tóm lại đó phải là những nước không công nhận thẩm quyền của toà án này, trong đó có Mỹ. Theo Le Figaro trích dẫn báo New York Times, thì hiện nay người ta nhắc đến một quốc gia Châu Phi.  

Hoa Thịnh Ðốn Sẵn Sàng Đối Thoại Với Bình Nhưỡng 

Về Châu Á, Le Figaro hôm 18/4 ghi nhận là sáu tháng sau vụ Bắc Hàn pháo kích vào đảo Nam Hàn Yeongpyeong, Bắc Kinh đang cố gắng đưa hồ sơ nguyên tử ra khỏi vũng lầy, với sự hổ trợ kín đáo của Hoa Thịnh Ðốn, tít trang quốc tế. Mục tiêu là để tránh một biến cố quân sự mới ở bán đảo, không có lợi cho cả chính quyền Bắc Kinh lẫn chính quyền Obama. 

Bài báo nhắc lại kế hoạch 3 điểm mà Bắc Kinh đưa ra tuần qua để thúc đẩy đàm phán 6 bên: Trước hết hai nước Triều Tiên tổ chức gặp gỡ trên hồ sơ nguyên tử, sau đó là gặp gỡ giữa Bình Nhưỡng và Hoa Thịnh Ðốn trước khi đi đến cuộc họp 6 bên trở lại. Theo Le Figaro, Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton đã khẳng định rằng Hoa Thịnh Ðốn ủng hộ sáng kiến của Bắc Kinh. 

Thực ra theo tờ báo, Hoa Thịnh Ðốn không mấy ảo tưởng về một tiến bộ trên hồ sơ nguyên tử, nhưng vì bận tâm với tình hình sôi sục ở Trung Cận Đông, cho nên chính quyền Obama muốn tránh bằng mọi giá một biến cố quân sự mới ở vùng Đông Bắc Á, nhất là vào lúc khai diễn cuộc vận động tranh cử Tổng Thống ở Mỹ. 

Ngoài Bắc Hàn, Le Figaro còn chú ý đến Bắc Kinh quây bắt tín đồ Tin lành. Trong mấy ngày qua, hàng chục người đã bị bắt, trong đó có luật sư, trí thức, nghệ sĩ. Tờ báo tỏ vẻ khắt khe đối với Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon, đã bị chỉ trích vì im hơi lặng tiếng trước vụ đàn áp ở Trung Quốc trong lúc mà ông đã tỏ ra rất hoạt bát về Côte d’Ivoire hay Libya. 

 
Thủy Điện Chưa Hẳn Là Nguồn Năng Lượng Xanh

 Minh Anh

 (Hình DR: Biểu tình chống kế hoạch đập thủy điện Belo Monte, Ba Tây.) 

(VNC) Về môi trường, báo Le Monde hôm 19/4/2011 có đăng bài tựa “Liệu thủy điện có thật sự là một nguồn năng lượng xanh hay không?”.  

Theo bài báo, từ nhiều năm nay, người ta bắt đầu để ý nhiều đến thủy điện. Tai nạn nguyên tử tại trung tâm Fukushima và các chất vấn về nguyên tử dường như sẽ thúc đẩy nhanh hơn nữa các công trình thủy điện. 

Các nhà khởi xướng giới thiệu thủy điện như là một loại năng lượng xanh, có thể tái chế được. Thế nhưng, trên khắp toàn cầu, những dự án xây đập giữ nước bị phản đối dữ dội. Các nhà bảo vệ môi trường dự đoán trước một thảm họa nếu như không ngăn chặn làn sóng này.

 

Hàng Triệu Người Sẽ Bị Di Dời 

33.000 con đập lớn là con số thống kê chính thức của Ủy ban Quốc tế Về các Đập nước Lớn (CIGB). Tuy nhiên, con số thực tế có lẽ là 50.000 đập. Le Monde cho biết, con số này có lẽ sẽ còn nhân đôi lên nữa từ đây cho đến năm 2050, mà nguyên nhân chính là do tăng trưởng dân số và mật độ dân số cao tại các thành phố lớn kéo theo sự gia tăng nhu cầu về nước, để tưới tiêu và cung cấp nước cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính sự gia tăng nhu cầu về điện mới thúc đẩy việc xây dựng các công trình cho nhiều tiện ích khác nhau. Để đáp ứng được nhu cầu này, theo CIGB, nếu không cần sử dụng đến năng lượng hóa thạch hay nguyên tử, thì không có cách nào khác hơn làm thủy điện.  

Quỹ Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (WWF) ước tính có khoảng từ 40 đến 80 triệu người sẽ bị di dời do các công trình xây đập. Le Monde đơn cử trường hợp xây đập Belo Monte, công trình lớn thứ ba trên thế giới. Theo Hiệp hội Survival International, dự án xây đập này sẽ làm ngập một vùng rộng lớn 500 km², và có khoảng từ 20.000 đến 40.000 người bị di dời. 

Về phía chính quyền, họ lập luận rằng việc xây dựng đập đem lại nhiều lợi ích kinh tế. Ngoài việc sản xuất điện, các đập nước còn giúp kiểm soát được giòng chảy, điều chỉnh lưu lượng nước, tranh hiện tượng lũ lụt hay hạn hán tại hạ nguồn, giúp phát triển nông nghiệp. Còn trên thượng nguồn, việc lưu trữ nước trong bể lớn sẽ giúp phát triển các ngành đánh cá hay du lịch v.v…

 

Việc Xây Đập Có Tác Động Thế Nào Đến Môi Trường? 

Trên lý thuyết, thủy điện không thải khí gaz gây hiệu quả nhà kính. Tuy nhiên, một vài nghiên cứu gần đây cho biết, do hiện tượng phân giải hệ thực bì trong bể chứa, một vài đập nước thải khí CO2 và nhất là khí mê-tan, một loại khí có thể làm nóng trái đất ở mức cao gấp 25 lần so với khí CO2. 

Thế nhưng, tác động của nó đối với khí hậu vẫn còn là điều đáng tranh cãi. Theo Le Monde, hiện tượng nêu trên chỉ liên quan đến những bể chứa nước không sâu lắm, nằm ở vùng nhiệt đới. Theo Viện Khoa học và Công nghệ Nước liên bang Thụy Sĩ, một nghiên cứu tại hồ Wohlen, gần Berne cho thấy lượng khí mê-tan thải ra mỗi năm là khoảng 150 tấn, tương đương với khí CO2 khi chạy 25 triệu km bằng xe hơi mà thôi. 

Theo WWF, hậu quả đầu tiên của việc xây đập là làm biến đổi hình dạng của giòng sông, ngăn chặn các bề mặt trầm tích gây ra hiện tượng xói mòn đất trầm trọng tại các vùng châu thổ ở hạ lưu. Cá sẽ trở nên ít hơn và đa dạng sinh học trở nên nghèo nàn hơn. Hơn nữa việc lưu trữ nước ngăn cản quá trình hòa tan các chất ô nhiễm trong nước và tạo điều kiện cho các loài xâm thực sinh sôi nảy nở. 

Tại châu Âu, nhằm đạt được tình trạng sinh thái tốt từ đây cho đến năm 2015, luật về nước gặp mâu thuẫn với mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, bao gồm cả thủy điện. Khó khăn lắm các nhà bảo vệ môi trường mới đạt được việc hủy bỏ những công trình nào gây hại cho đa dạng sinh thái. 

Vì vậy, Hiệp hội Quốc tế về Thủy điện đã cho hiệu chỉnh lại “Nghị định thư về việc đánh giá tính bền vững của thủy điện” nhằm đảm bảo “sự cải thiện chung”. Tuy nhiên, một viên chức của WWF nhận định rằng, người ta có thể đạt được một mức độ nào đó của tính bền vững, nhưng sẽ không bao giờ gạt bỏ hoàn toàn được mọi tác động. Do đó, việc lựa chọn địa điểm là rất quan trọng. Các tổ chức phi chính phủ khuyến cáo, các chính phủ nên tìm kiếm các nguồn thay thế khác, và nhất là phải tiết kiệm năng lượng, trước khi đưa ra các dự án này. 

Vận May Của Chủ Nghĩa Dân Túy Mới Tại Châu Âu 

Liên quan đến vấn đề chính trị, nhiều tờ báo Pháp hôm 19/4 quan tâm đến sự trỗi dậy của các phe cực hữu tại châu Âu. Theo báo Cộng sản L’Humanité, thì “Châu Âu lo ngại sau sự thành công của đảng cực hữu Phần Lan”, sau khi đảng này đạt 19,1% phiếu bầu trong kỳ bầu cử Quốc Hội vừa qua. 

Còn trên tờ nhật báo Libération, có bài phân tích “Chủ nghĩa dân túy mới tại Châu Âu gặp vận may”. Dựa vào chủ đề về tính thế tục, những đảng bài ngoại này đang lan rộng khắp nơi, khi phơi bày chủ nghĩa hoài nghi về châu Âu và nỗi lo sợ về Hồi giáo. Theo Libération, dù họ có tham gia hay không vào chính phủ, khả năng gây khó khăn trên hồ sơ châu Âu là có thật. Trước tiên phải hiểu rằng, chủ nghĩa dân túy chính là chủ nghĩa quốc gia chống lại châu Âu, đó cũng chính là mẫu số chung nhỏ nhất của các Đảng này, cùng với sự bài ngoại và nhấn mạnh chính sách bảo hộ. 

Về phương thức hành động, Libération cho biết, thường thì họ dựa vào các thế lực bên ngoài các chính phủ bảo thủ. Tại 14 nước châu Âu, họ đã hiện diện tại Quốc Hội. Ngoài ra, người ta còn thấy hình thái chủ nghĩa dân túy xuất phát từ phía cánh tả, mà hình mẫu chính là Đảng Smer-SD Slovakia do ông Robert Fico sáng lập. Ông này đã bị khai trừ ra khỏi Đảng Xã hội châu Âu vào năm 2006. 

Các đảng theo chủ nghĩa dân túy mới này đang gặp vận may. Nhưng ít nhiều gì họ cũng dựa vào cùng kiểu phương thức hành động: lôi kéo dân chúng chống lại các thế lực tham nhũng bởi chủ nghĩa thế giới và sự toàn cầu hóa, tán dương nền dân chủ trực tiếp chống lại nền dân chủ đại diện ; đả kích di dân không kiểm soát và phê phán chủ nghĩa đa văn hóa và mối đe dọa từ Hồi giáo. Điều đáng lưu ý là những gương mặt trụ cột của các đảng này là những người trẻ, có uy tín. Họ nói thẳng, bảo vệ kiểu chính trị đúng đắn nhưng né tránh việc sa đà phân biệt chủng tộc. Libération nhận định, những người theo chủ nghĩa dân túy này thuộc thế hệ thứ tư tại châu Âu. Hoặc họ không có chung nguồn gốc về hệ tư tưởng với các đảng cực hữu hoặc là đã từ bỏ chúng. 

Theo bài báo, mối nguy hiểm lớn nhất đến từ các khoảng trống của cánh hữu truyền thống, vốn đang trong tình trạng khủng hoảng, khi mà họ không ngần ngại gì lấy lại các chủ đề bầu cử chính. Nếu như đạt được 15%, họ có thể buộc các đảng cánh hữu phải điều đình hoặc phải cạnh tranh ngay trên chính mảnh đất của phe cực hữu. 

Ấn Độ: Tham Nhũng Làm Thất Bại Cuộc Chiến Chống Lại Đói Nghèo 

Về vấn đề kinh tế thế giới, La Croix có bài phóng sự “Tại Ấn Độ, tham nhũng làm thất bại cuộc chiến chống lại đói nghèo”.  

Theo La Croix, vào năm 2005, nhằm chống lại sự đói nghèo, chính phủ do đảng Quốc Đại cầm quyền cho ban hành “chương trình phát triển đô thị” (NREGA) nhằm giúp đỡ nông dân ở bang Jharkhand có việc làm. Trên nguyên tắc, chương trình này không những sẽ giúp đảm bảo cho người dân ở đây it nhất có 100 ngày làm việc trong năm, mà còn hỗ trợ về mặt tài chính cho những người nông dân nào không có việc làm. Tuy nhiên, trên thực tế, những người công nhân này chưa bao giờ nhận được một đồng rupi nào, từ nguồn quỹ khổng lồ 7,5 tỷ Euro của dự án này. 

Theo La Croix, việc tuyển dụng lao động nhưng không cấp giấy chứng nhận việc làm để không trả lương, còn nếu may mắn có được tờ giấy này, thì lương nhận được bị giảm xuống ít nhất 30%, do họ phải trả các khoản huê hồng cho mỗi cấp, là mặt trái của chương trình này. Không những thế, những người dân nghèo này thường xuyên bị đe dọa nếu họ không chấp nhận nói láo là có nhận được tiền lương. 

Nhà kinh tế học Jean Dreze tố cáo có sự thao túng của mafia trong các công trinh trọng điểm này. Theo ông, chính quyền địa phương đã tiếp tay với các doanh nghiệp bằng cách nhắm mắt làm ngơ để cho các nhà khai thác bất hợp pháp chiếm đoạt đất đai. Tiểu bang Jharkhand là nơi có nhiều nguồn quặng mỏ quan trọng nhất của Ấn Độ. Do đó, xung đột giữa các tập đoàn lớn và nông dân thường xuyên xảy ra. Đây chính là nguyên nhân đẩy những người nông dân này đến gần với quân nổi dậy theo chủ nghĩa Mao. La Croix cho rằng vấn đề lớn nhất ở chỗ người nghèo họ không biết làm thế nào để khiếu nại, vì phần đông họ không biết chữ. Và sự giận dữ đang nuôi dưỡng hàng ngũ quân nổi dậy theo chủ nghĩa Mao. Những người này tố cáo các vụ tham nhũng, trưng thu đất đai và khai thác tài nguyên. Nhằm trấn an dân chúng, chính quyền Tân Ðề Ly vừa qua đã cho bắt giữ một nhân viên bưu điện và năm trợ lý của chương trình NREGA về tội biển thủ công quỹ. Nhưng đối diện trước sự gian lận lan tràn, New Dehli đe dọa cắt tài trợ cho chương trình này tại Jharkhand, như một lời thừa nhận bất lực cuối cùng. 

Trở Lại Với Y Học Cổ Truyền 

Về sức khỏe, Le Monde có bài viết “Ấn Độ quay trở lại với y học cổ truyền”. Phương pháp chữa trị theo phương Tây là quá mắc. Một bộ phận đông dân chúng không thể nào tiếp cận được. 

Theo bài báo, phần đông bệnh nhân phải tự trang trải các khoản chi phí y khoa. Như vậy, chỉ có khoảng 10% trong số họ là có bảo hiểm y tế. Đây chính là hệ quả của sự bất bình đẳng trong tiếp cận việc chữa trị. Bài báo cho biết, số trẻ em tử vong ở người nghèo chiếm đến 8% ở những đứa trẻ dưới 5 tuổi, con số này chỉ ở mức 3% ở tầng lớp khá giả hơn. 

Sỡ hữu hơn 6.500 loại cây thuốc, Ấn Độ nhìn nhận các lợi ích của y học cổ truyền. Không những nó cho phép rút ngắn được sự bất bình đẳng khi đưa ra các liệu pháp chữa trị rẻ hơn, mà nó còn giúp tránh được việc lạm dụng thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, các bác sĩ cũng nhìn nhận rằng trong các trường hợp khẩn cấp, liệu pháp đối chứng vẫn rất cần thiết. Nhưng trong mục đích phòng bệnh hay chữa trị một số bệnh tâm thần, thì các liệu pháp cổ truyền như tập yoga thì hiệu quả hơn. 

Cuối cùng, Le Monde cho biết, vào năm 2008, Ấn Độ có 3.371 bệnh viện có thể thực hiện việc điều trị bệnh theo cổ truyền và gần 750.000 bác sĩ đăng ký tham gia vào lãnh vực này. Tuy nhiên, trên thực tế phần đông trong số họ đều là bác sĩ y khoa theo trường phái Tây y và nhiều người trong số họ không được đào tạo bài bản trong lãnh vực trên. 

 

Tưởng Như Thánh Chiến 

Trần Khải 

Nói thánh chiến thường là nói tới thời kỳ 100 năm thánh chiến giữa Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Tuy nhiên, ngay cả những cuộc chiến khác cũng được nhiều người, kể cả các chính khách, suy diễn như là thánh ý Thượng Đế được hiển lộ: Ai cũng tưởng rằng Thượng Đế đứng về phe ta, và sẽ trù dập phe nó. 

Nhiều người đã từng so sánh cuộc chiến chóáng khủng bố hiện nay như là một phiên bản mới của Thánh Chiến. Cụ thể là, Tổng Thống Bush gọi đây là cuộc chiến giữa Thiện và Ác, một diễn dịch từ Kinh Thánh. Không cần nói kiểu khéo léo như thế, bà Sarah Palin đã từng đứng trong nhà thờ nói ra rằng cuộc chiến chống khủng bố là thánh chiến, vì tùy thuận Thiên Ý, cũng là một ám chỉ rằng đối thủ của nước Mỹ là ma quỷ. 

Có thật rằng Thượng Đế đứng phù hộ bên này và trù ẻo bên kia? Hay phải chăng Thượng Đế nhân từ đứng chàng hảng, đứng trung lập, hay lúc thì bênh phe này, cho thắng vài trận, và lúc thì bênh phe kia, cho thua vàì trận? Hay Thượïng Đế chỉ ngồi ở trên cao, và thực sự không hiện diện ở cõi này? 

Chúng ta không biết. Không ai dám nói là biết hết. Tất nhiên, chỉ trừ các vị tuyên úy. 

Bài của tác giả Greg Garrison trên tờ The Birmingham News nhan đề “Alabama historian says North, South saw each Civil War victory as God’s favor” (Sử gia Alabama nói rằng Nam Quân, Bắc Quân nhìn mỗi chiến thắng trong thời Nội Chiến Hoa Kỳ như là Ý Chúa ban thưởng) đã nhìn về cuộc nội chiến Hoa Kỳ dưới khía cạnh tôn giáo: Các Mục sư và Linh mục tuyên úy của cả Nam Quân và Bắc Quân đều tin rằng họ đang làm theo và ra trận theo Ý Chúa. 

Cuộc Nội Chiến Mỹ vừa tròn 150 năm tuần qua. Khi Nội Chiến bùng nổ, các tu sĩ ở cả 2 phe Nam Quân và Bắc Quân đều giúp đánh trống trận, rao giảng các bài diễn giảng rằng Thiên Chúa sẽ ban thưởng người công chính và trừng phạt phe đối thủ.

Nghĩa là, phe ta chính nghĩa, sẽ có Thượng Đế cùng ra trận; còn phe địch phi nghĩa, nên sẽ bị trừng phạt. 

Sử gia George C. Rable, tác giả cuốn “God’s Almost Chosen Peoples: A Religious History of the Civil War” (Những Dân Tộc Gần Như Được Chọn Của Thiên Chúa: Một Lịch Sử Tôn Giáo của Cuộc Nội Chiến), gọi thời kỳ đẫm máu từ năm 1861 tới 1865 là một cuộc thánh chiến. 

Rable nói qua một cuộc phỏng vấn, rằng đó có lẽ là cuộc chiến linh thánh nhất trong lịch sử Mỹ khi nhìn về cách tôn giáo ảnh hưởng. 

Hôm Thứ Ba tuần trước là tròn 150 năm trận tấn công trại lính Fort Sumter, ngày 12/4/1861. 

Rable nói, đối với nhiều người, Ý Chúa sẽ diễn ra trên chiến trường. Các vị tu sĩ tuyên úy ở cả Nam và Bắc quân đều gọi cuộc chiến của phe họ là “cuộc chiến thần thánh và công chính.” 

Ngay cả đối với tín đồ Tin Lành Quakers, nổi tiếng vì hiếu hòa, cũng tuyên bố rằng cuộc chiến là Thiên Ý trừng phạt tội lỗi của nước Mỹ. Rable nói, “Ngay cả người chống chiến tranh cũng diễn dịch theo khuynh hướng Thiên Chúa quan phòng.” 

Rable nói như thế trong bài diễn thuyết trước đạị học Birmingham – Southern College, nhan đề “Was the Civil War a Holy War?” (Có phải Nội Chiến Mỹ là một cuộc Thánh Chiến?) 

Hồi năm 1855, dân số Hoa Kỳ chỉ có 27 triệu người. Trong đó có khoảng 4 triệu tín đồ Tin Lành và khoảng 2 triệu tín đồ Công Giáo, nhưng tinh thần sùng mộ tôn giáó vẫn cao trong thành phần dân chúng không đi nhà thờ, theo lời Rable. 

Ông nói, thời đó, tiêu chuẩn đi nhà thờ nghiêm ngặt, những người đi nhà thờ Tin Lành phải đạt nhiều tiêu chuẩn, phải trình løời điều trần (testimony, có lẽ là “lời chứng cho Thiên Chúa”?) và phải được nhà thờ bỏ phiếu mới cho vào, rồi thì tác phong phải tử tế… và phảỉ bị tín đồ khác dò xét. Nếu hỏng, là bị đuổi ra khỏi nhà thờ. 

Rable nói, “Nhiều người đi nhà thờ mà không phảỉ là thành viên. Đức tin tôn giáo ảnh hưởng nhiều người hơn là khối dân số của nhà thờ.” 

Nhiều người diễn giảỉ cuộc Nội Chiến là do Thượng Đế nổi giận vì các tội lỗi, thí dụ như tội nuôi nô lệ, tội tham nhũng, tội phá vỡ nghi lễ Sabbath (nghi thức một ngày/tuần lễ để nghỉ ngơi, sống theo giaó lý, nói theo kiểu Phật Giáo là ngày để “nhập thất”), tội uống rượu, tội đánh bài… 

Nghĩa là, các tu sĩ tuyên úy ở cả 2 phe đều có lý do để đem chính nghĩa về cho phe ta, và chụp mũ tội lỗi cho phe địch. 

Nhiều người ở phía Bắc còn ghi nhận rằng Hiến Pháp Mỹ bỏ qua lời tuyên xưng Thượng Đế và đã khuyên rằng nên viết lại Hiến Pháp để giữ “đức hạnh,” như được đưa vào trong bản Hiến Pháp mới của phe Nam Quân. 

Rable nói, đối với người sùng đạọ, thì thắng hay thua đều diễn giải được là Thiên Ý cả. 

Vì vậy, trong các trại lính của cả Nam Quân và Bắc Quân, các tu sĩ tuyên úy ra sức cải đạo và rao giảng về Nước Trời và Thánh Ý… Trong không khí căng thẳng đầy sát khí của Nội Chiến, lời nào của các tu sĩ tuyên úy đều như dường mang thần khí.

Sau khi Nam Quân chiến thắng ở trận đánh có tên là “First Battle of Bull Run,” còn gọi là “First Battle of Manassas” — địa điểm của trận đánh bây giờ là công viên tưởng niệm, trên đó có viện bảo tàng ở Manassas, phía Bắc tiểu bang Virginia — thì mỗi trận đánh đều được diễn giảng là dấu hiệu của Thượng Đế nổi giận, trừng phạt phe thua trận. 

Các tu sĩ Bắc Quân nói rằng Bắc Quân thua trận đó bởi vì tấn công đúng ngày Sabbath (ngày phải nghỉ theo luật đạo).  

Đối với Nam Quân, chiến thắng này cho thấy Thượng Đế bênh vực chính nghĩa của họ. 

Tổng Thống Abraham Lincoln cũng được so sánh như nhân vật Kinh Thánh Moses. Rable nói, “Ông ta mang nước Mỹ tới đất hứa, nhưng y hệt như nhân vật Kinh Thánh Moses, ông ta không được phép bước vào đất hứa.” 

Nhưng gần lúc tàn cuộc, chính Lincoln diễn giải cuộc chiến trong tinh thần Kinh Thánh, “Bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống lần thứ nhì của Lincln có lẽ là bài diễn văn Tổng Thống nghe y hệt như bài giảng đaọ trong nhà thờ từng được đọc ra.” 

Vậy rồi, Cuộc Nội Chiến Việt Nam thì thánh ý Thiên Chúa ở đâu? Có trời mà biết, nếu đúng là có trời. 

 

Trò Chơi Ngân Sách 

Vũ Linh 

…thâm thủng ngân sách Tổng Thống Obama cao bằng thâm thủng của tất cả 43 đời Tổng Thống tiền nhiệm… 

Tuần vừa qua, Tổng Thống Obama lên truyền hình đọc diễn văn đưa ra những đề nghị cụ thể để cắt giảm thâm thủng ngân sách đang leo lên những mức vô tiền khoáng hậu. 

Bài diễn văn được đọc xấp xỉ một tuần sau khi bế tắc ngân sách cho năm nay được tạm thời giải tỏa, và hai tuần sau khi dân biểu Paul Ryan đưa ra kế hoạch cắt giảm thâm thủng của đảng Cộng Hòa. Đề nghị cắt giảm thâm thủng này cũng được đưa ra vài tuần trước khi Tổng Thống xin Quốc Hội phê chuẩn việc tăng mức công nợ tối đa, coi như chút đường lót miệng thiên hạ trước khi cho uống thuốc đắng. 

Cuộc tranh cãi về ngân sách này đưa ra ánh sáng nhiều điểm đáng chú ý vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân Mỹ, trong đó có cả các phó thường dân như dân tỵ nạn chúng ta. Ảnh hưởng lên job của chúng ta, cũng như ảnh hưởng đến mức thuế chúng ta đóng, đến những quyền lợi an sinh chúng ta lãnh. 

Tại sao nêu vấn đề? Câu trả lời tất cả mọi người đều biết từ cả chục tháng qua: Những chi tiêu cho các chương trình khổng lồ của Tổng Thống Obama đang đe dọa đưa nước Mỹ vào vết xe đổ của Âu Châu, đến bờ vực của phá sản cho cả nước, với những hậu quả không ai có thể mường tượng được. Như kẻ viết này đã có dịp viết nhiều lần, kể cả trong bài tuần trước, mức thâm thủng ngân sách của một mình Tổng Thống Obama cao bằng mức thâm thủng của tất cả 43 đời Tổng Thống tiền nhiệm cộng lại. Đó là cái giá mà Tổng Thống Obama sẵn sàng trả để thay đổi cả xã hội Mỹ theo “định hướng” của ông. Cái định hướng đó, có người gọi là xã hội, có người nói là cấp tiến, có người cho là công bằng, có người nghĩ là văn minh tiến bộ. Bất kể cái tên là gì, chỉ cần biết nó bảo đảm sẽ phá sản nước Mỹ trong một thập niên nữa thôi.  

Bên Âu Châu, các nước Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha phá sản có Liên Hiệp Âu Châu (EU) nhẩy vào cứu. Kinh tế Mỹ lớn gấp mấy lần kinh tế của toàn khối Liên Hiệp Âu Châu và thế giới hợp lại, nếu có phá sản, cả thế giới hùn tiền lại cũng không cứu nổi. 

Dĩ nhiên Tổng Thống Obama khi tung ra những kế hoạch vĩ đại của ông, không hề nghĩ rằng những thâm thủng bạc chục ngàn tỷ sẽ đưa đến tình trạng nước Mỹ phá sản. Không phải ông cố ý muốn nước Mỹ phá sản. Ông chỉ lạc quan tin tưởng ông là Đấng Tiên Tri sẽ thay đổi được xã hội, cái thâm thủng chỉ là nhất thời rồi sẽ qua nhờ kinh tế sẽ vùng lên lại tạo công ăn việc làm cho tất cả mọi người, nhờ công bằng xã hội khiến mọi người vui vẻ hạnh phúc bên nhau, v.v… Một bức tranh tuyệt đẹp. 

Vấn đề là cái mô thức Nhà Nước in tiền để thay đổi xã hội của Tổng Thống Obama đã được chứng minh thất bại không biết bao nhiêu lần trong lịch sử cận đại. Chỉ cần nhìn vào gương các nước tư bản “tiến bộ” của Âu Châu cũng thấy. Thuyết kinh tế “Keneysian” và “tân Keneysian” chủ trương phát triển kinh tế bằng thâm thủng ngân sách đã đưa Âu Châu chẳng những đến suy thoái kinh tế mà đến cả suy thoái xã hội và văn hóa luôn. Văn minh huy hoàng lộng lẫy của Âu Châu đã bị những McDonald, Nike, Madonna, Rap,… hoàn toàn lấn áp. Không phải Tổng Thống Obama không nhìn thấy, nhưng chỉ vì ông tự tin hơn người. Cả thế giới thất bại, nhưng riêng ông thì không thể. 

Trên căn bản, chỉ có hai cách để cắt giảm thâm thủng ngân sách: giảm chi hay là tăng thu. Không có tam thập lục chước. 

Cách đây ít tuần phe Cộng Hòa đưa ra kế hoạch, phần lớn dựa trên giảm chi. Theo phe này, những thâm thủng quá lớn là kết quả của những vung tay quá trán của Nhà Nước. Bây giờ cần phải kéo thắng tay. 

Vấn đề giảm chi là vấn đề cực kỳ khó khăn. Năm này qua tháng nọ, các chính trị gia, Cộng Hòa cũng có, nhưng nhiều nhất là Dân Chủ, đã mua lá phiếu của cử tri bằng cách tặng cho họ đủ loại quà cáp trợ cấp. Theo thống kê mới nhất, gần một nửa dân Mỹ (46%) lãnh trợ cấp của Nhà Nước, dưới hình thức này hay hình thức khác, như tiền già, tiền Medicare, tiền Medicaid, tiền thất nghiệp, tiền hưu công chức, tiền hưu cựu quân nhân, trợ giúp tiền nhà, phiếu thực phẩm (foodstamps), học bổng, miễn thuế, v.v… Những trợ giúp này, một khi đã ban ra thì không thể thu hồi lại được nữa.  

Và với những tiến bộ về khoa học, số người sống lâu càng ngày càng nhiều nên những trợ cấp này chỉ có tăng mỗi năm, không thể nào giảm. Năm vừa qua, Tổng Thống Obama theo đúng truyền thống đảng Dân Chủ, lại thân tặng ba chục triệu người bảo hiểm và dịch vụ y tế nữa. Không có trợ cấp nào là xấu cả, tất cả đều tốt, đều có lý do nhân đạo chính đáng. Nhưng cũng không khác gì chuyện muốn cho vợ con vui vẻ hạnh phúc, mua biệt thự huy hoàng, đi “con Mẹc”, ngày nào cũng đi ăn nem công chả phụng, bằng tiền vay mượn hàng xóm láng giềng, mà không cần nghĩ đến ngày phải trả nợ. 

Phe Cộng Hòa, qua dân biểu Paul Ryan, Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, đề nghị giảm chi đồng loạt trên mọi chi tiêu của Nhà Nước, kể cả chi tiêu quốc phòng.

Nhưng quan trọng hơn cả là giảm chi trên trợ cấp bảo hiểm y tế trong luật cải tổ y tế mới được thông qua (coi như là giết một phần lớn luật cải tổ này), giảm chi về Medicare, không phải bằng cách giảm quyền lợi mà bằng cách đổi hình thức (đưa tiền mặt để người dưới 55 tuổi dùng tiền này đi mua bảo hiểm, đưa đến tình trạng những người giàu có có thể lấy thêm tiền túi mua bảo hiểm đắt tiền thay vì bắt Medicare trả tiền nhiều hơn cho họ; không có gì thay đổi cho những người trên 55 tuổi), giảm chi về Medicaid (Nhà Nước Liên Bang sẽ đưa một số tiền nhất định cho chính quyền tiểu bang chứ không còn trợ cấp vô giới hạn nữa), giảm thuế suất cho các công ty (để khuyến khích họ đầu tư, tạo công ăn việc làm đưa đến phục hồi kinh tế và mức thu thuế sẽ tăng), nhưng đồng thời cũng duyệt lại luật thuế để không cho các đại gia trốn thuế – như công ty General Electric năm qua lời 14 tỷ mà không đóng một xu thuế nào (Chủ Tịch GE hiện nay cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Kinh Tế cho Tổng Thống Obama, một trùng hợp thật lý thú?). Kế hoạch này sẽ đưa đến cắt giảm khoảng 6.000 tỷ thâm thủng trong 10 năm tới. 

Cuối tuần qua, Hạ Viện do Cộng Hòa kiểm soát đã thông qua kế hoạch này. Tuy nhiên chỉ có tính cách tượng trưng, nhắm vào cuộc bầu cử năm 2012 thôi, chứ luật này không thể qua lọt Thượng Viện trong tay Dân Chủ, cũng như không thể được Tổng Thống Obama chấp nhận. 

Chương trình của Tổng Thống Obama thì khác hẳn, dựa trên tăng thu chứ không phải giảm chi tiêu. Phần chi tiêu không lồ của Nhà Nước không đụng đến. Chỉ tìm cách thu thêm tiền thuế từ giới “nhà giàu”. Kế hoạch của Tổng Thống Obama sẽ đưa đến cắt giảm thâm thủng tới 4.000 tỷ trong 12 năm tới (lưu ý là Tổng Thống Obama nói đến 12 năm chứ không phải 10 năm).  

Tổng Thống Obama chỉ lập lại lời hứa khi tranh cử cách đây hơn hai năm mà ông đã không giữ được vì nhu cầu thực tế: tăng thuế “nhà giàu” sẽ kéo dài thêm trì trệ kinh tế vì giới “nhà giàu” sợ đóng thuế cao hơn nên không chịu đầu tư phát triển kinh tế, hay sẽ mang tiền ra ngoại quốc đầu tư, khiến thất nghiệp vẫn không giải quyết được. Nói nôm na ra, tăng thuế “nhà giàu” tức là những người có tiền đầu tư phục hồi kinh tế, tạo công ăn việc làm cũng không khác nào giết con gà đẻ trứng vàng. 

Điều Tổng Thống Obama không nói rõ là tại sao lại có thể đặt kế hoạch mới dựa trên tăng thuế nhà giàu, điều mà ông đã không thực hiện được năm ngoái khi đảng Dân Chủ còn kiểm soát cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện. Bây giờ mất quyền kiểm soát Hạ Viện, bớt phiếu ở Thượng Viện thì làm sao thực hiện được?  

Chính điểm mâu thuẫn này đã khiến cho các quan sát viên chính trị nhận định kế hoạch của Tổng Thống Obama chỉ là lời hứa hẹn đầu tiên của cuộc tranh cử Tổng Thống năm tới, không phải là giải pháp thực tế. Một ngày sau bài diễn văn đòi tăng thuế nhà giàu, Tổng Thống Obama bay đi Chicago tham dự bữa tiệc gây qũy đầu tiên trong kế hoạch gây quỹ một tỷ Mỹ kim để tái tranh cử. Cuộc tranh cử Tổng Thống đúng là đã bắt đầu. 

Báo kinh doanh Wall Street Journal đã làm một bài toán sơ đẳng. Theo thống kê của sở thuế IRS, tổng cộng số lợi tức của tất cả những người làm lương trên 100.000 Mỹ kim một năm tại Mỹ là 1.600 tỷ trong năm 2009. Nếu bây giờ Tổng Thống Obama thu thuế 100% trên lợi tức của tất cả những người này, không chừa lại một xu nào cho họ sống, thì vẫn chưa đủ để bù đắp thâm thủng 1.650 tỷ của Tổng Thống Obama trong một năm 2011, đừng nói tới thâm thủng cả chục ngàn tỷ trong mười năm tới.  

Tổng Thống Obama đề nghị tăng thuế của những người làm trên 250.000 (chứ không phải 100.000) thì dĩ nhiên khoảng thiếu hụt còn lớn hơn nữa. Các chuyên gia của Tổng Thống Obama không biết cộng trừ nhân chia? Hay là “hy vọng” thiên hạ đều không biết cộng trừ nhân chia? 

Ít ra thì phe Cộng Hòa cũng có gan dám đụng đến Medicare và Medicaid, hai con khủng long đang trên đà chết già nếu không được cải tổ, trong khi Tổng Thống Obama trực diện với cuộc tranh cử sắp tới đã không dám đả động gì. 

Chính trị gia đều là những chuyên gia về “đại ngôn”, nhưng có lẽ ít ai so sánh được với Tổng Thống Obama. Nói về chuyện Cộng Hòa chống tăng thuế “nhà giàu”, ông đã không ngần ngại so sánh đây giống như là sự lựa chọn đứng về phe các triệu phú chống lại các trẻ em bị bệnh chậm phát triển (autism). Cựu Chủ Tịch Hạ Viện, bà Nancy Pelosi cũng không chịu thua, phụ đề thêm là chương trình của phe Cộng Hoà là chấm dứt Medicare, Medicaid để có thể bớt thuế cho tỷ phú dầu hỏa. Bất kể chuyện chương trình của phe Cộng Hoà chẳng có gì liên quan đến trẻ em bị bệnh tật hay chấm dứt Medicare, Medicaid, hay bớt thuế cho tỷ phú dầu hỏa gì hết. Cứ nói bừa như vậy, thế nào cũng có người tin. Cộng Hòa chỉ đề nghị thiên hạ nhìn nhận chúng ta đang sống trong khủng hoảng và xiết hầu bao lại vì tương lai lâu dài, đi xe Kia thay vì con Mẹc, không phải đòi hỏi mọi người phải đi xe đạp hay đi bộ. 

Cách đây hai tuần, Tổng Thống Obama, trưởng khối đa số Dân Chủ trong Thượng Viện Harry Reid, và Chủ Tịch Hạ Viện Cộng Hòa John Boehner đi đến thỏa hiệp ngân sách cho đến tháng Chín, cắt giảm 38 tỷ Mỹ kim, tránh cho Nhà Nước khỏi đóng cửa tiệm.  

Tổng Thống Obama mau mắn khoe ông đã chủ trì việc cắt giảm chi tiêu lớn nhất lịch sử Mỹ. Điều ông không nói ra là những cắt giảm đó đến từ đòi hỏi của phe bảo thủ Cộng Hòa để cắt giảm chi tiêu của Tổng Thống Obama. Nếu ông đừng chi tiêu vung vít từ đầu thì đâu có nhu cầu cắt giảm gì nữa! Đặc biệt hơn nữa, ông cũng không nói là cắt giảm này chỉ chưa bằng 2,5% cái thâm thủng 1.650 tỷ của ngân sách năm nay do chính ông gây ra. Kiểu như ông nhà nghèo chơi ngông đi mua chiếc đồng hồ 1.000 Mỹ kim rồi về khoe với vợ ông đã trả giá bớt được 2,5 Mỹ kim, chỉ còn có 997,50 Mỹ kim thôi! 

Điều đáng nói hơn nữa là Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội CBO, một cơ quan chuyên gia trung lập, đã phúc trình là cắt giảm thực sự chỉ là trên 350 triệu chứ không phải 38 tỷ. Phần lớn những “cắt giảm” là tiền còn dư thừa của nhiều dự án đã hết hạn không xài đến nữa, hay là tiền dự phòng có thể chẳng bao giờ đụng đến của nhiều kế hoạch trong tương lai, hay chỉ là kết quả của những bùa phép kế toán.

Ứng viên Barack Obama tranh cử bằng khẩu hiệu “mang lại trong sáng trong chính trị”, nhưng dường như ông lại trị nước bằng hỏa mù. (17/4/2011) 

(Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com.) 

 

Chuyện Về Một Người Lính Miến Điện

Quỳnh Chi 

(RFA) – Myo Myint, một cựu quân nhân Miến Điện từng sống chết để bảo vệ cho chế độ quân đội trị nhưng lại đang sống chết để chống lại nó. Câu chuyện như thế nào? Mời quý vị cùng theo dõi.

(Hình AFP, minh họa: Một người lính Miến Điện còn rất trẻ ở gần biên giới với Thái Lan.)

 

Một Anh Hùng 

Gặp Myo Myint, người ta cũng chẳng biết nên gọi nhân vật này là gì. Có người gọi là kẻ phản bội, một số người gọi là nạn nhân, và rất nhiều người gọi là anh hùng. Đối diện với tôi là một người đàn ông tuổi độ 50 với gương mặt gầy gò cương nghị. Nhìn cơ thể đã gần như mất đi một nửa của mình, Myo Myint cho biết, người ta gọi ông là nạn nhân cũng không sai bởi ông chính là nạn nhân của vỏ mìn và đau đớn hơn là nạn nhân của chính chế độ mà ông đã từng phục vụ cho nó. 

“Tôi gia nhập quân đội vào năm 1980, lúc đó tôi mới 17 tuổi.
Tôi không còn lựa chọn nào khác hơn là gia nhập quân đội. Tôi không thể tìm một công việc nào đàng hoàng cả.”
 

Từ khi chế độ quân đội nắm quyền tại Miến Điện từ năm 1962, có thể nói thanh niên Miến Điện có 4 lựa chọn chính: trở thành 1 trí thức và rời khỏi nước vì không muốn thấy cảnh tàn bạo, sống tại đất nước nhưng trở nên nghèo khổ cùng cực, trở thành thầy tu, hay gia nhập quân đội. Và Myo Myint gia nhâp quân đội vì không thể trở thành 1 thầy tu hay 1 trí thức. Giống như bao thanh niên cùng thời khác, Myo Myint gia nhập quân đội, chiến đấu bảo vệ quân đội trước khi biết về quân đội.  

Trong quân đội, Myo Myint trở thành một người lính đặt mìn và gỡ mìn. Myo mint không nhớ đã bao nhiêu lần ông và các binh sĩ khác đi thu lượm xác các nạn nhân khi họ trở thành mục tiêu của những ổ mìn do ông đặt. Và dĩ nhiên trong những nạn nhân đó, có cả người dân vô tội: 

“Tôi từng đặt rất nhiều mìn, từng gỡ rất nhiều mìn. Nhiều người đã từng bị chết dưới mìn tôi đặt. Phải nói là tôi rất tội lỗi nhưng vì là một người lính tôi phải thừa lệnh.” 

Thế nhưng chưa bao giờ Myo Myint nghĩ là mình sẽ trở thành nạn nhân của mìn cho đến 1 ngày.  

“Vào ngày 18 tháng Hai năm 1984. Tại nạn xảy ra”. 

(Hình AFP: Bà Aung San Suu Kyi nói chuyện với thân nhân của tù nhân chính trị ở Ngưỡng Quảng, ngày 29/11/2010.) 

Myo Myint kể rằng, khi ông đang cùng 4 binh sĩ khác gỡ mìn trên 1 cánh đồng thì một trái mìn phát nổ làm nhiều mìn khác nổ theo. Trận nổ khá lớn đã cướp đi sinh mạng 4 binh sĩ kia và Myo Myint là người duy nhất may mắn còn sống sót. Thế nhưng may mắn chỉ bảo vệ ông khỏi lưỡi hái tử thần nhưng không giúp ông tránh khỏi thương tật. Myo Myint bị mất hoàn toàn 1 chân, và 1 tay, thậm chí các ngón tay trên bàn tay còn lại cũng không còn.  

“Lúc đó tôi ước rằng tôi có thể chết đi để tôi không thấy đau đớn.”

 

Những Vết Thương Chưa Lành 

Nói tới đây, Myo Myint bỗng im lặng, mắt hướng về một nơi xa xăm như tránh cho những giọt nước mắt chực tuôn trào. Dù đã hơn 20 năm, các vết thương đã lành nhưng tâm hồn Myo Myint chưa bao giờ lành hẳn. 

Năm 1987, Myo Myint bị loại khỏi quân đội. Thật lạ lùng là lúc ấy ông cảm thấy vui vì từ nay sẽ không còn phải nhìn thấy một nạn nhân nào chết vì mìn của mình. Thế nhưng tận sâu thẳm trong tâm hồn, Myo Myint buồn tủi cho chính bản thân. Trong một cuốn phim tài liệu mới ra đời nói về cuộc đời mình mang tên “Burma Soldier”, tạm dịch “Người lính Miến Điện”, Myo Myint tâm sự: 

“Lúc đó tôi trở nên trầm cảm. Khi tôi nhìn thấy người ta đi, tôi cũng muốn đi. Khi tôi nhìn người ta có thể làm việc với đôi tay của họ, tôi cũng muốn làm được điều đó.” 

Thất vọng, buồn chán, Myo Myint bắt đầu tìm vui bên chén rượu. Cảm thấy cuộc đời mình bị bế tắc, Myo Myint bắt đầu suy nghĩ nguyên nhân nào tạo ra bi kịch đời mình. 

“Và tôi bắt đầu tự hỏi: “Tại sao nội chiến xảy ra? Hòa bình là gì? Và trách nhiệm thực sự của quân đội là gì?” 

Sau nhiều ngày tự đặt ra vô vàn các câu hỏi, Myo Myint đã tìm ra nguyên nhân mà theo ông đã tạo ra bao cảnh ly tán cho nhiều gia đình: 

“Tôi nghĩ tình cảnh tôi như thế là do nội chiến mà ra”. 

Nội chiến là gì? Hòa bình là gì? Trách nhiệm quân đội là gì? Myo Myint tự đi tìm câu hỏi cho riêng mình. Ông nói trong cuốn phim tư liệu: 

“Tôi bắt đầu đọc về lịch sử chính trị Miến Điện bắt đầu từ thời thuộc địa trở đi.
Khi đọc, tôi bắt đầu hiểu ra nội chiến là gì.”
 

Myo Myint tìm lại những quyển sách đã bị chính quyền cấm đóan, mở một thư viện nhỏ để khuyến khích giới trẻ vào đọc. 

“Tôi về sống với mẹ tôi và các anh chị em. Lúc đó tôi cũng mở một thư viện để giới trẻ tới đọc miễn phí.” 

Myo Myint tâm sự rằng, khi còn nhỏ, thầy giáo dạy lịch sử của ông không bao giờ dùng sách giáo khoa để giảng bài. Thay vào đó, người thầy này dạy cho Myo Myint cái lịch sử bị che giấu – lịch sử mà theo Myo Myint chính quyền không muốn người dân biết. Chính vì thế, ông muốn chia sẻ cái lịch sử bị giấu diếm với mọi người.

(Hình RFA: Bản đồ Miến Điện.) 

Chiến tranh, Myo Myint từng chứng kiến binh sĩ Miến Điện hãm hiếp phụ nữ, từng chứng kiến binh sĩ đốt phá làng mạc và từng chứng kiến mẹ mất con, vợ mất chồng và con mất cha. Vẫn giọng nghẹn ngào trong cuốn phim tư liệu, Myo Myint nói: 

“Tôi thấy nặng trĩu trong tim mình và nghĩ lý ra tôi không nên tham gia vào quân đội.”  

Và đó cũng là lúc Myo Myint lên tiếng. 

“Tôi cố gắng ngăn chặn nội chiến. Tôi liên lạc với những nhóm đối lập, bàn thảo với họ làm thế nào để kết thúc cuộc nội chiến đó, cũng như làm thế nào để mang lại dân chủ thật sự cho Miến Điện.” 

Năm 1988, khi hàng ngàn thầy tu và nhân dân Miến Điện đổ xô ra đường biểu tình, cũng là lúc quân đội giết khoảng 3.000 thường dân, bắt bớ hàng ngàn người để ngăn chặn cuộc biểu tình. Lúc đó, Myo Myint đã nói chuyện giữa khoảng 8.000 người để thuyết phục binh lính bỏ súng và tham gia biểu tình. Ngày hôm sau, 200 binh sĩ đã rời quân đội đứng về phía người biểu tình. Đó cũng là lúc Myo Myint bị bắt.  

“Nếu số tôi phải chết thì đành vậy.”  

Đó là lời nói của Myo Myint trong cuốn phim tự liệu – cuốn phim nói khá rõ về cuộc đời Myo Myint. 

Trong suốt khoảng 15 năm từ 1989 đến năm 2004, Myo Myint bị bắt 3 lần và ngồi tù tổng cộng hơn 14 năm. Ông nói: 

“Họ ghét tôi hơn những tù nhân khác bị bắt vì lý do chính trị vì tôi đã từng phục vụ cho quân đội mà giờ đây lại quay sang chống lại chế độ.
“Chúng tôi bị hành hạ rất dã man trong thời gian đó. Mỗi ngày, tôi bị mang ra ngoài và đánh đập đến ngất xỉu và lại đánh tiếp.” 

Năm 2005, Myo Myint rời Miến Điện tị nạn tại Thái Lan và sau đó sang tị nạn tại Hoa Kỳ từ năm 2008, đoàn tụ với người anh sau 19 năm xa cách. Mặc dù con đường tù tội của Myo Myint đã chấm dứt nhưng những hoạt động tranh đấu cho hòa bình của ông vẫn không dừng lại: 

“Bom mìn rất nguy hiểm cho con người, và dĩ nhiên là cho binh lính.
Không sử dụng, không sản xuất, không mua bán bom mìn bởi vì tôi biết mìn nguy hiểm như thế nào.

Một nửa cơ thể tôi đã mất cho cuộc nội chiến. Với một nửa còn lại tôi sẽ làm mọi thứ để ngăn chặn chiến tranh. Tôi sẽ đấu tranh cho hòa bình.”
 

Myo Myint, một người mà khi nói chuyện người ta thường không biết nên gọi là gì. Một nạn nhân? Người anh hùng hay kẻ phản bội? Kết thúc cuộc nói chuyện, Myo Myint tâm sự rằng ước mơ lớn nhất của Myo Myint là được trở về Miến Điện. Được bước đi trên mảnh đất quê hương, và được chứng kiến người dân Miến sống công bằng và hạnh phúc. Có lẽ, cũng không quá thiếu lý khi gọi Myo Myint là người yêu nước. 

Quỳnh Chi xin cám ơn quý vị đã đến với chương trình và mong quý vị chia sẻ những câu chuyện có ý nghĩa với Quỳnh Chi trên facebook và Twitter. Xin kính chào và hẹn gặp lại quý vị vào kỳ tới. 

 

Lào Bị Phản Đối Mạnh Mẽ Ý Định Xây Đập Xayaburi

 Mặc Lâm 

(RFA) Việc xây dựng đập thủy điện trên sông Mekong lại mở ra một vấn đề mới cho các nước dọc hai bên bờ con sông nơi được xếp đứng thứ hai về sự phong phú các sinh vật thủy sinh, chỉ đứng sau sông Amazon.  

(Hình RFA: Đời sống dọc theo sông Mêkong trên địa phận Việt Nam.)
Trung Quốc đứng hạng đầu về các con đập đầu nguồn và trong khi những con đập này vẫn còn tranh cãi về những tác động của chúng đối với giòng chảy cũng như môi trường sinh vật bị đe dọa thì Lào lại tuyên bố sẽ xây dựng một con đập mới tại tỉnh Xayaburi. Mặc Lâm có bài viết sau đây:

 

Tác Hại Mạnh Mẽ Đến Môi Trường và Nguồn Sống 

Ý định xây đập Xayaburi của Lào đã dấy lên một làn sóng chống đối mạnh mẽ từ các tổ chức bảo vệ môi trường. Đã có hơn 260 tổ chức phi chính phủ thuộc hơn 50 quốc gia đã gửi biên bản kiến nghị tới Thủ Tướng Lào và Thái Lan phản đối việc xây dựng đập Xayaburi. Ba nước nằm chung giòng sông với Lào gồm Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam đều tỏ ra lo ngại cho việc xây dựng này. Nguồn lợi thủy điện của Lào chắc chắn không thể bù đắp nỗi những thiệt hại biết trước của các nước khu vực hạ lưu.
Công ty Kanchang của Thái Lan đựơc chính phủ Lào cho phép xây dựng con đập này để khai thác thủy điện tại Xayaburi đã bị người dân Thái chống đối. Sáng ngày 19/4, hàng trăm người Thái tập trung trước cửa công ty tại Vọng Các để phản đối. Ông Niwat Roikeaw, một lãnh đạo của người biểu tình cho biết:

 

(Hình: Bản đồ ghi vị trí của đập thủy điện Xayaburi.) 

Nếu con đập này đựơc tiếp tục xây dựng lên thì chính đời sống nhân dân Lào, Thái Lan cũng như hai nước Cam Bốt và Việt Nam sẽ bị tàn phá. Ông yêu cầu chính phủ Thái ngăn cản việc làm của công ty Kanchang.

Tại Việt Nam, tổ chức VUSTA đã có cuộc hội thảo của các nhà khoa học và đi đến kết luận rằng cần phải ngưng ít nhất 10 năm để nghiên cứu thêm về những tác động mà con đập có thể gây ra cho hàng triệu người sống dưới khu vực hạ lưu. Phó giáo sư tiến sĩ Hồ Uy Liêm, Phó Chủ Tịch thường trực VUSTA, cho biết:

– VUSTA cũng giống như hơn 200 tổ chức quốc tế đã có phát biểu là nên tạm dừng việc xây dựng cái đập ấy khoảng 10 năm để tiếp tục nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về tác động môi trường chiến lược. Không những là chỉ do cái đập này mà vì nếu đập này được xây thì sẽ bật đèn xanh cho 11 cái đập khác tiếp theo ở hạ lưu được xây và như vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh kế của người thuộc khu vực các nước như Lào, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam, đặc biệt là Việt Nam.
Mối lo tiềm ẩn mà PGSTS Hồ Uy Liêm nói không chỉ một con đập Xayaburi sắp được xây dựng mà 11 con đập khác cũng đang nằm chờ phản ứng các nước trong khu vực để lên phương án khai triển.

TS Tô Văn Trường nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Đồng bằng sông Cửu Long cho biết ý kiến của ông về kết luận này:

– Về ảnh hưởng của đập Xaryburi thì thực ra hiện nay điều cần nhất là mình phải đánh giá một cách định lượng chứ không định tính. Cái Ủy Hội quốc tế sông Mêkong trước đây người ta có đánh giá môi trường chiến lược mà trong đó người ta phân tích cả những mặt tác hại đến khu vực hạ lưu đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu long. Trong phần đó thì người ta có kiến nghị là nên lùi lại khoảng 10 năm để thu thập thêm số liệu, tài liệu đánh giá bài bản và khoa học hơn. 

Các nhà khoa học thuộc mạng lưới sông ngòi Việt Nam cho rằng, nếu cả 12 con đập trên dòng Mekong được hoàn thành thì phù sa không thể trôi xuống vùng biển Hồ của Cam Bốt và hạ lưu châu thổ sông Mekong ở đồng bằng sông Cửu Long, mà nguồn phù sa này bị giữ lại phía bên trên khu vực của Cam Bốt.

Đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm nhận ít nhất là 160 triệu tấn phù sa bồi đắp hai bên giòng sông do đó sản lượng lúa của các tỉnh dọc sông Mekong luôn luôn cao nhờ lượng phù sa màu mỡ này. Nếu con đập Xayaburi thành hình thì số phù sa này theo ước tính của các nhà thủy học sẽ chỉ còn lại một phần tư.
Giáo Sư TSKH Nguyễn Ngọc Trân, người bỏ đã ra nhiều năm để nghiên cứu về thủy học của sông Mêkong cho biết:

– Về chuyện xây dựng các đập để chuyển nước từ sông Mekong ra những lưu vực khác thì nó sẽ tác động mạnh đến đồng bằng sông Cửu Long. Tôi cũng rất đồng tình với những nghiên cứu gần đây về chuyện phát điện của khu vực hạ lưu con sông này. Riêng về đập Xayaburi cái khó khăn nhất cho mình ở hạ lưu là giòng chảy tự nhiên của sông Mêkong nó lần lần từng bước thay đổi, được thay thế bằng một giòng chảy của một chuỗi các con đập. Mà cứ qua mỗi chuỗi đập như vậy thì phù sa sẽ bị lấp bớt. Vấn đề tài nguyên về thủy sản cũng bị giảm đi.

(Hình RFA: Ủy Hội Sông Mekong có hai trụ sở chính một ở Cam Bốt và một ở bên Lào.) 

Nó cũng ảnh hưởng vấn đề sụt lún đất sẽ tăng hơn. Có nghĩa là mực nước dâng tương đối ở tại đồng bằng sẽ cao hơn thì cái giòng chảy tự nhiên nó lần lần bị thay thế bằng giòng chảy của một chuỗi đập. Thời gian mà họ xả ra không chắc gì phù hợp với điều kiên sinh thái trong đồng bằng sông Cửu long của mình.

Phù sa không còn trôi về sẽ dẫn tới việc các bờ biển phía Đông của đồng bằng sông Cửu Long và mũi Cà Mau bị sạt lở và có thể mất dần sau vài chục năm. Mất phù sa cũng làm cho cả đồng bằng sông Cửu Long rơi vào tình trạng sụt lún và chìm rất nhanh dưới mực nước biển.

 

Quy Chế Thông Báo và Đồng Thuận của Ủy Hội Sông Mêkong 

Tiến Sĩ Tô Văn Trường nêu các dữ kiện chung quanh vụ đập thủy điện Xayaburi như sau:

– Hiện nay trong quy chế thông báo và đồng thuận của các nước trong Ủy hội sông Mêkong, mặc dù không có quyền phủ quyết dự án nhưng có quyền phải xin ý kiến đồng thuận của các nước, bởi vậy cho nên việc Lào muốn xây dựng đập thủy điện Xayaburi thì trước hết phải đưa ra những số liệu đánh giá một cách bài bản khoa học có tính chất thuyết phục cao. Khi con người tác dụng vào tự nhiên như xây đập thì nó có cả hai mặt lợi và hại. Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cái lợi lớn nhất vá cái hại ít nhất 

Nếu cái lợi nhiều nhất mà thuyết phục được thì sẽ dễ thuyết phục các nước cùng tham gia. Hiện nay vấn đề đập Xayaburi do Lào đưa ra còn thiếu rất nhiều tài liệu thông tin, đặc biệt là đánh giá biên giới, đánh giá tác động môi trường, đánh giá tác động về xã hội về sức khỏe, về kinh tế. Đây là vấn đề gây ra lo lắng của nhiều nhà hoạt động về môi trường của các tổ chức quốc tế.

(Hình Sông ngòi Quốc tế: Vị trí các con đập đang được đề xuất xây dựng dọc theo sông Mêkong.) 

Vấn đề Xaryburi là bài toán không những trước mắt mà về lâu dài thì nó là một công trình khởi đầu cho một hệ thống bậc thang gồm 12 đập thực hiện trên giòng chính Mêkong ở hạ lưu. Việt Nam cần chủ động nghiên cứu để làm đối chứng khi đưa ra các biện pháp cũng như con số thuyết phục để cho các nước kể cả thượng lưu và hạ lưu có một tiếng nói chung về khai thác nguồn nước sông Mêkong có tính chất bền vững lâu dài.

Trong trường hợp Lào cương quyết bác bỏ mọi nỗ lực của các tổ chức môi trường và các chính phủ vì quyền lợi kinh tế của họ thì tác hại trước mắt ra sao? Tiến sĩ Tô Văn Trường xác nhận:

– Nếu mà xây luôn thì chắc chắn nó có những tác hại mà đặc biệt nhất là vấn đề thay đổi giòng chảy nhất là đối với thủy sản. Thủy sản hiện nay thì vấn đề cá trắng và cá đen là nguồn dinh dưỡng rất lớn của đồng bào sống dọc bờ sông. Không những của Lào, Thái Lan, Cam Bốt mà của Việt Nam, Ảnh hưởng lớn thứ hai là liên quan đến vấn đề thay đổi giòng chảy. Khi thay đồi giòng chảy thì tất nhiên nó ảnh hưởng vấn đề lượng phù sa ở phía hạ lưu cũng như vấn đề nguồn nước.

Theo báo chí ước tính, nguồn lợi cá trắng chỉ tính riêng đồng bằng sông Cửu Long sẽ tổn thất khoảng từ 240.000 đến 480.000 tấn mỗi năm. Nếu tính giá xuất cảng 2.500 Mỹ kim mỗi tấn, thì mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiệt hại khoảng 500 triệu đến một tỷ Mỹ kim.

Còn thiệt hại về môi trường thì không thể tính bằng tiền mà phải tính bằng sự biến mất của hàng ngàn chủng loại thủy sinh vật cũng như sự nghèo khó của con người trên hai bờ con sông này. 

 

Đến Phiên Đài Loan Tái Khẳng Định Chủ Quyền tại Biển Đông 

Trọng Nghĩa

 

(Hình: Vùng biển Đông Nam Á.) 

(VNC) Tình hình vùng Biển Đông lại có dấu hiệu ”nổi sóng”, với những tuyên bố chủ quyền trở lại của các nước đang tranh chấp. Hôm 17/4/2011 vừa qua, đến lượt Đài Loan lên tiếng nhắc lại chủ quyền của họ trên một loạt quần đảo trong vùng. Tuyên bố này được đưa ra chỉ ít lâu sau khi Phi Luật Tân gởi công văn đến Liên Hiệp Quốc bác bỏ đòi hỏi chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc tại Biển Đông, và sau khi Hà Nội và Bắc Kinh cam kết hợp tác với nhau để tìm giải pháp cho vấn đề Biển Đông. 

Trong một bản thông cáo báo chí, Bộ Ngoại Giao Đài Loan khẳng định rằng, dưới bất kỳ góc độ nào – lịch sử, địa lý hay luật pháp quốc tế – các quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa), Tây Sa (tức Hoàng Sa), Trung Sa (Macclesfield Bank), và Đông Sa (Pratas Islands), đều thuộc chủ quyền của Đài Loan. Chính quyền Đài Bắc cũng đồng thời xác định chủ quyền của họ trên các vùng biển bao quanh các quần đảo này, cũng như vùng đáy biển hay tầng địa chất bên dưới khu vực. 

Tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Đài Loan còn khẳng định, họ không chấp nhận đòi hỏi của các nước khác về chủ quyền trên các khu vực này, đồng thời kêu gọi các quốc gia chung quanh khu vực tranh chấp tôn trọng luật lệ quốc tế, tránh có những biện pháp đơn phương có thể phá vỡ tình hình hòa bình và ổn định ở Biển Đông.

Đài Loan là một trong sáu nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, cùng với Trung Quốc, Việt Nam, Mã Lai Á, Phi Luật Tân và Brunei. Tương tự như Trung Quốc, Đài Loan hiện tranh chấp với Việt Nam về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, đang do Bắc Kinh chiếm giữ. 

Tại vùng quần đảo Trường Sa, cũng thế, Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam là ba nước đòi hỏi chủ quyền trên toàn bộ khu vực, trong lúc Brunei, Phi Luật Tân hay Mã Lai Á chỉ tranh chấp một số đảo cụ thể mà thôi. 

Về bãi đá ngầm Macclesfield, ở phía Đông-Nam quần đảo Hoàng Sa, khu vực này đã được cả Đài Loan lẫn Trung Quốc gọi là Quần đảo Trung Sa. Đài Bắc, Bắc Kinh và Manila đều coi đó là lãnh thổ của họ. 

Riêng vùng gọi là Đông Sa, tên quốc tế là Pratas, nằm ở vùng đông bắc biển Đông, cách Hong Kong 350 cây số và cách Đài Bắc 850 cây số, khu vực quần đảo bao gồm ba hòn đảo này đang do Đài Loan quản lý, nhưng bị Trung Quốc đòi chủ quyền.

 

Đài Loan Hàm Ý Chỉ Trích Việt Nam, Phi Luật Tân Và … Trung Quốc 

Như vậy, phải nói rằng Đài Loan là một trong những tác nhân quan trọng can dự vào hồ sơ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, là nước hiện chiếm giữ Ba Bình, đảo lớn nhất tại vùng Trường Sa. Thế nhưng tiếng nói của Đài Loan ít được nghe thấy trên các diễn đàn quốc tế, do việc họ thường xuyên bị Bắc Kinh cấm cửa trong lãnh vực ngoại giao. 

Phải lần ngược về tháng 7/2010 mới thấy, chính quyền Đài Bắc khẳng định trở lại chủ quyền của họ trên vùng Biển Đông. Vào khi ấy, Đài Loan đã lên tiếng sau khi Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton xác định tại Hà Nội vào cuối tháng Bảy rằng, vấn đề tự do hàng hải và tự do phát triển tại vùng Biển Đông thuộc diện quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ. 

Câu hỏi đặt ra là, tại sao Đài Loan lại lên tiếng vào thời điểm này. Giới quan sát đã nêu bật hai yếu tố. Trước hết, đó là sự kiện Phi Luật Tân, ngày 5/4 vừa qua, đã chính thức gởi văn thư lên Liên Hiệp Quốc, bác bỏ đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông thể hiện trong tấm bản đồ “hình lưỡi bò” mà họ công bố hồi tháng 5/2009. 

Yếu tố thứ hai là sự kiện Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng và ông Quách Bá Hùng (Guo Boxiong), Phó Chủ Tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc vào tuần trước, đã tiếp xúc với nhau tại Hà Nội. Hai bên đã đồng ý hợp tác với nhau một cách chặt chẽ hơn để “tìm ra những giải pháp mang tính cơ bản” nhằm giải quyết các vấn đề liên quan Biển Đông. 

Các sự kiện liên tiếp này đã thúc đẩy Đài Loan phải lên tiếng, nếu không muốn bị gạt ra bên lề các đàm phán liên quan đến biển Đông. Vào hôm 17/4, nhiều học giả Đài Loan đã lên tiếng cho rằng, chính quyền nước họ phải năng động hơn nữa trong việc tìm giải pháp cho các cuộc tranh chấp. 

Tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Đài Loan gần như là phản ứng cấp thời của chính quyền trước các khuyến cáo kể trên, nhất là khi chính quyền của Tổng Thống Mã Anh Cửu bị tố cáo là không dám lên tiếng về Biển Đông vì sợ gây trở ngại cho tiến trình cải thiện quan hệ đang rõ nét với Trung Quốc. 

 

Việt Nam và Trung Quốc Tăng Cường Hợp Tác

Để Chống “Các Thế Lực Thù Địch” 

Thanh Phương 

(Hình REUTERS: Các thành viên Pháp Luân Công tại Đài Bắc ngồi thiền để phản kháng nhân kỷ niệm 11 năm ngày Pháp Luân Công bị Bắc Kinh đàn áp, khiến tổ chức này sau đó phải rút vào bí mật.) 

(VNC) Việt Nam đang tăng cường hợp tác với Trung Quốc về an ninh, quốc phòng, tư pháp để “đấu tranh chống các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước”. 

Ngày 8/4 vừa qua, trên nguyên tắc, hai thành viên giáo phái Pháp Luân Công ở Việt Nam Vũ Đức Trung và Lê Văn Thành bị đem ra xử vì tội lắp đặt hệ thống máy phát sóng radio trái phép tại nhà để “tuyên truyền chống lại nước khác”. Báo chí chính thức không nói rõ “nước khác” là nước nào, nhưng ai cũng biết đó là Trung Quốc, nơi mà chính quyền đàn áp thẳng tay giáo phái Pháp Luân Công. Theo nguồn tin của tờ Đại Kỷ Nguyên Thời Báo, một tờ báo chuyên về thời sự Trung Quốc, ấn hành tại New York, chính phủ Cộng sản Việt Nam đã bắt giữ Vũ Đức Trung và Lê Văn Thành vào tháng 6/2010, sau khi nhận được một công văn từ Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ngày 5/3/2010 gởi cho Bộ Công An Cộng sản Việt Nam. 

Nhưng bất ngờ vào giờ chót, phiên xử nói trên đã được hoãn lại. Theo nhận định của Đại Kỷ Nguyên Thời Báo, khi truy tố hai thành viên Pháp Luân Công nói trên, Việt Nam bị kẹt giữa một bên là yêu cầu của Trung Quốc, đòi phải trừng trị hai kẻ dám tuyên truyền chống Bắc Kinh, và bên kia là phản ứng của cộng đồng quốc tế, xem vụ xử này là một hành động vi phạm quyền tự do báo chí và tự do tín ngưỡng. Hơn nữa, phiên xử hai thành viên Pháp Luân Công nếu đúng theo dự trù thì đã diễn ra ngày 8/4, tức là chỉ vài ngày sau phiên xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ 4/4, một phiên xử đã bị dư luận Việt Nam và quốc tế phản đối kịch liệt. Chính quyền Hà Nội hoãn phiên tòa sang một thời điểm khác có lẽ để tránh bớt áp lực quốc tế. 

Điều đáng nói là vụ truy tố hai thành viên giáo phái Pháp Luân Công xảy ra trong bối cảnh mà Việt Nam đang tăng cường hợp tác với Trung Quốc về mặt an ninh, quốc phòng cũng như tư pháp. Từ ngày 12 đến 15/4 vừa qua, một phái đoàn của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Phó Chủ Tịch Quách Bá Hùng, đã đến thăm Việt Nam. Đây là phái đoàn quân sự cao cấp nhất của Trung Quốc đến Việt Nam trong thời gian gần đây. Tuy chỉ là Phó Chủ Tịch Quân ủy trung ương, nhưng tướng Quách Bá Hùng đã được cả Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng, lẫn Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp đón long trọng. 

Cũng trong thời gian đó, Ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Công An Cộng sản Việt Nam, ông Lê Hồng Anh đến thăm Trung Quốc. Chuyến đi này dường như không được báo chí trong nước loan tải, nhưng được Tân Hoa Xã tường thuật. Khi tiếp ông Lê Hồng Anh, ông Chu Vĩnh Khang, Ủy viên thường vụ Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã kêu gọi hợp tác thiết thực với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh và thi hành luật pháp. Theo Tân Hoa Xã, đáp lời ông Chu Vĩnh Khang, Bộ trưởng Lê Hồng Anh cho biết, “Đảng và Chính phủ Việt Nam coi trọng cao việc hợp tác giữa cơ quan hành pháp và an ninh hai nước, sẵn sàng cùng với Trung Quốc bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của hai nước.” 

Bên cạnh an ninh và quốc phòng, Việt Nam và Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh hợp tác về tư pháp, qua chuyến đi Việt Nam của Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao Trung Quốc Vương Thắng Tuấn từ ngày 16 đến 20/4. Khi tiếp ông Vương Thắng Tuấn hôm qua, Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố là ngành tòa án hai nước “cần tăng cường hợp tác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trong việc xét xử tội phạm của mỗi nước”, cũng như “đấu tranh chống các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước”. 

“Thế lực thù địch” là nhóm từ cũng đã được sử dụng trong cuộc hội đàm giữa Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Chủ Tịch Quân ủy trung ương Quách Bá Hùng, ngay cả khi nói về vấn đề lãnh thổ. Theo báo điện tử của chính phủ Cộng sản Việt Nam, Thượng tướng Quách Bá Hùng, tuy đồng với quan điểm của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trong việc xem xét, giải quyết vấn đề về Biển Đông, nhưng cũng yêu cầu Hà Nội “cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.” 

Chưa biết là hai nước vừa giải quyết vấn đề Biển Đông mà lại phải lo chống các “thế lực thù địch” như thế nào, nhưng trước mắt, theo tin báo chí trong nước, Việt Nam và Trung Quốc sẽ sớm thỏa thuận về việc khai thác du lịch Thác Bản Giốc, ở biên giới hai nước, theo kết quả cuộc thảo luận giữa Thứ Trưởng Ngoại giao Cộng sản Việt Nam, ông Hồ Xuân Sơn với người đồng nhiệm Trung Quốc Trương Chí Quân hôm 18/4. 

 

Xin Chớ Tiếng Bấc Tiếng Chì Đối Với Bạn Ta 

Bùi Tín

(Hình REUTERS: Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trước tòa án ở Hà Nội, ngày 4/4/2011.) 

(VOA) Cư dân internet và blog cùng một số chiến sĩ dân chủ trong và ngoài nước vừa có cuộc trao đổi sôi nổi về một số bài viết về phiên tòa xử luật sư Cù Huy Hà Vũ, đặc biệt là về bài viết của nhà toán học Ngô Bảo Châu và những bài nhận xét phê phán bài viết này.

Góp ý, nhận xét, phê phán những bài viết công khai là quyền tự do của mọi người, nhất là của anh chị em dân chủ luôn có tinh thần xây dựng cho nhau; đó cũng là chuyện bình thường trong một xã hội phát triển, tự do. Các cuộc trao đổi tập trung vào bài viết của Giáo sư Ngô Bảo Châu, bài phản biện của em Huỳnh Thục Vy, sinh viên luật ở Tam Kỳ; bài nhận xét của cô Nguyễn Tường An sống tại Pháp; và bài của nhà báo tự do Trương Duy Nhất sống ở Đà Nẵng trên mạng của ông mạng tên “Góc nhìn khác”.

Theo thiển ý của tôi, bài của Giáo sư Ngô Bảo Châu hay, tốt, khá độc đáo, bổ ích cho phong trào dân chủ; tấm lòng dấn thân cho giáo dục, cho tự do dân chủ của ông là rõ ràng. Ông được đào tạo tại trường lớp thực nghiệm, nơi khuyến khích tư duy mở, chủ động sáng tạo của người học, từng du học ở Pháp và Hoa Kỳ, lập kỳ công trong nghiên cứu toán học cao cấp.

Theo tôi, không nên lên án ông đã nhận nhà của nhà nước là sai, rồi suy luận là do hàm ơn nên không dám mạnh dạn phê bình chính quyền, phải loanh quanh, gượng nhẹ khi phát biểu. Nói vậy là suy diễn chủ quan, không công bằng, khách quan. Việc nhận nhà là quyền tự do của ông, cả gia đình ông đã nói rõ coi đây là tài sản của nhân dân, của xã hội, ông nhận sử dụng để cuộc sống riêng thuận lợi, việc nghiên cứu khoa học, tiếp bạn bè, đồng nghiệp, sinh viên, học sinh, bạn ngành toán quốc tế thuận lợi, không phải do hưởng lạc cá nhân.

Sau khi nhận nhà của nhà nước để ở và làm việc nghiên cứu, ông vẫn kiên trì công khai yêu cầu phải chấm dứt ngay việc khai thác bauxite trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, ông vẫn biểu lộ lập trường vững vàng hết lòng ủng hộ Luật sư Cù Huy Hà Vũ và đã phát biểu ngay sau khi phiên tòa xử xong một cách “cẩu thả”. Tôi cho rằng chữ “cẩu thả” của ông khá đắt, độc đáo, hóm hỉnh, lại mỉa mai nữa. Tòa án là nơi nghiêm trang, đàng hoàng, mọi sự phải chặt chẽ theo quy định nghiêm cách của từng điều luật, với quy trình xử theo lớp lang chính quy, từ khi khai mạc đến khi tuyên án và bế mạc. Vậy mà việc xử đã sơ sài, tùy tiện, không theo trình tự luật định, không công bố 10 tài liệu chứng cứ, không có biện hộ, cũng không có tranh biện, phớt lờ luật pháp một cách ngang nhiên, thế là “cẩu thả” như trò đùa. Cái ngụ ý sâu sắc như thế, sao lại cho là nhẹ, là không dám lên án mạnh, vì sợ mở miệng mắc quai.

Khi Giáo sư Ngô Bảo Châu cho rằng quan tòa đã “sợ hãi”, không dám trưng ra chứng cứ, không dám cho bị cáo trình bày, không để các luật sư biện hộ, không dám cho báo chí tham dự… đều là vì sợ, và sợ đủ thứ, sợ bị cáo, sợ luật sư, sợ công luận, sợ công khai, sợ thế giới. Mũi lên án này rất sâu. Vì thường tòa án là nơi đàng hoàng, nghiêm cách, đầy uy quyền và uy lực, có vành móng ngựa, có quan tòa đằng đằng quyền uy, áo đen áo đỏ, quân lính, súng ống ra oai, canh gác chặt chẽ, có toàn quyền sinh quyền sát dựa theo luật trong tay, thường chỉ làm cho bị cáo và người dân sợ. Thế mà ở đây quan tòa, bộ máy xét xử lại sợ hãi. Thế có ngược đời, có hiếm hoi, có độc đáo, có thú vị không.

Nhiều người cho rằng tại sao ông Ngô Bảo Châu không nói rõ nỗi sợ của lãnh đạo đảng và nhà nước, của Bộ Chính Trị, những người chỉ đạo vụ xử án phi lý này. Tôi cho rằng không nhất thiết phải nói rõ, nói rõ được là càng tốt, nhưng ông có thể không nói ra, ông chỉ nói trong khuôn khổ phiên tòa. Ai cũng biết là phiên tòa được dàn dựng trước, với chỉ thị, nghị quyết bỏ sẵn trong túi áo theo kiểu tiền chế, “cái cẩu thả” coi thường luật pháp, coi thường công luận là căn bệnh từ trên cao nhất truyền xuống, không nói rõ thì ai cũng nhìn ra. Ý tại ngôn ngoại là thế. Mỗi người có cách nói cách viết theo phong cách riêng. Không nên buộc ai cũng phải viết đầy đủ ý, y như mình mong muốn. Có người viết xúc tích, gợi ý cho bạn đọc ngẫm nghĩ. Xin chớ vội nói thế là sai lầm, là do bệnh sợ hãi cường quyền, là yếu ớt, rồi phủ định cả bài viết có giá trị. Thế là vội, là không công bằng, là chủ quan, rơi vào cực đoan.

Nếu sợ cường quyền, Giáo sư Châu đã không thể nói: “không gì có thể làm mất thanh danh, mất danh dự của đất nước, của dân tộc hơn là một phiên tòa như thế”.
Cô Nguyễn Tường An, mới mào đầu bài “Ai sợ hãi? ông quan tòa hay Giáo sư Ngô Bảo Châu?” đã cho rằng Giáo sư Ngô Bảo Châu rất “ngây thơ về chính trị”. Sao lại nói nặng thế!

Sau đó cô lại nói rằng Giáo sư sợ hãi, “tá hỏa vì thấy dư luận thất vọng, phẫn nộ, coi thường ông” khi ông nhận nhà của nhà nước. Sao cô dùng chữ nặng nề đến thế? Giáo sư tỏ ra “sợ hãi,tá hỏa” ra sao? Ông vẫn bình tĩnh, chững chạc đấy chứ. Không nên nhận xét chủ quan, thiếu cơ sở, không công bằng với một trí thức dấn thân, có lập trường dân chủ rõ ràng. Xin nhớ Giáo sư Châu đã nhận xét việc nhà nước cộng sản buộc báo chí phải nhất loạt đi bên lề phải rằng: “Đi bên lề là thân phận của đàn cừu”! Một cách nói sâu sắc có hình ảnh cho cả người chủ trương cấm tự do báo chí và những người thực hiện, chấp hành.

Việc Giáo sư nói: “Tôi vốn không đặc biệt hâm mộ… lý lẽ ông không có tính thuyết phục đặc biệt”, rồi nói tiếp: “nhưng gần đây, ông tỏ ra là không tầm thường”, rồi ca ngợi Luật sư Cù Huy Hà Vũ như Hector trong chuyện cổ Hy Lạp và Kinh Kha trong truyện cổ Trung Hoa. Thế là ca ngợi đến tuyệt đỉnh rồi còn gì.

Tôi nghĩ Giáo sư Châu đã rất thành thật với chính mình. Vì về lý lẽ, ông Cù Huy Hà Vũ đã có chung lý lẽ với hàng ngàn vạn trí thức và các nhà dân chủ khác, Giáo sư cũng hâm mộ, cũng được thuyết phục nhưng sự hâm mộ không có gì đặc biệt. “Nhưng”, quan trọng là chữ “nhưng” này, “nhưng gần đây”, với những sự kiện mới, qua vụ án, Luật sư Cù Huy Hà Vũ đã tỏ rõ bản lĩnh, nhân cách, dũng khí mà Giáo sư nhận ra là cao quý đặc biệt, để ví như anh hùng cổ Hector, như tráng sĩ “một đi không quay về..hề …Kinh Kha”. Có sự khen ngợi nào hay, độc đáo, tuyệt đỉnh, “đặc biệt” đến vậy.

Tôi nghĩ với những đối tượng đấu tranh của mình, các chiến sĩ dân chủ vẫn cần giữ thái độ khách quan, công bằng, không suy luận theo cảm tính, càng không tùy tiện chụp mũ, vô tình mang tội vu cáo. Với các bạn dân chủ đồng hành, lại càng thận trọng, tránh phát biểu dễ dãi, tiếng bấc tiếng chì, dễ dãi tùy tiện, vô tình gây rối cho hàng ngũ mình, làm chính quyền độc đảng thích thú.

Riêng về bài viết “Ngô Bảo Châu và sự sợ hãi” của ông Trương Duy Nhất, tôi rất băn khoăn, không rõ ông là người có chính kiến ra sao, đứng trên lập trường nào, có xu hướng dân chủ rõ ràng không?

Ông từng là nhà báo, làm báo địa phương Quảng Nam-Đà Nẵng thì phải, nay làm Blog riêng, mang tên “Góc nhìn khác”. Ông thóa mạ các nhà dân chủ, gọi mỉa là “các nhà dân chửi”, ông nhận xét trong hàng ngũ dân chủ, không một ai có tư duy đúng, cũng không ai có dũng khí cả. Trong khi có biết bao anh chị em dân chủ đáng quý trọng. Thế có là cực đoan không? Tuy ông nói là quý trọng Giáo sư Ngô Bảo Châu, nhưng lại đưa tin là Giáo sư là kẻ sợ hãi do bị lên án tới tấp bởi các nhà dân chủ, rằng cái blog “Người yêu toán” của Giáo sư Châu chịu cả “núi mắng chửi” “rủa vả”, “tràn ngập comment khủng, giận dữ”, bị hàng “núi danh từ tục tĩu, hằn học”, hàng núi bài trên mạng (!) từ các nhà dân chủ “sủi bọt mép”… Tất cả đều là nói quá, thêu dệt, không có thật.

Chưa hết, ông Trương Duy Nhất còn mỉa mai rằng phong trào dân chủ ở Việt Nam là không có triển vọng gì, người ta mong một kiểu cách mạng Hoa Nhài nhưng sẽ “chỉ có hoa cứt lợn”.(!)

Cuối cùng ông mỉa mai chua cay sư Cù Huy Hà Vũ: “tôi nghe câu nói của ông Vũ trước tòa án ‘Nhân dân và Tổ quốc sẽ phá án cho tôi’ mà không nhịn đươc cười”. Nay ai cười ai đây, thưa ông!

Tất nhiên ông Trương Duy Nhất có quyền tự do nói và viết, và cười… Nhưng ít nhất cũng xin ông tôn trọng sự thật và bạn đọc trên Net. Xin cho biết “hàng núi mắng chửi, rủa vả, hàng núi comment khủng” trên mạng, hàng núi danh từ tục tĩu, hằn học gửỉ cho Giáo sư Ngô Bảo Châu là ở đâu vậy? Có thật không? Ông muốn có một “Góc nhìn khác” thì xin cứ việc, nhưng xin hãy là một blog, một mạng lương thiện, trung thực, một góc nhìn tự trọng và tôn trọng người đọc.

Giáo sư Ngô Bảo Châu đã đóng Blog của mình, tạm biệt bạn bè một thời gian. Thật đáng tiếc. Rất đáng tiếc vì blog của ông đang đông khách, rất bổ ích cho việc nghiên cứu toán học, cho các bạn trẻ.

Chắc là Giáo sư không muốn sa đà vào những cuộc tranh cãi phức tạp sẽ chỉ rắc rối thêm, dễ làm phiền lòng những người trung thực có thiện chí, chỉ làm cho kẻ cầm quyền thô bạo và kẻ theo đu&ocirc
;i họ hý hửng. Đây là tư cách đàng hoàng của kẻ sĩ, không tự ái khi bị hiểu lầm, không dính vào chuyện cá nhân bị phiền toái. Sao ông Nhất lại chụp cho Giáo sư là sợ hãi. Ông bênh Giáo sư hay là trên thực tế vào hùa với những kẻ dìm và bôi bác Giáo sư?

Mong rằng các bạn bè dân chủ tự do của Giáo sư Ngô Bảo Châu, của Luật sư Cù Huy Hà Vũ qua đây rút kinh nghiệm, biết đọc và thưởng thức, đánh giá tỉnh táo, khách quan, công bằng các bài viết của nhau, không vụng dại cắt xén, bắt bẻ từng câu, từng chữ, đặt ra ngoài văn cảnh, rồi tiếng bấc tiếng chì vội vã, tùy tiện, chỉ phơi bày sơ hở cho kẻ xấu phá rối và phá hoại, vô tình tiếp sức cho nhà cầm quyền đàn áp phong trào dân chủ đang lên, không có sức gì ngăn nổi. 

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

 

Nỗi Sợ ở Việt Nam 

Thanh Quang

 

(RFA) Hồi thế kỷ thứ 19, một chí sĩ có óc canh tân đất nước là Nguyễn Trường Tộ từng dâng lên Triều Đình Huế 30 Bản Điều Trần với mong mỏi đưa nước Việt Nam phong kiến trở thành một quốc gia tân tiến phú cường. 

(Hình AFP: Công an chặn các ngả đường vào Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trong ngày xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ 4/4/2011.)

 

“Biết Mà Không Nói Là Bất Nhân” 

Nhưng quần thần thủ cựu can gián Vua Tự Đức bác bỏ kế hoạch canh tân ấy khiến nhà ái quốc Nguyễn Trường Tộ ngậm ngùi cho vận nước cho tới giây phút ông giả biệt cõi đời ở tuổi vừa ngoại tứ tuần: 

“Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận
Ngoảnh đầu cơ nghiệp ấy trăm năm…” 

Chính nỗi ưu tư suốt đời cho vận nước ấy khiến ông từng thốt lên rằng “Biết mà không nói là bất nhân. Nói mà không nói hết là bất nghĩa”. 

Qua bài “Công lý hay bất nhân bất nghĩa” được blog Hãy Dành Thời Gian phổ biến, nhà văn Võ Thị Hảo nhận xét rằng “nếu vua mà không tối tăm thủ cựu, biết nghe theo ông thì rất nhiều khả năng Việt Nam hiện nay đã có thể phát triển ngang Nhật Bản. Và bao nhiêu triệu người có thể đã không phải bỏ mạng. Bao nhiêu nụ cười có thể thay thế cho nước mắt”. 

Nói tới đây, nhà văn liên tưởng tới giới lãnh đạo trong nước hiện giờ, lưu ý rằng nếu chấp nhận cho những người có tâm huyết với đất nước “giải độc”, thì “những vị lãnh đạo cao nhất của đất nước này cần cấp bách đưa ra những cử chỉ thể hiện tầm vóc, vị thế và tính nhân văn cũng như nghệ thuật lãnh đạo” giữa lúc “có quá nhiều điều họ cần khấu đầu xin lỗi dân một cách thành thực và sửa chữa nó triệt để càng sớm càng tốt”. 

Nhưng mặt khác, tác giả cũng không khỏi bất bình trước tình trạng “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” khi đa số người dân Việt vẫn im hơi bặt tiếng: 

“Cũng như thời cải cách ruộng đất, thời nhân văn giai phẩm, thời khoán 10 do Kim Ngọc khởi xướng và nhiều vụ khác, người Việt Nam không phải không trông thấy bất công và đau thương nhưng hầu hết vẫn im lặng. Nhiều người biết rằng từng ngày từng ngày một, sự im lặng thờ ơ chính là chiếc thòng lọng thít chặt cổ mình nhưng vẫn chọn cách sống hoặc phải sống với hơi thở khò khè mong kéo dài cuộc sống còn hơn là bị “thắt cổ chết” ngay lập tức. Đó là cách tồn tại mà khốn khổ thay, người Việt Nam đã chọn sau bao kiếp thương đau. 

Việt Nam cam kết rằng đây là một nhà nước pháp quyền với khẩu hiệu giăng giăng đỏ rực đầy đường: “Sống và làm việc theo Hiến Pháp và pháp luật”. Nhưng những gì đang diễn ra gần đây thì việc sống và làm việc trái Hiến Pháp và pháp luật đang ngang nhiên hoành hành. Nếu những người có trách nhiệm không ngăn chặn xu thế những kẻ lạm dụng tay đấm chân đạp dùi cui súng ống và cầm tù hãm hại người khác theo ý thích và quyền lợi của mình, thậm chí còn coi đó là những hành vi trung thành đáng được khen thưởng và vinh danh, thì khó có thể ngăn chặn xã hội đi theo xu hướng tàn bạo và man rợ của những chúa đất và chủ nô thời trung cổ.” 

Theo blogger Đỗ Việt Khoa thì đồng thuận một cách giả dối là tai hoạ, giả “mù-điếc-câm” trước cái xấu, đó là sống hèn…. Xã hội càng nhiễu nhương thì đấu tranh càng phải quyết liệt”. Thầy Đỗ Việt Khoa nhận xét: 

“Để có được cuộc sống như hôm nay, mọi người Việt Nam cần phải cảm ơn các thế hệ đi trước đã dày công đấu tranh góp phần dựng nước và giữ nước. Đó là những thế hệ anh hùng,… những người dấn thân đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước từ ngàn xưa tới nay. Đất nước còn tồn tại nhiều bất cập. Không thể bằng lòng và làm ngơ để các vấn đề bất cập đó tồn tại. Phải tiếp tục đấu tranh với nó.” 

Nhưng may thay, về phương diện nào đó, theo nhà văn Võ Thị Hảo, “vẫn còn những ngọn nến và những lời cầu nguyện. Một ấn tượng cảm động là một số luật sư và một số ít ỏi trí thức đã dám từ bỏ quyền lợi, chịu nguy hiểm để lên tiếng bảo vệ công lý. Trong hoang lạnh, cũng đã có những người đã thắp lên ngọn nến sưởi ấm. Họ cầu nguyện cho Cù Huy Hà Vũ và nhiều dân oan”. 

Buổi cầu nguyện ấy diễn ra tại Giáo xứ Thái Hà hôm Chủ Nhật (17/4) vừa rồi nhân Lễ Lá bắt đầu bước vào Tuần Thánh, quy tụ rất đông giáo dân nhằm kỷ niệm biến cố Chúa Giê-su vào thành Jerusalem lần cuối. Và đặc biệt là trong Thánh Lễ này còn có sự tham dự của các gia đình Bs Phạm Hồng Sơn, Luật sư Lê Quốc Quân, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ cũng như các trí thức, doanh nhân và những người yêu mến Sự thật – Công lý. Họ đến để tạ ơn và cầu nguyện cho Luật sư Lê Quốc Quân, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, gia đình cũng như bản thân Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và những người đang bị bắt bớ, giam cầm.  

Rồi một cuộc thắp nến sau Thánh lễ để nguyện cầu cho đất nước bình an, cho Sự thật – Công lý, cũng như tạ ơn Thiên Chúa qua những biến cố vừa qua và đặc biệt là cầu nguyện cho những người công chính đang trong vòng lao lý oan khiên để họ vững tin, cũng như ánh sáng của Sự thật – Công lý được nhanh chóng chiếu soi và giải thoát những thân phận bị tù đầy này.

 

Công Khai và Bí Mật 

Qua bài “Lời thú tội ngày Chủ Nhật” được nhiều trang mạng nhật ký, kể cả bô-xít Việt Nam, phổ biến, Giáo sư Phạm Toàn bày tỏ tâm sự với blogger Lê Quốc Quân – cùng 1 số blogger khác như Người Buôn Gió, Paulus Sơn – rằng: 

(Hình danlambao: Từ trái sang phải: Bà Vũ Thúy Hà-Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Luật sư Lê Quốc Quân-Bà Nguyễn Thị Thu Hiền tại nhà thờ giáo xứ Thái Hà ngay khi được tự do.) 

“Quân đi theo dõi cuộc xử án tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, một cuộc xử án công khai mà nay thì toàn thế giới và bốn bức tường quý Tòa đã biết rõ tầm công khai của sự kiện đó đến đâu, rồi Quân đã bị những người làm công tác bí mật hè nhau công khai lôi Quân đi, và công khai giam giữ Quân trong chín ngày trước khi ỡm ờ nửa công khai nửa bí mật thả Quân ra. 

Tối Chủ Nhật (17/4) vào hồi 8 giờ tối tại Nhà của Chúa ở xứ Thái Hà có cuộc cầu nguyện tạ ơn. Tôi rất muốn đi dự buổi lễ, vì quý trọng và vì tình bạn với anh Quân đã đành, còn vì một kỷ niệm riêng nữa.… 

Tối nay, Quân ơi, tôi không đến được với em đâu. Tôi đang phải vượt qua cái nỗi sợ khó mà có thể vượt qua. Một nỗi sợ mà ngay cả những kẻ ban phát nỗi sợ cũng khiếp sợ! Nỗi sợ có tên là hệ thống con tin. Tôi hôm nay không còn là tôi hồn nhiên, tôi đã buộc phải nhận thức là mình đã thành con tin của một hệ thống. Một con tin bị vây chặt trong hệ thống có nhiều con tin khác nữa: con đẻ của mình, cháu chắt nhà mình, bè bạn của mình, nhất là một công việc đang còn khai triển mạnh mẽ cùng với những cộng sự còn thân thiết hơn là ruột thịt của mình…”. 

Nhưng Giáo sư Phạm Toàn sau cùng “xin bạn hãy đọc kết luận của bản thú tội” rằng “Tối nay tôi đến giáo xứ Thái Hà để được thả hồn trong lời nguyện và để ôm chặt bè bạn trong vòng tay bé nhỏ của một con người – NGƯỜI TỰ DO”. 

Có lẽ nỗi sợ của dân oan thấp cổ bế miệng nói chung hẳn dễ hiểu hơn nỗi sợ của những kẻ gây ra nỗi sợ – nỗi sợ của giới điều hành đất nước, cầm cân nẩy mực, như blogger Cánh Cò mô tả 1 vài trường hợp tiêu biểu qua bài “Nhà nước ta, cái gì cũng sợ”. Chẳng hạn như Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao “cũng lây nỗi sợ”!”. 

“Tôi nghe rất nhiều lần mỗi khi Trung Quốc lấn chiếm hay bắt giữ ngư dân thì y như rằng, bà Nguyễn Phương Nga lại mở chiếc máy thu băng cho… Trung Quốc nghe một bài thu trước, rất cũ và rất nhàm. Tại sao vậy? Bà Nga là người có học chắc chắn không thể không viết được một thông cáo báo chí có hồn để phản bác những sai trái của Bắc Kinh.  

Không phải bà bất tài, nhưng ngặt nỗi Bộ Ngoại Giao, tức là thủ trưởng của bà lại…sợ. Họ sợ nói nặng, nói mạnh mẽ hay nói một cách thuyết phục thì mất lòng xếp lớn. Lớn hơn cả tổ quốc nữa chứ không chơi!” 

Rồi Bộ 4 T, tức Bộ Thông tin-Truyền thông cũng sợ: 

“Nắm trong tay 7.000 tờ báo lớn nhỏ nhưng xem ra bộ này không kiểm soát nỗi mấy anh nhà báo gan lì. Trong một văn bản giao ban mà công dân mạng ai cũng biết, mới đây bộ này đưa ra những chỉ dẫn cho các Tổng biên tập các báo phải thi hành những điều hết sức ngớ ngẩn nếu không muốn nói là thiếu hiểu biết. Chẳng qua là Bộ này sợ cánh nhà báo mượn gió bẻ măng khi mà hương hoa Nhài lan rộng. 

Mấy điều mà bộ 4 tê cấm gồm có: Không viết “Tiến sĩ” Cù Huy Hà Vũ mà viết là “ông”. Không đưa tin Libya, không viết về những tấm gương hy sinh tại Nhật Bản trong thiên tai động đất sóng thần gần đây.

Rõ ràng là họ sợ!

 

Nhà Nước Sợ Nhất Là Dân Chủ 

Vẫn theo Blogger Cánh Cò thì “Còn nhiều thứ sợ nữa, nhưng thứ mà nhà nước sợ nhất lại là Dân chủ!”: 

“Đọc trên mấy blog cá nhân… tôi cảm thấy như có điều gì đấy không ổn trong đời sống thường nhật. Nhà nước bắt giữ quá nhiều người mà tội danh của họ chỉ là kêu gọi thực thi dân chủ. Nhà nước cũng tuyên dương dân chủ như một thứ mà người dân được đương nhiên thụ hưởng dưới Hiến Pháp và pháp luật nhưng tại sao nhà nước ta lại sợ những… đồng minh dân chủ đến vậy?  

Bắt giữ nhiều người đến nỗi không dám mang ra công khai xét xử trong những phiên tòa bình thường mà cứ núp lén như tòa án là… bị cáo không bằng. Tuyên án nhanh và bác bỏ mọi luận cứ luật sư bào chữa đưa ra là điều mà tòa án thường lập đi lập lại nhất. Cho đến khi vụ án Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được bóc trần trước công luận thì nỗi sợ của nhà nước ta trở thành… nổi tiếng!” 

(Hình AFP: Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội trong ngày xử TS Cù Huy Hà Vũ 4/4/2011.) 

Qua bài “Tú Kếu, nhà thơ trào phúng với bản án 18 năm tù cộng sản” trên Blog Dân chủ-Nhân quyền cho Việt Nam, nhà thơ Viên Linh cho biết “Sau những móc ngoặc, Tú Kếu bị đưa ra toà án cộng sản, và bị kết án 18 năm tù. Hình như chưa có thi sĩ nào bị kết án nặng như thế”. Và Viên Linh nêu lên câu hỏi “ Thơ ông đáng sợ lắm sao?”. 

Không rõ thơ của nhà thơ trào phúng Tú Kếu có đáng sợ lắm không, chỉ biết – chẳng hạn như – trong bài tựa đề Nhân Quyền, 2 đoạn chót của bài thơ như sau:

Việt Nam quyền con người
Người được quyền phát biểu
Ca tụng đảng mà thôi
Ngoài ra bắt tự kiểm
 

Việt Nam quyền con người
Người được quyền đau khổ
Ðược quyền khóc trước cười
Ðược quyền chui xuống mộ
 

Thanh Quang cảm ơn quý thính giả vừa theo dõi Mục Điểm Blog hôm nay, và mong gặp lại tất cả quý vị cũng vào kỳ sau. 

 

Giải Trừ Lạm Phát tại Việt Nam 

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa 

(RFA) Sau khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và đạt tốc độ tăng trưởng ngoạn mục đến 8,5% vào năm 2007, Việt Nam cũng bị suy trầm cùng toàn cầu trong hai năm 2008-2009 mà vẫn giữ tốc độ tăng trưởng cao là 6,3% rồi 5,3% vào hai năm đó. 

Khi kinh tế thế giới hồi phục từ năm 2010, Việt Nam đạt mức tăng trưởng là 6,8%, tức là còn lớn hơn dự báo là 6,5%. Nhưng cũng từ đấy, nhiều dấu hiệu bất ổn đã xuất hiện và đưa đến hỗn loạn, thậm chí khủng hoảng từ đầu năm nay, với lạm phát đang là mối quan tâm của mọi người. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về các biện pháp giảm trừ lạm phát được áp dụng từ đầu năm nay. Xin quý thính giả theo dõi phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện.

(Hình AFP: Người lao động nhập cư lựa kim loại phế thải cạnh một poster công bố một dự án phát triển ở trung tâm thành phố Sài Gòn hôm 12/4/2011.)

 

Chưa Đủ Sức Ra Biển Lớn 

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong chương trình phát thanh ngày 6 tháng Tư cách đây hai tuần, ông có giải thích nguyên ủy của vụ khủng hoảng ngày nay tại Việt Nam là sự lạc quan thiếu cơ sở sau khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) từ năm 2007. 

Chương trình kỳ này xin đề nghị ông phân tích về bối cảnh của vấn đề, về các biện pháp ứng phó của chính quyền, đặc biệt với đà vật giá gia tăng, trong đó có cả quyết định cấm kinh doanh vàng miếng và trao đổi bằng đồng Mỹ kim. Ông nghĩ sao? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: Như mọi khi, tôi sẽ xin trình bày về bối cảnh trước và sau đó sẽ phân tích vấn đề trước khi có thể nói đến những giải pháp hay đề nghị. 

Trên diễn đàn này, qua các năm 2004 đến 2006, bản thân tôi là thiểu số đã liên tục dự báo rằng Việt Nam chưa thể gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) năm đó. Và còn nói thêm rằng đấy là điều may vì cho Việt Nam thêm cơ hội tìm hiểu về các thách đố mới và để chuẩn bị những biện pháp cải cách. Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO và đạt quy chế mậu dịch bình thường và vĩnh viễn với Hoa Kỳ từ năm 2007, cũng diễn đàn này đã nói đến một nhu cầu mà khi đó tôi gọi là “Cách mạng về Thông tin”, để cả chính quyền lẫn quốc dân cùng hiểu thấu về những quy luật sinh hoạt kinh tế quá mới cho Việt Nam.  

Chuyện thông tin ấy không xảy ra vì mọi người đều hồ hởi với tương lai trước mặt. Chính quyền còn coi đó là công lao thành tích của mình. Nghĩ lại thì không ai dụ dỗ hay lường gạt mình bơi ra biển lớn để bắt cá to, đấy là yêu cầu tự nhiên của quốc gia mà thôi. Nhưng khi đã ra tới biển xanh để tranh hùng với thiên hạ thì cũng phải biết rằng mình sẽ gặp sóng lớn và phải thay đổi cách suy nghĩ và hành xử. Hậu quả của hiện tượng hồ hởi lạc quan mà thiếu chuẩn bị là đánh giá sai chuyện “được- mất” trong tiến trình hội nhập ban đầu.

Cụ thể là đòi vươn vai phóng ra biển lớn với lượng tín dụng dồi dào, lại có thêm tư bản ào ạt tràn tới như gió thuận buồm thổi từ sau lưng. Chính là lượng tư bản quá lớn lao đó đã đẩy một con thuyền thật ra còn mong manh vào cơn bão tố khi kinh tế thế giới bị suy trầm toàn cầu vào các năm 2008-2009. Vì vậy, từ năm 2010, Việt Nam bắt đầu gặp khó khăn mà lãnh đạo xứ này lại chưa ý thức được. 

Một cách thực tiễn thì sau giai đoạn tư bản dư dôi tràn ngập, Việt Nam phải qua thời kỳ sút giảm thanh khoản, tiền mặt, và có tốc độ tăng trưởng thấp hơn, nhưng cũng nhân đó mà rà soát lại kinh nghiệm và kiện toàn lại những yếu kém ngay trong cơ cấu của mình. Không may là lãnh đạo chẳng hiểu như vậy nên lại càng bơm tiền kích thích kinh tế để đạt mức tăng trưởng cao, như cố gắng kéo một cỗ xe nát tiến lên cho nhanh hơn, với hậu quả là gây ra khủng hoảng ngày nay. Một biểu hiện của khủng hoảng là lạm phát, nhưng không là vấn đề duy nhất, khó khăn duy nhất. Không những thế, chính nỗ lực giải trừ lạm phát một cách lụp chụp còn gây thêm vấn đề.
 

Không Chỉ Lạm Phát 

Vũ Hoàng: Ông đặt lại bối cảnh của cả hồ sơ kinh tế này trong một viễn ảnh dài và cho rằng lạm phát không là vấn đề duy nhất. Như vậy, kinh tế Việt Nam còn có nhiều vấn đề khác nữa. Thưa ông, đó là những vấn đề gì? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chuyện đầu tiên là mối nguy từ nhận thức sai lạc của chính lãnh đạo.  

Họ chỉ nhìn thấy một yêu cầu là tăng trưởng cao với cái giá phải trả, hoặc rủi ro có thể gặp, là nạn lạm phát. Bài toán kinh tế không đơn giản chỉ có hai vế là sản xuất và vật giá. Vì sai lầm đó, họ cứ tìm cách giải trừ lạm phát mà vẫn đạt tăng trưởng cao với hậu quả là càng gây hốt hoảng. Và vì chính quyền hốt hoảng nên mới dẫn có loại biện pháp kỳ lạ như ta đang thấy. Nhưng song song, ta còn thấy ra nhiều vấn đề khác trong trung hạn và dài hạn. Ở đây tôi chỉ nói về ngắn hạn: 

(Hình AFP: Một người nhập cư nằm nghỉ bên cạnh một poster công bố dự án phát triển ở trung tâm Thành phố Sài Gòn hôm 12/4/2011.) 

Thứ nhất là trong quan hệ trao đổi với bên ngoài, kinh tế Việt Nam bị nhập siêu nặng vì nhập nhiều hơn xuất cảng do yếu kém trong cơ cấu sản xuất và vì chiến lược phát triển là chỉ biết làm gia công cho thiên hạ. Chuyện khó tin là nhiều người còn nhập nông sản từ xứ khác, như từ châu Phi, đem về bao gói và bán ra ngoài như “Sản phẩm của Việt Nam” mà chính quyền thì cứ coi đó là thành tích xuất cảng, cho đến khi giá cả đảo chiều là ngày nay, làm nhiều cơ sở bị đọng vốn và không thể thanh toán món nợ bằng Mỹ kim. Vấn đề ấy gây sức ép trên tỷ giá đồng bạc và kéo dài quá lâu nên bào mỏng dự trữ ngoại tệ của quốc gia, nay chỉ còn đủ cho gần hai tháng nhập cảng và gây khan hiếm ngoại tệ, chủ yếu là Mỹ kim.  

Vì vậy mà dù Mỹ kim sụt giá trên toàn cầu, nó vẫn lên giá tại Việt Nam và chính quyền phải phá giá đồng bạc, mà càng phá giá thì càng gây thêm sức ép trên vật giá. Việt Nam rơi vào con xoáy tai hại của hai động lực song hành là ngoại hối và lạm phát, kịch bản rất nguy. 

Vũ Hoàng: Chúng tôi nhớ là nhiều chuyên gia cũng cảnh báo rằng việc phá giá đồng bạc có thể là cần thiết, nhưng gây hiệu ứng phụ là làm hàng nhập cảng lên giá và nếu lạm phát kéo dài thì hai động lực ấy sẽ nuôi dưỡng lẫn nhau và đánh sụt luôn mức sản xuất, điều ấy có đúng không?  

Nguyễn Xuân Nghĩa: Đấy là giả thuyết đáng ngại nhất trong một hai năm tới. Trong khi đó, và đây là loại vấn đề thứ ba, vì cơ chế kinh tế chính trị gọi là theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”, Việt Nam vẫn nuôi dưỡng một “khu vực kinh tế chủ lực” là doanh nghiệp nhà nước. Thực tế thì đây là các trung tâm phúc lợi bất chính – hang ổ của tham nhũng – và gây phao phí tài nguyên quốc gia. Chế độ kinh tế chính trị đó dẫn tới lạm dụng tư bản, thậm chí tẩu tán tư bản và gây thêm khó khăn về ngoại hối vì nhiều đại gia đã vét Mỹ kim chạy ra ngoài mà dân chúng không biết. Và nó càng gây bội chi ngân sách quá cao vì các chương trình đầu tư đầy hoang phí của khu vực công cho doanh nghiệp nhà nước. Kết quả là công quỹ hết tiền và mất luôn khả năng can thiệp vào thị trường để trợ giá hoặc cứu giúp dân nghèo đang bị điêu đứng vì vật giá gia tăng. 

Sau cùng mà không là duy nhất, khi tư bản còn dư dôi đổ vào, nó chảy từ đầu tư qua đầu cơ, chủ yếu vào hai khu vực chứng khoán và bất động sản, là nơi tung hoành của một thiểu số ở thành thị với bong bóng ảo và hình ảnh của phồn vinh giả tạo với một số đại gia vẫn mua xắm xa xỉ phẩm đắt tiền. Họ coi bất công xã hội là không có và dân chủ là không cần! Khi vật giá hoành hành thì người nghèo khổ nhất và thành phần có đồng lương cố định bắt đầu bị thiệt hại nhất, chứ thiểu số có tiền ở thành phố thì vẫn bình chân như vại và nghĩ rằng họ khôn ngoan hơn cả.  

Nhưng chuyện ấy không còn nữa vì đám người gọi là “nhà giàu” này cũng bắt đầu hốt hoảng và càng gây thêm hốt hoảng cho thị trường vì những tính toán luồn lách của họ để tìm ra các kênh đầu tư béo bở khác, kể cả tẩu tán và gọi là đầu tư ra ngoài. Hậu quả sau này là nhiều ngân hàng sẽ bị suy sụp và mất nợ, thậm chí vỡ nợ. Do đó vấn đề không chỉ là nạn lạm phát mà thôi!

 

Biện Pháp Giải Trừ Lạm Phát 

Vũ Hoàng: Chúng ta trở lại việc giải trừ lạm phát. Ông giải thích thế nào về các biện pháp này? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi phải trình bày lại bối cảnh để ta hiểu ra vì sao giải trừ lạm phát chỉ là một phần của cả một kế hoạch chung, là điều mà nhiều người chưa thấy! 

Ta còn nhớ là ngay sau Tết Nguyên đán, giới chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát biểu rằng sau khi dân chúng ăn một cái Tết lớn nhất lịch sử thì ngân hàng phải thu hồi lại nguồn tiền đã bơm vào kinh tế! Nếu nhớ lại thì mình hiểu ra là đầu năm dương lịch 2011, Việt Nam có Đại hội đảng của Khoá 11 và do yêu cầu chính trị, Ngân hàng Trung ương vẫn phải bơm tiền cho dân ăn Tết mà bất kể tới hậu quả lạm phát! Sau đó là các quyết định lụp chụp, không có phối hợp, thiếu đồng bộ và thậm chí mâu thuẫn nên mới gây ra hốt hoảng. 

Trước hết là việc Ngân hàng Trung ương phá giá đồng bạc, lần thứ tư trong vòng 14 tháng, ban hành ngay sau Tết Nguyên đán vào ngày 11 tháng Hai mà chẳng có giải thích gì thêm về yêu cầu giảm trừ khồi tiền tệ lưu hành để ngăn ngừa lạm phát sẽ làm cho dân nghèo bị khổ nhất. Thiếu “Cách mạng Thông tin” là như vậy! Sau đó gần một tuần, ngày 17 tháng Hai mới là các biện pháp xiết chặt tín dụng ngân hàng, nhồi theo là việc nâng lãi suất vào ngày 22 tháng Hai và lời thông báo một tuần sau, mùng một tháng Ba, là các ngân hàng sẽ không được tài trợ cho loại dự án phi sản xuất, nếu không là sẽ phải nâng mức dự trữ pháp định gấp đôi. Ở giữa một loạt biện pháp dồn dập trong vòng ba tuần là  

Nghị quyết 11 được Chính phủ ban hành hôm 24 tháng Hai với sáu gói chính sách đồng loạt mà Ngân hàng Nhà nước, bộ Tài chính, bộ Công thương nghiệp, bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng bộ Thông tin phải áp dụng và giải thích! Trong đó có quyết định hợp lý mà không hợp thời là chấm dứt trợ giá xăng dầu và gây thêm đảo điên cho thị trường. Người dân và thị trường phải kết luận – mà không sai – là Chính quyền hốt hoảng đối phó chứ không suy nghĩ chín chắn về nguyên nhân và hậu quả của từng loại vấn đề mà có một chiến lược tổng thể về quản lý vĩ mô.  

Vũ Hoàng: Và thưa ông, lồng trong đó là quyết định về việc kinh doanh vàng miếng và Mỹ kim, với lý do là giải trừ lạm phát. Có phải vì vậy mà người dân mới hoang mang và ngờ vực không? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: Người dân ngờ vực là đúng. Việc dân chúng sợ đồng bạc mất giá mà tìm cách tồn trữ tài sản dưới dạng vàng và Mỹ kim chỉ là hậu quả chính đáng chứ không là nguyên nhân của lạm phát. Khi ra lệnh cấm đoán như vậy, chính quyền chỉ chữa bệnh ở ngọn, ở triệu chứng, chứ không giải quyết ở gốc. Vì vậy, không ai tin là biện pháp này sẽ công hiệu để ổn định vật giá. Nhưng thực tế thì còn nguy hơn vậy vì người dân còn kết luận rằng đây chỉ là biện pháp ngầm giúp các đại gia hay doanh nghiệp nhà nước mà thôi vì thành phần này vẫn thừa khả năng luồn lách luật lệ. Tôi xin được giải thích thêm chuyện này, rằng yếu tố quan trọng trong một nền kinh tế thị trường là quyền chọn lựa.  

Trong mọi hoàn cảnh, mọi tác nhân kinh tế từ giàu có đến nghèo khổ nhất đều tự nhiên và tất yếu chọn lựa giải pháp nào có lợi nhất hoặc ít hại nhất. Trong sự chọn lựa đó có cách sản xuất cái gì thì tối ưu về doanh lợi và cách tồn trữ tài sản hay hàng hóa nào an toàn nhất. Việc kiểm soát hay cấm đoán vẫn không thể ngăn chặn được sự chọn lựa rất bình thường và phải nói là chính đáng này. Thí dụ như nếu người dân tin vào trị giá của đồng nội tệ, đồng bạc Việt Nam, thì chẳng cấm họ cũng đổi Mỹ kim là tiền Việt và tìm lãi suất cao hơn của ngân hàng tại Việt Nam!  

Khi ban hành chính sách kinh tế, thì chính quyền phải hiểu ra quy luật đó mà thi hành đồng bộ với giải thích rõ ràng và thống nhất. Chỉ như vậy thì mới giúp mọi người có cơ sở cân nhắc lợi hại của từng chọn lựa mà không gây thêm vấn đề. Vì chỉ nhìn thấy một góc của vấn đề và lại có quá nhiều quyền lực trong tay mà khỏi phải giải trình hay bị trách nhiệm, chính quyền Việt Nam áp dụng giải pháp hành chính dễ dãi mà nguy hiểm là cấm đoán. Việc cấm đoán ấy không hạn chế được khả năng xoay trở của những người có quan hệ với chế độ và gây thêm bất công. Nó còn làm cho quy luật thị trường thêm lệch lạc, mất luôn những tín hiệu cần thiết về lời lỗ và nếu nhất thời có ổn định được tỷ giá của đồng bạc thì vẫn không ngăn ngừa được lạm phát. Đó là ta chưa nói đến hiệu ứng ngoại nhập từ thị trường thế giới nay mai sẽ còn dội vào Việt Nam. 

Vũ Hoàng: Xin trân trọng cảm tạ ông Nghĩa và xin hẹn ông một kỳ tới, chúng ta sẽ trao đổi về những gì có thể xảy ra sau này. 

 Văn Hoá Dân Chủ

 Nguyễn Hưng Quốc 

 

(VOA) Để có một sinh hoạt chính trị lành mạnh, cần có một văn hóa chính trị lành mạnh. Để có một văn hóa chính trị lành mạnh, cần có một văn hóa dân chủ lành mạnh. 

Văn hóa chính trị (political culture) thường được hiểu là hệ thống những niềm tin và những giá trị được một cộng đồng tin tưởng và chia sẻ chủ yếu trong các vấn đề liên quan đến quan hệ và cấu trúc quyền lực giữa các thành viên trong một nước cũng như giữa nước này và nước khác. Nói đến niềm tin là nói đến chuyện đúng/sai. Nói đến giá trị là nói đến chuyện tốt/xấu. Niềm tin chính là nền tảng để bảo đảm cho tính phổ quát và sự bền vững của các giá trị. Không có niềm tin vào Thượng đế có lẽ người ta không đi đến kết luận cho “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” như những gì được viết trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ vào năm 1776 và được Hồ Chí Minh dẫn lại trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam vào năm 1945. Từ những niềm tin ấy, tự do, bình đẳng và quyền sống của mỗi người trở thành những giá trị cao quý trong xã hội và trong chính trị, và cũng từ đó, ý niệm dân chủ được ra đời và nảy nở. 

Trung tâm của văn hóa chính trị hiện đại là văn hóa dân chủ tức hệ thống những niềm tin, giá trị, quy phạm và cách thế hành xử giữa người cai trị và những người bị trị. Trong văn hóa toàn trị, dưới mọi hình thức, từ quân chủ đến độc tài, người cai trị tự coi mình nhận sứ mệnh từ một nơi nào khác, ít nhiều có tính chất huyền bí, và quyền cai trị của mình là một cái gì có tính tuyệt đối. Quan hệ giữa họ và những người bị trị là quan hệ một chiều. Họ chỉ biết ra lệnh và đòi hỏi sự vâng phục. Để củng cố sự vâng phục, họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn tàn độc. Văn hóa dân chủ thì khác. Trong chế độ dân chủ, người cai trị không có tư cách nào khác ngoài tư cách đại diện của dân và không có bổn phận nào khác ngoài việc thực hiện những ý nguyện của dân. Họ biết quyền lực của họ bị giới hạn không những bởi luật pháp mà còn bởi các lực lượng độc lập và đối lập, và, quan trọng nhất, tính chất nhiệm kỳ. 

Văn hóa dân chủ là hệ thống những niềm tin và giá trị giúp phát huy khả năng tham dự của dân chúng vào những vấn đề liên quan đến quốc kế dân sinh. 

Văn hóa dân chủ có nhiều nội dung, nhưng theo tôi, quan trọng nhất là sự tin cậy. Tin cậy vào Hiến Pháp và pháp luật. Tin cậy vào guồng máy chính quyền. Nhưng trước hết phải là sự tin cậy đối với những lý tưởng và những nguyên tắc của dân chủ, cụ thể là tin vào sự tự do và quyền bình đẳng của dân chúng được thể hiện một cách tập trung nhất qua quyền lựa chọn lãnh đạo, và qua đó, lựa chọn chính sách của họ, nghĩa là, nói cách khác, tin vào dân chúng. 

Ví dụ: đã chấp nhận luật bầu cử, điều đầu tiên là phải chấp nhận tính nghiêm minh của bầu cử và kết quả của việc bầu cử, bất kể nó có hợp hay không hợp với quyền lợi của mình. Ở không ít nơi, thường xảy ra hai trường hợp: Một là gian lận; hai là, nếu kết quả bầu cử không vừa ý thì tìm mọi cách thay đổi hay xóa bỏ. Đó không phải là dân chủ. Đó là phản dân chủ. 

Sống ở Tây phương, một trong những điều tôi thích nhất là theo dõi các cuộc bầu cử. Trong các cuộc bầu cử, hai sự kiện tôi thích nhất là: một, các cuộc tranh luận công khai trên truyền hình giữa các đối thủ; và hai, những bài phát biểu trong đêm kiểm phiếu, khi kết quả đã rõ ràng. Tranh luận bao giờ cũng gay gắt nhưng bao giờ cũng lịch sự. Còn đêm kiểm phiếu, khi kết quả đã ngã ngũ, hầu như là một quy luật: bao giờ người thất bại cũng, thứ nhất, nhìn nhận mình thất bại; và thứ hai, chúc mừng người chiến thắng. Phân tích những lý do khiến mình thất bại, người ta có thể nói thế này thế khác, nhưng tuyệt đối người ta không đổ lỗi cho dân chúng, chẳng hạn, cho dân chúng ngu hay nhẹ dạ nên đã bỏ phiếu cho cái kẻ không xứng đáng bằng mình! Trong cuộc chơi dân chủ, hầu như mọi người đều chấp nhận luật chơi: Cử tri bao giờ cũng có lý. Ứng cử viên, ngay cả khi có tài năng kiệt xuất thực sự và có chính sách đúng đắn thực sự, nếu thất cử, cũng phải tự xét lại mình ít nhất ở một khía cạnh: khả năng thuyết phục quần chúng chưa đủ giỏi. 

Ở các nước độc tài, ngược lại, dù người ta hay nói đến sức mạnh của quần chúng, nhưng trong thâm tâm và cả trong chính sách, bao giờ người ta cũng thiếu sự tin cậy, thậm chí, coi thường quần chúng. Một lập luận thường nghe nhất là: Trình độ dân trí thấp, cho họ được tự do lựa chọn, thứ nhất, họ sẽ chọn lầm người; và thứ hai, từ đó, sẽ dẫn đến sự hỗn loạn. Người ta dùng viễn tượng hỗn loạn như một con ngáo ộp để hạn chế tự do và để tránh né nhu cầu dân chủ hóa. 

Chính quyền không tin dân chúng, coi dân chúng chỉ là những kẻ khờ khạo dốt nát. Dân chúng, ngược lại, cũng không hề tin cậy chính quyền. Nhìn đâu, người ta cũng thấy giả. Phát biểu: Giả. Hành động: Giả. Từ đó dẫn đến thái độ hờ hững đối với chính trị cũng như đối với mọi vấn đề sinh tử của quốc gia, một thái độ được người Việt đặt tên rất hay: Chủ nghĩa mặc-kệ-nó, mackeno. 

Một thái độ như vậy rõ ràng không thuộc văn hóa dân chủ và tuyệt đối không có lợi cho tiến trình tranh đấu cho dân chủ. Chính quyền độc tài nào cũng biết điều đó nên họ tìm mọi cách để duy trì sự thụ động và vô cảm của mọi người. Những người tranh đấu cho dân chủ cũng nên biết điều đó để tìm cách phê phán và giảm thiểu thứ chủ nghĩa mặc-kệ-nó vốn như một thứ độc tố làm chết mòn mọi ước mơ thay đổi, trong đó có sự thay đổi theo chiều hướng dân chủ hóa. 

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

 

Bài 1: Giải Thanh Tâm và Nữ Nghệ Sĩ Thanh Nga 

Ngành Mai

 (RFA) Tôi là Ngành Mai, hôm nay (19/4/2011), lần đầu tiên được đến với thính giả của đài Á Châu Tự Do trong chương trình tạp chí cổ nhạc.  

(Hình: Cố nghệ sĩ Thanh Nga.) 

Trước hết tôi xin trình bày về giải Thanh Tâm nổi tiếng thời thập niên 1960, và vài nét về nữ nghệ sĩ Thanh Nga là nghệ sĩ đoạt giải Thanh Tâm đầu tiên.  

Thật ra thì giải Thanh Tâm khởi đầu từ năm 1958 và lần đầu tiên ấy chỉ phát cho một người, đó là nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Sau đó giải được phát liên tục hằng năm, và cho đến năm cuối 1967 phát cho 4 nghệ sĩ gồm 2 nam là Bảo Quốc-Phương Bình và 2 nữ là Mỹ Châu và Ngọc Bích.  

Như vậy giải Thanh Tâm hoạt động đúng 10 năm. Và cho đến năm Mậu Thân 1968 thì đình chỉ luôn cho tới bấy giờ. Và theo như nhận định của nhiều người, thì giải này sẽ không bao giờ sống lại bởi hai lý do chính:  

1) Tình trạng Cải lương ngày một xuống dốc và cho đến ngày nay thì chưa thấy có dấu hiệu nào khôi phục trở lại.  

2) Chủ giải là ông Trần Tấn Quốc, tức ký giả Thanh Tâm thì đã qua đời. Khó có ai đủ tư cách đứng lên dựng lại giải.

 

Sự Ra Đời của Giải Thanh Tâm 

Số là thời thập niên 1940-1950 ở Sài Gòn có tờ nhật báo Tiếng Dội do ông Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau nhiều năm mở trang kịch trường nói về hoạt động nghệ thuật Cải lương, được độc giả yêu thích nghệ thuật sân khấu hoan nghinh và ủng hộ. Báo bán khá chạy, mỗi ngày một tăng, nhờ con số độc giả Cải lương phần nhiều là giới nữ mà vốn ít khi đọc báo. Vì vậy mà đến năm 1958, ông Quốc nghĩ đến chuyện cần phải có một giải thưởng cho bộ môn nghệ thuật này, bởi lúc ấy trường Quốc Gia Âm Nhạc đã không có lớp dạy về Cổ nhạc Cải lương, và các cơ quan văn hóa chính quyền cũng chưa chính thức ra một giải thưởng nào về bộ môn nghệ thuật này.  

Thế là ông Trần Tấn Quốc loan báo trên tờ Tiếng Dội, rằng ông cũng như tờ báo chủ trương một giải thưởng nghệ thuật lấy tên “Thanh Tâm”, tức bút hiệu viết báo của ông. Cái buổi đầu tiên nầy rất đơn giản, ban tổ chức chỉ có mỗi một mình ông Quốc đảm trách, và ban tuyển chọn, tức ban giám khảo cũng chỉ có 5 người: Bà Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu là 3 nghệ sĩ kỳ cựu, ông Trần Tấn Quốc (chủ giải), và ông Nguyễn Hoàng Minh (ông Minh là công chức tham gia ban tuyển chọn với tư cách khán giả ái mộ).  

Năm người chấm giải Thanh Tâm 1958 đầu tiên trên đây thì các nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, Năm Châu, Bảy Nhiêu và ký giả Trần Tấn Quốc đã qua đời. Riêng ông công chức Nguyễn Hoàng Minh tham gia ban tuyển chọn thì về sau không thấy xuất hiện lần nào nữa.  

Năm đầu tiên giải phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga được tổ chức tại Bồng Lai tửu quán, một nhà hàng Tàu ở ngay trung tâm Thủ Đô Sài Gòn.
Lúc bấy giờ rất nhiều người trong giới báo chí cũng như giới Cải lương đã thắc mắc nói rằng phát giải tổ chức ở nhà hàng sang trọng như vậy, ông Quốc lấy tiền đâu để tổ chức chớ, bởi tờ Tiếng Dội đâu phải là tờ báo giàu, thì tiền đâu đãi đằng thiên hạ ở tửu lầu Bồng Lai? 
 

Lúc ấy có nhiều người cố tình tìm hiểu sự việc nhưng chẳng hề có câu trả lời, bởi nếu có ai đó hỏi thì ông Quốc chỉ cười trừ mà thôi chớ chẳng đi vào vấn đề. Cũng có người nói tiền ấy là của đoàn Thanh Minh, nhưng lý lẽ này đã không vững, bởi thời điểm ấy bầu gánh đoàn Thanh Minh là nghệ sĩ Năm Nghĩa bị bệnh trầm kha, thuốc thang mỗi ngày, hát đêm nào đủ tiền phát cho đào kép, công nhân và chủ nợ là mừng rồi. 

Đang nợ nần thì có ai đâu tiền vay bạc hỏi thêm để đi làm cái chuyện mà theo quan niệm lúc ấy chẳng có gì thiết thực, người ta chưa có một ý niệm nào về một giải thưởng cho Cải lương, giải Thanh Tâm chỉ nổi tiếng ở những năm về sau mà thôi. Bởi vậy sau này có hai lập luận, kẻ thì nói Thanh Nga nổi tiếng nhờ giải Thanh Tâm, người thì bảo giải Thanh Tâm nổi tiếng nhờ Thanh Nga, không biết cái nào đúng. Có người nói rằng cả hai lập luận trên đều đúng vậy!  

Như đã nói giải Thanh Tâm 1958 phát cho Thanh Nga ở Bồng Lai tửu quán đã gây bất ngờ cho giới sân khấu Cải lương, cho mọi giới, bởi một rừng ký giả các báo tham dự, vì tờ báo nào ở thời điểm đó cũng được giấy mời. Lâu lắm mới có dịp được mời đi ăn cao lâu thì đâu có báo nào bỏ qua. Ngoài ra còn có các cơ quan truyền thông của chính quyền cũng hiện diện như Đài Phát Thanh Sài Gòn và Nha Điện Ảnh đến quay phim (lúc bấy giờ chưa có truyền hình). 

Mấy ngày sau đoạn phim quay cảnh giải Thanh Tâm được cho vào cuốn phim Thời Sự Việt Nam, để rồi dân chúng Thủ Đô Sài Gòn và luôn cả các tỉnh trên toàn quốc, từ thành thị đến thôn quê thiên hạ phần đông đều biết rằng Thanh Nga lãnh giải Thanh Tâm.  

Điều cần nói rõ thêm là khi xưa, thời Đệ Nhất Cộng Hòa khán giả đi coi chiếu bóng, lúc đèn vừa tắt thì tất cả được yêu cầu đứng lên chào cờ, và kế đó thì phim thời sự được chiếu trước, sau đó mới tới phim chính. Phim thời sự không những được chiếu ở hầu hết các rạp chiếu bóng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, mà còn được mấy chục xe chiếu bóng lưu động của Ty Thông Tin các tỉnh hằng đêm chạy đến các bãi đất trống ở vùng quê, chiếu miễn phí cho bà con nông thôn xem.  

Nhờ được vô cuốn phim thời sự này mà tên tuổi Thanh Nga nổi như cồn (lúc ấy cô mới 17 tuổi), cũng như nhờ vậy mà giải Thanh Tâm được nhiều người biết đến. Do phát giải Thanh Tâm lần đầu tiên quá long trọng, lại tổ chức ở tửu lầu, nên đã gây ấn tượng tốt đẹp cho những người đang hoạt động trong lãnh vực sân khấu Cải lương.  

Giới thiệu 2 câu vọng cổ dĩa hát “Hồi Chuông Thiên Mụ” do Thanh Nga ca. 

Chương trình hôm nay đã hết, xin hẹn lại kỳ tới. Tôi là Ngành Mai xin kính chào tất cả quý thính giả Đài Á Châu Tự Do. 

 

Tình Dục Trong Giới Trẻ Mỹ 

Việt Hà 

(RFA) Một nghiên cứu gần đây tại Mỹ cho thấy thanh thiếu niên Mỹ ngày nay không có quan hệ tình dục ở lứa tuổi quá trẻ như trước kia nữa.

(Hình AFP: Một cặp đôi hôn nhau tại Pháp trong ngày Valentine.) 

Đã có những chuyên gia cho rằng đây là một dấu hiệu tốt giúp giảm tỷ lệ có thai và sinh con ở độ tuổi đến trường trong thanh thiếu niên Mỹ, và có thể đây là một diễn biến có chiều hướng tích cực trong thái độ đối với quan hệ tình dục ở lứa tuổi học đường. Việt Hà xin gửi tới quý thính giả những tìm hiểu về xu hướng mới này tại Mỹ trong tạp chí phụ nữ tuần này. 

Xu Hướng Không Tình Dục 

Bibi năm nay 17 tuổi. Em đang học năm cuối tại một trường Trung học ở thành phố Lantana, Florida. Bước vào tuổi 17, Bibi có quan hệ tình dục lần đầu tiên trong đời với bạn trai của mình. Em cho biết nhiều bạn bè em cũng đã có quan hệ tình dục lần đầu tiên trong đời. 

Chuyện những cô cậu bé ở độ tuổi còn đi học Trung học ở Mỹ có quan hệ tình dục và thậm chí có con từ lâu nay vốn không phải là chuyện mới. Nhưng một nghiên cứu gần đây của Cơ quan phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ lại cho thấy những con số đáng khích lệ. Trong số hơn 5 ngàn người được phỏng vấn từ lứa tuổi 15 đến 24 thì có đến 28% cho biết chưa từng có quan hệ tình dục lần đầu tiên trong đời, cao hơn so với con số 22% trong các nghiên cứu trước đó. 

Bà Anjani Chandra, chuyên gia nghiên cứu thuộc Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Dịch của Hoa Kỳ (CDC), cho biết: 

“Nghiên cứu cho chúng tôi biết được là con số những người trẻ tuổi không có quan hệ tình dục dưới bất cứ dạng nào có tỷ lệ cao hơn hẳn so với hồi năm 2002. Số liệu thống kê từ năm 2006 đến 2008 cho thấy một tỷ lệ cao những người trẻ tuổi và học sinh Trung học không có quan hệ tình dục với người khác.” 

Bà Anjani Chandra cho biết báo cáo lần này của CDC không nhằm tìm ra nguyên nhân tại sao những người trẻ tuổi không muốn có quan hệ tình dục nhiều như trước và bà từ chối để đưa ra bình luận về nguyên nhân của xu hướng này. 

Tuy nhiên, theo ông Bill Albert, thuộc chiến dịch quốc gia chống có thai và có con sớm ở độ tuổi học đường, thì có thể giới trẻ Mỹ giờ đây dành thời gian vào các họat động khác nhiều hơn là vào tình dục, và do đó giúp làm giảm tỷ lệ thanh thiếu niên Mỹ có thai khi còn đi học. 

“Chúng ta không có những dẫn chứng trực tiếp để có thể chứng minh cho lập luận đó, nhưng đó có thể là lý do dẫn đến tỷ lệ có thai trong thanh thiếu niên Mỹ đã giảm giảm xuống. Tôi nghĩ là thanh thiếu niên Mỹ bây giờ có thể đã tìm ra các cách khác để sử dụng thời gian của mình hơn là chỉ dùng cho quan hệ tình dục.” 

Việc có quan hệ tình dục từ độ tuổi quá sớm đã khiến nhiều thanh thiếu niên Mỹ có con ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Một báo cáo vào năm 2010 về hiện tượng học sinh Trung học có thai tại Mỹ cho thấy mỗi năm có khoảng 750,000 phụ nữ Mỹ ở độ tuổi từ 15 đến 19 có thai, 2/3 trong số các ca có thai ở độ tuổi dưới 20 là từ 18 đến 19 tuổi.

 

Giảm Tỷ Lệ Có Thai Quá Sớm 

Tuy vậy, trong gần 20 năm qua nước Mỹ đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc giảm tỷ lệ thanh thiếu niên có thai và có con. Ông Bill Albert giải thích: 

“Một trong những thành công lớn của Mỹ trong hơn hai thập kỷ qua là tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong việc giảm tỷ lệ học sinh Trung học có thai và sinh con. Tỷ lệ học sinh Trung học có mang đã giảm xuống còn 38%, tỷ lệ học sinh Trung học sinh con đã giảm xuống 1/3, và tỷ lệ này giảm ở tất cả mọi tiểu bang và ở mọi sắc dân. Đây là một tiến bộ lớn trong một vấn đề mà nhiều người trước đó cho rằng không thể giải quyết.  

Tiến bộ này đạt được là nhờ vào hai yếu tố, thứ nhất là ít quan hệ tình dục hơn, và sử dụng các biện pháp tránh thai cần thiết. Thứ hai, nhiều thanh thiếu niên Mỹ ngày nay đã chậm có quan hệ tình dục hơn, nhiều người trong số họ có ít bạn tình hơn trước. Và những người có quan hệ tình dục thì dùng các biện pháp tránh tai nhiều hơn và cẩn thận hơn.  

Hai yếu tố này đã khiến tỷ lệ thanh thiếu niên mỹ có thai ít hơn.” 

(Hình AFP: Một cửa hàng bán bao cao-su ở Bali, Nam Dương.) 

Ông Bill Albert cho rằng dường như giới trẻ Mỹ đã có thái độ cẩn trọng hơn khi quyết định có quan hệ tình dục: 

“Người trẻ tuổi bây giờ cũng lo lắng về bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, và HIV, và đó có thể là nguyên nhân dẫn đến việc họ ít có quan hệ tình dục hơn, sự hiểu biết hơn về việc phải có được ít nhất tấm bằng tốt nghiệp Trung học ngày nay để có thể vào đời, tất cả những điều này đã khiến nhiều học sinh ngày nay cẩn trọng hơn trong việc đưa ra quyết định liên quan đến quan hệ tình dục. Đó là những yếu tố khiến tỷ lệ thanh thiếu niên có thai ngày nay đang giảm bớt.” 

Nghiên cứu về thái độ đối với tình dục của người Mỹ lần này cũng cho thấy một con số cao gần như không thay đổi qua các năm những người có quan hệ tình dục không theo cách thông thường. Báo cáo cho thấy một tỷ lệ khá cao những người trẻ tuổi có quan hệ tình dục qua đường miệng và đường hậu môn, mà theo chuyên gia Anjani Chandra thì có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh qua đường tình dục: 

“Khoảng 51% những người trẻ tuổi có quan hệ tình dục qua đường miệng trước khi có quan hệ tình dục kiểu thông thường, điều này có nghĩa là họ vẫn có khả năng bị lây nhiễm các bệnh như lây nhiễm qua đường tình dục ngay cả trước khi có khả năng có thai.” 

Một thống kê vào năm 2004 tại Mỹ cho thấy mặc dù nhóm người ở độ tuổi từ 15 đến 24 chỉ chiếm một phần tư dân số có quan hệ tình dục nhưng lại chiếm đến gần một nửa trong số gần 19 triệu ca phát hiện bị bệnh lây nhiễm qua đường tình dục mỗi năm.

 

Tự Bảo Vệ Mình 

(Hình AFP, minh họa: Cặp tài tử Angelina Jolie-Brad Pitt.) 

Cô học sinh Trung học Bibi nói rằng để giúp giảm nguy cơ bị lây các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục và tránh thai, cô đã sử dụng bao cao-su trong lần quan hệ tình dục lần đầu tiên trong đời và cô cũng khuyên những người bạn của mình nên dùng các biện pháp bảo vệ khi có quan hệ tình dục. 

“Em nghĩ là nên dùng các biện pháp bảo vệ vì có nhiều bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, và một điều quan trọng khác nữa mà nhiều người dường như không hiểu đó là có nhiều bạn bây giờ đã có bầu và có con khi còn quá trẻ. Nếu họ biết cách làm đúng và đừng vội vã thì sẽ tốt hơn. Bạn bè em thì có người cẩn trọng, có người không. Em có những người bạn không sử dụng biện pháp bảo vệ nào khi quan hệ tình dục và em bảo với các bạn như vậy là rất nguy hiểm.” 

Bibi cho biết em học được các biện pháp tự bảo vệ từ mẹ của mình, điều mà theo ông Bill Albert không có gì lạ, mặc dù phần đông phụ huynh Mỹ vẫn chưa hiểu được tầm quan trọng của họ trong việc giáo dục con cái về các vấn đề tình dục. 

“Vai trò của bố mẹ là rất quan trọng, khi chúng tôi hỏi các em rằng ai là người ảnh hưởng quan trọng đến các quyết định mà các em đưa ra về quan hệ tình dục, thì các em đều trả lời là bố mẹ là người hướng dẫn, chứ không phải bạn bè, không phải văn hóa, nhưng thách thức ở đây là nhiều cha mẹ không biết được điều này, và điều chúng ta cần làm là phải để cho các bậc phụ huynh biết được tầm quan trọng của họ trong vấn đề này hơn là họ nghĩ.” 

Người phụ trách chương trình chống có thai sớm trong lứa tuổi học đường ở Mỹ cũng không coi nhẹ các hoạt động truyền thông hướng vào thanh niên Mỹ, mà điển hình là hai show truyền hình thực tế khá nổi tiếng đang được phát trên kênh MTV của Mỹ có tên gọi có thai ở tuổi 16, và các bà mẹ tuổi teen. Ông cho rằng các điều tra gần đây cho thấy các show này đã có ảnh hưởng tích cực lên hàng triệu thanh thiếu niên Mỹ để các em thấy được hậu quả có thực của việc có quan hệ tình dục quá sớm hoặc không sử dụng biện pháp tránh thai cần thiết. 

Còn đối với Bibi, mặc dù đã cẩn thận sử dụng bao cao-su trong lần quan hệ đầu tiên nhưng không phải vì thế mà em coi nhẹ khả năng có thể sẽ vẫn bị mang thai trong các lần quan hệ sắp tới. Em nói em sẽ cố gắng không tiếp tục có quan hệ tình dục trong thời gian tới bởi vì em nghĩ là em đã quá vội vàng trong lần đầu tiên.
Mọi thư từ đóng góp ý kiến cho chương trình, xin quý vị gửi về www.facebook/VietHaRFA hoặc email về địa chỉ vietha@rfa.org

 


About the author
Leave Comment