KỶ NIỆMNHỮNG NGÀYỞ BỒNG SƠN – TAM QUANBẮC BÌNH ĐỊNH

(Trích trong: Mỗi Câu Chuyện Một Bài Thơ)

Tôi đến thị trấn Bồng Sơn, Bắc Bình Định vào giữa tháng 6 năm 1973 từ nơi đóng quân mới ở Thiết Đính, một ngọn đồi thấp án ngữ con đường dẫn về quận Hoài Ân – An Lão đã bị cộng quân lấn chiếm trước đó. Thiết Đính cách Bồng Sơn non một cây số, tôi thả bộ để tìm chỗ uống cà phê.
Thị trấn đổ nát hoang tàn sau những trận đánh khốc liệt từ năm ngoái để lại. Chỉ còn nguyên vẹn một phần góc phố quanh khu chợ gần bờ sông Lại giang. Chiếc cầu sắt xe lửa sập một nhịp, gục đầu xuống dòng sông càng làm tăng thêm vẻ điêu tàn chết chóc của chiến tranh. Tôi đi một vòng lặng lẽ quan sát những người dân nghèo khổ với bộ mặt rụt rè sợ hãi nhìn nhau cảnh giác đề phòng.

Lúc ngang qua tiệm Photo Mỹ Ảnh, liếc thấy một thiếu phụ ngoài 30, khuôn mặt dịu dàng phúc hậu đang hí hoáy ở quầy, tôi bước vào xin chụp một tấm làm kỷ niệm. Đứng gần, trông bà càng đẹp hơn, mắt phụng môi son, cử chỉ nhu mì đoan chính, khiến tôi không thể không khen thầm – ở nơi bom rơi đạn réo mà vẫn có mặt một bông hoa rạng rỡ thế này thì quả là hy hữu.

Chụp ảnh xong, chân bước ra mà mắt còn ngoái lại, tôi va vào một cô bé xách giỏ đi chợ ngang qua khiến mớ rau cá tung toé. Lật đật cúi xuống nhặt nhạnh, tôi rối rít xin lỗi.
Cô bé nhoẻn miệng cười để lộ chiếc răng khểnh duyên dáng làm tôi ngơ ngẩn, giọng cô nhỏ nhẹ:
-Thưa ông, tại em lơ đễnh không nhìn thấy ông … em xin lỗi!
Cô gọi tôi bằng ông và xưng em y như trong tiểu thuyết khiến tôi khoái chí, không giống các cô gái khác thường gọi tôi bằng chú và xưng con mặc dù suýt soát tuổi nhau.

Thế là tôi trổ tài làm quen:

  • Nhà cô gần đây không, cho phép tôi xách giỏ về để chuộc tội làm cô suýt ngã lúc nãy?
    Cô bé đỏ mặt lí nhí:
  • Dạ, em không dám làm phiền ông đâu…
    Miệng nói nhưng tay cô không giành lại chiếc giỏ nên tôi chậm rải xách theo, vừa đi vừa hỏi chuyện:
  • Cô còn đi học hay đi làm rồi?
  • Thưa, em học ở trường Tăng Bạt Hổ gần đây, hiện trường đang sửa chữa nên còn ở nhà chờ, mà ông đừng gọi em bằng cô nghe khách sáo lắm, tuổi em chỉ bằng tuổi em gái của ông thôi mà…

Tôi đồng ý ngay không lưỡng lự:

  • Vậy em cũng đừng gọi anh bằng ông nữa nhé?
    Chúng tôi cùng cười vui vẻ, sánh bước bên nhau, hết dãy phố, rẽ phải nhà em hiện ra dưới con dốc nhỏ gần bờ sông, khung cảnh đìu hiu, tôi hỏi:
  • Ba má không có ở nhà sao em?
  • Dạ, ba má em ra đồng trưa mới về.
    Cô kéo ghế mời tôi ngồi cạnh chiếc bàn kê bên mái hiên.
    Cô hỏi tôi, mắt hơi đắn đo:
  • Anh thích uống nước dừa không, nhà có nhiều nhưng không ai hái…
    Vốn lười biếng tôi lắc đầu:
    -Anh không biết trèo cây đâu, em cho anh uống nước lạnh cũng được mà.

Cô gái mang ra ly nước ngồi đối diện, tôi có dịp nhìn rõ khuôn mặt xinh đẹp với chiếc răng khểnh duyên dáng của em hơn.

Tôi đùa:

  • “Chiếc răng em giữ làm duyên
    Bao giờ đem bán, nhiêu tiền anh mua”…

Em lại đỏ mặt:

  • Anh lại chọc em rồi!
  • Em vẫn chưa cho anh biết tên để gọi?
    Em cười:
  • Thân là tên em, ba em đặt tên này vì em sinh năm con khỉ.
  • Vậy là sau anh 2 năm, anh tuổi con ngựa.
  • Anh cũng chưa giới thiệu cho em biết tên anh kia…
    Tôi chìa túi áo lính ra:
  • Tên và đơn vị anh ở đây này, còn hỏi gì nữa?
  • Có lẽ anh là chuẩn úy mới ra trường?
    Tôi lắc đầu :
  • Không, anh là lính “đơ dem cùi bắp”…
    Em ngơ ngác:
  • Là sao, em không hiểu?
  • Là lính binh nhì, hiểu chưa, “đơ dem” tiếng pháp là binh nhì, “cùi bắp” là tiếng Việt, ý nghĩa trơn tru chả có hột nào sất!

Em cười ngặt nghẽo:

  • Em không tin đâu, nhìn anh lịch lãm, mặt mũi sáng sủa, ăn nói văn hoa thế kia … sao mà binh nhì cho được?
    Tôi giả vờ nghiêm mặt:
  • Nếu không tin hôm nào anh sẽ dắt ông trung úy trung đội trưởng của anh đến xác nhận cho em tin nha?

Chúng tôi cùng phá ra cười, vừa lúc có bóng dáng ba má em từ ngoài bước vào.
Tôi đứng dậy cúi chào, ông già lạnh lùng vừa cởi chiếc áo dính bùn máng lên vách vừa hỏi trổng:

  • Cậu quen con gái tui à?
    Tôi lễ phép đáp:
  • Dạ, tụi cháu mới gặp tình cờ hồi nãy…

Chỉ nghe ông già hừ trong cổ họng, tôi thấy không ổn nên nháy mắt với cô gái ra dấu xin phép cáo từ. Em tiễn tôi ra cổng, giọng ái ngại:
-Ba em hay nói cộc lốc nhưng tánh tình hiền lắm, anh thông cảm khi khác mời anh ghé chơi.

Chào cô gái tôi bước đi, bụng nghĩ thầm:

  • Mấy cô gái thời nay cô nào cũng nghĩ giống nhau: “thà chết trên cành mai chứ không ai đeo vai cánh gà”, mình là lính lác, không ăn thua gì đâu mà tơ tưởng cho mắc công.

Về đồn tôi đem chuyện kể với thằng bạn cùng khẩu đội, vốn thâm niên công vụ ở vùng này, nó cười cười:

  • Coi chừng bỏ mạng sa tràng nghen mày!
  • Ý mày là gì tao không hiểu?
    Nó nhún vai:
  • Vùng này việt cộng đầy dẫy, đa số các cô gái là địch vận, mặt mũi hiền lành nhưng lưng quần dắt súng, dụ dỗ mấy anh lính hảo ngọt đi theo đến nơi vắng vẻ ban cho một viên kẹo đồng…
  • Dữ vậy sao?
  • Ừa … có khi rủ tới nhà chơi, nhờ xách nước rồi xô luôn xuống giếng, hoặc kêu trèo hái dừa rồi lấy sào chọt lên cho té ngã gãy tay chân, đã có mấy tay chuẩn úy mới ra trường dại gái bị chết rồi, mày mới tới nên liệu mà phòng thân.

Chợt nhớ ra lúc cô gái hỏi mình có thích uống nước dừa không, tôi lạnh gáy, nhưng nghĩ lại lẽ nào một cô gái nhỏ bé dễ thương đến vậy lại có thể nhẫn tâm ra tay đoạt mạng một con người cho được.
Tuy nhiên chắc ăn nhất vẫn phải dè chừng, từ đó tôi chỉ quanh quẩn trong đồn, ít khi ra ngoài một mình.

o0o

Thời gian sau đó, theo trung đội lên đường hành quân liên tục, tôi chừng quên mất cô gái và cuộc gặp tình cờ.
Trong hai năm binh nghiệp ngắn ngủi, dấu giày sô của tôi cũng kịp theo pháo đội rong ruổi từ Phù Cát, Phù Ly, đến An Khê, vượt đèo Mang Yang, nằm lại căn cứ 95,93, dọc quốc lộ 19, rồi từ Lệ Trung tiến về tây, tham dự trận giải tỏa căn cứ Lệ Minh, xong xuôi về Hàm Rồng nghỉ ngơi chưa nguội nòng đại bác, đã vội vã kéo súng qua Thanh Bình, Thanh An đánh nhau tưng bừng hoa lá. Hết trực thăng vận lên đỉnh Chư Xang, lại hạ sơn về miền duyên hải, qua đèo Nhông, Phù Mỹ, Hoài Nhơn … cuối cùng về lại Bắc Bình Định, đóng quân trong vòng đai chi khu Tam Quan, cách Bồng Sơn khoảng 5 cây số.

Quận lỵ Tam Quan giáp với Sa Huỳnh của tỉnh Quảng Ngãi bằng một con dốc dài gọi là đèo Bình Đê. Mùa hè đỏ lửa 1972 nơi đây cũng từng xảy ra những trận giao tranh ác liệt.
Ngày tôi đến khu vực này hoang tàn như một vùng đất chết. Trong bán kính một cây số, không cây dừa nào còn nguyên đọt lá. Rừng dừa Tam Quan nổi tiếng xanh mướt ngút ngàn của miền trung nước Việt, nay chỉ còn lại những thân cây đen đúa, nhô lên trên nền trời mây xám hình ảnh nhức nhối buồn rầu.
Buổi chiều tôi hay bần thần đứng ngắm hàng ngàn con chim se sẻ không có chỗ làm tổ, bay về đậu kín trên cây Gòn trơ trọi bên cạnh quán cà phê ba số 5, ngôi quán khiêm nhường nơi tôi vẫn thường uống cà phê mỗi sáng. Cô Trâm chủ quán là một cô gái hiền lành, tuy không xinh đẹp nhưng tốt bụng, cô hầu như cho phép những người lính, dù quen hay không, đều được phép ký tên mình vào cuốn sổ nợ chi chít của nàng. Chính vì lẽ đó khiến tôi, giờ đây vẫn còn thiếu cô một số tiền mà không có cơ hội nào để trả.

Cầu cho cô luôn được hạnh phúc và con cháu cô giàu có nhờ phúc đức cô đã để lại, nhé cô Trâm thân mến của những người lính VNCH năm xưa.

Một buổi sáng sau khi lau chùi súng ống xong, tôi chuẩn bị ra quán cà phê thì nghe có tiếng ồn ào bên phía chi khu. Mấy người bạn qua xem về cho tôi biết:

  • Bên an ninh vừa bắt một nữ du kích ném lựu đạn vô chợ, may không nổ nên không ai bị thương, hiện nhốt tạm chờ giải giao về tỉnh.

Tò mò tôi bước đến xem, phòng giam dã chiến với 2 mặt rào lưới B40 giáp với 2 bức tường hình chữ L hầu như trống trải khi nhìn từ bên ngoài vào. Hình ảnh đập vào mắt tôi là vóc dáng nhỏ nhắn của một thiếu nữ mảnh mai mặc chiếc áo kaki Nam Định màu cỏ úa, hai tay bị trói quặt ra sau chiếc ghế, đầu cúi xuống đất. Nghe có tiếng bước chân lại gần cô quay ra, và cho dù tóc tai rối bù tôi cũng kịp nhận ra khuôn mặt của cô gái có chiếc răng khểnh tên Thân mà tôi đã gặp năm ngoái.
Buông tiếng thở dài, tôi vội vã bước đi, trong lòng vừa dấy lên một ý nghĩ chua chát:
-Không biết trong đầu những người cộng sản họ nghĩ sao khi ra sức tuyên truyền, dụ dỗ những cô gái ngây thơ vô tội, mang lựu đạn ném vào chỗ đông người để giết chết chính đồng bào ruột thịt của mình?!…

Bài thơ tôi ghi lại kỷ niệm những ngày tháng ở đây là tiếng kêu trầm thống của cả một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam đang bị lưu đày trong cuộc chiến tương tàn vô nghĩa hôm qua …

KỶ NIỆM
TAM QUAN


Lửa hung tàn hè một chín bảy hai,
Thiêu quận lỵ không đọt dừa xanh lá.
Ngày ta đến nhìn bầy chim se sẻ,
Kéo nhau về đậu kín nhánh Gòn khô.

Cây trơ cành trước cửa quán cà phê,
Nơi mỗi sáng ta hay ngồi uống chịu.
Cô chủ quán thương tình luôn bán thiếu
(Khiến đến giờ ta còn nợ tiền em).

Chợ Tam Quan ta chẳng dám mon men,
Bởi thiếu nữ đa phần là việt cộng.
Miệng cười tươi nhưng lưng quần giắt súng
Dụ đi theo ban một phát kẹo đồng.

Nên mỗi chiều ta tha thẩn quanh sân,
Nhìn lô cốt, lỗ châu mai xám xịt.
Không hiểu sao loài người ưa bắn giết
Nhưng mồm luôn hò hét gọi hoà bình?

Ta học trò, vừa vướng nghiệp đao binh,
Theo đơn vị hành quân qua quận lỵ.
Mang áo lính nhưng tâm hồn thi sĩ
Chưa bao giờ thù hận kẻ thù ta.

Thương dân tình khổ nạn giữa can qua
Ngày ngại lính quốc gia, đêm sợ ma cộng sản…
Cổ hai tròng hứng hai làn lửa đạn
Theo bên nào cũng thua thiệt mà thôi.

Mong hòa bình giấc mộng quá xa xôi
Người vẫn chết sau hàng tràng pháo kích.
Con cùng mẹ chơi trò chơi thù địch,
Vuốt mặt bạn bè, vuốt lệ cả quê hương…

o0o

Nghe nói bây giờ thị trấn Tam-Quan
Đã xanh lại những gốc Dừa thương tích.
Không biết cô em ngày xưa làm du kích,
Nay có còn … lựu đạn giắt bên hông?

-Donry Nguyễn –
(Chú thích: ảnh đen trắng chụp tại Photo Mỹ Ảnh Bồng Sơn Bình Định 1973, AI làm mới lại)