GIÁN ĐIỆP QUỐC TẾ

(trích đoạn trong “Đêm Giữa Ban Ngày“)

Image result for đêm giữa ban ngày

Một chủ nhật, trại được nghỉ, chúng tôi đang chuyện vãn, thì có người gọi tôi. Từ tầng trên của cái giường dài chạy suốt chiều dọc của nhà giam, tôi thấy một người đàn ông dài ngoẵng, gày quắt và đen nhẻm đứng dưới ngó lên.
– Nị có thư.
Nghe giọng anh ta thì biết là người Hoa.
– Ai gửi cho tôi vậy?
– Ông Trần mà. Nị biết chớ? Ông ở nhà B.

Tôi đọc qua rồi đưa bức thư cho ông bạn già vừa đến chơi với tôi. Ông tên là Trúc, làm chức gì đó nghe rất kêu, tương đương thông phán, từ thời vua Bảo Đại còn được người Pháp tin dùng. Cũng là một người bị vào tù vì tính cẩn thận của chính quyền, chứ ông không có chân trong bất cứ đảng phái phản động nào, cũng không làm gì chống nhà nước hết. Ông đã qua vô số trại, biết vô số tù số lẻ, là người có kinh nghiệm sống trong môi trường tù.
Ông nhón tờ thư, đọc lướt qua rồi nói:
– Lão Trần, đại tá đặc vụ. Tôi biết lão từ trại tạm giam Hải Phòng. Hơi toqué (dở hơi) một tí, nhưng là người đàng hoàng. Anh cứ sang chơi.
– Được, anh về trước đi. Tôi sẽ sang – tôi nói với anh chàng đưa thư.
Anh ta vui vẻ chạy đi.
Trong bức thư, viên đại tá đặc vụ của Trung Hoa Dân Quốc gọi tôi bằng “tiên sinh”, khẩn khoản mời tôi đến chơi, tức là sang nhà giam bên cạnh, cách mấy bước chân, mà ông gọi là “tệ xá”.
Trần Chấn Hoa cũng đang ngồi tán dóc với chúng tôi, nói:
– Để em đưa anh đi. Em cũng quen bác Trần.
– Không tiện. Người ta mời một mà mình đi hai là không lịch sự.
Y tiu nghỉu.

Tôi thay quần áo. Không thể không thay quần áo để yết kiến một người già đối xử trịnh trọng với mình như thế. Chúng tôi chẳng có nhiều quần áo để thay đổi. Không kể bộ pi-gia-ma vợ tôi mang lên khi tôi còn ở trại quân pháp đã rách nát tôi có hai bộ đồng phục tù mới tinh do Trần Chấn Hoa đem thuốc lá đi chác cho tôi.

Thì ra lão Trần chính là cái ông già lụ khụ, tuổi có dễ suýt soát tám mươi, với gương mặt nhăn nhúm ló ra từ cái mũ len tứ thời. Nặng nề và chậm chạp trong bộ quần áo không giống ai, bó chẽn cả vạt áo lẫn gấu quần, với đôi tất to sù của vận động viên bóng đá, ông được miễn lao động, sáng sáng cầm cái chổi xể cán dài quét xoèn xoẹt trước cửa nhà B. Tôi biết mặt ông, chỉ không biết ông là đại tá đặc vụ.
Lão Trần ở giường trên lập cập trèo xuống, chắp hai tay vái tôi:
– Thỉnh tiên sinh.
Tôi nói:
– Chào bác. Xin miễn lễ.
Chúng tôi theo nhau trèo lên.
– Tiên sinh an vị.
– Đa tạ.
Tôi ngồi vào chỗ lão chỉ, xếp chân bằng tròn.

Anh chàng đưa thư – đệ tử của lão Trần – nhanh nhảu dọn bàn trà. Trong tù mỗi nhân vật khác thường một chút bao giờ cũng có vài đệ tử. Người thì do cao tuổi, tư cách đáng trọng, người thì do giàu có, được người nhà tiếp tế thường xuyên nên được bạn tù nghèo hầu hạ để ăn theo. Lão Trần thuộc loại thứ hai, loại giàu có. Những người tù nghèo kiết xác, không thể có đệ tử, thì có anh em kết nghĩa, bố con kết nghĩa, tạo thành một gia đình. Thứ gia đình thế phẩm này là biểu hiện của xu hướng quần tụ tự nhiên, nhưng trong nhà tù, đôi khi nó cũng bệnh hoạn lắm. Những vụ đánh ghen xảy ra thường xuyên, có cả máu chảy.
Để tiếp khách quý, lão Trần mua hẳn một lạng trà “tự biên tự diễn” mua của cánh lâm sản. Trên cái đĩa sắt tráng men cóc gặm, một gói Polyvitamine vàng rực được đổ ra. Trong tù, nó là sự chiêu đãi long trọng.
– Thỉnh tiên sinh khai trà.

Viên đại tá đặc vụ trong bộ quần áo xơ xác, trông như con chuột cống già, giơ bàn tay với những ngón cong queo vì phong thấp kính cẩn mời tôi. Tôi lễ phép nâng chén lên ngang tầng mắt, nhìn ông lão qua làn hơi nước. Cuộc thưởng trà diễn ra trịnh trọng, giống như trong một màn tuồng cổ.
Hoá ra viên đại tá đặc vụ không mời tôi đến chơi vì một lý do nào khác ngoài chuyện ông lên cơn nhớ thơ phú. Không để ý tới đám tù ồn ào nằm ngồi lộn xộn, người chơi cờ, người may vá, người bắt rận, chúng tôi im lặng cạn chén trà đầu tiên. Bằng cách đó chúng tôi đồng tình tạo ra một sự tự kỷ ám thị như thể không phải chúng tôi đang ở trong tù mà ở một nơi nào khác của xã hội văn minh, nơi con người có thể nhẩn nha đàm đạo văn chương.

Sau tuần trà thứ hai buổi chuyện thơ bắt đầu. Lão Trần là một thi sĩ bất phùng thời. Lão yêu thơ và rất thuộc thơ Lý Bạch, Khuất Nguyên, Đỗ Phủ cũng như những nhà thơ danh tiếng khác của nước Trung Hoa cổ. Tôi thì nhớ lõm bõm, câu được câu chăng, luôn nhầm lẫn nhà thơ này với nhà thơ khác. Lão Trần rộng lượng không để ý chuyện đó. Tôi chẳng qua là cái cớ cho cuộc trở về với thơ của lão, cho vơi nỗi nhớ thơ của lão. Cứ mỗi bài thơ qua lão Trần lại biến đổi trước mắt tôi. Không phải là ông già lẩn thẩn quét rác nữa mà là một lão nho thư thái, ung dung tìm được phút giây hạnh phúc trong những vần thơ bất tử.
Tôi thích cách thưởng thơ của lão Trần. Lão có những lời bình độc đáo cho những vần thơ đa nghĩa khi người đọc chuyển dịch những dấu ngắt câu không có mặt trong thơ Trung Quốc. Sau mỗi bài thơ chúng tôi trịnh trọng mời nhau uống trà đặc sệt và chát xít đựng trong khúc nứa tép cắt ngắn và nhấm nháp mấy viên Polyvitamine.

Đại tá đặc vụ họ Trần thời trẻ là giáo viên dạy văn trung học. Vui chuyện, lão kể cho tôi nghe đời lão. Thì ra lão là nhân viên tình báo Trung Quốc thật, không sai.
– Bác công tác trong ngành tình báo được bao lâu?
Lão cười không có tiếng:
– Công tác khỉ gì đâu, thưa tiên sinh. Tôi chỉ ghi tên vào đấy thôi.
– Tức là…
– Có tên ở đấy coi như đã vào lính, hức – lão bật nấc – Cái nghề tình báo có lợi là thế. Mình vẫn được là mình, hức, mà lại cứ như có mặt trong quân ngũ. Tôi vào được ngành này cũng là nhờ, hức, một người quen thân gia đình giới thiệu…
– Tôi chưa hiểu lắm…
– Thì để trốn lính mà – lão cười, phô hàm răng trên có nhiều lỗ thủng – Tình báo tình biếc gì đâu. Tháng tháng chỉ có việc ký vào giấy nhận lương là xong. Lương tôi đã có người khác lĩnh, ai lĩnh tôi cũng không biết. Thế rồi tuần tự như tiến, hức, tôi được thăng cấp, được lên lương, cấp trên tôi không biết ai, cấp dưới tôi không có, đã bảo là hoạt động tình báo mà. Thỉnh thoảng, hức, người ta còn bịa ra thành tích cho tôi nữa, để cho lương tôi tăng nhanh, lương tôi có tăng thêm thì họ mới được nhiều tiền hơn. Không thì họ thiệt. Thời bấy giờ lạm phát đại phi mã, hức hức, chắc tiên sinh còn nhớ…
Anh chàng đệ tử dài ngoẵng vội lết lại đấm lưng cho ông lão.

Tôi nhớ cái sự lạm phát ấy. Năm 1945, quân Tưởng vào miền Bắc giải giáp quân đội Nhật bại trận, mang theo hai thứ tiền: Quan kim và Quốc tệ, bắt người Việt phải tiêu. Tiền Quan kim còn có giá, chứ tiền Quốc tệ thì than ôi, nó chỉ đắt hơn giấy lộn chút ít. Ngày quân Tưởng sắp rút về nước, giá một bát phở gánh tương đương với một bị Quốc tệ. Những ông hàng phở bực dọc với lũ Tàu phù thu tiền xong là quẳng luôn vào bếp thay củi. Tiền Quan Kim in trên giấy tốt, rất đẹp, nhưng rồi cũng vứt đi. Nhóm bếp không được, nó cháy chậm và dễ tắt, còn kém cả Quốc tệ. Mãi tới năm 1950 ở trong kho ủy ban tỉnh Tuyên Quang vẫn còn vài chục bao tải tiền Quan kim không biết dùng làm gì.

Để theo kịp lạm phát, tôi được thăng cấp vèo vèo – lão cựu điệp viên Trung Hoa tiếp tục câu chuyện – Rồi Hoa quân nhập Việt, tôi được lệnh theo sang. Ở Hải Phòng, tôi xin được chân giáo viên dạy văn ở trường trung học của người Hoa. Rồi tôi lấy vợ Việt Nam. Hoa quân rút, người ta chẳng gọi tôi, họ quên hay là họ mặc kệ tôi, không biết. Thế là tôi ở lại hẳn. Mình có vợ con rồi, yên chỗ rồi, đi đâu làm gì? Người Pháp đến, họ chẳng đụng đến tôi. Người Trung Hoa chúng tôi rất dễ sống trên đất lạ, ông ạ – ở đâu có cỏ mọc, có gián bò, ở đó có người Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam tiếp quản Hải Phòng, tôi vẫn tiếp tục dạy học. Thế rồi chẳng biết ai báo cáo, tôi bị công an gọi…

Tôi ngạc nhiên nhìn ông:
– Bác nhận ngay bác là đặc vụ?
– Vâng – ông già gật đầu, bình thản chiêu ngụm trà – Chối sao được hở ông, khi người ta biết rồi. Tại sao người ta biết, tôi chẳng hiểu. Chắc khi Hoa quân rút đi vội vã, giấy tờ vương vãi thế nào đấy, một cái bảng lương chẳng hạn. Người ta chẳng kịp, hoặc chẳng buồn huỷ những giấy tờ ấy vô dụng ấy đi làm gì, tống đại vào kho. Thế rồi nó rơi vào tay các ông Việt Minh. Chắc vậy. Cái gì chứ giấy tờ của địch các ông ấy giữ rất kỹ, vì thế vẫn còn lại. Ông công an hỏi cung tôi người hiền lành lắm, tử tế lắm. Nghe tôi kể tình đầu tại sao tôi là gián điệp, ông chỉ cười hì hì rồi khuyên tôi cứ khai báo thành khẩn, Đảng là đèn giời, Đảng sẽ xét cho. Tôi khai hết, chuyện là như thế như thế. Tiên sinh nghĩ, phận mình là dân, cứ thật thà là hơn, người ta hiểu, người ta sẽ tha cho về, giữ mình làm quái gì…

Ông lại cười, lại nhe hàm răng cái còn cái mất.
– Bác ở đây mấy năm rồi?
– Mười năm có hơn, thưa tiên sinh.
– Người ta xử bác mấy năm?
– Thiên nả ! Nào có được xử. Xử thì phải có tội mới xử được, đàng này tôi chẳng có tội gì…

Lão đại tá thở dài:
– Lẽ ra tôi nhận lấy một cái tội, chẳng hạn tôi được cơ quan tình báo Trung Hoa cài lại, để làm cái gì đấy… – ông ngẩn người, nghĩ ra một nhiệm vụ tình báo làm thí dụ, nhưng nghĩ không ra – Tức là, phải nhận một cái tội bé bé để người ta đưa ra xử. Nhưng tôi không biết, ngu quá! Không có tội ở chế độ ta khổ hơn có tội, tiên sinh à.
Tôi ngớ người. Chẳng lẽ đó là chuyện có thật? Nhìn vào mắt lão tôi tin lão không nói dối. Mà nói dối tôi phỏng có ích gì?
– Bác phải viết đơn khiếu nại chứ. Người này không tin còn có người khác.
– Tôi viết nhiều nhiều rồi đấy, nhưng chẳng có ai trả lời.
– Phải kiên trì, bác ạ.
– Vô ích mà, tiên sinh.

Lý Bạch, Đỗ Phủ và Khuất Nguyên đã ba chân bốn cẳng chạy mất dép rồi. Thời các vị, hơn hai ngàn năm trước, làm gì có cái luật pháp văn minh thế này.

Đến đây, buổi thưởng thơ cũng kết thúc. Tôi đang bùi ngùi cho số phận lão Trần thì Dịp Pún Mằn la đà xách giỏ tới nhà B. Mọi người lập tức bâu quanh anh ta. Lão đại tá đặc vụ cử anh chàng dài ngoẵng leo xuống sàn đi trinh sát. Anh ta lôi Dịp Pún Mằn về. Dịp Pún Mằn leo lên tầng trên, ngồi vào chiếu lão Trần:
– Tài cố, hẩu ma ?
– Còn gì không, Dịp đệ?
– Cồn cố cồn cố nhều nhều.
– Bán cho tôi hết.
– Pán thì pán. Kho lồi có, cồn sống có.
– Kho rồi thứ gì?
– Cá trê a! Tố hảo xực a. Ngôn nhều nhều.
– Tôi đãi khách, Dịp đệ à, không ngon không lấy đâu.
– Tã pảo ngôn mà. Ngộ ăn cùng, tược chớ?
– Tốt. Biết tiên sinh đây không?
– Pết, pết lắm chớ.
-Tiên sinh ở đây dùng cơm với tôi, chẳng mấy khi – lão Trần xoa hai tay vào nhau, trịnh trọng – Chú Dịp kho cá ngon, lại vệ sinh lắm lắm nên mới dám mời tiên sinh.

Cứ như thể lão không biết cơm trại thế nào. Chúng tôi thường xuyên ăn cơm độn sắn với “rau muống tần đại dương”, thỉnh thoảng được thêm món ca la thầu . Ca la thầu là xu hào muối với xì dầu, do nước bạn Trung Quốc viện trợ cho quân đội Việt Nam, mặn chát và thối rình, quân đội không ăn được, bèn chuyển cho tù. Một chiếc xe tải quân sự chở ca la thầu đến, khắm lặm cả một khu bếp trại. Ca la thầu được đổ vào trong một cái bể lớn, nhà bếp hằng ngày vớt ra, rửa qua loa cho trại ăn dần. Người nhà bếp không ai đụng đũa vào món ấy. Có người nói rằng trong bể ca la thầu có cả xác chuột. Thế mà những người tù vẫn chén ca la thầu như thường, còn mút mát là đàng khác.

Tôi ăn bữa trưa ngon lành cùng với viên đại tá đặc vụ chỉ có mặt trong sổ lương của một quân đội không còn tồn tại.
Lão Trần ra dáng phong lưu lắm. Tôi không cần phải quay về đội lĩnh cơm. Lão đặc vụ cho người sang nhắn mấy người ăn chung với tôi cứ tự nhiên dùng suất của tôi, tôi ăn bên này rồi. Lão còn sai đệ tử mua thêm ba suất nữa cho ba chúng tôi, gọi là ăn đúp.

Trong tù sự mua bán này là bình thường – người thì bán cơm để trả nợ, người thì nhịn ăn để mua thêm thuốc lào, tù ở toán lâm sản bán cơm vì họ kiếm được củ mài khi đi rừng. Đồn rằng lão có hai cô con gái lấy chồng Việt, hai ông chồng đảng viên lại là cán bộ lương thực thực phẩm, cửa hàng trưởng hay cửa hàng phó chi đó, họ tiếp tế cho ông bố vợ đầy đủ. Hai cô xinh lắm, những người tù đã gặp hai cô lên thăm cha kể thế. Những đảng viên cộng sản khi vào đảng không hề mất đi cái nhìn bình thường của con người đối với sắc đẹp.

Nhân tiện, tôi hỏi về trường hợp Dịp Pún Mằn. Lão Trần cười hề hề:
– Dịp đệ kể cho tiên sinh nghe đi!
Dịp Pún Mằn chống đũa nhìn tôi, bẽn lẽn:
– Cố dề mà kể chớ! Hổi lồi mà, kể lồi mà.
– Thì cứ kể lần nữa đi! – lão Trần giục.

Bằng giọng ngọng ngoẹo, chỗ nào khó hiểu quá đã có lão Trần thông ngôn, Dịp Pún Mằn kể cho tôi nghe vụ án của anh.
Số là anh chàng Dịp Pún Mằn làm nghề cu-li bắt-tê . Cu-li bắt-tê ở Sáu Kho Hải Phòng toàn người Tàu, cha truyền con nối. Người Việt không làm nghề này, vì không làm nổi chứ không phải vì chê nó hèn. Người Tàu to con hơn, khỏe hơn. Với một cái móc sắt trong tay phu bắt-tê Tàu có thể quật lên lưng cả tạ hàng mà không cần ai giúp đỡ.
Một thủy thủ người Hoa làm việc trên một con tàu Hi Lạp làm quen với Dịp Pún Mằn trong một lần cập bến ngắn ngủi. Anh ta đưa tiền cho Dịp Pún Mằn, nhờ anh mua báo Việt Nam rồi gửi cho anh ta hàng tuần bằng đường bưu điện theo một địa chỉ ở Hồng Kông. Để làm gì không biết.

Dịp Pún Mằn nhận lời liền. Tính Dịp Pún Mằn thế, hay giúp đỡ. Tiền thì người ta đưa trước cả năm, lại đưa thừa chứ không thiếu. Từ cầu cảng về nhà có tới hai ba quầy báo và một trạm bưu điện. Mỗi hôm đi về Dịp Pún Mằn mua một loạt báo, tích lại đến cuối tuần ra bưu điện gửi một thể. Còn việc gì dễ hơn!

Ba tháng sau cuộc gặp gỡ định mệnh với ông bạn đồng hương, Dịp Pún Mằn bị công an tóm ngay tại trận với bó báo chưa kịp gửi rồi đưa thẳng về nhà giam. Người ta tra hỏi Dịp Pún Mằn: mua báo cho ai? để làm gì? địa chỉ gửi báo là của cơ quan gián điệp nước nào? đã gửi những thông tin gì ra ngoại quốc? bằng hệ thống mật mã nào?
Nói tóm lại, Dịp Pún Mằn hoa mắt đến muốn ói trước những câu hỏi anh không tài nào hiểu nổi. Vốn tiếng Việt của anh quá nghèo. Họ hỏi anh sáu tháng liền. Câu nào Dịp Pún Mằn không trả lời được thì người ta gà cho anh. Chấp pháp ghi biên bản rồi đưa cho anh ký. Dịp Pún Mằn ký. Anh biết ký tên mình từ đó. Bằng chữ Việt hẳn hoi.

Hoàn cung, anh ra tòa. Bào chữa viên do tòa cử ra không cãi cho anh mà khẳng định ngay rằng anh phạm tội rất nặng – làm tay sai cho bọn đế quốc và bè lũ phản động quốc tế. Sau một hồi ca ngợi Đảng và lên án bị can đủ điều ông ta mới xin tòa mở lượng khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị can vì bị can “thuộc thành phần nhân dân lao động, do kém giác ngộ nên bị gián điệp nước ngoài dụ dỗ, mua chuộc nên mới phạm pháp”.
Được bồi dưỡng đến nơi đến chốn trong trại tạm giam rồi mà trước vành móng ngựa Dịp Pún Mằn vẫn run như cầy sấy. Anh đáp lại những câu hỏi của tòa bằng những câu trả lời đã thuộc lòng:
– Dà, túng thế (đúng thế)!
– Dà, khôông cốô sai!
– Dà, túng là dắn tệp cốôc tế lồi (đúng là gián điệp quốc tế rồi)! Túng lắm (đúng lắm)! Túng lắm!
Tòa thương tình ban cho Dịp Pún Mằn, người con của nhân dân lao động, mười lăm năm tù. Dịp Pún Mằn rưng rưng nước mắt chắp hai tay vái bào chữa viên rồi phát biểu trước tòa, bày tỏ lòng biết ơn của anh:
– Cấy Tảng Duỵt Nàn tốt nhều nhều (cái Đảng Việt Nam tốt nhiều nhiều) lớ!

About the author
Leave Comment