hay THỰC

 

 

                                                                           Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Đối với cộng đồng tỵ nạn người Việt trên thế giới, biến cố gây sôi nổi nhất lúc này là việc con hát Đàm Vĩnh Hưng (ĐVH) bị xịt hơi cay vào mắt ngay trên sân khấu lúc nó đang trình diễn. Vấn đề đã được báo đài tường thuật đầy đủ, và còn tiếp diễn dài dài, chúng tôi không cần lặp lại, chỉ xin nêu một vài cảm nghĩ sơ khởi sau:

 

Những Nhận Định

 

    Giả thiết Lý Tống (LT) không xịt hơi cay mà xịt acit chẳng hạn, con hát ĐVH sẽ bị tắt tiếng suốt đời. Cuộc đời nó sẽ đi vào tối tăm. Nhưng kết quả cuộc đấu tranh của ngưòi Việt tỵ nạn sẽ rất bất lợi, vì trước dư luận thế giới, chúng ta không những không chứng minh được VGCS đang tấn công chúng ta, mà chúng ta sẽ trở thành kẻ khủng bố. Nhờ xịt hơi pepper, tên ĐVH có thể hát trở lại trong vòng 15 phút sau, tội trạng của LT được chứng minh rằng đây chỉ là đòn cảnh cáo chứ vô hại. Hơn nữa về mặt chính nghĩa đấu tranh, chúng ta gặt hái được nhiều thành quả đáng kể. Sự kiện này:

 

1.  Làm dấy lên phong trào chống văn hóa vận của VGCS rất sôi nổi trong cộng đồng tỵ nạn mà lâu nay tưởng chừng như đã tắt ngấm. Từ đó thấy được tinh thần chống cộng của đại đa số đồng bào tỵ nạn vẫn rất cao và rất kiên cường, bắt buộc bọn VGCS phải e ngại và dè chừng, không dám lấn lướt chúng ta như trước.

 

2.  Làm lộ diện những tên bầu show vì tham đồng tiền nhơ bẩn đã bán rẻ lương tri và bán đứng đồng bào, những tên MC mặt dầy hơn thớt chuyên đưa người cửa trước rước người cửa sau để kiếm tiền như những mụ tú bà trong động điếm. Chắc chắn những bọn này phải e ngaị và chùn bước.

 

3.  Đủ tác dụng để cảnh cáo bọn con hát trong nước còn mơ tưởng ra tuyên truyền và hốt bạc tại hải ngoại này, và nhiều khi còn hỗn láo nhục mạ người tỵ nạn. Chúng tôi không nhớ rõ nhưng biết có một con hát nào đó đã đe dọa chôn sống người tỵ nạn kia đấy. Thật ngông cuồng và khốn kiếp. Tất nhiên cũng còn cảnh cáo luôn bọn xướng ca vô loài mang danh tỵ nạn nhưng vẫn nuôi mộng trở về lòn trôn bọn VGCS.

 

4.  Cho biết những ai là người thích đi nghe bọn này hát? Một người bạn lăn lộn trong giới báo chí cho biết đại đa số đám khán thính giả là thành phần du sinh và thân nhân ở hải ngoại, còn lại là “ĐƯỢI tha phương cầu thực, vì người tỵ nạn CS thực sự và có liêm sỉ không bao giờ mất tiền đi nghe bọn này hét cả.

 

5.  Tự nhiên vạch ra lằn ranh giữa những người chống cộng dứt khoát và những kẻ chủ trương hòa hợp hòa giải với VGCS bởi một sự thật hiển nhiên là, hầu như tất cả mọi tổ chức, mọi nhóm, mọi cá nhân xưa nay kêu gọi đa nguyên đa đảng, bỏ điều 4 Hiến Pháp v.v. đều im lặng trước chiến dịch NQ36 của VGCS mà cụ thể là vấn đề tên ĐVH bị xịt hơi cay xẩy ra rất sôi nổi trong cộng đồng.

 

6.  Còn làm lộ diện những tờ báo, những tên viết báo “hồnTrương Ba, da hàng thịt”. Tờ báo nào đã quảng cáo show ĐVH? Tờ báo nào đã cung cấp chỗ cho tên ĐVH mở cuộc họp báo? Nhà báo nào đến chầu chực để nghe tên này nói láo. Không nghe thì cũng biết nó nói gì rồi thì hà tất phải đến chầu chực để nghe nó nói. Có bao giờ nó nhận nó sai đâu? Ngày xưa bọn Bắc Việt xua quân xâm chiếm miền Nam rành rành như thế mà chúng còn chối leo lẻo, thì thử hỏi tên con hát đảng viên tự nhận nó đi tuyên truyền NQ36 sao? Một điều đáng lư ý khác nữa là tên ĐVH họp báo tại Anaheim hay Westminster gì đó có vi phạm luật lệ của thành phố này không. Người đứng ra tổ chức có vi phạm không. Chúng tôi nhớ không lầm là hình như luật lệ thành phố có cấm những tên CS lai vãng đến các thành phố này thì phải. ĐVH là một đảng viên CS, nó mở họp báo ở đây mà không phạm luật sao? Xin bà con coi lại vấn đề này.

7.  Kết quả quan trọng nhất có thể đạt được nếu LT, các luật sư, và những vị dấn thân trực tiếp trong vụ này biết làm và làm khéo, là biến cố này có thể làm cho dư luận Mỹ hiểu được chính nghĩa chống cộng của người tỵ nạn để họ bằng lòng ủng hộ chúng ta.

     Đừng tưởng rằng người Mỹ sáng suốt về các vấn đề chính trị thế giới, nhất là các vấn đề của VN. Xin đan cử một thí dụ để dẫn chứng người Mỹ ngu dốt lắm. Tuần qua, bà dân biểu Sheila Jackson Lee, người da đen, đơn vị 18 Texas, thành viên Ủy Ban Đối Ngoại, và Tiểu Ban Trung Đông và Nam Á Hạ Viện Hoa Kỳ đã tuyên bố tại cuộc họp khoáng đại Hạ Viện một cách quái đản thế này: Ngày nay chúng ta có 2 nước VN Bắc và Nam vai sánh vai trao đổi và làm việc chung với nhau. Chúng ta có thể không đồng ý với các việc mà miền Bắc làm, nhưng họ sống trong thanh bình. Tôi hy vọng miền Bắc có được một thành tích về nhân quyền hoàn hảo hơn, nhưng dù sao họ cũng đang sống đề huề bên cạnh nhau (Today we have two Vietnams, side by side, North and South, exchanging and working. We may not agree with all that North Vietnam is doing, but they are living in peace. I would look for a better human rights record for North Vietnam , but they are living side by side.) (The Washington Times 7-18-2010). Một dân biểu trong Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện mà hiểu biết về VN như vậy thì thử hỏi giới bình dân Mỹ biết gì về CSVN và về vấn đề người Việt tỵ nạn chúng ta. Làm cho dư luận Mỹ hiểu chúng ta là điều hết sức cần thiết chứ không coi thường được.

8.  Điểm so sót của chúng ta là phần đông chúng ta đã thổi tên ĐVH lên hơi quá đáng. Báo chí đến nghe nó họp báo là không nên. Có gì phải thông tin về những điều nó nói láo. Gọi nó là ca SĨ là đề cao nó quá. Trong văn hóa VN, chữ SĨ và chữ SƯ trong cái title để gọi một người nào đó rất quan trọng. Người đó cần hội đủ ít nhất 2 điều kiện: một là người đó phải đạt tới cảnh giới cao nhất về chuyên môn, khả năng, hay nghề nghiệp. Hai là phải có tư cách, đức hạnh đúng với phẩm giá của nghề nghiệp đó. Những người viết nhạc chỉ viết một vài bài tình ca rẻ tiền thứ “mì ăn liền” chẳng nên gọi là nhạc sĩ. Con hát nếu phải giở những trò tiểu xảo khoe vú phơi rốn, hay nhẩy choi choi như khỉ ăn ớt trên sân khấu để ăn xin cảm tình của khán giả thì nhất định không thể gọi là ca sĩ. Tên ĐVH không có 2 tiêu chuẩn để gọi là sĩ nên không nên gọi nó là ca sĩ. Gọi nó là ca công hay con hát được rồi.

Những Việc Nên Làm

   Xin có vài ba ý kiến sau đây nhân cơ hội này:

1.  Nếu LT và các luật sư khéo lèo lái được các quan tòa (xử sau này) chấp nhận hành động pepper spraying của LT là do động cơ chính trị và thắng kiện thì tức là chúng ta đã dành được chính nghĩa. Từ đó các đảng phái, đoàn thể, và các cá nhân chống cộng thực sự dựa trên sự kiện cụ thể này để phát động chiến dịch mở mắt các thành phần Mỹ khác từ thượng tầng đến hạ tầng xã hội. Đoạt lấy sự chủ động mà hiện nay đang ở trong các thành phần chủ trương hòa hợp hòa giải với VGCS.

2.  Vận động cộng đồng tỵ nạn embargo và boycott giới văn nghệ sĩ và bọn trung gian thông đồng làm ăn với VGCS như không coi các show có các con hát đã về đầu hàng CS, không mua đĩa nhạc của chúng v.v. Cô lập bọn hòa hợp hòa giải. Nếu thành công chiến dịch sẽ lan dần sang đến các lãnh vực khác. Và cuối cùng là cộng đồng tỵ nạn hải ngoại sẽ tự mình đơn phương embargo và boycott tập đoàn VGCS trong nước như không gởi tiền, không về VN, không mua hàng của VGCS, trừ những trường hợp thật sự cần thiết mà thôi. 

3.  Trong cuộc biểu tình tại San Jose ngày 18-7 vừa qua, chúng tôi thấy có sự tham dự của DB Cao Quang Ánh. Chúng tôi rất cảm kích và hoan nghênh ông. Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ, ở cương vị một dân biểu liên bang, ông có thể làm một chuyện gì đó thiết thực và hữu ích hơn là chuyện tham gia biểu tình nhiều. Chẳng hạn ông có thể đưa ra QH một dự thảo luật cấm các show có mặt các con hát trong nước, nếu các show này bị nhiều (vài ba trăm chẳng hạn) người complain vì lý do nó quấy nhiễu và làm xáo trôn sự an vui của cộng đồng, hơn nữa còn làm tốn hao công quĩ vì cảnh sát phải tăng cường an ninh v.v. Nếu nhà hàng xóm của ông nuôi một con chó cứ sủa ban đêm làm ông mất ngủ, ông có quyền nhờ luật pháp bắt người hàng xóm phải khóa mõm con chó lại. Hoặc nếu ông có lòng muốn xây một ngôi chuà hay thánh đường trong một khu vực, nhưng bị cư dân ở đấy phản đối với chính quyền địa phương vì Chùa hay nhà thờ sẽ làm họ phải mất sự yên lặng trong cuộc sống, hẳn nhiên ông không thể đạt được ý muốn dù là việc công đức. Tôi không rành về luật, nhưng cũng thử đề nghi một thí dụ, còn tùy theo sáng kiến của ông. Nếu được thì đồng bào sẽ đỡ phải biểu tình. Tốt biết mấy.

Cảm Nghĩ Cuối Cùng

     Ông bà ta thường nói “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Ở cái mảnh đất San Jose này mà cứ khẳng định mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên là sai bét. … dĩ vãng giờ đã xa rồi … nhưng người ta còn nhớ, đã có nhiều chuyện xẩy ra ở đây mưu sự do con người, nhưng bất thành sự cũng lại do con người cả. Đổ cái thất bại lên đầu ông Trời thì oan cho Ổng lắm. Việc chống văn hóa vận của VGCS hiện nay cần rất “cẩn tắc vô ưu” để tránh cái kết cuộc bất thành sự tại nhân như trong quá khứ mà ông LT góp phần chủ động và trực tiếp. Lại còn một điểm này nữa. Ông LT ra khỏi nhà tù vẫn còn mặc bộ đồ giả đàn bà trông ngộ ghê vậy đó. Nhìn ông, người ta thắc mắc không hiểu ông làm chuyện đại sự quốc gia hay đang mần tuồng tranh đấu. Hư hay thực chẳng biết đâu mà mò. Rõ khổ.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

——————————————————————-

KHẢ TỬ, BẤT KHẢ NHỤC

                                                                                 Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Để nắm vững cái thường gọi là chuyên chính vô sản, VGCS phải triệt hạ không nhân nhượng tất cả mọi cá nhân hay tổ chức nào mà chúng cho là nguyên nhân có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ. Đó là nguyên tắc không thay đổi của CS. Trường hợp đức TGM Ngô Quang Kiệt là một thí dụ điển hình. Bằng mọi cách và bằng mọi giá, chúng phải đẩy ngài đi. Cái may cho ngài là, chúng chỉ đẩy ngài đi ngoại quốc mà không thủ tiêu ngài như chúng đã thủ tiêu đức TGM Nguyễn Kim Điền, hay như mật vụ Balan thủ tiêu Lm Jerzy Popieluszko. Tình thế và hoàn cảnh hiện nay của VGCS không cho phép chúng hành sử lỗ mãng như trước nữa. Đơn giản chỉ có thế. Đừng tưởng rằng VGCS bây giờ văn minh hơn hay nhân đạo hơn. Lầm to.

 

     Sau khi đẩy được đức TGM Ngô Quang Kiệt đi rồi, và đã đặt được người của chúng thay thế rồi, VGCS “lại quả” một chút để rửa mặt cho Tòa Thánh theo thông lệ ngoại giao quốc tế: bánh ích quăng đi, bánh qui quăng lại, bằng cách cho phép Tòa Thánh được cử một phái viên không thường trú tại VN. Vấn đề này, báo chí loan tin như sau: ngày 23-24/6/2010 phái đoàn Việt Nam đã đến Vatican để tiến hành khóa họp thứ 2 của Nhóm Làm Việc chung giữa Việt Nam và Tòa Thánh. Khóa họp được hai đồng chủ tọa là Đức Ông Ettore Balestrero, thứ trưởng ngoại giao Tòa Thánh làm trưởng đoàn, và Nguyễn Quốc Cường, thứ trưởng ngoại giao, trưởng đoàn Việt Nam. Mục đích việc đặt phái viên không thường trú của Tòa Thánh là nhằm tăng cường quan hệ giữa Vatican và Việt Nam , cũng như quan hệ giữa Vatican và Giáo hội Công giáo VN. Đối với VGCS thì sự kiện này chẳng là cái gì cả. Trong chỗ riêng tư, một nhân viên bộ Ngoại Giao VGCS đã nói: Nó (việc đặt phái viên không thường trực) chẳng có gía trị gì cả. Nhưng với Tòa Thánh thì đây lại là một thành công lớn. Nó là công khó của hàng mấy thập niên thương lượng và trông đợi, là kết quả của việc phải cắn răng chịu nhục để thay đổi hàng ngũ lãnh đạo GHVN một cách đầy tai tiếng. Nó còn là việc dám liều mạng đánh đổi lòng tin của giáo dân VN vào Tòa Thánh với một cái gì đó rất mơ hồ, chưa hình thành và chưa lấy gì làm bảo đảm.

 

     Kết cục chuyện xẩy ra tại VN không phải ngẫu nhiên, nhưng là do đường lối ngoại giao hiện nay của Tòa Thánh đem lại. Vấn đề đặt ra là trong vụ TGM Ngô Quang Kiệt, Tòa Thánh hành động vì lợi ích của Giáo Hội hay của quốc gia Vatican . Thật sự rất khó trả lời. Nhưng suy luận thế này, nếu bảo rằng Tòa Thánh làm việc vì giáo hội thì e rằng không hợp lý, bởi vì không thể nào Tòa Thánh, vì để thỏa mãn đòi hỏi của một nhà nước ma quỉ, lại đi hy sinh tâm tư, tình cảm, cùng là khát vọng chính đáng của giáo dân như thế. Còn nếu cho rằng Tòa Thánh làm theo đường lối ngoại giao thông thường trong mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau, thì phải giải thích làm sao lời Chúa đã xác định trước mặt toàn quyền Pilate: Nước của Tôi không thuộc về thế gian này. Nói tóm lại thì Tòa Thánh trong nhiều trường hợp đã lẫn lộn việc đạo với việc đời. Có thể nói đó là tính đặc thù của Tòa Thánh Vatican . Không biết phải gọi nó thế nào cho đúng, thôi thì cứ tạm gọi là “Tính Quốc Tế” hy vọng có thể được chấp nhận. Tính Quốc Tế xóa đi mọi lằn ranh quốc gia. Đây chính là điểm không hẹn mà gặp giữa công giáo và cộng sản. Cả hai đều mang tính quốc tế cả trong chủ thuyết lẫn hành động. Do từ bản chất sẵn mang tính quốc tế, nước Nga trở thành đế quốc đỏ. Các nước CS khác như VN đều là chư hầu của Nga Sô. Quốc Tế III Cộng Sản là tổ quốc của tất cả mọi người CS trên toàn thế giới. Đảng CSVN chỉ là một chi bộ đảng của QT3. Không còn quốc gia VN hay dân tộc VN nữa, mà chỉ còn đảng cộng sản tại VN thay mặt QT3 cai trị người VN. Điều này không còn cần phải chứng minh vì chính Hồ Chí Minh đã tự xác nhận rồi. Bút tích còn nằm ngay trong các văn kiện đảng mà chúng tôi và nhất là nhà báo Việt Thường đã nhiều lần trưng dẫn. Do đó, những ai nói rằng Hồ Chí Minh yêu nước, đảng CSVN đem lại độc lập cho dân tộc v.v. đều là nói láo, hoặc họ không hiểu biết gì về CS.

 

     Giáo Hội Công Giáo vì mang quốc tế tính nên trở thành chị em song sanh với CS. Có lẽ bạn đọc cho rằng chúng tôi quá khiên cưỡng, vì tôn giáo nào mà không có tính quốc tế. Đều đó đúng, nhưng chỉ đúng một phần, vì như chúng ta thấy, đạo Phật, đạo Hồi đều hiện diện ở rất nhiều nước trên thế giới. Hiện nay cả đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo cũng đã có cơ sở tại Mỹ, tại Pháp, Úc v.v.. Nhưng còn một phần khác không hẳn đúng, vì phải xét xem giáo hội Trung Ương với các giáo hội địa phương liên hệ với nhau trên cơ sở nào mới đủ yếu tố để khẳng định. Các tôn giáo khác, các giáo hội lớn, nhỏ đều bình quyền và bình đẳng về mọi phương diện. Nhưng với công giáo, Tòa Thánh là một trung tâm quyền lực. Các giáo hội địa phương chỉ đóng vai vệ tinh. Đó mới là yếu tố xác định. Tình hình công giáo VN chứng minh GHVN là một đơn vị luôn lệ thuộc vào Tòa Thánh. Tòa Thành đề ra đường lối đối thoại với VGCS cho các Giám Mục VN để giải quyết các vấn đề của giáo hội. Điều này HY Phạm Minh Mẫn, các GM Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Đọc v.v. đã công khai xác nhận rõ ràng. Nói theo thuật ngữ chính trị, Tòa Thánh là một mẫu quốc, và GHVN là một tiểu quốc phiên thuộc.

 

     Với các giáo hội khác, Tòa Thánh cũng thi hành cũng thi hành cùng đường lối, chỉ có là sự cởi mở hay gò bó có hơn kém khác nhau. Xin nêu một sự kiện xẩy ra đồng thời và gần như tương tự trường hợp VN để minh chứng. Đó là việc TGM Dominique Francois Joseph Mamberti, thứ trưởng ngoại giao Tòa Thánh viếng thăm nhà nước CS Cuba cuối tháng 6 vừa qua.

 

     Trong bài báo nhan đề “Cuba & Vatican Diplomacy: Mediation or Rescue do WND (WorldNetDaily) gởi đi ngày 29-6-2010, ông Armando F. Valladares đã tường thuật và nhận định về chuyến viếng thăm Cuba của TGM Mamberti một cách cay đắng. Ngài kể ra nhiều thành quả mà nhà nước và Giáo Hội Cuba đạt được trong liên hệ sống chung và cộng tác, nhưng lại không nói rõ những thành quả đó là những thành quả gì. Tuy nhiên theo ông Valladares, thành quả mà giới chức cao cấp Tòa Thánh muốn nhắc nhở là sự hòa giải (mediation) với chế độ CS Cuba của vị TGM Habana, Hồng Y Jaime Lucas Ortega y Alamino, một người nổi tiếng về thành tích cộng tác với chế độ. Cụ thể là HY Alamino đã can thiệp cho khoảng trên dưới mười tù nhân được chuyển về giam ở nhà tù gần gia đình hơn, và tha có cam kết (parole) cho Ariel Sigler, một lực sĩ nổi tiếng mà nay đã phải ngồi xe lăn vì đói khát và bị hành hạ. Vỏn ven chỉ có thế.

 

     Thành quả trên đây cũng phải mất nhiều thập niên mới đạt được do các vị Sứ Thần Tòa Thánh (Nuncio) phải uốn lưỡi tâng bốc lãnh tụ không ít. Chẳng hạn TGM Cezare Zacchi ca tụng nhà độc tài Fidel Castro có nhiều nhân đức của người Thiên Chúa Giáo (Christian virtues), TGM Agnostino Casaroli khen người công giáo Cuba sống hạnh phục. Tất cả đều như thế cả cho đến đời HY Tarcisio Bertone là người mạnh mẽ chủ trương đối thoại với chế độ Cuba . Bài báo của ông Valladares đưa ra một cái nhìn đáng thất vọng về chuyến viếng thăm Cuba của TGM Mamberti như sau: Tóm lại, nhà ngoại giao Tòa Thánh chỉ tươi cười niềm nở với chế độ CS, nhưng lại cau có nhăn mặt nhăn mày với những người đối lập, sau cùng là với dân chúng Cuba nô lệ. (In short, the Vatican diplomat was all smiles toward the communist regime while frowning on the opposition and, ultimately, on the enslaved Cuban people.) Bài báo cho rằng, thực tế, hiện nay người ta được chứng kiến Tòa Thánh và các giám mục Cuba đang giải cứu (rescue) chế độ Cuba trên cả hai bình diện quốc tế và quốc nội chứ không phải chỉ là hòa giải (mediation). Trên bình diện quốc tế, Liên Hiệp Âu Châu bị kích thích và tin tưởng do sự giải cứu của Tòa Thánh nên đã trì thoãn đưa ra đường lối mạnh bạo hơn đối với chế độ độc tài Cuba cho đến tháng 9-2010. Trên bình diện quốc nội, sự giải cứu làm thối chí những người công giáo trên bán đảo còn trung thành với GH, và những người Cuba đang phải anh dũng đối đầu với những vị chủ chăn của họ cộng tác với bè lũ CS lang sói. Bài báo còn cảnh cáo, với sự bảo lãnh ngoại giao (diplomatic bailout) này,  Tòa Thánh và các giám mục Cuba không những chỉ làm lợi và hồi sinh chế độ Fidel Castro, mà theo nguyên tắc bình thông đáy ( communicating vessels) còn củng cố thêm các chế độ tại Venezuela, Ecuador, Bolivia, và Nicaragua là những đồng minh của Cuba. Vì thế, trách nhiệm của các giới chức của Tòa Thánh trước mặt Thiên Chúa và trước lịch sử thật sự không phải là nhỏ.

 

     Nên nhớ rằng tác giả bài báo, ông Armando F. Valladares, là một cựu tù nhân chính trị Cuba, từng giữ chức Đại Sứ Mỹ tại Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ở Genève dưới thời các TT Reagan và Bush (cha). Do đó ông là người có đủ hiểu biết, kinh nghiệm và thẩm quyền để viết về các vấn đề hiện nay của Cuba .

 

     Trở lại với vấn đề GHVN. Như trên đã nói, “đối thoại” là con đường mà Tòa Thánh đặt ra cho Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) VN đi theo để giải quyết các vấn đề của Giáo Hội. Không thể phủ nhận sự thật là đường lối này chưa thấy đem lại được ích lợi cụ thể nào, nhưng đã gây ra nhiều hậu quả rất đáng tiếc. Những hậu quả tai hại nhất phải kể đến là: Tòa Thánh mất uy tín đối với giáo dân, ngược lại, giáo dân hết còn tin tưởng vào Giáo Hội, đặc biệt là nhiều biểu hiện tiêu cực phát sinh trong lối sống của các giám mục. Xin nhấn mạnh là tiêu cực trong hàng ngũ giám mục.

 

1.  Các hậu quả một và hai có liên hệ nhân quả, nghĩa là có cái này không thể không có cái kia. Khi Tòa Thánh và các giám mục không còn giữ uy tín với giáo dân thì giáo dân hết tin tưởng vào giáo hội là lẽ đương nhiên. Uy tín của Tòa Thánh và của HĐGM thực sự bị giảm sút khi đức hồng y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Bertone, người triệt để chủ trương đối thoại, gởi văn thư yêu cầu đức TGM Ngô Quang Kiệt phải chấm dứt phong trào giáo dân tụ tập đốt nến cầu nguyện đòi công bình và công Lý. Giáo dân tự hỏi, một việc làm ôn hòa và chính đáng như thế tại sao phải dẹp bỏ? Từ các cấp thẩm quyền của GH, không có lấy một lời giải thích cho giáo dân. Lệnh Tòa Thánh, chỉ có việc là phải vâng lời. Giáo dân giải tán nhưng trong lòng bất phục. Cho đến vụ GM Nguyễn Văn Nhơn ra Hànội thay thế Đ/C Ngô Quang Kiệt một cách đột ngột khó hiểu. Liền ngay sau đó Đ/C Kiệt bị tống xuất ra khỏi nước ban đêm ban hôm một cách mờ ám thì sự nghi ngờ và phẫn uất của giáo dân đã lên đến tột đỉnh. Cả Tòa Thánh và HĐGM không còn uy tín gì đối với giáo dân, và giáo dân cũng hầu như mất hết mọi sự tin tưởng vào lãnh đạo của Giáo Hội. Tình trạng này làm phát sinh ra các hệ lụy giây chuyền không tránh được là sự phân hóa trong trong tất cả các thành phần trong GH, đi đến nghi kỵ và công kích nhau. Sự phân hóa trầm trọng đến độ xẩy ra ngay trong hàng ngũ giám mục với giám mục, và giám mục với linh mục. Rất nhiều người không hiểu đoạn Phúc Âm Chúa nói Ngài đến không phải đem hòa bình cho trái đất, nhưng đem sự chia rẽ, cha con trong nhà chống nhau v.v., nay nhìn vào nội tình GHVN chắc họ đã hiểu được Chúa muốn nói gì.

 

2.  Sự lãnh đạo độc đoán của Tòa Thánh đối với các giáo hội địa phương trên các vấn đề trần tục ngoài thẩm quyền và việc phong chức giám mục theo đường lối “Tòa Thánh lựa, CS chọn” đã làm nẩy sinh ra rất nhiều hiện tượng tiêu cực mà trước đây không hề có. CS chọn giám mục, tất nhiên chúng phải chọn người chúng có thể khống chế được. Kết quả như ta thấy, GHVN hiện nay có quá nhiều giám mục quốc doanh. Giáo hội Balan hậu CS chỉ khám phá ra một GM Stanislaw Wielgus làm mật báo viên cho CS. Nhưng có nhiều giám mục VN chẳng cần kín đáo, họ công khai làm việc cho VGCS. GM Châu Ngọc Tri, tôi không dám nói ngài câm, nhưng nói theo GM Bùi Văn Đọc thì “Lậy Chúa chúng con không biết ăn nói.” Chúng con chỉ biết ăn tiền, chỉ biết xin xỏ xin xỏ, chỉ biết biện bạch để chối quanh những sự thật không thể chối cãi, chỉ biết kết tội những giáo dân dám nói lên sự thật, và chúng con chỉ biết im lặng trước các vấn đề cần phải lên tiếng. Con chiên của ngài bị công an đánh chết, giám mục ít ra phải lên tiếng yêu cầu nhà nước điều tra để làm sáng tỏ sự việc. Ngài vẫn thản nhiên thủ khẩu như bình. Trong thánh lễ truyền chức linh mục, HY Phạm Minh Mẫn vui vẻ nhắm mắt cho ban kèn đồng tấu khúc “Cùng nhau đi Hồng Binh” để thúc dục các tân linh mục lên đường đồng hành cùng CS. Đúng đường lối. Đúng chính sách. Quan chức CS tham dự chắc hỉ hả lắm. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là chuyện rưóc kiệu tại giáo xứ Dị Nậu, Hưng Hóa. Cuộc rước tượng Đức Mẹ chiếu  trên trang mạng Nữ Vương Công Lý phải được đánh gía là quá lố lăng và quái dị. Chẳng có cuộc rước Đức Mẹ nào lại đặt tượng Đức Mẹ trơ trọi trên một chiếc xe truck không mui, một thanh niên phất cờ máu đàng trước tượng, dăm sáu thanh niên khác lố nhố cười dỡn trên xe, một thanh niên khác hình như mặc quần xà lỏn ôm đứa bé chừng vài tuổi ngồi ngay bên cạnh tượng Đức Mẹ như ôm đứa con đi du ngoạn. Chiếc truck trong đoàn xe 4-5 chiếc cũng cảnh tượng đó chạy lòng vòng chung quanh nhà thờ. Đó không phải là một cuộc rước tôn giáo nếu không có tượng Đức Mẹ và cây Thánh Giá. Bàn thờ Hồ Chí Minh cũng giống như bàn thờ Đức Mẹ (không phải tượng trên xe truck) có kết đèn giăng hoa. Thế này mà đức cha Vũ Huy Chương cho là bái vọng thì vui thật. Có phải Hồ Chí Minh đã được Đ/C Chương phong thánh nên tượng hắn mới được chễm chệ trên bàn thờ ngang hàng bàn thờ Đức Mẹ. Trần Khuê mới gọi Hồ Chí Minh là thánh Hồ, nhưng Khuê chưa rước thánh Hồ. Dù đồng bào Phật giáo có bái vọng, người ta cũng chỉ đặt bàn trải khăn, bình hoa, cây nến, cùng với lư hương, chứ không bao giờ họ nghinh tượng Phật ra bái vọng cả, nói chi tượng thằng chó đẻ Hồ Chí Minh. Đ/C Vũ Huy Chương chống chế cũng không gột rửa được tính cách lễ hội vui chơi như thường thấy của nhà nước CS. Trước đây khi chùa Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương đem Hồ đặt lên bàn thờ Phật trong chùa thì có người e sợ sẽ có ngày Hồ cũng sẽ được đem vào nhà thờ. Tính lo xa của con người thật dễ nể. Quả thật việc phải đến nó đã đến.

 

     Còn nhiều lắm không nói hết được. Những hiện tượng tiêu cực và phản đạo nói trên khi bị dư luận và báo chí phê phán, các chức sắc liên hệ trong GH đã không dám nhìn nhận sự thật, trái lại còn bao biện, chối quanh, đổ lỗi, đe dọa, và còn tỏ thái độ hằn học vói giáo dân. Tại sao???  Muốn tìm câu trả lời chăng. Dễ lắm. CS đã nói rồi: nắm giám mục là nắm được tất cả. CS chẳng dại gì nắm lưỡi dao, mà chúng nắm cán dao mới không bị đứt tay. Cái cán dao là gì thì mụ chằng lửa cán bộ Ngô Thị Thanh Thủy (Tư Liên), vợ chính thức có 2 con của linh mục Phan Khắc Từ, chánh xứ Vườn Xoài, Saigon đã mí ra cho thấy rồi không thấy sao. Mụ nói: Chuyện gia đình tôi là chuyện riêng tư, đến Tòa Thánh còn không dám treo chén nữa là … Anh Từ là linh mục, nhưng còn là một đảng viên … Còn những ông giám mục, linh mục, đang sờ sờ trước mắt kia, đang thậm thụt vợ nọ con kia, gái bao đủ thứ chuyện. Tôi không sợ gì mà không nói, nhưng bây giờ chưa phải lúc … À thì ra vậy. Mụ còn răn đe một câu xanh dờn: Vụ ông Ngô Quang Kiệt, những ai chống lại đảng đều phải chịu chung một số phận như thế cả.

 

     Một con đàn bà lăng loàn, vợ một ông linh mục đảng viên đang coi họ đạo Vườn Xoài ở Saigòn, nó lăng nhục và thách thức cả Giáo Hội CG như thế đấy. Xưa nay, các kiếm khách, hiệp sĩ, sĩ phu v.v. nói chung là kẻ sĩ thường chọn cái chết để chứng minh sự trong trắng của mình khi bị lăng nhục, vu oan: Sĩ Khả Tử Bất Khả Nhục. Con đàn bà kia nếu nó vu khống, lăng nhục cá nhân một vị hồng y, giám mục nào đó, quí vị trong sạch nhưng im lặng để giữ đức nhịn nhục vì Chúa là điều đáng khâm phục. Giáo dân kính phục quí vị. Nhưng nó quá quắt lăng nhục và thách đố cả Tòa Thánh, GHVN và HĐGM (Tòa Thánh còn không dám treo chén chồng nó nữa kia mà) thì lại là chuyện khác, chuyện uy tín và danh dự của cả tập thể GH. Quí vị nào bị VGCS nắm cán. Còn những quí vị không có cán cho VGCS nắm thì sao? Các vị hồng y, giám mục là giáo sĩ, đều mang chữ SĨ trên người cả. Giáo dân không dám kêu gọi các ngài “tử” để rửa nhục, mà chờ xem HY Phạm Minh Mẫn xử trí chuyện này ra sao, có biện pháp gì đối với linh mục thuộc quyền là đảng viên CS Phan Khắc Từ, chồng có hôn thú của con Vẹm cái Tư Liên, xem HĐGM có phản ứng gì không. Nếu tất cả quí vị lại vẫn im lặng, vậy thì còn gì để mà nói nữa đây!

 

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

About the author
Leave Comment