Võ Đại Tôn : Chắc Má Tao Mừng Lắm

Võ Đại Tôn (Indonesia-Singapore)

 

Thuyền Nhân, mỗi người mang một tâm trạng riêng nhưng cùng chung một tâm nguyện, âm thầm thắp nhang cắm trên các mộ bia hoang tàn. Nhiều mộ bia đã bị đập phá, gạch đá nằm lăn lóc, cỏ cháy vàng khô. Nhiều tấm bia đã phai mờ chữ khắc, nhiều tấm bia không có năm sinh, chỉ ghi ngày chết. Tất cả, tất cả đều im lặng, hoang vu, ngậm ngùi. Trên bục đá cao còn sót lại một cột cổng bằng xi-măng vào nghĩa trang, màu sơn trắng đã thành rong rêu loang lổ, ai đã sơn thêm ba sọc màu đen từ trên xuống dưới, thành lá cờ tang của Tổ Quốc, bơ vơ nơi xứ người. Trông thật ảm đạm, đìu hiu, tôi nghĩ đến những dòng nước mắt màu đen của Dân Tộc hôm qua và hôm nay. Tôi cúi đầu khấn nguyện, cắm nhang trên những nấm mộ vô danh, và tôi đang khóc trong lòng. Vì tuổi già leo dốc cao, và vì quá xúc động trước cảnh tượng điêu tàn hoang sơ này, tôi chợt cảm thấy mình ngộp thở, vội trao lại bó nhang đang bùng khói cho người bạn đồng hành trong đoàn, từ Mỹ qua. “Anh cắm nhang tiếp giùm tôi đi, tôi chóng mặt quá!”. Tôi đến ngồi bên cạnh một mộ bia đã bị đập vụn, nghĩ về thảm trạng của cả một trời quê hương, bên kia bờ biển Đông, và nghĩ đến những người đã chết bên này đại dương.

  và cái ‘Miếu ba Cô” hoang vu trên đảo Galang chiều nay, là nghịch cảnh có thực trong cõi đời này. Nghịch cảnh giữa những người con gái Việt Nam, đang sống và đã chết bên bờ biển Đông, trong hàng triệu nghịch cảnh giữa lòng Dân Tộc. Những người nào còn chút lương tâm, luôn cả nhân loại nếu còn lương tri, sẽ tự tìm ra câu trả lời vì sao ? Trong thời đại này, theo thời gian và theo vị kỷ của con người, có lẽ hai chữ “lương tâm” đang nằm im trên trang giấy trong tự điển. 

dù bia mộ hoang vu

sá gì tên với tuổi !

hòa chung cát bụi

thu !

 

 

 

   

 

Võ  Đại Tôn

Chiều Geyland, Singapore.

16.10/2009.

 




Nguyễn Thị Thanh Dương : KHI TÓC KHÔNG CÒN XANH.

KHI TÓC KHÔNG CÒN XANH.

              Nguyễn Thị Thanh Dương.

           Ngày mái tóc không còn xanh được nữa,
           Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa, 
              Thì em sẽ vì anh mà mở cửa, 
              Trông lên trời đếm hàng vạn sao sa.

                      ( Thơ: Nguyên Sa).

Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời tại thành phố Wichita , tiểu bang Kansas.Gia đình bác mới từ tiển bang Washington D.C. dọn về đây được mấy tháng nay.

Lòng tôi buồn vời vợi đang nghĩ  nên nói cách nào cho đám anh chị em họ của tôi về chuyện hạnh phúc của gia đình mình đang đến hồi sụp đổ?

Chồng tôi về tới nhà, thấy tôi bên chiếc va ly anh chỉ hỏi một cách bình thường:

–         Em sắp đi đâu?

–         Bác Lân em vừa qua đời, em phải về tham dự tang lễ.

Anh lạnh lùng, ngắn gọn:

–         Cho anh gởi lời chia buồn đến họ.

Chúng tôi đang làm đơn ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian hơn 10 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì các con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác.

Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và tủi nhục. Anh đã về Việt Nam du lịch nhiều lần và gian díu với một cô gái trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn với tôi, để cưới cô gái đó làm vợ.

                                             ************

Sau những ngày tang lễ bác, và những lần tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình của tôi hiện nay. Các anh chị đều nói hạnh phúc của tôi không thể cứu vãn được nữa, chia tay là giải thoát cho cả hai.

Wichita thành phố không qúa lớn cũng không qúa nhỏ, và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này, mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh, có người đàn ông tôi từng yêu thương, qúy trọng, nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.

Đến tiểu bang Kansas, thành phố Wichita lại không xa mấy thành phố Liberal, chỉ 4 tiếng lái xe, làm tôi bỗng dưng tha thiết nhớ đến thành phố Liberal, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây, và trong ký ức tôi mơ hồ nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi.

Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong, Mã Lai. Sau 9 tháng gia đình chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi.

Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hứơng Nam của thành phố Liberal nhỏ bé. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc khi mùa Xuân đến là trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo và cây đào lần lượt thi nhau nở hoa.

Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện, và thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John vào những lúc cây có trái chín trên cành. Ôi, tôi mê cây táo chẳng biết loại táo gì mà cành cây khi chĩu trái thì xà xuống thấp đến nỗi tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái. Lại còn vườn dưa hấu trước sân, tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên, to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.

John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài, anh khoe biết cách vắt sữa bò.

 Anh đã chạy rong trên cánh đồng có khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gío mùa hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù.

Đất Texas khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh chỉ toàn là những bãi cây lúp xúp thấp lè tè chưa vượt qua đầu thàng bé lên 10 như anh thuở đó, và những bụi xương rồng rải rác. Nhưng anh vẫn yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình.

Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế.

Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York , tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui..

Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn. Tôi qúa chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi, và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu.

Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa hè đầy nắng. Tôi quen thuộc thò tay mở chốt cánh cổng bằng rào gỗ ngoài sân, và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín. May qúa John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.

Trời nắng nên tôi và John  không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, như chúng tôi thường đến đó ngồi hái trái ăn và tán chuyện gẫu.

Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp mang nhiều trái, John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Hôm nay tôi chẳng cần hái những trái táo mà lên tiếng khoe ngay:

–         Anh John, gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.

Mặt Johm hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:

–         Sao? Em sẽ đi…có thật không?

–         Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ gĩa cha mẹ anh. Bây giờ tôi cũng sang để chào tạm biệt anh.

Giọng John vẫn bàng hoàng:

–         Có bao giờ em trở lại đây không?

Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều:

–         Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ.

John bỗng vụt đứng dậy:

–         Hãy dợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay.

John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:

–         Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!

Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:

–         Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.

–         Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!

–         Vâng, không bao giờ !

                               ***********

 

Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới, và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ!

 Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược. Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học, làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra..

Tôi đã từng nghe chuyện nhà nông khốn khổ, trồng 1 acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo gía sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, gía cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam to, và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống gía rẻ bèo như thế.

Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú qúy, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng.

Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai. Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng trong hạnh phúc trong vài năm đầu.

                                        ************ .

Tôi quyết định thuê xe để lái từ thành phố Wichita đến thăm thành phố Liberal, nói cho đúng hơn để thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa xem họ thế nào?

Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ.

Thanh phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách hơn 20 năm rồi. Tôi hỏi thăm người ta nói nhà ông bà truyền giáo Smith vẫn ở chỗ cũ.

Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng thay đổi, làm lại cái khác, và cái chỗ mở chốt cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế, và như thể vẫn chờ đợi tôi chạm tay vào.

Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp, và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo… Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi.

Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Rồi tôi gõ cửa và chờ đợi.

Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith, bà đã gìa đi -dĩ nhiên-  Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu thì bà đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:

–         Thì ra là cô, tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.

Tôi xúc động và nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:

–         Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John

–         Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày.  Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.

Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:

–         Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…

Tôi vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình, tôi cao giọng hỏi thăm:

–         Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?

–         Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John. Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.

–         Thế anh ấy không muốn sống ở nông trại như anh ước mơ sao?

Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:

–         Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê, mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.

Tôi ngạc nhiên và vui mừng reo lên:

–         Không ngờ John học gỉoi và có chí đến thế!

–         Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine.

–         Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?

–         Chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề, vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John.

Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:

–         Phải đấy, cô nên về ngay đi, và xin cô hãy hứa với tôi một điều.

   Tôi nói với tất cả chân tình:

       –      Tôi xin hưá bất cứ điều gì tôi có thể.

–         Cô hãy đi và đừng bào giờ trở về đây nữa, bao nhiêu năm qua, vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nhưng nếu cô xuất hiện sẽ gợi lại nỗi đau cũ.  Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng

Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:

–         Tôi xin hứa đây là lần cuối cùng đến đây. Thôi, xin chào bà

Tôi đi ra cửa, buớc trên con đường thân quen của thuở  tôi 17 tuổi lòng đầy tham vọng, và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ và ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản.

 Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông, chỉ là một trò cười đối với tôi.

Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng. Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi, và cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng tôi biết là vững chắc, đẹp đẽ biết bao nhiêu, điều mà tôi không hề có.

Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một qúa khứ, một bầu trời xanh, và mất nó vĩnh viễn.

                               Nguyễn Thị Thanh Dương




Trần Khải : Những Ngày Tháng Năm

Những Ngày Tháng Năm

Trần Khải

Tháng năm ở quê nhà có quá nhiều chuyện. Không chỉ chuyện Biển Đông, mà cả chuyện ngay giữa Hà Nội. Không chỉ chuyện của người, mà cả chuyện của hoa. Mới biết, vào cõi này là khổ trăm bề…
Trước tiên, tháng 5 năm nay là bắt đầu vượt qua dấu mốc 35 năm Miền Nam thất thủ. Nghĩa là trải qua hơn ba thế hệ tuổi trẻ, ba thế hệ của những người không liên hệ gì tới cuộc chiến dai dẳng giữa hai miền Nam-Bắc VN, vừa là nội chiến và vừa là tranh chấp ý thức hệ.
Vậy là xong, chỉ thêm 10 năm nữa hoặc hơn, sẽ có thêm nhiều triệu người Việt của một thời Nam-Bắc phân ly trở về với cát bụi, và các thế hệ trẻ sẽ phải lo với các ưu tư mới — của khai thác mỏ bauxite để mai phục Tây Nguyên, của Biển Đông dậy sóng, của hàng trăm ngàn mẫu rừng cho các công ty phương Bắc thuê khó đòi lại được, của môi trường ô nhiễm cạn sông chết cá, của phố thị khói xe mịt mù, của những lá thư chính phủ Hà Nội có câu đầu là chữ Oa-sinh-tơn và câu kế tiếp là chữ huy-vọng thay cho hy-vọng… Trời ạ, quê nhà biến dạng tới nổi không nhìn thấy có gì là quen thuộc nữa.
Cũng tháng này, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi ngày 6 tháng 5-2010. Một vì sao đã băng trên bầu trời thi ca quê nhà. Ông vẫn luôn luôn là một ngọn núi sừng sững, bất kể bao nhiêu áp lực đày đọa — thậm chí phi lý tới mức, như khi Bộ Công An đã quyết định trả tự do theo nhắc nhở của Lê Đức Thọ và áp lực quốc tế, thì chỉ vì một câu nói của Tố Hữu cũng đủ giam nhà thơ Hoàng Cầm thêm một năm tù. Đó là lời của nhà thơ Hoàng Hưng viết trong bài “Trước linh cữu nhà thơ Hoàng Cầm,” đăng trên các mạng Talawas và Boxitvn. Hoàng Cầm đã trở về cõi vô cùng, nhưng chắc chắn rằng những dòng thơ của ông vẫn tưới mát ngôn ngữ dân tộc Việt Nam không thôi.
Nếu chúng ta nhớ rằng, trong tháng 4 cuả 35 năm trước là những cuộc di tản kinh hoàng của Quân Lực VNCH, và để nói chính xác, là những cuộc di tản hàng hàng lớp lớp của nhiều triệu người dân bình thường từ các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên từng có kinh nghiệm về sự đàn áp chuyên chính khốc liệt của những người CSVN.
Trong tháng 5 năm nay, là một cuộc di tản trong đêm của một người ở Hà Nội: Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, người nửa đêm được đưa lên phi cơ, bay từ Hà Nội sang Mỹ. Cuộc di tản này là sự sắp xếp của nhà nước CSVN, vì không muốn thấy ông Kiệt hiện diện ở VN nữa, bất kể rằng Hội Đồng Giám Mục VN đã thu xếp để đưa TGM Kiệt về Châu Sơn dưỡng bệnh  sau khi thu xếp để Tòa Thánh Vatican ưng thuận cho ông từ chức.
TGM Ngô Quang Kiệt, 58 tuổi, phảỉ ra đi, để bàn giao Tổng Giáo Phận Hà Nội lại cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn, 72 tuổi. Chuyện đã được tiên đoán từ nhiều tuần trước: TGM Kiệt phải ra đi, vì nhà nước CSVN không thích có những cuộc biểu tình nhiều ngàn người – trên hình thức là xuống đường cầu nguyện đòi công lý, lúc đầu là đòi nhà nước trả đất Tòa Khẩm Sứ, và sau là đòi trả đất Giáo Xứ Thái Hà. Khởi sự cuộc cầu nguyện tập thể là trong tháng 12-2007. Tính tới bây giờ, kể như là gần 2 năm rưỡi, sau khi qua những sóng gió cả về xô xát, về pháp lý, về can thiệp của Vatican khi đưa TGM Kiệt sang Rôma chữa bệnh.
Một tuần lễ trước ngày sinh nhật ông Hồ (ngày 19 tháng 5), TGM Ngô Quang Kiệt trong đêm 12-5-2010 đã được bí mật đưa lên phi cơ bay sang Mỹ. Không để chậm hơn được sao, và không để ban ngày cho có tiệc chia ly cho phải lẽ? Nhà nước CSVN sợ dân chúng ra đưa tiễn đông, lại sợ giaó dân mang biểu ngữ ra tràn ngập phi trường Nội Bài, thế nên phải lặng lẽ đẩy TGM Kiệt di tản đêm…
Nhưng tại sao bay sang Mỹ? Có ông Đạị Sứ Mỹ Michael Michalak tiễn chân TGM Kiệt ở Nội Bài hay không? Có phải visa nhập cảnh Mỹ làm theo thủ tục khẩn cấp, theo yêu cầu của CSVN đẩy đi càng sớm càng tốt?
Nhưng tại sao phải sang Mỹ, sao không sang Rôma như kỳ chưã bệnh lần trước? Có phải vì Đức Ông Cao Minh Dung ở Tòa Thánh Vatican muốn như thế?
Tình hình di tản khẩn cấp tới mức, theo bài viết nhan đề “TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt bất ngờ đi nước ngoài” đăng ngày Thứ Năm 13-5-2010 trên trang Nữ Vuơng Công Lý, trích:
“Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt đã bất ngờ bay đi nước ngoài vào đêm 12/5/5010 làm xôn xao dư luận Hà Nội.
Ngày 9/5/2010, TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt vào Toà Giám mục Vinh chúc mừng Kim khánh Giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên. Ngài đã ở laị Toà GM Vinh một đêm với Đức cha Cao Đình Thuy&ec
irc;n và sáng 10/5/2010, Ngài đã dâng Thánh lễ cho Dòng Mến Thánh giá Xã Đoài.
Sau khi dâng Thánh lễ, Ngài đã về đan viện Xito Châu Sơn – Ninh Bình, nơi đã chuẩn bị cho Ngài chỗ nghỉ ngơi sau ngày 13/5/2010 hôm nay – Ngày Ngài phải rời chức TGM HN để giao lại quyền TGM cho TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn cách chính thức. Theo dự định, Ngài sẽ trở lại Đan viện Xito Châu Sơn vào ngày 18/5/2010.
Ngày 11/5/2010, bất ngờ Đức TGM Phó Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn đến Châu Sơn tha thiết mời Ngài về HN để “có việc gấp”.
 Chiều 12/5/2010, từ 9h, Ngài về Toà TGMHN bình thường, đột ngột đêm 12/5/2010, Ngài lên đường đi nước ngoài (theo Văn phòng Toà TGM thông báo) trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người.
Điều đáng nói, là cách đó hai ngày, CTV Nữ Vuơng Công Lý cho chúng tôi biết, một cán bộ của Mặt trận Tổ quốc VN đã tiết lộ: Trước sự phản kháng mạnh mẽ của giáo dân Hà Nội và khắp nơi, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng nếu Đức TGM Giuse dù về hưu hay ở đâu thì cũng không thể giải quyết triệt để “Vấn đề Ngô Quang Kiệt". Đặc biệt khi Thư Thỉnh nguyện của Giáo dân với hơn 15.000 chữ ký đã đến Vatican…”
Tháng Năm quả nhiên là đầy sóng gió. Dù là ở Biển Đông, hay ngay giữa Hà Nội.
Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 5 năm nay, Hà Nội quyết định chỉ chơi hoa giả. Nghĩa là, nghị quyết của thành ủy là, hoa thật là để thế giới chơi, còn dân Hà Nội là phải chơi hoa giả. Chuyện tưởng như đùa, nhưng mà là thật: Lễ hội Hoa Anh Đào do Trung Tâm Việt Nhật tổ chức taị Hà Nội sau liên tục ba năm 2007, 2008 và 2009, năm nay 2010 quyết định chỉ xài hoa anh đaò giả.
Và Lễ Hội Hoa Anh Đaò được đổi tên thành Lễ Hội Satsuki Nhật Bản, theo các báo quốc nội. Lễ hội này khai mạc hôm 8-5-2010 tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Giảng Võ – Hà Nội. Báo Tiền Phong, bản tin nhan đề “Satsuki thế chỗ lễ hội anh đào” hôm 9-5-2010 viết, “…Diễn ra trong hai ngày 8 và 9-5 tại Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), lễ hội Satsuki chứng tỏ sức hấp dẫn khác biệt so với lễ hội hoa anh đào các năm trước.”
Vì xài hoa giả, nên đổi tên là Lễ Hội Satsuki, tức Lễ Hội Tháng Năm. Tuy giả, nhưng vẫn “hấp dẫn khác biệt…” Thế mới lạ.
Báo Thể Thao và Văn Hóa số ngày Thứ Bảy 8-5-2010, bản tin nhan đề “Vì sao Lễ hội hoa anh đào đổi tên?” đã viết:
“Tiếp nối thành công của Lễ hội hoa anh đào Nhật Bản tại VN trong 3 năm 2007, 2008, 2009, thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các bạn trẻ và nhân dân VN, năm nay BTC quyết định đổi tên thành Lễ hội Satsuki (tiếng Nhật nghĩa là Tháng năm) sẽ diễn ra trong 2 ngày 8 – 9/5 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm VN (148 – Giảng Võ, HN), với mong muốn lễ hội như một bó hoa tươi thắm góp một phần nhỏ trong các sự kiện chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
TT&VH đã có cuộc trò chuyện với chị Đỗ Thị Minh Phương, Ủy viên Ban điều hành Lễ hội.
* Lý do gì dẫn đến sự đổi tên này, thưa chị?
Lý do đổi tên có rất nhiều. Trong 3 năm qua, khi lễ hội hoa anh đào kết thúc đều có những lời phàn nàn về lễ hội như: hoa anh đào chưa được đẹp, dân mình cũng chưa có ý thức giữ hoa… Vì thế, năm nay BTC phía VN quyết định không tổ chức lễ hội hoa anh đào nữa. Còn phía Nhật Bản thì cảm thấy như vậy sẽ thiếu đi một sân chơi giao lưu văn hóa giữa hai 2 nước, và vẫn quyết định tổ chức lễ hội. Năm nay, BTC quyết định sẽ chỉ trưng bày một cây hoa anh đào giả. Vì không có hoa anh đào, nên phía Nhật không tổ chức lễ hội hoa anh đào được. Ở Nhật Bản cũng có lễ hội tháng 5 và BTC quyết định đổi thành lễ hội tháng 5…” (hết trích)
Hoa giả nhưng cũng “hấp dẫn khác biệt….” Thật vậy sao? Tại sao nhà nước CSVN muốn tuổi trẻ tập cho quen với búp bê sex, thay vì giúp tuổi trẻ đi tìm người để thật lòng yêu thương?
Trời ạ, quả nhiên là Tháng Năm đầy chuyện bí hiểm.




Đông A : Hương Ngọc Lan và Định Kiến

Hương Ngọc Lan và Định Kiến

Hương Ngọc Lan và Định Kiến Hồi bé tôi thường được nghe câu ca dao « Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ». Tôi được nghe giải thích rằng nó tượng trưng cho nếp sống người Hà Nội, thanh cao mà dịu dàng như hoa nhài. Tôi thích hoa ngọc lan hơn, dù hoa nhài cũng thơm một cách rất dễ chịu và khó quên. Tuy vậy mỗi khi nghe câu ca trên, tôi luôn cảm thấy bị dị ứng. Trước hết là vì khen lối sống của người Hà Nội, mà lại nói Tràng An, kinh đô cũ của nước Tầu: thật là vô lý. Giử thử nói câu này khen người Trung Quốc ở Tràng An lịch sự, thì dù rằng chẳng biết đúng sai, ít ra còn có thể thông cảm về mặt ngữ nghĩa. Đằng này, viết Tràng An mà lại bảo Hà Nội vì « cùng là kinh đô », thì quả là một sự nhập nhằng, thậm chí một sự nhận vơ đáng xấu hổ. Huống hồ, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, tôi thấy đây chỉ là một định kiến vì người Hà Nội không luôn thanh lịch như lời ca dao dẫn.

Nếu nói đúng, phải nói là người Hà Nội có những nét thanh lịch không thể phủ nhận, nhưng cũng còn có nhiều thứ khác, khá lủng củng và đôi khi không thể giải thích. Để dẫn chứng, mời bạn đi dạo chợ Đồng Xuân từ khu ba mươi sáu phố phường. Tôi tin bạn sẽ phải dựng tóc gáy vì văn hóa chợ búa ở đây. Mua hàng bị cân thiếu và được ăn chửi là chuyện bình thường. Mà đã lăng mạ nhau thì rất lắm khi giữa cả người bán lẫn người mua. Thời kỳ bao cấp, cứ chỗ nào có vui chơi là có ăn trộm tụ tập, nổi tiếng nhất tại Bờ Hồ và vườn hoa Giám. Ngày hôm nay Bờ Hồ đã được « giải phóng », vườn hoa Giám được quy hoạch khang trang thành khu Văn miếu, nhưng vô số tệ nạn khác lại phát sinh ở khắp nơi. Các công viên buổi đêm vẫn là những tụ điểm của xì ke, nghiện hút, những người không lương thiện. Các con đường vẫn là những nơi xả rác vô tư, và các bờ hồ buổi tối bị biến thành những « chợ tình » bất đắc dĩ. Với tôi, Hà Nội đã và luôn là nơi chất chứa của vô số các tầng văn hóa, từ vô công rồi nghề, đến chợ búa, tiểu thương, hàn lâm, học sỹ. Nó chưa bao giờ thể hiện một sự thanh lịch tinh khiết, nhưng cũng không thể vì thế mà có thể đánh đồng nó với một thói xấu hoàn toàn. Tuy tồn tại và có thể cảm nhận được, nhưng nếp sống Hà Nội chỉ là một khái niệm không định hình. Khái niệm ấy vẫn bị tha hồ nhào nặn để người ta có thể chê bai hoặc khen khống nó, tùy theo tâm lý người nói chuyện với mình. Ôi, thành phố của tôi, thủ đô ngàn năm văn hiến.

Những người có đủ dũng cảm để viết ôn hòa về những thói xấu của Hà Nội vẫn là rất hiếm. Thông tin về Hà Nội luôn nằm giữa hai thái cực. Một bên là những bài văn lung linh hoành tráng mà trong đó Hà Nội hiện lên với những nét mờ ảo thiêng liêng, hào hùng, không đợm tì vết. Bên kia là vô số những tin vặt, tin giật gân, tin 3 dòng viết về những tệ nạn thành phố. Trong những mẩu tin này, chẳng ai nêu đích danh Hà Nội, chẳng ai dám gắn nó với nếp sống người Hà Nội, tất cả đều là tự hiểu. Tệ hơn nữa, có thể bắt gặp cả những lời chê bai cũng đầy định kiến của những người không sống tại Hà Nội. Nhưng để hiểu Hà Nội, và yêu nó, cần phải biết vứt bỏ các định kiến.

Dẫu không phải là người Hà Nội gốc, nhưng tôi vẫn thích mùi ngọc lan, hương thơm dịu dàng rất dễ chịu, khó quên mà hồi bé tôi vẫn được nghe giải thích là trượng trưng cho Hà Nội, nếp sống người Hà Nội thanh lịch, cũng giống như hoa nhài. Thật khó cho một đứa trẻ như tôi hình dung được nếp sống thanh tao ấy.

Nhưng lớn lên rồi, tôi vẫn không tài nào định hình được nét thanh lịch trong dòng ngỗn ngang đủ thứ tạp nhàng của Hà Nội hôm nay. Nếp sống người Hà Nội mang đầy chê bai, định kiến, từ chính những người ngược xuôi trong lòng Hà Nội và cả những người không ở Hà Nội.

Cố công tìm hiểu bề dày lịch sử của Hà Nội để hiểu thêm về nếp sống người Hà Nội, để định nghĩa được thế nào người Hà Nội, và rộng hơn là để biết điều gì làm nên văn hóa Nội thành, tôi chợt nhận ra rằng khái niệm nếp sống Hà Nội là một điều bí ẩn vì thiếu cơ sở lịch sử minh chứng, biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền ; và như thế, tạo nên định kiến đối với những người di cư vào Hà Nội đang làm nên Hà Nội. Và một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch…(*)
***
Hà Nội có một bề dày lịch sử mà không phải ai cũng cố công tìm hiểu. Do đó nếu nhận xét nó mà không đặt vào một cái nhìn bao quát lịch sử, thì nhầm lẫn sẽ là chuyện thường tình. Là thủ đô được vinh danh rồng bay thời vua Lý, là nơi thành không nhà trống chống quân Nguyên thời Trần, là nơi phế đô bị quên lãng ngắn ngủi đời nhà Hồ, rồi là nơi hội tụ hiền tài và tinh hoa đời vua Lê, Hà Nội đã ghi lại những biến động lịch sử lớn nhất của nước Việt. Đây là nơi hoàng đế Quang Trung đã đánh tan hơn hai mươi vạn quân Tàu, dạy cho chúng biết nước Nam là có chủ. Đây cũng là nơi Hoàng Diệu tử tiết, đánh dấu cho việc người Pháp thôn tính Việt Nam làm thuộc địa kéo dài suốt 80 năm. Hà Nội đã không ngừng thay đổi, kh&oc
irc;ng ngừng được xây dựng và phát triển. Nếu như nền văn hiến được thật sự đánh dấu bằng việc mở Quốc tử giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nét thanh lịch của người dân được dần dần quy tắc hóa trong suốt nhiều thế kỷ sau đó để trở thành môt tập hợp các cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày. Đó, trước hết, là đạo đức của sự hiếu học và văn hóa tôn trọng người thầy, được rèn rũa trong tiến trình văn minh của Hà Nội. Tôi vẫn nghe kể, và chính mình đã được học những quy tắc lễ nghi gia giáo. Phải lễ phép với người lớn, phải vâng dạ rõ ràng, đi đâu phải chào hỏi, khách đến nhà phải mời ngồi, mời nước …vân vân và vân vân.


Tập hợp các quy tắc này hẳn đã phải chịu thất lạc và thay đổi để thích ứng với các giao đoạn lịch sử. Cũng như địa giới hay dân số, nếp sống ở Hà Nội luôn thay đổi và không phải bao giờ cũng nằm trong khuôn thanh lịch. Do đó nói người Hà Nội thanh lịch có nguy cơ gặp phải hai lần lỗi. Lỗi thứ nhất là vì Hà Nội không hề là duy nhất, trước sau như một. Nó luôn là nó mà lại không phải là nó. Cũng như thế, thành phần dân số nơi đây luôn biến động. Vì thế khái niệm người Hà Nội cũng còn là một khái niệm mập mờ và không được nắm bắt kỹ lưỡng. Không hề có người Hà Nội chuẩn mực. Lỗi thứ hai là vì những người sống tại Hà Nội cũng không hoàn toàn thanh lịch, mà cũng còn có vô số thói hư tật xấu khác. Kết quả của hai yếu tố này là ta hoàn toàn có thể:

a. bị sốc vì người Hà Nội không thanh lịch, đơn giản vì trót có định kiến họ thanh lịch và,

b. khen người Hà Nội thanh lịch mà không biết rằng họ chưa chắc đã là « người Hà Nội » theo cách hiểu đơn phương và chủ quan của chính mình.

Câu hỏi được đặt ra là cần xác định Hà Nội như thế nào, để sau đó xác định thế nào là người Hà Nội ? Để có thể trả lời, chúng ta cần biết hai yếu tố. Thứ nhất là không gian địa lý của Hà Nội. Trong suốt thời gian tồn tại của mình, đô thị Hà Nội không ngừng được xây dựng, được thay đổi. Quá trình đô thị hóa lan dần từ hoàng thành, trung tâm Hà Nội ra các không gian sản xuất và trao đổi xung quanh, biến chúng thành các khu dân cư. Từ đó hình thành bộ mặt của thành phố. Cho đến tận cuối thế kỷ XIX, Hà Nội vẫn rất ít được xây dựng và bao gồm vô số các làng cổ. Xác định được không gian sống của người Hà Nội là điều không hề đơn giản. Thứ hai là phải dùng đối tượng dân cư nào để xác định người Hà Nội ? Liệu chỉ có thể tính những người dân đã sống tại đây từ nhiều đời, hay có thể tính cả những cư dân từ nơi khác dời đến đây sống ?

Trước hết hãy nói về yếu tố địa lý. Một thói quen thường thấy khi nói về Hà Nội cổ xưa, là dẫn chiếu đến khu 36 phố phường, khu hoàng thành, và Hồ Gươm, nghĩa là không tính các khu sản xuất. Chúng ta biết rằng sau khi được khai sinh, Thăng Long vươn ra từ các khu phụ cận với hoàng thành. Giảng võ đường, là nơi huấn luyện võ nghệ cho binh sỹ, Quốc tử giám, là trường đại học đầu tiên của Việt nam. Bản đồ 1 (trang 69, Papin). Ngày hôm nay, Hà Nội cổ ở mức ấy chỉ còn là vết tích các công trình xây dựng cũ: một mảnh tường thành cửa Bắc, cổng Ô Quan Chưởng, và rùa đá ở Văn Miếu. Khu hoàng thành cũ bị sử dụng làm là doanh trại quân đội. Hồ Gươm và 36 phố phường vẫn còn đó, nhưng bị biến thành những khu buôn bán và du lịch. Nhà cửa chật hẹp, cổ lỗ, các điều kiện vệ sinh và điện nước không đảm bảo một không gian sống. Nếu dừng lại ở giới hạn công trình xây dựng, thì Hà Nội quả là quá nhỏ hẹp. Nó chỉ là sự tập hợp của một nhúm người sống trong những địa điểm có chiều dày kiến trúc lịch sử. Khó lòng có thể tưởng tượng được nếp sống của họ thanh lịch như hoa nhài, và nhất là liệu có thể chấp nhận họ là đại diện cho những người Hà Nội gốc ?

Một khuynh hướng thứ hai là dẫn chiếu đến Hà Nội bao gồm tất cả các khu kiến trúc nói trên, và thêm vào đó Hồ Tây và các làng cổ phụ cận phục vụ sản xuất hàng hóa sinh hoạt thiết yếu. Đây hẳn phải là một cách dẫn chiếu hợp lý nhất vì nó làm cho đô thị (agglomeration) hiện hữu một cách tự thân đầy đủ. Đây cũng là cách dẫn chiếu được các nhà quy hoạch hiện đại sử dụng nhiều nhất, theo đó một đô thị có thể bao gồm thành phố trung tâm và các không gian kinh tế và không gian sống phụ thuộc vào nó. Các không gian này cung cấp hàng hóa, dịch vụ và sức lao động cho khu vực trung tâm.

Nếu sử dụng cách dẫn chiếu này thì Hà Nội sẽ bao gồm tất cả các làng cổ và làng nghề thủ công. Bản đồ của người Pháp vẽ Hà Nội vào thế kỷ XVIII, cuối thế kỷ XIX cho thấy các làng này còn chiếm một phần rất lớn địa giới của Hà Nội. Ngoài khu 36 phố phường, Hà Nội sẽ bao gồm lên các làng hoa ở Ngọc Hà, Quảng Bá, làng đào ở Nhật Tân, các làng mai ngày nay không còn tồn tại nhưng dễ dàng được nhận ra nhờ tên gọi cũ : Bạch Mai, Hoàng Mai, Mai Động…, các làng trồng rau ở Láng, làm giấy ở Yên Thái, Cầu giấy, làm lụa ở Nghi Tàm, đúc đồng Ngũ Xã. Nếu đi xa hơn nữa, ra hẳn ngoài ranh giới chính thức của nội đô, ta có thể tìm thấy ở Bát Tràng, Thanh Trì, Định Công, Vạn Phúc, Ngọc Hồi, dấu tích các làng cổ khác. Sự hình thành các làng cổ này tương ứng với thời điểm mà Hà Nội trở thành một điểm giao thương lớn của cả nước, nguồn gốc của cái tên Kẻ Chợ.

Khó khăn lớn nhất ở đây là phải biết liệu các làng này có tồn tại như những quần thể tương đối độc lập ? hay bị hòa nhập với toàn bộ Hà Nội như là một bộ phận của đô thị ? Nghĩa là nếu tính các làng cổ này, thì phải chỉ ra được chúng là những làng nào? được coi là Hà Nội từ những thời điểm nào ? Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày hôm nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. Đấy là chưa kể các làng nghề khác ở xa hơn chỉ trở thành một phần Hà Nội rất lâu sau này. Bao nhiêu người liệu có thể nói được các làng cổ cổ đến mức nào ? Tự bao giờ chúng là một phần chính thức của Hà Nội? Đến khi nào chúng không còn giữ những chức năng ban đầu của mình – Nghi Tàm thôi dệt lụa, Giảng võ ngừng thao luyện và Ngọc Hà hết đất trồng hoa ? Vào những thời điểm đó, những người sống tại các làng này đến từ đâu ? và có được coi là người Hà Nội hay không ? Sự thiếu vắng cơ sở xác định những yếu tố trên đã góp phần biến khái niệm nếp sống Hà Nội trở thành một điều bí ẩn, và biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền.

Một điều có thể chắc chắn là nếu tính những làng cổ, thì số dân trồng hoa, trồng rau và làm thủ công phải lớn hơn nhiều lần số người thanh lịch biết uống trà thưởng hoa thanh nhã. Điều này thiết tưởng cũng không lấy gì làm lạ vì về bản chất, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp. Trong quá khứ, Hà Nội có thể đã là một nơi đô thị sầm uất hơn hẳn nơi khác, nhưng tránh khỏi nếp sống nông nghiệp là điều không thể. Đành rằng các làng trồng hoa không hẳn đã là nông dân như người kéo cày trồng lúa, nhưng cũng không vì thế mà không có sự nhọc nhằn vất vả. Sự vất vả của nghề nông có lẽ chính là một nguyên nhân đã làm biến mất nghề trồng hoa ở nội đô. Nhìn từ góc độ xã hội và với sự tôn trọng rất lớn những nghề nghiệp này, người ta không thể không nghi ngờ hai chữ thanh lịch khi chúng đại diện cho người Hà Nội. Đấy là chưa kể sự phát triển của chợ sẽ kèm theo sự ra đời của những hệ lụy không hay như rác rưởi bừa bãi, và các tệ nạn như cò con, lừa đảo, và trộm cướp.

Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ có một đoạn rất thú vị viết về nạn lừa đảo và trộm cướp, xin được trích dẫn ở đây. « Phường Diên Hưng (Hàng Ngang) và phường Đồng Lạc (Hàng Đào) là nơi phố hàng áo, bán các thứ tơ lụa vóc nhiễu rất nhiều. Phiên chợ là những ngày: mồng một, mồng sáu, mười một, mười bốn, rằm, hai mươi mốt, hai mươi sáu, ba mươi. Phiên chợ phường Bạch Mã (Hàng Buồm) cũng là một chỗ buôn bán rất huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm cho ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc áo người ta, hoặc khuân đồ vật hàng hóa. Có khi chúng huyên truyền là voi lồng ngựa sổ để các người chợ búa và người đi đường xô nhau chạy, hàng hóa đồ vật vứt bừa bãi; lúc biết là chúng huyên truyền láo thì quân kẻ cắp đã phỗng hết cả rồi. Một hôm, ở phường Đông Các (Hàng Bạc) có một bà lớn đi võng mành mành cánh sáo, đầy tớ lính hầu rậm rịch, đến trước cửa một nhà hàng bạc, truyền thị tỳ dừng võng lại để hỏi mua mấy chục nén bạc. Mà cả giá chưa xong, bà lớn ngồi trên võng truyền vú già hãy cầm chục nén bạc đem về dinh, trình quan lớn xem qua, sẽ định giá. Chủ nhà hàng cũng không ngờ gì. Một lát, thị tì và lính hầu lẻn dần đi hết, hai tên lính khiêng võng cũng cút mất. Trời đã gần tối, chờ mãi chẳng thấy người vú gi
à cầm bạc trở lại, nhà chủ mới đến trước võng hỏi bà lớn để đòi bạc. Mở mành mành xem thì té ra là một mụ lão ăn mày, mù cả hai mát, mặc áo nhiễu điều, ngồi chễm chệ trong võng, mơ màng không biết nói ra sao. Nhà chủ cho đi tìm hết mọi nơi, không còn thấy tăm hơi đâu cả, chỉ bắt được có cái võng cũ nát, giá không đáng mấy quan tiền. Ấy, những lối ăn cắp lừa dối như thế rất nhiều, không thể kể hết được. Cái tài giỏi của kẻ gian cũng lắm lối rất buồn cười, xem thế đủ hiểu cái thịnh suy của đời thăng bình vậy ».


Ngày hôm nay, việc xác định Hà Nội chỉ còn có thể dựa vào tiêu chí cuối cùng là mốc địa giới của Nhà nước. Vấn đề là tiêu chí này chỉ làm việc nhận chân nếp sống Hà Nội là càng không thể. Trước kia, Đống Đa hoàn toàn là nơi ngoại ô (nằm ngoài cửa ô), hôm nay là một quận đông dân nhất thành phố. Sóc sơn, Gia Lâm trước là ngoại tỉnh, nay đã là những huyện ngoại thành. Và Hà Nội sẽ còn phải mở rộng nhiều để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia. Khi chính phủ vừa quyết định đưa địa giới Hà Nội về Hà Tây và Hòa Bình, liệu chúng ta đã sẵn sàng để coi người dân những vùng này là người Hà Nội? Nếp sống Hà Nội càng lúc càng trở thành một khái niệm không thuần nhất. Bạn đọc xin đừng cho rằng tôi phê phán điều đó. Tôi chỉ muốn nói rằng không hề có một nếp sống thuần Hà Nội để có thể gọi nó là thanh lịch. Xin đừng quên Hòa Bình và Hà Tây cũng có những nét văn hóa riêng, và dù tốt, dù xấu trong mắt nhiều người, những luồng văn hóa này chưa chắc đã cần phải gắn mác Hà Nội để có thể tồn tại.

« Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. »

Bây giờ xin đề cập đến yếu tố dân số. Dân số Hà Nội vào ngày tiếp quản thủ đô là 53,000 người, vào năm 1990 là 2,6 triệu người, vào năm 2009 là hơn 6 triệu người. Số chênh lệnh di dân hơn 10 000% đó đã làm nên sự thịnh vượng của thủ đô. Họ từ đâu đến ? Từ một vùng quê nào đó của nước Việt. Họ có phải người Hà Nội không ? Làm sao có thể nói không khi cuộc sống của họ gắn liền với cuộc sống của thủ đô ? Những con số này buộc chúng ta phải nghi vấn khái niệm người Hà Nội ? phải là người Hà Nội gốc ư ? Hay chỉ cần sống một thời gian đủ dài tại Hà Nội. Tôi ngả về tiêu chí thứ hai bởi vì lịch sử của Hà Nội là lịch sử của sự hội tụ. Những người đã làm nên Hà Nội đâu phải đều là người Hà Nội. Lịch sử của mảnh đất này được viết nên bằng máu của tất cả những người đã gìn giữ nó, và gìn giữ đất nước. Đó là những anh hùng dân tộc như Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương. Hay những danh nhân như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Lương Văn Can. Trong số này, không có ai là người Hà Nội « gốc ».

Suy nghĩ rằng người Hà Nội thanh lịch phải là người xuất thân từ phố cổ và làng cổ, cứ như thể chỉ những nơi Hương Ngọc Lan và Định Kiến này mới là chuẩn mực cho một nếp sống Hà Nội, như vậy rõ ràng không có tính thuyết phục xã hội. Có người nói muốn biết có phải người Hà Nội gốc hay không, phải xem gốc gác 3 đời. Theo tiêu chí này nếu đời ông bà là người Hà Nội, bố mẹ là người Hà Nội, và bạn sinh ra lớn lên ở Hà Nội, thì mới được tính là người Hà Nội. Đây quả là một kiểu phân loại lố bịnh và đầy ý niệm giai cấp, được lịch sử phong kiến để lại. Ông bà ngoại tôi là người Hải Dương, ông bà nội tôi ở Nam Định, mẹ tôi sinh ở Hà Giang và bố tôi ở Thái Lan. Sinh ra tại Hà Nội, nếu tôi không phải người Hà Nội thì sẽ là người ở đâu bây giờ?

Ở Hà Nội còn có bao nhiêu người vô danh không thể « đếm mặt, đặt tên ». Đó là những người bán hoa, bán hàng rong, bán quà sáng, những em bé đánh giày, bán báo, những anh xe ôm, đạp xích lô. Họ không phải người Hà Nội ư ? Cũng có thể. Vấn đề là một khi cuộc đời họ đã gắn bó với Hà Nội, nếp sống của họ sẽ hòa vào dòng chảy văn hóa nơi đây. Vì sao chối bỏ nó, vì sao ruồng rẫy nó ? Nếu thiếu nó thì Hà Nội cũng đâu còn là Hà Nội. Có hề hấn gì không khi ta không phải người Hà Nội gốc, nhưng hàng ngày vẫn sống cùng với nhịp đập của thành phố ?

Hà Nội, thành phố ở trong sông, cái tên ấy thật đẹp. Nhưng ngày hôm nay, Hà Nội không còn là thành phố ở bên trong sông. Con sông Hồng bãi lở bãi bồi đã từ lâu rồi lọt vào tầm ngắm quy hoạch dự án xây dựng. Những vườn hoa đào đang mất dần, thay vào đấy là những dự án lấy đất làm chung cư và khu giải trí. Một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ. Nó sẽ phủ rộng từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ doanh nghiệp đến tiểu thương, từ thất nghiệp đến văn phòng, từ ăn mày đến hàn lâm, nghệ sỹ. Nó đang bị biến trở thành một thứ văn hóa của siêu đô thị trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nó trộn vào cuộc sống hiện đại sự du nhập của văn hóa tiêu thụ phương Tây, văn hóa hào nhoáng lòe loẹt của Trung Quốc, văn hóa gia phong khép kín của lịch sử, văn hóa chợ búa lừa đảo. Trong cái đống hỗn độn ấy của tắc đường, của chen lấn và khói bụi ấy, làm sao giữ được mùi hương ngọc lan? làm sao gìn giữ được những nét thanh lịch hào hoa mà chúng ta đang cố định hình ?
***

Tôi có quen một người Pháp đã giúp đỡ rất nhiều sinh viên Việt Nam du học tại Paris. Vốn sẵn máu phiêu lưu lại làm về quan hệ quốc tế nên ông đã có dịp đặt chân lên rất nhiều nơi trên thế giới. Thuộc týp người chỉ cần một balô trên vai và một chiếc máy ảnh trên cổ để đi từ những cánh đồng tuyết Siberi tới những đỉnh cao của dãy Himalaya, ông chụp rất nhiều ảnh. Ông đã cho tôi xem những bức ảnh của phố cổ Hà Nội những năm 1990, ngay đầu thời kỳ đổi mới. Ông có hơn 1500 bức ảnh chụp Hồ Gươm cũng vào cùng giai đoạn. Tôi thích lắm vì nó gợi lại cả một ký ức tuổi thơ khi tôi mới lớn, những thứ mà tôi đã được nhìn, nhưng chẳng bao giờ còn được nhìn lại. Ông thản nhiên nói với tôi rằng, Hà Nội là thành phố đẹp nhất châu Á không thể bàn cãi. Câu nói đó vô tình làm sống lại trong tôi tình yêu và kỷ niệm của quê hương. Tôi nhớ cái lạnh đầu đông Hà Nội. Tôi nhớ mùi hương ngọc lan. Tôi nhớ những con phố phủ đầy lá rụng trên vết rêu phong. Tôi nhớ chiều 30 Tết, tôi và em được cô đơn chiêm ngưỡng những vườn hoa đào bạt ngàn không bóng người ở Nhật Tân, những luống violet, hoa hồng, hoa cúc, hoa layơn muôn sắc. Cả Hà Nội đã bỏ trốn, để lại mình chúng tôi trên cánh đồng.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch như Paris, London hay những thành phố lớn khác mà tôi đã đi qua. Nhưng tôi chán ngán với những sự thanh lịch giả dối. Kết cục của sự giả dối là sự pha trộn tạp nham những điệu bộ kịch cỡm, những cái bắt tay hững hờ và những ngôn ngữ cử chỉ trần trụi, vô học. Và tôi không muốn nhìn thấy một Hà Nội là con rồng cất cánh vật vờ thiếu bản sắc giữa một thế giới của quy luật tư bản đơn điệu. Những kiến trúc hào nhoáng, những trung tâm shopping liên hoàn, và những ngọn tháp chọc trời không biến sa mạc Arập Xêút thành nơi hội tụ văn hóa. Những cây phong, cây bàng, cây cơm nguội, những mái nhà rêu phủ, những cô gái xinh đẹp như hoa lan, nụ cười trong như nước, với tôi đấy mới là Hà Nội. Ở nơi đây một cành hoa mai trắng mong manh trong vườn, một nụ cười thân thiện, những tiến
g cám ơn giữa hai người không quen biết đã và đang biến mất dần. Làm thế nào để sống với Hà Nội mà không có những thứ đó ? Tôi chợt nghĩ đến một câu nói nổi tiếng mà không nhớ chính xác của ai: « Văn hóa là những gì học suốt đời vẫn không đủ. Văn hóa là những gì còn sót lại khi tất cả đã bị lãng quên ».

Đông A

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hà_Nội
Vũ Trung tùy bút, Phạm Đình Hổ. Bản dịch của NXB văn học 1972
http://www.sachxua.net/forum/index.php?topic=74.0
– Lịch sử của Hà Nội, Philippe Papin – Trường Viễn đông Bác Cổ, NXB Fayard, 2001 (Nguyên văn : Histoire de Hanoi)
(*) lời dẫn do biên tập viên thêm vào.




Thư Khanh : Mưa Thu

MƯA THU

Mưa thu dăng mắc sợi buồn ,
Bao năm xa cách – hỏi còn nhớ em .
Từng đêm vuốt sợi tóc mềm ,
Mà nghe nhưng nhức nỗi niềm nhớ nhung .
– Mưa rơi …từng sợi tơ trùng ,
Sao nghe nặng trĩu phím lòng rung tơ ….
Điệu nào ? – là khúc Tango ,
Cho em bước với say sưa với đàn .
Nhạc ơi ! đâu khúc đoạn trường ,
Chia ly từ đó – Tuổi hồng để hoang .
– Mưa thu ! anh có buồn không ,
Mây chia đôi ngả buồn mong chiền chiền …

THƯ KHANH



 

 

TRĂNG ƠI

 Khi đi ! trăng cũng đi cùng ,
 Khi về ! trăng cũng vô mùng  …. chung đôi .
 Trăng ơi … – Trăng của riêng ai ,
 Hay trăng là của riêng tôi thế này .
 – Trăng cười bẽn lẽn ôm tôi ,
 Khoe cái khuôn ngọc . Khoe đôi mắt tình .
 – Bỗng dưng gió động bên mành ,
 Rủ trăng chạy tuốt .. Tôi đành ngẩn ngơ .
 Cợt đùa trăng …- rất lẳng lơ ,
 Thì thầm nhắn gió : " Em chưa …muốn chồng ! "
 –  Ơi trăng ! Cô bé kén chồng ,
 Chê tôi không phải đàn ông cho Nàng .
 –  Cả đêm tôi ngủ mơ mòng ,
 Ngắm trăng khoe cái khuôn vàng đáy sông ..
 – Kiếp sau XIN LÀM ĐÀN ÔNG ….

 THƯ KHANH
 (Bên đồi Femont Seattle ngắm trăng 16 – Tiết trời Vào Thu)


***

***

THƯ KHANH




 

CÓ PHẢI MÙA THU ĐÃ LẠI VỀ

 Ai hong yếm lụa sáng nay …
 Cho liễu khoe mái tóc mây GIAO MÙA ?
 Lá vàng nhỏ lệ lưa thưa ,
 Bỗng như xa lắm … thu xưa chợt về .
 Lá bàng liệng xuống lối đi ,
 Chập chờn Hà Nội bỗng nghe ngập hồn .
 – Này đây Quan Thánh rộn ràng ,
 Leng keng tàu điện – " Xấu dòn ! " -ai rao …
 – Này đây cô gái Hàng Đào ,
 Bím hoa trên mái tóc – Bao nhiêu tình .
 Mộng tròn ủ đáy mắt xanh ,
 Chỉ xin cái liếc là thành thiên thu .
 Tình anh Xin Nguyện Ngục Tù ,
 Để thơ gieo vận thành thơ trang đài .
 – Hỡi em quảy gánh trên vai ,
 Hoa còn thua sắc hương người gánh hoa .
 Quê em bên Xứ Ngọc Hà ,
 Cho anh về với dù là  … để quen …
 Để rồi mỗi sáng cùng em ,
 Hái hoa lên chợ Đồng Xuân với Nàng .
 – Này em ! – cô bé Hàng Đường ,
 Cà phê anh uống Giọng Nàng ở trong .
 Phải chăng anh đã phải lòng ,
 Cho anh nghe chút …Giọng đường của anh …
 – Thu Về Rồi Đó Phải Không ,
 Hà Nội chắc chắn mù sương trên hồ .
 Nhớ về Hà Nội … Xa Xưa ,
 Bao nhiêu thơ viết vẫn chưa vừa lòng …

 THƯ  KHANH
 (ĐẦU THU Seattle nhớ về Đầu THU HÀ NỘI – khi mới …được cắp sách đi học tại  Hà Nội )

Bài 1- SÁNG XUÂN

Sáng Xuân ! Mây thả cánh vàng ,
Cho em ửng má môi hồng như hoa .
Áo Xuân ! cánh mỏng la đà ,
Gió thơm hương bưởi đeo tà áo em .
Trên cành -…- tiếng hát đôi chim ,
Vui như tiếng sáo bỏ quên bên đường .
Đò ngang bến đục hay trong ,
Cho em sang với kẻo lòng em đau .
Đò ơi ….Mây vẫn qua cầu ,
Để quên túi nhớ men sầu cho ai …? !

THƯ KHANH

Bài 2-  NHỚ NGƯỜI NHỚ LẮM

Nhớ người ! Nhớ lắm người ơi ,
Không cà phê đắng nhắp môi đầu ngày .
Môi cười ủ rũ biếng soi ,
Nhắc phone muốn gọi …- E người đã quên .
– Nhớ người một sớm yêu em ,
Kể cho nhau chuyện thần tiên non bồng .
Kiếp sau nếu phải vợ chồng ,
Liệu người còn nhớ chuyện lòng hôm nao …!

THƯ KHANH



 

 


Trăng treo đỉnh núi , tóc bời mây bay …
– Ta là hạt cát gió bay ,
Người là Công Chúa , phút giây gặp Nàng .
– Bao giờ …Ta lại tương phùng ?!
Hết rồi …! – Bản Giốc – nỗi buồn thiên thu .
– Trông vời Cố Quốc xa mù ,
Mỏi mòn tiếng Quốc …, sao tua khóc thầm .
Lệ Ta ! Hạt cát đầm đầm ,
Quê hương cứ mãi mất dần …- TRỜI ƠI !

THƯ KHANH ( Trong mơ nhớ thương  Bản Giốc – đã mất cho TRUNG CỘNG ! )

NHƯ CƠN MƯA  HẠ VỀ .

Em chưa yêu hay đã yêu ? !
Mà sao vắng tiếng phone reo là buồn .
Giọng anh như suối đầu phone ,
Như cơn mưa hạ sưởi hồn đắng cay .
– Soi gương …- kẻ chút  chân mày ,
Tiếng cười nắc nẻ – đã đày  dấu  yêu :
" Nói đi anh ! cần có bấy nhiêu ,
Một bài thơ nhỏ – Một liều thuốc tiên ! "
– Đủ rồi ! cảm tạ tình anh ,
Một cơn Mưa Hạ v
ề  xanh lòng mình .

THƯ KHANH

NHỚ NGƯỜI ANH THƯƠNG 

Hình như trời đang mùa xuân ,
Leo lên đồi vắng hái làn mây bay .
Chùm này …hồng… để tặng ai ,
– Tặng em với cái trâm cài năm xưa .
Chùm này  tim tím – hoa thơ ,
Gói môi em đã mấy mùa xa nhau .
Chùm này …trăng trắng hoa cau ,
Bay lan  thềm – xuống dàn trầu mẹ ươm  .
– Chùm này óng ả dịu mền ,
Dáng em – mái tóc  bên rèm chờ anh .
– Nền trời … xanh … bát ngát xanh ,
Mắt em nhốt trọn hồn anh một đời .
Mây trôi ! Mây cứ dong chơi ,
Trèo lên đồi vắng nhớ ngừời anh thương …

THƯ KHANH


EM VẪN CHỜ ANH DƯỚI NGUYỆT TÀN

1- Em vẫn chờ anh dưới nguyệt tàn .
Mùa thu này nữa …- đã bao năm  ? !
Bờ mi  lạnh  đỏ đôi dòng lệ .
Em vẫn chờ anh …- Dưới Nguyệt Tàn .

2- Quê hương quằn quại trong đau khổ .
Cứ mãi mong chờ bóng người đi .
Đất Biển dâng Tàu khôn đòi lại .
Đất Biển ngàn năm khó trở về .

3-  Mẹ mòn mỏi đợi – thêm hiu hắt .
Vận nước Trời cho- chả đến sao ? !
Hai Bà tuẫn Tiết dòng sông Hát .
Nhi Nữ Ngàn Thu vẫn tự hào .

4- Đinh -Lê -Lý -Trần-  Nguyễn …Anh Hùng Tử .
Những chiến công xưa tỏ rạng ngời .
Khí hùng nào tử … gươm ngời  sáng .
Nung chí kiên cường  – Trăng vẫn soi .

5- Em vẫn chờ anh dưới nguyệt tàn .
Chén cơm chan lệ – kiếp dân Nam .
Mùa Thu này nữa bao năm nhỉ .
Em vẫn chờ anh dưới nguyệt tàn …

THƯ KHANH

Chiều Cô Độc


THƯ KHANH

THEO LÁ VÀNG RƠI

Anh có về không – xem Hà Nội .
Lá bàng từng cánh liệng ngoài song .
Em ngó thẩn thơ …mong viễn xứ .
Nhớ người Bến Cũ …mỏi mòn mong .

***
Người đi sao mãi không về nhỉ .
Có phải quên em . Lỗi hẹ thề ? !
Nước mắt  tuôn theo . Dòng lệ nhỏ .
Âm thầm chuông đổ vọng chùa xa .

***
Hư vô tịch mịch chiều Quan Thánh .
Và gió mùa thu rất ..lạnh lùng .
Không mang Hơi Thở Anh về nữa .
Tất cả bây giờ …một chữ KHÔNG .

***
Một chữ Không to tô đậm nét .
Hồn em chới với giữa mùa thu .
Nhớ anh một thoáng tròn như mộng .
Theo lá vàng  rơi …như cánh hoa …

THƯ KHANH



Anh về hết tối lại mai ,

THƯ KHANH

 

 

Em xẻ cho anh chút nắng vàng .Tình ta ! Thơ đậm nét lưu đày .
Đầu phone anh  gọi… thương thương quá .
Đem đến cho lòng một chút say …

2- Tưởng xa mà lại gần anh nhỉ .
Thơ chở tình em – bát nước đầy .
Hỡi ơi ! năm tháng mong xum họp .
Sao mãi như là gió với mây .

3- Thu này đã đến  – mấy lần  thu ? !
Lá rụng bên song – đỏ mắt chờ .
Dòng sông thu muộn . Bao mong ngóng .
Em trút vào thơ  … những ước mơ …..

4- Cuối đời nếu chẳng bao giờ gặp .
Anh đốt bài thơ gửi gió về .
Tặng em với cả ân tình cũ .
Với cả bờ môi …Một Gã Si …

THƯ KHANH

KHI CÓ EM

1- Trời đất đầu thu đẹp lạ thường .
Có em bên cạnh nắng vàng ong .
Có đôi môi đỏ – hoa hàm tiếu .
E thẹn – cười duyên – bướm… chạnh lòng ….

2- Có em ! trời bỗng rộng bao la .
Gió đuổi mây bay dưới nguyệt tà .
Đăm đắm ngắm em …- pho tượng cổ .
Nhủ thầm : " Vệ nữ đến trong ta ! "

3- Em ơi ! Tình dẫu  là hư ảo .
Anh vẫn làm thơ như thuở nào .
Có em ! trời đất nghê thường qúa .
Quăng hết phong trần . Ta có nhau …

THƯ KHANH (  30- 9- 2009 – Đầu  mùa thu  Seattle )

 




Thiên Lý : The only beautiful love is the broken one

The only beautiful love is the broken one


Thousands of years passed by
Millions of loves are alright
But trillions of ones are broken, why?
 
The answer has the following meanings:
Because of non-observing
Because of non-understanding
Because of non-respecting …
 
That makes the mistake
Love likes a cake
If you let another person takes
You will lose it, in fact!
 
Now you say sorry
It’s a difficulty
As you have cut deeply
The valentine’s heart that gives
 
Could not stop the run
That the tears had gone
Deal with you again
Sorrow will have begun

Now you will regret
But the love will be rich
Forever it is your favourite …

 

Not everyone can do!

 

It’s him running to town everyday.

Where is he coming?

Is it interesting?

All the children that are his neighbours don’t know

Because they are not old.

They are too young to get the curiosity.

They eat all the aliment he brings back happily.

You will think that they are his children.

That’s the misunderstanding you have taken

As they are poor and hopeless.

They live in his village.

Can you divine where he takes the food?

Ha ha ha … It is good.

All your guess are wrong.

Please! Don’t, don’t, don’t.

Don’t get angry like that.

He never cares you are thinking of what.

The place is a restaurant.

In a small kitchen,

The edibles is classified from the stuffs in the remnants of the meals.

Now, I will not stop your anger if you will.

The comestibles itself has no meaning

But the man’s characteristic is everything.

And please keep quite to hear your soul murmuring!

 

Embarrassment!

The boy looked tired

Seeing a waitress and asked:

“Could I buy an ice-cream in stead of a cake?”

She replied that :” Of course!

Fifty cents it costs.

For the most fancy one.”

He counted the money at once.

“ What do you want?” She asked impatiently.

“ I would like to say sorry!

I just need the less fancy ice-cream”

Unhappy she seemed

But it was so keen the little man was

He left a fifteen cents tip to that girl

After paying thirty five cents for the … meal

And the waitress did not have a chance to say THANK YOU!

 

In time ( 29/12/2009)

In a tempestuous night

A woman was standing on the road side

And her car had broken down

She was wet because of signalling the passers by

 

She was in hurry

Her face looked sadly

A fair man stopped in the end

He called a mechanic and hailed her a taxi

 

She went away

Not forgot a thank to say,

An address of his to take down on a piece of paper

While the man waved farewell to her: bye bye …

 

One week latter

The man’s door was knocked by a courier

To his enormous surprise

A big colour TV package to be delivered:

 

“ Many thanks for helping me without any reasons

I was able to reach my dying husband

You are the god of my soul

Best wishes for you in all seasons” …