Nguyễn Hữu Nhân : Những giờ phút cuối cùng tại Xuân Lộc Long Khánh

Những giờ phút cuối cùng tại Xuân Lộc Long Khánh

Hồi ký : Trung Úy  Nguyễn Hữu Nhân Tiểu đoàn 181 Pháo Binh Sư Ðoàn 18 BB

     

         Sau khi tham dự Hành quân để giải tỏa Quận lỵ Võ Đắt với Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân, Pháo đội A 181 Pháo Binh  giờ  thì chỉ còn có 4 khẩu 105 ly mà thôi, chúng tôi đang đợi để nhận bổ sung thay thế 01 khẩu đại bác đã bị Cộng quân đánh phục kích và kéo đi ở Chánh Tâm 2 đường đi Võ Đắt. Hai trung đội ở hai vị trí khác nhau, một trung đội đóng ở  Hậu cứ Tiểu đoàn 181 Pháo Binh, nằm cuối phi trường, còn một trung đội được đóng ở căn cứ Núi Thị cách Bộ chỉ huy hậu cứ của Tiểu đoàn độ 5 cây số, Pháo đội  chúng tôi ở lại Long Khánh với Thiếu tá Nguyễn Tiến Hạnh trong những giờ phút sau cùng,  Thiếu tá Nguyễn Tiến Hạnh xuất thân Khóa 13 trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam về thay thế Thiếu tá Tôn Xuân nhận thuyên chuyển đến Tiểu đoàn 47 Pháo Binh tại Long Xuyên.. Được biết ông từ Pháo Binh Thủy quân Lục Chiến, sau cùng về Pháo Binh Biệt Khu Thủ Đô trước khi về nhận Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 181 Pháo Binh. Ngay từ khi mới về nhận đơn vị, Thiếu Tá Nguyễn Tiến Hạnh đã tỏ ra rất vui vẻ và rất dễ dãi với các Sĩ quan và binh sĩ trong đơn vị, mỗi khi có tiệc tùng hay tổ chức ăn nhậu, ông thường kêu các sĩ quan cùng ngồi nhậu và ăn uống chung với ông, không cần biết có mấy sĩ quan, cứ khui một két bia lớn ra, ông chỉ uống những chai có nhãn hiệu trái thơm mà thôi, và số còn laị thì các sĩ quan phải chia nhau uống cho hết. Thường thường mỗi két chỉ có chừng 2 đến 3 chai có nhãn hiệu trái thơm mà thôi.

       Vào những giờ phút chót, tôi được điều động lên Núi Thị với một trung đội của Trung Uý Trung. Còn một trung đội  đóng chung với Bộ chỉ huy Tiểu đoàn cho đến giờ nầy tôi cũng không còn nhớ rõ trung đội nầy là trung đội mấy của Pháo đội A nữa. Tôi cũng không nhớ rõ lúc đó các Pháo đội B của Đại Úy Vũ Huy Thiện và Pháo Đội C của Trung Úy Trần Hữu Rật đang tham dự hành quân ở đâu nữa, vì sau gần 7 năm tù và qua đây phải vất vả với cuộc sống cho nên trí óc tôi không còn được sáng suốt nữa. Nếu tôi nhớ không lầm thì sáng ngày 8 tháng 04 năm 1975, khoảng 04 giờ sáng Cộng quân đã chận xe đò và chiếm Cua Heo đường vào Quận lỵ Long Khánh, cũng kể từ ngày tháng nầy, con đường xe chạy Saìgòn Bình Tuy hay Sàigòn Võ Đắt – Tánh Linh đã không còn lưu thông nữa, xe chạy trên tuyến đường nầy đã phải đậu laị nối đuôi nhau để chờ giải tỏa, thế nhưng cho đến chiều cũng vẫn chưa được phép chạy, vì vậy các xe đã trở đầu để quay trở lại. Trên hệ thống vô tuyến chúng tôi nghe tin Cộng quân đang chiếm dinh Tỉnh Trưởng, hiện chúng đang quần thảo với Bộ chỉ huy Tiểu khu, chưa biết tình hình Tỉnh trưởng như thế naò, tin trên loan ra làm cho chúng tôi vô cùng hoang mang, ngay cả dinh Tỉnh trưởng mà cộng quân đã chiếm được thì còn chỗ nào an toàn nữa. Tình hình Long Khánh trong lúc bấy giờ thật hết sức nguy ngập.Các đơn vị ở miền Trung đã di tản chiến thuật, bây giờ Long Khánh là cứ điểm cuối cùng, nếu Long Khánh thất thủ thì cộng quân sẽ tiến chiếm vào Sàigòn, vì vậy bằng bất cứ giá nào chúng tôi cũng phải giữ cho được Long Khánh.  Các đơn vị trực thuộc Tiểu khu đã chạm súng ác liệt với Cộng quân từ sáng đến giờ, những tiếng súng lớn nhỏ nổ dòn như bắp rang ở hướng dinh Tỉnh trưởng, tình hình ta và địch lẫn lộn, chúng tôi cũng không còn biết tin tức chính xác là như thế nào nữa., đến trưa thì chúng tôi được tin quân  ta đã làm chủ được tình hình, đã đẩy lui Cộng quân ra khỏi dinh Tỉnh trưởng, như vậy dinh Tỉnh trưởng đã được giải tỏa  sau gần 6 tiếng đồng hồ đã bị cộng quân vây hãm. Trung đội Pháo binh 1A của chúng tôi lúc đó đang được yểm trợ trực tiếp cho tiểu đoàn 2/43 đang trú đóng tại Núi Thị, cùng lúc ấy tôi được lệnh tác xạ trực tiếp từ một sĩ quan Pháo binh của Tiểu đoàn chúng tôi, Trung úy Đinh Văn Phùng, sĩ quan Thủ khoa của Khóa 4/68 Căn bản sĩ quan Pháo binh, Phùng gia đình ở  Láng Cát  Bà Rịa , tôi và Phùng thường về phép chung với nhau và Phùng đang là sĩ quan Liên lạc và ngay sáng sớm hôm đó, tôi đã tác xạ yểm trợ trực tiếp cho Phùng, có lẽ số phận gắn liền nhau cho nên sau khi Cộng quân cưỡng chiếm miền Nam rồi, chúng tôi  phải trình diện để đi tù, thì cũng lại gặp nhau tại trại Hoàng Diệu ở Long Khánh, gặp nhau trong cảnh tù gồm có Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Phước Lễ, Trần Văn Tuyến, Ðinh Văn Phùng, các anh là những bạn học với tôi trong những năm tháng chúng tôi ở mái trường Châu Văn Tiếp Phước Tuy.  Những trái đạn điều chỉnh thật chính xác và chỉ mấy phút sau chúng tôi đã được nghe Phùng báo cáo oang oang trên máy:

– Trúng ngay chiếc xe tăng T-54 rồi, bây giờ chiếc xe tăng đã bị lật nằm ngang trên ụ đất phiá ngoài vòng đai  phi trường.

– Tin bắn trúng xe tăng của địch đã làm cho binh sĩ trong Trung đội lên tinh thần, tôi dặn các binh sĩ phải tháo đạn thật lẹ, giật cò cho nhanh để yểm trợ thật chính xác.

       Những chiếc xe tăng của chúng đã bị Pháo binh bắn trúng lật nghiêng, và những chiếc khác đã bị bắn đứt dây xích nằm môt chỗ không chạy được, chúng đã rồ máy kêu inh ỏi, chúng tôi đã được nghe tiếng máy của xe tăng trong combinet trên máy vô tuyến.  Cho đến giờ nầy chúng tôi  mới tạm được nghỉ để cho binh sĩ ăn uống, kiểm điểm lại, từ sáng đến giờ chúng tôi đã sử dụng rất nhiều đạn để yểm trợ cho đơn vị đẩy lui Cộng quân ra khỏi vòng đai của Tỉnh lỵ, cũng kể từ ngày hôm nay, chúng tôi đã không còn được đi chợ nấu ăn như trước nữa mà chỉ toàn dùng thực phẩm khô mà thôi. Con đường từ Núi Thị xuống tỉnh lỵ Long Khánh đã không còn sử dụng được nữa, Pháo binh Núi Thị đã trở thành đơn vị Pháo binh duy nhất để yểm trợ cho Sư đoàn và tỉnh lỵ Long Khánh và Chi Khu Xuân Lộc.

       Cũng kể từ ngày nầy, chúng tôi đơn vị nào ở đâu thì đóng ở đó, chỉ liên lạc với nhau qua hệ thống vô tuyến mà thôi. Mỗi ngày chúng tôi đếm từng ngày để mong được xuống núi đi chợ thay đổi mua thức ăn tươi, chứ nằm ở trên nầy hoài ăn uống thiếu thốn nên tinh thần binh sĩ rất xuống dốc, qua radio,mỗi ngày chúng tôi lại nhận thêm tin tức mất thêm một vài quận lỵ và tỉnh lỵ từ miền Trung trở vào, vì thế càng làm cho chúng tôi hết sức lo lắng và dự đóan tình hình thật xấu, riêng bản thân và sự suy nghĩ của riêng tôi, với sự ngây thơ về chính trị, tôi vẫn luôn luôn tin rằng không bao giờ có chuyện Cộng quân chiếm Sàigòn, và luôn luôn tin tưởng quốc gia ta sẽ thắng, Cộng quân trước sau gì cũng sẽ phải rút lui mà thôi, vì vậy chúng tôi rất yên tâm chiến đấu, Sau  khi đẩy lui cộng quân ra khỏi bờ đai tỉnh lỵ, chúng tôi cảm thấy yên tâm và tin rằng chúng ta sẽ cố thủ Long Khánh cho đến giờ phút sau cùng và nhất là chúng ta đã đẩy lùi bọn chúng ra khỏi vòng đai, Long Khánh sẽ được sống trở lại bình thường, mỗi ngày chúng tôi vẫn bắn liên tục để yểm trợ cho các đơn vị bạn. Thế rồi hôm đó ngày 20 tháng 04 năm 1975, tôi được lệnh của Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho tội xuống đồi và gặp ông ở Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 181 Pháo Binh, để trung đội do Trung Úy Trung điều hành, tôi có hỏi đoạn đường qua Cua Heo đã đi được chưa vì từ ngay 08 tháng 04 đến giờ chúng tôi chưa hề xuống được núi, nhà binh lệnh là phải thi hành, vì vậy dù rất lo sợ, tuy nhiên tôi vẫn phải xuống núi, tôi đã để lại xe Jeep của tôi tại vị trí Núi Thị và nhờ một binh sĩ chở tôi về trình diện Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng bằng xe Honda của anh ta, tôi biết rằng đi xuống bằng xe Jeep thì quá nguy hiểm cho nên đi xe Honda có lẽ cũng đỡ nguy hiểm hơn, tôi trang bị cho mình áo giáp, nón sắt, dây ba chạc và súng colt 45 và đạn được đầy đủ, trên vai còn mang theo một khẩu M-79 và  trên tay cầm một khẩu M-16, giả từ Trung Úy Trung trung đội trưởng của trung đội nầy và các binh bĩ của trung đội, các binh sĩ cũng rất lo lắng cho tôi trên đường đi, tôi nói với trung úy Trung cho súng hướng về đoạn đường mà tôi sẽ xuống núi và yểm trợ cho tôi ngay khi tôi gọi, Hạ sĩ nhất Vũ văn Soạn nhà ở Kiệm Tân nên đem xe Honda để ở trại vị trí trung đội, độ vài tuần thì về phép bằng xe Honda, tôi bảo Soạn đeo thêm máy PRC-25 trên vai và thầy trò tôi bắt đầu xuống núi. Phải chi như bây giờ có điện thoại di động thì còn gì sung sướng cho bằng, vừa gọn nhẹ và dễ dàng cất dấu.

         Sau gần nửa tháng không xuống núi, giờ lần đầu tiên trở laị con đường nầy tôi cũng cảm thấy sờ sợ, mong sao cho mau được đến vị trí của bộ chỉ huy tiểu đoàn để chờ ông có lệnh lạc gì mới cho tôi?

         Đã lâu lắm rồi, từ ngày làm trung đội trưởng Pháo binh đến giờ, tôi hầu như không còn đi xe Honda nữa, ngay cả những lần về phép tôi cũng dùng xe Jeep để đi phép, ký sự vụ lệnh cho tài xế đưa tôi đi chỗ nầy, chỗ nọ. Tôi ngoại giao rất giỏi, vì thế xe Jeep của tôi lúc nào cũng có xăng đầy đủ để chạy, có những tháng tiểu đòan cấp cho xe Jeep nhưng không cấp nhiên liệu, các sĩ quan khác đành không nhận xe vì không có xăng để xử dụng, nhưng riêng tôi chưa bao giờ không có xe Jeep cả, và ngay cả phương tiện truyền tin tôi cũng đã có máy VRC-34 trên xe ngoài cấp số.

       Thật may mắn cho tôi, sau khi từ Núi Thị hai thầy trò tôi chạy thật nhanh,  Soạn  chạy hết ga sau khi xuống được con đường chánh của quốc lộ, tôi ôm chặt lấy Soạn và mắt nhìn xung quanh rất nhanh, hai bên đường cảnh trí hoang tàn, tiêu điều sau những trận pháo của chúng tôi, đi ngang Cua Heo tôi còn thấy chiếc xe tăng bị bắn cháy đang nằm trơ trọi nơi đó, Soạn chạy riết ở đường ngoài để xuống Chi Khu xuân Lộc, vì lúc bấy giờ bộ chỉ huy Tiểu đoàn đang đóng ở rừng cao su trước quận lỵ.

Tôi vào gặp Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và được tin tối nay chúng tôi sẽ rút khỏi Long Khánh và bàn giao vùng hành quân nầy lại cho Lữ Đoàn 1 Dù sẽ thay thế chúng tôi.Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng đưa cho tôi những mục tiêu, và tôi chấm lại trên bản đồ toàn là YS nằm trên trục lộ về Đức Thạnh, sau khi chấm những điểm nầy lên bản đồ tôi đã đoán ra được lộ trình mình sẽ đi. Con đường từ Xuân Lộc về Đức Thạnh gần 10 năm nay không được sử dụng, thế mà tối nay chúng tôi sẽ đi lại bằng con đường đó, tôi băng khoăn tự hỏi, bỏ đi cả 10 năm rồi, giờ làm sao đi lại cho được?

        Phối hợp một trung đội của Pháo đội A(-) còn lại ở đây và bộ chỉ huy của Tiểu đoàn, tôi tập hợp tất cả lại và chỉ thị cho tất cả chuẩn bị lên đường khi có lệnh, không được mang theo gì cả, ngoaì việc phải kéo hai khẩu 105 ly, móc hậu gạo và móc hậu nước cũng bỏ lại. Tôi không còn nhớ rõ trưởng ban 3 của tiểu đoàn lúc đó là ai nữa, duy chỉ biết Thiếu tá Hạnh nói sẽ đi với tôi và ông nói rằng đi với tôi ông ta thấy yên tâm hơn. Thiếu tá Hạnh sẽ đi xe Jeep sau chiếc xe kéo súng của trung đội, tôi sẽ đi trên chiếc xe GMC kéo súng đầu tiên.

Lúc đó hơn 4 giờ, tôi ra lệnh cho các binh sĩ sẵn sàng di chuyển khi có lệnh, Soạn nói với tôi xin phép cho mang theo chiếc xe Honda, tuy nhiên tôi đã ra lệnh không ai được mang theo gì cả, vì vậy tôi nói với HS1 Soạn là tôi rất tiếc không thể để Soạn mang theo chiếc xe Honda được. Soạn nói với tôi rằng, thôi em sẽ chạy Honda theo hai xe kéo súng của mình và tôi đã đồng ý. Tôi đã cho sắp xếp tất cả xe của đơn vị Pháo binh của chúng tôi ra ngoài  đường từ 5 giờ chiều ngày 20 tháng 04 năm 1975. Và ngày đó chúng tôi coi như là một ngày kỷ niệm, cho đến giờ tôi vẫn còn nhớ đến ngày đó.

Tất cả đoàn xe đều nổ máy và chờ lệnh, chúng tôi được biết Thiếu tướng Lê Minh Đảo tư lệnh Sư đoàn đã đi với 81 Biệt cách Dù từ buổi trưa, và bây giờ chúng tôi đang đợi lệnh ông để di chuyển. Thời giờ chờ đợi lúc nào cũng đi thật chậm, chúng tôi càng sốt ruột hơn vẫn chưa được lệnh di chuyển, rồi từ hướng sân bay chúng tôi nghe những tiếng  bụp … bụp  bụp.. là tiếng depart của pháo địch, chừng vài giây sau những tiếng nổ chát chúa ngay tại vị trí chuẩn bị di chuyển của chúng tôi, trái đạn đầu tiên đã rớt trúng ngay xe Jeep của Thiếu tá Hạnh Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 181 Pháo binh, và những trái pháo kích khác đã  rớt xung quanh đoàn xe của  chúng tôi, lúc đó chẳng còn lệnh lạc gì nữa, mạnh ai nấy chạy, xe của thiếu tá Hạnh đã bị pháo nên không đi được nữa, ông chạy ngay lại xe GMC kéo súng của tôi và chúng tôi di chuyển ngay lúc đó, chạy về hướng trung đoàn 48 bộ binh đóng ở Long Giao, tôi thiết nghĩ nếu như lúc đó chỉ cần một tràng AK nữa thì tôi tin rằng đơn vị sẽ rả ngủ, chúng tôi  cố cho xe chạy thật nhanh, trong khi đó những tiếng nổ vẫn tiếp tục sau lưng chúng tôi, nếu không có phản ứng cấp thời  và di chuyển ngay thì có lẽ chúng tôi đã ăn những qủa đạn pháo đó rồi, hai bên đường mùi xác chết xông lên nồng năc, thiếu tá Hạnh ngồi bên trong xe GMC kéo súng làm trưởng xa, tôi nghĩ rằng có lẽ đây là lần đầu tiên một vị tiểu đoàn trưởng pháo binh ngồi trên xe GMC kéo súng, vì pháo binh xe cộ rất đầy đủ, và tiểu đoàn trưởng thì muốn xe gì mà  không có, thế nhưng đây là lần đầu và cũng là lần cuối cùng vì sau trận nầy chúng tôi không còn được đi xe GMC nữa mà phải vào các trại tù mà chúng gọi là đi cải tạo. Tôi đứng phía ngoài xe GMC tiếp tục chạy trên đường về Long giao, vừa chạy tôi vừa liên lạc với bộ tư lệnh sư đoàn để nhận chỉ thị, cũng may sau đợt pháo đầu tiên, tôi liên lạc với các xe và được biết tất cả anh em sĩ quan và  binh sĩ của chúng tôi hoàn toàn vô sự, duy chỉ có chiếc xe jeep của thiếu tá Hạnh là bị trúng pháo kích và đã bỏ lại ngay lúc khởi hành. Khảng 09 giờ tối chúng tôi đến Long Giao, tôi không còn nhớ rõ nữa nhưng hình như chúng tôi là đơn vị pháo binh được di chuyển có xe còn các đơn vị khác đã di chuyển bộ, vì vậy khi dừng lại Long Giao tôi không thấy một đơn vị nào hộ tống chúng tôi cả, bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn lúc đó là Đại tá Ngô Văn Hưng, tôi không được nghe tiếng nói của ông lúc đó, nhưng tôi nghe giọng nói của Trung úy Hà Phương Đính. Lệnh cho tôi phải ở lại Long Giao và sẵn sàng tác xạ để yểm trợ cho lữ đoàn 1 Dù đang ở lại để thay thế chúng tôi. Tôi cho dừng xe và ra lệnh cho trung dội đưa súng vào vị trí để chuẩn bị gióng hướng và sẵn sàng tác xạ, hai khẩu pháo nằm chênh vênh trên đường trước cổng Trung đòan 48 tại Long giao (Black Horse) khẩu nầy cách khẩu kia không đầy 5 mét, gióng hướng súng xong và sẵn sàng tác xạ, cọc ngắn 1 mét và cọc dài 3 mét thay vì cọc ngắn 50 mét và cọc dài 100 mét. Tất cả sách vở học trong trường pháo binh đều được bỏ hết mà chỉ thực hành theo điều kiện cho phép, tôi được lệnh qua tần số của Dù và liên lạc để yểm trợ cho họ, lúc nầy mà họ xin tác xạ mới mệt cho chúng tôi quá, nhưng chúng tôi vẫn nhận lệnh và đã bắn yểm trợ cho họ khoảng 10 quả đạn 105 ly trước khi chúng tôi tiếp tục di chuyển. Lúc nầy khỏang 11:30 tối, tôi được lệnh tiếp tục di chuyển để về điểm hẹn, Tôi được biét đơn vị Dù thay thế chúng tôi cũng sẽ đến Long Giao sau khi tôi đi khỏi nơi nầy, tôi liên lạc qua trung đội pháo binh ở Núi thị để hỏi thăm tình trạng của  trung đội nầy ra sao? Trung úy Trung cho tôi biết, bây giờ trung đội đang chuẩn bị xử dụng M-14 (đây là loại đạn chỉ dùng khi có lệnh để phá hủy đaị bác, tôi từ ngày gia nhập vào binh chủng Pháo Binh cho đến giờ, tôi cũng chưa hề xử dụng đến loại đạn nầy). Trung đội sẽ nhận lệnh trực tiếp của Bảo Định Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 /43. Tôi dặn dò Trung úy Trung cố gắng bảo tòan đơn vị và liên lạc chặt chẻ với Bảo Định, sau đó tôi trở qua hệ thống để liên lạc với BCH pháo binh sư đoàn 18 Bộ binh. Đoạn đường đã bỏ  từ nhiều năm nên cỏ mọc hai bên đường ngăn cả lối đi, trời thật tối, tôi đứng bên hông xe khoảng 50 thước tôi lại bật đèn Pin lên rọi về hướng trước để tài xế  liếc nhìn đoạn đường mà chạy, và cứ thế  chúng tôi tiếp tục di chuyển trên con đường đã bỏ trống cả gần 10 năm nay. Lúc tôi di chuyển có đơn vị của bộ chỉ huy tiểu khu cùng di chuyển theo chúng tôi, tôi dừng lại và ra lệnh cho đơn vị nầy phải di chuyển xa chúng tôi và không được mở đèn, đến sáng hôm sau khoảng 9 gi&ogra
ve;, chúng tôi đã về đến Đức Thạnh, đơn vị tôi tới nơi an toàn, duy chỉ có Trung Tá Long tham mưu trưởng Tiểu khu Long Khánh,  ông là người chỉ huy đoàn xe chạy theo tôi lúc đêm qua đã không may bị cộng quân phục kích và ông đã tử thương, tất cả chúng tôi đều hoàn hồn và nghĩ rằng ông Tham mưu trưởng đã mở đèn và vì vậy bọn Việt cộng đã phục kích bắn trúng xe ông ta. Vừa vào đến vị trí, tôi được lệnh phải sẵn sàng tác xạ.

        Gióng hướng súng vừa xong thì tôi nhận được lệnh  tác xạ yểm trợ cho lữ đoàn 1 Dù. Các mục tiêu nằm ngoài tầm pháo, vì vậy chúng tôi chỉ bắn vài chục quả để dọn mục tiêu, trong lúc đang tác xạ tôi lại nhận được lệnh trung đội lại chuẩn bị lên đường. Đại Úy Hoàng Uông Lễ trưởng ban 4 tiểu đoàn sẽ tiếp tế cho tôi 10 xe đạn vào chiều nay tại ví trí hành quân mà tôi sắp sửa di chuyển đến. Hai giờ chiều tôi nhận được lệnh sẽ di chuyển Trung đội trở ngược về hướng Chi Khu Xuân Lộc để yểm trợ cho Lữ đoàn 1 Dù đang hành quân ở Cẩm Tâm, Cẩm Mỹ. Đơn vị hộ tống cho tôi lúc bấy giờ là một đơn vị của Chi khu Đức Thạnh với  một trung đội , tôi chỉ thấy họ đưa hộ tống đơn vị tôi bằng 02 xe cơ giới mà thôi, tôi trở laị trên con đường mà sáng nay tôi đã đi qua, trở lại được khoảng hơn 10 cây số, tôi được lệnh đóng tại đây để yểm trợ cho Lữ đoàn 1 Dù.  Tôi cho  02 khẩu pháo đóng ngay bên đường đi, chỉ cách đường không đầy  5 thước, gióng hướng súng, thiết lập xạ bảng và  sẵn sàng tác xạ.  Khi vừa chiếm đóng vị trí xong không đầy nửa giờ, tôi nhận được lệnh tác xạ từ sĩ quan liên lạc của Lữ đoàn 1 Dù, “Đích thân” là danh hiệu của Lữ đoàn trưởng vô hệ thống và ông đã trực tiếp liên lạc với tôi. Tôi đã bắn yểm trợ cho lữ đoàn vào bìa rừng cao su được chừng 20 tràng thì cùng lúc ấy Ðại Úy Hoàng Uông Lễ  ông đã dẫn một đoàn xe Quân vận và tiếp tế cho tôi thêm 10 xe đạn nữa. Binh sĩ quá  mệt mỏi sau một đêm không ngủ, giờ lại vừa tác xạ và vừa tháo đạn nên rất mệt, tôi liên lạc với Bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn xin tăng cường  người để phụ giúp tháo đạn, tôi được tăng cường thêm 10 loài chim đi biển (Lao công đào binh) để phụ giúp cho các khẩu đội.  Tôi cũng không còn nhớ rõ các Lao công đào binh nầy đã đến bằng phương tiện gì nữa,  tôi tiếp tục vừa tác xạ yểm trợ cho lữ đoàn Dù cho mãi đến 07 giờ tối, trong lúc tác xạ, đồng bào đã di chuyển từ hướng Long khánh đi ngang qua vị trí cuả tôi rất nhiều từng đợt, từng đợt, tôi nghĩ ngay biết đâu trong đám dân di chuyển nầy lại không có những tên Cộng sản trà trộn, và như vậy chúng nó sẽ báo cáo vị trí của tôi thì chỉ có chết mà thôi,  nghĩ như vậy nhưng không làm cách nào ngăn cản người dân di chuyển được, tôi đành nhắm mắt mặc cho mọi việc gì đến thì phải đến mà thôi.

       Trời đã quá tối, đơn vị cơ giới bảo vệ cho tôi họ đã đi từ lúc nào chúng tôi cũng không biết, tôi liên lạc với BCH Pháo binh Sư đoàn để báo cáo tình hình và xin lệnh rút lui nhưng lúc đó BCH pháo binh sư đoàn không có lệnh gì cho tôi cả mà bảo tôi chờ ở đó đợi lệnh. Trời bắt đầu tối, những cơn gió lạnh thổi đến, lại thêm những đoàn người di chuyển ngang qua vị trí, càng làm cho chúng tôi càng lo lắng hơn, giá như trong đoàn người di chuyển nầy có vài tên Việt cộng trà trộn, và khi đi ngang qua vị trí của tôi chúng bắn vài phát AK vào vị trí đóng quân của tôi lúc bấy giờ thì tôi không biết sẽ phải giải quyết như thế nào nữa, đơn vị bạn yểm trợ cho tôi thì họ đã đi từ lúc nào, chúng tôi mãi mê tác xạ mà không để ý đến đơn vị bạn đã bỏ chúng tôi đi từ lúc nào rồi,  chưa bao giờ một đơn vị Pháo binh yểm trợ mà không có đơn vị bộ binh bảo vệ vị trí như đêm nay. Sau khi biết được đơn vị cơ giới đã bỏ chúng tôi và đã rút lui trước, thật sự lúc đó tôi vô cùng lo lắng, nếu cộng quân tấn công chúng tôi ngay lúc bấy giờ thì không biết chúng tôi sẽ phải đối phó ra sao nữa.

      Trời càng tối rất mau, quá nguy hiểm mà đơn vị pháo binh của tôi giờ lại không có ai bảo vệ, không chờ được nữa, tôi ra lệnh cho binh sĩ móc súng vào xe và tự động chạy trở lại Đức Thạnh. Đây cũng là lần đầu tiên tôi  tôi đã quyết định một cách liều lĩnh mà không chờ lệnh lạc gì cả, khoảng cách chỉ 10 cây số mà tôi bổng thấy thật xa, xe chạy trong đêm tối, thỉnh thoảng có tiếng súng nổ phía sau lưng càng làm cho chúng tôi lo sợ hơn. Chúng tôi chạy thục mạng, chạy trong đêm tối và chỉ mong sao cho mau về đến vị trí. Đơn vị tôi thật sự may mắn, tôi về đến vị trí Đức Thạnh lúc đó khỏang gần 10 gờ đêm, tôi báo cáo tình hình cho Bộ chỉ huy Pháo binh Sư Đoàn, và lúc đó sĩ quan trực là Trung Úy Hà Phương Đính  vẫn còn cho lệnh tôi ở ngoài vị trí và đợi lệnh. Gần 15 phút đứng ở ngoài cổng, tôi được lệnh cho Pháo vào vị trí, tôi cho lệnh các khẩu vào vị trí, gióng hướng súng và xuống đạn dược, anh em binh sĩ và tôi mệt lã người sau 2 ngày di chuyển, cũng may tôi kịp trở về chứ nếu cứ ở đó đợi lệnh thì có lẽ hôm nay  tôi không còn để viết trang hồi ký nầy.

     Đêm hôm đó chúng tôi tạm ở lại Đức Thạnh và sáng sớm hôm sau đơn vị di chuyển về Long Bình, Thấy tôi qúa vất vả trong những ngày cuối, vì vậy Thiếu tá Tiểu  đoàn trưởng đã ký giấy phép cho tôi về thăm nhà, còn đơn vị sáng sớm hôm sau trở về Long Bình, vì vậy vào những giờ phút chót của đơn vị tại Long Bình  tôi không được tham dự.

     Bài viết nầy tôi muốn nói lên tinh thần chiến đấu của chúng tôi nói riêng và cũng là tinh thần chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong những giờ phút chót ở chiến trường Xuân Lộc. Cho đến những giây phút chót chúng tôi vẫn thi hành lệnh một cách tuyệt đối .Tôi cũng cảm ơn Thiếu Tá Nguyễn Tiến Hạnh, vị tiểu  đoàn trưởng sau cùng của tôi, cũng nhờ ông ra lệnh cho tôi  từ Núi Thị  xuống gặp ông và đã được di chuyển cùng ông trong những giờ phút cuối của Sư đoàn 18 tại Xuân Lộc. Tôi được biết trung đội pháo binh ở Núi thị sau khi phá huỷ súng bằng đạn M-14, Trung Úy Trung đã theo tiểu đoàn 2/43 rút lui xuống núi và  đơn vị nầy đã chịu tổn thất rất nhiều, sau đó tôi tập trung vào các trại tù với các sĩ quan trong đơn vị như: Trung Úy Nguyễn Đắc Tài, Trung Úy Nguyễn Tiến Hiệp trong suốt thời gian ở các trại tù GK3 Long Khánh, rồi di chuyển lên Phước Long chúng tôi đều được ở chung trong một tiểu đoàn, cho đến năm 1979 trong lúc đơn vị lên Trung đoàn để chặt tre và gặt lúa, trên đường về các anh đã vượt trại và cho đến nay chúng tôi không nhận được tin tức gì về các anh nữa. Khi vượt biên qua đây, tôi cũng không được tin tức của Trung Úy Trung Trung đội trưởng Pháo Binh đóng tại Núi Thị và các binh sĩ cùa Trung đội nầy.

      Tôi đã được gặp lại Bảo Định (Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế) Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/43 tại San Jose, Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế xuất thân khóa 13 Trừ bị Thủ Đức, Ông là một sĩ quan gan dạ, một sĩ quan ưu tú của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Ông luôn luôn được đề nghị là chiến sĩ xuất sắc của Sư đoàn 18 Bộ binh nói riêng, và là sĩ quan xuất sắc của QLVNCH nói chung.  Ông đã viết những bài thật xúc động và chúng tôi không thể ngờ ông không những  là một sĩ quan tài ba trên chiến trường  mà  còn là một cây bút tuyệt tác nữa. Chúng tôi đã được đọc những bài viết của ông như: Võ Đắc Trong Biển Lửa, Lui Binh, Ði Tìm Xác Chồng v.v…Tôi cũng đã được gặp lại  Thiếu Tá Nguyễn Tiến Hạnh  con chim đầu đàn của Tiểu đoàn 181 Pháo Binh, vị tiểu đoàn trưởng cuối cùng trong đời binh nghiệp của chúng tôi, ông là một sĩ quan trẻ, gan dạ và rất được các sĩ quan trong đơn vị thương mến, tôi cũng đã được gặp lại Đại úy Đặng Hồng Tâm, Đại Úy Hoàng Uông Lễ, Trung Úy Trần Ngọc, Trung Úy Trần Ngọc Thông, Trung Úy Ðinh văn Phùng, Trung úy Nguyễn Phi Hùng, Trung Úy Cao Ngọc Tú, Trung úy Đoàn Thanh Bình, Trung úy Trần Hữu Rật, tôi cũng được nói chuyện qua điện thoại với Thiếu Tá Vòng Phát Sáng Tiểu đoàn Phó, Đại úy Vũ Huy Thiện, Trung Úy Ngô Thanh Lệ, Thiếu uý Hoa tuy nhiên cho đến giờ phút nầy  tôi cũng chưa có dịp để ghé thăm quý vị nầy.

     Ước mong có một ngày nào đó, chúng ta sẽ lại gặp lại nhau trên mảnh đất Việt Nam quê hương yêu dấu của chúng ta, để nhớ lại những kỷ niệm của thời xa xưa khi quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta  thật sự hoàn toàn tự do.

 

John Nguyen – Nguyễn Hữu Nhân – California

 

 

 

NHỮNG NGÀY GAI LỬA

           

Một câu chuyện thật của tác giả viết về trận chiến  30 – 4 – 1975

                              

                                                Hồi ký :  Nguyễn Phan Ngọc An

 

 

 Ầm…ầm…Những tiếng nổ như long trời lở đất , nàng bồng vội con thơ chạy ra sân nhìn về hướng trước mặt, cả một vùng trời khói bay nghi ngút…Mới hôm qua nơi đây là một thành phố đẹp, hôm nay đã thành bãi chiến trường !

Thảo sống nơi đây cũng gần được ba năm, chồng nàng, một vị Quận Trưởng của Quận nầy, tuy gia đình không mấy gì hạnh phúc nhưng vợ chồng Thảo không để mất lòng một người dân. Sáng qua, có tin mật báo về, Tuấn, chồng nàng đã vào Quận ứng chiến suốt ngày đêm…

Giữa trưa hôm qua, một trận pháo kích tới tấp vào thành phố nầy, phá tan cuộc sống yên lành của người dân , phá tan bao mơ ước xây dựng cơ đồ sự nghiệp. Từng loạt dãy nhà sụp đổ tan hoang ! bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu người đã chết ở ngoài kia…Thảo rùng mình lo sợ, nàng không thể hiểu được những gì xảy ra bên ngoài vì không còn ai dám bước ra khỏi nhà. Những căn nhà có hầm trú ẩn coi như tạm bình yên còn nhà Thảo không có hầm trú ẩn, Thảo biết làm sao đây ? Một thân nàng với bốn con thơ dại, Tuấn thì không thể về nhà trong giai đoạn này…sinh mạng mẹ con nàng như chỉ mành treo chuông …

Ngoài kia tiếng lao xao ầm ỉ, trên đường lộ hàng loạt người gánh gồng tị nạn, họ bất chấp những hiểm nguy, những đợt pháo kích giết người tàn khốc đang đổ trút xuống thành phố thân yêu một thời của họ. Thế còn Thảo …nàng phải làm sao ? nếu ở lì lại đây chắc gì đã sống ? còn dìu dắt bốn con thơ xông pha ngoài lửa đạn cũng chắc gì thoát được hiểm nguy ? thôi thì một phen liều mạng, Thảo không mang theo được một của cải gì ngoài chút tiền sẵn có trong túi áo. Chiến tranh đã làm Thảo đảo điên, nàng đã mất trọn số tiền lớn của kỳ thu nhập Câu lạc Bộ cuối tháng ba này. Hôm nay là 23 còn hai ngày nữa là đến kỳ phát lương của các Tiểu Đoàn…Chiến tranh tàn ác, chiến tranh dã man, giành giựt xâm chiếm để máu đồng loại đổ tuôn, để xác người cao hơn non núi, để thảm họa đói rách cho muôn người !

Thảo nghẹn ngào nhìn căn nhà lần cuối rồi kéo vội các con chạy theo đoàn người tỵ nạn, đứa nhỏ nhất còn ẵm trên tay. Đến giữa lộ, một tiếng nổ long trời, rồi hai tiếng, ba tiếng…bụi cát bay mịt mù, Thảo không còn trông thấy gì nữa… mấy mẹ con té nhào xuống lộ rồi kéo dìu nhau đứng dậy tiếp tục chạy.

Tiếng pháo kích như đuổi theo sau từng loạt, từng loạt nghe như xé cả không gian. Trước bước chân nàng bao xác nằm ngổn ngang, bao tiếng thét gào do hậu quả đợt pháo kích vừa qua, nàng thầm cầu nguyện Phật Trời thương tưởng, cứu nhân gian cứu cả mẹ con nàng thoát qua cơn lửa đạn…

Thảo chạy tấp vào căn nhà quen phía chợ khi bên tai nàng vẫn còn nghe tiếng depart của loại hỏa tiễn 122 giặc pháo tới. Đã bao năm sống trong tiền đồn , quận lỵ nàng đã rành rọt như những người lính. Nàng cũng biết bắn súng, biết xử dụng lựu đạn, biết lái đủ loại xe trong quân đội và cũng biết các mật mã truyền tin nữa…

Lại một tràng pháo kích vang dậy đất trời, thế giới quanh nàng là bãi tha ma, là đất chết…biết lấy ai cứu mẹ con nàng trong cõi chết, nàng không còn lối thoát thân…

Thảo gục xuống nền gạch, đôi mắt chan hòa ngấn lệ! Nàng thương các con nàng, tuổi măng non nào có tội tình chi ! nàng muốn các con nàng được sống dù phải đánh đổi đi sinh mạng của nàng…Thảo nhìn các con mà không kềm được tiếng nấc nghẹn…

Tiếng pháo kích tạm ngưng vì đã 3 giờ sáng. Tiếng đập cửa thình lình vội vã, Thảo điếng người, tưởng họ đã xông vào nhà thì chỉ còn lên trời mà trốn…Dì Năm chủ nhà vội mở cửa, Tuấn hiện ra nơi cửa, bế xốc các con nàng bỏ lên xe thiết giáp, kéo vội Thảo lên xe phóng thẳng về hướng Quận lỵ, Thảo la to : Không được, không được, em và các con phải ra khỏi nơi này, hãy quay xe chở em ra hướng khác để đón xe đò thoát khỏi nơi đây, mau lên, mau lên …

Tuấn gạt phăng : Không còn lối ra nữa, chúng đã chận hết các nẻo đường, cứ tạm vào Quận rồi tính sau !

Tuấn đưa Thảo và các con xuống hầm tử thủ cuối cùng của Quận. Đường đi xuống ngoằn ngoèo sâu thẳm, ánh sáng chập chờn của những cây đèn pin không đủ rọi cho các con nàng, chúng té liên hồi trên những bậc tam cấp, khi xuống đến cuối hầm mẹ con nàng ngất xỉu…

Tiếng điện đàm vang vang làm Thảo giật mình choàng tỉnh, nàng đã rõ đây là nơi trú ẩn duy nhất cho mẹ con nàng. Xung quanh nàng là những người lính truyền tin làm việc không ngưng nghỉ với nét mặt nghiêm trọng khẩn cấp từng hồi. Bảy ngày đêm dưới hầm trú ẩn Thảo chỉ biết thời gian qua chiếc đồng hồ đeo tay của nàng, mẹ con nàng tạm sống với những gói mì và những bịt gạo sấy… Qua ngày thứ tám Tuấn liên lạc được phi cơ tải thương để đem xác chết ra khỏi Quận lỵ, chàng vội dẫn mẹ con nàng ra khỏi hầm trú ẩn kéo lên xe Jeep phóng nhanh ra cửa Quận. Tiếng depart của hỏa tiễn giặc vút lên, Tuấn đạp thắng gấp kéo tuột mẹ con nàng chạy vào ẩn nấp trong lô cốt tuần canh ngay cửa Quận . Địch pháo kích ngay phi trường, chiếc trực thăng vừa hạ cánh đã phải cất cánh lên ngay, những xác chết lại một lần thứ hai trúng miểng hỏa tiễn của giặc, những người lính hào hùng buông băng ca ngã quỵ tại phi trường…từ lổ chiến hào nhìn ra lòng Thảo đau lên từng đoạn, thương cho người chiến sĩ xã thân vì đất nước, giờ tử biệt không có một người thân bên cạnh, xác sưng phồng hôi thối không biết đến ngày nào mới được chôn cất mảnh xương tàn? Cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt, anh em giòng họ giết nhau, cuộc chiến triền miên từ ngày Thảo mở mắt chào đời, nàng chưa thấy một ngày bình yên trên quê hương của nàng ?…

Tuấn đưa mẹ con nàng trở xuống hầm tử thủ, Thảo khóc nức nở, nàng không còn hy vọng gì về với mẹ cha…mẹ con nàng sẽ phải vùi thây đau đớn như những chiến binh đã bỏ xác giữa sa trường !

Sau một tiếng đồng hồ Tuấn bắt được liên lạc với phi cơ, chàng chuẩn bị sẵn cho vợ con một chiếc xe thiết giáp rồi kéo nhau đến tọa độ mới để phi cơ có thể đáp xuống an toàn. Một khu sân rộng đủ để máy bay hạ cánh. Bên kia những người lính đang khệ nệ khiêng ba chiếc băng ca của ba vị sĩ quan tử trận bó bằng ba lá cờ vàng ba sọc đỏ, xác để lâu ngày nên phồng to và có mùi hôi…Bên nay là mẹ con Thảo, Tuấn và hai chú lính trong tư thế sẵn sàng khi máy bay hạ cánh.

Tiếng phi cơ đến gần, Thảo hồi hộp từng giây, không biết bình yên hay tai họa nữa đây ? Loại tải thương H20 trên cao thẳng xuống và lên thẳng vội vàng và cấp bách vì sợ địch khám phá mục tiêu. Bên kia thảy ba xác chết lên phi cơ, Tuấn và hai chú lính liệng nàng và các con nàng lên phi cơ, nàng và các con ngồi trọn trên ba xác chết cứng đờ, bíu chặt vào những mảnh vải lá cờ để được sống vì phi cơ hai bên không có cửa…Máy bay lên thẳng ruột gan mẹ con nàng lộn nhào, một tay Thảo níu xác chết, một tay Thảo níu các con !

Véo ! véo ! véo… những âm thanh nghe rợn người, những đóm lửa bay tung tóe hai bên phi cơ, trước mắt nàng không gian cơ hồ sụp đổ ! trời ơi…ai cứu mẹ con tôi ! Phi cơ lên độ cao để tránh tầm đạn lửa của địch, tiếng đạn lửa rít xung quanh làm phi cơ chao đảo nhưng rồi viên phi công đã lấy lại bình tỉnh lái thoát ra vùng đạn lửa đang đuổi theo sau .

Thảo hoàn hồn, nàng lâm râm cảm ơn Thượng Đế, cảm ơn Trời Phật đã xót thương cứu độ mẹ con nàng qua cơn tai biến, nàng tưởng tượng mẹ con nàng vừa chết đi và sống lại nhờ vào phép nhiệm mầu của đất trời một kiếp đoái thương…

Phi cơ hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn vẫn tấp nập xe cộ vì tình hình nơi đây chưa đến hồi nguy ngập, mọi người chen chúc bán buôn tuy nhìn lên gương mặt ai cũng thoáng nét lo âu. Thảo cùng các con đón xe về Vũng Tàu nơi cha mẹ nàng cư ngụ.

Chiều chiều, nàng tựa cửa chờ mong tin tức Tuấn với cả sự nôn nóng lo âu, chợt sáng nay có tin chàng gọi về từ chiến trận. Thảo vội chạy đến điện đài của Tỉnh để nói chuyện với chồng. Đầu giây bên kia tiếng chàng thảng thốt :

–           Em và các con vẫn còn sống đấy chứ ? Lạy trời cho đây là sự thật ! em biết không ? khi anh nhìn thấy những viên đạn lửa bắn theo máy bay anh không còn một hy vọng gì mẹ con em sống sót, anh quỳ xuống khóc ngất và liên tưởng ra những hình ảnh hãi hùng, anh tưởng em và các con đã chết cháy và không tìm được xác ! bây giờ anh yên tâm rồi, Quận đã mất , anh dẫn tàn quân đang tìm lối thoát thân về Tỉnh. Em yên tâm, anh vẫn mạnh.

Tuấn cúp phone ! Thảo bàng hoàng se sắt, cả cuộc đời nàng chưa bao giờ trải qua những kinh hoàng đến thế cũng chưa bao giờ thấy lo lắng xót xa và thương Tuấn như bây giờ, cầu xin cho chàng được bình yên để có ngày xum họp.

Đêm nay trời u ám lạ thường, cơn mưa thình lình trút xuống như thác đổ, đã buồn Thảo lại buồn thêm…phải chăng trời cũng xót thương nhân gian nên đẫm lệ ? phải chăng dân tộc Việt Nam đã đến buổi tương tàn ?…

Thảo nhìn vào khoảng  không xa vắng, mới hôm nào cũng tại mái nhà nầy Thảo là một cô bé ngây thơ, bên mẹ cha dỗi hờn nũng nịu, tung tăng trong chiếc áo dài màu trắng học trò. Bây giờ, tay dắt tay bồng dạn dày sương gió, trải qua biết bao khủng khiếp của cuộc đời…một thiếu phụ tuổi đang xuân nhưng tâm hồn như già đi trước tuổi …

Ngoài hiên, mưa vẫn rơi tí tách không ngừng …Thảo đưa tay gạt đôi dòng lệ ! mưa khóc cho người hay mưa khóc đời ta ?!…                     

nguyễnphanngọcan – California       




Tâm Phương : Mùa Xuân Đã Đến Em Chưa ?

MÙA XUÂN ĐÃ ĐẾN EM CHƯA ?

 

 ( Truyện này đã được Giải Văn-chương viết về Thuyền-Nhân do Hội

   Văn-Hoá Việt-Mỹ trao tặng July 18,2009 tại San Jose  )

 

                                       Tâm Phương

                                                    

     tôi biết cách đây hơn hai mươi lăm năm qua, đã làm tôi nhớ mãi không bao giờ quên được trong đời .

Những năm sau này, có lúc tôi cố tình hỏi han tìm kiếm, nhưng vì bận rộn sinh kế gia-đình nên bỏ cuộc nửa chừng . Có diều tôi biết chắc chắn là cô A-Diệp đang sống ở Mỹ .

Nhớ lại khoảng cuối năm 79, đầu năm 80 . Khi tôi xong Đại-học đúng vào thời điểm kinh-tế Mỹ trên đà tuột dốc, các hãng xuởng sa thải nhân-công nhiều hơn mướn vào . Ngày nào tôi cũng lang thang đến Hãng này, Hãng nọ nạp đơn xin việc nhưng chẳng có Hãng nào gọi phỏng vấn .
     Thời gian buồn chán chẵng bao lâu thì nghe đuợc Hội Hồng-Thập-Tự cần tuyển một số nhân viên bán chính thức , nghia là họ cần nhân viên thiện-nguyện và trả lương đại khái cùng với bao ăn bao ở để giúp người tỵ-nạn mới đến ở các trại tỵ-nạn Đông-Nam-Á .

Tôi đến nạp đơn và được phỏng vấn nhận ngay, có lẽ vì thông thạo Anh ngữ , hơn nữa thời gian này không một người Việt nam nào muốn đi ra khỏi nước Mỹ bỡi công-danh sự-nghiệp chưa lo xong, hoặc vì đồng lương ít ỏi, không ai muốn đi làm xa .

Tôi chỉ có một tuần thu xếp hành trang, trả nhà trọ, nhận vé máy bay lên đường đi Mã-Lai-Á .

Đến Mã-Lai chiều hôm trước, sáng hôm sau bắt đầu làm việc . Nơi làm việc của tôi cũng giống như hàng chục người khác trong cùng một lều vải quân đội, một bàn gỗ nhỏ và chiếc ghế ngồi , bao quanh bốn tấm ván ép, có chừa khoảng trống dùng làm cữa ra vào . Truớc bàn làm việc có hai chiếc ghế nhỏ để làm kiểu hơn là để cho khách ngồi . Vì mỗi lần gọi vào phỏng vấn , hầu hết là nguyên cả gia-đinh , năm bảy nguời quần áo tả-tơi bỡi vừa bước chân lên đảo, đứng vây quanh chiếc bàn bé nhỏ của tôi .

Tôi phải lấy lý-lịch của họ thật nhanh , xếp gia-đinh họ thuộc thành phần Quân- đội, Cảnh-sát , Công-chức Chính phủ hay Thường-dân ….

Ngày nào như ngày nấy ,làm việc đầu tắt mặt tối, bỡi lúc này làn sóng vượt biên ào ạt, cùng với sự ra đi bán chính thức do Nhà nuớc Việt-nam tổ chức nên số người đến đảo hàng ngày đông kinh khủng .

 

Một buổi chiều nọ, sau một ngày oi-bức làm việc mệt mỏi, đang lay-hoay xếp gọn lại hồ-sơ trước khi ra về, Bà thư ký người Mỹ dẫn vào một bé gái Việt nam chừng mười tuổi, tóc tai bù-xù, áo quần rách rưới, bà nói .

– Em bé này tàu đánh cá Mã-lai vừa vớt được, hình như tàu em bị đắm, mọi người trên tàu chết hết, chỉ mình em sống sót . Nhờ Anh làm Hồ-sơ lý-lịch trong khi tôi đi đến kho quần áo kiếm cho em vài bộ để thay . Nói xong, Bà để em ở lại với tôi và quay lưng đi ra .

Tôi chỉ tay bảo em ngồi xuống ghế . Em rụt rè sợ hãi, tay ôm chặt bịch nylon màu đỏ ép vào ngực và không dám ngồi . Tôi nhỏ nhẹ lên tiếng :

– Cháu đừng sợ – Cứ ngồi xuống ghế, đây không phải Việtnam Cọng sản đâu .Em rón rén ngồi xuống . Chiếc ghế vừa phải nhưng bây giờ lại quá rộng so với thân xác gầy gò của em .

Nhìn thoáng qua em , tôi thầm đoán , chắc là em không phải con nhà khá giả .

Thân em gầy guộc , da thịt xanh xao, có lẽ đói khát đã mấy ngày . Nhưng em có đôi mắt to đen và trong sáng , mặc dầu đang nhạt nhòa nước mắt và rưng rưng muốn khóc . Tuy nhiên nếu ở trạng thái bình thường, chắc là xinh xắn hơn những bé gái cùng trang lứa, nhờ đôi mắt đẹp, sóng mũi cao, miệng trái tim  .

Tôi đứng dậy rót ly nước ấm trao cho em và nói :

– Hãy uống ly nước ấm để tĩnh táo tinh thần, trước khi Chú hỏi lý-lịch của Cháu .

Em nhanh tay bưng ly nước để lên môi và nốc cạn . Tôi lấy ly rót thêm nước, em bưng lên uống tiếp . Trông thật tội nghiệp, không biết em đã đói khát bao nhiêu ngày trên biển ?? Tôi bắt đầu phỏng vấn em .

– Trước hết Chú muốn biêt Cháu tên họ là gì ?

Im lặng một lúc, tự nhiên em òa lên khóc . Tôi chờ đợi em bớt khóc và lập lại :

–  Cháu tên họ là gì ?

Em nhìn tôi với đôi mắt đẫm lệ, trả lời nho nhỏ  :

– Cháu tên Trần thị kim Diệp…..

Ngừng giây lát  …Rồi em ú ớ …à …à …như sực nhớ điều gì  …..và ấp úng nói :

–  Không phải …không phải …Cháu tên… Lý …Trần …A-Diệp …

Đã mấy tháng làm việc, tôi quen thuộc với những nguời khai gian lý-lịch .

Ví dụ như có gia đinh Thương-buôn lại khai đã ở trong Quân-đội để được đi Đệ-tam quốc-gia nhanh hon . Nhưng ngược lại, họ bị đưa vào trại điều-tra nên ra đi chậm hơn .

Tôi nhìn thẳng vào em và nói nhỏ :

– Cháu muốn đi định-cư sớm, phải nói thật tất cả . Nếu sau này có ai tìm Cháu thì dễ dàng hơn . Vậy thì Trần thị kim Diệp và Lý Trần A-Diệp , tên nào là tên thật của Cháu ? .

Em lại sụt-sùi khóc rồi không nói thêm gì nữa .Tôi vẫn kiên-nhẫn đợi chờ .

Thình lình Bà Mỹ trở lại, hai tay ôm áo quần và ổ bánh mì . Bà nói :

– May quá , chọn được ba bộ vừa cỡ và ổ bánh mì cho nó ăn đỡ đói .

Khi Bà bỏ áo quần và bánh mì lên bàn rồi quay gót đi ra,  tôi vội vàng gọi lại :

– Barbara !( Tên bà Mỹ) – Tôi nghĩ là Bà nên dẫn nó về ăn uống nghỉ ngơi đêm nay, sáng mai tôi sẽ làm hồ-sơ sớm nhất . Bây giờ mệt mỏi, nó chỉ khóc ,không trả lời được gì .

Bà Mỹ nói OK rồi gom áo quần, lấy bánh mì đưa nó và dắt đi …….

Em vừa đi vừa cạp bánh mì trông thật đáng thương  …………………………………

 

Trời chiều trên đảo, không có cây cao, nên bóng tối tràn về rất chậm . Thông thường khoảng hơn chín giờ tối mới nhìn thấy mặt trời đỏ ối chìm dần xuống lòng biển phương Tây .

Trại tỵ-nạn là nơi tập-hợp hàng ngàn căn lều vải quân-đội màu xanh lá cây, nằm san sát ven biển . Mỗi Lều chứa chừng vài ba chục người, và cai-quản bỡi Quân-đội Mã-lai . Dân tỵ nạn tại đây hầu hết là người thuộc Nam Việt-nam .

Chỉ có trại tỵ-nạn Hongkong là người miền Bắc Việt-nam chiếm đa số .  Họ sống trong trại chỉ để đợi chờ thủ tục đi định-cư nên không có những sinh- hoạt gì đáng chú-ý ngòai các Cha, các Sư, các Linh mục tập họp những người

mộ-đạo mỗi buổi tối để rao giảng, thuyết-pháp .

Như thường lệ, sau khi ăn tối, Tôi đi chân không trên cát ven biển để hít thở không khí trong lành, và đôi bàn chân được ngâm trong nước biển lạnh mát .

Nhìn lên bờ biển, nơi này vài đám thanh-niên chơi đá banh, nơi kia một đám khác đánh bóng chuyền . Đám trẻ con cũng chia phe đá banh hoặc chơi trò rượt bắt .

Một hình ảnh vui chơi nhộn nhịp bao quanh bỡi trời nước biển khơi .

Tôi vừa lội nước dọc theo bờ cát vừa suy nghĩ mông lung, nếu đất nuớc ta thanh-bình thực sự thì làm gì có thảm cảnh vượt biên ? Làm gì có gia-đình ly tán ? Làm gì có hàng chục ngàn người chìm xác dưới lòng biển sâu làm mồi

cho cá ?……..Và mình cũng không chứng kiến cảnh em bé áo quần tơi tả, da thịt xanh xao, thân xác gầy gò,  mặt mũi còn khiếp sợ hãi-hùng với hai hàng nước mắt chảy dài như em bé chiều nay ?

Khi lội qua khu lều dành riêng cho thiếu nhi tỵ nạn không Cha mẹ hoặc thân-nhân tháp tùng . Tôi bước chân lên bờ cát, thình lình bắt gặp hình ảnh một em bé ngồi bó gối, bất động, hai tay chống lên cằm, không buồn để ý những gì xung quanh, mặt hướng về biển khơi, trong khi nhiều em khác đang đùa giỡn, chơi rượt bắt hoặc đá banh đàng xa .

Tôi bước nhanh lên bờ và nhẹ nhàng đi bọc phía sau lưng em . Càng tiến đến gần, càng nhận ra hình dáng quen thuộc của em bé chiều nay, nhất là khi thấy bịch Nylon màu đỏ em ôm trước ngực .

Đến gần sát bên em nhưng em chẵng buồn quay lại . Tôi để ý thấy đôi vai gầy guộc có lúc rung lên bỡi tiếng khóc nức nở .

Tôi không muốn khuấy động giây phút riêng-tư, nhớ thương quê nhà và những  nguời thân thuộc của em, bèn đứng im lặng bên cạnh nhìn ra biển khơi và thầm nghĩ, tại sao mới ngần này tuổi mà em quá rạt rào tình cảm . Khác với hầu hết những đứa trẻ kia, bước chân lên đảo là vui chơi, có khi đánh nhau với những đứa khác và quên hết mọi chuyện hãi hùng xãy ra trên đường vượt biên .

Vài phút sau, tôi nhẹ nhàng ngồi xuống và khẻ gọi :  Diệp……Em ngước mặt quay sang, nhận ra tôi, em khoanh tay cúi đầu chào, trong khi nước mắt vẫn tuôn trào trên đôi gò má xanh xao  .  Tôi quàng tay vuốt nhẹ lưng em vỗ về :

– Thôi ! … Đừng khóc nửa ……

Trong khi chờ đợi em bớt khóc, tôi cố moi móc trong đầu những từ-ngữ nào dễ hiểu để khuyên nhủ em hãy chóng quên đi dĩ-vãng hãi hùng và sẵn sàng phấn- đấu hội-nhập vào xã-hội mới cho bước đường tương-lai còn quá dài của em .

Mặt khác, tôi cũng suy nghĩ làm thế nào để em xem tôi như người thân thuộc hầu vơi đi niềm đau-buồn đã trải qua, và tâm sự hết cuộc đời em cho tôi biết .

Muốn thế, trước tiên làm sao cho em vui rồi sắp đặt thứ tự những câu hỏi dễ dàng cho em .

Thấy em hết khóc, tôi hỏi :

– Chắc là Cháu nhớ Trường học, nhớ Bạn bè, Thầy Cô hả ?

Em chỉ lắc đầu, và không lên tiếng trả lời . Tôi nói tiếp với lời đùa cợt  :

–  À ! Chú biết rồi, Cháu nhớ con búp-bê trên giường ngủ và hủ kẹo cuả Cháu  cất giấu trong phòng chứ gì ?

Lần này em quay sang nhìn tôi và buồn bả nói :

– Cháu chưa bao giờ có hủ kẹo và búp-bê trên giường ngủ . Cháu không đuợc

đi học từ lúc bảy tuổi và ở nhà đi vớt lục-bình về xắt nhỏ trộn với cám cho heo ăn.

Thấy em bắt đầu nói chuyện, tôi suy nghĩ phải nói điều gì cho em cười vui, tôi bịa đặt câu chuyện và nói – Chú nhớ lúc nhỏ, nhà Chú nuôi con heo nái đẻ đuợc năm con rất dễ thương .

Một hôm trong nhà đi vắng, Chú bắt một con heo-con đẹp nhất đem về phòng chơi với Chú . Heo mẹ mất con nên eng-ẻng kêu suốt ngày , nghe điếc tai .

Ông Anh bắt buộc Chú trả lại cho mẹ nó . Chú ôm heo-con xuống chuồng, thấy heo mẹ nằm cho con bú trong góc xa, Chú ráng chồm nguời ra xa để bỏ heo-con vào gần heo mẹ, không ngờ heo mẹ vùng dậy hét lên làm Chú giật mình té

vào chuồng, mình mẩy dính đầy phân heo . Hôi thối quá trời, Chú tắm hai ba lần vẫn không hết hôi ………

 

Không ngờ , Em ngữa mặt lên trời cười ngặt nghẽo ………… rồi hỏi :

– Sao chú không tắm bằng xà bông thơm ?

Tôi không trả lời, làm bộ cười thích thú để hòa cùng tiếng cười với em .

Thì ra, những buồn khổ đớn đau em đã trải qua, không thể xóa nhòa được bản tính hồn-nhiên của tuổi thơ đang có trong em . Tôi thầm nghĩ, Tôi đã thành công một phần trong việc kết thân để tìm hiểu lý-lịch em . Tôi nói tiếp :

– Hồi nãy nghe nói Cháu không bao giờ có hủ kẹo, vậy Cháu có thường ăn kẹo   không ?  . Em suy nghĩ một lúc rồi đáp :

– Mỗi năm có ăn vài lần, con Ông Chảy chạp-phô cho .

Từ khi làm việc tại trại này, tôi không thấy ai bán kẹo, ngoại trừ có vài gia-đình gửi tiền nhờ lính Mã-lai ra phố mua Đường, Đậu, Nếp…….. nấu xôi chè hoặc làm bánh bán loanh quanh trong trại mà thôi . Tôi nói với em :

– Chú muốn mua kẹo cho Cháu nhưng ở đây không ai bán kẹo, hay là ta đi ăn   chè, Cháu thích ăn chè không ? . Em gật đầu . Tôi nắm tay em kéo dậy, rồi dắt em đi tìm quán bán chè .

 

Trời bắt đầu nhá-nhem tối, những cột đen dã-chiến xung quanh trại đã sáng lên.

 Không khí nóng bắt đầu chuyển đổi thành mát lạnh rất dễ chịu .

Tuy nhiên em vẫn buớc đi co-ro bên tôi, tay bưng ly giấy đựng chè như muốn đổ ra ngoài .

Tôi giành lấy, bưng cả hai ly chè của em của tôi và đến ngồi duới cột đèn sang nhất . Em ăn trông có vẻ ngon lành như chưa bao giờ được ăn .

Vừa ăn xong ly chè , em lên tiếng :

– Cháu không biết tại sao Cháu sống đuợc đến hôm nay ? vì Cháu nghĩ chắc chắn sẽ chết vì kiệt sức hoặc sẽ bị cá mập ăn .

Tôi sợ em nhớ lại chuyện hãi-hùng trên biển rồi khóc, làm hỏng chủ đích phỏng vấn của tôi tối nay, nên gat ngang nói :

– Thôi, đừng nghỉ đến chuyện hãi-hùng trên biển nữa, để Chú kể chuyện này cho nghe . Một lần nữa Tôi sáng tác chuyện Phật Bà Quan-Âm cứu nguời trên Biển Đông  .

Sau khi nghe xong, tự nhiên em nói :

–  Chắc chắn là Cháu đuợc Phật Bà Quan-Âm cứu rồi . Tôi trả lời :

–  Ừ , có thể là đúng . Vậy từ nay, khi nằm lên giường ngủ, Cháu hãy nhắm mắt  cầu nguyện : " Lạy Phật Bà Quán-Âm, Con cám ơn Phật Bà đã cứu con và  xin    Phật Bà tiếp tục phò trợ Con những tháng ngày sắp tới . " .

Tôi bắt em lặp đi lặp lại nhiều lần truớc khi lấy cuốn sổ tay nhỏ và bắt đầu phỏng vấn em .

Một điều ngạc nhiên là em trả lời rất mạch lạc, như một nguời lớn đang tường thuật về cuộc đời mình . Có lúc cảm động quá, cả em và tôi cùng đưa tay mình lên chùi nước mắt .

Đã gần mười một giờ đêm, em bắt đầu ngáp vì buồn ngủ và câu chuyện cũng đến hồi kết thúc . Tôi dẫn em về trại, bảo em lên giường nằm, tôi đắp chăn, xoa đầu em từ giả , và không quên bảo em nhắm mắt cầu nguyện trước khi ngủ.

Trên đường vê, tôi tự nhủ , dù đêm nay có thức đến sáng, tôi cũng phải viết cho xong câu chuyện Ông Lý A-Chảy làm điều nhân-nghĩa ….

 

                                **         **

                                     **

 

Mọi người buôn bán trong chợ Cầu-quay hay Chợ mới Long-xuyên, không ai có thể quên đuợc hình dáng ông Chảy chạp-phô .

Cứ tưởng tượng những chú Chệt ở Chợ Lớn ngày nào, quần xà lỏn áo thun, phơi cái bụng phệ ra trước, cái đầu hói, đứng truớc tiệm tạp-hóa với nụ cuời chào mời khách hàng " Lị mua cái lày, hàng tốt mới dìa " thì ông Chảy chạp-phô cũng thế .

Tuy nhiên, ông Chảy chạp-phô có thêm những đức tính xuề-xòa, vui cười hiền hậu,và thương yêu giúp đỡ nguời khác, bất kể là Việt hay Tàu .

Ông có căn lầu ba tầng ở dãy phố cuối Chợ .Bà Vợ cũng mập phì chẵng kém gì ông . Hai đứa con trai, tuổi lên 9 và 11 noi gương Bố Mẹ nên đi không muốn nổi  Đúng là giòng-dỏi Họ-Mập .

Người ta gọi ông là ông Chảy chạp-phô vì ông tên Lý A-Chảy, buôn sỉ và lẽ hàng tạp-hóa . Hầu hết những nguời buôn bán tạp hóa tại đây đều lấy hàng sỉ của ông . Nếu ai không có tiền trả trước , ông cho thiếu chịu , như trường hợp cô Kim-Hương , thuờng xuyên thiếu chịu nhưng ông vẫn cho lấy hàng . Có thể Kim-Hương là truờng hợp đặc biệt .

Nhớ lại mấy năm truớc, lần đầu tiên đến mua hàng, Kim-Hương đã nói thật với ông bằng những lời cảm động như van xin  :

– Cháu không có Cha Mẹ, ở tuốt trong ruộng với Bà Cô độc thân . Bây giờ Bà Cô bị bệnh qua đời nên Cháu ra thành phố lập nghiệp .  Vốn liếng chẵng có là bao nhờ ông giúp giùm cho mua hàng sỉ để bán kiếm lời .

Ông nhìn K.Hương từ đầu đến chân rồi hỏi :

– " Lị lược mấy cái tuổi ? " .

– Dạ , năm nay cháu mười chín .

Ông suy nghĩ một lúc rồi bảo :

– " Lược , muống báng cái gì cứ lấy li . Ngộ tính giá sỉ cho ." .

Những ngày sau đó, ông thường ra chợ, đến chỗ K.Hương bán hàng, chỉ vẻ sắp cái này chỗ này, xếp cái kia vào chỗ nọ theo thứ tự cho dễ bán . Hương răm rắp làm theo nên ông rất hài lòng .

Có những hôm bán hết hàng, ông sai hai thằng con đem hàng ra cho Hương .

Với bản tính nhân đức của Ông Chảy, khi đã tin tưởng rồi thì ông đem hết tấm lòng ra giúp mà không bao giờ đắn đo, suy nghĩ thiệt hơn .

Hơn thế nủa, đã hơn nửa năm giúp Hương buôn bán, bây giờ Hương đã có số vốn khá nhiều nhưng ông vẫn tiếp tục giúp, có lẻ vì Hương đã tuyên bố với mọi người trong chợ, Ông Bà Chảy là Ba Mẹ nuôi và Ông Bà rất vui vẻ nhận lời .

Một buổi sáng ông ra chợ, thấy Hương đang ngồi nói chuyện thân mật với một thanh niên đứng đối diện, mặc quân phục nhảy dù mang lon Chuẩn-úy . Ông xăm xăm đi tớí đứng truớc gian hàng, nhìn có vẻ dò xét . Hương hiểu ý nên đứng dậy cúi đầu chào rồi giới-thiệu :

– Thưa Ba nuôi, đây là bạn con, anh Trực ,  mới đi phép về đây .

Trực quay lại, làm một cử chỉ rất lễ phép, lấy cái mủ đỏ trên đầu xuống, khoanh tay cúi đầu chào :

– Dạ chào Kây-Pa ( Ba nuôi )

Ông Chảy chưng-hửng hỏi lại với vẻ ngạc nhiên :

– " Lị cũng nguời Hoa hay sao mà biếc cách xưng hô ? "

– Dạ không, con chơi với mấy đứa bạn nguời Hoa nên biết .

– " Lược dồi – Cứ lói chiệng chơi, ngộ phải dìa báng hàng . " .

Ông Chảy rất tế nhị, biết chuyện tình Hương và Trực còn nóng bỏng nên không muốn ở lại làm phiền .

Linh-cảm đuợc sự kết thân với ông bà Chảy là điều tốt lành nên tối hôm đó Trực mời Hương và cả gia-đinh ông Chảy đi ăn cơm tối .Trong bữa cơm, Bà Chảy thường nói bằng tiếng Hoa với Ông, đại khái Bà khen cặp này rất đẹp đôi, nếu nên duyên Chồng Vợ thì quá tốt . Dầu sao, Hương được xem như hoa-hậu trong xóm chợ này, còn Trực thì đẹp trai và trông rất oai hùng với bộ đồ trận rằn-ri có cánh hoa dù . Ông Bà Chảy thấy Hương có nguời yêu xứng đôi vừa lứa nên rất vui vẻ mừng rỡ .

Sáng hôm sau, khi Hương vừa mở cữa buôn bán, ông Chảy vội đến nói :

– " Bả bảo Ngọ lói với Lị nên đi coi tuổi để làm lễ cưới càng xớm càng tốt ." .

Hương buồn bả, cúi gầm mặt xuống và nói :

– Dạ thưa Ba nuôi con đã coi rồi . Anh Trực tuổi Dần ,con tuổi Tỵ nên ông Thầy         bảo không nên lấy nhau, vì Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung . Lấy nhau sau này sẽ ly tán hoặc chết chóc .

Ông Chảy thở dài buồn bả đi trở ra, không nói lời nào, khiến Hương cũng buồn lây và rơm rớm nuớc mắt .

Buổi chiều khi tan chợ, thấy Bà Chảy xuất hiện, vừa buớc vào quán Bà hỏi :

– Hôm nay Trực có ra chơi không ?

– Dạ có, buổi sáng nay .

– Tối nay hai nguời có gặp nhau không ?

– Dạ, lát nửa tụi con sẽ đi ăn cơm với nhau .

– Ừ, tốt – Bảo nó nếu đa thương nhau thì nên tiến tới càng sớm càng tốt . Chuyện coi tuổi chỉ coi cho biết vậy thôi, sau này sống chung thì cùng nhau cầu nguyện, Ơn trên sẽ phò hộ cho . Như truờng hợp ông Chảy và Tôi cũng thế, Ổng tuổi Thân, Tôi tuổi Hợi, sống với nhau mấy chục năm nay có sao đâu ?

Khi Bà Chảy đi rồi, Hương ngồi thẫn thờ, suy nghĩ vẫn vơ :

Bây giờ tình yêu đa chín mùi rồi, làm sao thối lui cho đuợc . Làm sao tìm đuợc nguời cùng hòan cảnh với mình như anh Trực .  Điều mà Hương biết rõ nhất là mình không thể thiếu vắng Trực trong cuộc đời .

Yêu thương mình, hiểu rõ mình, đồng cảnh ngộ với mình thì còn tiêu-chuẩn nào hơn cho nguời con gái, trong việc lựa chọn người chồng tương lai ?

Anh Trực thuỡ thiếu thời, mồ côi Cha Mẹ, bà Dì nuôi ăn học cho đến khi Dì lâm trọng bịnh qua đời .Anh kẹt tuổi động-viên nên bỏ học vào trường Sỉ-quan Thủ-Đức rồi chọn Binh-chủng Nhảy-dù .

Lần gặp đầu tiên như có thần-giao-cách-cảm, nhất là khi anh nói :

– Trong đời này, ngoài nguời Vợ là tình thân ruột thịt, anh chẵng còn ai .

Cũng như Hương, ngoài người Chồng, chẵng còn ai là nguời thân thuộc .

Thế nhưng khi nhớ lại lời ông thầy bói ở Chùa Ông, đường Nguyễn Trung-Trực thì Hương có tâm trạng như tiến-thối lưỡng-nan .

Sau đó, có lần Trực bắt Hương hứa từ nay không đuợc nghĩ quanh-quẫn .

Trực nói : "  Con đường duy nhất chúng ta phải đi là con đường hạnh-phúc bên nhau ."

Bây giờ lại thêm Bà Chảy đốc thúc làm Hương yên lòng hơn, không còn suy nghĩ chuyện thối lui nửa .  

Do đó, lần về phép kế tiếp là tiệc cưới của Trần Xuân-Trực và Nguyễn thị Kim-Hương . Ông Bà Chảy đứng ra lo toan mọi chuyện . Đám cưới đơn sơ, chỉ có vài bàn mời bạn bè quen biết .

Những năm đầu, ôi ! biết bao hạnh phúc, cứ vài ba tháng Trực về phép một tuần hoặc có lúc Hương nghỉ buôn bán vài ngày lên Sài-gòn thăm chồng .

Đứa con gái đầu lòng ra đời lấy tên Trần thị Kim-Diệp từ đó .

Hương một tay vừa buôn bán vừa nuôi con với sự tiếp sức của Ông Bà Chảy.  Mãi tới đầu năm 1974,  Diệp lên bảy tuổi, Hương mới mang thai đứa thứ nhì .

Sự thực lâu nay Trực không muốn Hương mang thai và sinh đẻ nửa vì Bác-sỉ cho hay Hương bị bịnh yếu tim .

Năm nay là năm vận hạn xấu nhứt của Hương và Trực, và cũng là năm tồi tệ nhất về tình hình đất nuớc Việt Nam .

Chiến tranh leo thang, xã-hội rối loạn, kinh tế tuột dốc, vật giá tăng cao và khan hiếm .  Ngoài tiền-tuyến áp-lực địch gia tăng, noi hậu-phương địch quân len lỏi vào mọi tầng lớp quần-chúng cũng như Trường học nên thường xuyên có những cuộc biểu tình, bải trường, bải khóa ……..Dân chúng không bán buôn gì đuợc .

Cuộc chiến lúc này quá sôi động nên Trực đi hành quân liên miên . Khi thì vùng A-Sao, A-Luới hoặc những vùng biên-giới Việt-Lào , Việt-Miên nên không còn được đi phép như xưa .

Gần cuối năm 1974, Ông Chảy thấy tình thế quá xáo trộn và bất ổn , hơn nửa, hai thằng con đã đến tuổi quân-dịch,  Ông bèn bỏ ra mười mấy lạng vàng lo giấy tờ du-học và mua vé máy bay cho bà Chảy đem hai con đi Hồng Kông .

Ông Chảy dự tính ở lại bán xong tài sản rồi tìm cách trốn qua Hồng Kông sau này  .

Bà Chảy và hai con đi rồi Hương như mất một cánh tay , lúc này bụng mang dạ chửa sắp tới ngày sinh nở, ai là nguời giúp Hương đón đua bé Diệp học hành .

Anh Trực thì biền biệt mấy tháng nay không nghe tin tức .

Dân bán buôn trong chợ cứ cách vài hôm là có người đi nhận xác Chồng, xác Cha, xác Anh, xác Em .

Hương chứng kiến cảnh than khóc mà buồn thúi ruột .

Những lúc rảnh rỗi bán buôn là Hương ngồi nhắm mắt nguyện cầu  .

Có lúc quá lo sợ, Hương nhủ thầm, chuyến này Trực về phép, sẽ bảo anh đào ngủ, rồi Vợ Chồng con cái về quê làm ruộng sinh sống sẽ đỡ lo lắng hơn .

Chứ bây giờ ngày nào cũng lo âu sầu khổ , có ngày bệnh tim tái phát chắc chết mất .

Nhưng rồi chuyện gì đến cũng phải đến, một buổi sáng thức dậy Hương cảm thấy bồn chồn trong dạ . Hai con mắt cay cay và cứ chớp liên hồi.

Hương thầm nghĩ có lẻ vì bào thai đã lớn nên hành mẹ . Trong người bần-thần mệt mỏi, không dắt bé Diệp đi học đuợc  . Con bé mới bảy tuổi nhưng rất khôn ngoan, lanh lẹ, thường giúp Hương sắp xếp hàng hóa và bán hàng mỗi khi có khách đông .

Gần đến xế chiều, Hương nghe phía cuối chợ có tiếng xôn xao hỏi han chỉ vẻ :

– Đàng kia kìa , đàng kia kìa – Tin lành hay tin dữ hả chú ?  Sao không trả lời ? Hương ngẩng đầu lên nhìn, thấy Bà Sáu, bà Thông và ba bốn bà nửa đi theo anh lính mặc quân phục dù, nón bê-rê đỏ đi về huớng mình . Hương toát mồ hôi lạnh, mặt mày tái xanh, biết là sẽ nghe chuyện chẵng lành . Anh lính đến đứng truớc mặt Hương hỏi :

– Xin lỗi, có phải Chị Hương ?

Hương nhẹ gật đầu, cố lấy hết can đảm để lắng nghe và các Bà đi theo, ai cũng im lặng đợi chờ .

Bất ngờ anh lính oà lên khóc hu hu như đứa trẻ rồi vừa nói vừa nấc lên trong nghẹn ngào :

– Ông Thầy em… Thầy Trực của em ….bị thương nặng lắm ….đang nằm mê man bất tinh ở Bệnh viện Cọng Hòa Sài gòn ……..hu …hu …hu   .

Hương chỉ nghe đến đó, rồi bất tĩnh ngả lăn xuống đất . Bà Sáu và Bà Thông la hoảng lên :

– Tránh ra, tránh ra ….Ai có chai dầu gió xanh, đem lại cho tôi gấp .

Thế là các Bà kẻ xoa người bóp, nguyên cả Chợ xôn xao và lo lắng .

Vài phút sau, Bà Thông vùng đứng lên, vừa chạy vừa la :

– Gọi xích lô giùm – Gọi xích lô – Xích lô – Xích lô ……. Nó đa ngừng thở . Chở đi Bệnh viện gấp – Trời đất oi, xin Trời Phật cứu giúp cho ………….Bà vừa la hét vừa than khóc nghe xót xa, nảo nùng ….

Bé Diệp với nét mặt sợ hãi, khóc la và chạy về thông báo ông Chảy .. 

 

                          **               **

                                  **

Ông Trung-tá Bác-sỉ thuộc Quân-y Viện Long xuyên cầm xấp hồ sơ ra hành lang gặp ông Chảy đang ngồi ủ-rủ với bé Diệp, nói lời chia buồn và cho biết :

– Nếu lúc tim ngưng đập, có nguời nào biết làm hô-hấp nhân tạo thì có thể cứu sống khi đến bệnh-viện . Khổ nổi, các Bà ngoài chợ chỉ biết bôi dầu gió và xoa bóp tay chân .

Phải biết rằng chỉ có vài phút tim ngừng đập là đứa trẻ trong bụng sẽ chết . Huống gì từ khi cô Hương tắt thở đến khi vào đây đã hơn bốn mươi lăm phút . Do đó, cả Mẹ lẩn Con không thể cứu đuợc . Xin thành thật chia buồn …………

Ông Chảy đứng nghẹn ngào tức tưởi, ngữa mặt lên trần nhà, giang rộng hai cánh tay với đôi mắt đầm đìa nuớc mắt nói lớn :

– " Chời lấc ơi ! Sao Chời Phậc không cứu giúp người hiềng lức ?  . Chời ơi là chời  !."……Ông nấc lên nghẹn ngào và lặp đi lặp lại " Chời Phậc ơi ! " ….

Tiếng ông than khóc vang dội cả hành lang bệnh viện, hầu hết bệnh-nhân và y-tá thò đầu ra khỏi phòng để xem .

Trong giây lát, ông như sực nhớ điều gì, bèn lấy áo lau nước mắt và nói :

– Thưa Bác sỉ , đứa con trong bụng đa lớn, nếu khâm liệm như thế thì tội quá . Xin Bác sỉ mỗ đem đứa bé ra để chúng tôi chôn cất riêng rẽ  .

–  Ông khỏi lo, Tôi đã nghĩ đến điều đó và tối nay cho thi hành . Bây giờ ông cứ về sửa soạn tang lễ, ngày mai đến nhận hai xác đem về .

Ông Chảy cúi đầu cám on rồi dẫn bé Diệp ra khỏi Bệnh viện ..

 

Ông Chảy giờ đây như nguời mất hồn, may mà có bé Diệp nghỉ học giúp ông buôn bán .

Thực sự từ lúc Bà Chảy và hai con ra đi, ông không lên Sài-gòn lấy thêm hàng hoá, cố tình bán hết hàng để lo chuyện sang Hồng Kông sống với Vợ Con .  Nhưng nay lại đeo thêm món nợ Dương-trần quá nặng, dù không muốn cũng phải mang . Đó là bé Diệp và nguời Cha tàn phế .

Khi chôn cất hai Mẹ Con Hương xong, ông có ý định để lại căn nhà và một ít tiền bạc cho hai cha con bé Diệp truớc khi sang Hông kông  .

Ông ráng làm tròn bổn phận người Cha nuôi để linh-hồn Hương nơi chín suối không buồn tủi .

Nhưng kể từ khi đem bé Diệp lên Bệnh viện Sài gòn thăm Trực, ông bắt buộc phải tính toán đường khác, bỡi Bác sỉ cho hay sự hy vọng sống sót của Trực chỉ có chừng 15 đến 20 phần trăm .

Đã gần hai tháng Trực chưa một lần hồi tĩnh . Nằm bất động và thở bằng máy Oxy, chân Phải cưa lên tới háng, chân Trái cưa đến đầu gối, ngực và bụng thì may không biết bao nhiêu đường, hoàn toàn không ăn uống gì đuợc . Chắc trước sau rồi cũng sẽ chết . Đó là hậu quả Trung -đội của Trực nhảy dù ban đêm trúng ngay bãi mìn .

Do đó, khi trở về Long xuyên, ông bỏ ra mấy chỉ vàng làm lại khai sinh cho Diệp với tên mới là Lý Trần A-Diệp, để dễ dàng làm giấy tờ ra đi sau này .

Ông Chảy là dân thương buôn, tính toán rất kỷ , nhưng không hiểu tại sao Trời Đất vẫn chưa giúp ông .

Khi giấy tờ xuất ngoại đang tiến hành nửa chừng, thì ngày định-mệnh u-tối của đất nước Việt Nam 30 tháng tu 1975 ập đến.

Một cuộc đổi đời hổn loạn từ thành thị đến thôn quê . Quân đội Việt cọng ào ạt từ Rừng xuống Phố, từ Bắc vào Nam mang theo gia-đình vợ con .

Thành phố nào cũng đông nghẹt Gia-đình Bộ-đội, xông vào chiếm cứ nhà dân miền Nam để ở, Nhất là những căn nhà lầu  . Căn nhà ông Chảy cũng cùng chung số phận.

Ba Gia-đinh Bộ-đội,  mỗi Gia-đinh một tầng lầu . Đuổi Ông Chảy và bé Diệp ra sống lang thang  ngoài Chợ .

Không một nguời dân nào kể cả ông Chảy được quyền kêu la khiếu nại, lý do là Nhà nước đang mở Chiến-dịch " Quét sạch Tư-sản Mại-bản đã dùng xương máu nhân dân xây nhà lầu . Giờ đây, Cán bộ nhân dân có quyền vào ở .  " .

Ai chống đối sẽ đuợc mang bản án " Chống Chính phủ Cách mạng " ở tù rục xương .

Quá chán ngán với cuộc sống hiện tại, ông Chảy ngày nào cũng đi thăm dò những bạn bè người Hoa để tìm đường vượt biên .

Qua kinh nghiệm mấy lần đổi tiền, nên khi đổi xong là ông mua vàng chôn giấu ngoài Chợ, chỉ chừa một ít tiền mặt sống độ nhật .

Thêm vào đó, để che mắt cán bộ phường khóm, mọi nguời dân phải làm việc để tăng-gia sản-xuất, ông mua hai con heo con, gọi là có nghề nuôi heo sinh sống, thả chạy rong ngoài Chợ, có bé Diệp trông coi và hàng ngày đi vớt lục-bình cho heo ăn  .

 

Đa mấy tháng nay lo suy tính quá độ nên bây giờ bị bịnh mất ngủ . Trưa nay ông Chảy cột chiếc ghe máy vào cành cây có bóng mát nằm nghỉ lưng .

Giờ đây tuổi tác đã cao, tóc đã bạc, mắt đã mờ, tai điếc, răng rụng gần hết, trí nhớ kém cỏi . Nhưng Ông nhất định phải vận dụng hết mọi khả năng để làm một chuyến vượt thoát cuối cùng dù có bỏ mạng trên biển cũng đành cam .

Ông thắc mắc sao mọi chuyện trong cuộc Đổi-đời xảy ra với thờì gian quá ngắn, chỉ có vài ba năm , không tưởng tượng nổi .

Một khúc film quay ngược về trong trí óc ông .

Kể từ lúc nhận vợ chồng Trưc-Hương làm con nuôi, ông rất hảnh diện và được mọi người trong nể . Đám du-đảng xưa kia thường đến làm tiền, bây giờ nghe danh ông Chảy có con là Thiếu-úy nhảy-dù nên không dám đến quấy phá.  

Chẳng đuợc bao lâu thì Sang, anh lính cận vệ của Trực về báo tin buồn Trực bị thương nặng, Hương bị bệnh chấn động tim bộc-phát nên qua đời .

Nguời lính cận vệ tên Sang, quê ở gò-vấp, gần Quân-Y  viện Cọng-Hòa nên thường ra vào thăm nuôi Trực cho đến ngày mất nuớc .

Sau khi mất nước, ông Chảy dắt bé Diệp lên Sài gòn thăm để từ giả Trực đi vuợt biên . Đến nhà Sang  dò la tin tức , Sang kể cho hay :

– " Bác Chảy ơi, thật là một cảnh tượng hãi-hùng, kinh-khiếp mà theo Cháu nghĩ chỉ có trên đất nước Việt nam này thôi . Thật quá tàn ác và vô-nhân-đạo .

Sáng ngày 01-05-1975, Thương bệnh binh thuộc tất cả Quân-Y-Viện  các Tỉnh miền Nam từ Quảng-trị đến Cà-mâu đều bị đuổi ra khỏi Bệnh viện . Họ không cần biết ai, bệnh nặng nhẹ cỡ nào .

Buổi sáng hôm sau Cháu đến thăm anh Trực thì chứng kiến cảnh hàng chục người mù đi được, đang cỏng những nguời què sáng mắt, rồi hàng trăm nguời khác, kẻ bò người lết ngổn ngang ra ngoài Cổng bệnh viện, không còn sức lực nên nằm chờ chết bên lề đường .

Mùi tanh hôi xông lên nồng nặc bỡi có những nguời đa chết sình thối . Các Thương binh nằm liệt giường như Anh Trực thì họ tháo gỡ ống thở, đẩy ra ngoài sân chờ xe đem đi chôn tập thể .

Cháu phải hối lộ Anh Bộ-đội hai cây thuốc lá, mới đuợc mang hai lít xăng và bó nhang vào phía sau Bệnh-viện làm lễ Hỏa-táng anh Trực …

Kể đến đó, Sang nấc lên khóc trong nghẹn ngào . Ông Chảy và bé Diệp cũng oà lên khóc theo  "….

 

Hơn một năm sau, ông Chảy tìm được đường dây vượt biên nhưng xui xẻo thay, gần ba giờ sáng xuống ghe nhỏ ở xả Long-phú gần Cữa Định-An để ra Ghe lớn đi Mả-lai thì tàu Công-an chận bắt một giờ sau đó .

Kết quả, Ông Chảy mất mười lăm cây vàng và ngồi tù sáu tháng . Bé Diệp trở lại sống lang thang ở Chợ Long-xuyên trong thời gian ông ở tù .

Khi ra tù, Ông Chảy gom góp số vàng còn lại, lần này ông tính toán thật kỷ . Ông trả hai cây vàng lo Hộ-khẩu sống trên chiếc ghe máy để làm nghề đánh cá, hoặc đôi lúc chuyên chở hàng hoá Long-xuyên Cần-Thơ .

Ban đầu Cán-bộ không tin, sợ ông dùng ghe vượt biên . Ông cố gắng đút lót thêm ít tiền nên mọi chuyện mới êm xuôi .

Nhưng rồi cung mất gần hai năm sau, Cán-bộ thuộc các trạm canh gác dọc bờ sông  mới quen mặt và tin tưởng đuợc ông .

Ông tính toán từ Long-xuyên đến Cữa Định-An có tất cả sáu trạm kiểm soát bờ sông . Nếu cho mỗi trạm hai ký thịt heo và năm lít rượu đế thì chỉ mất chừng một cây vàng . Thông thường các trạm kiểm soát bờ sông về đem thường ăn nhậu hơn là canh gác . Biết đuợc nhược điểm này nên chiều hôm trước ông đem rượu thịt đến biếu và khởi hành khoảng mười hai giờ đêm .

Mọi chuyện êm xuôi như đã định .  Chiếc ghe một block máy tăng tốc độ tối đa khi ra khỏi cuã Định-An . Đến lúc mặt trời vừa ló dạng phía Đông trước mặt thì nhìn lại đằng sau không thấy đất liền , ông yên chí bảo Diệp pha bình trà và làm tô mì gói .

Biển hôm nay sao thật êm, thật đẹp, ghe chạy trên biển mà giống như trong sông .

Truớc khi đi Ông đã lén lút học kinh-nghiệm đi biển từ Ông bạn thân . Ông bạn khuyên không nên đi biển tháng mười hai là tháng biển động . Nhưng ông Chảy thì nghĩ rằng vì gần ngày Tết, Bộ-đội và Dân chúng đều bận rộn sắm Tết, không ai để ý chuyện vượt biên nên ông nhứt quyết ra đi .

Ông bạn còn dạy cho cách xác-định phương-hướng, phải học thuộc lòng :

" Phải Đông, Trái Tây, Nam sau,Bắc truớc " , nghĩa là buổi sáng để vai Phải về phía mặt trời, tức vai Trái là hướng Tây . Buổi chiều thì để vai Trái về phía mặt trời, tức vai Phải là hướng Đông . Còn Nam sau, Bắc truớc thì không thay đổi .

Ngoài ra, khi biển động, tuyệt đối không được lái ghe đi sóng ngang, sẽ dễ dàng bị lật, mà phải đi theo chiều của đợt sóng .

Vốn liếng đi biển của ông Chảy chỉ có vậy và mua đuợc hai chiếc phao tròn nhỏ, bé Diệp có thể tròng lọt vào cổ rất an toàn nhưng ông Chảy vì thân hình quá lớn nên chỉ ôm vào ngực mà thôi .

Ông bạn còn khuyên không nên đi Hồng Kông, vì phải đi hướng Đông-Bắc, ngược sóng mùa này và đường dài hơn hai lần đi Mã-lai .

Tuân theo sự chỉ dẫn của ông bạn, bây giờ ông quẹo Phải chín mươi độ quay mũi ghe về hướng Nam đi Mã-lai . Dự trù khoảng chừng ba ngày ba đêm là tới .

Ông Chảy là người nổi tiếng cẩn thận, mặc dù biển êm gió lặng nhưng ông bắt buộc Diệp phải cột phao vào người thường xuyên và máng cái túi Nylon màu đỏ vào cổ . Túi này ông Chảy cẩn thận bọc chặt hai ba lớp, không cho nuớc thấm vào vì bên trong có tấm hình Ba Mẹ Diệp .

Sau khi đi đuợc ba ngày hai đêm, đêm thứ ba thì biển động mạnh . Mưa bảo ùn ùn kéo tới . Những đợt sóng lớn làm ghe bị bắn tung lên cao rồi như rơi xuống vực thẵm . Trong cơn mưa bảo tầm tả, ông vẫn ghì chặt tay lái, miệng kêu lớn :  –  Diệp phải ôm ghì chặt vào mạn ghe, coi chừng bị hất tung ra biển .

Khi trời còn sáng, ông còn thấy đường giữ tay lái để ghe đi theo đợt sóng . Nhưng khi trời bắt đầu tối đen như mực, ông chẵng thấy được gì nên có lúc ghe nằm ngang trên đầu sóng như muốn lật nghiêng .

Cứ tiếp tục hết cơn mưa bảo này ập tới rồi cơn mưa bảo khác . Ông cầm cự cho tới gần nữa đêm thì sức cùng lực kiệt, nước mưa nước biển làm ngập máy nên tắt luôn . Tay lái xem như bất khiển dụng . Hai Ông Cháu phó thác cho Trời Đất chỉ được vài giây đồng hồ, tiếp theo là cơn bảo lớn thổi lật úp chiếc ghe và hất tung hai ông cháu văng ra biển . Trong đêm vắng, Diệp chỉ nghe tiếng ông kêu thất thanh : D… i… ệ …. p……………

Thân xác ông Chảy to lớn, lại không biết bơi và cũng không chụp đuợc phao nên đã chìm sâu vào lòng biển ..

Còn Diệp nhờ chiếc phao cột sẵn vào nguời, biết bơi chút đỉnh nên cầm cự tới sáng hôm sau và được tàu đánh cá Mã-lai vớt ..

                                                                  

 Những ngày tháng bận rộn công việc, khiến đầu óc quay cuồng, nhất là chuyện bé Diệp nên thời gian trôi đi quá nhanh . Thấm thoắt Tôi làm  việc tại đây đã gần một năm .

Bé Diệp đáng lẻ có người bảo-trợ sớm nhưng Tôi chần chờ để cố gắng tìm Cha Mẹ nuôi thật tốt hơn, mặt khác, đang liên lạc Hồng Kông tìm bà Chảy .

Tuần rồi nhận thư thằng bạn kèm với những thư offer Job của các Hãng lớn .

Nghĩ rằng đây là cơ-hội tốt nên bắt buộc Tôi phải về Mỹ để chọn lựa công việc .

Chiều hôm qua khi tan sở, Tôi rủ Barbara cùng với bé Diệp ra bãi cát ngồi hóng gió biển, với chủ đích Tôi muốn gửi bé lại cho Bà ta lo lắng . Nhưng khi nghe Tôi kể xong câu chuyện thương tâm, Barbara với hai hàng nước mắt đầm đia, kéo bé Diệp ôm sát vào lòng và nói với tôi :

–  Tôi sẽ là người bảo-trợ bé . Chính Tôi sẽ là Mẹ nuôi của Diệp .

Nhìn hình ảnh Barbara ôm bé Diệp, Tôi không cầm đuợc nuớc mắt, có lẻ vì vui sướng hơn là cảm động .

Bà Barbara đề nghị Tôi phải sửa lại Hồ-sơ bé Diệp để khỏi tìm kiếm bà Tăng Kim Huệ, vợ ông Chảy và hai con ở Hồng-Kông . Bỡi vì chưa chắc bà Huệ muốn bảo trợ bé, hơn nửa, bé Diệp qua Mỹ sẽ có nhiều cơ-hội tiến thân hơn .

Kể từ hôm đó, Bà Barbara chăm sóc và dạy Anh văn cho bé Diệp hàng ngày .

 

Đã gần ba mươi năm qua, kể từ lúc ông Chảy giả-từ Muà Xuân Trần-thế trên biển Đông . Bây giờ muà Xuân về trên đất Mỹ, nhìn hàng Anh Đào nở đầy hoa , trong Tôi vẫn chưa vơi niềm uẩn-khúc, nhất là khi nhớ lại lời ông Chảy than trách : " Sao Trời Phật không cứu giúp người hiền đức  ? " .

Điều này nếu để tâm tìm hiểu thêm kinh sách của Chúa, của Phật , ta sẽ thấy :

Những con Chiên của Chúa hay người theo Chúa khi chết thì xem như : " Đuợc Chúa gọi về " . Chắc chắn sống bên cạnh Chúa , trong " Nước Chúa " , sẽ đời đời sung sướng hạnh phúc . Đó là Thiên-Đàng hay Cõi Vinh-Hằng .

Những ai theo Phật khi chết được gọi là : " Đi đầu thai kiếp khác " . Sướng khổ tùy theo Nhân-quả Luân-Hồi . Có thể là " Niết-bàn , Miền Cực-Lạc  " hay " Địa-ngục " . Có nghiã là khi con người không còn vương vấn bụi-trần thì đuợc Chúa gọi đi hay chấm dứt cuộc đời Dương-thế để về miền Miên-Viễn .

Xem như ông Chảy đã dứt sạch Nợ-Trần, dù ông theo đạo nào chăng nửa, Tôi vẫn thắp Nén-Hương-Lòng nguyện cầu cho linh-hồn ông được sớm về miền Cực-Lạc .

 

 

                                                   Tâm Phương

 




LM Nguyễn Trung Tây : dark valley , Thung Lũng Tối

Nguyễn Trung Tây, SVD
meditation picture

dark valley

Though I walk to the dark valley,
I fear no evil,
For you’re walking besides me.
(Psalm 23)
   




http://www.nguyentrungtay.com/darkvalley.html


Because of her own charming characters and special location in Central Australia, Alice Springs has become an idea spot for many young people in the world to go on backpack. Some of them, especially guys from the Far East countries, don’t speak English. Noticing that some Asian Catholic who attend Sunday mass are limited with English, the owner comes up with a church project, called English As Second Language, for those would like to learn and improve their speaking skills. The class meets every Saturday between 2 until 3pm in the Presbytery, and is free of charge. Normally there are six or seven students from Korea, Hong Kong, Malaysia, East Timor, India, the Philippines and Viet Nam attend the ESL class.

In August 2010 the class welcomed a Korean student, a Catholic young man in his early twenties. In English the owner calls the new student Coby. Coby later calls the owner Bố Quang (Daddy Quang). When he first came to Alice Springs, Coby worked in Desert Palms Resort during the day and attended the afternoon mass at 5:30pm. On occasion Bố Quang rode Coby to the Indigenous Chapel to attend the Sunday mass at 11am, or took him out for Aussie meals in local restaurants or a glass of Guinness, a thick and flavorful Irish beer, in the pub nearby the Presbytery. Some times on Saturday, the owner invited his friends to the Presbytery for dinner. After finishing cooking meal, Bố Quang texted his son, “R u free for 2nite dinner?” If not committed with overtime schedules, Coby quickly rode his bike to the front door of the Presbytery, calling from his mobile phone, “Bố Quang, here is Coby. Please open the door.” Twice, one time on late Saturday night, another in the late Sunday afternoon, while Coby was with Bố Quang, Alice Springs Hospital sent “distress signals” to the owner, asking for the sacrament of healing for patients in critical conditions. The owner brought Coby along, so Coby could experience life from different aspects, in particular life in hospital.

After the ESL class or the mass, when the situation allowed, Coby stayed behind, having chats with Bố Quang. Coby normally shared with Bố Quang his concerns about life, particularly the new life he now faced in Alice Springs. Bố Quang advised Coby to join the Youth Group that meets every Friday at 6pm in the Presbytery so Coby would make new friends and at the same time to improve his English conversations.

And, out of a sudden, Bố Quang did not see Coby anymore. Just as water evaporating from the scorching heat, Coby disappeared from church activities as if he had never been in Alice Springs.

Christmas’ Eve 2010 came. The OLSH Church again held the Midnight Mass. Nevertheless, being scheduled to celebrate Christmas Mass at 7:30am, the owner excused himself not to concelebrate midnight mass, but retreated to his room about 10pm, locked the door, and spent the rest of the night on bed, ready for having a pleasant dream. Right at the moment the owner began hearing his own snoring sound, he heard another sound as if someone were knocking on his door. The owner almost wanted to ignore the unexpected sound, but he eventually gave up. Opening the door, the owner saw his SVD neighbor who informed him, “Your Korean friend wants to see you.” “Korean friend?”, the owner repeated. “Who’s it?”, he asked himself while carefully stepping down from the staircase to the Presbytery.

And to his surprise there was his son, Coby, who was waiting to deliver the Christmas card to his daddy. Having seen Bố Quang, Coby greeted jubilantly, “Merry Christmas, Bố Quang.” His son scratched his hair, saying recently he worked for three jobs. So busy!!!… Well, well, well! Dad and son exchanged conversations for a while. But, celebrating the Christmas mass tomorrow at 7:30am was still a reality that Bố Quang couldn’t ignore. After promising to contact Coby after Christmas, Bố Quang excused himself and returned to his room to catch up the dream interrupted by his son’s unannounced visit. However, out of curiosity, while lying in bed, he opened Coby’s Christmas card to read the Christmas greetings. Believe it or not, Coby composed to Bố Quang one of the most beautiful Christmas greetings that he had never received in life. Bố Quang’s eyes almost began filling with tears while reading, “Dear Bố Quang, you are the most precious person to me in Alice Springs. Through you I can feel the love of Jesus Christ and my parents. Even after I return to Korea, I will never forget you. Merry Christmas and Happy New Year. Coby”

Three days later, 27 December, as promised, Bố Quang and Coby went out for Christmas and New Year dinner. Before meal, daddy and son rode to Simpsons Gap to enjoy the sunset scenery. The sunlight on that late afternoon seemed to be brighter when discovering Bố Quang and Coby on Darken Drive to the famous gap of Northern Territory. Because the gap was located to the west of Alice Springs, the sun by the late afternoon in the clear blue sky reddened the right hill but darkened the left one of the gap, while transforming the bright green of the grass by the sides of the road to faded yellow; a perfect shot of Simpsons Gap. About five more kilometers from the gap, Bố Quang pulled the car over. Coby asked, “Bố Quang, what happened?”. Bố Quang asked, “Are you ready to be a movie star?”. Bố Quang directed Coby to stand in the middle of the road, to rise up his hands and to smile for a best shot.


Coby Bae, Photographed by NTT

After Coby’s, the owner captured another view of Simpsons Gap.

And the meditation picture of Dark Valley is born to Bố Quang and now displayed in the spiritual pub in town.

 

Thung Lũng Tối

Dù bước đi tới,
nơi thung lũng tối,
Con không lo lạc lối,
Vì có Chúa sánh bước với con.
(Thánh Vịnh 23

Tháng Mười Hai năm 2009, chủ quán nước đầu làng rời bỏ Melbourne cho công tác mục vụ truyền giáo mới tai Alice Springs.

Alice Springs, thị trấn nhỏ nằm giữa Úc Châu, có mật độ dân số khoảng hai mươi tám ngàn người. Thị trấn sa mạc nổi tiếng thị trấn du lịch. Du khách tới Central Australia để thăm viếng sa thạch Uluru hoặc phong cảnh nổi tiếng của Red Centre thông thường bay tới Alice Springs nghỉ ngơi một vài ngày trước khi khởi hành tới Uluru chiêm ngắm kỳ quan thiên nhiên của thổ dân ngời sáng màu đỏ vào lúc hoàng hôn và bình minh. Trong thời gian tạm trú tại thị trấn, du khách cũng có thể thả bộ trên con lộ chính Todd Mall lựa chọn cho mình một vài tranh sơn dầu của người thổ dân, hoặc lái xe tới Alice Springs Old Telegraph tìm hiểu hồi mới tới người Úc liên lạc với nhau và thế giới như thế nào. Du khách cũng có thể giảm bớt độ nóng hừng hực mùa hè bằng cách dìm chân xuống dòng nước lạnh của con lạch Trephina Gorge trên hương lộ Ross, hoặc chuẩn bị tinh thần cho màn trình diễn tuyệt vời của hòn đá Uluru bằng cách chiêm ngắm cảnh chiều hoàng hôn của Simpsons Gap, một trong những núi chẻ tuyệt đẹp đứng đầu của rặng núi phía Đông MacDonnell, được tạo ra bởi trận địa chấn và khí hậu thay đổi của triệu triệu năm về trước…

Bởi nét duyên dáng và vị thế đặc biệt của thị trấn sa mạc, Alice Springs trở thành địa điểm lý tưởng du lịch cho nhiều người trẻ. Một vài người, nhất là thanh niên từ miền Viễn Đông, không nói tiếng Anh. Nhận ra rất nhiều tín đồ Công Giáo Á Châu tham dự thánh lễ Chúa Nhật với tiếng Anh còn giới hạn, chủ quán đề nghị nhà thờ tổ chức một lớp tiếng Anh, dành cho những người muốn trau giồi khả năng đàm thoại. Lớp học ngày thứ Bẩy từ 2 cho tới 3 giờ chiều tại nhà xứ, và hoàn toàn miễn phí. Thông thường lớp có từ sáu tới bẩy học sinh từ Đại Hàn, Hồng Kông, Mã Lai, Đông Timor, Ấn Độ, Phi Luật Tân và Việt Nam tham dự.

Tháng Tám năm 2010 lớp chào đón một học sinh Đại Hàn, người Công Giáo ở tuổi hai mươi. Trong tiếng Anh, chủ quán gọi học sinh mới với tên Coby. Coby về sau gọi chủ quán là Bố Quang. Hồi mới tới Alice Springs, Coby đi làm ban ngày tại Desert Palm Resort, sau đó tham dự thánh lễ chiều cử hành lúc 5:30. Đôi khi Bố Quang mang Coby tới nguyện đường Thổ Dân tham dự thánh lễ Chúa Nhật lúc 11 giờ sáng, hoặc ra những quán ăn địa phương nếm thức ăn nấu kiểu Úc Thòi Lòi, hoặc ra quán bia gần nhà xứ uống một ly bia Guiness đặc như sữa của người Ái Nhĩ Lan. Có những buổi chiều thứ Bẩy, chủ quán mời bạn tới nhà xứ ăn tối. Sau khi nấu nướng xong xuôi, Bố Quang gọi Coby bằng “máy nhắn” di động, “Tối nay có rảnh hay không, tới ăn tối”? Nếu không bận làm thêm vào ngày cuối tuần, Coby nhanh nhẹn lái xe đạp tới trước cửa nhà xứ, gọi điện thoại di động, “Bố Quang ơi, Coby đây. Làm ơn mở cửa”. Đã hai lần, một lần vào buổi tối thứ Bẩy, lần kia vào buổi chiều Chúa Nhật, trong khi Coby đang có mặt tại nhà xứ, bệnh viện Alice Springs gọi chủ quán qua tần số khẩn cấp, xức dầu cho bệnh nhân đang trong tình trạng nguy cập. Chủ quán mang Coby đi theo để Coby học thêm những kinh nghiệm khác về đời sống, đặc biệt đời sống trong bệnh viện.

Sau giờ học ESL hay sau thánh lễ, khi điều kiện thuận tiện, Coby hay ở lại nói chuyện với Bố Quang. Coby chia sẻ với Bố Quang về những băn khuăn trong đời sống, đặc biệt về đời sống mới tại Alice Springs. Bố Quang cũng khuyên Coby nên tham gia nhóm Thanh Niên của giáo xứ để có thêm bạn và đồng thời trau dồi thêm tiếng Anh.

Và thật là bất ngờ, Bố Quang không thấy Coby đâu nữa. Như nước bốc hơi bởi gió nóng sa mạc, Coby biến mất như chưa bao giờ có mặt tại phố Alice Springs.

Chiều Giáng Sinh 2010 đã tới. Nhà thờ OLSH một lần nữa lại tổ chức thánh lễ nửa đêm. Nhưng bởi phải cử hành thánh lễ Giáng Sinh vào sáng ngày hôm sau lúc 7:30, chủ quán kiếu không đồng tế thánh lễ nửa đêm, nhưng khoảng 10 giờ tối rút lui vào phòng, khóa cửa lại, leo lên giường chuẩn bị cho một giấc ngủ say. Sau khi chủ quán nghe được tiếng ngáy của chính mình trong vòng một vài phút, tự nhiên chủ quán nghe có tiếng động giống như có người đang gõ cánh cửa phòng mình. Chủ quán đã muốn làm lơ, nhưng cuối cùng đầu hàng. Mở cửa, chủ quán nhận ra người anh em hàng xóm Ngôi Lời, Sư Huynh nói, “Có người bạn Đại Hàn đang kiếm cha.” “Bạn Đại Hàn”, chủ quán lập lại. “Ai vậy cà?”, chủ quán tự hỏi trong khi bước những bước chân cẩn thận xuống cầu thang dẫn tới nhà xứ. Thật là ngạc nhiên, đó là ông con Coby, đang đợi tặng Bố tấm thiệp Noel. Thấy Bố Quang, Coby reo to, “Merry Christmas, Bố Quang”. Ông con trai của chủ quán gãi gãi tai nói gần đây con phải đi cày ba “job”. Bận ơi là bận!!! Well, well, well!

Bố con nói chuyện một hồi. Nhưng thánh lễ ngày mai lúc 7:30 sáng vẫn là một thực tế Bố Quang không thể làm ngơ. Bố đành hẹn với ông con sẽ gặp lại sau ngày Giáng Sinh, rồi bỏ về phòng đi ngủ. Nhưng, thật sự là bởi tò mò, vừa nằm trên giường chủ quán lôi tấm thiệp ra đọc. Không thể ngờ, Coby viết những hàng chữ chúc mừng Noel tuyệt vời chưa bao giờ Bố Quang nhận được trong đời. Thế là Bố Quang long lanh nước mắt trong khi đọc những hàng chữ, “Bố Quang mến, ở Alice Springs, Bố là người con quý nhất. Bởi Bố, con cảm nhận được tình thương của Chúa Giêsu và Bố Mẹ. Con sẽ không bao giờ quên Bố, ngay cả sau khi đã quay về Đại Hàn. Chúc mừng Giáng Sinh. Coby”.

Ba ngày sau, 27 tháng 12, như lời đã hứa, Bố Quang và Coby ăn Giáng Sinh và Năm Mới. Trước khi ăn, bố và con lái xe tới Simpsons Gap ngắm cảnh hoàng hôn. Những chùm tia sáng mặt trời hoàng hôn ngày hôm đó dường như sáng rực rỡ hơn khi nhìn thấy Bố Quang và Coby trên đường Darken dẫn tới Gap. Bởi địa thế nằm về hướng đông của Alice Springs, từ trên bầu trời xanh mặt trời buổi chiều hôm đó chiếu đỏ rặng núi bên tay phải nhưng bôi tối rặng núi tay trái, trong khi tô vàng những bụi cỏ màu xanh nằm dọc theo hai bên đường; một bức tranh tuyệt vời của Simpson Gap. Khi còn cách rặng núi khoảng năm cây số, Bố Quang bẻ tay lái tắp vào lề đường. Coby thắc mắc, “Bố Quang, sao vậy”? Bố Quang nói, “Đã sẵn sàng làm tài tử màn bạc hay chưa”? Bố Quang đạo diễn Coby đứng giữa đường, hai tay giơ cao, miệng cười tươi cho một tấm hình tuyệt vời.

Sau Coby, chủ quán chụp thêm một tấm nữa, cùng một góc độ. Và hình Chiêm Niệm Thung Lũng Tối ra đời, giờ này được treo trong quán nước đầu làng.

Nguyễn Trung Tây, SVD

Alice Springs, a small town in Central Australia, is populated by approximately twenty eight thousand inhabitants. The desert town has her frame as a tourist town. Tourists who travel to Central Australia to visit the sandstone Uluru and famous sceneries of Red Centre usually fly to Alice Springs and stay here for a few days before departing to Uluru to see the iconic natural wonder of the Indigenous glowing red by sunset and sunrise. While being in town, tourists can walk on Todd Mall to collect for themselves some Indigenous canvases drawn by Aboriginal artists; or ride to Alice Springs Telegraph Station to see how the early Caucasian Australians communicated with the rest of Australia and the world. Tourists can also cool themselves off from the intense heat during summer by dipping their feet into the cold water of Trephina Gorge via Ross Highway, or preparing themselves for the spectacular sunset show of Uluru by contemplating the sunset view of Simpsons Gap, one of the most gorgeous and prominent gaps of the West MacDonnell Ranges, caused by a massive erosion and climate changes over million years ago…




Cắm hoa em tạ ơn đời.

Cắm hoa em tạ ơn đời.

Làm thơ em tạ ơn người yêu thơ
 


Cảm ơn một buổi thu sang
Cho bè bạn được rộn ràng vui chơi
Cảm ơn bằng cả muôn lời
Chắp đôi tay tạ ơn đời thiết tha.

Cảm ơn tình rất bao la
Bên nhau trong ánh chiều tà mênh mang
Cảm ơn những tấm lòng vàng
Đã từng xoa dịu lỡ làng thương đau

Cảm ơn một thoáng mưa mau
Bạc làn tóc trắng , thắm màu tóc xanh
Cảm ơn tia nắng vàng hanh
Gợi niềm nhung nhớ quê mình mến yêu

Cảm ơn cả những buổi chiều
Gửi trong thơ cả những điều ước mơ
Cảm ơn ngày tháng xa mờ
Đưa ta vượt thoát bến bờ chông gai

Cảm ơn những giấc mơ dài
Chắt chiu kỷ niệm khung trời yêu thương
Cảm ơn , lời rất bình thường
Gửi từ những đóa tâm hương chan hòa.
Ngọc Bích




Nguyễn Quốc Chánh : Quê Hương và Chủ Nghĩa

Quê Hương và Chủ Nghĩa    

Tác Giả : Nguyễn Quốc Chánh, Saigon   
 
Thứ Năm, 22 Tháng 4 Năm 2010 12:04

Một bài thơ viết từ SAIGON rất hay…giới trẻ cần quan tâm.










Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân
Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố



Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ
Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang
Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng
Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa
Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa
Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây
Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay



Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc

Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do
Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô
Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống

Ai nhân danh hạnh phúc
Thứ hạnh phúc ngục tù



Ai nhân danh dân chủ
Thứ dân chủ si ngu

Ai nhân danh chân lý
Thứ chân lý đui mù



Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã,
Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian
Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam!
Sự thật đó có làm em đau nhói ?


Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói
Chồn cáo kia có rình rập trước sau

Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau
Đứng lên em bằng tâm hồn biển động.

Em đứng lên như đại dương dậy sóng
Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang

Những tượng hình, chủ nghiã, phải tiêu tan
Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống,

Em bây giờ khôn lớn
Mắt rực lửa yêu thương,
Biết đâu là sự thật
Em tìm thấy con đường.
Tự-Do sẽ nở hoa
Trên quê hương khốn khó



Anh như con ngựa già
Vẫn cúi đầu kiên nhẫn
Đốt những đám cỏ khô
Dọn đường cho em đi làm lịch sử

Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Anh. Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về đảng Cộng Sản:


“Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc” cho cộng sản Tàu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là phản động. Kẻ phản động có thể gây tai họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân.
Những ai vì Ðảng sẽ kết án kẻ phản động, còn những ai vì con người thì sẽ hoan hô kẻ phản động. Hãy nhớ câu nói lịch sử của ông Nguyễn Văn Thiệu:
“Ðừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”.


(Gửi tuổi trẻ Việt Nam)


Em hãy ngồi xuống đây
Anh kể câu chuyện này
Trên cánh đồng cỏ cháy
Ngậm ngùi như khói bay



Con ngựa già một đời
Chưa thấy được ngày vui
Mắt mỏi mòn trông đợi
Những mầm cỏ xanh tươi.

Đã bao nhiêu năm rồi
Hướng nhìn về xa xôi
Tâm tư đau nhức nhối
Cuộc đời vẫn nổi trôi



Em nhìn về tương lai
Cố dấu tiếng thở dài
Mắt dường như ngấn lệ
Có phải vì khói cay?

Em thấy đó, trên đường đi không đến,
Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang
Những con thú người nhảy múa kiêu căng
Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghiã.
Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ,






Ngô Võ : Thử

Thử