VĂN – Chiều Bệnh Viện – Cao Mỵ Nhân

CHIỀU BỆNH VIỆN.    CAO MỴ NHÂN 

Khi tôi đến thành phố đó, mặt trời bắt đầu lên một lượt với ngày, vạt núi thả dần ánh nắng mầu vàng, đổ chứa chan trên khắp nẻo, tôi nói xe dừng lại ngắm nhìn …

Anh mỉm cười trong tâm thức tôi, vì anh có đang ở cạnh tôi đâu, đó chỉ là những ngôn từ không thoát ra tiếng nói, hay đó chỉ là mơ mộng lâu ngày trở thành …quán tính. 

Tôi muốn nói với anh rằng : Anh không cần phải thốt lên âm thanh, chúng ta đang là những nhân vật nổi trong một bức tranh tĩnh . 

Anh biết tôi từng phút giây đang làm gì, vì mỗi ngày tôi viết thư cho anh, kể hết ngọn nguồn . Không đòi hỏi một hồi âm, dù thì thầm như hơi gió mùa thu, lẫn với sương bay, khói toả…

Tại sao có một người biết tôi từng giọt nước mắt rơi ra, từng tia nhìn lặng lẽ, mà anh lại …chậm hiểu thế chứ ? 

Anh cười một cách xót xa: ” Thì suy tư của M có lạnh mấy, như gió mùa thu, cũng chỉ mát thôi . ” 

Đúng rồi, có cần chi đốt lửa chờ khí ấm, bởi gió mùa thu đã lẫn trong hơi thở M rồi …người tình tịnh ngôn thân kính ạ. 

Thế là mình đã mấy ngày ” nín lặng ” trong cái nhà thương ở thành phố Thiên Thần Gabriel,  trong tư thế bắt buộc phải ngồi bó gối nơi chiếc ghế dành cho người thăm, kê ở cạnh giường bà chị đang đau thập tử nhất sinh. 

Cả một đại dương cách trở thân tộc, chỉ có bà chị với mình ở xứ sở này, hai chị em đều đang tuổi thu vàng, ngắm cây phong bắt đầu thưa lá… nghe hơi thu lùa qua thân áo, và nỗi buồn tênh thấm vào từng chân tơ kẽ tóc mỗi người . 

Bà chị ngó mông lung, nói thật nhỏ nhẹ : 

” Nằm nhà thương 4 ngày, chờ thuốc chưa về, giống như là chờ chết.” 

Bà chị yên lặng, rồi tiếp: 

” Hình như phải có thật nhiều tiền, ở MỸ tư bản mà, để chưa hay không được cơ quan y tế chấp thuận cách chữa hay thuốc hiếm kiểu ” Mê đi Mê đi “, là bỏ tiền ra ngay . ..

” Không .” Tôi trả lời : ” Vẫn phải đi theo hành lang y tế vạch sẵn, bởi có ôm bịch tiền, cũng chẳng kéo được bịnh có tên có tuổi dữ tợn đó, ra khỏi cơ thể đâu . ” 

Bà chị tội nghiệp của tôi bấy giờ đang bị nghi là ung thư bạch huyết cầu, những vết nám thoạt mầu hồng , sau sậm dần, rồi nổi những cục u, đau nhức . 

” Mê đi – Mê đi ” của chị đang chưa cho phép tiến hành hoá trị…đau nhức và tái tê về cuộc sống chênh vênh trên đường đời . 

Chồng chị mất năm ngoái, chị đau năm nay, không con cháu. Nhà thương là nơi chị đang tạm trú mấy hôm nay, nhưng chị với tôi đều có cảm tưởng là lâu quá rồi . 

Cái viễn ảnh trước mặt mang mầu sắc thê lương chi lạ, nhưng chị yêu đời quá, chị muốn sống cảnh “độc thân ” thêm vài năm để đi chơi cho biết đó, biết đây…

Chị bảo có lên Thiên Đường đi nữa, thì cũng phải biết hạ giới này đẹp đẽ đến thế nào chứ. 

Sở dĩ có hiện tượng này, thèm được sống để ngắm trời đất chung quanh ta thôi. 

Chị biết tôi sẽ hỏi : ” Chị muốn sống cho ai ? ” 

Và tôi biết chị sẽ trả lời : ” Muốn sống cho bản thân chị .” 

Tôi cũng yêu đời như chị, nhưng lại hay so sánh các hoàn cảnh khác, của các đối tượng khác.

Tôi không đặt ước hẹn với đất trời khiêm cung như chị, xin Thượng Đế có 2 năm ( hai năm quay đi quay lại là hết ) . 

Tôi không xin Ngài kiểu lương thiện thế, tôi xin cho cuộc tình tôi thơ mộng suốt trăm năm. 

Buổi chiều thứ bảy ở nhà thương, khi ánh nắng bắt đầu lên lại chín tầng mây buồn nản, tôi không dám nhớ anh giờ phút này, nó làm như không gian hấp hối, như tôi đang kể, nhất là ở nhà thương, không có người thân kẻ thích. 

Tôi lặng lẽ ngồi trong phòng khách lớn, nhìn thân nhân và khách ra vô thăm viếng . 

Đủ giới người, đủ tuổi tác, đủ sắc tộc …

 Có tiếng khóc thầm, khóc nhỏ, hay chỉ sụt sịt trong lỗ mũi, nhưng cũng có tiếng la to vì bịnh nhân đau quá . 

Ngày nghỉ nên lượng người thăm viếng đông hơn ngày thường, tuy nhiên chẳng thấy ai cười rỡn, như thế là rất biết tôn trọng bịnh nhân . 

Y tá tới thông báo cho chị tôi biết rằng tối , dù ai cũng nghĩ và lo là không có thể có thuốc làm xạ trị cho chị ấy, nhưng thuốc đã về, chị tôi sẽ được chuyển lên lầu 4, để làm “ki mô” như mong đợi được chữa trị . 

Tôi định nói với chị nhà xa quá, chắc tôi không tới được thường xuyên đâu. Nhưng nhìn vẻ buồn nản, đôi khi hốt hoảng, tôi lại sợ chị tôi mang cảm giác tuyệt vọng về sức khoẻ không phục hồi . 

Cảm giác tuyệt vọng thì khởi sự đều giống nhau, hư hao sức khoẻ như nêu trên, suy thoái tinh thần dẫn đến bất lực trầm trọng, mất niềm tin trong cuộc sống, phá sản, vô hiệu hoá tài năng và khả năng. Muốn biến khỏi thế gian này . 

Sau ngồi phân tách từng trường hợp một, mới thấy là mọi chuyện đều đi tới 2 giải pháp bắt buộc tự nhiên, mà quý cụ xưa thường nói là : ” cùng tắc biến, biến tắc thông ” . 

Có điều cái ” thông ” đó, nó bi quan hay lạc quan . 

Cuối cùng trong chẩn trị cũng vậy, gặp thầy gặp thuốc thì khỏi bịnh thôi, và đó là cái “thông ”  quý giá nhất mà ai đau ốm kinh niên, trầm kha cũng đều mong mỏi . 

Chị ơi, chị thân yêu ơi, ngày mai trời sẽ sáng, chúng ta hãy cầu nguyện cho thế giới bình an, cho chị hanh thông êm đềm , hy vọng chan hoà trong bình minh rực rỡ, chị tôi cười héo hắt, còn tôi thì tràn ngập nỗi nhớ, niềm thương bao la, nhưng tuyệt vọng vô cùng, vì hình ảnh này cứ bị cắt xén dần, cho tới khi mất hút . 

Bây giờ thì đúng là không còn gì trước mặt tôi, kể từ buổi chiều hôm đó, sân bệnh viện Thiên Thần Gabriel vẫn nắng mưa sương gió, năm này sang tháng khác, những người đến, những người về, song cũng đã biết bao người đến không về, mà đi mất hút, vâng , họ đã đi mất hút, kể cả chị tôi. 

Tôi cúi xuống nhìn lớp lá vàng, lá đỏ, lá khô …ở một công viên nơi thành phố đó . 

Có lẽ chị tôi chưa bao giờ dư thì giờ như tôi, là tới một công viên, để nghe lòng mình xa xót buồn thương …

Từ tâm thức, lại cũng chỉ từ tâm thức thôi, anh gọi tôi, anh bảo rằng : ” Cuộc đời hữu hạn là vậy, cho dẫu có níu kéo thời gian cho đủ một trăm năm, chúng ta cũng không có thêm tháng ngày tuyệt vời em hỡi …” 

Chị tôi mất vào đúng buổi giao mùa vãn hạ qua thu 31/8 cách đây hơn 3 năm . 

          CAO MỴ NHÂN 




KHÓC BẠN

Ấu Oanh

“Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…”

Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.

Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.

Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.

Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp “Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi” “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay “Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.

Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo “Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải “Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.

Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại “Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an “Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.

Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.

Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự: “Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”.

Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng.

Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”.

Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc

Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số “tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi: “Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn “Vĩnh Biệt Phượng” cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!

Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói “Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng, vì đói ăn đó Oanh ạ!”

“Nghề” bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.

Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác: “Cứ yên tâm chờ đợi”. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.

Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.

Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:

– Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?

Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:

– Có việc gì hả Oanh?

Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:

– Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.

Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.

– Oanh nói gì? Ai có bầu?

– Mình.

– Hả?

– Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.

Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:

– Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…

Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:

– Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.

Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:

– Phá? Sao lại phá?

– Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…

– Thì nói ra cho mọi người biết.

– Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.

Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:

– Ừ, để mình tính xem.

Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ.

Mẹ tôi bảo:

– Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.

– Mẹ hỏi gì hả mẹ?

– Có phải Oanh toàn con gái không?

– Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.

– Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.

– Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.

– Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.

Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.

Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.

Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.

Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.

Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:

– Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.

– Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi

Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:

– Oanh gửi chị cái này.

Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.

Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành, (trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát, cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.

Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.

Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.

Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.

Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.

Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.

Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: “Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”

Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời. Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu!!” Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút”.

Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.

Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể: “Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.”

Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu?

Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.

Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…

Rồi dòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, giấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.

Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.

Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi!!!” Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”

Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt… Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ”.

Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!

Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.

Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.

Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu dắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.

Hôm nay ngồi viết những dòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.

Oanh ơi, những dòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.

Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,
Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng
Chuông chùa vọng giữa thinh không
Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.

Ấu Oanh
Hai mươi năm, ngày giỗ bạn, 21.6.1989 – 21.6.2009

Tiểu sử nhà văn Dương Hùng Cường

Sinh ngày 1-10-1934 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân thụ huấn cơ khí viên tại Pháp năm 1953, trở thành hạ sĩ quan cơ khí phục vụ tại nhiều đơn vị. Từ giữa thập niên 1960 phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Chuẩn Úy. Là một cây bút nổi tiếng trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn, ông có 3 tác phẩm đã xuất bản: Lính Thành Phố, Buồn Vui Phi Trường và Vĩnh Biệt Phượng. Sau năm 1975, bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20 Phan Đăng Lưu, Gia Định năm 1987.




Mùa Thu và Bộ Tách Trà – NGỌC HẠNH

Ngọc Hạnh

Ánh nắng bình minh nhẹ nhàng xuyên qua cành cây kẽ lá. Đàn chim tung tăng nhảy nhót, líu lo chào mừng ngày mới.Trên cao trời xanh trong vắt, các khóm hoa, bụi cỏ còn ướt hơi sương.Thu đã đến rồi. Những người đi bộ trên con đường trước nhà đều mặc thêm áo khoác nhẹ. Mấy khóm cúc vàng nở rộ khoe  sắc màu rực rỡ trông vui mắt, quyến rũ bướm ong.Từ mấy tuần trước chúng đã hé nụ vàng bé bé xinh xinh.Đó đây, siêu thị và những  nơi bán cây cảnh bày rất nhiều hoa cúc : vàng, tím, cam, trắng… Hôm qua đi ngang qua bãi đậu xe ngân hàng cũng thấy họ bày bán các chậu  hoa cúc lớn nhỏ bên cạnh đống bí đỏ xếp thành hình kim tự tháp.Hình người nộm thân bằng rơm, đội nón, mặt trắng môi đỏ, tay cầm cây gậy đứng bên các kim tư tháp bí đỏ. Mấy cây bắp khô cao, thẳng đứng bày bên cạnh các người rơm mang cà vạt bảnh bao.

Với tôi mùa Thu có nhiều kỹ niêm vui và buồn. Cách đây hơn 30 năm nơi xứ Cờ Hoa vào mùa Thu người bố yêu quý các con tôi đã rời bỏ gia đình thân hữu về cõi vĩnh hằng khi các con còn đang đi học. Buồn ơi là buồn. Mất bờ vai nương tựa, ai là người dìu dắt các con thơ nơi xứ lạ quê người. Mùa Thu năm ấy thật ảm đạm, buồn hiu hắt. Tôi làm việc như điên cho đến khi các con tốt nghiệp. Cũng may nhờ ơn trên các con có học bổng toàn hay bán phần và mọi việc rồi cũng ổn định, tôi có dâu, có rể, có cháu trai cháu gái. Khi cháu nội học lớp 1, tôi giữ phần đưa đón các cháu đi học vì lúc đó tôi đã nghỉ hưu. Tôi cũng thường theo cháu làm bảo mẫu khi cháu đi dã ngoại do trường tổ chức. Trường tư vùng Hoa Thịnh Đốn các lớp nhỏ từ lớp 1 đến lớp 4 thường được nhà trường cho đi dã ngoại vùng ngoại ô cách trường khoảng 1 tiếng lái xe hay hơn chút ít. Nơi đó các em được xem gà, vịt, ngỗng, heo, cừu thật chứ không phải chỉ thấy qua màn ảnh hay hình vẽ. Các học sinh còn được cho xem các cây con để trong nhà kính chờ ngày đem trồng xuống đất. Có khi các cô cậu tí hon được đưa đi sở thú xem cá, chim, rắn, voi… Vào mùa Thu các học sinh má phính môi hồng còn được nhà trường cho đi xem ruộng trồng bí đỏ. Những trái bí to được hái vào chất đống ở sân trang trại chờ đưa đi các nơi tiêu thụ, bán lẻ ở các siêu thị. Theo người chủ trại họ chỉ hái những trái bí to, những trái bé thì để cho lừa, dê, cừu ăn trước khi cho máy cày ủi, xới đất trồng mùa mới. Các em mầm non thích lắm nhưng nhà trường thì bận và cực hơn ngày thường.

Mỗi khi đi dã ngoại phụ huynh được nhà trường cho bảo mẫu đi cùng đứa trẻ nếu muốn và phải đóng số tiền nhỏ. Học sinh miễn phí. Lúc đi gần cả chục chiếc xe bus chở học sinh chạy trên đường một dọc dài trông thật vui mắt. Mỗi chiếc xe là một lớp học. Trên xe ngoài học sinh có 1 cô giáo và vài ba bảo mẫu. Thật ra cẩn thận thì đi theo để trông nom con cháu mình chứ các trẻ con Hoa Kỳ thường ngoan và nghe lời cô giáo. Trước khi lên đường các bảo mẫu được căn dặn tuyệt đối không cho trẻ em khác ngoài con cháu mình thức ăn, nước uống, kẹo bánh… Trẻ con Mỹ dạn lắm, thích là xin nhưng nên từ chối để tránh phiền phức có thể xảy ra.

Ngày còn ở Viêt Nam tôi nhớ hoc sinh Trung Học Saigon thỉnh thoảng được nhà trường cho đi cắm trại Biên Hòa, Thủ Đức hoặc Vũng Tàu. Tôi không nhớ các lớp nhỏ có được đi dã ngoại thăm viếng miền quê như trẻ em nước văn minh giàu có xứ Cờ Hoa không. Ở thành phố các em chưa bao giờ được trông thấy con cừu, con dê… tận mắt, sờ hay vuốt ve chúng nên rất thích khi được đi đến vùng ngoại ô.

Mùa Thu ở Viêt Nam cũng rất đẹp, dễ thương với khí hậu mát mẻ, ánh nắng nhẹ nhàng, chim bay bướm lượn,

trời xanh trong vắt không bị áng mây che khuất và nhất là một không còn cảnh “cái nóng nung người, nóng nóng ghê”. Mùa Thu cũng là mùa các giáo chức bận rộn chuẩn bị cho năm học mới. Các thầy cô giáo sẽ có  học sinh mới, nam và nữ. Thầy trò lạ lẫm buổi đầu nhưng nhanh chóng vào nề nếp, quen biết tính nết nhau. Vào đầu mỗi niên học có thêm một vài giáo sư, nhân viên mới và có thể thiếu vắng vài ba vị như về hưu hay đổi đi trường khác. Vị nào làm việc lâu năm cùng một trường mọi việc sẽ dễ dàng, và tình bằng hữu cũng thân thiết đậm đà hơn.

Viết đến đây tôi nhớ một đồng nghiệp cũ trường Trung Học NT Saigon và muốn rơi nước mắt. Chị ấy và tôi cùng dạy học chung một trường hơn 10 năm và chị đã vĩnh viễn từ bỏ trần thế cách đây hơn hai tháng. Chị Bích Hà ra đi ngày 14/7/21. Với tôi giống như chuyện chiêm bao vì chị ra đi thật bất ngờ: té, hôn mê, vào bệnh viện độ 1 tuần và đi luôn, không một lần tỉnh dậy để lại bao tiếc thương cho gia đình, bạn hữu, cựu môn sinh.

Nhà văn, nhà giáo, nhà báo Bùi Bich Hà dạy học trườngTrung Học Nguyễn Trãi Saigon gần 20 năm, được  học trò  yêu thương, đồng nghiệp quý mến… Tôi  ở trường Nguyễn Trãi khoảng 17 năm nhưng cùng thời gian với chị khoảng hơn 10 năm. Tôi đến trường trước chị và rời quê hương sớm hơn chị. Chị Bích Hà nhanh nhẹn, đảm đang, hoạt bát, tác giả nhiều truyện ngắn truyện dài, tươi cười, hay giúp đỡ người khác. Trước năm 1975 chị Bích Hà và tôi được ông Hiệu Trưởng cử học lớp “Hướng Dẫn Khải Đạo” tương đương counselor của Mỹ. Hai người cùng học một lớp, cùng giáo sư nhưng sang Hoa Kỳ chị tiếp tục làm người cho chi em bạn gái tâm sự, giữ mục “Bạn Gái Nhỏ To” cho tờ tuần báo có tiếng ở Cali. Còn tôi cũng có tờ báo đề nghị giữ mục “Tâm Sự Bạn Gái” nhưng biết thân, tôi đâu dám nhận lời. Chị viết đều đặn tờ cho báo Việt có nhuận bút, phát thanh hàng tuần cho đài phát thanh ở Cali, làm MC thành công cho các buổi “Ra Mắt Sách”, các buổi tiệc trong cộng đồng, họat động không ngừng nghĩ trong các lãnh vực văn chương, học đường, thường dự các buổi họp mặt với các học sinh trường cũ… Còn tôi, hởi ơi, chậm chạp, cù lần, viết có khi sai dấu hỏi ngã, may mà mấy ông nhà báo tốt bụng không rầy rà chỉ im lặng sửa những sai sót. Khác nhau như thế mà chúng tôi bạn bè hơn ½ thế kỷ.

Lúc định cư Hoa kỳ tôi ở miền Đông, chị ở miền Tây ít khi gặp nhau chỉ liên lạc qua điên thoại. Sau này nhờ khoa học tiến bộ chúng tôi có thể dùng điện thư hay gởi các tin nhắn (message) trong đôi phút đã nhận hồi âm, biết tin tức của nhau, không phải qua bưu điện chờ đôi ba ngày mới đến tay người nhận như xưa, cách đây 5, 10 năm. Gần đây chị than đau lưng không ngồi lâu được, đi châm cứu, dùng  thuốc Bắc sau khi đến các bác sĩ nổi tiếng Hoa kỳ nhưng chỉ bớt it lâu rồi lại đau. Tuy thế chị vẫn viết và đến đài phát thanh hàng tuần.

Vào tháng đầu 12/2020 tôi nhận được bộ tách trà và bánh ngọt do tiệm Quốc Việt Foods… gởi đến dù tôi không đặt hàng. Gọi Quốc Viêt hỏi thì ra của Bích Hà gởi tặng. Tuy đau chân, bân rộn nhưng chị Bích Hà vẫn nhớ người bạn ở xa, tôi rất cảm động. Bánh ngọt được tiêu thụ vì không thể để lâu nhưng bộ tách trà còn nguyên chưa mở. Tôi định chờ khi hết dịch cúm Bích Hà đến thủ đô sẽ khai trương, cùng nhau thưởng thức trà xanh với bộ ấm mới. Hởi ơi, nay Bích Hà mãi mãi đi xa, vĩnh biệt cõi trần. Người viết sẽ mang bộ tách trà tặng cho nhóm chị em Cô Gái Việt để khi chị em dùng trà nhớ đến nhà văn, nhà giáo, nhà báo hoạt bát, tươi cười trong mọi hoàn cảnh.

Xin cầu chúc người bạn viết nhanh nói khéo Bích Hà được an nhàn nơi cõi thọ và đồng bào Việt Nam, nhân dân thế giới luôn bình an, sống trong tình yêu thương, ấm no, hạnh phúc…

Tôi có mấy câu văn vần để tặng người bạn tốt đã vĩnh viễn ra đi:

           Nhớ Bùi Bích Hà

Thương nhớ Bích Hà người bạn hiền

Giã từ bằng hữu về cõi tiên

Con ngoan, cháu thảo, người tri kỷ

Vĩnh biệt từ nay hết muộn phiền

Tám mươi ba tuổi, hàng cao niên

Làng văn nghiệp báo vẫn còn duyên

Môn sinh độc giả nhiều thương tiếc

Cầu chúc bạn hiền vui cõi tiên

 VA, tháng 9 năm 2021 –  Ngọc Hạnh




VĂN: CHIM BAY VỘI VÃ – CAO MỴ NHÂN 

CHIM BAY VỘI VÃ.     CAO MỴ NHÂN 

Còn 10 phút nữa mới 8:00 pm, trời vẫn sáng, mình vẫn thích cái không gian như vầy, mùa sắp vào hạ, nhưng sao mình vẫn lạnh, vẫn 3,4 cái áo len, thung nỉ…vẫn không rời đôi vớ. 

Anh chưa hề hỏi thăm mình nóng mùa hạ, lạnh mùa đông …bao giờ.

Còn mình, mình vẫn nghe rất rõ tiếng chim én rời tổ bay đi, chúng chỉ ở lại đây có đúng 3 tháng mùa xuân.

Mình vừa khép cửa sổ lớn trong phòng, ngó về phương nam, trời bắt đầu tối, ánh sáng nhá nhem, hay giờ gà lên chuồng như ở quê xưa thường nói thế. 

Một năm xa cách …Rồi sẽ 10 năm, và bao nhiêu năm sau chả biết, sẽ hết trăm năm. 

Anh là nhân vật tiểu thuyết của mình, nên có đứng sát bên mình, vẫn là xa cách. 

Anh thân kính ơi, tại sao chỉ với một bàn tay thôi, là chúng ta mở được cửa thiên đường hạnh phúc . 

Ố ô, lâu nay mình vẫn cảm nhận được điều hạnh phúc dù ở xa anh, mà vẫn tưởng anh đang ở cạnh mới tuyệt vời chi lạ.

Hôm qua mình gặp lại một nhà văn cũ, ông ta hỏi thăm một cách chân tình rằng: mình có vừa ý cuộc sống đương thời không? 

Mình hỏi lại để làm gì ? Ông nói vì thấy các nhà văn, các nhà thơ hay trả lời phỏng vấn, quý vị được hỏi thường chuẩn bị sẵn câu trà lời có lợi cho cuộc đời và sự nghiệp họ . 

Nhưng mình có là nhân vật được hỏi đâu, nên chả cần phải giữ gìn, mình nói với ông nhà văn nêu trên cũng rất chân tình: 

” Ông ạ, tôi thích cuộc sống này quá, chỉ sợ thời gian không kéo dài thêm cho tôi được sống mãi … như vầy thôi.” 

Ông nhà văn trố mắt nhìn tôi: 

” Ôi, lần đầu tiên tôi gặp một người, mà là nữ giới nữa, bằng lòng với số phận của mình. ” 

Chu choa, thì tôi có lúc tự hỏi là trên đường đời tôi đã đi qua, lên cao, xuống thấp đã từng, chắc tôi cũng đã so sánh phần nào số phận mình, để kết luận: tôi đang thực sự ” Yêu Quí ”  

thời gian này. 

Sau cuộc đổi đời 30-4-1975, là một Sĩ quan Nữ quân nhân chế độ cũ, tôi có 2 lần bị trả lời một câu hỏi, mà họ, bạo quyền cộng sản nghĩ là tôi không thật lòng khai báo . 

Câu hỏi được đặt ra như vầy:

” Chị cho biết thời gian nào chị sung sướng nhất, và thời gian nào chị …khổ sở nhất “. 

Khi đặt câu hỏi này, là người ta dư biết câu trả lời : 

Nó sẽ là sự miệt thị chế độ csvn, lòng hoài cảm chế độ cũ, VNCH. 

Để sau đó tuỳ cách ứng xử, nếu trong tù cải tạo thì theo luật rừng, mà ngoài xã hội thì theo luật …rú chẳng hạn. 

Tuy nhiên tôi đã nói thật với lòng mình, là cứ lấy cái mốc thời gian 1975  cho dễ hiểu. 

Thì trước 30-4-1975, cuộc sống tôi dư thừa vật chất, chan hoà phương tiện. Nhưng tinh thần tôi, đúng ra là tâm tư tình cảm tôi rất không như ý, vì ông xã tôi quá hào hoa phong nhã, nên tình chồng vợ có hao hụt ít nhiều.

Sau 30 -4 -1975, cuộc sống vật chất hoàn toàn phá sản. Nhưng tinh thần tôi, vẫn tâm tư tình cảm thôi nhé, thư giãn ít nhiều, vì ông xã tôi trực tiếp chấm dứt tình trạng phong lưu, hào phóng, cuộc sống gia đình yên ổn phần nào. 

Theo như nhận xét của chị, thì ngoài xã hội đang khó khăn, vất vả hay sao ? 

Tôi nghĩ đó không phải đặt ra câu hỏi, vì ai trong xã hội đương thời ( CSVN )đều biết cuộc sống trước mặt. 

Thế rồi thì tôi dù muốn dù không, bị cuốn vào cái xã hội mà chủ trương của nó là tôn sùng vật chất. 

Như lý luận học thuyết duy vật, mà biện chứng, lý giải thì hẳn là điều không khốn khó, khổ cực, sẽ không phải phương châm đấu tranh của họ. 

Tới lúc tôi thèm nhìn một cánh diều trên đồng cỏ cháy nơi nông trường Tây Nam, buổi trưa ngồi giữa nắng chờ nghe tiếng chim bay vội vã lên núi Bà Đen, lòng trống trải buồn vô hạn. 

Ông xã tôi đã trên đường vượt biển, để lại cho tôi nỗi mông mênh chán nản . 

Câu chuyện sướng khổ vẫn được nối tiếp theo những trang nhật ký, mà tôi nghĩ rằng nếu có bị bạo quyền phát giác, trong nhật ký cũng chẳng có gì động chạm tới xã hội của họ. Bởi vì điều quan trọng nhất đối với tôi, vẫn là tâm tư, tình cảm

bỗng như bị bỏ quên, như mất mát, mình không có một hình ảnh, một lời nguyền đúng nghĩa trong tâm tưởng. 

Tôi có lại cuộc sống trước 30-4-1975, giống một bức tranh có đường nét cũ, nhưng mầu sắc mới, khi tôi đến được Hoa Kỳ. 

Tất nhiên thời gian chồng chất thêm, tuổi tác cũng bắt kịp chuỗi ngày vội vã, thực dụng, tưởng như không thoát ra được cái khuôn sáo xã hội mới mẻ, bởi vì còn nơi nào khác nữa để tái định cư vui vẻ, tươi đẹp hơn xứ Mỹ này chớ. 

Nghĩa là muốn gì có nấy, thích chi thì làm, nhưng phải trong điều kiện không chạm tới quyền lợi của ai. 

Do đó, tôi lại đi tiếp con đường của tôi.

Nhìn lại hành trình, có vẻ ngắn bớt, hành trang thì bỏ đi nhiều, nên tôi cảm thấy nhẹ nhõm, tha hồ tung tẩy như thủa mới vào đời. 

Có một điều ít ai để ý, là hình như mình biến thành vai phụ trong chính những công việc của mình. Đôi khi mình không tự quyết định công việc mình sẽ làm, mà cứ phải hỏi thăm hay nhờ vả người thân hoặc bạn bè giúp đỡ. 

Tức là đang ở trạng thái không đứng vững, hay không chắc chắn đúng, thế nên cuộc sống cũng bớt đi phần nào vui vẻ lạc quan kiểu  ngày xưa. 

Như vậy lại tự hỏi là: Thế có thể làm được gì khác hơn hoàn cảnh hiện tai ? 

Ở thời điểm tôi bây giờ, tôi thẳng thắn trả lời: ” Chẳng làm được gì cả đâu, hãy giữ gìn sức khoẻ để không bị đau ốm, làm phiền con cháu thôi ” .

Nhà văn xưa mới tái ngộ cười: Bà nói đúng, ngay đến thế hệ sau chúng ta cả chục năm, chúng đã sớm có tư tưởng về hưu rồi . 

Thế nên tôi mới nói ở trên là tôi đang thích cuộc sống này, chưa hoàn hảo lắm, nhưng thực sự thoải mái, thảnh thơi …

Với tôi, còn có thì giờ mơ mộng nữa chứ …

              CAO MỴ NHÂN 




VĂN: Từ Bến Sông Thương & Chapa Dang Dở – Cao Mỵ Nhân

Nguồn ảnh: Internet

TỪ BẾN SÔNG THƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN 

Vào khoảng giữa thập niên 80 thế kỷ trước, nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội ( 1914 – 2007 ) nói với tôi là bà sẽ cùng tôi đi lang thang thăm các văn nhân thi sĩ lớn tuổi, ở cả 2 miền nam bắc mà bà quen biết. 

Tôi rất hào hứng chờ dịp đi ” lang thang ” này. 

Trước nhất, tôi khỏi cần phải đọc sách báo, mới biết được thân thế và sự nghiệp một nhà văn, thơ nào đó mà mình muốn tìm hiểu, hay là muốn ” tham khảo” để định viết lách gì đó . 

Kế tới,  là tự nhiên tôi không cầu cạnh được giới thiệu, hay muốn diện kiến dung nhan quý vị tên tuổi ấy, mà bỗng nhiên được thấy tận mắt quý vị danh tiếng như các cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vốn sống ở trong nam. 

Các vị nổi tiềng từ tiền chiến, như Thế Lữ, Anh Thơ… vốn sống ở ngoài bắc, sau 30-4-1975 lại vô nam cư trú vv… 

Người đầu tiên là nữ sĩ Anh Thơ ( 1921 – 2005 ), vì nhà bà ấy  ở số 11 đường Thiệu Trị, gần với biệt thự Úc Viên, cuối đường Nguyễn Mình Chiếu, của nữ sĩ Mộng Tuyết và cố thi sĩ Đông Hồ, giáo sư Hán học trường Đại học Văn Khoa Saigon trước 1975 . 

Mỗi lần đi như thế, nếu gần thì đi bộ lai rai, xa thì ngoắc cyclo chạy lài dài, thích lắm . 

Tôi thua bà đến ba chục tuổi, nên được hội thơ Quỳnh Dao của chúng tôi, do tôi tôn phong nữ sĩ Mộng Tuyết là niên trưởng kỳ 3, tức sau 2 vị niên trưởng đã quá cố : nữ sĩ Cao Ngọc Anh và nữ sĩ Đào Vân Khanh.

Quý vị hội viên coi tôi là em út Quỳnh Dao, đồng thời tôi là ” cây gậy ” của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội luôn. 

Do đó, đi đâu tôi cũng được vời tới …

Tuy nhiên, cũng là sẵn dịp vừa từ tù cải tạo ra, tôi chưa có công ăn việc làm, mới rảnh rang như thế, chứ sau này tôi đi làm rồi, thì rong chơi làm sao được nữa. 

Từ cái thập niên 30, nhị vị nữ sĩ: một trong nam Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, một ngoài bắc Anh Thơ, đã làm nổi đình đám thơ phụ nữ của nền thi ca mới, không bay bướm, sâu xa được như quý nam thi sĩ cùng thời: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, không trẻ trung, nội tâm được như Nguyễn Bính, Thâm Tâm vv…

Nhưng nhị vị Mộng Tuyết, Anh Thơ, lại mỗi người tự trải cho mình một cái chiếu thi ca riêng biệt trong làng thơ bấy giờ . 

Đi song song với quý nữ sĩ đương nêu, về thơ thôi, thì còn có các nữ tác giả khác như Hằng Phương ( phu nhân nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan) Vân Đài ( sau theo Bác Đảng 

CSVN cùng với nữ sĩ Anh Thơ) .

Cũng thời tiền chiến đó ( trước 1945 ), 2 cây bút nữ thi sĩ rất đáng trân trọng, quen thuộc trên cả nước là Ngân Giang và Tương Phố . 

Tất nhiên còn quý vị nữ thi sĩ khác nếu có, không nổi bật lên, chẳng hạn Mai Đình ( một trong số nữ nhân vật của nhà thơ hẩm phận Hàn Mặc Tử) vv…

Vì chỉ nhắc tới thi ca, nên quý vị nữ văn sĩ cùng thời hoặc xê xích, như quý bà nhà văn Thụy An , Mộng Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Lính Bảo ( sau 1945 ) . 

Thi ca phái nữ VN thập niên 30 thế kỷ trước, có một sự kiện riêng biệt, một huyền thoại, mà khởi sự thì như một hiện tượng lạ, sau mỗi lúc mỗi huyễn ảo hơn, bởi cái tên ký tắt kín đáo, và nội dung không mới mẻ, nhưng đi vào đại chúng lan rộng mau chóng, đồng thời năm tháng cứ chất chồng thêm những bí ẩn của tác giả, chứ không phải câu chuyện. 

Đó là hiện tượng TTKH với hình ảnh ” Hai Sắc Hoa Tị Gôn ” .

Tôi đi hơi xa về mục đích bài viết này. Tôi chỉ muốn ghi một chút kỷ niệm về nhị vị mang chính danh nữ thi sĩ trên thi đàn thế kỷ vừa qua thôi : Mộng Tuyết , Anh Thơ.

Tất cả những chi tiết như khuynh hướng thơ, sự nghiệp thơ, cuộc đời nhị vị ấy, thì đã đầy đủ trên sách báo vv…

Có chăng là một thoáng gần cuối đời quý bà, mà tôi có cơ hội gặp gỡ. 

Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội và tôi đã ngồi trong căn nhà nhỏ thôi, tầng trệt và cái lầu có ban công hẹp, bình thường . Tất nhiên nhà đó là của một gia đình trung lưu miền nam, đã bỏ đi ngoại quốc,  vì cộng sản Bắc Việt xâm chiếm miền nam. 

Nữ sĩ Anh Thơ theo ” cụ Hồ” cùng với bà Vân Đài, mà tôi chẳng rõ văn nghiệp bà này thế nào . 

Riêng bà Anh Thơ thì lặn lội theo đảng, theo thâm niên và tuổi tác bà đã lên tới chức ” thứ trưởng hàm” như một số văn nghệ sĩ tiền chiến theo Việt Minh lúc đầu , sau theo cộng sản là lẽ đương nhiên, như thi sĩ Huy Cận chẳng hạn.

Tức là cái chức để đó cho có vị , chớ chả có quyền hạn gì. Một nữ thi sĩ kiêm họa sĩ miền nam đã thản nhiên kêu đích danh nhà thơ Anh Thơ là ” Thợ thơ bậc 7 “cho phù hợp với giai cấp công nông đi lên. 

Nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu tôi, Cao Mỵ Nhân, nguyên là thiếu tá VNCH, ngành Chiến Tranh Chính Trị , đã xong chuyện đi tập trung cải tạo về. 

Bà Anh Thơ im lặng một lúc, rồi cười cười kêu tên tôi, bà xưng là ” chị” như tất cả các nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đều xưng ” chị ” với tôi . 

Bà “Thứ trưởng văn hoá” hay “Thợ thơ bậc 7 ” do thi họa sĩ XXX đặt cho bà, vốn có cái tên rất ” mĩ miều xa xưa” do cụ thân sinh đặt cho là Vương Kiều Ân.

Sau, dầu muốn tham gia kháng chiến, để có vẻ tân thời, phá khuôn thước phong kiến, nhưng trong lòng vẫn thích là  mệnh phụ phu nhân như hầu hết quý nữ sĩ ở thi đàn Quỳnh Dao. 

Chẳng hạn như nữ sĩ Vân Nương phu nhân luật sư Lê Ngọc Chấn, nguyên đại sứ VNCH ở Anh và Tunisie, như nữ sĩ Thu Nga phu nhân của kỹ sư Lương Sĩ Phu, như nữ sĩ Đinh thị Thục Oanh phu nhân của giáo sư thi sĩ Vũ Hoàng Chương vv…và hàng chục phu nhân quý vị tên tuổi khác …

Nên sau này bà thường tới dự tiệc ở các khuôn viên quý bà Quỳnh Dao . 

Bà kể lại giai đoạn bà được giải thưởng thơ của Tự Lực Văn Đoàn, và tìm cái bằng ghi giải thưởng thơ đó, do 3 thi sĩ ký tên là : Tú Mỡ , Thế Lữ và Xuân Diệu. 

Khi tôi đi Mỹ theo diện tị nạn, thì có mấy diễn đàn báo chí đang tranh luận là : Xuân Diệu có trong Tự Lực Văn Đoàn không ? Lý do cặp bài trùng thi sĩ lớn Huy Cận, Xuân Diệu như chim liền cánh, mà sao chỉ có Xuân Diệu trong Tự Lực Văn Đoàn là thế nào ? 

Nhà văn Đặng Trần Huân nêu chi tiết, là Cao Mỵ Nhân đã nhìn thấy tấm bảng ghi giải thưởng thơ Tự Lực Văn Đoàn do 3 thi sĩ nêu trên ký ở văn bằng nữ sĩ tiền chiến Anh Thơ, tất thi sĩ Xuân Diệu là thành viên Tự Lực Văn Đoàn. 

Như trên tôi đã trình bầy, là hậu tù cải tạo, tôi chưa có việc làm, nên cứ thế rong chơi. 

Nhị vị nữ sĩ Mộng Tuyết và Anh Thơ đều đề nghị tôi nên tới giúp bà Anh Thơ cái việc đọc lại những trang nhật ký của bà Anh Thơ đang viết theo yêu cầu của đâu đó ngoài trung ương, viết hồi ký mà có tiền …lương mấy đồng một trang, tôi chả nhớ . 

Tôi đang phây phây mỗi sáng ghé nhà bà Anh Thơ để đọc những trang bà viết, cũng chỉ là đường trường đi…cách mạng, xem một số chấm, phẩy , câu cú vv… văn phạm, chính tả sơ sài. 

Đương nhiên cũng có lúc tôi ở lại chơi, cơm nước vv…vì bà chỉ có một mình với cuốn nhật ký dở dang. Phu quân bà lúc đó là bác sĩ trưởng khoa thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy. 

Tôi chẳng tò mò, nhưng tình cờ một lần nữ sĩ Mộng Tuyết kể rằng vị bác sĩ ấy nguyên xưa là y tá bệnh viện Chợ Rẫy tập kết ra Bắc năm 1954, nay trở về tiếp thu và được nhận ngay chức trưởng khoa thần kinh như đương nêu . 

Đã gần xong cuốn hồi ký ấy,có thêm một thanh niên tới đánh máy kiểu tạch tạch ngày xưa cho tác giả Anh Thơ . 

Phút cuối cùng kêu rang rảng, là bà hỏi tôi nên đặt tên cho cuốn hồi ký đó là gì ? 

Bà đã đặt cho hồi ký cái tên đằng đằng sát khí là: “Sống Chiến Đấu ” , chỉ còn thiếu mấy chữ ” theo gương bác Hồ ” nữa là đúng cái câu hằng ngày của đảng bà : ” Sống chiến đấu theo gương bác Hồ vĩ đại…” vẫn nói. 

Tôi chưa định trả lời thế nào, thì nữ sĩ Anh Thơ tiền chiến chợt nhớ ra, bà nói: ” ngày xưa nhà mình ở nơi có dòng sông Thương chảy qua đấy ” …

Thế là tôi đề nghị bà Anh Thơ đặt cho hồi ký bà : ” Từ Bến Sông Thương “, tôi giải thích đã hết chiến đấu rồi, chị cũng muốn kỷ niệm ” Từ Bến Sông Thương” đó chị thoát ly theo …cách mạng vậy . 

Bà Anh Thơ thú vị lắm, đã hoàn tất có lẽ là tập 1. Còn tập 2 đang coi lại . 

Tôi được nữ sĩ Mộng Tuyết kéo vào một nơi yên lặng nhất của Úc Viên, tư thất của nữ sĩ , dặn dò rằng : ” Thôi Cao Mỵ Nhân đừng ghé nhà chị Anh Thơ nữa, bà ấy là bà Anh Thơ, không giữ được bản lãnh như những người mình đâu, bà ấy nghe ông Thọ nào đó, vừa từ Bắc vô, nói rằng tại sao chị dám để một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị địch đọc hồi ký trước khi phát hành . ” 

 Chu choa cũng may cái mối thân tình của nữ sĩ Mộng Tuyết với bà Anh Thơ lâu năm, chứ không thì họ vu vạ cho tôi tệ hơn nữa cũng chẳng kêu trời được . 

Tiếp theo, có một bữa tiệc  ở Úc Viên, cả bà Anh Thơ lẫn tôi đều có cách nhìn là muốn chào nhau mà cứ ngần ngại, tuy nhiên tôi chỉ là ” chiếc gậy “của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội niên trưởng Quỳnh Dao của chúng tôi, việc tới lui với bà Anh Thơ cho dù có thuận thảo, cũng chỉ là thứ yếu …

                      CAO MỴ NHÂN 

=================================================================

CHAPA  DANG DỞ.     CAO MỴ NHÂN 

Trở lại Chapa năm nay, có lẽ là lần cuối tôi với chàng không còn cơ hội gặp nhau nữa.

Tại sao tôi có ý nghĩ này, bởi lý do rất khách quan, là cả chàng lẫn tôi đều chán nhau đến độ tôi cứ nhìn đồng hồ xem đêm đã hết tới đâu.

Tiếng tích tắc của chiếc kim đếm thời gian, như tiếng búa đóng đinh trên nắp quan tài tình ái rỗng tuếch, trái với ước mơ thủa ban đầu, những cặp tình nhân thường thiết tha thổ lộ : ” Chúng mình sẽ chết cùng nhau trong một huyệt mộ ” .

Mùa xuân này hoa đào vẫn nở như những mùa xuân trôi qua thung thổ núi rừng  Chapa, khi tôi được sinh ra, lớn lên, trong bầu không khí ẩm ướt quanh năm .

Tôi bỗng muốn khóc thét như những cô nàng Mèo đến tuổi cập kê xưa, hay khóc oà ra như trẻ thơ thèm sữa mẹ quá, mà người mẹ đi mãi không về. 

Mùa xuân ư ? 

Mùa xuân ở một miền lâm nguyên xa nhất, cao nhất đất nước Việt Nam . 

Quý vị sẽ cười mỉm, rồi nói rằng: ” Lâm nguyên nào mà chẳng ở xa nhất so với nơi chúng ta đang sinh sống thường ngày, thí dụ người ở Cao Bằng nhìn về Đà Lạt . Hay người ở Cà Mâu ngó tới Lạng Sơn chẳng hạn …” 

Nhưng cao nhất, thì không thể lý luận chung chung thế được, cao nhất hay không, phải so từ mặt đất xuống bờ đại dương chứ . 

Đại dương là cái bình thông đáy khổng lồ, tuy nó được Thượng Đế cho hiện hình theo độ cong của địa cầu, nhưng tôi không dám lan man …

Tôi chỉ đang muốn tưởng tượng lại chốn xưa, nơi tôi được sinh ra : Chapa như nêu trên, danh xưng nghe tưởng là câu thần chú nhật tụng mỗi lần tôi nhớ lại, tưởng tượng thêm, vì mỗi ngày mỗi chồng chất thêm năm tháng . 

Bức thư của người Chapa gởi cho tôi, bảo rằng : 

” Cô có về không, cả một phương trời đầy hoa anh túc, đa sầu đa sắc, đã tất cả cùng phai như mầu tóc thượng tầng cao nguyên Xuân Viên, làng nghỉ mát Chapa, Đông Dương…” 

Ôi sao chúng ta cứ phải níu kéo dĩ vãng cả trăm năm trước thế ? 

” Thế cô không nhớ tôi là chàng a phủ thời đó ư ? 

Hãy lắng lòng thêm một chút nữa, hình ảnh mùa xuân đầy khói sương đã huyễn hoặc chúng ta cho đến giờ này, dẫu cô đang xa cách thiên đường chúng ta cả nửa vòng trái đất, tôi vẫn bồi hồi xúc động, nhớ nhung… “

Tôi chạnh nhớ tới mùa xuân sau cùng, khi bố mẹ tôi quyết định rời bỏ Chapa , đưa chị em tôi về suôi . 

Tức là sau mùa xuân năm đó, chúng tôi đã ở đồng bằng . 

Mỗi lần mẹ và chúng tôi, ngước nhìn trời mây châu thổ bay về hướng núi xa xôi, tất cả đều buồn, chị lớn tôi tên Thy , lại kể chuyện Chapa, làm  như chỉ có mình chị Thy tôi biết : 

” Có nhớ không, cái đám rước từ lòng rừng ra khỏi dốc hoa đào, ngang cửa nhà mình, tiếng kèn Mèo quyện vào tiếng thanh la, rung cả nhà cửa, em Mỵ , là tôi đấy , sợ quá , 2 tay bịt mắt lại , chúi xuống gầm bàn …” 

Bà cô tôi đang lo tết nhất nhà quê ngoài Bắc, dừng tay quấy nồi chè kho, là chè đậu xanh đánh như chè Huế, nhưng bỏ mật ( mật là loại đường đen lỏng ) hỏi chị Thy  tôi:

” Vậy người Mèo thế nào ? Ăn mặc thế nào ? Dữ hay hiền ? ” 

Người Mèo ở độ cao nhất các thứ người thiểu số đó . 

Họ dệt vải ” thổ cẩm ” chủ yếu  có 3 mầu thôi, đen , đỏ và chàm. 

Thấy trong đám rước hôm đó, đàn ông mặc quần, áo lá, đàn bà mặc váy , áo lá . 

Đó là ngày xa xưa, chứ bây giờ, thanh niên dân tộc thiểu số đã văn minh, mặc quần jean, áo thung, xe honda  leo núi như điên rồi .

Đám rước gồm đàn ông, đàn bà đi hàng dọc lộn xộn, đông độ mấy chục người thôi, không có người già quá, cũng không ai bế ẵm con nít quá nhỏ đi theo. 

Họ đi suốt con đường chính của thành phố Chapa mà thủa đó kéo dài cho tới bây giờ, cơ sở đẹp nhất vẫn là ngôi nhà thờ xây bằng đá . 

Ở ngay cửa ra vô lòng nhà thờ , có cây hoa đào cánh kép . 

Đám rước  xuống khu chợ, dừng  ngang nhà bà đồ Mèo . 

” Bà đồ Mèo ” là tiếng của người Kinh gọi bà người Mèo, bà chuyên nghề ” xỏ lỗ tai ” cho các cô bất kể Kinh Mèo…và nhất là các bé gái .

Chị em tôi cũng được mẹ dẫn tới xỏ 2 lỗ tai để đeo khuyên bạc với kiềng bạc như tất cả chị gái và bé gái ở Chapa xưa. 

Bà đồ Mèo bỏ rừng ra thành phố lập nghiệp ” xỏ lỗ tai ” . 

Bà đồ Mèo lấy một chiếc kim may nhỏ đã luồn sẵn một sợi chỉ tơ trắng ngả mầu cháo lòng làm dụng cụ xỏ tai. 

Điều quan trọng là bà đồ Mèo chỉ dùng 2 đầu ngón tay cái và trỏ bên tay trái, bóp vào trái tai, giữ yên đó, xong tay phải cầm cây kim may  kể trên . 

Đoạn bà xuyên cây kim qua trái tai đang có 2 ngón tay bà giữ, cho cây kim chui qua hẳn lỗ nhỏ với sợi chỉ tơ để một khúc chỉ nối lại, đánh dấu 2 lỗ tai của khách hàng .

Cho tới khi lỗ tai tự lành, cắt chỉ toong teng, còn lại 2 lỗ thủng ở 2 trái tai sẵn sàng đeo đôi khuyên bạc như tất cả con gái Mèo . 

Cứ cách xỏ tai chuyên nghiệp đó, bà đồ Mèo là người duy nhất làm nghề quen thuộc này ở Chapa.

Thái độ nửa tỉnh thành, nửa man dại của bà đồ Mèo, đã hấp dẫn hầu hết khách bất kể ai muốn xỏ lỗ tai. 

Bữa có đám rước nêu trên, bà đồ Mèo kê ngoài cửa nhà một cái lu bự đựng nước mưa trong veo, gác mấy cái ống bương đã được cưa mấy đoạn có cái mắt bương, để làm đồ dùng múc nước  uống, như ở miền suôi họ có gáo dừa múc nước .  

Đám rước Mèo dừng lại, mấy người thay nhau uống nước . 

Rồi theo nhau líu ríu trở vô rừng đang có chút nắng xuân . 

Chắc bộ lạc ấy cũng đông, ước độ vài trăm người.  

Cuộc sống lẩn khuất, huyền bí của họ , chẳng làm phiền ai. 

Sa Pa  trẻ trung bây giờ là hậu thân của Chapa già lão  cỗi cằn, mà tôi cứ thương nhớ mãi . 

Trung Tâm Du Lịch Sa Pa lâm nguyên, như cô gái  tầm xuân, cứ lượn lờ trước mắt khách du, không sao tìm được quá khứ, cho dẫu quá khứ đó không đẹp, huống chi quá khứ đó lại quá tuyệt vời . 

Tôi cúi xuống thau nước ấm mùi hoa đào, che dấu những giọt nước mắt não nùng đang lã chã tuôn rơi…

Thì cũng phải  ra phố một lần trước khi vĩnh viễn chia tay. 

Tôi thay chiếc áo lụa bạch, mầu tóc cũng lạt phai như tình ái cuối mùa tang chế…

Chàng đăm chiêu buồn, chắc đang tưởng nhớ thời gian chúng tôi gặp nhau ở “chợ tình ” . 

Nghĩ đến ” Chợ Tình “, tôi lại buồn cười . 

Sự thực cách đây hơn nửa thế kỷ, không ai nói hay là nhắc tới, bởi lẽ khi người Pháp còn trên đất nước VN nói chung, và ở Chapa nói riêng, Chapa do tên Tây đặt cho phần đất mà họ gọi là ” Làng nghỉ mát ” để những ông tây bà đầm đi du lịch hay dưỡng bệnh . 

Nếu đúng dịp 14-7 dương lịch hàng năm, thì những người Tây đó họ tổ chức tiệc tùng vui chơi kỷ niệm ngày phá ngục 

Bastille 14-7-1789, dựng Khải Hoàn Môn ở Paris. 

Họ căng dù mầu, kết hoa, rượu Tây, bánh ngọt vv…

Người Kinh và người Mèo thường nói ” ngày hội ” Cát tó zdu zdee ” có nghĩa ” 14 – juillet ” vậy thôi. 

Danh xưng ” Chợ Tình Sa Pa ” sau này như một hứng thú với khách du lịch trong và ngoài nước, âu là cái số lãng mạn cho một thành phố núi rừng thời đại . 

Rằng nơi đó, chợ tình nhóm họp ở vài chỗ công cộng trong thành phố . 

Nơi nam nữ thanh niên có thể tới đó gặp gỡ, hẹn hò vui vẻ, và cũng đã từng người bản xứ vừa ý, nên duyên chồng vợ . 

Ở Praha Tiệp Khắc có ” Cầu Tình “, nhưng chiếc cầu này chỉ có những nghệ sĩ lãng tử ngồi đàn ghi ta, phong cầm dửng dưng, ai muốn nghe thì nghe, không hề thấy những đôi nhân tình tới đó ngó mây trôi dưới đáy sông. 

 Bất giác tôi mỉm cười nhẹ như hơi gió bấc thổi tới lâm nguyên lạnh lẽo, buồn bã: 

” Anh ạ, hương hoa anh túc sẽ ủ hồn em cho tới khi Chapa tan vào khói sương nha phiến …”

Chàng hôn khẽ vào đôi mắt mờ lệ tủi, tại sao tôi phải khóc khi chính nguyên nhân giã biệt không cần phải đặt ra. 

Như thế nghĩa là sao ? 

Có ai bắt buộc chàng và tôi phải xa nhau vĩnh cửu trọn đời này ? Ôi, câu hỏi tự nó trả lời rồi. Đất trời đã là vực sâu ngăn cách đấy . 

Chẳng lẽ tôi ở lại đây ? 

Còn chàng, thì chẳng lẽ theo tôi đi đến cuối trời xa tít mù khơi ư  ? 

Tức là chúng tôi thiếu sức khoẻ, hay nói thẳng ra chúng tôi không còn tuổi trẻ để trang trải tình yêu say đắm hương xuân của hoa rừng ngạt ngào, trên những vạt cây anh túc muộn phiền mê muội . 

Nhưng sao cứ mỗi mùa xuân về, tôi cứ phải gặp lại Chapa, 

vì tôi không có gì ngoài Chapa làm vốn liếng  . 

Tôi chỉ có vùng trời đó, phần đất đó làm vốn liếng cho tư duy, nuôi dưỡng tâm tư tình cảm tôi, điều sáng rỡ lấy làm hãnh diện cho tôi bầy tỏ với mọi người . 

Tôi đứng ở biên đình, như một người sống giữa quê hương, đợi khách lỡ viễn phương, cả hai đều mang tâm sự về Sa Pa dang dở . 

Biên giới hoa đào đã khai quang lãnh địa. 

Ngày xưa chỉ toàn một mầu hồng phấn miên man, thủa nguyên sơ tĩnh lặng không một dấu thú hoang, vì là rừng cảnh, nên chỉ có vết hoa rơi ướt hài khách văn nhân, tài tử . 

Khi ra khỏi nhà ở cửa rừng hoa đào cánh kép, con dốc đổ xuôi hình thước thợ . 

Đó là đoạn dốc ngắn trước cửa nhà ba tôi. 

Ngôi nhà với 3 mặt lắp kiến  dày, và phần lưng nhà thì lại là vách núi cheo leo. 

Cuối đoạn dốc, rẽ qua tay trái, bắt đầu đại lộ chính của Sa Pa, cũng dốc, nhưng thẳng tắp, đại lộ này đã có lần thật xa xăm, bà vú em bồng tôi trên tay, để bước theo đoàn rước của người Mèo, vào mùa xuân năm ấy. 

Chị Mỹ tôi đang được cha cố người Pháp làm lễ rửa tội , và cả gia đình bố mẹ tôi thủa ấy đang sắp sửa bữa tiệc trưa nơi sân nhà thờ đá, để hân hoan mừng đón ân sủng của Chúa vừa cho chị Mỹ tôi trở lại đạo . 

Chị Mỹ tôi bây giờ không còn nữa, nhưng hình ảnh bé gái mũm mĩm mặc áo dài, tóc bum bê, mở to đôi mắt nhìn cha cố 

đọc những lời ” mặc  khải  ” của  Thiên Chúa tối cao, lại khiến tôi thương nhớ Chapa thần thánh nhiều hơn. 

Tôi thở dài, nhà thờ đá vẫn hiện thân của một thời xưa cũ không thay lòng đổi dạ. 

Nhưng sao tôi vẫn thấy lòng mình chẳng vẹn toàn .  

Thế là tôi từ giã chàng, người tình Chapa nguyên thuỷ của tôi, cũng sẽ là người tình muôn đời chỉ hiện diện trong ký ức xa mờ . 

Tôi cúi xuống ven đường vòng quanh Cát Cát, hái một nụ hoa sún mầu xanh biếc, hoa dại chưa từng ai đặt tên, tôi thầm thì nói thật nhỏ, nhỏ thêm chút nữa, bởi vì nếu tôi có nói lớn hơn, cũng chẳng có ai nghe, Chapa sẽ bị chôn vùi cùng cát núi, cỏ rừng …

Tên tuổi nó, mang hình ảnh chàng ta đang lịm chết dưới tảng đá khổng lồ, vô cùng trừu tượng ở muôn xưa Fang ci Pan.

Đã từ nửa thế kỷ trước, người ta khoác cho nó một cái tên hiền lành nhưng thơ mộng là Hoàng Liên Sơn hay Núi Sen Vàng.

 Khi tôi đứng cạnh anh, tôi chỉ là tấm bia đá sầu  ghi nhớ cuộc tình si thung thổ của lâm nguyên này .

Chiếc xe rời khỏi cầu Mây, tôi bâng khuâng tự hỏi: ” Tới bao giờ trở lại ? Ô hay vĩnh biệt rồi mà . ” 

Dẫu không tử biệt, cũng là sinh ly. 

Trăm năm như một luồng gió thổi qua vách núi, mang khí lạnh về suôi, không có một hơi ấm nào ngoài năng lượng của mặt trời, ấp ủ tình yêu mất dần ý nghĩa : Chapa huyền thoại đâu còn nữa, chỉ có Sa Pa huyễn hoặc ở thủa này . 

               CAO MỴ NHÂN 




NẾU CÓ MỘT NGÀY….Kiều Mỹ Duyên

NẾU CÓ MỘT NGÀY ...

KIỀU MỸ DUYÊN

Kiều Mỹ Duyên cầu nguyện hàng ngày, cầu xin bình an và hạnh phúc.

          Tôi là người mộ đạo, tôi cầu nguyện hàng ngày cho những người thân của tôi vừa mới ra đi hoặc đang nằm trong viện dưỡng lão hay ở nhà. Tôi cầu nguyện nếu có một ngày đẹp trời trong tuần lễ, tôi không nghe người quen tôi ra đi không trở lại, ra đi vĩnh viễn. Tôi rất thích nghe tin vui, đám cưới, tôi thích nghe tiếng cười hơn tiếng khóc, tôi thích nhìn những gương mặt hiền từ, giọng nói tao nhã, tôi không thích người này đả kích người kia. Tôi không thích nhìn thấy hình ảnh của người tị nạn, những đứa trẻ mồ côi cõng em của mình đi tị nạn trong lúc cha mẹ của em đã chết trên đường tị nạn. Tôi thích đồng bào tôi có nhà để ở, sống hạnh phúc trong ngôi nhà của mình. Buổi chiều đi làm về, ánh đèn trong nhà bật sáng để đón chủ nhà trở về sau một ngày làm việc mệt nhọc.

          Tôi thích nghe và nhìn thấy người già, người trẻ hát líu lo. Tôi còn nhớ trong một chuyến đi hội thảo ở Jamaica, trong một buổi tiếp tân ngoài trời, trong một nông trại rộng mênh mông, một ông lão khoảng 90 tuổi vừa bưng một khay thịt nướng đến mời khách, ông vừa đi vừa hát một bản nhạc vui tươi. Khuôn mặt của ông rạng rỡ, mỗi lần ông nhảy múa thì khay thịt nướng trên tay ông nhảy múa theo điệu nhạc mà ông đang hát.

            Đời sống ở núi rừng sao mà dễ thương quá.

Kiều Mỹ Duyên yêu thiên nhiên, yêu cây cỏ, yêu thú hoang trong rừng.

          Đời sống ở núi rừng sao mà dễ thương quá. Nông trại gần 50 mẫu tây, cây cối xanh mướt, những con nai vàng đang gặm cỏ, ngơ ngác nhìn du khách đến thăm nông trại. Người dân ở nông trại sống với thiên nhiên, người nào cũng vui vẻ, hồn nhiên. Nông trại dưới chân núi, trước mắt là dòng sông xanh mướt, nhiều du thuyền lướt trên dòng sông, du khách đưa tay chào thân thiện người ở trên bờ. Những cô gái dáng người rất đẹp, ăn mặc theo thời cổ ở Âu Châu, cưỡi ngựa đi trong nông trại, các cô xuống ngựa nhẹ nhàng như các hiệp sĩ thời xa xưa.

          Tôi mơ ước có một ngày mọi người ca hát, nhảy múa vui tươi, không thù hằn, không đả kích lẫn nhau. Tôi mơ ước người yêu thiên nhiên, yêu tiếng chim hót líu lo trên cành cây, và tiếng cười của con suối. Tôi mơ ước có một ngày nhà nhà không đóng cửa, thái bình như thời vua Nghiêu, vua Thuấn, tiền rớt ngoài đường không ai thèm lượm.

          Tôi mơ ước có một ngày người yêu người, yêu thiên nhiên, tôi mơ ước có một ngày mọi người yêu cây cỏ, yêu thú hoang trong rừng. Tôi mơ ước có một ngày không có thợ săn săn mồi trên rừng xanh núi thẳm. Tôi mơ ước có một ngày không có một quốc gia nào chế ra bom nguyên tử để giết người, không có nước nào sản xuất khí giới, bán khí giới để giết người. Tôi mơ ước có một ngày những người ở các quốc gia giàu mạnh giúp cho những quốc gia đang phát triển về giáo dục, xã hội, y tế, kinh tế, v.v. Tất cả những đứa trẻ được ăn no, mặc ấm và đến trường học như những đứa trẻ của các quốc gia tân tiến.

Tôi ước có một ngày những người già không phải vào viện dưỡng lão mà được sống vui vẻ, hạnh phúc ở nhà với con cháu.

          Tôi ước có một ngày những người già bệnh hoạn không phải vào viện dưỡng lão mà được sống vui vẻ ở nhà với con cháu cho đến khi nhắm mắt lìa đời một cách thanh thản. Đến rồi đi, hành trình sống ở trần gian đầy đủ lắm rồi, không có gì để hối tiếc, làm xong bổn phận của con người rồi ra đi một cách bình yên.

          Tôi mơ ước mọi thứ đều đẹp như ở Thiên Đàng hay Cõi Niết Bàn, ở một nơi chốn không có chiến tranh, không có người giết người một cách dã man. Chắc quý đồng hương ngạc nhiên lắm, tại sao những người bán khí giới để người giết người, tiền vào như nước rồi đi làm việc thiện, có lẽ để giảm bớt tội của mình?

          Ngày xưa chúng tôi đi cắm trại trong rừng không sợ thú dữ ăn thịt, bây giờ ở ngay trong thành phố, ra đường phải mang khẩu trang vì sợ vi trùng, vào tiệm ăn, ngồi trong xe, ở nhà cũng phải mang khẩu trang vì sợ chết.

          Chúng ta từ khi sinh ra còn nằm trong nôi đã nghe mẹ hát những bài ca dao tuyệt vời, trẻ con vào đời với tiếng hát ngọt ngào đầy tình thương bao la của người mẹ, những đứa trẻ lớn lên được thương yêu bằng tiếng hát của người mẹ, tiếng hát ngọt ngào đi vào trái tim của trẻ thơ. Uống sữa mẹ, nghe tiếng hát của mẹ, lớn lên đứa trẻ yêu đời, yêu người mà sống, đời đẹp quá người ơi!

Con lớn lên từ lời ru thương yêu của mẹ.

Tiếng hát ngọt ngào của mẹ đi vào trái tim con.

          Tôi đã đến các buôn Thượng, người thiểu số sống rất giản dị, đói thì ăn, khát thì uống, khoai, chim rừng, nước suối, cưỡi ngựa, bắn chim, tắm dưới suối, đời sống bình thản, sống với thiên nhiên, chết với thiên nhiên, đi ngủ theo mặt trời đi ngủ. Những đứa trẻ sinh ra không đi học, thật thà như ông bà cha mẹ, không nói chuyện văn hoa lá cành nhưng họ thật lòng, tiếp khách từ xa đến với trái tim ấm áp của mình.

          Tôi mơ ước có một ngày tôi trở về nhà, sống trong khu vườn rộng mênh mông của cha mẹ để lại với các cháu của tôi còn đang ở Việt Nam.

          Nếu có một ngày hoa nở rực trời, người người đều yêu thương nhau, giúp đỡ lẫn nhau, một ngày nắng ấm, một ngày không có thù hằn, một ngày chỉ có tiếng cười giòn tan, một ngày với tiếng chim hót líu lo trong rừng cây xanh mướt, một ngày không lo âu, gạo đầy lu, nhà nhà đều hưởng thái bình.

Kiều Mỹ Duyên yêu tiếng chim hót líu lo trong rừng cây xanh mướt.

Cầu mong một ngày không lo âu, nhà nhà đều hưởng thái bình.

          Mong lắm thay, tình đầy tim, tiền đầy túi, những đứa trẻ được đến trường học, những cụ già được chăm sóc tận tình và sống hạnh phúc với con cháu của mình.

          Nếu có một ngày người nào cũng khỏe mạnh, sống lâu trên 100 tuổi như những Hướng Đạo Sinh, lưng vẫn thẳng, mắt vẫn sáng, quây quần xung quanh là trẻ thơ ca hát.

          Nếu có một ngày mọi người đầu óc sáng suốt, ra đường khỏi cần máy chỉ đường, đi đâu thì đến đó, người người dùng đầu óc của mình nhiều hơn là máy móc. Nếu có một ngày trẻ con không chăm chú vào máy vi tính để rồi đeo kính cận thị thật nặng, hoặc phải đi mổ mắt vì máy vi tính hay đài truyền hình làm hại mắt của trẻ thơ. Nếu có một ngày người già, người trẻ suốt ngày không ngồi trước máy vi tính giờ này đến giờ khác thì không ai bị cao mỡ, cao đường hay cao máu. Người nào cũng tập thể dục, thể thao, học Pháp Luân Công, Hoàn Nhiên Khí Công, Hoàng Hạc Khí Công, thái cực quyền, v.v. Người nào cũng tập thể thao thể dục hàng ngày cho nên không bệnh tật, an vui tự tại, ăn uống điều độ không sợ mập, không sợ bệnh. Tôi mơ ước một ngày không có người giết người, không có những người có bầu rồi phá thai. Sẽ có một ngày người thương người, người già, người trẻ, những đứa trẻ chưa ra đời cũng được thương yêu.

          Sẽ có một ngày không có quốc gia nào có Cảnh Sát, không có quân đội, không có nhà tù, vì không có tội phạm. Khi đó sẽ không cần mua khí giới, xe tăng, thiết giáp để phòng thủ cho quốc gia mình.

          Tôi mơ ước có một ngày ngủ không cần đóng cửa vì không có quốc gia nào có trộm cắp viếng nhà. Sẽ có một ngày có nhiều chùa, nhiều nhà thờ, nhiều cơ sở từ thiện mà không có nhà tù.

Kiều Mỹ Duyên mơ ước thế giới hòa bình, các quốc gia đều có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.

          Tôi mơ ước thế giới hòa bình không có quốc gia có người tranh đấu cho có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo vì không có độc tài, không có đàn áp, không có người giết người thì đâu cần đến khí giới, súng đạn?

          Ôi, giấc mơ của tôi sao tuyệt đẹp, không biết giấc mơ này có thực hiện được ở trần gian hay giấc mơ tuyệt vời đó chỉ có trên Trời, hay trong giấc ngủ nhiều mộng mơ?

          Ôi, mộng và thực khác nhau xa lắm, nhưng mơ thì vẫn mơ. Mơ cho đời đẹp, mơ cho cuộc sống thêm thi vị, cũng như tôi đã từng viết rằng thần tượng của tôi là người, thần tượng của tôi không phải ngồi trên bàn thờ. Nhiều độc giả hỏi tôi vậy thì thần tượng của tác giả là ai, ở đâu mà nhìn tôi khóc, nghe tiếng tôi cười? Hay nhất là im lặng, im lặng hơn ngàn lời nói.

          Mộng và thực không cùng với nhau. Thôi thì cứ mơ ước cho cuộc đời thăng hoa?

Orange County, 31/8/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




THƠ Xướng Họa Chào Mừng THÀNH VIÊN MỚI Ngọc Hạnh – Phương Hoa – Minh Thúy + Hoàng Mai Nhất & LỜI CHÚC MỪNG H/T Lê Văn Hải + 2 Bài Viết “Hoa Thịnh Đốn và Bức Tường Đá Đen” & “Vào Thu” của Tác giả Ngọc Hạnh

Tác giả Ngọc Hạnh

Tóm tắt tiểu sử:

Tên: Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

 Bút hiệu: Ngọc Hạnh

Cử Nhân Văn Khoa Đại Học Văn Khoa Sài Gòn

Cựu giáo Sư Đệ II Cấp Trường Trung Học Nguyễn Trãi Sài Gòn

Định cư VA, Hoa Kỳ năm 1980

*

 Thành Viên: Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ, Cô Gái Việt, Minh Châu Trời Đông

Công tác với: Kỷ Nguyên Mới, Đặc San Không Quân, Thương Mại Miền Đông, Diễn đàn huongduongtxd.com

*Giải thưởng Văn Chương của Việt Báo, hạng Danh Dự năm 2019

*

 Sách đã Xuất Bản:

Du Ngoạn Đó Đây IV: Xuất bản 2017

Du Ngoạn Đó Đây III: Xuất bản 2012

Du Ngọan Đó Đây II: Xuất bản 2008

Du Ngoạn Đó Đây I: Xuất bản 2007

Chút Lời Vỗ Tay Chào Mừng!

Lê Văn Hải

VTLV rất hân hạnh, nồng nhiệt đón chào Nhà văn, Nhà thơ nữ Ngọc Hạnh…đã gật đầu tham gia… nhập đàn! với Chúng ta.

Đây là cây bút nữ rất…nặng!…trên cả 100 ký! (Vì lúc nào cũng mang trong người, cả… “bầu!” chữ nghĩa!)

Từ VN, Chị đã tốt nghiệp Cử nhân Văn khoa, Giáo sư trường Trung học nổi tiếng Nguyễn Trãi.

Ra Hải ngoại, sinh hoạt Văn nghệ với nhiều tạp chí, diễn đàn khắp nơi, ít ra cũng đã trên 20 năm!

Cách đây khoảng 2 năm, Chị đã đoạt giải Văn chương “Viết Về Nước Mỹ” của Việt Báo, Thành viên của Văn Bút VN Hải Ngoại, đã xuất bản ít nhất là 4 tác phẩm….

Đây chỉ là ít nét của Cây bút nữ… “dữ dằn”  này. (Viết ra chi tiết, phải đi bác sĩ, vì…gẫy cả cái tay!)

Một lần nữa, xin gởi Chị Bó Hoa Chào Mừng! Xin Chị cứ tự nhiên (không cần bỏ giầy, guốc, dép)…rước Chị vào Nhà! (Thay vì lên đồi!)

Kính Mời.

*Đây là tin vui, nên lời văn, có thiếu chút…đàng hoàng, đứng đắn! Mong Chị thứ lỗi.

VÀO THU

Chúng ta đã vào hơn giữa Tháng Tám, trẻ em đã vào trường lại, cây lá mầu xanh đã bắt đầu đổi vàng, trời chiều mang chút sương lạnh, dấu hiệu chào đón…Thu Đã Về!

Mùa Thu, mùa của những…”Con Nai Vàng Ngơ Ngác!” Mùa của thi nhân. Nào mời tất cả chúng ta cùng thưởng thức một Cô Nai say sưa trong Rừng Thu nhé, qua ngòi bút của Chị Ngọc Hạnh. Xin mời…..

LÊ VĂN HẢI

tinh thu ngoc hanh.jpg

TÌNH THU

Ngọc Hạnh

Trời đã vào Thu, lá trên cành cây chung quanh nhà tôi đã đổi màu tuyệt đẹp, vàng cam, hồng

hồng, vàng tươi….Thỉnh thoảng một cơn gió thoảng qua là hàng ngàn chiếc lá rơi như đàn bướm lượn, đẹp mắt vô cùng.. Nhìn lá vàng rơi tôi nhớ đến những lần đi du ngoạn mùa Thu với bạn bè cùng sống trong vùng, do một nhà văn kiêm nhà thơ lão thành khởi xướng và hướng dẫn. Anh như con chim đầu đàn, từng là chủ bút các Tuần báo, Nguyệt san ở Việt nam và Hoa kỳ, xuất bản nhiều tâp thơ, truyện ngắn, truyện dài… Nhìn thác nước, trời xanh hay bất cứ cảnh đẹp nào anh là sáng tác một bài thơ.Tuổi cao nhưng thơ văn anh ướt át, tình cảm đậm đà chẳng khác chi người trẻ tuổi. Anh yêu thiên nhiên, sông núi, yêu quê hương, và yêu… người đẹp.

Theo anh con người có thể đẹp về thể chất hay tâm hồn. Lúc nào gặp cũng thấy y phục anh cũng tươm tất, chỉnh tề. Tóc anh bạc trắng như ông tiên nhưng nếu ai hỏi anh bao nhiêu tuổi, anh chỉ cười và bảo nhà văn nhà thơ không có tuổi. Lúc chị còn ở trên đời, anh là người chồng tốt, chăm sóc, đưa vợ đi đây đó. Chị bệnh anh tận tình chạy chữa, săn sóc thưc ăn giấc ngủ. Anh còn chịu khó đón đưa các bạn khác đến nhà chơi mà chược với chị cho chị vui. Vì phần lớn thơ anh là thơ tình, ngọt ngào, nên tôi hỏi chị có ghen tị với những người tình trong thơ văn của anh không. Chị trả lời liền, “đó là nguồn cảm hứng để sáng tác, không có thật đâu.” Hỏi chị nếu có kiếp sau chị có bằng lòng làm vợ anh lần nữa không, chi trà lời là “bằng lòng cả hai tay”, vui chưa.

Chị mất ít lâu anh có bạn gái. Tại sao không? Có người trò chuyện cho vui khoảng đời còn lại là điều may mắn, không phải ai cũng có được ở tuổi vàng như anh. Anh quan niệm sống một ngày vui một ngày. Buồn bã, âu sầu phiền muộn ảnh hưởng đền sức khỏe, mang bệnh làm phiền gia đình là không có anh. Các con anh có hiếu, mua xe mới để anh đi lại và đưa đón… bạn gái cho an toàn.

Theo anh tình yêu là đề tài không bao giờ chán từ ngàn năm trước, từ Âu sang Á, từ vị vua sang

cả cho đến thường dân áo vải chân đất. Vì tình yêu mà hoàng tử nước Anh chia tay với vợ, một

công nương xinh đẹp, cưới một phụ nữ lớn tuổi có chồng có con, nhan sắc thua kém vợ mình rất

xa. Vì tình yêu các bà vợ tù không quản ngại đường xá xa xôi, từ Nam ra Bắc tay xách, nách

mang, lội suối qua đèo thăm chồng trong trại cải tạo.

Và hôm nay vì tình yêu cô bạn Hảo của tôi cũng ngất ngư, nàng xin nghỉ một ngày để đến tôi chơi và tâm sự. Hảo có  bạn trai. Hai người quen nhau trên mạng lưới. Lúc đầu tưởng là trò chuyện cho vui ai ngờ thành bạn thân. Họ nghiện thư nhau từ lúc nào chẳng biết. Không có thư thì mong.

Xa cách nhau mấy ngàn dặm nhưng họ điện thư cho nhau hàng ngày, kể cho nhau nhưng chuyện

bình thường trong ngày, trên báo chí sách vở, tin tưc …

Hảo học ở anh tính lạc quan, hiếu học. Tục ngữ, ca dao, văn, thơ, địa lý, lich sử, âm nhạc bạn Hảo giảng trơn tru. Ngoài ra bạn Hảo có tính thương người. May mắn được chỗ làm tốt, có lương cao, anh thường giúp đỡ người nghèo, bệnh tật ở quê nhà. Hảo muốn đóng góp với anh trong việc thiện nhưng anh bảo có thể lo nổi môt mình. Anh chuyễn cho Hảo xem thư cám ơn của cá nhân hay hội đoàn. Anh cũng hay nhắc tới người Mẹ đã qua đời với lòng ngưỡng mộ, kính yêu. Lúc sinh tiền bà đã nêu gương tốt cho con, hay giúp đỡ, cưu mang người nghèo khó.

Bạn Hảo còn là người khéo nói. Anh nhẹ nhàng, ân cần, và có tình khôi hài. Được điên thư anh,

Hảo khúc khích cười một mình. Họ có cảm tưởng rất gần gủi nhau tuy cách xa hàng 5, 6 giờ bay.

Hảo vui khi nhận điện thư của bạn, có khi 3, 4 lần một ngày cho đến khi Hảo hết hồn nghe bạn

bảo ngơ ngẩn nhớ thương, muốn vượt ngàn dặm đến thăm Hảo để tính chuyện lâu dài…Hảo

phân vân. Anh chưa hưu trí và ít tuổi hơn Hảo nhưng anh quan niệm giống số người Mỹ, chàng

kém tuổi hơn nàng vẫn có thể yêu nhau và ở với nhau lâu dài, Anh nêu trường hợp của Halle

Berry và Demi Moore… và anh nói tuổi tác chênh lệch, tiếng đời dị nghị, anh không bận tâm. Anh bảo tuổi nào cũng đẹp, cuộc đời nào cũng đáng yêu nếu biết sống cho hợp với tính tình mình, nếu biết yêu đời, biết yêu người và biết vui, biết thụ hưởng những gì trời cho. Anh nói nếu muốn thì có thể xin đổi đi tiểu bang khác dễ dàng.

Xúc động, Hảo tự hỏi thương yêu lúc mùa thu của cuộc đời thì có nên chăng? Hảo phân vân,

vương vấn. Bao nhiêu năm lẻ loi, bận bịu với bổn phận. Nay các con trưởng thành được nhàn hạ tung tăng, gặp chuyện này thật là chẳng giống ai. Truyện Kiều đã có câu

Ma đưa lối, quỷ dẫn đuờng

Tìm chi nhưng lối đoạn trường mà đi ……     

Thật là bỏ thì thương, vương thi tội. Hảo bàn với tôi có nên khuyên anh  quên đi “dự tính lâu dài” của anh chăng. Bạn bè quý mến nhau, chia sẻ , tâm sư với nhau là quý lắm rồi,là ơn phươc  bề trên, tham lam chỉ cực thân thôi.Thừơng  quen biết thì nhiều nhưng bạn thân có được mấy người, hiếm như mưa sa mạc. Nghe Hảo tâm sự tôi nhớ lại bài TINH GÌA của Phan Khôi:

……..Ôi, đôi ta tình thương nhau thì đã nặng Mà lấy nhau thi không đặng…Nhưng ……….. Buông nhau thì sao nỡ ….

Theo tôi mỗi người môt duyên phân, tùy quan niêm mỗi người. Nếu có thể đem niềm vui đến cho bạn mình và bản thân, không làm phiền kẻ khác, tại sao không. Đó là ý kiến của người quê mùa nhưng Hảo quyết đinh mà thôi.Vả lại  đâu cần phải sống chung mới hạnh phúc. Nhà thơ niên trưởng kể với tôi mỗi ngày ông tặng cho ngươi yêu một bài thơ dù nàng không phải là thi sĩ.

Thỉnh thoảng anh mới găp và đưa nàng đi nghe nhạc, xem phim… Anh vui, khỏe mạnh cho đến

khi lìa đời thình lình vì bệnh tim (?) và các con cũng vui lây.

Nhìn ra sân hoa cúc đang nở rộ màu sắc rực rỡ nhưng sẽ phai tàn, buồn hiu khi mùa Đông đến và tôi chợt nhớ câu thơ của cô em Ngọc Dung:

Xuân của đất trời, Xuân đi rồi đến

Xuân của loài người, Xuân đến rồi đi

Tôi cầu mong Hảo và mọi người có đủ niềm vui, có tình yêu thương,được hạnh phúc, sống vui

trên đời dù ở quê hương hay hải ngoại…

Ngọc Hạnh.

Ký sự:

Hoa Thịnh Đốn và Bức Tường Đá Đen

Ngọc Hạnh

Tuần lễ vừa qua  vợ chồng người cháu gọi bằng cô từ Cali đến Virginia thăm tôi. Đã lâu cô cháu  chưa gặp nhau, chỉ liên lạc qua điện thoại hay điện thư mà thôi. Mấy lần hai cháu đinh đi thăm cô nhưng việc nhà việc sở lần lữa mãi.

Nhân dịp được nghỉ  lễ “Chiến Sĩ Trận Vong“ (Memorial Day)  hai cháu quyết đinh ghé Virginia thăm  cô và các em họ, trên đường đi Luân Đôn dự lễ tốt nghiệp con gái. Từ Cali bay thẳng đến Luân Đôn  giá  máy bay  rẻ hơn từ Washington DC đi Luân Đôn dù đường bay ngắn hơn.

Tháng 5 vẫn còn mùa Xuân, thời tiết mát mẻ, khí hậu Virginia rất đẹp. Trời không lạnh cũng không  nóng nực. Mưa xuân đủ ướt đất cho hoa cỏ xanh tươi mát mắt. Công viên và tư gia sân cỏ xanh mướt, hoa các loại  đua nhau nở rộ quyến rũ  bướm ong.

Cháu cho biết San Jose thời tiết năm nay hơi bất thường, tháng 5 mà có hôm còn lạnh, ra đường phải mặc ấm. Hai cháu chẳng lạ gì vùng Hoa Thinh Đốn nên chỉ loanh quanh ở nhà với cô và các em cho đến một hôm vào gần cuối tuần, lúc đi thủ đô  Washington DC, hai cháu muốn ghé  thăm bức tường đá đen “Đài tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam” (VietNam Veterans Memorial).

Tôi cũng chưa biết bức tường,  dù cư ngụ ngay tại vùng thủ đô gần 40 năm. Đến đài Tưởng Niệm các chiến sĩ tôi bùi ngùi xót xa cho gia đình họ, cho những góa phụ cô đơn và các con mồ côi thiếu sự chăm sóc của cha thân yêu. Tôi  có đọc báo, xem tin tức cách đây mấy mươi  năm khi  mới khánh thành bức Tường Đá  Đen nhưng toàn là hàm thụ, chưa thấy tận nơi bao giờ. Bà con bạn bè ở xa về chơi đều được các con cháu đưa đi thăm thủ đô và bức tường ghi tên những chiến binh Hoa Kỳ và người ngoại quốc đã chết hoặc mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Lần này tôi cùng đi với các cháu  có lẽ vì thấy một số xe mô tô ồn ào chạy trên đường phố nhắc tôi nhớ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ “Chiến Sĩ Trận Vong“. Các cựu chiến binh  năm nào cũng đến thủ đô đến từ  các tiểu bang khác để dự lễ, mỗi người một chiếc mô tô, chẳng ai đèo ai.

Chúng tôi đến khu công viên quốc gia Washington DC., tìm chỗ  đậu xe cũng dễ vì không phải ngày cuối tuần nhưng phải đi bộ khoảng ngắn. Đi vào cuối tuần gay go hơn nhiều, khó tìm chỗ đậu, tốt hơn là đi Metro vừa nhanh vừa khỏi  tìm chỗ đậu xe khó khăn.

Bức tường Đá Đen nằm trong khu công viên quốc gia, diện tích 8.100 m2, gần khu vườn cây. Nơi đây mát mẻ nhờ cây cao cho bóng mát,  dưới đất thảm cỏ xanh mượt êm như nhung, lối đi bằng thẳng phẳng phiu. Những băng gỗ đặt rải rác theo lối đi cho khách nghỉ chân. Những người  viếng bức tường đủ sắc tộc, Ấn Độ, người da trắng, da đen, da vàng, trẻ em, người lớn, nam, nữ, cụ già, có em bé  trong xe  nôi cho mẹ đẩy đi. Ngày thường không mấy đông nhưng vào cuối tuần hay ngày lễ nơi này rất đông người thăm viếng. Người già, trẻ, thanh niên thanh nữ, chen chúc trên con đường ngắn.  Hôm tôi đến có những vị mặc quân phục đứng tuổi  đến viếng bức tường, dò tìm tên người  thân trên bảng đá đen.

Dưới chân bức tường rải rác một vài cành hoa hay nguyên cả bó hoa tươi.

Mới vào khu vườn đã thấy  tượng 3 quân nhân mang súng bằng đồng đứng trên bục gần bức tường. Ba người nhưng khác màu da: một da đen, một da trắng, và một người quốc tịch khác, người Á Châu?

Một số du khách đứng chờ chụp ảnh kỷ niệm với bức tượng, có người chăm chỉ đọc  những  dòng chữ ghi trên bảng đồng dưới chân tượng.

Cách khoảng ngắn cũng trong công viên có tượng mấy phụ nữ cũng bằng đồng, đang đỡ người nam mặc quân phục, một thương binh?  Tôi  không xem được bảng chú thích nơi chân tượng nên không  biết họ là ai. Mọi người chỉ muốn vào xem bức tường Đá Đen. Tuy khu vực này mát mẻ nhờ có bóng cây nhưng nơi  bức tường thì nắng, chẳng có bóng cây nào cả.

Từ trước, tôi vẫn nghĩ Bức Tường Đá Đen hình vuông dài nhưng không phải quý vi ơi, tường hình chữ V, trải dài từ  cao đến thấp,  không  cùng một chiều cao  đâu. Chỗ cao nhất 3 mét và chỗ thấp nhất 20cm, dài 150 m ghép lại bằng  72 tấm đá hoa cương quý màu đen mang về từ Ấn Độ (Bungalore), ghi tên hơn 58,276 người Mỹ và ngoại quốc đã chết hay mất tích trong chiến tranh Việt Nam (tháng 5/2019). Trong số này có 8 phụ nữ phần lớn là y tá, 16 nhà truyền nhà giáo, 1,200 người mất tích. Lúc đầu chỉ có 57, 937 người có tên trên bảng đá đen lạnh lẽo mà thôi.

Đứng nơi “Bức Tường” quý vị  có thể nhìn thấy cây “bút chì”(Washington Monument ) đỉnh nhọn và cao ở xa xa.

Theo tài liệu công viên Tường Đá Đen xây từ 26/3/82 khánh thành 9/11/82, tốn khoảng 9 triệu mỹ kim. Tác giả bản vẽ  là cô Maya Lin, sinh viên kiến trúc đại học Yale lúc cô mới 21 tuổi, người Mỹ gốc Hoa. Tuy gốc người Hoa nhưng cô sinh trưởng ở Ohio, Hoa Kỳ. Bản vẽ cô được chọn trong hơn cả ngàn bản vẽ của các kiến trúc sư khác gửi về thm dự cuộc thi tuyển. Bức tường màu đen, tên người khắc vào bức tường màu trắng.

Dù hơn 30 năm tường vẫn sạch sẽ không  bám bụi bẩn. Được biết mỗi chủ nhật thứ II trong tháng  từ tháng 4 đến tháng 10 có nhóm người tình nguyện nam và nữ đến sắn tay áo nhúng khăn vào nước sà phòng cọ  rửa bức tường kỷ niệm. Họ là cựu nam, nữ chiến binh Hoa kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Tôi liên tưởng hình ảnh những người mang hoa  thăm mộ người thân trong  các nghĩa trang. Họ đâu chờ đến đúng ngày kỷ niệm. Việc làm của họ người ngoài nhìn vào có vẻ như nhàm chán vô nghĩa nhưng thực ra được gần bức tường có ghi tên người thân cũng ấm áp,làm nhẹ nỗi đau buồn ít nhiều. Nếu không đoàn người đi mô tô đâu bỏ công vượt hàng ngàn dặm đường xa thăm  bức tưng kỷ niệm mỗi năm.

Tôi chợt nhớ bà hàng xóm cũ. Hai vợ chồng bà có người con trai duy nhất đã  tham gia chiến tranh Việt Nam và mất trước khi Mỹ rút quân 2 tuần.  Bà kể lại với giọng  thản nhiên nhưng tôi biết bà đau lòng  khi nhắc lại chuyện cũ.

Thật không hiểu  được, tuổi trẻ, con một, nhà khá giả lại đi tham dự cuộc chiến ở quốc gia xa lắc xa lơ, thiếu tiện nghi vật chất, để cho cha mẹ lo sợ nhớ thương. Sau  này ông bà bán gian nhà đang ở rộng rãi, mua nhà khác nhỏ  hơn có 1 một tầng thôi. Lúc bán nhà Bà mời tôi  sang nhà bà chơi bảo thích gì thì lấy và bà nói đùa là” trừ cái đàn piano” vì bà là giáo  sư dạy đàn. Nhìn hình con trai  bà, một thanh niên khôi ngô  sớm vĩnh viễn ra đi cho quê hương Việt Nam, buồn ơi là buồn.

Định mệnh trớ  trêu, tre khóc măng.  Chồng  bệnh, con mất sớm nhưng xem bà có vẻ bình an có lẻ nhờ ở đức tin mạnh mẽ chăng. Tôi thấy ông bà đi nhà thờ mỗi chủ nhật và thường đến thăm bức Tường  Đá Đen ở thủ đô dù chẳng phải ngày lễ.

Thật ra Bức Tường Đá Đen  cách hồ Tidal  Basin thơ mộng thủ đô  Washington DC không bao xa, có thể đi tản bộ trước hay sau khi thăm Bức Tường cũng tiện lắm: gió mát, cảnh trí an lành thanh  nhã.

Theo cháu tôi công viên quốc gia  thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nơi có các đài kỷ niệm đã thu hút  người thăm viếng đông nhất nước, 4, 5 triệu du khách  mỗi năm…Hai vợ chồng cháu tôi rời Virginia vài ngày trước lễ”Chiến Sĩ Trận Vong” nhưng đã thấy các đoàn mô tô to  ồn ào chạy trên đường  lộ hướng về thủ đô. Tuy nhiên họ chưa vào thành phố chỉ ngụ các khách sạn ở ngoại ô vùng Virginia. Nhìn là biết họ từ xa về, áo da chắn gió, mũ bảo vệ, kính đen thật to… Chiếc xe thì to gấp rưỡi chiếc xe mô tô bình thường, tiếng máy nổ cũng ồn ào hơn các xe mô tô nhỏ.   

Theo  tôi biết các tiểu bang Hoa kỳ đều có tổ chức lễ “Chiến Sĩ Trận Vong” vào thứ hai tuần lễ cuối cùng của tháng 5 nhưng có lẻ thủ đô Hoa Thịnh Đốn tổ chức trọng thể nhất. Các cuộc diễn hành đẹp mắt, y phục, đi đứng trang nghiêm từ các học sinh đến các đòan thể, các  binh chủng khác nhau… Các đoàn quân nhạc với nhạc khí sáng ngời, y phục thẳng nếp. Các màn múa súng điêu luyện vui mắt. Ở nghĩa trang quân đội Arlington Washington DC  trước mỗi mộ bia đều có cắm lá cờ Hoa kỳ nhỏ.

Có lẽ  quý vị  cũng đã  xem diễn hành trên màn ảnh rồi. Tôi chỉ muốn nói đến sự hiện diện của  các Hội Đoàn và công đồng người Việt vùng Maryland, Virginia và Washington DC trong buổi diễn hành. Đồng bào hải ngoại cũng vui thấy đại kỳ và cờ Việt Nam  Cộng Hòa phất phới trong buổi lễ, các tà áo dài phụ nữ Việt tha thướt xuất hiện trong đoàn diễn hành long trọng và trang nghiêm ở Washington DC.

Trong 32 năm nay, vào ngày lễ “Chiến sĩ Trận Vong” từ các tiểu bang khác, cả ngàn cưu chiến binh lái mô tô trải qua bao nhiêu ngàn dặm, chịu nắng gió nhọc nhằn về Washington DC.

Có tài liệu cho biết năm 2018  khoảng 100,000 người lái xe mô tô về  thủ đô dự buổi diễn hành ngày lễ Memorial Day. Tuy đường xa  nhưng họ về vừa dự diễn hành vừa thăm tường kỷ niệm, tưởng nhớ, vinh danh các cựu chiến binh anh dũng, các đồng đội đã vì lý tưởng cao quý, hy sinh cuộc sống riêng tư an lành tốt đẹp, tham gia chiến tranh Viêt Nam, một quốc gia  xa xôi khác tiếng nói màu da với người Hoa kỳ. Một số lớn những người này bỏ mình nơi xa lạ, không ai ruột thịt thân yêu trong giờ phút lâm chung, vĩnh biệt trần gian vì nước Mỹ từng muốn giúp một quốc gia đồng minh chống Cộng.

Đoàn xe mô tô phủ bụi đường xa được dân chúng thủ đô nhiệt liệt hoan nghênh, đón chào. Tiếng máy xe ồn ào, ầm ĩ vang dội cả khu phố khi đoàn xe đi qua.Ngày thứ hai 27/ 5/19 họ tâp trung và khởi hành từ bãi đậu Pentagon vào buổi trưa, đi qua Memorial  Bridge, đại lộ Constitution đến West Potomac Park. Xe nào cũng có lá cờ Hoa Kỳ  mới rực  rỡ như  một rừng cờ di động, Điểm cuối đoàn xe là Vietnam Veterans Memorial.  

Thường đoàn Rolling Thunder đến Washington DC vào cuối tuần, thăm viếng vài nơi  thủ đô, chuyện trò với các đoàn thể, người quen… và chính thức dự lễ Chiến sĩ Trận Vong vào ngày thứ hai.

Năm nay, 2019, là năm  cuối cùng  đoàn Rolling Thunder tham dự diễn hành ngày lễ Memorial Day ở Washington DC. Tôi nghĩ họ mệt mỏi  do tuổi cao và đường xa, vì các cưu chiến binh người trẻ nhất cũng trên 60 tuổi. Nhưng, theo báo chí nguyên nhân họ không tiếp tục tham dự vì lý do tài chính. Tiền thuê bãi đậu xe và mướn người giữ an ninh  ở Pentagon cao.  Đoàn  mô tô  Rolling Thunder diễn hành  ngày “Chiến Sĩ Trận Vong” mấy chục năm  quen lệ như  một “truyền thống”, vắng đòan xe  sẽ có nhiều người tiếc nhớ.

Được biết  Rolling Thunder thành lập năm 1987 với số thành viên khiêm tốn, năm kế tiếp 1988 có 2,500 người tham dự và từ đó đến nay năm nào họ cũng về thủ đô dự lễ Chiến Sĩ Trận Vong.

Từ đây về sau mỗi năm  vào tháng  5, dân chúng vùng thủ đô hết còn nghe tiếng máy xe mô tô ồn ào và rồi những cựu chiến binh trên đường phố, hình ảnh quen thuộc với dân chúng.

Nhìn bề ngoài những người này trông bặm trợn, hùng hổ  nhưng thật ra  tình cảm  họ cũng nồng nàn, tha thiết  với chiến hữu, đồng đội. Trông cách họ chịu khó vượt bao nghìn dặm đến thăm đài kỷ niệm, nhẹ nhàng dò tìm tên người thân hay đồng đội trên bức tượng đá vô tri lạnh ngắt thì biết.

Đi viếng đài tưởng niệm  tôi xót xa nghĩ đến những người đã nằm xuống cho quê hương tôi dù họ là người Hoa kỳ hay nước khác.Tôi nhớ nghĩa trang Biên Hòa không  người thăm viếng thường xuyên như ngày trước và liên tưởng hậu quả tang thương do chiến tranh. Riêng nước VN cả triệu người phải rời bỏ quê hương, cửa nhà tan nát, gia đình ly tán. Họ  vượt biển, một số chìm sâu trong lòng biển cả hay mất xác trong rừng rậm, làm mồi cho thú dữ…

Phần lớn những người có tên trên bức tường đen đã có gia đình,có cuộc sống êm đềm với vợ trẻ con thơ hay cha mẹ  thân yêu nhưng họ đã chết cho đất  nước Việt Nam và con số không nhỏ. Xin vô cùng tri ân  các cựu chiến binh  chiến tranh Việt Nam, dù họ  qua đời hay còn khỏe mạnh, lành lặn hay thương tật. Quân nhân nhất là chiến binh trong thời  chiến  theo tôi là những người  cực nhất trong các ngành nghề. Họ không quản ngại nắng mưa, vào rừng lên núi , xa gia đình, người thân yêu… Xin ơn trên ban phước lành cho  các cựu chiến binh  và gia đình họ. Cầu mong họ có đời sống tốt đẹp an vui. Bên ngoài  nắng nhẹ, trời trong, đàn chim  hót líu lo, nhảy nhót tung tăng và bướm vờn  quanh khóm hoa  Xuân rực rỡ màu sắc…

Ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong 2019
Ngọc Hạnh

WELCOME TO THE TEAM

CHÀO MỪNG NHÀ VĂN NGỌC HẠNH

CHÀO MỪNG tân khách đến Thành San

Nữ sĩ tham gia với Diễn Đàn

NGỌC HẠNH chữ tuôn lùa gió núi

Giáo sư bút lướt vẹt mây ngàn

VĂN THƠ vinh dự mời vào cửa

LẠC VIỆT hân hoan rước nhập đoàn

Chung sức đồng tâm gìn Việt Ngữ

Truyền lưu quốc sử họ Hồng Bàng

Phương Hoa – BBT VTLV – AUG 18th 2021

**

CHÀO MỪNG NỮ SĨ NGỌC HẠNH

 (Họa)

Ngọc Hạnh tin vui đến diễn đàn

Lâu rồi nữ sĩ tiếng đồn vang

Lời vàng bút vẫy hoà mây nước

Chữ phượng vần bay quyện núi ngàn

Lạc Việt mừng dâng chào nhập sở

Văn Thơ hãnh diện đón vào đoàn

Chung tay hợp giữ gìn ngôn Mẹ

Sử sách tồn lưu đẹp họ Bàng

       Minh Thuý Thành Nội – Tháng 8/18/2021




GIỌNG BUỒN THỔ NGỮ – Văn – Cao Mỵ Nhân

GIỌNG BUỒN THỔ NGỮ.     CAO MỴ NHÂN 

Khi gặp anh …mình thấy ngay cái bóng dáng đàn ông Huế . 

Cái bóng dáng đàn ông Huế đó, không trộn vào đâu được, dẫu trong đám đông, hay ngoài đời …đơn lẻ .

Anh lắc đầu, bật cười : ” Nếu tui không Huế, thì có định quen tui không, răng đưa hình ảnh Huế ra chi rứa, có điều muốn nói điều khen, chê thì phải rõ ràng, không trúng sẽ giận đó nghe…” 

Ô chưa chi đã hăm vậy, ai còn dám sơ rơ nữa hà . Tôi vô chuyện ngay tề . 

Ngày xưa lâu rồi, vị đại tá tỉnh trưởng Đà Nẵng, Nguyễn Văn Thiện  (  1928 –  1970 ), mỗi lần xuất hiện ở đâu, dáng dấp như một công tử, bình lặng nhưng bay bướm …

Quan 6 gốc Thừa Thiên, xuất thân từ binh chủng Thiết Giáp, đi từ Trung đội trưởng Thiết Giáp, lên Chi đoàn trưởng Thiết giáp , rồi vv chức vụ khác, để sau chót là Chỉ Huy Trường binh chủng  Thiết Giáp, mới ra ngành đi các đơn vị có tính cách tham mưu, hành chánh vv…

Với những buổi lễ đặc biệt, phải có sự hiện diện của tỉnh thị trưởng, thí dụ lần đầu tiên Hội Quả Phụ Tử Sĩ trên danh nghĩa các đấng chinh phu đã qua đời, bất kỳ tử trận hay lý do bịnh hoạn gì. 

 Trước một rừng khăn trắng thê lương như vậy , Đại tá Nguyễn Văn Thiện nguyên Tỉnh Trưởng Đà Nẵng với dáng dấp một tài tử văn nhân, hào hoa, mã thượng đến dự lễ nêu trên. 

Ông chỉ nói ít câu thôi, mà quý phu nhân của những vị quá

cố đã thổn thức, nghẹn ngào …

Quý vị có nghĩ rằng: lấy được nụ cười của tha nhân đã khó, mà lấy được nước mắt thiên hạ còn khó hơn không ? 

Trong buổi lễ nêu trên, tôi cũng thấp thoáng…bâng khuâng . 

Tôi chợt nhận ra : ” đâu phải chỉ ngôn ngữ Bắc kỳ cũ , một giọng Bắc thoát thai từ lớp trí thức, tiểu tư sản Hà Nội xưa, mới quyến rũ từ trên quan quyền, xuống dưới bình  dân …

Mà, giọng nam dịu ngọt, ân cần, cũng đầy …thuyết phục .

 Tới giọng miền Trung, nói chung đầy thổ ngữ  địa phương, như nhận định của Nhị ca Lính Dù phân tích hôm xưa , cái giọng đặc biệt Huế , nói riêng, thì chao ơi, cứ như là rót mật vào lòng …vậy . 

Ấy tôi phải …thú nhận ngay , không có thể quý vị lại cười mỉm : ” Khi thương thì trái ấu cũng tròn , cha ơi , nội 2 cái dấu hỏi ( ? ) và dấu năng( . ) đã khiến người ta nhức đầu rồi, nay đọc y toàn bộ một bài diễn văn , thì tui nghe được , xin chào thua quý vị đó …” 

Do đó, tôi chẳng lấy làm lạ, tại sao hầu hết ca sĩ 3 miền, bất kể nữ nam, cứ giọng Bắc trực chỉ hát lên, là  trở thành một giọng vừa chuẩn, vừa hay, chịu không nổi …Hoàng Oanh, Hương Lan chẳng hạn . 

Thế thì, tôi phải đơn cử ra cái chất giọng, mà Nhị ca Lính Dù cứ phải phân tích, để tôi không có ý …địa phương hoá, ông bảo : 

” Tất cả đều từ miền Bắc vô Nam thôi,  chẳng qua thổ nhưỡng nó tạo ra điều ngăn sông, cách núi …” 

Tôi cười, kể cho Nhị ca Lính Dù hay , là hôm tôi ra mắt tập thơ tình mới đây ở trung tâm Minh Đức Westminster, có một cô bé độ ngoài 20 tuổi, đã dụt dè hỏi tôi : ” Cô cho em hỏi:  có phải cô người Quảng Nam không  ? ” . 

Tôi biết ngay là rất thường xuyên quý vị đọc ” tôi “, đã nhất định nghĩ tôi ” không Huế, cũng Quảng Nam ” , lý do tôi cứ viết về miền Trung đẹp tươi của …tôi , mà Đà Nẵng là nơi biến tôi thành dân Quảng tự bao giờ . 

Tuy nhiên tôi Quảng Nam thiệt quý vị ạ, vì số người quen biết tôi luôn luôn gặp tôi trên các phần đất ấy, cả ở ngoài đời, lẫn trong viết lách . 

Thế nên, hình ảnh người đàn ông Huế, đã vô hình chung đi vào tâm tư tình cảm tôi tự bao giờ . 

Thật vậy , tôi gốc Bắc ở thượng nguồn Chapa, nay họ đổi là Sa Pa, via Hải Phòng mấy năm, rồi lớn lên ở Saigon, đoạn ra Trung trưởng thành …

Sau khi xong tù cải tạo, tôi có thời làm Huấn luyện viên dưỡng sinh, kiêm nhiệm cái việc điều hành văn nghệ ” phục vụ quý vị cao niên và  bịnh nhân an dưỡng ” vào mỗi sáng thứ tư, gọi là sinh hoạt câu lạc bộ Dưỡng sinh…thuộc Viện Y Dược Học Dân Tộc ở Saigon, sau 1975. 

Một buổi kia, lên trình bầy bài thơ Ngậm Ngùi của Huy Cận, rõ ràng tôi ngâm kiểu Bắc kỳ , vậy mà lúc xuống , nhị vị học viên là cựu đại tá VNCH Khâu Đức Hùng, cũng vừa tù cải tạo về, cùng một huynh đệ chi binh cười lớn : ” thấy chưa , khi Cao Mỵ Nhân ngâm thơ, mới lòi giọng Huế ra ” . 

Huế làm sao được chứ, muốn bắt chước lâu rồi , mà chưa được đấy . 

Nhà báo tên tuổi Lê Ngộ  Châu ở miền Nam, cùng đại tá công binh VNCH Lê Mộng Châu, cũng từ tù cải tạo ra , ngó tôi rồi nhị vị cười: Cao Mỵ Nhân không giống …ai, vì rất hoà đồng với …địa phương nào cũng được , này cô nói đi : người Bắc hay …Huế, cho biết đi, mới …ác chứ . 

Sau đó thì 2 ông ” quá hào hoa phong nhã ” này, người xuất cảnh, ở Hoa Kỳ ít năm, người đi Mỹ rồi về lại VN,  cả hai đều đã mãn  phần . 

Tôi vốn được may mắn quen biết quý vị qua câu lạc bộ Dưỡng Sinh ấy …nên quý ông quý bà chế độ cũ , VNCH, rất an lòng khi gặp tôi, như gặp lại người trong nhà …

Sự kiện dung hoà tình cảm của tôi, đã khiến tôi có bạn bè nhiều hơn …

Một lần tự ngâm bài thơ của mình diễn tả về khoa học Dưỡng Sinh sau 1975 ở Saigon, tôi ngó xuống hội trường , thấy một bậc nữ lưu còn giữ được vẻ quý phái, cười vui nhưng cứ giơ ngón tay lên chỉ chỉ như ngầm ngăn điều gì đó.

Lúc hết bài ngâm, tôi đến ngay ngồi cạnh bà, bà tự giới thiệu là phu nhân của nhà thơ, nhà báo Phạm Hải Hồ , cũng khá tên tuổi ở miền Nam, trước 30 – 4 -1975,  hiện nay định cư ở San Jose. 

Tôi chỉ muốn chứng minh về …thổ ngữ như Nhị ca Lính Dù nói thôi , song bất ngờ hình ảnh vị đại tá VNCH Nguyễn Văn Thiện, nguyên thị trưởng Đà Nẵng , sau là Chỉ huy trưởng Đặc khu Quảng Đà , ông cùng đại tá cũng gốc Thiết Giáp Nguyễn Văn Toàn , bấy giờ là Tư lệnh Sư Đoàn 2 Bộ binh đồn trú ở Quảng  Ngãi, được thăng cấp chuẩn tướng một lần . 

 Nhưng nhị vị đại tá mỗi người một máy bay A37 về Sai gon lãnh cấp bậc tướng, thì chỉ có đại tá Nguyễn Văn Toàn tới nơi , còn A37 chở đại tá Nguyễn Văn Thiện lại lạc hướng mô, chẳng biết,  người bao lần được tìm kiếm, mà vẫn biệt tin, vô vọng . 

 Cố chuẩn tướng Nguyễn Văn Thiện mất tích ở tuổi 42 , cái tuổi mà chưa hết hạng trung niên , người ta đã nhìn ông như đại quan già dặn, bởi cái địa vị nó khiến người ta phải cộng thêm cả chục tuổi, và phải sống như bậc ” Lão phu ” trong Văn chương VN . 

Người đàn ông Huế như đại tá Nguyễn Văn Thiện , hay như hàng loạt quý vị nam nhi chi chí, có một phong cách cư xử, khiến kẻ bàng quang như …tôi, không đơn giản đoán được quý vị ấy ” nội tâm ” thế nào . 

Vì ngay cả trong tình nghĩa phu thê, phụ tử họ vẫn giữ một vẻ gọi là đạo nghĩa riêng, mới đáng nể . 

Thí dụ bản thân tôi lấy chồng Huế, đố ai biết được nỗi tức của tôi, ấy là lúc nào ” xã ” tôi, cũng ” anh em ” cả khi đang bất đồng ý kiến, mà lẽ ra chồng Bắc sẽ xưng 

” ông ” ngay lập tức , bạn miền Nam thì sẵn sàng ” tôi bà, tao mày ” chết bỏ, nếu có dịp bất hoà nặng.

Ôi chao , có lần tôi sắp sửa giận đến phải thề bồi, thì khách tới chơi, lập tức tôi nghe ” xã ” tôi tằng hắng kêu ngọt sớt: “Mỵ ơi , có khách này , thôi ông hay bà , anh hay chị, ngồi chơi nhé , xin lỗi , tôi , là ông xã tôi, có việc phải đi ” . 

Tôi tiếp bạn mà nước mắt cứ trào ra, vì nỗi tức chưa được giải toả, song lẽ nào , ông ấy ngọt như mía lùi , mà mình lại hàm hồ , nên cũng đành tiếp khách theo dòng ” chảy  ” cho hợp lý, gọi là phải giữ thể diện đó mà. 

Tất cả mọi sự việc như những trang đời, dù muốn hay không, cũng phải lật qua …

Những quý vị trượng phu Huế đã đi năm châu, bốn bể…còn giữ được giọng Huế, tất nhiên quý vị nữ lưu Huế cũng vậy, ở bất cứ nơi nào, trên thế giới , khi quý vị cất giọng lên, là một trời dĩ vãng đong đưa , con sông Hương dịu dàng nước mát , chùa Linh Mụ riêng một không gian …

 Ôi thổ nhưỡng , mà trong một ca khúc được viết sau 1975 , tác giả khẳng định những gì ở Huế là ” không nơi nào có được “, dù ở quê hương , hay khắp trời hải ngoại …

 Đến nỗi, ở thủ đô tị nạn Bolsa, đã có một nhà hàng dùng bảng hiệu ” Huế Ơi ” cho thoả lòng thương nhớ đó …kìa …

          CAO MỴ NHÂN 




MỎ THAN SAO NHIỀU QUÁ! Kiều Mỹ Duyên

MỎ THAN SAO NHIỀU QUÁ?

KIỀU MỸ DUYÊN

Những lời than vãn không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần mà còn khiến bạn dễ nản lòng khi gặp khó khăn.

          Lâu lắm rồi, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận giảng ở San Diego:

          – Việt Nam có 84 triệu mỏ than.

          Người không hiểu tự hỏi: Việt Nam có 84 triệu mỏ than thì nước Việt Nam giàu quá, nếu những mỏ than này mà khai thác hết thì nước Việt Nam giàu lắm, giàu lắm. Nhưng sau này hiểu ra thì không phải là “mỏ than” mà là người Việt Nam hay than, giàu nghèo gì cũng than, còn thiếu 1 ngàn đồng thành 1 triệu cũng than. Sáng thức dậy mở mắt ra là than:

          – Sao tôi nhức vai, nhức lưng và nhức chân quá?

          Nếu để thì giờ than thở đó mà mĩm cười, vui vẻ tập thể dục, tập thể thao, tập Khí Công, Pháp Luân Công, hoàn nhiên khí công, hoàn hạt khí công, v.v. mồ hôi ra nhễ nhại, miệng cười thật tươi thì không còn thời giờ để than sao tôi mỏi mệt quá. Nếu đừng chúi mũi vào máy tính, truyền hình thì mắt đâu có mờ, lưng đâu có mỏi. Nếu ra vườn hít thở không khí trong lành, nghe chim hót líu lo, nhìn mây trắng lửng lờ trôi, nhìn từng đàn chim bay trên trời, đẹp lắm người ơi! Trong lúc vui và nghĩ đến người nào đó mình thích, không ai không có thần tượng trong lòng, thần tượng thì không than, thần tượng thì lạc quan, yêu đời, yêu người mà sống, thần tượng thì hiền lành, khoan dung, rộng lượng. Tôn người nào đó làm thần tượng thì vui lắm, nhưng xin đừng than thân trách phận sao thần tượng không nghĩ đến mình. Mình tôn thờ người khác làm thần tượng nhưng thần tượng lại xem mình như cục nợ. Cục nợ trên lưng thì phiền lắm, phiền lắm. Tốt nhất phải biết mình là ai, đừng đòi hỏi nhiều quá, đừng than thân trách phận, vui vẻ, lạc quan mà sống thì tốt hơn.

          Than để làm gì? Lời than thở não nùng làm cho người xung quanh bi quan. Hãy đem niềm vui cho mọi người, tại sao phải làm buồn lòng người hàng xóm hay người thân của mình chứ?

          Trời nắng nóng, không khí oi nồng, tại sao không để thì giờ than Trời, than đất đó mà đi tưới cỏ, cỏ xanh tươi, tưới cây, cây cho trái ngọt, tưới hoa, hoa nở nhanh hơn, tươi hơn, làm cho đời đẹp hơn.

Ngừng than vãn và oán trách ông Trời không cho bạn giàu có hơn.

Chỉ cần bạn có một gia đình hạnh phúc, bạn đã là tỷ phú rồi đấy!

          Lòng tham của con người vô đáy, thứ gì cũng quơ quào cào cấu cho mình, làm như mình là trung tâm vũ trụ. Hãy nghĩ đến người khác. Không tham lam, không than vãn, không kêu Trời, kêu đất. Lúc vui có nghĩ đến Trời, đến Phật, đến Chúa không? Đợi đến khi có điều gì không hài lòng, ngoài tầm tay với thì lại than, than như cha chết, mẹ chết?

          Mở miệng ra là than, mở mắt ra là than, trước khi đi ngủ cũng than. Người hay than thở khó gần được mọi người xung quanh vì không ai thích người hay than thở, than từ sáng đến tối. Lo lắng và than van cũng không thay đổi được gì, người hay than van là những người ít được việc nhất. Tôi thích người cười thật vui, thật tươi. Tôi thích người lạc quan hơn người bi quan. Tôi thích tiếng cười giòn tan hơn tiếng khóc não nuột.

Sống lạc quan, yêu đời, yêu người.

Hạnh phúc sẽ đến khi chúng ta ngừng than vãn.

          Văn phòng của chúng tôi vui lắm bà con ơi! Mọi người đến từ khắp nơi: Âu Châu, Úc Châu, miền Đông, miền Trung Hoa Kỳ, v.v. , nhưng thường thường là người dân ở Orange County. Vì vậy, tôi có cơ hội nghe nhiều chuyện vui buồn của đồng hương, vui cũng có mà buồn cũng có. Có đồng hương thích đọc sách báo thường xuyên ghé văn phòng chúng tôi lấy báo đọc. Chúng tôi có nhiều báo biếu, nhật báo, tuần báo, v.v. Một đồng hương hay đến vào buổi chiều, đến lấy báo xong thì ra trước hành lang ngồi xuống đất đọc báo một cách say sưa.

          Tôi hơi thắc mắc, bước đến hỏi:

          – Em uống cà phê, trà, nước lọc không? Sao em không về nhà đọc báo mà ngồi ở đây?

          Người đàn ông vui vẻ trả lời:

          – Em ra sở làm rồi đi lang thang tìm báo đọc, hay tìm bạn nói chuyện, hoặc ra công viên xem vịt lội.

          Tôi hỏi tiếp:

          – Sao vậy?

          – Vợ em nói nhiều lắm. Em phải đi lang thang chờ vợ em ngủ rồi em mới về nhà. Vợ em nói nhiều và than nhiều quá, em nhức cái đầu nên phải đi lang thang. Cuối tuần em ra biển lánh nạn, khỏi phải nghe than.

          May phước cho người đàn ông đến văn phòng của chúng tôi xin báo hàng ngày đã gặp bà vợ nói nhiều, lãi nhãi nói mãi không ngừng nhưng bà vợ không phải là người tham lam, độc ác, còn đỡ khổ hơn nếu chẳng may gặp người xấu, độc ác thì chỉ có chết mà thôi?

Đừng so sánh cuộc sống của mình với bất cứ ai.

Vì bạn không biết tất cả cuộc hành trình và những cái giá họ đã phải trả.

          Định cư ở Hoa Kỳ, tôi có cơ may sống trong gia đình người Mỹ một thời gian khá lâu. Họ lạc quan, không nói xấu người khác, không than van (không phải là mỏ than), vì thế họ sống vui hơn, tương lai của họ rực rỡ hơn.

          Thói quen “than thân trách phận” còn được xem như là một loại thuốc độc làm lây lan những suy nghĩ bi quan cho mọi người xung quanh. Người buồn bã, rầu rỉ, than vãn suốt ngày dễ ảnh hưởng đến mọi người, nhưng tội gì phải than chứ? Người mù, người điếc, người cùi, họ có than đâu? Nhìn họ cười thật tươi khi lãnh quà của những người làm việc từ thiện. Cuộc sống của người tật nguyền rất hồn nhiên, vui thì cười, buồn thì khóc, không than van như người khác.

Một cách đơn giản để HẠNH PHÚC là trân trọng những gì mình đang có.

          Ngày xưa học triết từ trung học đến đại học, tôi không vui như bây giờ. Khi vượt biên lênh đênh trên biển cả, nước tràn vào thuyền, thần chết thấp thoáng xung quanh, tiếng kinh cầu nguyện vang vang, trên Trời có Thượng Đế thương xót nên cuối cùng cũng được tàu Mỹ vớt và đưa vào Phi Luật Tân, sau đó được định cư ở Mỹ, 49 người trên con thuyền nhỏ bé lênh đênh trên biển cả như chiếc lá, tưởng rằng sẽ làm mồi cho cá hay chôn vùi thân xác ở biển khơi, nhưng đâu có ai than vãn hay rên la?

          Than là cái bệnh đã vào máu, không biết bệnh này có di truyền không? Nhiều người có bệnh than, họ than một cách tự nhiên, than về gia đình của họ một cách dễ dàng, vừa gặp người lạ, nói vài ba câu là đem chồng con ra than, chồng tôi như thế này, con tôi như thế kia, than một cách thê thảm, nhưng không hiểu tại sao họ vẫn sống với nhau mấy chục năm?

Đừng bao giờ than vãn trước một việc đã rồi, nhìn thẳng vào vấn đề và tự hỏi mình có thể làm được gì?

          Than là cái bệnh, tham cũng là cái bệnh, dù giàu hay nghèo cũng than. Người nghe người khác than cũng mệt cái tai lắm. Nhiều người có nhà đẹp vẫn than, vì chưa có thêm nhà để cho thuê cũng than. Nhiều người tiền đầy túi cũng bị bệnh than, vì chưa đủ vài ba triệu, hay chưa đủ để trở thành tỷ phú, hoặc sợ người khác mượn tiền?

          Ôi, bệnh than hình như có di truyền, người nào sinh ra trong gia đình có người mẹ hay than thì con thế nào cũng bắt chước mẹ, than cho tới già, tới chết?

          Tôi may mắn không có người thân mắc bệnh than, nếu có chắc tôi phải lên rừng sống, nghe chim hót suốt ngày và nghe tiếng reo cười của con suối. Rừng xanh không biết rên, không biết than, những cánh hoa rừng ở nơi hoang dã không biết rên than. Đời sống của thiên nhiên thánh thiện lắm, không tham lam, không rên rỉ, không than vãn.

Hãy ra vườn hít thở không khí trong lành, nghe chim hót líu lo, nhìn mây trắng lửng lờ trôi, đẹp lắm người ơi!

          Sống chết có số, nếu một mai có ra đi thì cứ mĩm cười, vui vẻ mà đi, thanh thản mà về bên kia thế giới, không nên than vãn, để người thân ở lại vui vẻ mà sống, vui vẻ mà tiễn người đi trong hạnh phúc.

          Nếu suốt đời mình làm việc thiện, sống ngay thẳng, không hại ai, chắc chắn mình sẽ ra đi thanh thản. Đến với trần gian như đi du lịch, hết hành trình du lịch thì trở về.

          Than vãn đâu có ích gì, thay vào đó hãy bắt tay hành động.

          Mong mọi người đến cõi đời này vui và ra đi cũng vui.

Orange County, 16/8/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




VULAN NHỚ MẸ – Thơ Phổ Nhạc Phạm Phan Lang – Truyện Ngày VU LAN – Lê Văn Hải Sưu Tầm- Thơ VU LAN Xướng Họa: Minh Thúy & Phương Hoa + Hoàng Mai Nhất

Thơ PhạmPhanLang – Nhạc Vĩnh Điện – Ca sĩ Ngọc Quy

Mời Đọc Vài Truyện Rất Ngắn Nhân Mùa Vu Lan 2021

(Do Lê Văn Hải lượm lặt và kể)

Chút lời mào đầu.

Con cái là tài sản lớn nhất, quý nhất của Cha Mẹ, nhưng những đứa con lại không nghĩ như thế. Coi Cha Mẹ phải có bổn phận, sinh ra thì phải nuôi nấng thế thôi. Nước mắt bao giờ cũng chảy xuôi!

Nhất là trên một đất nước văn minh, bận rộn, quay cuồng trong đời sống, nhiều người coi Cha Mẹ già là một gánh nặng, nên hay quên, hay có những những hành động làm Hai đấng Sinh thành rất đau lòng.

Nhân mùa Vu Lan, gợi cho chúng ta sống theo lẽ phải, đúng với lương tâm con người. Xin được kể vài ba câu chuyện nho nhỏ, để chúng ta suy nghĩ lại xem, có bao giờ đã đối xử tệ bạc với những người đã yêu thương ta nhất trên đời không? Hay đã sống đúng chưa?

Đức Hiếu là đức đầu, không chu toàn đức Hiếu, thì các đức khác cũng …vất vào sọt rác! Cha Mẹ mình không thương, thì trên đời này, chẳng có thể thương ai cả.

Cảm tạ Phật Giáo trong năm đã có ngày Lễ Vu Lan, để nhắc nhở bổn phận làm con, mà chúng ta hay quên lãng này. Xin được bắt đầu…

Chúc Mừng Vu Lan!

Đứa con lên thành phố học xa, nhân mùa Báo Hiếu, thấy nhớ Mẹ nhiều, nên gọi điện thoại về thăm:

-Mẹ hả? Con thấy nhớ Mẹ lắm.

-Thật không con? Ừ để Mẹ gởi cho con 2 ngàn của tháng này nhé.

-Không con không cần tiền, chỉ thấy nhớ Mẹ thôi.

-Thật không con? Ừ Mẹ quên, cái xe mới mà con muốn, Mẹ đang để dành tiền, vài ba tháng là đủ, rồi Mẹ sẽ gởi cho con.

-Không phải tiền, hôm qua con đi Chùa, nghe Thầy giảng, ý nhĩa ngày Lễ, nên nhớ đến Mẹ!

-Thật hả con! Con tôi còn đi Chùa, ngoan quá, Mẹ sẽ thưởng, thay vì tháng này Mẹ gởi con 2 ngàn, Mẹ sẽ gởi gấp đôi, là 4 ngàn!

Bà Mẹ Thất Học!

Cha chết từ lâu, chỉ còn một mình Mẹ quê, phơi thây nắng gió trên ruộng đồng, bòn từng đồng, từng cắc, lo cho con đi học trên thành phố.

Vai mẹ càng thêm nặng, khi con bước chân vào ngưỡng cửa Đại học.

Lâu lâu con cũng gởi vài lá thư thăm hỏi.

Vừa tốt nghiệp, nhận được công việc tốt, nhưng cùng lúc nhận được…hung tin! là Mẹ mình vừa qua đời!

Anh vội bay về quê phục tang.

Bước vào nhà, quan tài Mẹ nằm đó, nhưng trên nắp hòm, vẫn còn nguyên những lá thư của anh gởi Mẹ, không hiểu tại sao Mẹ không bóc!

Người thân nói nhỏ vào tai Anh: “Bà có biết chữ đâu, mà đọc!”

Ừ! Để Mẹ Lo!

Chồng chết trong thời chinh chiến, Mẹ ở vậy, có nghề cắt tóc, làm móng tay nuôi ba đứa con.

-“Mẹ ơi, con muốm mua cái xe mới để đi học.”- “Mẹ ơi, con muốn học thêm đàn Piano” -“Mẹ à, con muốn mua cái váy đầm mới”

-Ừ để Mẹ lo!

Hơn 10 năm sau, khi các con đã khá khôn lớn:

-“Mẹ ơi, con muốn mở phòng mạch, thiếu tí tiền vốn.” -“ Mẹ ơi, con muốn học tiếp, lên đến tiến sĩ” -“Mẹ à, con muốn mở hãng điện tử.”

-Ừ để Mẹ lo!

Vài năm sau, khi các con thành công, Mẹ già trên 70 tuổi, gọi điện thoại:

-Mẹ muốn đến thăm các con và ở lại đôi ngày, cho đỡ nhớ.

-“Con bận lắm! phòng mạch tràn ngập khách đợi, chưa có giờ cho Má đâu.” -“Chương trình dạy học của con dày đặc, phải đến Hè con mới tiếp Má được” -“Hợp đồng trình diễn của con liên tục, khi nào rảnh con sẽ gọi cho má”

Nước mắt Mẹ muốn tràn ra khỏi mi, nhưng vẫn cố giữ giọng tự nhiên:

-Ừ! Để Mẹ lo!

Đứa Con Nuôi.

Nhân Mùa Vu Lan, cô giáo muốn giới thiệu gia đình của mỗi học sinh. Nên dặn: “Ngày mai, mỗi em mang tấm ảnh của gia đình mình, giới thiệu với các bạn cùng lớp nhé.”

Đến phiên cậu bé, đưa tấm ảnh có hình chụp với Mẹ, cho cô giáo và cả lớp xem.

Tất cả đều gật đầu đồng ý: “Chắc chắn phải là con nuôi! Vì chẳng có nét nào giống Mẹ cả!”

Cậu bé gật đầu đồng ý, lại còn có vẻ tự hào, nhắc lại lời Mẹ nuôi của mình:

-“Con là đứa con đặc biệt, con lớn từ trong tim, những đứa trẻ bình thường khác, lớn từ trong bụng!”

Món Quà Mừng Thượng Thọ Của Mẹ.

Trong 3 đứa con cuả Mẹ, chị là người có số phậm hẩm hiu, nghèo hơn hết, chồng chết trong tai nạn xe, đang phải nuôi 2 đứa con đến tuổi ăn, tuổi lớn.

Ngày mai lễ thượng thọ cuả Mẹ, mừng 80 tuổi. Chị nấu một nồi canh chua lá me, một nồi cá bống kho tộ, những món ăn mà Mẹ thích, tặng Mẹ, rồi về.

Người Anh, người Chị, mời mẹ một bữa tiệc linh đình, tại nhà hàng sang trọng lớn nhất trong thành phố. Chị tủi, nên từ chối khéo, không tham dự. Hàng trăm quan khách đến chúc mừng, biết bao quà tặng giá trị.

Nhưng bữa tiệc chưa chấm dứt, thì Mẹ đòi về sớm: “Mẹ mệt, các con thấy đó, cả bữa tiệc Mẹ có ăn được món gì đâu.”

Người Anh phải đưa Mẹ về, vừa vào nhà, như bệnh nhân được uống đúng thuốc, tự nhiên Mẹ tỉnh rói, xoay chuyển 180 độ! xoa bụng nói: “Giờ thì Mẹ cảm thấy đói!” rồi mở cái lồng bàn, trên bàn ăn, lấy muỗng múc tô canh chua lá me, lấy đũa gắp những con cá bống kho tiêu ăn ngon lành! Như chưa bao giờ được ăn.

Nhan Sắc Của Mẹ.

Tương lai rộng mở, vừa tốt nghiệp, vừa nhận được công việc trong một hãng lớn, nổi tiếng.

Rồi báo cho Mẹ, quyết định ở lại thành phố.

Mẹ lặn lội từ dưới quê, ngồi xe đò lên thăm con.

Trước khi Mẹ về lại quê, khen: “Bạn gái con hiền và xinh quá, Mẹ thích nhất là làn da trắng mịn của con bé ấy!”

Vừa lãnh được xấp lương đầu tiên, hân hoan dắt người bạn gái đi Shopping, em bước vào tiệm mỹ phẩm, cầm những thỏi son, hộp phấn hàng hiệu nói với anh “Mỹ phẩm tiệm này rất đắt, thứ nào cũng trên cả trăm đô la, nhưng tiền nào vải đó, không làm hư da, nám da, như những mỹ phẩm mà Mẹ anh đang xài, da mặt Bà hư hết trơn, nám đen, nhăn nheo, sần sùi, tội nghiệp quá!”

Lời nói của người bạn gái, làm anh giật mình, thấy cay ở mắt.

Cả đời Mẹ, mỹ phẩm rẻ tiền cũng không biết, nói gì đến son phấn đắt tiền! suốt bao nhiêu năm trời, da Mẹ phơi cùng sương nắng gió, để lo cho con. Ngay giây phút ấy, chàng mới nhận ra rằng: “Làn da nhăn nheo, xếp lớp, đầy dấu chân chim của Mẹ, nhưng lại đẹp hơn bất cứ làn da mịn màng của người phụ nữ nào khác!”

Cua Rang Muối.

Khi xưa nhà nghèo, Mẹ hay lặn lội ra ruộng bắt được mấy con cua đồng nhỏ xíu, giả làm cua rang muối. Mẹ khéo tay, chiên dòn, thêm chút mắm muối gia vị, con cái ăn ngon lành, con mời Mẹ ăn, thấy con ăn còn không đủ, Mẹ lúc nào cũng lắc đầu từ chối “Mẹ no rồi!”

Khi con cái khôn lớn, đỗ đạt, thành công, nhớ lại những kỷ niệm thời thơ ấu, thiếu thốn năm xưa, mời Mẹ đi ăn nhà hàng, gọi món cua rang muối đầy cả bàn, thơm phức, rồi mời Mẹ ăn.

Mẹ tươi cười, móm mém hạnh phúc trả lời:

-“Mẹ đâu còn răng nữa mà ăn những món này!”

Quán Nghèo.

Ba mở quán bên đường quốc lộ, quán nghèo, chỉ dăm ba chai nước ngọt, ấm nước trà, vài trái chuối, dăm bao thuốc lá.

Thấy Ba cực khổ, cậu con trai tốt nghiệp đại học, giờ đang giữ chức lớn trong một công ty điện tử, về thăm Ba, càu nhàu:

-“Con tưởng là Ba đã dẹp cái quán tồi tàn này rồi chứ, nghỉ cho khỏe cái thân.”

Rồi thời gian ngắn, người con nhận được tin xấu: Người Cha qua đời, vì lao động kiệt sức!

Chắc là “Ông Cụ” chết vì cái quán chết tiệt này! Lo đám tang cho Cha xong, việc đầu tiên, là phải phá cái quán, xây một cơ sở thương mại, cho thuê, lời gấp chục lần, đúng là “Ông Cụ Mình” không biết tính toán.

Đang khi dỡ bỏ, trên cây cột chính, anh thấy treo một bọc giấy, tò mò mở ra, trong đó có nét chữ nghệch ngoạc của chính người Cha của mình: “Cha biết thế nào con cũng phá cái quán này, nhưng qua 10 năm, cái quán này đã giúp con học thành thành tài, chưa kể Ba kèm theo tấm giấy chứng nhận của ngân hàng, để lại cho con nửa triệu đô la!”

Tấm giấy tư nhiên run lên bần bật! trời như đổ cơn mưa, thấm ướt cả tờ giấy! trước khi rơi xuống đất!

Mẹ Có Khuôn Mặt Cô Hồn

Mẹ nhận được giấy mời, tham dự buổi họp phụ huynh đầu tiên của trường.

Điều làm cậu bé sợ hãi đã thành sự thật! Mẹ lại đã nhận lời tham dự.

Cậu tưởng tượng giây phúc cô giáo và các bạn cùng lớp gặp Mẹ.

Một người Mẹ có một bộ mặt, ai nhìn cũng giật mình sợ hãi, vì khá kinh dị. Một nửa khuôn mặt Mẹ nhăn dúm, một mắt lồi, thẹo chằng chịt! Cậu đã cố kìm câu thắc mắc này hỏi Mẹ đã lâu, vì sợ Mẹ buồn.

Khi Mẹ bước vào lớp, nhiều tiếng ồ, kinh ngạc. Rồi khi Mẹ được giới thiệu, tránh nỗi mắc cở, cậu bé trốn ra hành lang, chìm vào góc tối, nhưng vẫn nghe rõ từng chữ của cuộc đối thoại.

Cô giáo hỏi: “Lý do nào mà Mẹ có khuôn mặt biến dạng như thế?”

Mẹ giải thích:

“Thường ngày, tôi phải gởi con cho người giữ trẻ để đi làm. Một ngày tôi đến đón con, căn nhà giữ con tôi, bốc cháy như ngọn đuốc! Tôi hét lên kêu cứu “có con tôi trong đó!” Nhưng lửa đang cháy phừng phực, không ai dám chạy vào cứu giúp cả. Không suy nghĩ, tôi lao vào đám lửa, người giữ trẻ thì không thấy, chỉ thấy thằng bé đang đứng giữa nhà khóc thét! Tôi ôm con lao ra cửa chính, trên đường ra, hành loạt những cây cột đang bốc cháy ngã đổ, tôi té ngã, nửa khuôn mặt dính vào cây cột đang cháy, tôi cũng không hiểu tại sao, tôi vẫn ôm con, mà lết được ra đến cửa chính. Tôi vui mừng vì thấy bóng dáng của những người lính cứu hỏa. Từ phút này, tôi chết ngất, không còn biết gì nữa cả.”

Bà Mẹ vẫn tiếp tục kể câu chuyện, nếu ai chú ý, thì thấy cậu bé rón rén ra khỏi chỗ nấp, đôi mắt đỏ hoe, nắm lấy bàn tay Mẹ, rồi ngồi cạnh Mẹ mình, suốt cả buổi họp bữa đó.

Bộ Phận Nào Của Cơ Thể, Quan Trọng Nhất?

Khi tôi khá lớn, có lần Mẹ tôi ra câu đố: “Phần nào trong cơ thể con người, quan trọng nhất?”

Tôi trả lời, cái tai, Mẹ lắc đầu. À đôi mắt, Mẹ cũng lắc đầu. Cuối cùng Mẹ nói: “Khi con khôn lớn, con sẽ hiểu.”

Vài năm sau, khi hay tin Bà Nội yêu dấu của tôi qua đời. tôi vội chạy về nhà.

Lần đầu tiên tôi thấy một hình ảnh nà đến bây giờ tôi còn nhớ mãi.

Ba tôi gục đầu trên vai mẹ tôi, khóc nức nở như một đứa trẻ!

Khi Ba tôi đã ngôi ngoai nỗi đau đớn, bước ra ngoài, Mẹ nhìn tôi nói: “Giờ con đã hiểu, bộ phận nào quan nhất rồi phải không.” Tôi gật đầu.

Mẹ giải thích thêm:

“Bờ vai quan trọng nhất, nơi đó, tất cả người thân thương của con, có thể dựa đầu quên đi mọi nỗi buồn phiền. Tất cả mọi thứ trên người là của con, nhưng bờ vai dành cho…người khác! Bờ vai là của tha nhân, con nhớ dùng nó thường xuyên nhé!”

Hoa Biếu Mẹ

Mẹ ở xa thành phố, hơn cả 200 dặm, gần 3 tiếng đồng hồ lái xe, lâu quá chưa về thăm mẹ. Ít ra cũng vài năm rồi, chần chờ mãi, nhưng chưa có dịp. Nhưng chuyện đó tính sau, giờ thì lo chuyện trước mắt.

Một người thanh niên, bước vào tiệm hoa, định mua một bó hoa tặng cho người tình.

Anh chú ý đến một bé gái, với khuôn mặt buồn so, đang đứng cạnh cửa.

-“Sao bé có gì cần giúp không?”

-“Con muốn mua một đóa hoa hồng tặng Mẹ, nhân ngày Sinh nhật, người bán hàng đòi 2 đô la, nhưng con chỉ có một đồng thôi à.”

-“Chuyện dễ thôi, để chú giúp cho.”

Trao cánh hoa hồng cho con bé, tự nhiên thấy thương, ngỏ lời: “Nhà bé gần đây không? Chú giúp chở về nhà cho.”

-“Cám ơn chú, không cần đâu, Mẹ con chết lâu rồi, đang nằm ở nghĩa trang, bước qua đường là tới! Hôm nay sinh nhật Mẹ, nhận được món quà này, chắc Mẹ sẽ vui mừng lắm.”

Nghe xong câu trả lời của cô bé, mắt người thanh niên bỗng cay sè, như có ai chà trái ớt vào đôi mắt mình. Anh quyết đinh ngay, không cầm bó hoa này đến nhà người bạn gái nữa, mà thẳng đường chạy xe về…thăm Mẹ!

Chắc Mẹ Lạnh Lắm!

Vào một đêm tối trời mùa đông lạnh lẽo, một người thiếu phụ đang mang thai, có lẽ có chuyện cấp bách, vội vàng, lại không quen lái xe trên đường tuyết, trơn trượt, nên đã gây ra một tai nạn thật khủng khiếp.

Chiếc xe đụng nát choét, lăn nhiều vòng, vì đụng phải cột xi măng cầu xa lộ.

Giữa trời lạnh giá, người Mẹ cố gắng chui ra khỏi xe, rặn đẻ đứa con, rồi ngất xỉu!

Tờ mờ sáng hôm sau, một người đàn bà khác lái xe qua, khám phá ra cảnh tượng đau thương này. Gọi xe cứu cấp, người mẹ thì đã chết, nhưng đứa bé còn sống, thoi thóp thở. Chứng kiến cảnh đau thương, người đàn bà nhận đứa bé làm con nuôi.

Khi bắt đầu lớn, cậu bé cứ thắc mắc về thân phận của mình. Người Mẹ nuôi đã kể lại câu chuyện đau thương này, từ đầu đến cuối.

Cậu bé có ước muốn được thăm ngôi mộ người Mẹ ruột cuả mình, người Mẹ nuôi vui vẻ sẵn sàng làm chuyện này.

Trước ngôi mộ của Mẹ, gió mùa đông lạnh cóng, thổi từng cơn, cậu bé giở nón, tháo chiếc khăn quàng cổ, đặt trên mộ Mẹ, rồi từ từ cởi hết áo choàng, đến áo len mùa đông, đắp lên nấm mộ.

Người Mẹ nuôi ngạc nhiên nhắc nhở:

“Mặc lại đi bé trai ạ, chỉ cần vài phút sau, con sẽ chết cóng vì lạnh mất!”

Cậu bé không vâng lệnh, cứ đứng run rẩy trước mộ, đôi mắt đỏ hoe, nấc thành tiếng: “Chắc Mẹ lúc sinh con ra, Mẹ đã phải chịu lạnh gấp trăm lần. Mẹ ơi, vì con, mà Mẹ…phải chết!”

Chúc Mừng Lễ Vu Lan Báo Hiếu 2021.

Lê Văn Hải




Truyện Ngắn: GIÓ NGÀN & Tham Luận: SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM – Chu Tấn

GIÓ NGÀN (truyện ngắn) * Chu Tấn.

“Đi sông bến lạnh lên ngàn

Khóc thời xa cũ đã tàn thanh âm.”

(Hoài Khanh)

PHẦN I .

1

Nhân đang theo chiếc thuyền lớn bằng 2 bàn tay chạy vào bờ thì nghe tiếng nói: Anh ấy đấy. Anh Nhân ơi… Nhìn lên, nhận ra người gọi là Dũng, người bạn đi thả thuyền với Nhân hơn một tuần nay, Nhân cúi xuống vớt chiếc thuyền cầm tay, bước lên bãi cát, cười gật đầu chào lại cô gái đứng cạnh Dũng, rồi nói:

tranh “Thiếu Nữ Dâng Trà” của Lê Phổ

– Tưởng hôm nay cậu không đi, tôi ra đây cả tiếng rồi.

– Em đi hơi trễ, vì chị Điệp em đây cũng muốn đi coi thả thuyền, rồi lại tìm anh ở phía bên kia mất khá lâu.

– Mình thay chỗ coi xem sao, phía này gió dìu hơn – Nhân nói, rồi nhìn cô gái: Điệp đã đi thả thuyền bao giờ chưa?

– Dạ chưa. Mấy hôm nay nghe Dũng nói nhiều về chuyện thả thuyền với anh, nên Điệp muốn đi coi cho biết.

– Vậy Điệp xuống nước thả thuyền với chúng tôi hay đứng trên bãi cát.

– Điệp ở trên bờ coi thôi.

Trong khi Nhân và Dũng lội ra xa, Điệp nhìn cảnh tượng xao động dưới nước, cả trên trăm người thả thuyền với những tiếng gọi và tiếng cười. Những con sóng nhỏ trào vào bãi cát vàng thoai thoải, nhưng những con thuyền nhỏ lại không bị sóng cuốn theo. Chúng dập dềnh chạy ngang hay chạy theo vòng tròn. Thỉnh thoảng có chiếc bị lật úp thì chủ chiếc thuyền bị lật vội vớt thuyền lên, dốc cho nước chảy hết, điều chỉnh lại buồm và bánh lái, rồi lại thả cho thuyền đuổi theo những chiếc đang chạy trước. Theo những lượn sóng, những chiếc thuyền dài chừng 2 hay 3 gang tay với những cánh buồm nâu, trắng, xanh, đỏ tỏa rộng khắp khu vịnh nông, đã đem đến nguồn vui trong buổi chiều lộng gió cho cả người trẻ lẫn người già.

Ở phía xa, nước sâu quá đầu gối, Dũng nhập vào một toán cả chục cậu ngang tuổi, còn Nhân đang thả thuyền một mình. Nhìn chiếc thuyền chạy vát quanh mình mấy vòng, Nhân vớt thuyền lên, điều chỉnh bánh lái và buồm cho thuyền chạy vát vào bờ, rồi bước theo con thuyền cho tới khi những con sóng sắp trào lên giải cát thì Nhân vớt thuyến lên đi đến chỗ Điệp.

– Vui nhỉ, anh Nhân. Ra Cát Bà mấy hè mà hôm nay Điệp mới biết trò chơi thả thuyền.

Nhân nói:

– Điệp ra đây mà không vào khu vịnh làng chài thì làm sao thấy. Chỉ vùng vịnh này, biển nông, bãi cát thoai thoải chạy ra xa, mới có thể lội xuống nước thả và đi với thuyền. Hè năm ngoái ra đây, đi lang thang gặp mấy cậu cỡ tuổi Dũng, mỗi cậu cầm một chiếc thuyền, tôi hỏi đem thuyền đi đâu? Mấy cậu ấy trả lời là đi thả thuyền. Tôi đi theo, thấy trò chơi thú vị nên kết. Rồi mấy ngày sau tôi tới đây nhập bọn với chiếc thuyền tôi làm.

– Làm thuyền có khó không, anh?

– Tôi đi coi hai buổi, quan sát những chiếc thuyền lớn nhỏ, chiếc nào cũng làm bằng một khúc gỗ thông khô. Phải gọt thành thuyền, rồi đục khoang, làm bánh lái, làm cột buồm và buồm. Khó thì không khó, nhưng phải làm tỉ mỉ. Rồi tới lúc thả, phải tập điều chỉnh bánh lái, buồm, cho thuyền chạy thẳng, chạy vòng, chạy vát theo gió, theo sóng – Nhân cười: Điều chỉnh khó, tôi phải quan sát người thả điều chỉnh ra sao, phải hỏi mấy cậu thành thạo, rồi tự tập một mình cả tuần mới có thể nhập toán đua. Mấy tháng hè, sẵn gỗ, tôi làm cả chục chiếc thuyền lớn, nhỏ, thay đổi hình dáng theo ý mình.

Điệp đưa tay:

– Anh cho Điệp coi chiếc thuyền.

Cầm chiếc thuyền, nhìn trên dưới, bánh lái và buồm, Điệp nói:

– Anh khéo tay, chiếc thuyền này đâu có thua gì những chiếc thuyền bày bán trong mấy cửa hiệu đồ chơi ở Hà Nội.

Nhân cười, lắc đầu:

– Không bằng thuyền của cửa hiệu đâu. Tôi chưa thấy những chiếc thuyền đó, nhưng biết chắc là nó đẹp và tinh sảo hơn, vì do thợ chuyên môn làm. Họ làm nhiều và có đủ dụng cụ. Còn mình thì làm bằng mấy con dao nhà bếp với chiếc đục cùn.

Điệp cười, đưa lại Nhân chiếc thuyền:

– Cả tuần nay, ngày nào Dũng cũng say sưa nói về chuyện đi thả thuyền và đang làm một chiếc lớn hơn chiếc này. Mê thuyền đến độ quên cả sách vở.

– Nghỉ hè mà sách vở gì.

– Nghỉ nhưng vẫn phải ôn toán cũ và học toán mới để khi vào lớp mới, học cho dễ.

– Điệp và Dũng chăm chỉ đến vậy đấy hả. Còn tôi thì hè chỉ đi chơi và đọc truyện.

– Anh đọc loại truyện gì?

– Kiếm hiệp, tiểu thuyết và trinh thám… Ngày ở tiểu học thì chỉ đọc kiếm hiệp, còn bây giờ đọc thêm tiểu thuyết và trinh thám. Điệp có đọc truyện không?

Điệp đáp:

– Ở tiểu học không đọc, nhưng lên trung học  Điệp đọc tiểu thuyết của một số nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan và Hoàng Công Khanh.

Có tiếng cười reo hò ở phía xa. Nhân quay nhìn bật cười. Cả mấy chục người lớn nhỏ đang đua thuyền. Họ reo hò, hình như để trợ lực cho thuyền của mình. Điệp nhìn chăm chú xuống đám người đua thuyền, bỗng hỏi:

– Dũng thả thuyền thạo chưa anh Nhân?

Nhân cười:

– Học rất nhanh. Bây giờ đua thuyền với Dũng, tôi thua luôn, nên Dũng kết với mấy người khác để thi có hào hứng hơn. Tôi ít đua, thường chỉ cho thuyền chạy một mình để xem sự điều chỉnh bánh lái và buồm được chính xác tới đâu. Quê tôi cũng đảo, nhưng không có trò chơi làm thuyền, thả thuyền. Ra đây mới biết thú vui này.

– Quê anh ở đảo nào?

– Đảo Vạn Hoa.

– Tên hay quá, Điệp chưa nghe.

– Tên hay nhưng không hùng vĩ, ngoạn mục bằng đảo Cát Bà.

– Bây giờ anh vẫn ở Vạn Hoa?

– Không, tôi đã theo ba tôi vào Quảng Yên để đi học. Đảo Vạn Hoa nhỏ, ít dân, nên trường học chỉ có tới lớp ba. Muốn học lên, phải vào thành phố như Cửa Ông, Cẩm Phả.

Điệp hỏi:

– Ở Quảng Yên có mấy trường trung học?

– Một trường, trường Trần Quốc Tuấn và chỉ có tới lớp đệ tứ. Muốn học lên phải qua Hải Phòng hay lên Hà Nội. Ở tỉnh lẻ đi học khó lắm, chứ không có sự thuận lợi như Điệp là gia đình ở Hà Nội.

Nhân ngừng lại, quay nhìn đám đông đang reo hò. Họ reo hò cho những chiếc thuyền đang trên sóng nước hay sắp tới mức đến. Cả một bên bầu trời ngoài biển vàng đỏ chói chang. Những dãy núi cao như những lớp trường thành của đảo biến thành xanh, xám và tím. Dưới biển đã bớt người thả thuyền, nhưng những tiếng reo hò xa gần vẫn vang lên. Để ý tìm Dũng không thấy, Nhân nói: Mải tranh đua, Dũng quên cả về – Rồi hỏi: Lên trung học, Điệp học trường nào?

– Trưng Vương, anh ạ. Thi vào đệ thất khó lắm, nhưng Điệp may mà đỗ được.

Nhân nói:

– Chăm chỉ và thông minh như chị em Điệp thì thi đỗ là chuyện thường. Nghỉ hè, tôi chỉ cầm mấy cuốn truyện, còn Điệp vẫn cặm cụi với sách vở.

Điệp cười:

– Điệp cũng đọc truyện, nhưng đọc vào buổi tối, còn ban ngày học ôn. Anh bảo học chăm thì đúng, còn thông minh thì không. Điệp học toán, lý, hóa chậm lắm. Có điều đặc biệt là mấy năm nay, từ ngày ba Điệp ra đây làm việc, cứ đến hè là Điệp háo hức nghĩ đến cái vui đi nghỉ hè xa. Bạn bè đa số ở lại Hà Nội, còn Điệp ra biển mà biển đó lại là biển vịnh Hạ Long.

Nhân hỏi:

– Từ Hà Nội ra đây, đi như thế nào, mất bao lâu?

– Mất hai ngày, anh ạ. Một ngày xuống Hải Phòng, sáng hôm sau đi tàu từ Hải Phòng ra Hòn Gai. Rồi từ Hòn Gai đi tàu hoặc thuyền ra Cát Bà. Tàu Hải Phòng – oHòn Gai dừng lại Bến Ngự cả tiếng, nhưng Điệp chưa lên phố Quảng Yên lần nào.

– Ông còn làm việc ở Cát Bà thì Điệp sẽ có dịp biết Quảng Yên. Tỉnh nhỏ, chỉ có mấy con phố, nhưng buổi chiều thì đầy lính, vì Quảng Yên có nhiều trại lính với mấy trung tâm huấn luyện lính mới.

Điệp hỏi:

– Học xong ở Quảng Yên, anh sẽ tiếp tục học ở đâu?

– Hải Phòng, vì tôi có gia đình ông chú ở Hải Phòng. Nhưng hy vọng một, hai năm nữa trường Trần Quốc Tuấn sẽ có những lớp tam, nhị, nhất thì khỏi phải đi xa.

Nhìn chiếc thuyền trên cát, Nhân cười thầm là mê mải chuyện trò, quên cả việc thả thuyền. Nhân tính lên bảo Điệp xuống gần nước để chỉ cho Điệp thấy việc điều chỉnh bánh lái và buồm cho thuyền chạy theo ý muốn ra sao, nhưng Điệp đã dẫn Nhân đi xa, và Nhân cũng bỏ mất ý định ban đầu. Điệp hồn nhiên và phong phanh chiếc áo cánh lụa trắng và chiếc áo đã làm nổi lên khuôn cổ cao tròn với nét mặt tươi rạng rỡ ở đôi môi và đôi mắt đen sắc. Theo những điều Điệp hỏi cùng với sự hồn nhiên, Nhân cảm thấy một nguồn vui dâng lên khi thấy Điệp tự nhiên như đã quen biết Nhân từ lâu. Bỗng nhớ lại việc đọc truyện, Nhân hỏi:

– Từ ngày đọc truyện, Điệp đã đọc truyện kiếm hiệp bao giờ chưa?

– Chưa, anh.

– Tôi có đem theo mấy bộ. Muốn đọc thử thì ngày mai qua tôi, lấy một bộ về đọc cho biết.

– Vâng, ngày mai anh cho Điệp mượn một bộ – ngừng một lát, Điệp hỏi: Lại sắp hết hè, hôm nào anh về Quảng Yên?

– Khoảng cuối tháng, về trước ngày tựu trường một tuần.

– Vậy Điệp về Hà Nội trước anh một tuần. Anh cũng đi tàu thủy?

– Không, tôi đi xe hàng từ Hòn Gai về Quảng Yên.

Điệp trầm ngâm một lúc, rồi nói:

– Tàu thủy hay xe thì anh cũng chỉ mất một ngày, còn Điệp phải mất hai ngày. Nhưng về Hà Nội lại nhớ trời xanh, biển xanh buổi sáng và nhớ những con sóng lóng lánh leo lên những ngọn núi chơ vơ giữa biển.

– Cát Bà ở giữa núi non trùng điệp, uy nghi hùng vĩ, nhưng tôi nhớ nhất là những cánh buồm ở ngoài khơi vào buổi chiều, vì nghĩ đến con thuyền cô độc giữa biển trong đêm – Nhân nhìn ra biển một lúc – Dũng đua thuyền quên cả về. Bây giờ phải qua bên kia tìm cậu ấy.

Bỗng Điệp chỉ tay nói:

– Dũng đang chạy tới kia.

Nhìn theo hướng tay Điệp, Nhân bật cười:

– Từ đây mà đưa thuyền đua tới bên kia.

2

Trên đường về nhà, Nhân dừng lại coi toán lính chơi bóng chuyền trước sân dinh Phó Tỉnh Trưởng Quảng Yên, bỗng nhận ra một người:

– Dũng ơi.

Cầu thủ nhỏ nhất trong đội bóng quay lại, vẫy tay cười vui, chạy băng ra đường, ôm lấy Nhân:

– Em tìm anh cả tuần nay.

– Không biết địa chỉ, tìm ở đâu?

– Em hỏi mấy ông lính.

– Bằng tên anh hay tên ba anh?

– Cả tên anh và tên ba anh.

Nhân cười nói:

– Anh không quen mấy người lính gác dinh phó tỉnh trưởng, còn ba anh mấy năm nay đều làm việc ở các quận, nên họ không biết đâu.

– Vậy nếu anh không qua đây thì phải chịu chớ làm sao tìm.

– Rồi cũng sẽ gặp, vì anh ở phía sau dinh phó tỉnh, trên phố Hoàng Hoa Thám. Cổng sau dinh đi ra Hoàng Hoa Thám, gần căn nhà anh.

Nhân nắm tay Dũng băng qua đường đi tới một quán nước lộ thiên dưới một cây bàng lớn. Đến trước chị bán quán, Nhân nói: Chị cho 2 cốc thạch găng – Rồi cùng Dũng ngồi xuống hai cái ghế thấp, bên chiếc bàn gỗ tạp.

– Quán này gọi là quán Cây Bàng, chỉ bán thạch găng và nước chanh. Không biết thạch găng ở Hà Nội thế nào, chớ ở Quảng Yên thì thạch găng quán này đứng hạng nhất – Chủ quán nghe khen, cười nhìn Nhân – Thấy thế Nhân hỏi:

– Thạch găng ở đây làm bằng lá găng trên rừng hay găng trong vườn, chị?

– Phần lớn làm bằng găng trên rừng, khi nào không đủ mới phải dùng găng vườn. Lá găng trên rừng xanh trong và ngon hơn như em vừa nói.

– Nhà chị có trồng không?

Chủ quán lắc đầu:

– Không, trồng găng phải có nhiều đất. Chị không có đất. Chị có mối lá găng rừng, người ta cung cấp khá đều.

Dũng khuấy cốc thạch găng, rồi xúc uống mấy thìa:

– Ở Hà Nội chỉ có thạch đen, thạch trắng, chớ em không biết loại thạch này.

Nhân nói:

– Thạch găng tự nó có mùi thơm của lá găng, còn mùi thơm của thạch đen, thạch trắng là mùi thơm của dầu chuối… Cũng có người cho thêm vài giọt dầu chuối vào thạch găng. Còn anh thì không. Em thử ăn không dầu chuối xem sao…. À, thế gia đình em xuống đây ngày nào, còn ba em vẫn ở Cát Bà?

– Không, anh. Ba em về Quảng Yên từ tháng trước, còn gia đình em xuống đây đã hơn 2 tuần rồi.

Nghĩ đến cái mê thả thuyền của Dũng, Nhân cười hỏi:

– Về Hà Nội có thả thuyền không?

Dũng cười:

– Dạ, có. Em thả thuyền trong ao nhà, chỉ mình em. Chị Điệp ở Cát Bà thì đòi đi xem thả thuyền, còn ở Hà Nội thì không để mắt tới.

– Ở Cát Bà, mấy trăm người thả mấy trăm chiếc thuyền, đông vui như ngày hội. Còn ở Hà Nội chỉ một mình cậu, một chiếc thuyền trong ao tù thì có gì vui mà coi.

Dũng gật đầu:

– Hai năm trước ở Cát Bà về Hà Nội, em không có gì nhớ. Còn năm ngoái về thì nhớ những buổi chiều thả thuyền và cứ mong tới hè ra Cát Bà. Nhưng từ nay thì hết được ra đó. Ở đây có chỗ nào thả thuyền không anh?

– Ở đây có sông, có những hồ nước cạnh sông, nhưng không thể thả thuyền như ở biển, vì sông  hồ sâu, mình chỉ đứng trên bờ chớ không lội xuống được. Thả thuyền ở sông hồ thì thuyền đi luôn hay mình phải xuống bơi theo nó.

Ăn hết cốc thạch găng, Dũng đặt cốc xuống nói:

– Thạch găng ngon hơn thạch đen, thạch trắng.

– Vậy ăn thêm một cốc nữa.

Dũng lắc đầu:

– Thôi anh ạ, để lần khác. Em còn ở đây lâu.

Nhân đứng dậy vào quán trả tiền, mượn cây bút ghi địa chỉ đưa cho Dũng.

– Sáng mai tới anh chơi. Đi cổng sau tới nhà gần hơn. Bây giờ mình về.

3

Nghe tiếng nói: Nhà số 8 đây, Nhân bước ra cửa, vừa lúc Điệp và Dũng bước lên thềm. Nhân nắm tay Dũng: Năm ngoái Điệp ước được lên Quảng Yên thì nay điều ước đã thành. Câu nói đã giúp Nhân che bớt sự lúng túng trước cái nhìn của Điệp. Mới một năm mà Điệp đã thay đổi nhiều, cao lên với những đường nét mềm mại, thuôn thả, mặc dù Điệp vẫn mặc chiếc áo lụa cổ tròn.

Vừa ngồi xuống ghế, Điệp nói:

– Chỉ ở cách nhau khoảng 400 mét mà hai tuần không nhìn thấy nhau. Điệp ở trong nhà không nói làm gì, còn Dũng có mấy khi ở trong nhà.

Nhân cười nói:

– Dũng ở ngoài sân, nên chiều qua tôi mới nhìn thấy. Gần thế chớ cũng khó gặp, vì tôi ở phía sau và từ đầu phố Hoàng Hoa Thám có thể băng qua sân vận động để ra phố chợ mà không cần đi ngang qua phố Lê Lợi trước dinh. Vậy mà gặp được nhau cũng là nhanh rồi.

Điệp mở cái xách lấy ra 1 hộp bánh Petit Beure và 1 cuốn sách để lên bàn:

– Từ Hà Nội xuống mà đi như chạy loạn, nên Điệp không kịp mua cho anh quà Hà Nội. Em và Dũng đem cho anh hộp bánh và cuốn truyện.

– Cám ơn Điệp và Dũng, chạy loạn mà vẫn nhớ đến bạn. Nhân nhìn bìa tập truyện, rồi nói:

– Cuốn Nắng Đào của Nguyễn Xuân Huy, tôi đã đọc bài phê bình trong báo từ lâu, nhưng nhà sách ở đây không có.

– Còn Điệp thì có người bạn giới thiệu, đọc thấy hay nên mua thêm một cuốn dành cho anh – Điệp nói rồi hỏi:

– Chỉ có một mình anh ở nhà thôi ư?

– Có hai em, chúng nó đang chơi với chị người làm ở phía sau. Còn mẹ tôi bán hàng ở chợ, mãi đến tối mới về. Ba tôi đã về Quảng Yên, nhưng đã đi làm từ sáng. Nghe Dũng nói ông Bang đã về Quảng Yên từ tháng trước.

– Sau Hiệp Định Đình Chiến, ba Điệp lên Hà Nội đón gia đình xuống đây.

– Hà Nội như thế nào mà Điệp nói là chạy loạn?

– Người ta hoảng sợ, bỏ nhà cửa, lũ lượt chạy xuống Hải Phòng để di cư vào Nam. Gia đình Điệp cũng bỏ nhà chạy như thế.

– Hiệp Định có ấn định thời gian cho từng tỉnh. Hà Nội thì Việt Minh được tiếp thu sớm, nên dân Hà Nội phải chạy. Quảng Yên thì còn thời gian. Bây giờ người ta gặp nhau chỉ để nói chuyện đi chuyện ở với nhiều lo lắng tương lai.

Nhân đứng dậy tới kệ sách lấy ra cả chục cuốn để xuống bàn:

– Có mấy bộ kiếm hiệp hay, tôi tặng Điệp bộ Giao Trì Hiệp Nữ, còn Dũng bộ Nhất Chi Mai – Rồi chỉ lên mấy kệ sách: Trên này hầu hết là truyện kiếm hiệp, trinh thám và tiểu thuyết. Điệp và Dũng cần đọc cứ qua lấy.

Thấy Điệp và Dũng xếp gọn bộ truyện cầm trong tay, Nhân nói:

– Cứ để truyện lại đây, lúc về sẽ lấy, bây giờ mình đi ăn sáng. Năm ngoái ở Cát Bà, Điệp và Dũng cho tôi ăn nhiều thứ: mì, bánh bao, phẳn, cháo gà ở mấy hiệu Tàu. Hôm nay đến phiên tôi mời lại, Quảng Yên có nhiều thứ như mì, phở, xôi, bánh bao, bánh tôm và bún riêu cua đồng…, Điệp và Dũng chọn thứ gì, tùy ý.

– Điệp ăn bánh tôm.

Dũng lưỡng lự một lát rồi nói:

– Em ăn bún riêu.

Nhân cười:

–  Bánh tôm và bún riêu đều là món đặc biệt của Quảng Yên. Bây giờ chúng ta tới một quán có cả hai thứ đó.

Nhân ra sau, đóng cửa lại, dẫn hai người đi hết phố Hoàng Hoa Thám, rồi đi dọc phố Lê Lợi bên Sân Vận Động.

Dũng chỉ sân vận động:

– Sân rộng và có tường đẹp thế mà như bỏ hoang.

– Sân này dài hơn cây số, chiều rộng cũng tới 7 hay 800 mét. Do chiến tranh không được tu sửa, nhưng vẫn đẹp, vì có nhiều loại cây như phượng vĩ, đại và bàng.

Dũng nói:

– Chiều nay em đãi anh và chị Điệp thạch găng ở quán Cây Bàng.

Điệp cười, nói:

– Không biết thạch găng quán Cây Bàng ngon thế nào mà từ chiều qua Dũng nói mãi về cái quán này.

– Quán lụp sụp, nhưng món thạch găng thì ngon. Chiều tới sẽ biết – Nhân nói, rồi ra dấu cho Điệp rẽ vào một cái cổng gỗ đầy hoa giấy màu tím. Quán ở trong sân, ngay cổng một ngôi nhà gạch lớn kiểu cổ.

Nhìn thấy Nhân, bà chủ quán nói:

– Cậu Nhân hôm nay lại có bạn nữa.

– Thưa bà, bạn cháu từ Hà Nội xuống đấy ạ.

Nhân ngồi xuống chiếc bàn ở ngoài sân, rồi nói:

– Bà cho hai đĩa bánh tôm, mỗi đĩa 3 cái, và một bát bún riêu.

Điệp nói lại:

– Bà cho 1 đĩa 2 cái thôi.

Dũng lưỡng lự, rồi nói với Nhân:

– Em đổi, anh cho em bánh tôm luôn.

Nhân hướng về phía bà chủ quán:                    

– Chú em tôi đổi ý bỏ bún riêu, lấy bánh tôm. Bà cho thêm một đĩa bánh tôm.

Khi bà quán đem bánh đến, Nhân cắt bánh cho Điệp và Dũng. Đẩy đĩa bánh đến trước Dũng, Nhân nói:

– Ngày khác mình sẽ ăn bún riêu, xem bún riêu Quảng Yên hơn thua bún riêu Hà Nội ra sao.

Trong khi ăn kẹo chè lam và uống nước chè tươi, Điệp nói:

– Về Hà Nội sau kỳ nghỉ hè năm ngoái, Điệp và Dũng cứ nhắc lại việc anh dẫn đi thả thuyền, đi đáp cá, đi vào làng mua hồng, và những lần đi trên con đường đá sát biển từ Bang vào làng chài, đường dài trên cây số mà nước đập vào những khe đá, bắn tung tóe lên chân, lên quần và nao nức nghĩ đến hè năm nay… Thế là vĩnh biệt Cát Bà.

Nhân nói:

– Không ra Cát Bà thì xuống Quảng Yên. Ở đây cũng có nhiều chỗ, nhiều thứ đặc biệt, chẳng hạn đê sông Chanh, buổi chiều trong những ngày nắng đẹp có thể nhìn thấy những ngọn núi của Vịnh Hạ Long. Làng La Khê có nhãn, hạt nhỏ như hạt bắp. Làng Quỳnh Lâu có những đồi ổi, từ dưới đồi đã dậy mùi thơm. Có hai rạp ciné là Lido và Majestic. Có phở Bạch Đằng, kem Á Đông, và gần chúng ta hơn là một gia đình chuyên làm bánh dầy, bánh giò và bánh khoai sọ có tiếng. Có thể đêm nay Điệp và Dũng sẽ nghe tiếng rao: Bánh dầy, bánh giò… bánh khoai… Đó là tiếng rao của cụ Nhâm đẩy xe đi bán ba thứ bánh đã gần 40 năm.

– Hè năm ngoái đi với anh, Điệp mới biết nhiều nơi đẹp và những thú vui ở Cát Bà, còn trước đó chỉ biết khu bãi biển trước Bang, khu phố chợ và những ngọn núi giữa biển.

– Tôi đi chơi với mấy người bạn ở làng chài nên mới biết được nhiều nơi. Bây giờ ở Quảng Yên, tôi lại làm hướng đạo.

4

Ciné Majestic đã đầy người khi Nhân, Điệp và Dũng tới. Người dẫn ghế đưa 3 người tới khoảng giữa, chỉ vào 3 ghế trống, Dũng vào trước, đến Điệp rồi Nhân. Chương trình đang chiếu phim phụ. Chợt nhớ mấy gói lạc rang mua của ông già Tàu khi Điệp và Dũng vào mua vé, Nhân đưa cho Điệp và Dũng mỗi người một gói. Gần 2 tuần, sau khi Nhân gặp lại Điệp, ngày hôm qua chị em Điệp tới Nhân cho biết là gia đình Điệp sẽ qua Hải Phòng để đi vào Sài Gòn bằng máy bay. Chuyện di cư vào Nam là chuyện người ta nói hàng ngày sau Hiệp Định Đình Chiến Geneve, và qua báo chí, Nhân biết là Hiệp Định Geneve đã chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17, phía bắc tỉnh Quảng Trị. Chính phủ Quốc Gia Bảo Đại và Pháp được phần lãnh thổ từ phía nam vĩ tuyến 17 trở vào nam. Còn chính phủ Việt Minh được phần lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở ra bắc. Theo Hiệp Định, các tỉnh phía Bắc và phía Nam đều có thời gian ấn định để quân và dân chúng ở hai miền có thời gian chuẩn bị vào Nam hay ra Bắc theo ý muốn. Với miền Bắc thì Hải Phòng là địa điểm tập trung quân và dân và cũng là địa điểm cuối cùng để người dân tới và đi vào Nam bằng tàu thủy hay máy bay.

Việc gia đình Điệp xuống Quảng Yên để di cư là chuyện Nhân đã biết, nhưng không ngờ lại đi sớm như thế. Khi gặp Điệp và biết chuyện, Nhân nghĩ là gia đình Điệp sẽ ở lại Quảng Yên lâu, vì thời gian ấn định còn tới bốn tháng và nghĩ thầm là biết đâu hai gia đình sẽ cùng đi trên một chiếc tàu.

Chương trình đã đi vào phim chính. Đó là một phim Cao Bồi miền viễn tây Hoa Kỳ. Nhìn lên màn ảnh, nhưng Nhân không để ý gì đến phim mà chỉ nghĩ đến ngày Điệp vào Nam và sẽ không cách nào gặp lại. Năm ngoái ở Cát Bà, hơn một tháng biết Điệp đã đem đến cho Nhân một cái nhớ và một niềm vui khi nhìn thấy Điệp. Những lúc ấy nhìn ánh mắt Điệp, Nhân cảm được là Điệp cũng ở tâm trạng như mình, nhưng chỉ có thế. Và hàng ngày nguồn vui sẽ kéo dài trong một buổi thả thuyền, một buổi đi vào thôn xa, một buổi đi ăn mì ở phố chợ, bên bờ vách đá nước xanh của biển. Điệp về Hà Nội một năm Nhân không biết tin, cả hai trong ngày từ giã không có lời hẹn, tuy vậy Nhân vẫn nghĩ là tới hè sẽ gặp lại. Hè là một lời hẹn. Nhưng lần này thì muốn hẹn cũng không được, vì người đi trước, người đi sau, đều không biết mình sẽ tới đâu. Vì thế Nhân nghĩ lần này là lần gặp cuối cùng của người mới lớn đi vào vòng hệ lụy.

Nhân tựa đầu vào nệm ghế, đặt cánh tay sát cánh tay Điệp. Hai đầu gần nhau. Người Điệp toát ra một mùi thơm, mùi hương Nhân đã gặp theo làn gió biển khi ngồi với Điệp trên một tảng đá hay đi trên đường ven biển. Nhân nhìn ngang và bắt gặp ánh mắt Điệp. Trong bóng tối của màn ảnh trong đêm trăng mờ, ẩn hiện đàn ngựa đi dưới chân đồi. Điệp ngồi thẳng và mùi hương vẫn phảng phất. Một nỗi sợ cùng với sự khao khát bỗng dâng lên đưa bàn tay Nhân nắm lấy bàn tay Điệp và cảm thấy bàn tay Điệp ấm lên trong tay mình theo nhịp đập của tim. Nhân buông tay Điệp khi ánh sáng bừng lên trên màn ảnh. Điệp cúi xuống lâu. Khi màn ảnh đi vào bóng đêm, Điệp ngồi thẳng lên, nắm bàn tay Nhân một lúc và để lại trong tay Nhân chiếc khăn tay. Nhân bỏ chiếc khăn tay gấp nhỏ vào túi, rồi tìm bàn tay Điệp và hai bàn tay không rời nhau nữa.

Trên màn ảnh trận chiến giữa hai phe trải rộng trên một cánh đồng mênh mông với những dẫy đồi thấp. Ngựa phi từng lớp băng qua cánh đồng, tiếng súng và những kỵ mã trúng đạn, thân bật về phía sau. Qua trang phục và phụ đề, Nhân hiểu đây là một trận chiến giữa một bộ tộc Da Đỏ và những người da trắng trên đường lấn chiếm.

Nhân nhắm mắt lại nghĩ đến dụng ý của Điệp trong việc mời Nhân đi ciné và khi đi vào cửa Điệp đã đi giữa Dũng và Nhân. Hôm nay, lần đầu tiên Nhân thấy Điệp mặc áo dài lụa màu mỡ gà. Tà áo vàng nhạt vời quần trắng mỏng đã biến Điệp thành một giải lụa mềm khi bước nhẹ trên hè đường và Nhân đã ngẩn ngơ bên mái tóc xõa trên giải lụa ấy. Còn những ngày ở Cát Bà và tuần vừa qua đi đâu cũng chiếc áo cánh cổ tròn. Trưa nay hai chị em qua Nhân sớm và Điệp đã nói với Nhân là cho Điệp đi qua một con đường đẹp nhất Quảng Yên để nhớ một thành phố chỉ đến được một lần. Nghe thế, Nhân bảo Quảng Yên có mấy con đường đẹp, theo cảm quan của mình, nhưng không thể nói con đường nào là đường đẹp nhất, vì mỗi đường có cảnh sắc và nét riêng của nó. Chẳng hạn con đường đê ở Bến Ngự, đi về phía phố Khê Chanh, quanh bước đi là sông, ao đầm, còn phía xa tít mù tắp là những dãy núi của Vịnh Hạ Long. Con đường đó Điệp đã đi và khen là đẹp. Con đường thứ nhì, Điệp cũng đã đi và khen là đường Lam Sơn, chạy dọc một bên Sân Vận Động, nhà nào cũng cổng xây theo lối cổ với bờ tre, dậu dâm bụt, và trong sân nhiều nhà có hàng chục gốc hồng, hoa nở quanh năm. Và trưa nay Nhân đã dẫn hai chị em Điệp đi qua con phố Yết Kiêu, đường dài khoảng hơn cây số, hai bên đường có những ngôi nhà cổ, nhà mới xây và cả những nhà lợp tranh, nhưng nhà nào cũng có dàn hoa giấy đỏ tím lan theo bờ tường hoặc bờ dậu. Cạnh đó là những cái ao nhỏ nuôi bèo và thả rau muống. Đi hết con đường sẽ vào giữa phố Độc Lập, con phố thương mại, trung tâm thị tứ của thành phố. Khi ngồi ăn kem ở Á Đông để chờ tới giờ vào Ciné, Điệp nói là trong ba đường Điệp đã đi thì đường hôm nay đẹp nhất.

Nhân cười hỏi:

– Đẹp nhất, tại sao?

– Con phố yên tĩnh, đơn sơ mà đậm đà. Điệp chưa thấy ở đâu nhiều hoa giấy như ở phố Yết Kiêu, hai bên đường như hai tường hoa tím thẫm.

Nhân gật đầu:

– Mấy năm ở Quảng Yên, khi nào ra phố Độc Lập tôi cũng đi theo phố Yết Kiêu và nhận ra rằng từ sự ồn ào, người xe và bụi bặm của Độc Lập mà rẽ vào Yết Kiêu sẽ thấy nhẹ người.

Qua mấy lời yên tĩnh, đơn sơ mà đậm đà, Nhân chợt nghĩ đến chiếc áo cánh lụa Điệp thường mặc. Lâu nay Nhân cảm một điều gì đó, nhưng không nghĩ ra thì hôm nay Điệp đã nói lên thành lời. Cảm nghĩ ấy đã dấy lên trong lần đi với chị em Điệp vào một thôn sâu trong đảo mua hồng. Dũng chạy tung tăng từ cây này qua cây kia, hình như cậu ấy không biết dừng ở đâu vì cây nào cũng trĩu quả. Còn Nhân ở trên cây hái hồng đưa xuống cho Điệp, và lúc ấy mỗi lần Điệp giơ tay đỡ túi hồng, Nhân chỉ nhìn thấy đôi mắt đen sắc và cái cổ áo tròn bọc khuôn cổ Điệp, và rồi cái cổ áo cũng biến mất chỉ còn cái cổ và đôi vai.

Bây giờ không như ở Cát Bà, người trên cây kẻ dưới đất, mà tay trong tay, nhưng Nhân lại cảm thấy bâng khuâng lo sợ. Gặp lại sau một năm, Điệp tặng cuốn Nắng Đào, có ý nghĩa sâu đậm hơn là Nhân tặng lại bộ Giao Trì Hiệp Nữ, vì mỗi trang Nắng Đào đượm tình, còn Giao Trì Hiệp Nữ chỉ là những trang giấy mua vui, tiêu khiển. Tặng rồi mới nhận ra là với Điệp, Nhân đã hiểu sau và đi sau.

Nhân buông bàn tay Điệp khi trên màn ảnh bừng lên với đoàn kỵ mã đi thành hàng bên rừng, còn phía sau là ánh lửa dài cả cây số của ngôi làng bị đốt.

PHẦN II

1

Dựng chiếc xe đạp trước nhà sách Phú Nhuận, Nhân cầm xấp báo đi vào, vừa nói: Chào bà – vừa đặt tờ Tự Do trên quầy. Bà chủ tươi cười: Chào cậu – Rồi như chợt nhớ ra, bà nói: A, hôm nay cuối tháng rồi, để tôi đưa cậu tiền báo – Bà mở ngăn kéo lấy tiền đưa cho Nhân.

– Cám ơn bà, chào bà.

Nhân bỏ tiền vào túi, vừa định bước ra thì có người cầm tay kéo lại. Nhân ngước nhìn chưa kịp nói thì người kéo tay hỏi:

– Anh còn nhớ em không?

– A, Dũng! Nhân vừa nói vừa choàng tay qua vai Dũng kéo ra ngoài.

Dũng nói:

– Nghe tiếng “chào bà”, em nhìn lại, nhận ra anh ngay.

– Thời buổi loạn ly mà chúng ta vẫn gặp lại nhau. Ở Quảng Yên thì tôi nhìn thấy cậu trong dinh phó tỉnh, còn ở Sài Gòn thì cậu nhận ra tôi trong tiệm sách.

Dũng giơ cuốn “Kim Chỉ Nam Của Học Sinh” ra trước mặt Nhân:

– Nhờ vào nhà sách tìm cuốn này mà gặp được anh, thật may.

Nhân nói:

– Cậu ghi cho tôi địa chỉ. Bây giờ phải đi, ngày mai tôi sẽ tới.

Dũng nói:

– Nhà gần đây, anh ghé nhà ít phút cho biết, rồi hãy đi.

– Nhà gần đây ư, vậy thì tốt quá – Nhân cười, bỏ xấp báo vào cái giỏ ở trước ghi đông, rồi nói: Cậu ngồi lên đây, tôi chở đi cho nhanh.

Dũng nói:

– Em cao lớn thế này, ngồi lên sợ gẫy xe mất. Thôi đi bộ, anh ạ.

Buổi chiều, giờ đi làm về, đường Võ Di Nguy, dưới mặt đường là những dòng xe đạp, xe gắn máy đi sát nhau, còn trên lề thì người đi bộ, có chỗ gần như chen nhau. Dũng muốn đi ngang Nhân, nhưng rừng người cứ đẩy Nhân với chiếc xe về phía sau, nên Dũng phải đi trước.

Tới ngã tư Phú Nhuận, Dũng quẹo trái đường Võ Tánh, đi chừng hơn 300 mét thì dừng lại trước một ngôi nhà lầu có giàn hoa giấy trên cổng.

– Nhà đây anh – Dũng nói rồi đẩy cánh cổng cho Nhân dắt xe vào sân.

– Chị Điệp ơi, chị Điệp. Ra đây em cần nói chuyện này.

Điệp xuất hiện ở cửa, chợt sững người lại khi nhìn thấy người đứng với Dũng ở giữa sân.

– Chị nhận ra ai không?

– Anh Nhân! Điệp bước vội ra như muốn ôm chầm lấy Nhân, nhưng Nhân đã giơ tay cầm tay Điệp cùng đi vào nhà.

Điệp kéo Nhân tới ghế salon:

– Anh ngồi đây, để Điệp đi lấy nước.

Điệp đi vào đem ra một chai cam vàng và một cái ly có nước đá, rồi rót nước vào ly để trước Nhân.

– Anh uống nước.

– Cám ơn Điệp.

Điệp ngồi xuống ghế đối diện với Nhân:

– Đường phố đông người mà nhận ra nhau. Sao lại có chuyện ngẫu nhiên như vậy nhỉ?

Dũng nói:

– Không phải gặp ngoài đường. Em vào nhà sách Phú Nhuận tìm cuốn “Kim Chỉ Nam Của Học Sinh” của Nguyễn Hiến Lê và gặp anh trong nhà sách.

Nhân nói:

– May mà cùng vào nhà sách, chớ ở ngoài đường Võ Di Nguy thì khó có thể nhận ra nhau. Dũng cao lớn, mập mạp, thay đổi nhiều.

Điệp nhìn Nhân:

– Anh cao lên, nhưng gầy đi, khuôn mặt thì vẫn vậy.

Bà mẹ Điệp bước ra, Nhân đứng dậy:

– Chào bác, con là bạn của Dũng ở Quảng Yên.

Bà nhìn Nhân một lát, vui vẻ:

– Tôi nhớ rồi. Ngày chúng tôi rời Quảng Yên sang Hải Phòng, cậu đã ra bến xe tiễn chúng tôi với một gói bánh giò và một gói bánh khoai sọ …, Mấy năm rồi mới gặp lại, ai nhận ra ai trước.

– Thưa bác, Dũng nhận ra con trước.

– Vào Sài Gòn, bây giờ gia đình cậu ở đâu?

– Dạ, con ở khu ngã ba Ông Tạ.

– Vậy thì cũng không xa đây, nhưng khu Ông Tạ với khu Phú Nhuận trái đường nên gặp được nhau cũng khó lắm. Mới đó mà đã 3 năm, người nào cũng cao lớn cả rồi. Thôi, cậu ngồi chơi với các em. Đã gặp lại nhau, nhớ năng đến chơi.

– Dạ, cám ơn bác. Con sẽ đến luôn ạ.

Sau khi mẹ Điệp vào nhà được một lát, Nhân uống cạn ly nước, rồi nói:

– Bây giờ tôi phải đi có việc. Để hôm khác sẽ đến chơi.

Điệp và Dũng đi với Nhân ra đường. Khi Nhân ngồi lên yên xe, Điệp nói:

– Anh nhớ đến chơi, đến buổi sáng. Buổi chiều Điệp đi học.

– Tôi cũng học buổi chiều – Nhân gật đầu cười nói, rồi đạp xe trở lại ngã tư Phú Nhuận, ngược lên đường Chi Lăng, vào mấy hẻm bỏ nốt những số báo Tự Do, Ngôn Luận còn lại.

Trên đường về, khi qua nhà Điệp, Nhân nghĩ hơn một năm đi bỏ báo qua con đường này mà không bao giờ gặp Điệp hay Dũng. Đêm nào Nhân cũng dừng lại chiếc xe chiên bánh tiêu và dầu cháo quẩy gần phía đối diện với nhà Điệp, mua một cái bánh tiêu, rồi vừa đạp xe vừa ăn. Gặp lại Điệp lòng Nhân trĩu nặng và giao động vì thấy sự cách biệt giữa hai đời sống.

Vào Sài Gòn ba Nhân giải ngũ và thất nghiệp. Mẹ Nhân buôn tần bán tảo ở chợ Ông Tạ.  Có cái may là được bạn hàng chỉ dẫn, cha mẹ Nhân mua được một mảnh đất diện tích trên 500 mét vuông trong ấp Cả Trắc. Với cây, gỗ, ván tạp, ba Nhân và một người bạn đã làm được ngôi nhà lá 3 gian. Thế là yên được chỗ ở, nhưng còn sinh kế thì khó khăn, nên Nhân đã phải theo mấy người bạn đi bỏ báo tháng để tìm cách tự túc cho việc đi học.

Còn gia đình Điệp, chỉ nhìn bề ngoài qua ngôi nhà hai tầng lớn ở mặt tiền đường phố và qua nét đài các của mẹ Điệp và Điệp, Nhân thấy là dù di cư, nhưng gia đình Điệp vẫn ở tầng lớp giàu có hay trung lưu như ngày còn ở ngoài Bắc. Gặp Điệp Nhân sửng sốt trước sự thay đổi của Điệp, vì Điệp đã trở thành một thiếu nữ khuê các lồ lộ đường nét căng đầy. Nhìn lại mình, quần một manh áo một mảnh, mỗi tối đi bỏ mấy chục tờ báo với chiếc xe đạp để ở đâu cũng không cần khóa, Nhân cảm thấy Điệp đã quá xa cách. Gặp Nhân, Điệp mừng cũng như Dũng đã cầm tay Nhân kéo lại, nhưng Nhân thầm nghĩ có lẽ giờ này Điệp đang nghĩ về mình cũng như mình đang nghĩ về Điệp. Đừng để cho Điệp phải khó xử về chuyện gặp lại – Nhân lẩm bẩm: Phải giải thoát cho cô ấy. Và lòng Nhân bỗng chùng xuống khi đi đến quyết định là cứ đến Điệp một, hai lần, rồi sẽ đi luôn không trở lại nữa.

2

Sáng chủ nhật Nhân đến cà phê Gió Bấc ở đường Phan Đình Phùng được chừng 15 phút thì Điệp tới. Điệp mặc áo dài màu xanh dương, khóa chiếc Velo Solex, rồi xách một gói lớn đi vào quán. Điệp cười khi nhìn thấy Nhân và thản nhiên trước những cái nhìn của khách cà phê.

– Anh đợi em có lâu không?

Nhân cầm tay Điệp khi nàng ngồi xuống ghế:

– Không lâu, anh cũng mới đến – Nhân đáp, rồi nói: Bên cạnh đây có quán bánh cuốn. Em ăn bánh cuốn?

– Em ăn ở nhà rồi, uống cà phê thôi anh ạ.

Cô tiếp viên đến, Nhân hỏi Điệp: Em uống cà phê sữa?

– Dạ.

– Cô cho tôi hai cà phê sữa.

Khi cô tiếp viên bước đi Nhân nói:

– Mấy năm, anh vẫn nghĩ là gia đình chúng ta đều sống ở Sài Gòn cả, loanh quanh ở những khu tập trung nhiều dân di cư như Phú Thọ, ngã ba Ông Tạ, ngã tư Bảy Hiền, đường Trương Minh Giảng, đường lê Văn Duyệt, khu Bàn Cờ và vẫn hy vọng là một buổi chiều nào đó sẽ gặp em trên đường Lê Lợi.

Điệp nhìn Nhân một lúc:

– Em cũng nghĩ như anh, nhưng thời gian cứ đi, nên hy vọng cũng nhạt dần.

– Có một điều, sau khi gặp em, anh mới chợt nhận ra là nếu anh thông minh, nhanh trí một chút thì anh đã gặp em từ lâu. Đầu óc quá chậm nên đến nay mới nhờ cái đụng đầu Dũng trong nhà sách mà tìm lại được cô Điệp Cát Bà.

Điệp bật cười, rồi nói:

– Anh nói em không hiểu.

Nhân cười:

– Có gì mà không hiểu. Ở Hà Nội em là học sinh Trưng Vương thì vào đây em cũng học Trưng Vương. Nếu nghĩ ra sớm, anh đến đứng ở trước cổng Trưng Vương thì sẽ thấy Điệp. Một việc đơn giản như thế mà mấy năm không nghĩ ra.

Điệp ngẩn ra một lúc, nhìn Nhân:

– Không nghĩ ra nên mới mất ba năm… Nhiều lần đi ăn kem với Dũng ở Mai Hương, em thường ngồi lâu vì hy vọng sẽ trông thấy anh trên hè đường Lê Lợi. Thật tiếc, khi chạy khỏi Hà Nội, mọi người hoảng loạn cả, em đâu biết Trưng Vương sẽ di cư. Nếu biết Trưng Vương cũng vào Sài Gòn thì em đã dặn anh. Khi từ giã, em sợ mình sẽ lạc nhau, vì chúng ta cùng đi tới một nơi không có địa chỉ.

Nhân hỏi:

– Gia đình em ở lại Hải Phòng bao lâu?

– Trên hai tuần, anh ạ. Gia đình em vào Sài Gòn bằng máy bay, ở trại tạm cư Bình Đông 2 được hơn hai tháng thì ba em vào và đi làm ở Bộ Nội Vụ, nên me em thuê nhà ở đường 20, nay là đường Phan Thanh Giản.

– Gia đình em lên đường Võ Tánh từ năm nào?

– Khoảng giữa năm 1955, chỉ thuê nhà mấy tháng thôi. Me em mua nhà ở mặt tiền để bán gạo.

Nhân cười:

– Vậy là trên một năm qua, ngày nào anh cũng đi qua nhà em mà không bao giờ thấy người.

– Anh không thấy ai cũng phải, vì mặt ngoài là cửa hàng bán gạo. Em ít khi ra đó. Hơn nữa anh lại đi vào buổi tối khi nhà đã đóng cửa.

Thấy phin cà phê đã chảy hết, Nhân bỏ phin ra, đổ thêm nước vào 2 tách, khuấy cho sữa tan đều rồi đặt tách cà phê trước Điệp.

Nhìn Điệp hồn nhiên như những ngày ở Cát Bà và Quảng Yên, Nhân băn khoăn về những điều mình nghĩ về Điệp. Chủ nhật tuần trước đến Điệp, Nhân đã ngạc nhiên trước những lời ân cần của nàng: Em đã lớn và được phép giao du bạn bè. Ở nhà khách ra vào mua gạo, rồi có me em, mình chẳng nói được gì. Có chỗ nào, thỉnh thoảng mình đi chơi với nhau. Em vẫn nhớ những ngày ở Cát Bà và Quảng Yên. Nhân bảo: Chỗ đi chơi trong thành phố có Ciné, công viên và những quán cà phê yên tĩnh, còn ngoài thành phố ở đâu anh không biết mà mình cũng không có phương tiện đi xa. Nghe thế, Điệp đã chọn quán cà phê và Nhân đã hẹn Điệp ở Cà phê Gió Bấc, đường Phan Đình Phùng, nơi thỉnh thoảng Nhân đã tới để làm quen với hương vị cà phê miền Bắc, cả mùi thơm lẫn phong cách uống.

Nâng tách cà phê uống mấy hớp, rồi Nhân nói:

– Gia đình em may mắn, đi sớm, lại đi máy bay. Rồi vào đây, gia đình vẫn giữ được nếp sống ở ngoài Bắc. Còn gia đình anh khó khăn hơn. Mãi tháng 10 mới qua Hải Phòng, 3 tuần sau đi tàu Mỹ vào Sài Gòn, ở trại tạm cư Bình Đông 3 được chừng một  tháng thì ra ngoài thuê nhà ở cho thoải mái và phải tính chuyện làm ăn.

– Từ Bình Đông 3, gia đình di chuyển thẳng tới ngã ba Ông Tạ?

Nhân lắc đầu:

– Đâu có nhanh và gọn vậy em. Từ Bình Đông 3 tới Phú Thọ trường đua, rồi Phú Thọ Hòa. Cuối năm 55 mới tới khu Ông Tạ. Đó là chuyện ở, còn chuyện sống thì vào Nam, ba anh thuộc quân đội nên phải giải ngũ và thất nghiệp. Cách đây mấy tháng ông mới xin được một việc trên tàu đánh cá biển. Mẹ anh vào đây phải tần tảo ngay sau khi ra khỏi trại tạm cư. Tới chợ Ông Tạ, khởi đầu bán bún riêu, sau đó kiếm được một chỗ tốt, bà đổi sang bán cơm.

Nhân dừng lại, nâng tách cà phê uống mấy hớp:

– Trước hoàn cảnh gia đình như thế, anh may mắn xin được vào trường Chu Văn An, vì là học sinh trường trung học Trần Quốc Tuấn, và là con binh sĩ, nhưng phải tìm cách tự túc đỡ cho cha mẹ, nên anh đã theo mấy người bạn, xuất thân từ Trại Học Sinh Phú Thọ, đi bán báo Tự Do và Ngôn Luận vào buổi tối. Khởi đầu phải bán rao, nhưng sau đó nhiều gia đình mua thường xuyên nên chuyển thành mối. Cứ 7 giờ chiều tới nhà in lấy báo, rồi đi bỏ mối. Bỏ mấy chục mối báo mất nhiều thì giờ, vì phải đi nhiều đường. Trước kia anh lên cả Xóm Mới, nhưng xa quá nên phải bỏ…. Thời gian đầu đi rao báo, thường thì đi vào mấy ngõ hẻm, anh nhớ lại tiếng rao “bánh dầy, bánh giò, bánh khoai” của cụ Nhâm ở Quảng Yên. Tiếng rao của cụ lanh lảnh, nhất là trong những đêm mưa. Anh không biết tiếng rao của mình ra sao trong những đêm mưa, nhưng vào mấy ngõ sâu, anh nghe tiếng rao như lạc mất trong mưa.

Nhân nâng tách cà phê lên, rồi lại bỏ xuống:

– Buổi chiều gặp được Dũng là do anh tới đưa báo cho nhà sách Phú Nhuận. Anh bỏ báo ở đó cả năm rồi. Và khu vực anh bỏ báo là đường Võ Di nguy, Chi Lăng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Huệ, vòng trở lại Võ Di Nguy nối dài. Hơn năm nay, anh thường đi lại đường Võ Tánh và đêm nào khi bỏ báo xong, anh cũng phải đi qua Võ Tánh để về nhà.

– Vậy từ ngày mai anh bỏ báo Tự Do cho nhà em, có Văn Nghệ Tiền Phong thì bỏ cho em luôn.

– Hiện tại em lấy báo của ai?

Điệp lắc đầu:

– Không, nhà không lấy báo của ai. Hàng ngày mua ở sạp báo đối diện trước nhà. Rồi em sẽ giới thiệu cho anh mấy mối nữa trên đường Chi Lăng.

– Em phải hỏi những gia đình đó là đang lấy báo của ai. Nếu họ bảo đã có người bỏ báo thì thôi. Vì số anh em đi bỏ báo không nhiều mà cũng biết nhau cả.

Nhìn mấy ông đọc báo Tự Do với tách cà phê và điếu thuốc, Nhân nói:

– Quán này là của dân Bắc, chắc là đồng hương Hà Nội với em, và khách cũng toàn dân Bắc. Ở Quảng Yên, mấy tiệm ăn đều có ghi cà phê, nhưng cà phê hình như không thông dụng, thành ra mấy năm ở Quảng Yên anh chỉ được uống ít lần, loại cà phê sữa bột Nestlé của Pháp. Vào đây chỉ một thời gian ngắn là quen vị cà phê đen, quán cà phê ở khắp nơi.

Điệp hỏi:

– Nhà ở khu Ông Tạ mà sao anh lên tận đây uống cà phê?

– Chỉ thỉnh thoảng thôi, nhưng tới đây vì cà phê có hương vị đặc biệt, quán của người lớn tuổi và yên tĩnh. Mình bỏ miền Bắc vào tuổi mới lớn, chưa được sống nhiều, nhưng hai chữ Gió Bấc có âm hưởng quyến rũ gợi nhớ gió biển Cát Bà, gió bấc mưa phùn Quảng Yên và những rặng núi xanh, xám mùa đông.

Thò tay vào túi quần, Nhân lấy ra chiếc khăn tay màu hồng lợt và từ túi áo lấy ra tấm ảnh nhỏ kẹp trong mảnh giấy vuông. Vừa nhìn thấy chiếc khăn tay, Điệp xúc động:

– Anh vẫn còn giữ được…

Nhân nhìn Điệp: Cả cuốn Nắng Đào – Nhân cũng xúc động nên yên lặng một lúc lâu mới tiếp: Mảnh giấy nhỏ trong khăn tay em ghi ít chữ với địa chỉ ở Hải Phòng. Tháng 10 qua Hải Phòng, anh đã tìm đến hiệu bánh Phúc Châu, nhưng tiệm đóng cửa và nhà bên cạnh cho biết là gia đình Phúc Châu đã di cư vào Nam.

– Gia đình em đi với gia đình Phúc Châu. Căn nhà ở Võ Tánh cũng do người em của Phúc Châu giới thiệu.

Điệp nhìn tấm ảnh bán thân nàng chụp cuối năm 1953, gói trong chiếc khăn tay tặng Nhân buổi đi coi Ciné ở Quảng Yên:

– Bây giờ em khác nhiều, anh nhỉ?

Nhân không để ý đến điều Điệp hỏi mà tiếp tục theo dòng ý nghĩ của mình:

– Hy vọng gặp em ở Hải Phòng sẽ có địa chỉ ở Sài Gòn, nhưng em đã đi, nên chỗ cuối cùng anh bấu víu là ba anh, vì hy vọng ông sẽ biết ba Điệp ở đâu. Nhưng anh đã sai, vì hành chính và quân đội không có liên hệ gì với nhau, vào Nam thời gian cũng khác nhau. Rồi ba anh giải ngũ, thế là hết dấu vết.

Điệp gấp lại chiếc khăn với tấm ảnh và rót cho Nhân chén nước:

– Anh uống nước, rồi mình về. Chẳng cần dấu vết mà mình vẫn gặp nhau, ngẫu nhiên như ở Cát Bà và Quảng Yên.

Quán còn ít khách, Điệp nhìn lên những bức tranh treo trên tường, và chú ý bức ảnh chụp Hồ Hoàn Kiếm trong mưa phùn và Tháp Rùa như lẫn vào màn mưa. Điệp bồi hồi nhìn bức ảnh, nhớ lại những ngày mưa phùn trắng thành phố, nàng đã đi qua đây. Giờ thì đã xa quá, nhưng mỗi lần nàng nghĩ đến Hà Nội thì hình ảnh tháp rùa lặng lẽ trong nắng, dưới mưa, uy nghi mà thân tình lại ập trở về…

Khi Nhân uống cạn chén trà, Điệp cầm gói giấy mà nàng đã đem theo đưa cho Nhân:

– Em mua cho anh một ít vải để may quần áo và tập truyện “Trăng Nước Đồng Nai” của Nguyễn Hoạt.

Nhân nhìn Điệp một lúc lâu:

– Em còn là học sinh, sao lại cho anh nhiều thế?

– Ba và me cho, em để dành. Vải quần áo cũng như mì, bánh bao, phẳn ở Cát Bà hay bún riêu, thạch găng, kem Á Đông ở Quảng Yên.

Nhân cầm gói giấy: Cám ơn em – Rồi đứng dậy nói: Mình về, Điệp.

Nhân đứng lại quầy trả tiền, rồi theo Điệp ra chỗ để xe, dắt chiếc Solex xuống đường cho nàng. Dưới ánh nắng gắt, Điệp đưa tay cho Nhân nắm một lúc, rồi xỏ tay vào đôi găng trắng:

– Thôi em về.

Chiếc Solex lao đi với tà áo xanh trong dòng xe đạp trên đường Phan Đình Phùng.

3

Nghe tiếng xe Solex dừng ở cổng, Nhân đi vội ra đỡ xe cho Điệp:

– Em tìm nhà dễ dàng chứ?

– Em theo những điều anh ghi và vẽ trên giấy.

Nhân dựng xe ở sân, rồi dắt Điệp vào nhà.

Ngồi xuống ghế Điệp hỏi:

– Ở nhà chỉ có mình anh thôi ư?

Nhân đáp:

– Hai em đi học, ba anh đi biển đánh cá, còn mẹ ở chợ tới 2, 3 giờ mới về.

Điệp nói:

– Nhà rộng, vườn rộng, lại ở giữa một cái làng đầy cây thế này thì yên tĩnh và mát. Nhà trên phố quạt máy suốt ngày đêm, đến gió từ quạt cũng nóng lên.

Nhân vừa rót nước trà ra tách, vừa nói:

– Cái làng này cũng gần giống con phố Yết Kiêu, con phố em bảo là đẹp nhất Quảng Yên, phần lớn nhà cửa vách ván, lợp lá, chừng 1/3 lợp tôn và ngói. Đường đất nhỏ, nhưng chỉ ra khỏi làng là gặp những con đường lớn, xe và người tấp nập.

Điệp hỏi:

– Nhờ ai chỉ dẫn mà ông bà lại mua được đất nhà trong làng, một chỗ tốt như thế này?

– À, khi mới tới khu Ông Tạ, phải ở nhà thuê và mẹ anh sang được một cái sạp nhỏ ở chợ Ông Tạ bán bún riêu. Sau đó chuyển qua bán cơm, chính khách ăn cơm đã chỉ cho bà khu đất này – Nhân ngừng một lát, rồi tiếp: Gia đình anh là dân di cư vào làng này đầu tiên. Hồi mới tới, con đường vào đây, hai bên là lũy tre với những khu vườn trồng hoa và rau. Ở đầu đường là một tiệm mì và cà phê vợt mà anh đã làm quen với cà phê ở tiệm này. Bây giờ thay đổi khá nhiều. Dân di cư mua đất, đã phá bờ tre ở phía đầu đường để làm nhà và mua tiệm mì, rồi phá đi xây thành nhà hai tầng, mở lò bánh mì Hạnh Phúc.

Điệp nói:

– Con đường đất cát lồi lõm, nhưng đi vào thấy mát mắt với màu xanh của bụi tre, vườn và cây cối.

Nhân gật đầu:

– Ngày đó em vào tới đây là thấy những vườn hoa cúc, hoa huệ, hoa mào gà và vườn rau cải, sà lách và rau thơm bao quanh những ngôi nhà nhỏ.  Dân Bắc di cư tràn tới, dân Nam bán đất đi chỗ khác. Bây giờ chỉ còn một số dân Nam sống về nghề trồng hoa, trồng rau ở mãi phía trong – Nhân chỉ qua cửa sổ:  Nhà bên cạnh kia vách ván, lợp ngói cong, tiêu biểu cho nhà cửa của ấp này, họ buôn bán và chạy xe ngựa đường Ông Tạ – chợ Cầu Ông Lãnh.. Những buổi sáng dậy sớm, anh thường nghe tiếng chặc lưỡi gọi ngựa và tiếng vó ngựa lịch kịch kéo xe ra đường.

Điệp nói:

– Cách đường lớn không bao xa mà điện vẫn chưa vào tới đây. Ban đêm tối tăm quá, đúng là cảnh thôn dã chớ không như đường Yết Kiêu, thôn dã mà có điện, có nước máy và đường trải nhựa.

Nhân chỉ ra sân:

– Trước bếp là cái giếng sâu trên 3 mét, nước ngọt và rất trong. Em thấy đời sống ở đây là nước giếng, rau vườn và đèn dầu. Những đêm mưa gió thì mịt mù với tiếng ễnh ương, ếch nhái. Còn những đêm trăng thì mờ ảo.

Nhân chỉ lên kệ sách:

– Anh có bộ Liêu Trai Chí Dị do Đào Trinh Nhất dịch. Đọc Liêu Trai trong những đêm mưa bên ánh đèn dầu mới cảm được sự huyền ảo ma quái trong Liêu Trai. Em có đọc Liêu Trai không?

– Dạ, em mới đọc một số truyện do Nguyễn Hoạt dịch – Như chợt nhớ ra, Điệp hỏi: Anh đã đọc “Trăng Nước Đồng Nai” chưa?

– Đọc rồi. Trăng Nước Đồng Nai bắt mình nghĩ nhiều về cái làng cù lao giữa sông Đồng Nai, ở giữa 2 cây cầu dài… sông nước, trăng, người và hoa bưởi. Có dịp nào, chúng ta thử tới cái làng đó hái bưởi cũng như đi vào sơn thôn có mấy chục nóc nhà hái hồng ở Cát Bà. Có thể em không để ý, nhưng do anh thường đọc Liêu Trai, lại đọc trong khung cảnh làng quê, tối tăm đèn dầu với tiếng giun dế, nên anh để ý đoạn Nguyễn Hoạt nói về tính chất Liêu Trai của những cái cổng và những cái tháp trong mấy nghĩa trang ở bên đường đối diện với núi Châu Thới. Con đường Sài Gòn – Biên Hòa, mình đã đi biết bao nhiêu lần, nhưng không để ý đến những cái cổng và tháp nghĩa trang – Nhân cười – Có lẽ Nguyễn Hoạt dịch Liêu Trai Chí Dị nên ông đã bắt được khung cảnh ấy để đưa vào Trăng Nước Đồng Nai.

Điệp hỏi:

– Ngoài Trăng Nước Đồng Nai, Nguyễn Hoạt còn có tác phẩm gì khác nữa không anh?

– Xuất bản thì hình như chỉ có Trăng Nước Đồng Nai, còn truyện đang đăng báo thì có Tỵ Bái trên Tự Do. Ông còn viết mục Đàn Ngang Cung trên Tự Do với bút hiệu Hiếu Chân.

Nhân tới kệ sách lấy một cuốn bìa nâu đưa cho Điệp:

– Đây là quà tặng của một người Hà Nội.

Nhìn mấy chữ: Nắng Đào – Nguyễn Xuân Huy, Điệp cười với ánh mắt lung linh nồng nàn:

– Anh đóng bìa đẹp thế này ư? Em giữ được bộ Giao Trì Hiệp Nữ, và thường đọc lại nhiều đoạn, nhưng em đã quên việc đóng bìa.

Nhân đặt tay lên vai Điệp:

– Thấy Nắng Đào cũng như thấy em, cảm được điều em muốn nói. Vì thế, ba năm em biệt tích anh đã sống với Nắng Đào, tấm ảnh và cái khăn tay. Ông bà mình kiêng tặng nhau khăn tay, vì khăn tay để lau nước mắt… Từ Nắng Đào anh nhớ Cát Bà với những ngày đi trên con đường lát đá cạnh núi với sóng biển dạt dào, nhìn em kéo quần tránh nước đập vào đá tung tóe lên đường, nhìn sóng biển leo núi ngoài khơi, với ngày đi hái hồng, anh nhớ cổ áo tròn với đôi mắt sắc mà nồng nàn ngước lên đỡ túi hồng. Từ Nắng Đào, anh nhớ Quảng Yên. Hôm đi coi Ciné, anh không để ý đến phim mà suốt buổi chỉ nghĩ đến việc em đi. Buổi sáng từ giã ở bến xe, anh dõi theo chiếc xe hàng màu vàng cổ dụt chạy ra đường, rồi mất hút trên đường Khê Chanh. Trên đường về, anh đi theo phố Yết Kiêu, nghĩ là giờ này, chiếc xe vàng đã dừng lại ở bến Rừng, qua phà sông Rừng, rồi đi qua dãy núi Tràng Kênh. Đến trưa anh nghĩ giờ này xe đã qua núi Đèo tới bến đò Bính, qua phà, vào bến. Em xuống xe và mất hút, vì anh không còn …

Điệp bật khóc:

– Anh đừng nói nữa – Nàng lấy khăn tay lau nước mắt, yên lặng một lúc lâu, rồi nói:

– Khi vào Nam em sợ, nhưng mấy năm qua em vẫn tin là mình sẽ gặp lại nhau, niềm tin mơ hồ, nhưng em vẫn tin như thế. Chúng ta còn đi học, hoàn cảnh của anh khó khăn hơn em. Đêm đêm lăn lộn với mấy chục tờ báo, nhưng đó là cách thích nghi với hoàn cảnh. Và bây giờ, nhà chỉ mình anh mà khu vườn tươi tốt thế kia.

– Cám ơn Điệp đã nghĩ như thế. Ai cũng bận nên vườn không có gì nhiều. Cây ăn trái có ổi, đu đủ và chuối, còn rau thì chỉ có mồng tơi, rau đay và rau thơm.

Nhân để cuốn Năng Đào lên kệ sách, rồi nắm tay Điệp:

– Bây giờ mình đi hái ít ổi và đu đủ.

Ra tới sân, Nhân đi nhanh xuống bếp lấy một cái rổ và một cái túi xách bằng cói. Đưa cho Điệp cái túi xách và chỉ mấy cây ổi, Nhân nói:

– Em hái ổi, còn anh đi coi mấy cây đu đủ xem có trái nào chín.

Nhân bưng 3 trái đu đủ trở lại hàng ổi, trong khi Điệp vẫn đang đứng nhìn từng cây, ngắm nghía những trái ổi vàng bóng.

– Em hái được nhiều chưa?

– Dạ, được chừng hơn chục trái, anh ạ, mà sao trồng cùng thời gian mà có những cây lớn nhỏ khác nhau?

Nhân cười:

– Mấy cây lớn là do chủ cũ trồng, còn những cây nhỏ mình trồng và phải 2 năm nữa mới có trái.

Nhân tới một cây cao, vin cành, chỉ: Em hái mấy trái này – Rồi cứ thế vin cành cho Điệp hái.

Thấy giỏ đã nặng, Điệp nói:

– Thôi anh ạ, nặng rồi. Em sợ cái giỏ này không đựng hết 3 trái đu đủ.

– Có thể đủ, để thử coi – Nhìn trái thứ ba, gần sát miệng giỏ, Nhân cười: Em thấy chưa, vừa vặn. Rồi một tay xách giỏ, một tay dắt Điệp vào nhà.

Nhìn đồng hồ, thấy đã hơn 11 giờ, Điệp nói:

– Em về, anh ạ.

– Trưa rồi, phải kiếm cái gì ăn. Đi ăn phở với anh.

Nhân đang loay hoay buộc giỏ ổi vào cái giỏ sắt sau xe Solex thì nghe tiếng:

– Thưa anh, em đi học về.

– Chào chị.

Nhân nhìn lên, nói:

– Phượng, em gái út – rồi chỉ Điệp: Chị Điệp, bạn của anh.

Điệp cầm tay Phượng:

– Phượng học trường xa hay gần em?

– Dạ, em học trường Khuông Việt gần đây.

Điệp lấy trong sắc tờ 20 đồng đưa cho Phượng:

– Chị cho em để mua sách, mua quà.

Phượng nhìn anh.

Nhân nói:

– Chị cho, em cầm lấy.

– Em cám ơn chị.

– Anh đi với chị Điệp ra ngã ba Ông Tạ. Em hâm cơm và đồ ăn, chờ Thanh về ăn một thể – Nhân dặn em, rồi nói:

– Thôi, mình đi, Điệp.

Nhân dắt xe đạp đi trước, Điệp dắt Solex theo sau. Ra tới cổng, Nhân chỉ khu vườn đối diện:

– Kiểu nhà với vườn trồng hoa và rau kia là tiêu biểu của ấp này. Nhà mình lúc mới mua cũng thế, chỉ khác là nhà lợp tranh.

Điệp nhìn một lúc:

– Người ta trồng rau cải, hoa cúc và hoa huệ.

– Vào sâu một đoạn nữa, vườn nào cũng rau, hoa cúc, huệ và mào gà.

Đi hết đoạn đường nhỏ, tới đoạn có bờ tre, đường rộng hơn, Điệp dắt xe đi song song với Nhân.

– Bố mẹ mua nhà ở ấp này, nên anh được sống giữa làng hoa, huệ và cúc, nhưng chỉ có thế. Anh không biết làng hoa Nghi Tàm ở Hà Nội đẹp thế nào mà nhiều nhà văn đã viết về cái làng hoa đó. Thời ở Hà Nội, em đã tới Nghi Tàm chưa?

– Em đã tới những làng hoa này nhiều lần. Nghi Tàm ở bên Hồ Tây, nên là một thắng cảnh. Làng hoa ở Nghi Tàm trồng nhiều thứ hoa như cúc, hồng, lay ơn, cẩm chướng, mẫu đơn, hoa ly…, đặc biệt là đào và quất. Cuối tuần dân Hà Nội thường xuống đây chơi, nhất là vào dịp Tết, người ta xuống Nghi Tàm để mua đào và quất. Em có một ít ảnh chụp trong mấy làng hoa Nghi Tàm, hôm nào em đưa anh coi. Anh sẽ thấy, vào đến làng hoa Nghi Tàm là vào rừng hoa với màu xanh, đỏ, tím, vàng, trắng – Điệp cười – Chớ không chỉ một màu xanh của lá cây và rau như làng hoa của anh.

– Đó là ban ngày, còn ban đêm em vào đây thì chỉ thấy một màu đen với đom đóm lập lòe và thỉnh thoảng đôi ánh đèn dầu leo lét từ mấy căn nhà vườn.

– Thế những đêm mưa tối tăm, đường lồi lõm thế này thì đi làm sao?

– Ở đâu quen đó, em ạ.

Đến đầu ngõ ra Thoại Ngọc Hầu, Nhân nói:

– Bây giờ em đi trước, Solex theo sau anh sẽ khó đi. Tới ngã ba Thoại Ngọc Hầu – Lê Văn Duyệt thì quẹo trái chừng hơn 200 mét sẽ thấy phở Thiên Thai ở bên trái.

Điệp gật đầu, lên xe, gài tà áo dài vào sau xe, đạp chừng chục mét rồi hạ máy, chiếc xe lao đi.

Nhân đạp xe theo sau và thấy tà áo dài xanh của Điệp bung lên như cánh buồm no gió.

4

Nhân dừng xe bên đường đối diện với núi Châu Thới, nhìn vào cái cổng mái cong và mấy cái tháp. Điệp chỉ vào phía cổng mái cong gần nhất:

– Khu này là khu Liêu Trai của Nguyễn Hoạt. Đồng hoang chỗ thấp, chỗ cao bát ngát màu xanh, xám, giờ này chớ buổi chiều thì đúng là miền đất của hồ ly, ma qủi.

– Em lên xe, mình vào chỗ cái cổng kia tìm chỗ nghỉ chân – Nhân nói rồi đạp máy, cho xe đi chậm khoảng 300 mét thì quẹo vào con đường đất đỏ, hai bên đường là những bụi cây thấp. Nhân dừng lại trước cái cổng mái cong. Đó là khu nghĩa địa với những ngôi mộ xây. Ở phía dưới chừng 500 mét có một cái cổng mái cong nhỏ hơn.

Nhân dựng xe:

– Mình ngồi đây một lúc. Thật may, đi chơi lại gặp ngày nắng nhẹ, chớ ngày nắng gắt thì cái mũ không che kín hai má em đâu. Nhân lấy bình nước đưa cho Điệp. Hai người ngồi trên bực xi măng của cái cổng gạch mái cong.

– Khu này người Tàu mua làm nghĩa trang, nhưng họ không xây qui mô như nhiều nơi ở ngoại ô Sài Gòn – Nhân chỉ lên mấy chữ Hán ở Cổng: Anh đọc được hai chữ Triều Châu, chắc là nghĩa trang của Bang Triều Châu thuộc Biên Hòa.

Điệp ngả người tựa vào vai Nhân:

– Họ làm nghĩa trang theo từng Bang chớ không làm chung hả anh?

– Người Tàu ở Việt Nam có tổ chức chặt chẽ với những Bang Hội, qui tụ những người cùng tỉnh thành một Bang, như ở Sài Gòn anh thường nghe Bang Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu. Có lẽ dân ở mấy tỉnh này qua Việt Nam nhiều. Họ sống theo Bang để trợ giúp nhau và khi chết thì cùng nằm một chỗ, thành ra mỗi Bang có nghĩa trang riêng – Vừa nói Nhân vừa nắm tay Điệp để lên đầu gối mình.

Từ ngày Điệp tới nhà Nhân tới giờ, nàng đã tới 3 lần nữa, một lần đi với Dũng để ăn giỗ, và lần nào nàng cũng xin phép mẹ. Còn Dũng đã kể lại chuyện gặp Nhân ở Cát Bà và ở Quảng Yên mà theo Điệp nói thì bà vui vẻ, khen Nhân chững chạc và có chí. Còn Nhân và Điệp sau lần hẹn nhau ở Cà phê Gió Bấc thì hai người còn hẹn nhau nhiều lần nữa, nhưng chỉ loanh quanh ở trung tâm thành phố như đi Ciné, nghe nhạc, vào Sở Thú hay công viên Tao Đàn. Mới đây mượn được chiếc xe gắn máy Capri của người bạn thân, Nhân đã chở Điệp xuống Nhà Bè ăn ở nhà hàng bên sông. Hôm nay đi núi Châu Thới, đi tới vùng đất Liêu Trai của Nguyễn Hoạt và dự trù vài tuần nữa sẽ đi tới làng cù lao giữa sông Đồng Nai ở Biên Hòa. Thấy Điệp yên lặng, Nhân đặt tay vào trán vào cổ Điệp.

– Em có sao đâu – Nàng ngồi thẳng lại rồi nói: Buổi sáng mà ở đây vắng quá.

Nhân cười:

– Khu nghĩa địa, ai tới làm gì, ngoại trừ những người đi tìm hồ ly, ma quái.

– Buổi chiều, buổi tối ai dám vào đây?

– Có Bồ Tùng Linh, nếu ông ấy tái sinh ở Việt Nam.

Điệp cười rồi hỏi:

– Anh có nhớ bài thơ Cô Vọng Ngôn Chi gì đó của một nhà văn, viết cảm đề cho Liêu Trai Chí Dị?

– A, bài tứ tuyệt của Vương Ngư Dương, mỗi lần giở tập Liêu Trai của Đào Trinh Nhất đều đọc nên nhớ:

Cô vọng ngôn chi, vọng thính chi

Đậu bằng qua giá vũ như ti

Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ

Ái độc thu phần quỷ xướng thi.

Nghĩa của 4 câu này:

Nói lời lảm nhảm, nghe lời lảm nhảm

Mưa như tơ trên giàn dưa, giàn đậu

Giọng đời đã chán không muốn nhắc tới nữa

Chỉ thích nghe quỷ dưới mồ mùa thu ngâm thơ.

Bài thơ hay nói lên được tâm sự của Bồ Tùng Linh qua Liêu Trai Chí Dị, đã có nhiều người dịch, nhưng anh chỉ nhớ bài của Tản Đà, có thể nhớ sai vài chữ vì lẫn bài nọ qua bài kia:

Nói láo mà chơi, nghe láo chơi

Giàn dưa lất phất hạt mưa rơi

Chuyện đời âu hẳn ta đà chán

Thơ thẩn nghe ma hát mấy lời.

Điệp nói:

– Như vậy chắc Vương và Bồ là hai bạn tâm giao.

– Không phải. Họ Vương đậu tiến sĩ, làm quan tới thượng thư và là nhà thơ, nhà văn. Còn họ Bồ chỉ dạy học ở tư gia và nghèo. Khi Vương làm quan ở Sơn Đông, quê của Bồ Tùng Linh, đọc Liêu Trai Chí Dị, khen và viết Liêu Trai đề từ gửi cho Bồ Tùng Linh – Nhân ngừng lại nhìn ra xa một lúc rồi nói: Cả một đời lận đận thi cử và nghèo, nhưng Bồ Tùng Linh đã giàu và phong lưu trong thế giới hồ ly, ma quỷ. Ông tung hoành múa bút trong thế giới này thành ra ông muốn lià thực để sống trong mộng:

Chuyện đời âu hẳn ta đà chán

Thơ thẩn nghe ma hát mấy lời.

– Bây giờ đi được chưa cô? Nhân nâng cằm, nhìn vào mắt Điệp hỏi, rồi đứng dậy cầm tay Điệp kéo lên, nhưng Điệp đã quàng tay qua cổ Nhân, đu người khi Nhân bước xuống mấy bực xi măng.

Con đường đi vào núi Châu Thới khoảng hơn một cây số, cũng đất đá, đầy cỏ nhưng rộng. Đến chân núi, Nhân dừng xe trước cổng đá, có mấy chữ: Châu Thới Sơn Tự bằng chữ Việt và chữ Hán, rồi nhìn lên những bậc đá của đường lên chùa với cây rợp bóng và cỏ mọc lan vào đá. Dắt xe đến một cây lớn, Nhân chỉ vào mấy tảng đá:

– Ngồi đây một lúc em ạ.

Điệp chỉ con đường lên chùa:

– Nhìn những tảng đá mòn với rêu phong kia có thể đoán tuổi của chùa Châu Thới.

– Thế em đoán bao nhiêu?

– Trên trăm năm.

Nhân lắc đầu:

– Em đoán thế thì chùa này còn mới quá. Theo tài liệu anh đọc nhân câu chuyện mình nói về vùng đất Liêu Trai của Nguyễn Hoạt và núi Châu Thới thì chùa Châu Thới được xây dựng từ cuối thế kỷ 17 và là một trong nhưng ngôi chùa cổ nổi tiếng của đất Gia Định ngày xưa. Núi cao trên 80 mét và con đường kia phải trên dưới 200 bậc. Đi bộ thì thú vị đấy…

– Em tưởng ở đây có đường cho xe hay có chỗ gửi xe.

– Anh cũng nghĩ thế, nhưng chỉ có con đường bậc đá kia. Có lẽ vào những ngày lễ như Phật Đản, Vu Lan hay Tết, người ta mới làm bãi giữ xe ở những khu đất dưới chân núi. Muốn viếng chùa thì phải đi vào mấy ngày lễ đó.

Điệp nói:

– Thôi để dịp khác, Sài Gòn tới đây đâu có bao xa. Hôm nay mình đi vòng dưới chân núi rồi tìm chỗ nào mát ngồi chơi anh ạ.

– Phải vậy thôi.

Nhân đạp máy xe, nhìn con đường đi vào phía trong vắng vẻ, cây cối rậm rạp như rừng, nên đi trở ra và vòng theo chân núi ở phía ngoài. Nhưng chỉ đi được khoảng hơn nửa cây số thì con đường đi vào khu rừng cao su, Nhân thầm nghĩ, phía ngoài này là rừng cao su thì không đi thêm nữa và cho xe đi vào giữa rừng phía gần chân núi. Gặp một vùng cỏ xanh dưới bóng mát của cây cao su, Nhân dừng lại một khu nhiều bóng râm.

– Ở đây có thể ngồi chơi được, mát mà có thể nhìn xa – chàng nói, rồi dựng xe cạnh một cây cao su lớn.

Sau khi lấy cái túi xách đựng đồ ăn, nước uống để trên tấm vải nhựa trải trên cỏ, Nhân đi quanh ra phía bờ ranh rừng cao su, vừa để vận động chân tay, vừa quan sát khu nhiều cây cối rậm rạp  dưới chân núi. Khi trở lại, chàng thấy Điệp trong tà áo dài nâu, đang đi giữa những hàng cây. Lần đầu tiên nàng mặc áo dài nâu, nâu thẫm, còn lâu nay Nhân chỉ thấy nàng mặc áo màu xanh, màu trắng và vàng nhạt. Sáng nay thấy Điệp mặc áo nâu, Nhân nghĩ, đi chơi xa và lên chùa nên nàng mặc áo nâu, nhưng Điệp có biết đâu là áo dài nâu cổ thấp đã nâng khuôn cổ cao và làm nổi lên làn da trắng như ngó cần ở cổ và ở hai chỗ xẻ tà.

Khi đến gần thấy Nhân nhìn mình đăm đăm, Điệp đi nhanh, vừa ngả người vào Nhân, vừa nói: Quanh núi Châu Thới, chỗ nào cũng vắng quá.

– Núi xa làng thì lấy đâu ra người, ngoại trừ những người đi tìm Bồ Tùng Linh – Nhân cười, đỡ Điệp rồi cầm tay đi đến chỗ tấm vải nhựa:

– Lên chùa không được thì vào rừng. Bây giờ ăn, khoảng 1 giờ mình về.

Điệp ngồi xuống tấm vải nhựa:

– Sáng ăn phở còn no, anh cho em trái quít.

Nhân lấy trái quít, dùng con dao nhỏ bóc quanh phần trên rồi đưa cho Điệp.

Điệp hỏi:

– Anh ăn pâté chaud hay croissant?

– Anh cũng còn no, thôi theo em ăn quít.

Điệp cười, đưa trái quít đã bóc vỏ cho Nhân:

– Vậy anh ăn trái này, đưa em trái khác. Quít lớn quá, em ăn nửa trái thôi.

– Thế mỗi người một nửa, khỏi phải bóc thêm.

Ăn xong nửa trái quít, uống mấy hớp nước, Điệp ngồi tựa vào vai Nhân:

– Mẹ em và Dũng quí anh lắm đó. Nghe Dũng kể chuyện đi đáp cá, hái hồng ở Cát Bà và chuyện đi ăn bánh tôm, bún riêu ở Quảng Yên, bà bảo là sao ở Quảng Yên không cho bà đi theo.

Nhân nói:

– Như thế may cho chúng ta. Bà vui tính và phúc hậu, còn gặp những bà mẹ khó tính thì rất khó.

Từ thế tựa, Điệp xoay người nằm gối đầu lên đùi Nhân. Ánh mắt nồng nàn với đôi môi hồng đã kéo Nhân cúi xuống. Rừng cây im lặng như tờ, đây đó ánh nắng xuyên qua kẽ lá thành những vệt sáng trên cỏ. Nhân ngước đầu lên nhìn cổ Điệp và phần căng lên ở ngực, núm vú hằn lên dưới lớp vải nâu mỏng. Cái cổ áo lụa tròn biến mất ngày đi hái hồng ở Cát Bà đã theo Nhân suốt mấy năm, bây giờ hiện hình, chỉ cách mặt Nhân một gang tay. Chàng cúi xuống đặt môi mình lên hai phần căng ở ngực. Điệp vòng tay qua ngực kéo khuy áo. Mấy tiếng kêu nhẹ và phần áo ở ngực bung ra và Nhân đã tìm thấy chỗ biến mất theo cổ áo lụa ở Cát Bà. Nhân ngạt thở và ngước lên. Bụng Điệp mịn trắng lồ lộ trên phần vải ở đùi trong căng ra theo thế chân duỗi. Chàng cúi xuống, bỗng giật mình ngồi dậy với ý nghĩ xẹt qua đầu: Còn là học trò nghèo. Nhân không dám nhìn xuống dưới mà kéo lại vạt áo dài, cài lại khuy.

– Anh xin lỗi em.

Điệp nhìn Nhân một lúc, rồi ngồi dậy bật khóc. Nàng khóc nức nở, hai vai rung lên từng hồi.

– Đừng khóc nữa, anh xin lỗi em – Nhân nói như van xin, nhưng tiếng nói đã đưa tiếng khóc lên cao hơn.

Nhìn Điệp cúi đầu trên gối nức nở với quần áo xộc xệch, Nhân cũng bật khóc và chàng muốn lấy tiếng khóc để chuộc cái lỗi đã gây ra tình cảnh này, nên để cho nước mắt dàn dụa cho đến khi thấy vai Điệp thôi rung mới lấy khăn lau mặt. Nắm chiếc khăn ướt đẫm, Nhân ngồi yên lặng nhìn những hàng cây cao su và không dám nói vì sợ Điệp khóc nữa.

Chừng nửa giờ sau, Điệp đứng dậy nói:

– Cho em về.

Nhân gấp miếng vải nhựa để vào túi xách, quàng lên xe, rồi không biết nói điều gì nên lặng lẽ ngồi lên xe đạp máy. Trên đường về chàng dừng lại ở Thủ Đức để đổ săng và vào một tiệm kem để Điệp có chỗ lau mặt.

Đêm ấy Nhân nghĩ là chỉ một, hai ngày mọi chuyện sẽ qua và Điệp sẽ lại vui cười đón Nhân khi chàng đến đưa báo. Nhưng mấy buổi tối kế tiếp không có Điệp đón chờ. Rồi đêm thứ tư, Dũng đưa cho Nhân bức thư của Điệp. Nóng lòng muốn biết Điệp nói gì, Nhân đã dừng xe bên một cột điện, nghĩ là Điệp sẽ viết nhiều để bày tỏ nỗi lòng, nhưng không, cả một tờ giấy chỉ có mấy hàng:

Anh Nhân,

Em không ngờ anh lại như thế. Anh coi thường và xúc phạm em. Em ân hận và xin nói với anh một điều là chuyện của chúng ta kết thúc ở đây.

Vĩnh biệt anh.

Nhân bỏ tờ giấy vào túi, rồi lảo đảo đạp xe đi. Trời đêm gió mát, nhưng Nhân toát mồ hôi ướt áo. Chuyện đến thế kia sao? Tình cảm trai gái, nếu là lỗi thì đâu phải lỗi một người… Ánh mắt nồng nàn đắm đuối của Điệp ngày gặp lại ở Quảng Yên, tiếng kêu “anh Nhân” như reo lên khi gặp lại ở Phú Nhuận và tiếng khóc giữa rừng cao su Châu Thới, tất cả đều là sự biểu lộ tình cảm… Nhưng sao tình cảm ấy lại có thể lấy kéo cắt như cắt sợi dây… Nhân không hiểu và mải nghĩ nên quên rẽ vào con đường ấp Cả Trắc. Chàng quay lại, đi vào con đường hai bên bờ tre tối tăm, từ xa chỉ có những ánh đom đóm lập lòe.

PHẦN III

1

Nhân bước ra khỏi Barracks trong khi mọi người còn ngủ. Chàng đi lên dốc đường, rẽ vào quán cà phê. Chủ quán cười, gật đầu chào.

– Chào chị. Chị cho tôi ly cà phê sữa.

Chị chủ quán đem cà phê đến, đặt ra bàn, rồi nói:

– Hôm qua phái đoàn Mỹ đến, anh lại bận rộn cả tuần.

Nhân nói:

– Bận rộn mà vui, chị ạ. Vui vì bà con, anh em đến tấp nập đầy phòng, đầy sân chờ vào phỏng vấn và vui vì nghĩ là sắp đến phiên mình.

– Diện của anh nhanh lắm, chỉ 4 hay 5 tháng thôi – Chủ quán vừa bước đi vừa nói.

  Nhìn hộp thuốc Dunhill màu nâu với ly cà phê và nghe Hà Thanh hát Mấy Dặm Sơn Khê từ máy cassette, Nhân thấy những năm tháng vừa qua ở Việt Nam như một giấc mộng dữ, và nay chàng hy vọng là sẽ tìm lại được đời sống của mình. Đời sống đó là yên vui, không sợ hãi những người quanh mình, và có thể nghĩ đến tương lai. Trên tàu Cao Ủy Tỵ Nan đi nhặt những người vượt biển bị trôi giạt vào những đảo nhỏ thuộc Indonesia, Nhân đã hỏi người đại diện Cao Ủy là ở Galang chúng tôi có thể làm gì? Ông cười trả lời: “Đảo chứa mấy chục ngàn người, nên phải có những cơ sở phục vụ như bệnh viện, Kho thực phẩm, vệ sinh, trường học… Các anh có thể làm việc trong những cơ sở ấy. Nhưng quan trọng hơn là các anh phải học tiếng Anh để chuẩn bị cho ngày đi định cư”. Vì thế chỉ mới lên đảo được hai tuần chàng đã nhận lời làm trưởng toán phụ giúp cơ quan JVA (Joint Voluntary Agency) của Mỹ thay thế ông thiếu tá không quân tên Long đi định cư, qua sự giới thiệu của Ban Đại Diện Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản ở Galang.

Khách cà phê đã bắt đầu vào nhiều. Hai người mới vào đến bên Nhân:

– Chào anh.

– Chào hai anh – Nhân chào lại, rồi nói: Nhìn sắc diện, tôi đoán hai anh có tên vào phỏng vấn kỳ này.

– Anh đoán thật hay. Bọn em nghe tên trên loa phóng thanh từ chiều hôm qua.

– Xin mừng hai anh – Nhân đứng dậy bắt tay hai người, rồi nói: Uống cà phê rồi lên cho sớm.

Hai người chào Nhân, rồi nhập bọn với hai người khác mới vào đi đến chiếc bàn ở góc trong.

Một người trong toán hỏi với qua một bàn khác:

– Sơn, mày cũng có tên kỳ này?

Người tên Sơn cười:

– Gia đình tao và cả họ nhà thằng Phong nữa. Kỳ này đi hết, giã từ Galang.

Nghe những lời rộn ràng và nghe loa phóng thanh liên tục đọc tên những người được vào phỏng vấn sáng nay, Nhân cười nghĩ đến việc mình với mấy người thuộc toán JVA Việt Nam đã làm suốt chiều qua để có kết quả của việc gọi tên những người được vào phỏng vấn.

Quán đã đông và ồn ào. Nhân nghe hết bản “Cuối cùng cho một tình yêu” do Khánh Ly hát, rồi đứng dậy tới quầy trả tiền. Bước ra khỏi quán, đi lên đoạn đường dốc thoai thoải, Nhân thấy nhẹ người và tận hưởng những cơn gió mát của Galang vào sáng sớm. Chàng chưa quen cái nắng và nóng của nơi gần xích đạo làm ẩm người, dù Galang là đảo với núi rừng bạt ngàn. Nhưng đặc biệt là khoảng chiều tối, khi mặt trời đã khuất thì những cơn gió mát trở về đưa tới cái lạnh trong đêm.

Lên hết dốc, rẽ vào Trung Tâm JVA, Nhân tưởng mình tới sớm, nhưng vừa lên tới sân đã nghe những tiếng cười nói của mấy chục anh em nam nữ đang xếp dọn lại bàn ghế.

– Chào anh.

– Chào chú.

– Morning…

Nhân cười:

 – Chào các bạn. Các cô các cậu đều ở Galang 2 mà tới đây trước tôi.

– Những ngày JVA làm việc là những ngày vui trên đảo, nên bọn em dậy sớm đi uống cà phê để đón chào những người được may mắn đi sớm.

Nhân nói:

– Trước sau chúng ta cũng sẽ đi hết. Hôm nay mình vui với cái vui của bà con, ngày mai mình sẽ vui với cái vui của mình. Biết đâu kỳ này sẽ có một số anh em chúng ta vào phỏng vấn, chẳng hạn cô Vân, cô Thanh và cậu Tuấn …, nhưng khi Vân, Thanh đi rồi thì khó có thể tìm được cô nào có thuật đánh máy như mưa rơi trên mái tôn của hai cô (có những tiếng cười), còn Tuấn mà đi thì chúng ta mất một người trẻ, đẹp trai và nói tiếng Mỹ như người Mỹ. Và còn ai nữa, toán chúng ta trên 30 người mà người nào cũng đáng yêu đáng quí… ra đi thì sẽ nhớ nhau…, (có những tiếng cười khúch khích)

–  Anh Nhân nói đúng. Chúng ta nhớ nhau và sẽ đi định cư cùng nhau.

– Ghép form thì đi định cư chung chớ khó gì.

Những tiếng cười rộ lên của toán JVA đã kéo theo tiếng cười của những người lên chờ vào phỏng vấn.

Đúng 8 giờ, toán JVA Mỹ tới, người nào cũng tay xách và ôm những cặp hồ sơ. Cùng với những tiếng chào nhau, toán thanh niên JVA Việt Nam đã xuống đường giúp toán Mỹ khiêng lên những thùng Coca, Pepsy và Seven Up ngâm nước đá, những thùng bánh mì sandwich và chocolate. Lần này toán JVA gồm 6 người, ngoài bà Nancy là toán trưởng, còn 5 người phụ trách phỏng vấn.

Sau khi nhân viên Mỹ và những người thông dịch đã ngồi vào bàn, Nhân nói với người phụ trách gọi tên: Bắt đầu đi anh Châu – Rồi cầm một xấp danh sách đi qua chỗ hai cô đánh máy:

– Cô Vân đánh danh sách ngày mai, còn cô Thanh, danh sách ngày mốt.

Nhân trở về chỗ coi lại xấp danh sách, rồi lẩm bẩm: Đây mới một nửa. Như vậy họ phải ở lại cả tuần. Chợt Nhân mỉm cười với xấp danh sách dày và nghĩ đến niềm vui của những cái tên sẽ được gọi trong tuần này.

– Anh Nhân, tứ diệu đế và bát chánh đạo dịch thế nào?

  Nhìn về phía người hỏi, ông Đại Đức Tâm Hòa ở chùa Galang 2 và người thông dịch đang chờ, Nhân lấy tờ giấy đi đến vừa nói vừa viết: The Four Noble Truths and Noble Eightfold Path, và dịch cho ông sư một câu rồi trở về chỗ.

Vừa định đọc tiếp tập danh sách thì Nhân nghe tiếng gọi:

– Anh Nhân.

– Nhân nhìn lên, đứng bật dậy sửng sốt: Điệp – và phải đứng một lúc mới có thể bước ra: Gặp Điệp ở đây ư? Chàng nói rồi bước qua chỗ bàn đánh máy lấy chiếc ghế đem về để trước bàn:

– Điệp ngồi đây.

Điệp ngồi xuống, vừa định nói thì nước mắt trào ra, nên vội lấy khăn lau những dòng nước mắt lăn xuống má.

– Đừng khóc nữa …, tôi chưa biết gia đình Điệp ra sao, nhưng Điệp thoát được tới đây là bước qua một cuộc đời khác – Nhân chờ một lúc rồi hỏi: Điệp đi với những ai?

– Em đi một mình và tới đây từ tháng 7 năm ngoái – Điệp ngừng lại đưa khăn lên mắt… bị trục trặc giấy tờ nên mãi tới tháng 2 năm nay mới được gọi lên phỏng vấn, nhưng không may lại bị lây dịch đau mắt đỏ, nên bị hoãn… Mắt mới hết đỏ từ tháng trước. Hôm nay em định tới đây hỏi xem những người bị hoãn đến bao giờ sẽ được phỏng vấn, không ngờ lại gặp anh.

Nhân nhìn Điệp một lúc rồi nói:

– Mọi chuyện sẽ nói sau, còn bây giờ tôi sẽ hỏi bà Trưởng Phòng Nancy xem có thể giúp gì trong trường hợp của Điệp.

Vừa lúc ấy bà Nancy bước ra khỏi phòng đi đến chỗ để thùng Coca ướp đá lấy một lon.

– May quá, bà ấy ra kia, đi theo tôi, Nhân vừa nói vừa bước nhanh tới chỗ Nancy:

– Excuse me, Ms. Nancy, I would like to talk to you some words and I hope you’ll give me a favor.

Nancy cười:

– What can I do for you?

Nhân chỉ Điệp:

– Bà Điệp là bạn tôi từ thuở nhỏ tôi mới vừa gặp lại, được vào danh sách phỏng vấn từ tháng 2/1985, nhưng bị bệnh mắt đỏ nên bị hoãn. Nay bệnh đã hết, bà Điệp nhờ tôi hỏi bà xem bà có thể giúp gì trong trường hợp này.

Bà Nancy nhìn Điệp, rồi nói:

– Việc đó dễ, tôi có thể cho bà Điệp phỏng vấn kỳ này. Anh lên trụ sở JVA lục tìm hồ sơ của bà Điệp, rồi ghép vào danh sách phỏng vấn ngày mai.

Bà Nancy nói rồi tới bàn của Nhân lấy một tờ giấy viết mấy hàng đưa cho Nhân:

– Anh đưa tờ giấy này cho ông John. Ông ấy sẽ mở cửa văn phòng. Anh vào tìm thùng có mấy chữ “Bệnh Mắt Đỏ”. Hồ sơ của bà Điệp trong thùng đó.

Bà Nancy quay lại Điệp:

– Mừng bà gặp được bạn cũ trên một đảo tỵ nạn Cộng Sản.

Điệp nói:

– Cám ơn bà đã giúp tôi.

– Tôi rất vui là đã giúp được bà, vì đó là việc của tôi – Nancy nói rồi quay lại Nhân: Bây giờ anh có thể đi chứ?

– Vâng, cám ơn bà, tôi đi ngay bây giờ và trong khi tôi vắng mặt, nếu bà cần gì, xin gọi Cường.

– Được rồi – Nancy gật đầu nói rồi đi vào phòng.

Nhân để tập danh sách vào ngăn kéo, rồi cùng Điệp đi ra sân.

Điệp hỏi:

– Em có thể đi với anh được không?

– Trời nắng, Điệp chờ ở đây để tôi đi một mình cho nhanh. Chỉ có một thùng hồ sơ thì dễ tìm –  Nhân nói rồi đi nhanh xuống những bậc xi măng ra đường.

Khoảng hơn một giờ sau Nhân về, tay cầm một kẹp giấy, vừa bước lên mấy bậc xi măng đã thấy  Điệp bước ra:

– Tìm được hồ sơ rồi, hả anh?

Nhân đưa kẹp giấy cho Điệp:

– Tìm thì nhanh, nhưng phải chờ ông John khá lâu.

Chàng đứng lại dưới bóng râm của mấy cây dương, nhìn lại Điệp sau gần 30 năm: Vẫn dáng thanh tú, dù hơi đẫy đà. Mặt vẫn tươi, hồng nhuận với đôi môi và đôi mắt đen sắc. Cổ vẫn tròn cao trong cổ áo sơ mi rộng. Nhìn bàn chân, bàn tay, Nhân thầm nghĩ: Chân tay thế kia thì sau 75 Điệp không vất vả.

Điệp lật coi qua hồ sơ, rồi đưa lại cho Nhân:

– Cám ơn anh, không gặp anh thì chẳng biết đến bao giờ họ mới xét lại hồ sơ của những người đau mắt.

– Tôi nói với bà Nancy cũng là cầu may vậy thôi. Có thể bà ấy có thiện cảm với Điệp nên đã quyết định nhanh chóng. Cứ cho đó là cái may của Điệp ngày hôm nay – Nhân đưa tay cầm tay Điệp: Chúc mừng Điệp. Bây giờ Điệp về nghỉ để chuẩn bị cho ngày mai.

Điệp lấy quyển sổ trong cái túi xách, xé một tờ, ghi số Barracks đưa cho Nhân:

– Em ở Barracks 16, phòng 4, Galang 2. Chiều nay anh lên em được không?

– Chiều nay tôi phải sắp xếp một số việc ở đây, lên Điệp thì muộn quá. Thôi để sau phỏng vấn.

2

Sau bữa cơm chiều, Điệp đưa Nhân lên quán cà phê Gió trên giải đồi cao, gần khu Barracks. Hai người chọn chiếc bàn ngoài trời gần mấy tảng đá lớn.

Chủ quán là một thanh niên đi nhanh tới, đon đả:

– Chào anh, chào chị Điệp, đã khá lâu không thấy chị lên uống cà phê. Anh chị uống chi ạ?

Nhân nói:

–            Anh cho tôi cà phê sữa và một bao DunHill – rồi hỏi: Em cũng cà phê sữa?

Điệp đáp:

– Không, em không uống cà phê – rồi nhìn chủ quán: Anh cho tôi Milo thêm sữa.

  Chủ quán đi nhanh vào quán, một lúc sau có tiếng hát từ máy cassette vọng ra.

Nhân lắng nghe bản Nhà Anh Nhà Em một lúc, rồi nói:

– Bao nhiêu năm, hôm nay mới nghe lại giọng lả lơi của Trúc Mai. Quán Cà phê trên đồi này thật đắc địa. Dưới đường lên không bao xa, rồi lại gần những Barracks.

– Thế mà khách không bao nhiêu, anh ạ. Có lẽ người ta ngại lên dốc. Quán ở dưới đường đông khách hơn.

Khi chủ quán bưng khay cà phê, milo đến để ra bàn, Nhân hỏi:

– Ở đảo thế này, anh mua cà phê, milo, thuốc lá và những thứ hàng khác ở đâu?

Chủ quán đáp:

– Ở đây hàng tuần có chuyến tàu đi Penang. Chúng tôi xin phép đi những chuyến tàu đó, sáng đi chiều về. Penang là đảo lớn, là thành phố, hàng hóa như núi.

– Anh mở quán thế này, khi được đi định cư thì tính sao?

– Sang cho người khác. Gọi sang là có người bắt ngay. Quán Gió này tới nay đã qua tay nhiều người. Tôi sang quán đã được trên 2 năm, và mong sớm có ngày kêu người sang lại để ra đi.

Nhân cười:

– Galang có những tên quán thật hay, không quán nào đề bảng, nhưng có tên mà ai cũng biết như Tống Biệt, Vượt Biển, Biển Đen, Người Ở Người Đi… Quán này lấy tên Gió thật tuyệt, vì ở trên đỉnh đồi cao, gió biển gió núi đều bay thổi đây.

  Chủ quán cười, vừa bước đi vừa tiếp: Còn Tình Sù, Tình Nhớ, Tình Câm… Thôi mời anh chị.

Nhân cười nhìn theo chủ quán, rồi nói:

– Năm 1957, gặp lại em ở Sài Gòn, anh mời em tới cà phê Gió Bấc. Năm 1985, gặp em ở đảo Galang, em đưa anh tới cà phê Gió… Ở đây phải gọi là Gió Biển hay Gió Ngàn. Năm 57, anh chỉ uống cà phê, còn năm 85 thêm thuốc lá – Nhân mở bao DunHill, rút một điếu xoay vòng ngắm nghía, rồi bật diêm châm – Đêm từ tàu Cao Ủy lên bến tàu Galang, trong khi ngồi xếp hàng để người ta gọi tên, kiểm lại người, Ban Đại Diện Người Việt Tỵ Nạn mời mỗi người một điếu thuốc 3 số 5. Đêm gió mát, với cái vui cập bến đã biến điếu thuốc thành hương vị đặc biệt. Anh chưa bao giờ được hút một điếu thuốc ngọt ngào và ý vị đến như thế.

– Tàu vượt biên vào đảo nào mà tàu Cao Ủy phải tới đón?

– Tàu anh đi là tàu đánh cá loại nhỏ, chạy được một đêm một ngày thì bể máy, và trôi theo sóng gió một ngày một đêm thì dạt vào đảo Subii, một đảo nhỏ, dân số chừng trên 500. Anh phải ở đó 3 tuần thì được tàu Cao Ủy, trong chuyến đi nhặt người tỵ nạn giạt vào các đảo nhỏ, nhặt về.

Điệp đang nâng ly Milo uống, nghe thế bỏ xuống:

– Tàu em đi cũng lạc vào một đảo nhỏ, tên dài khó nhớ và phải ở đó trên 3 tháng. Dân trên đảo thiếu gạo, phải ăn độn khoai lang và củ mì, nhưng rất tốt, chia cho mình từng ký gạo, ký khoai.

– Em vượt biên một mình, thế gia đình em và các cụ đâu?

Điệp lặng đi một lúc, mắt chơm chớp như muốn khóc:

– Toàn là chuyện buồn cả anh ạ. Ba em đi tù cải tạo về và mất đầu năm 1982, còn bà cụ mất cuối năm 1982. Dũng đi Thủ Đức sau Mậu Thân, tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến và chết ở Quảng Trị năm 1972 – Điệp ngưng lại một lúc lâu – Còn em, sau chuyện của chúng ta, em buồn, lấy học làm vui. Xong tú tài em vào được Đại Học Sư Phạm, ra trường phải xuống Cần Thơ dạy và lấy chồng, một giáo sư dạy cùng trường. Sau 75, anh ấy dạy toán nên vẫn được tiếp tục dạy, còn em dạy văn, sử địa nên phải nghỉ. Năm 81, chồng em và đứa con trai, đứa con duy nhất, vượt biên. Tàu bị hải tặc cướp và phá vỡ ở vịnh Thái Lan…. Mẹ em để lại cho em một số vàng, nhưng vượt biên mấy lần cụt hết vốn. Không biết làm gì để sống nên em liều. Gia đình rủi cả, chỉ có em may tới được Galang và gặp được anh.

Trời về chiều với những cơn gió cuốn đi cái nóng ban trưa, và quán đã nhiều khách. Cả một khu đồi rộn lên tiếng nói, tiếng cười với mùi cà phê và thuốc lá.

Nhân hỏi:

– Trước 75 ông cụ còn đi làm hay đã về hưu?

– Ba em về hưu năm 72. Sau 30/4/75 ông không đi trình diện, nên tháng 6/75, họ tới nhà bắt và phải đi cải tạo ở trại Long Giao, rồi Z30A, Xuân Lộc, Long Khánh. Cuối năm 81 ba em được về, nhưng chỉ được 3 tháng thì mất – Điệp ngừng một lúc rồi hỏi:

– Còn anh phải đi cải tạo ở đâu?

Nhân châm điếu thuốc khác, hút mấy hơi:

– Cùng với đội quân tan rã ở Thừa Thiên tháng 3/75, anh bị bắt và bị giam ở nhiều nơi, rồi sau tháng 4/75 một thời gian được chuyển tới trại cải tạo Bình Điền, Thừa Thiên.

– Anh chỉ ở một trại cải tạo hay phải qua nhiều trại?

Anh chỉ ở Bình Điền cho tới ngày được tha, cuối năm 82. Hoàn cảnh của anh không khác em. Chỉ khác là phải đi tù cực khổ hơn. Khi được về thì gia đình cũng chẳng còn ai. Ông bà cụ mất sau 75 một hai năm, em vượt biên vào những ngày sau 30/4/75 và mất tích, còn vợ con, anh cũng chỉ có một đứa gái, đi kinh tế mới đã chết, con đi trước, mẹ đi sau, vì thiếu ăn và bệnh.

Điệp nói:

– Khoảng đầu năm 58, Dũng đã tới anh nhiều lần và lần nào cũng kể em nghe những gì Dũng và anh đã nói với nhau. Và đến hè 1958 thì Dũng cho em biết gia đình anh đã bán nhà và chủ nhà mới cho biết là gia đình anh di chuyển lên Đà Lạt. Em ngạc nhiên, vì gia đình anh đã yên ổn ở khu Ông Tạ. Ai cũng có việc, tại sao lại bỏ để đi lên một chỗ mới, một thành phố nhỏ, làm ăn sẽ khó khăn hơn.

– À, gia đình di chuyển lên Đà Lạt vì ông cụ xin được việc làm ở Bệnh Viện Đà Lạt, bà cụ tiếp tục bán cơm ở chợ, còn anh có thể xin chuyển vào trường Trần Hưng Đạo. Nhưng đúng như em nói, ở Sài Gòn anh có việc bán báo, còn lên Đà Lạt thì chẳng biết làm gì. Vì thế, lên đó được chừng hơn một tháng, anh trở lại Sài Gòn. Thời gian đầu ở nhà người bạn đã cho anh mượn chiếc xe gắn máy Capri để chở em đi chơi. Sau đó, anh kiếm được một chỗ kèm trẻ ở tư gia, và thuê được một căn gác xép ở cuối đường Trương Minh Giảng. Vẫn đi bỏ những mối báo cũ nên thường đi qua khu Phú Nhuận và thỉnh thoảng buổi chiều, anh thấy em trên đường Hai Bà Trưng hay Võ Di Nguy, vẫn áo dài xanh, trắng và mỡ gà, thêm màu nâu nữa, lao xe Solex vun vút giữa phố đông người.

Điệp xúc động:

– Anh vẫn nhìn thấy em ư…, vậy anh ở Sài Gòn đến năm nào?

– Hết hè năm 60, xong tú tài, anh lên Đà Lạt kiếm chỗ dạy học và làm vườn cho đến năm 66 phải động viên vào Thủ Đức. Chín tháng ở trường Bộ Binh Thủ Đức, những ngày thứ Bảy, Chủ Nhật được nghỉ phép về Sài Gòn, anh vẫn thường đi qua đường Hai Bà Trưng, Võ Tánh và mong có một buổi chiều nhìn thấy Điệp.

Mắt Điệp chơm chớp:

– Thời gian này em đã xuống Cần Thơ dạy học.

Nhân nói:

– Trong những năm quân ngũ ở chiến trường Thừa Thiên, Quảng Trị anh thường nghĩ là em vẫn còn ở Sài Gòn. Sau khi ra tù, sống ở Sài Gòn, đi qua đường Võ Tánh thấy nhà em thay đổi với những người lạ và sân không còn giàn hoa giấy nữa, anh lại nghĩ là gia đình em đã vượt biên.

– Nhà bị họ chiếm sau khi bà cụ mất, vì em đã sống ở Cần Thơ từ năm 66 nên không có hộ khẩu, còn người cháu gái con ông bác ở với bà cụ đã bị đuổi ra khỏi nhà. Chuyện vượt biên với gia đình em và họ hàng bên em là một thảm kịch, vì hai gia đình chú bác sạt nghiệp vì vượt biên mà con cái đều chết cả. Phần em thì đi ba lần mới thoát, cũng có cái may là không bị bắt lần nào.

Bỗng Nhân đứng dậy nói:

– Anh vào gọi thêm cà phê. Em uống Milo nữa không?

– Dạ, anh cho em một ly nữa.

Nhân đi vào quán và khoảng 15 phút sau bưng một cái khay có cà phê, Milo và một gói bánh quế. Chàng khuấy ly Milo để trước Điệp, rồi bóc gói bánh quế, lấy một cái đưa cho Điệp:

– Bánh này làm ở Singapore, em ăn xem có bằng bánh quế Sài Gòn không?

Điệp ăn chiếc bánh quế rồi nói:

– Trước kia em ít ăn bánh quế nên không nhớ hương vị ra sao, nhưng em nghĩ bánh sản xuất ở Singapore phải ngon hơn, vì họ làm để xuất cảng, phải cạnh tranh. Còn mình làm chỉ để tiêu thụ trong nước.

– Ở Sài Gòn không biết có mấy nhà sản xuất bánh quế, nhưng anh chỉ nhớ bánh quế Bảo Hiên Rồng Vàng, chuyên dùng cho những đám hỏi – Nhân cười: Thời gian ở Đà Lạt mỗi lần nhà được biếu quà đám hỏi, anh thường thấy một hộp bánh quế Bảo Hiên, một hộp trà Chính Thái hoặc trà Bảo Lộc, một quả cau và mấy lá trầu, đôi khi có thêm hai chiếc bánh xu xê.

Nghe hai tiếng đám hỏi, Điệp nhìn Nhân một lúc, rồi hỏi:

– Trong mấy năm đầu xa nhau, có bao giờ anh có ý định tìm gặp lại em không?

– Có nghĩ chứ. Bao giờ anh cũng nhớ em, nhưng không dám gặp.

Nhân nâng ly cà phê uống mấy hớp, rồi để xuống:

– Cuối năm 57, Dũng thường đến anh và lần nào cũng bảo anh tìm cách gặp lại em và Dũng sẵn sàng làm trung gian để giải hòa. Anh cảm động vì Dũng qúi mến anh và quá nhiệt thành muốn chúng ta trở lại với nhau. Anh cũng muốn thế, nhưng nghĩ đến mấy dòng chữ quyết liệt của em, nên đã nói với Dũng là khi tình cảm đã chết là hết, chẳng có gì nối lại được. Bao nhiêu năm nay nghĩ lại, thật sự anh không hiểu em và cứ truy vấn mãi về cái lỗi của mình – Nhân ngừng lại châm điếu thuốc khác. Trăng đã lên cao, soi tỏ những hàng cây trên đồi. Giữa không gian ấy có tiếng hát, tiếng nhạc từ một quán nhỏ vọng ra. Tiếng hát Việt Nam vang lên giữa núi rừng ở một xứ xa lạ. Bỗng Nhân nghẹn thở với ý nghĩ là chàng đang nói lại chuyện tình cho người tình của 30 năm trước nghe, trên đỉnh đồi của một hòn đảo cưu mang người Việt trên đường chạy trốn khỏi quê nhà. Nhân uống cà phê và hút mấy hơi thuốc cho dịu cơn xúc động, rồi tiếp: Anh truy vấn mãi về cái lỗi của mình. Nhưng có phải cái lỗi đó chỉ mình anh gây ra?

Điệp nói:

– Lỗi ở em. Bao nhiêu năm em ân hận về sự tự ái vô lý của mình. Lúc đó thái độ bất ngờ và lạ lùng của anh đã làm em nổi giận vì xấu hổ và tự ái.

– Bất ngờ và lạ lùng, em nói đúng, vì anh đã giật mình ngừng lại với ý nghĩ:  Học trò nghèo. Em thử nghĩ, nếu chúng ta đi tới và em có thai thì cuộc đời của chúng ta sẽ ra sao? Anh có thể nói gì với mẹ em khi bà tin yêu mình?

– Sao anh không nói những điều này ngay lúc ấy?

Nhân lắc đầu:

– Không thể nói, phải tự hiểu. Anh nghĩ em hiểu vì chúng ta đã lớn chớ đâu còn như thời đi thả thuyền ở Cát Bà.

Điệp nói:

– Em không nghĩ như thế mà nghĩ là anh coi thường em và chê em nên em hận.

Nhân nhìn Điệp một lúc:

– Sao lại có thể nghĩ như thế Điệp? Chúng ta là gì của nhau mà coi thường nhau? Nghĩ vậy là em quên mất lúc anh nắm bàn tay em suốt buổi ciné ở Quảng Yên, quên mất lời anh nói là ba năm em biệt tích khi di cư vào Nam, anh đã coi chiếc khăn tay, bức ảnh và cuốn Nắng Đào như sự hiện hình của em…  Mà sao em không viết thư nói những điều này, vì nếu viết như thế anh sẽ có thư trần tình và chúng ta sẽ cùng hiểu một lẽ chớ không có tình trạng mỗi người hiểu một cách để phải đoạn tuyệt nhau – Nhân ngừng lại uống mấy hớp cà phê, rồi tiếp: Cái đêm mà sáng hôm sau gia đình anh di chuyển lên Đà Lạt, anh với người bạn tên là Vịnh, người cho mượn chiếc xe Capri, đã đi bộ lên đường Võ Tánh. Khi anh rủ Vịnh đi bộ lên ngã tư Phú Nhuận, Vịnh hỏi: Có xe sao lại phải đi bộ?. Anh trả lời: Mấy năm bán báo, đi lại nhiều con đường thuộc khu Phú Nhuận, Chi Lăng, nhưng tôi nhớ nhất đường Võ Tánh,  vì Võ Tánh là đường về mỗi đêm. Đêm nay là đêm cuối cùng tôi muốn đi để ghi nhớ những ngày vui, buồn, mưa nắng trên đường này và đi bộ để giã từ nó. Nghe thế, Vịnh cười, gật đầu.

Tới ngã tư Phú Nhuận, anh quay lại và dừng ở chỗ cái xe bán bánh tiêu, dầu chao quẩy, ở phía trước nhà em, em nhớ cái xe đó chớ?

– Dạ nhớ, em cũng thường mua bánh tiêu, dầu chao quẩy ở đó.

– Anh mua 2 cái bánh tiêu, đưa Vịnh một cái và nói: Mấy năm bán báo, tôi đã ăn không biết bao nhiên cái bánh tiêu ở đây. Cứ mỗi đêm khi về là mua một cái. Vịnh đứng, anh ngồi trên cái ghế đẩu ở gần cột điện, nhìn lên phía gác, phòng của em, lúc đó khoảng hơn 10 giờ, hình dung là em đang ngồi học bài hay đọc sách và cảm được sự kín cổng cao tường của một tiểu thư khuê các. Vịnh mua thêm bánh tiêu, đưa anh một cái và nói: Ăn bánh tiêu nóng kiểu này ngon hơn ở nhà. Hai tay cầm hai cái bánh tiêu, anh vẫn nhìn lên phía cửa sổ có ánh đèn vàng… và lúc ấy anh mới cảm được là em đã ở xa và cao quá, với không tới.

– Với không tới hay là chê?

Nhân nhìn Điệp:

– Em vẫn giữ ý nghĩ đó ư?

Điệp cầm tay Nhân:

– Em buột miệng nói đùa, xin lỗi anh.

Nhân nâng ly cà phê uống mấy hớp, rồi nói:

Thời gian đó anh đọc một truyện ngắn của nhà văn Trung Hoa do Vi Huyền Đắc dịch, trong đó có hai câu thơ:

Thiên nhai hải giác hữu cùng thì

Duy chỉ tương tư vô tận xứ.

(Chân trời góc bể còn đi tới

Chỉ có tương tư không bến bờ)

  Cả tập truyện anh chỉ nhớ hai câu và hai câu ấy đã đi theo anh mấy chục năm.

Điệp lấy khăn tay lau những dòng nước mắt chảy dài trên má, rồi nắm tay Nhân:

– Sao lúc đó không đi tìm em? Anh đi tìm, em sẽ hết tự ái, hết hận.

– Thư đoạn tuyệt viết như thế, sao dám đi tìm.

– Em xin lỗi anh. Lỗi ở em, sự kiêu hãnh, tự ái của tuổi trẻ – Điệp bật khóc …. nghẹn lời – đã làm đời chúng ta dang dở.

– Chuyện đã gần 30 năm, mất nửa đời. Bây giờ gặp nhau mà hiểu được chuyện ngày trước thì đời chúng ta vẫn còn đó. Đừng khóc nữa Điệp… Hãy nghĩ đến hai cái vui em đang có trong tay: Cái vui thoát nạn và cái vui lưu lạc chân trời góc biển mà gặp được nhau.

Điệp ngước lên với cái khăn tay trên má:

– Cám ơn anh đã giải tỏa cho em cái hận ngày trước.

Nhân nói:

– Chuyện cũ buồn, nhưng đã qua. Chúng ta thả nó ra biển để nghĩ đến chuyện ngày mai.

Hai người yên lặng. Nhân lắng nghe Hà Thanh hát bản Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa và đang định nói với Điệp về chuyện đi định cư thì Điệp hỏi:

– Anh có biết ngày nào đợt được phỏng vấn kỳ ày sẽ đi Bataan không?

– Anh không biết rõ, nhưng theo lịch trình thuờng lệ thì khoảng 2 hay 3 tuần họ sẽ đưa em qua Singapore, rồi từ Singapore đi máy bay qua Phi Luật Tân. Em sẽ ở Bataan 6 tháng để học tiếng Anh và văn hóa Mỹ. Thời gian này cũng là thời gian để người tỵ nạn tìm người bảo lãnh ở Mỹ.

Điệp Nói:

– Em có người bạn thân ở Denver, tiểu bang Colorado. Chị ấy sẽ bảo lãnh em.

– Thế thì yên đường đi định cư.

– Vậy còn anh?

– Anh có mấy người bạn ở Cali, Texas và Washington, nhưng chưa định nhờ ai bảo lãnh. Khi nào qua Bataan sẽ tính. Theo bà Nancy thì những sĩ quan đi cải tạo, dễ xác minh, nên sẽ được phỏng vấn trong vòng 4 hay 5 tháng. Có thể anh sẽ gặp em ở Bataan 1 hay 2 tháng trước khi em đi Mỹ – Nhân cười – Biết đâu mình sẽ có dịp đi với nhau ra Manila.

Điệp như reo lên:

– Cứ hy vọng như thế đi anh.

Nhân nhìn Điệp một lúc, rồi nói:

– Mấy người bạn ở Mỹ gửi cho mấy trăm. Anh chia cho em một ít – vừa nói Nhân vừa với tay bỏ vào túi áo Điệp 200.

Điệp nói:

– Anh còn ở đây lâu, lại thời gian ở Bataan nữa, cho em rồi anh lấy gì chi dùng?

– Phụ nữ có nhiều nhu cầu hơn… Về thôi em ạ, kẻo lạnh – Nhân nói rồi đứng dậy vào quán trả tiền.

Dưới ánh trăng, Điệp cầm tay Nhân đi xuống đồi. Đến trước Barracks 16, thấy có nhiều người kê ghế ngồi ở hàng hiên, nên Điệp chỉ nắm chặt tay Nhân một lúc, rồi nói:

– Chiều mai anh lên ăn cơm với em.

Nhân gật đầu:

– Chiều mai anh lên.

oOo

Khi Nhân tới bến tàu Galang thì bến đã đầy người đưa tiễn. Sân trong là một cái nền xi măng dài lợp tôn với vách gỗ chỉ tới nửa người, đã có 5 hàng người ngồi chờ. Chừng 20 phút sau, 4 chiếc xe kiểu GMC chở đầy người từ Galang 2 tới. Nhân cười vẫy tay khi nhìn thấy Điệp trên xe thứ hai. Người trên xe xuống xếp hàng đi vào sân trong. Nhân đứng cạnh lối vào nên khi Điệp đi tới, chàng giơ tay nắm tay Điệp: Em đi may mắn, khỏe mạnh. Điệp nói: Anh ở lại khỏe mạnh. Hẹn gặp anh ở Bataan.

Đã tới giờ xuống tàu. Những người xếp hàng, nghe gọi tên, lần lượt đi xuống 4 con tàu sơn trắng, đậu dọc kè bến. Khoảng 15 phút sau thì tàu nổ máy, tháo dây buộc. Khi 4 con tàu rời bến thì trên bến có người khóc, người cười, người vẫy tay.

Nhân đứng tựa vào vách ván nhìn Điệp xuống tàu thứ ba, và đã nhìn theo con tàu cho tới khi màu trắng của tàu biến mất trong màu xanh của biển.

Nhân rút điếu thuốc, bật diêm châm. Hơn hai tháng trước đến đây vào đêm nên Nhân không thấy gì, chỉ biết là mình đã ngồi xếp hàng trên cái nền có mái tôn để người ta gọi tên, được một điếu thuốc thơm rồi lên xe về Barracks. Hôm nay Nhân mới thấy toàn cảnh bến tàu Galang. Công trình xây dựng đơn giản, thô sơ, gồm mấy ngôi nhà lợp tôn và một bến dài mà tàu lớn có thể vào như chiếc tàu của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đã đi nhặt những thuyền nhân tỵ nạn trên các đảo nhỏ vừa qua. Đối diện với bến tàu là một đảo nhỏ án ngữ, cách bến khoảng gần một cây số với rừng cây xanh biếc. Màu xanh của eo biển nhập vào màu xanh của đảo xanh thành một bức tranh. Bến tàu Galang là một bức tranh hiền hòa mà ngoạn mục. Nơi đây đã chứng kiến niềm vui của người cập bến và người rời bến.

Nhân nhìn ra khơi, biển xanh thẫm lóng lánh màu nắng vàng và nhủ thầm chỉ vài giờ nữa Điệp sẽ lên Singapore. Năm 1953 ở đảo Cát Bà, Nhân đã tiễn Điệp đi Hải phòng, cũng trên chiếc tàu sơn trắng mà Nhân đã nhìn theo cho tới khi tàu khuất sau những hòn núi giữa biển. Hơn 30 năm sau, trên đảo của xứ người, Nhân tiễn Điệp đi về một nơi bình yên không phải quê hương mình. Đứng lặng dõi theo những đám mây trắng ở chân trời, Nhân lẩm bẩm: Rồi mình cũng sẽ tới đó.

* Chu Tấn

******************

SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

 (CHU TẤN)

SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA (CHU TẤN)

 Tháng 8 27, 2019

”…vấn đề “SỨ MẠNG VĂN HÓA” cần phải làm sáng tỏ và tiến hành một cách dũng mãnh hơn. Chúng ta khẳng định “Văn hóa Việt Nam có sứ mênh “Chống cái Ác để mưu cầu Tư Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho Con Người và Xã Hội…”

– Văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả. (Edouard Herriot)

– Văn hóa là tiếng khóc của con người khi đối mặt với số phận. (Albert Camus) 
– Tôi không muốn ngôi nhà của mình bị vây kín giữa những bức tường và những khung cửa sổ luôn luôn bịt chặt, tôi muốn văn hóa của mọi miền đất tự do thổi vào ngôi nhà đó. Nhưng tôi sẽ không bị cuốn đi bởi bất cứ ngọn gió nào. (Mahatma Gandhi)

I. DẪN NHẬP:

Người xưa thường đề cập tới VĂN KINH CHÍNH GIÁO một cách rất trang trọng. Vậy VĂN KINH CHÍNH GIÁO là gì? Xin thưa đây là nói tắt của 4 bộ môn quan trọng ảnh hưởng đến quyền lợi, họa phúc của người dân và sự hưng vong của Quốc Gia Dân Tộc. Bốn bộ môn đó là VĂN HÓA, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ và GIÁO DỤC. Mỗi bộ môn này đều có vai trò, chức năng và sứ mạng riêng song đều hướng đến một cứu cánh chung là phục vụ người dân được sống trong thanh bình, an lạc hạnh phúc,và đem lại sự giầu mạnh vinh quang cho Đất Nước. Đứng về mặt “cứu cánh” mà xét, thì đây là “Nguyên Tắc kinh điển”, là “Chính Nghĩa” hay “Đạo Thống Quốc Gia”. Nhưng chúng ta không quên là cả bốn bộ môn chính yếu này đều do con người sáng tạo và thiết dựng lên, nên trong tiến trình “hiện thực hóa” văn hóa chính trị, kinh tế, giáo dục …. không phải lúc nào cũng theo một “chiều thuận”, “tiến bộ” mà thường theo “chiều nghịch” “tha hóa” “suy đồi”. Tại sao lại có hiện tượng Văn hóa tiến bộ và Văn hóa suy đồi? Tại sao lại có chính trị cấp tiến và chính trị bảo thủ dẫn đến suy vong? Tại sao lại có nền kinh tế thịnh vượng và kinh tế lụn bại tụt hậu? Tại sao lại có nền giáo dục “Nhân bản” “Dân tộc”, “Khai phóng” và nền giáo dục “phi nhân bản”, “phi dân tộc”, “phản khoa học”, cổ hủ lỗi thời? Riêng bộ môn Văn hóa, bộ môn quan trọng nhất có vai trò, chức năng và sứ mạng nào trước các vấn nạn của thời đại ? Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa? Nhằm làm sáng tỏ các câu hỏi trên, trong bài tiểu luận này chúng tôi xin thảo luận cùng quí bạn đọc các điểm sau:

– Tương quan Văn Hóa Chính Trị

– Họa phúc của người dân tùy thuộc cá nhân hay tập đoàn cầm quyền tốt hay xấu và tùy thuộc cơ chế chính trị xưa và nay như thế nào?

– Văn hóa Quốc Gia trong thời đại Toàn cầu Hóa

– Vai trò và chức năng Văn Hóa.

– Sứ mệnh Văn Hóa trong thời Đại Toàn Cầu Hóa.

II. TƯƠNG QUAN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ:

Trong bốn bộ môn VĂN KINH CHÍNH GIÁO, người xưa xếp Văn hóa đứng hàng đầu là rất đúng vì về phương diện chuyên môn, người ta phân tách ra thành các bộ môn khác nhau, nhưng đích thực theo nghĩa rộng và tổng quát nhất thì cả 3 bộ môn kia: kinh tế, chính trị, giáo dục hay nhiều bộ môn khác như tôn giáo, xã hội, luật pháp, y tế, địa lý, lịch sử, dân tộc học, nhân chủng học v..v… đều có liên quan ít hay nhiều, và đều thuộc về bộ môn Văn hóa cả. Có điều nổi bật nhất, đặc biệt nhất mà chúng ta cần chú ý là Văn hóa có tính chất lý thuyết, nặng về “phần TRI”, còn Chính trị thiên về “phần HÀNH” (Thực tế, thực tiễn, thực dụng, thực quyền, thực hành, điều hành….). Do đó mới đầu phát sinh ra 2 hiện tượng, rồi sau trở thành 2 chiều hướng lớn trong lịch sử nhân loại:

Khi văn hóa (TRI) và chính trị (HÀNH) cùng “song hành”, “thuận chiều” với nhau trong sứ mạng phục vụ người dân và phụng sự đất nước – vì nền văn hóa nào xuất hiện, sẽ có một nền chính trị “tương ứng” hay “đồng dạng” – TRI HÀNH HỢP NHẤT theo lối nói của triết gia Vương Dương Minh thì đây là điều ĐẠI PHÚC cho Quốc Gia Dân Tộc (sẽ đem lại kết quả “Dân giàu nước mạnh”, quốc gia văn hiến, văn minh).

Ngược lại khi Chính trị “không song hành”, “không thuận chiều” theo văn hóa, mà vì quyền lợi của cá nhân, phe nhóm, hay đảng phái lợi dụng khi nắm được chính quyền lũng đoạn chính trị, biến chính trị thành vai trò THỐNG SOÁI LÃNH ĐẠO tất cả, coi văn hóa, kinh tế giáo dục, pháp luật đều chỉ là “công cụ” của Chính tri thì đây là ĐẠI THẢM HỌA của Quốc Gia Dân aTộc.Nếu nền chính trị độc tôn, độc tài toàn trị này lại nhân danh một Ý Thức Hệ (Như ý thức hệ Cộng sản), đề cao “cách mạng bạo lực”, “thượng tôn giai cấp cầm quyền” theo chủ trương “vô sản chuyên chính” thì nền chính trị này không còn là nền chính trị phục vụ con người, phụng sự Tổ Quốc mà là nền chính trị phản dân hại nước, đầy đọa con người, giam hãm con người trong địa ngục trần gian, gieo rắc đau thương đói khổ kinh hoàng cho dân cho nước,tai họa không thể nào kể xiết đươc.

III. HỌA PHÚC CỦA NGƯỜI DÂN TÙY THUỘC CÁ NHÂN HAY TẬP ĐOÀN CẦM QUYỀN TỐT HAY XẤU VÀ TÙY THUỘC CƠ CHẾ CHÍNH TRỊ XƯA VÀ NAY NHƯ THẾ NÀO?

Họa phúc của người dân tùy thuộc cá nhân hay tập đoàn cầm quyền tốt hay xấu xưa và nay như thế nào?

A.1- Thời đại Quân chủ phong kiến xưa:

Dù là tại Trung Hoa hay Việt Nam trong thời đại Quân Chủ Phong kiến, đều có các đấng Minh Quân (Vua sáng suốt) điển hình như Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) của Việt Nam, Vua có lòng nhân từ, “biết thương dân như con đỏ”… và các quan lại “thanh liêm”, “chính trực” “có đức có tài “ hết lòng chăm sóc đời sống của dân chúng, lo cho dân được an cư lạc nghiệp, được cơm no, áo ấm, đời sống sung túc, giầu có hạnh phúc… Nhưng tiếp theo những vị “Chúa Sáng Tôi Hiền” kể trên, cũng thường xuất hiện những Hôn quân (Vua u tối-chỉ biết sống xa hoa trụy lạc – không ngó ngàng gì đến đời sống đói khổ của dân chúng ) và bọn quan lại vô tài kém đức, chỉ biết hành hạ dân, bóc lột dân bằng nhiều hình thức sưu cao thuế nặng, không bình trị được đất nước, khiến chiến tranh triền miên, lại thêm tệ nạn tham nhũng, cường hào ác bá khiến người dân chịu khổ cực trăm chiều… Nhà ái quốc Phan Bội Châu đã không tiếc lời lên án loại vua quan hủ lậu đó bằng lời thơ vô cùng thấm thía:

“Một là Vua sự dân chẳng biết
Hai là quan chẳng thiết gì dân
Ba là dân chỉ biết dân
Mặc quân với quốc, mặc thần với ai”

(Trích trong “Hải Ngoại Huyết Thư)

Thực ra khi vua thì u tối, quan lại tham ô nhũng lạm thì thân phận người dân bị áp bức bóc lột đến tận cùng … Người dân “thấp cổ bé miệng” nào biết nương dựa vào ai, trông cậy vào ai, kêu cứu nơi đâu để giải oan cho bao nỗi oan khuất, bất công phi lý mà mình phải chịu đựng…. Ca dao Việt Nam cũng đã cực tả thân phận “thấp cổ bé miệng” của người dân dưới chế độ chuyên chế thối nát thời quân chủ phong kiến

“Ếch kêu dưới vũng tre ngâm
Ếch kêu mặc ếch, tre dầm mặc tre” …

A-2: Thời Cộng sản Thống trị nay:

Thời quân chủ phong kiến, nhà vua nắm toàn quyền cai trị đất nước, sang thời đại Cộng sản, Đảng chính là “Vua Tập thể” cai trị dân bằng đường lối chính sách vô cùng độc hại và tinh vi hơn nhiều. Sự sai lầm độc ác, không còn trong phạm vi cá nhân mà trở thành sự sai lầm, độc ác có tính hệ thống … gieo rắc đại họa cho dân, chưa từng thấy trong lịch sử loài người! Ngoại trừ những đảng viên cộng sản gộc, nay nghiễm nhiên trở thành “giai cấp thống trị mới”, còn toàn thể dân chúng, dù thuộc thành phần “nông dân”, “công nhân” đến “trí thức” đều là nạn nhân của chế độ CS:

Thân phận giai cấp Nông Dân:

“Nông dân là khối người đông đảo chiếm đến trên 70% dân số cả nước.Khi chưa chiếm được chính quyền Đảng CS ra sức ve vãn, phủ dụ nông dân, gọi nông dân là «hậu bị quân», là “một trong những chủ lực quân” của “cách mạng” để họ “sướng cái bụng” đem tiền của, sức lực và thậm chí cả thân mạng của mình hết lòng ủng hộ ĐCS với niềm tin vững chắc mà ngây thơ là khi cách mạng thành công, ĐCS sẽ thực hiện “ước mơ ngàn đời” của mình là “người cày có ruộng”! Nhưng thực tế lại quá phũ phàng cho bà con nông dân nước ta!

Quả lừa tiếp theo là ĐCS “phát động cải cách ruộng đất” nói là để tiêu diệt giai cấp địa chủ, tước đoạt ruộng đất của giai cấp này chia cho dân cày, trước nhất là bần cố nông. “Thắng lợi vẻ vang” (!) của cuộc Cải Cách Ruộng Đất hồi giữa thập niên 50 của thế kỷ trước, báo chí đã nói nhiều, giờ chỉ xin nhắc lại vài điều thôi. CCRĐ thực sự là một cuộc thảm sát có tính diệt chủng đã làm cho 172 nghìn 008 người dân ở nông thôn, chủ yếu là nông dân, trở thành nạn nhân, nghĩa là bị bắn giết, đọa đày đến chết, trong số đó 123 nghìn 266 người (tức là 71,66%) về sau được xác nhận là oan; riêng 26 nghìn 453 người bị quy là địa chủ cường hào gian ác thì có đến 20 nghìn 493 người (tức là 74,4%) được xác nhận là oan! Còn 62 nghìn người bị quy là phú nông thì có đến 51 nghìn 003 người (tức là 82%) được xác nhận là oan! Trong số những người bị oan cũng có hàng nghìn cán bộ, đảng viên cộng sản (tài liệu chính thức trích từ cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam, tập 2). Đó là chưa nói đến những hậu quả nguy hại khác của cuộc tàn phá khủng khiếp ở nông thôn mà ĐCS gọi là “cuộc cách mạng long trời lở đất” là: bằng cuộc CCRĐ theo khuôn mẫu Mao-ít, ĐCS đã phá vỡ truyền thống tốt đẹp,hòa hiếu, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn mà cha ông ta đã tạo dựng hàng mấy nghìn năm trước; đã phá hoại đạo lý, luân thường của dân tộc và tạo nên một lối sống giả dối, man trá, điêu ngoa, vu khống, bất nhân mở đầu cho sự băng hoại đạo đức, nhân cách sau này; đã phá hủy cuộc sống tâm linh vốn có lâu đời, vì chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ, những nơi thờ tự… đều bị phá phách, triệt hạ… CCRĐ kết thúc, một số bần cố nông hớn hở được nhận ruộng tưởng rằng “ước mơ ngàn đời” của họ đã bắt đầu được thực hiện. Họ được chụp ảnh, quay phim để ĐCS tuyên truyền khoe khoang “công ơn” của đảng đối với nông dân, thì… chưa đầy một năm sau, ĐCS đã lùa những bần cố nông đó, cùng các nông dân khác bắt họ đem ruộng đất tư vốn có của họ vào hợp tác xã, vô hình trung ĐCS tước đoạt mất quyền tư hữu mà giao ruộng đất của họ cho các chủ nhiệm hợp tác xã quản lý. Đấy, ĐCS đã thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” một cách bịp bợm như vậy!

Đến quả lừa “vĩ đại”, tồi tệ nhất của ĐCSVN đối với nông dân và nói chung cả với toàn dân ta, là… khi soạn thảo và thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, bằng điều 19 của Hiến pháp, ĐCS đã nhẹ nhàng, gần như thầm lặng, không “long trời lở đất” tí nào, chuyển quyền tư hữu đất đai (tức là toàn bộ thổ canh thổ cư, nói nôm na là ruộng đất) của nông dân và của nhân dân nói chung sang cái gọi là “sở hữu toàn dân”! Từ đây, thực tế ĐCS đã “quốc hữu hóa”, hay nói chính xác hơn “đảng hữu hóa” ruộng đất của nông dân và nhân dân. Từ đây, quyền tư hữu ruộng đất của người dân hoàn toàn bị xóa bỏ, và ruộng đất bây giờ thực tế nằm trong tay sở hữu của ĐCS là đảng độc tôn thống trị đất nước” (1*) Từ đây dẫn tới hiện tượng DÂN OAN….. lại càng bi thảm gấp bội, gây bao đau thương cho nhân dân không bút nào tả xiết ….

Thân phận giai cấp Công Nhân

Theo ông Trần Quang Thành một đảng viên CS đã bỏ đảng trốn ra nước ngoài để vận động Quốc tế yểm trợ cho việc thành lập Cộng Đoàn Độc Lập ở trong nước, đã cho biết về số phận người công nhân dưới quyền thống trị của CS hiện nay như sau:

“Năm 2006 thấy tình hình Việt nam có những cuộc đình công mà không có cuộc hướng dẫn của ai cả thì một số anh em trong nước và ngoài nước thấy cần thiết phải thành lập Công Đoàn độc lập. Ngày 20/10/2006 tại Hà Nội đã tuyên bố thành lập Công Đoàn độc lập Việt Nam.Và cũng kêu gọi chính phủ Việt nam cho phép Công Đoàn độc lập được hoạt động để giúp đỡ những người công nhân Việt Nam.

Sau đó 1 tuần tại Warsaw, thủ đô nước Cộng Hòa Ba Lan, chúng tôi đã tổ chức hội nghị về quyền lao động quốc tế gồm trên 70 thành viên,gồm cộng đồng người Việt và quan khách Quốc Tế trong nhà Quốc hội Ba Lan. Mục đích của cuộc họp đó để yểm trợ Công Đoàn độc lập trong nước.Cuộc họp đó được chính phủ Ba Lan hết sức ủng hộ, ngồi ghế chủ tọa là ông Phó chủ tịch Cộng đoàn Đoàn kết và ông Chủ Tịch Hiệp Hội Tự Do Ngôn Luận.

Nhưng một điều đáng tiếc là sau khi Việt Nam họ gia nhập tổ chức WTO và họ tổ chức thành công hội nghị APEC tại Hà Nội thì họ nuốt lời hứa và quay ra đàn áp những người tranh đấu vì quyền nghiệp đoàn của công nhân. Những người sáng lập và cổ vũ cho nghiệp đoàn như là luật Sư lê Thị Công Nhân, Luật Sư Nguyễn Văn Đài đều bị bắt. Anh Lê Trí Tuệ là Phó chủ Tịch Công đoàn độc lập bị truy đuổi và sau đó phải trốn chạy sang Cam Pu Chia, nhưng cũng bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt và đến nay không rõ tung tích.

Năm 2008 một nhóm các anh em hoạt động dưới cái tên là Phong trào lao động Việt tiếp tục hoạt động bán công khai, giúp đỡ những người công nhân.

Khi nhà máy Mỹ Phong ở Trà Vinh quịt lương của công nhân, quịt bảo hiểm xã hội thì anh em đã hướng dẫn trên 10 ngàn công nhân đình công trong vòng 1 tuần. Giới chủ nhân đã đáp ứng phần lớn yêu cầu của công nhân. Nhưng sau đó nhà cầm quyền bắt ba người hướng dẫn trực tiếp cho công nhân. Họ tuyên án anh Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm tù, Cô Đỗ Thị Minh Hạnh, cũng như anh Đoàn Huy Chương 7 năm tù.

Ngoài ra chúng tôi cũng nói rõ cho thế giới biết rằng hiện nay Việt Nam có Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, nhưng họ là cánh tay nối dài của Đảng Cộng sản. Tổng liên Đoàn Lao Động Việt nam từ khi ra đời từ năm 1946 đến giờ chỉ giữ vai trò thay mặt đảng kiềm tỏa người công nhân chứ không tranh đấu cho quyền lợi của người công nhân !!!

Cộng việc của chúng tôi rất là thầm lặng. Anh em ở trong nước hoạt động hầu như là bí mật”… (2*).

Thân phận người Trí Thức:

Tại Việt Nam chỉ có các cá nhân các nhà trí thức, chứ không có tập thể trí thức. Đa số giới trí thức đều sơ hãi cam tâm làm công cụ cho Đảng CS, nói theo lệnh Đảng! Một thiểu số can đảm nói lên tiếng nói của Dân, đòi hỏi Dân Chủ Tự Do và Nhân quyền cho mọi người công dân Việt Nam. Họ là những người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền và thường bị gán ghép chụp mũ là những phần tử phản động bị theo dõi, trù dập bắt bớ tù đầy, hay bị ám hại thủ tiêu! Một số người bị tra tấn, đánh chết ngay trong đồn công an rồi vu cho chết vì bệnh ác tính hay treo cổ tự tử !!!….

Họa phúc người dân còn tùy thuộc vào Cơ Chế Chính Trị Xưa và Nay như thế nào?

B1- Thời Quân Chủ Phong Kiến Xưa:

Tại Đông phương,trong thời đại quân chủ phong kiến xưa, có 3 đường lối cai trị dân nổi bật nhất, và được nhiều người bàn luận nhiều nhất, sôi nổi nhất là : ĐẾ ĐẠO, VƯƠNG ĐẠO và BÁ ĐẠO.

– ĐẾ ĐẠO:

Đây là đường lối cai trị dân bằng Đạo Đức (còn có tên gọi khác là “Đạo trị” hay “Đức Trị”) của các bậc Thánh Vương mang tính chất Hoàng kim thời Đại -thời vua Nghiêu, vua Thuấn. Mục đích của Đế Đạo là xây dựng một xã hội lý tưởng, đặt nền tảng trên tình thương lòng nhân ái. Thông qua “lễ nghi và giáo dục” mọi người dân biết yêu thương tha thứ bao dung nâng đỡ nhau, không hề có sự tranh giành chém giết lẫn nhau… Nhà vua và các quan lại đều là những nhà đạo đức, nêu gương sáng cho dân, noi theo, giáo hóa dân xa lánh điều ác, thực hiện những điều thiện, tạo nên thuần phong mỹ tục, đưa việc hành thiện trở thành thói quen thường ngày của con người. Đưa xã-hội đi vào con đường Chân Thiện Mỹ một cách tự-nguyện, tự-giác chính là mục-đích của Đế-Đạo. Kết quả của xã hội “Đế Đạo”: Nhà nhà đi ngủ mà không cần đóng cửa. Ngoài đường không có ai nhặt lươm của rơi… Thật là lý tưởng, thật đáng mong ước!

Đế Đạo lấy việc thuyết phục giáo hóa làm tôn chỉ hướng dẫn và uốn nắn xã hội. Đế Đạo không dùng đến pháp luật, nên không cần xây dựng nhà tù hay các biện pháp chế tài nào khác…

Nếu bất đắc dĩ mới phải dùng đến biện pháp chế tài! Mà khi đã dùng đến biện pháp chế tài thì có nghĩa là đường lối, tôn chỉ Đế Đạo đã thất bại !!?? “Lý tưởng Đế Đạo đã bị sụp đổ !! Đế Đạo chưa bao giờ nếm mùi thất bại và sụp đổ, lý do dễ hiểu vì Đế Đạo chưa bao giờ được thực hiện trên trái đất – bất kỳ ở Đông hay Tây Phương! Đế Đạo thực chất chỉ có trong tưởng tượng hay trong ước mơ của loài người! Dẫu sao Đế Đạo cũng đem lại cho người đời một GIẤC MƠ ĐẸP không kém GIẤC MƠ THIÊN ĐƯỜNG…

Trong lịch sử Trung Quốc có nhắc đến Đế Đạo thời Vua Nghiêu (2337-2258 TCN) vua Thuấn ( ?- 2184 TCN) – được coi như khuôn vàng thước ngọc của Hoàng Kim Thời Đại! Theo Trúc Thư Kỉ niên: Việc Vua Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn chứ không truyền ngôi cho con là Đan Chu thường được sử sách đời sau xem là tấm gương mẫu mực của việc chọn người tài đức chứ không vì lợi ích riêng tư của dòng họ.(3*)

Trong thiên Thái Bá sách Luận ngữ, Khổng Tử ca ngợi Đế Nghiêu: “làm vua như Nghiêu thật là vĩ đại! Thật là cao quí thay! Chỉ có trời là cao lớn nhất, cũng chỉ có Nghiêu thật là người biết đựa vào đạo trời. Công đức vua Nghiêu to lớn khôn cùng, dân chúng không thể ca ngợi cho xiết. Công lao của Nghiêu vô cùng vĩ đại. Chế độ lễ nhạc do Nghiêu đặt ra vô cùng sáng tỏ, chiếu tỏa hào quang khắp mọi nơi”

Các thế hệ sau Khổng Tử thường nêu lên câu hỏi: Tam Hoàng Ngũ Đế thời sơ sử của Trung Quốc có phải là những con người bằng xương bằng thịt hay đó chỉ là “Huyền Thoại”? Liệu có một Thời hoàng kim thật sự thời Vua Nghiêu vua Thuấn? Tại sao Đức Khổng Tử hết sức ca ngợi công lao của Vua Nghiêu mà không nói rõ bí quyết hay đường lối trị nước theo Đế Đạo của Vua Nghiêu như thế nào? Nếu “Đế đạo chỉ là giấc mơ không có thật trong thực tế thì lời khen công đức của Vua Nghiêu của Không Tử cũng chỉ là “huyền thoại? hay “hư chiêu” mà thôi ư ??

Theo quan điểm của chúng tôi: Sở dĩ Đức Khổng Tử hết lời klhen ngợi công lao của Vua Nghiêu vì quả tình Vua Nghiêu là người Đạo cao Đức trọng thật sự… Hơn nữa Không Tử muốn lấy Tấm gương Vua Nghiêu làm khuôn vàng thước ngọc cho các thế hệ Vua Chúa sau này, lấy đó để làm ĐIỂN MẪU cho việc cai trị dân đúng theo Đạo Trời – nhằm giúp cho thế hệ các Vua sau này nếu không theo được ĐỀ ĐẠO thì ít ra cũng là theo VƯƠNG ĐẠO, chứ đừng đi theo BÁ ĐẠO hay TÀ ĐẠO… Đây là “Chiến thuật” hay “Đạo thuật” của Không Tử áp dụng phương pháp:“Thác Cổ Cải Chế”(Thác lời người Xưa để răn dạy Người Thời Nay… Thiết nghĩ đây cũng chính là Bản Tâm của Đức Khổng Tử vậy..).

VƯƠNG ĐẠO:

Nói vắn tắt Vương Đạo là dùng Đức trị, hay Nhân Trị còn bá đạo dung lực trị, “Dĩ lực phục nhơn giả Bá, dĩ đức phục nhơn giả Vương (Mạnh Tử Công Tôn Sửu) Dùng võ lực mà thu phục người là “Bá đạo”. Dùng đức mà thu phục người là “Vương đạo”…Theo triết gia Linh Mục Kim Định, chúng ta cần xác định lập trường hay chủ trương đó bằng đưa ra những điểm khác nhau theo 5 nguyên tắc sau đây:

Nguyên Tắc Thứ Nhất: Cử Hiền

Trước câu hỏi quyền bính thuộc về ai? Người có tài đức hay võ lực, hoặc dòng tộc?

Vương đạo chủ trương thuộc người hiền đức, cắt đặt người hiền tài có năng lực (cử hiền dữ năng) Khi Mặc Tử viết: “Thượng hiền cử năng vi chính” “tôn trọng người có đức, dùng người có tài năng làm chính sách (Chương Thượng Hiền) là tỏ ra Mặc Tử còn trung thành với Khổng trong phương diện này). Chủ trương đó chống với câu “Bất thượng hiền sử dân bất tranh” của Lão Tử và cũng là đối lập với câu “kế thừa huyết thống Thượng Đế” của quí tộc, xây trên thần thoại với chế độ kế tử “cha truyền con nối” kể cả trong hàng quan lại. Đó là chủ trương “thiên hạ vi gia các thần kỳ thân” lấy thiên hạ làm của riêng gia đình ngược với câu Luận ngữ “Phiếm ái chúng nhi thân nhân”, “Rộng yêu mọi người nhưng thân hơn với người nhân đức” (L.N.16) sẽ được giảng diễn ra thành thuyết “Đại đồng” trình bầy trong Thiên Lễ vận“ Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công”.

Nắm chủ trương then chốt đó rồi ta dễ dàng hiểu những câu khác. Chẳng hạn câu “Thiên mệnh mỹ thường” trong Kinh Thi, thiên Đại Nhã, thiên mênh không phải trường tồn, có đức thì còn, mất đức thì hết, vì quyền bính thuộc người Hiền Đức chứ không thuộc dòng tộc. Câu đó thường được nhắc nhở luôn dưới nhiều hình thức. Mạnh Tử nói:“Lập hiền vô phương”,(IV B.20) cắt đặt người hiền thì không kể đến phương, tức nơi xuất xứ, cũng lại Mạnh Tử viết: “Tam đại chi đắc thiên hạ giả dĩ nhân, kỳ thất thiên hạ giả dĩ bất nhân” “Ba đời vua trước được thiên hạ vì có đức nhân, mà mất thiên hạ vì không có đức nhân: Nhà Hạ lên với Vũ có nhân, mất với Kiệt bất nhân. Nhà Thương được thiên hạ với Thành Thang có nhân, mất thiên hạ với Văn Võ, Châu Công nhân đức, mất thiên hạ với U lệ bất nhân (Mạnh,VII3). Theo nguyên lý đó Khổng Tử chỉ chú trọng tài đức mà không kể đến dòng họ. Trọng Cung có tài đức mà không được đắc dụng chỉ vì thuộc tầng lớp thường dân. Khổng ví Cung với con bò tơ sắc đỏ sừng tốt (đủ đều kiện để tế) người ta không dám dùng để tế vì mẹ nó lang, nhưng thần sông núi có từ đâu? (L.N.VI.4) Theo chủ trương kế hiền thì Trọng Cung không những nên cử làm quan mà cả đến làm Vua “Ung giả sử nam diện” Trò Ung (tức Trọng Cung) có thể bầu làm Vua (L.N.VI.1).Ông thường khen Tử Lộ mặc dầu áo thường cũng không ngại đứng vào hàng đại thần (L.N.IX.25) và hy vọng lớn nhất của ông đặt vào một người bình dân nghèo xác sơ trong nhóm môn đệ tức Nhan Hồi. Cũng trong tư tưởng đó Khổng Tử đề cao sự quan trọng của chức quan Đại Thần.Do đó ông đặt việc Vua Nghiêu sợ ông Thuấn không ra giúp mình, Thuấn sợ ông Cao Dao bất hợp tác (Mạnh III.4) Trọng Cung vấn chính viết “tiên hữu ty, xá tiểu quá, cử hiền tài” (XIII.2) Dưới con mắt Khổng lúc nhà Châu thịnh đạt nhất là thời nhiếp chính của ông Chu Công.Trong L.N.XIV.20 hỏi tại sao Vệ Linh Công vô đạo mà nước còn? Được trả lời là tại biết giao cho quan đại thần cai trị (Trọng Thú Ngữ giữ ngoại giao, Chúc Đài giữ nội vụ. Vương Tôn Giả giữ bộ binh) vì thế mà nước còn. Đó là chủ trương “quan cai tri vua kiểm soát” tức sự quan trọng đặt nơi quan chứ không nơi vua, quan phải trung với đạo chứ không trung với cá nhân vua “dĩ đạo sư quân, bất khả tắc chỉ” (L.N.XI.23). Chủ trương đó sau này Mạnh Tử đặt nổi bằng câu “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” hoặc câu của Tuân Tử “Trụ bạo quốc chi quân nhược tru độc phu” (Tuân Tử chính luận) giết vua tàn bạo cũng như giết kẻ độc phu (chẳng thần thánh gì). Thật là sớm sủa khi ta so sánh với sự kinh hoàng của bao người Tây Phương coi việc giết Louis XIV như một tội phạm sự thánh. Chung qui đó là hậu quả của thuyết kế Hiền.

Nguyên Tắc Thứ Hai: Giáo Chi

Chủ trương cử hiền tài như trên thật đúng là Tinh Thần dân chủ chỉ chưa có phổ thông đầu phiếu. Nhưng bù lại ông đã có sự bình dân hóa việc học cố gắng giật cái độc quyền học thức ra khỏi tay phái quyền quí để mở rộng ra trong quần chúng, không phân biệt quí tiện: “Hữu giáo vô loại”(l.N.XV.38) trong việc giáo hóa không có phân biệt giai cấp quí tiện sang hèn. Với chúng ta hiện nay, điều này quá tầm thường nhưng đời Khổng thì đó là một cuộc cách mạng tận nền. Điều đó dễ hiểu khi ta nhận xét bên các nước Âu Mỹ có tiếng là tiên tiến mà mãi tới năm 1850 mới mở cửa giáo dục cho toàn dân. Còn trước kia dành riêng cho quí tộc (C.C 152) Như thế ta thấy việc của Khổng thật là táo bạo sớm sủa và là một cú chí tử đánh vào thể chế “Quyền quý thế tập” dưới con mắt của họ việc nhận người nghèo hèn, người thường dân vào trường dạy cai trị là một việc phá rối quốc gia. Đời ông việc giáo dục toàn dân chưa được mở rộng, số người chống đối vì thế còn ít, sau nhờ môn đệ hết sức nối chí Khổng Tử là dạy đời không biết mỏi mệt (Hối nhân bất quyện) nên mới gây ra nhiều phản đối pháp gia chủ trương giữ độc quyền giáo dục cho quyền quý thế tộc.

Ở đây nên ghi nhận câu trong Luận Ngữ “dân chỉ có thể theo chứ không thể hiểu được” (dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi) (L.N.VII 10.) coi như nghịch với chủ trương trên đây. Nhưng nên chú ý, nếu câu đó thật là của Khổng Tử thì chúng ta không biết được trong trường hợp nào ông đã nói câu đó và nhân đấy giới hạn câu đó đến đâu (C.C.219). Do đấy có thể dịch khác nhau, hoặc “dân chỉ cần sai khiến, không cần dạy bảo” như thường thấy. Dịch thế là đi ngược với chủ trương “giáo chi” vừa nói trên… Hoặc là “dân chỉ có thể theo mà không biết được” thì dẫu ngày nay cũng không có gì đáng trách cả, bởi nói về đạo lý hay cả về chính trị, thì làm sao cho toàn dân hiểu được. Ngay đời ta giáo dục phổ thông đã tràn ngập mà đại chúng còn chưa hiểu nổi chính trị và đạo lý phương chi đời ấy. Nên thánh hiền theo nguyên lý tùy năng lực, ai có khiếu học hiểu thì đi học mà làm quan để làm chính trị, còn nếu không đủ năng lực thì nên làm theo. Nếu không chịu hiểu như thế thì câu trên phải cho là xen vào sau, nó giống với câu Lão trong Đạo Đức Kinh 65 “dân mà khó cai trị là tại nó học biết” Câu đó đi ngược với câu “tiểu nhân học đạo tắc dị sử giã” (L.N.17-24) người thường dân có học đạo thì dễ cai trị.

Nguyên tắc Thứ Ba: Phú Chi

Muốn cho dân nhờ giáo dục thì phải có của dư dả mới tìm ra thì giờ nhàn rỗi đi học, nếu như bụng đói thì hết có thể nói đến học với hành, có hô hào cũng vô ích. Vì thế tất cả sách Mạnh Tử phản chiếu mối lo âu làm sao dân giàu “dân khả sử phú dã” (Mạnh Tử VII.23) không có sách nào trong triết học tha thiết về vấn đề làm giàu bằng, nên trước khi nói “giáo chi” Khổng Tử đặt “phú chi” Điểm này cũng phản lại pháp gia chủ trương làm giàu Chúa, yếu dân (phú quốc, cường binh) Khổng trái lại làm giàu dân: “bá tánh bất túc, quân thục dữ túc” (L.N.XII.9) bá tánh không đủ ăn thì vua đủ ăn với ai. Ông đã từ Nhiễm Hữu là người đi sái tinh thần “phú chi” bằng câu “quân tử chu cấp bất kể phú”( L.N.VI 3) “người quân tử thì cấp phát cho khắp hết, chứ không gia thêm cho người giàu”. Kinh Dịch quẻ Ích . “Tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương” “Lời Thoán nói rằng: quẻ Ích là lấy bớt của người trên mà thêm cho người dưới thì dân ủng hộ vô bờ bến”.

Chính Khổng Tử thường tuyên bố coi phú quí phi nghĩa như phù vân (L.N.VII 15). Muốn hiểu câu này, nên chú trọng thời đó chưa có kỹ nghệ, buôn bán chưa mở mang, người ta không có cách làm giàu nào mau chóng hơn là làm quan để bóc lột dân chúng. Chính vì tình trạng đó có câu “vi nhân bất phú, vi phú bất nhân (Mạnh Tử III3). Vì thế Khổng nói “Nước vô đạo mà giàu có phú quí là điều đáng sỉ nhục, cũng như nước có đạo mà mình nghèo nàn bần tiện cũng là đáng sỉ hổ” (L.NVIII.14). Khi Quí Khương Tử ngỏ ý sợ dân ăn trộm, Khổng Tử liền trả lời thẳng: Nếu ông trút bỏ được lòng tham, thì có thưởng dân cũng không thèm ăn trộm (cẩu tử bất dục, tuy thưởng chi bất thiết) (L.N.XIII.17)

Điều lo âu của ông vẫn là “bất hoạn quả như hoạn bất quân (L.N. XVI.1). Không lo không có của mà lo có của nhưng chia không đều, vì nó dễ chảy vô vào tay mấy người có quyền thế.

Nguyên tắc quân phân tài sản đó sau này được Mạnh Tử phát huy rộng trong chủ trương “Minh quân chế dân chi sản” (I,6) bậc minh quân phải lo phân chia tài sản đều cho dân (đọc thêm Mạnh 1,12,36, 38) và làm cho dân giàu thì nước mạnh. Và nhân đấy ông đề cao phép tỉnh điền cũng như Nho giáo chống đối việc bán đất mà sau này đời nhà Tần, Thương Ưởng đã cho phép (Zanker 193. C.A Maspéro314). Cho bán đất tức coi đất là của riêng (thiên hạ vi gia) và nếu coi là công thì phải để chung rồi cứ thời hạn mà phân phát “Quân cấp”đời Lê Lợi cũng như phép hạn chế ruộng không được giữ quá 10 mẫu thời Trần bên ta là hậu quả của thuyết quân phân này. Gọi là công điền hay là đất của Vua chỉ khác danh từ mà thôi. Nhiều người tỏ ý mỉa mai những luật cấm không ai được tậu đất làm của tư kẻo mất quân bình. Mà không thấy rằng từ khi bãi bỏ thể chế đó đã cho phép mua bán đất (Đời Tần) thì sự chênh lệch trở thành quá đáng: đưa đại chúng vào cảnh nông nô cơ cực làm cớ cho cuộc nổi loạn của Vương Mãn, An Lộc Sơn. Ở những kỳ đó thì đất vào tay những đại điền chủ, ruộng công chỉ còn 5% (Xem chẳng hạn Histoire de la Chine de René Grousset: 77,114, 208, và 353) Đây là một thí dụ cụ thể chứng tỏ khi một thể chế được bảo trợ là vì nó gây điều kiện thuận lợi cho chủ trương Vương đạo. Tuyên bố mọi đất của Vua tức là một lối thi hành câu “Thiên hạ vi công” nhờ đó “Người 50 tuổi có lụa mà mặc, 70 tuổi có thịt mà ăn (Mạnh Tử VII.22). Những cải cách điền địa hiện nay, những khẩu hiệu “đất đai thuộc người cày người cấy” tuy khác thể chế mà tinh thần đều là “Hoạn bất quân” của người xưa vậy.Không nên câu chấp danh từ để nhắm mắt trước thực tại.

Nguyên tắc Thứ Tư: Lễ Trị

Con người hễ đã giàu có thì sinh lễ nghĩa, nhân vị cao lên. Bởi vậy tiếp theo chương trình “giáo chi”, “phú chi” ông chủ trương lễ tri “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thá cách” Dùng chính trị hình luật mà cai trị thì dân mới chỉ biết tránh phạm luật, dùng đạo đức và lễ nhạc dân mới trau dồi nhân cách”

Việc Lễ trị tuy phe đối lập có chủ trương nhưng muốn dành riêng cho phái quyền quý còn thường dân thì trị bằng luật “lễ bất hạ thứ dân, hình bất thượng đại phu”(Couvreure 153) Tuy câu này có trong Lễ ký, nhưng chắc do Pháp gia đưa vào, vì nó trái với chủ trương không phân biệt quí tiện của Khổng Tử “Quân tử vô chúng quả, vô tiểu đại”(L.N.XX.20). Người quân tử không phân biệt ít hay đông, lớn hay nhỏ, như không phân biệt Kinh Thượng ở đâu cũng phải cư xử cung kính, trung tín “Cư xử cung chấp sự kính. Dữ nhân trung. Tuy chí Di Địch, bất khả khí dã” ( L.N.XIII.19) “cư xử phải tự trọng, khi thi hành việc (với người khác) phải kính tôn. Đối với tha nhân phải trung tín. Giầu sang miền Di Địch (Mường rợ 785) cũng không thể bỏ được những nguyên tắc đó (không được phân biệt Kinh với Thượng trong lối đối xử. Ở đâu cũng là người cả)

Trước kia người ta dành riêng cho quý tộc được quyền đặt tên tự, mãi sau này mới mở rộng đến toàn dân. Đó là việc làm của Thưởng Ưởng nhưng người cổ động đâu tiên là Khổng Tử (C.A. Maspéro P.95). Và lễ gia tiên, ban đầu cũng dành cho quý tộc, về sau nhờ Khổng Tử cổ động nên đã mở rộng tới toàn dân không phân biệt sang hèn (R. Grousser, Histoire de la Chine (P.15). Như thế không thể bảo Khổng Tử phân biệt quý tiện, mà chính ông là người muốn đại chúng hóa lối cai trị bằng Lễ.

Bởi nó là lối cai trị trung dung giữa hai Thái Cực là hình pháp và thả lỏng, và là lối xứng hợp quan niệm con người cao cả hơn hết như sẽ bàn sau.

Nguyên Tắc Thứ Năm: Thành Tín

Lễ trị là một lối cai tri tôn trọng người dân; coi người dân như người cộng tác với chính quyền. Đã nói đến cộng tác thì chữ Tín là cần “Thượng báo Tín tắc dân mạc cảm bất dụng tình (L.NXIII). Nếu người trên thành tín thì không ai không hết tình. Đã tín thì phải coi ý dân làm trọng. Bên phía pháp trị coi trọng thần lực và dùng quyền uy vũ lực, ít chú ý đến lòng dân. Bên Lễ trị thì chủ trương lất tín làm đầu “Kính ư dân hưng, kính ư thần vong” (Tả truyện). Kính nể dân thì hưng thịnh, đi cầu quỉ thần thì sẽ bị diệt vong và “đắc thiên hạ hữu đạo, đắc kỳ dân, tự đắc thiên hạ hỹ (Mạnh Tử IV.9), có một đường lối để được thiên hạ, đó là được lòng dân và “đắc hồ khâu dân nhi vi thiên tử (Mạnh Tử VIIb, 14) được lòng dân ở đồng bái là làm được thiên tử (nên đọc cả câu trong sách)

Trong ba vấn đề “túc thực, túc binh, dân tín nhi dĩ hĩ” thì ông cho Tín là quan trọng hơn cả bởi vì “dân vô tín bất lập” (L.N.XII.7) “Dân không tín nhiệm chính quyền hết đứng nổi”. Do đó chủ trương “Hữu nhơn tắc hữu địa” có dân tự nhiên có đất (ĐH.10) để trả lời vào mặt ông cai trị chuyên lo mở rộng đất đại, tích chứa giầu sang mà không chú ý được lòng dân. Ông ghét nói đến chiến tranh binh lực “Ký bất xưng kỳ lực, xưng kỳ đức dã” (L.N. XIV.35) con ngựa ký được xưng tụng không vì có sức mạnh mà vì đức. Sau này Mạnh Tử đã phát huy chủ trương chống bạo lực rộng rãi “người hiếu chiến thì tội chém chưa đủ đền” (nhất tướng công thành vạn cốt khô) và nhân đó gây ra trong văn hóa Viễn Đông một bầu khí “trọng văn khinh võ” khác hẳn ở xã hội chẳng hạn của Platon “luôn luôn nói đến chiến tranh binh lực”

Thân hữu có thể đọc đầy đủ trong Kim Định Nho giáo nguyên Thủy ) (4*)

BÁ ĐẠO:

Bá đạo là dùng vũ lực và luật pháp (Cũng gọi là Pháp trị) để cai trị dân. Có điều danh từ Pháp trị ở đây chúng ta phải để ý có sự phân biệt rõ rệt như sau:

– Thời quân chủ Bá đạo dùng luật pháp để cai trị dân và gọi đó là “Pháp trị” (Khác với “Đức Trị” “Nhân Trị”của Vương Đạo)

– Thời Dân Chủ cũng dùng luật pháp để cai trị và gọi là thượng tôn luật pháp. Nhưng có sự khác nhau giữa “Quân chủ Pháp trị” và “Dân chủ Pháp Tri

+ Quân chủ Pháp trị= (luật Pháp do nhà Vua và quan lại triều đình tự lập ra – Tất nhiên không có ý kiến của dân chúng)

+ Còn Dân Chủ Pháp trị= (Luật pháp do những vị “Nghị sĩ hay dân biểu” là những người đại diện cho dân soạn thảo ra – tức luật pháp do ý kiến của dân chúng). Luật Pháp của nền “Dân Chủ Pháp trị” do Hiến Pháp qui định.

Tại Trung Hoa Bạo chúa Tần Thủy Hoàng là tiêu biểu cho đường lối Bá đạo (5*)… Bá Đạo là phương pháp dùng vũ lực + luật pháp của kẻ cầm quyền bắt dân chúng phải răm rắp tuân theo. Để thi hành bá đạo Tần Thủy Hoàng chủ trương đốt sách chôn học trò.( học trò là tiếng nói của kẻ sĩ – rất nguy hiểm cho chế độ độc tài cần tiêu diệt từ trong trứng nước – Hai hành động tàn ác này của Tần Thủy Hoàng nhằm “triệt tiêu”mầm chống đối tại trong nước. Không cho tiếng nói chống đối của người dân được cất lên hay thậm chí lời bàn tán xầm xì trong dân chúng! Trên cả nước, chỉ có tiếng nói hay pháp lênh duy nhất – là luật pháp của triều đình ban ra bắt dân phải tuân theo).

B2- Thời Đại Dân Chủ Nay

Cơ chế Tư Do Dân Chủ

“Thế chế hay chế độ chính trị là mô hình tổ chức nhân xã, nói một cách dễ hiểu, là tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp của một cộng đồng con người.

Người ta thấy có chế độ độc tài, chế độ dân chủ. Trong chế độ độc tài có nghĩa là chế độ mà quyền hành trong tay một người hay một nhóm người (oligarchie) Trong chế độ dân chủ là chế độ mà quyền hành nằm trong tay người dân, người dân có quyền quyết định số phận mình, người ta thấy có dân chủ trực tiếp như ở Thụy Sĩ, những quyết định quan trọng đều do trưng cầu dân ý quyết định và chế độ dân chủ gián tiếp người dân bầu ra đại diện của mình trong nhiệm kỳ, những người được bầu này thay mặt dân lấy những quyết định. Hiện nay phần lớn nhũng chế độ dân chủ là những chế độ dân chủ gián tiếp.

Trong chế độ dân chủ gián tiếp, người ta thấy có chế độ tổng thống như ở Hoa Kỳ, chế độ đại nghị như ở bên Anh, và phần lớn các quốc gia trên thế giới. Người ta cũng có thể thêm chế độ nửa tổng thống chế, nửa đại nghị chế như ở bên Pháp.

– Sự quan trọng của thể chế chính trị trong đời sống con người.

Thể chế chính trị giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển đời sống con người. Vì vậy có người ví thể chế chính trị như mảnh đất và người dân như hạt mầm. Con người dù là da vàng, da trắng hay da đen có thể ví như hạt mầm, nếu hạt mầm này được gieo vào một mảnh đất tốt, tức sống dưới một chế độ tốt, chế độ tôn trọng con người, những quyền căn bản của con người được bảo đảm, đồng thời được hướng dẫn, dìu dắt bởi một nền giáo dục tốt, một hệ thống an sinh xã hội tốt, thì hạt mầm này sẽ kết bông nẩy trái… người dân sẽ sống trong an lạc hạnh phúc… Điển hình như quốc gia Nam Hàn. Từ khi chế độ độc tài chuyển sang chế độ dân chủ đất nước đã vô cùng phát triển:

“Nển khoa học kỹ thuật tân tiến hiện nay được coi là ngành điện thoại cầm tay, vì trong đó là cả một cái máy điện toán tối tân, thế mà Nam Hàn với hãng Samsung đứng đầu trong việc sản xuất và bán trên thị trường đã lâu, trên cả hãng Apple của Hoa Kỳ và hãng Nokia của Phần Lan. Ngành xe hơi cũng vậy, hãng Kia của Nam Hàn mặc dầu mới xuất hiện nhưng số lượng bán cũng không thua gì những hãng quốc tế nổi tiếng từ lâu đời khác như hãng General Motor, Toyota, Volkswagen, Renault. Nam Hàn từ mấy chục năm nay đã nổi tiếng về giáo dục, người thợ Nam Hàn có một trình độ hiểu biết tổng quát đứng đầu thế giới. Người chuyên viên Nam Hàn cần cù làm việc, chịu khó học hỏi đi làm nơi nào cũng được trọng. Bằng cớ là hai tổ chức quốc tế quan trọng nhất thế giới là Liên Hiệp Quốc và ngân hàng quốc tế, đều được cầm đầu bởi người Nam Hàn.

Được như vậy tất nhiên do nhiều nguyên do, nhưng một trong những lý do chính đó là dân Nam Hàn được sống dưới một chế độ tư do, dân chủ, mặc dầu chế độ này mới được thiết lập vào khoảng thập niên 80..

Không nói đâu xa, chúng ta trở về Việt nam thời cận đại. Hai chế độ miền Nam Việt Nam thời trước 1975 là hai chế độ cộng hòa, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Hai chế độ này, vào thời đó có thể so sánh với những nước dân chủ tiên tiến, nhưng nó là một trong những nước dân chủ đầu tiên ở châu Á, chỉ thua có Nhật. Chính vì vậy mà miền Nam cũng đã phát triển hơn cả Nam Hàn và Đài Loan lúc bấy giờ. Nếu tính theo sản lượng đầu người hàng năm thì vào cuối thời Đệ Nhất Cộng Hòa, sản lượng của miền Nam Việt Nam là 118$ trong khi đó cũng của Nam Hàn và Đài Loan là trên dưới 80$.Sự phát triển của miền Nam được ngay những người cộng sản công nhận, như ông Lê Đăng Doanh, “nhà kinh tế Cộng sản, trong một bài phỏng vấn của đài BBC cũng công nhận là sau 1975 ông vào miền thăm Miền Nam đầu tiên, ông đã phải ngạc nhiên về trình độ phát triển, ông đi thăm những vùng quê, ông thấy nơi nào cũng có điện, có máy cầy, đời sống người dân tương đối đầy đủ. Nhà văn Dương Thu Hương cùng với “đoàn quân chiến thắng” vào miền Nam, trước đời sống dân miền Nam, bà đã sững sờ bà tìm một góc phố, như lời bà kể, để khóc, và sau đó tuyên bố “Tôi đã cùng một đoàn quân chiến thắng nhưng mô hình tổ chức xã hội của kẻ chiến bại lại văn minh hơn mô hình của kẻ chiến thắng.” Chính “Luật người cầy có ruộng” của thời Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam đã được chính phủ Đài Loan bắt chước và đem áp dụng thành công ở nước này. Chỉ tiếc rằng những gì đã được xây dựng ở miền Nam đã bị cộng sản đổ xuống sông xuống biển. Chính vì vậy mà dân miền Nam đã có câu “Năm đồng đổi lấy một xu, người khôn đi học, thằng ngu làm thày (“6*).

B3- Chế Dộ Độc Tài Toàn Trị Cộng Sản:

Ngược lại với Nam Hàn, chế độ Bắc Hàn là một chế độ cộng sản độc tài, người dân sống dưới chế độ này không những không thể phát triển được mà hàng năm còn bị nạn đói hoành hành từ bao chục năm nay. Ngoài xã hội thì những hãng xưởng thiếu điện để chạy nhà máy, trong khi những công thự chỗ tôn thờ lãnh tụ thì điện chan hòa cả ngày lẫn đêm. Giáo dục là một nền giáo dục nhồi sọ, từ trẻ em cho đến người lớn chỉ biết vâng lời, gọi dạ bảo vâng, nhắc lại những khẩu hiệu tuyên truyền rỗng tuếch… Người ta nói “chế độ độc tài là chế độ cái loa, cái còng và cây súng” là vậy.

Nhìn vào lịch sử cận đại, 2 chế độ cái loa, cái còng và cây súng là chế độ độc tài phát xít Hitler và chế độ cộng sản. Cả hai đều dựa trên quan niệm triết lý, tư tưởng bất bình thường: Hitler cho rằng chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết, không pha trộn với những chủng tộc khác. Đây là một điều vô cùng phản khoa học. Theo Hitler dân tộc Đức tiêu biểu cho chủng tộc này, nên thông minh, đáng để cầm đầu thế giới. Chính vì vậy nên Hitler đã không ngần ngại phát động chiến tranh khắp nơi. Marx thì cho rằng lịch sử con người là bạo động, là đấu tranh giai cấp, không ngần ngại mở đầu Bản Tuyên Ngôn Thư Cộng Sản “Lịch sử nhân loại từ xưa tới nay là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Đây cũng là một cái nhìn quá phiến diện và tổng quát hóa, chẳng có gì là khoa học, như những người cộng sản bắt đầu bởi Marx thường rêu rao “Khoa học lịch sử, Khoa học biện chứng” không cần chứng minh dài dòng, chúng ta chỉ nhìn chính chúng ta và những người chung quanh, xét cuộc đời thì chúng ta rõ: Bình thường con người muốn sống hòa bình. Con người chỉ dùng bạo động trong những trường hợp bất bình thường. Điều này đúng với cả lịch sử của những quốc gia. Marx và những người cộng sản đã lấy cái bất bình thường làm cái bình thường, nên từ lý thuyết cho đến chế độ đã trở nên bất bình thường, bệnh hoạn. Đấy lại chưa nói đến ngay từ lúc đầu, chế độ cộng sản, bề ngoài thì mang nhãn hiệu “Thế giới đại đồng, anh em cộng sản” nhưng bên trong là chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bành trướng. Bề ngoài mang nhãn hiêu “Liên Bang các cộng hòa xã hội sô viết (URSS), nhưng bên trong, Lenine, qua tay em của mình là Staline, vì lúc đó Staline đã đặc trách về vấn đề các dân tộc chung quanh, bắt họ đi theo Liên Xô. Bằng chứng rõ ràng là khi đế quốc Liên Xô sụp đổ năm 1989, thì những dân tộc này nổi lên đòi độc lập.

Chính vì mang đầu óc quốc gia cực đoan, bành trướng, nên đã có những vụ tranh chấp Nga-Hoa ở biên giới vào những năm 60, tranh chấp giữa Việt Cộng và Trung Cộng, rồi đi đến chiến tranh năm 1979, tranh chấp Việt Miên rồi cũng đi đến chiến tranh trước đó năm 1978.

Sau khi Liên Xô sụp đổ thì Việt Cộng chạy sang thần phục Trung Cộng, mở đầu bằng Hội nghị Thành Đô tháng 3/1990, và không ngừng ký những hiệp ước dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng. Nhưng vì Trung Cộng từ xưa đã mang mộng bành trướng đế quốc, nay lại được cấy vào vi trùng bất bình thường Mác Lê, nên mộng bành trướng càng ngày càng mạnh. Mặc dầu cả 2 bên, lúc nào cũng rêu rao “Bốn tốt và mưới sáu chữ vàng” nhưng đùng một cái, Trung Cộng cho đặt giàn khoan, xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam.

Nhiều người vì tin tưởng ở những câu nói đầu môi chót lưỡi của cộng sản “Tình huynh đệ tốt, Môi hở răng lạnh, Tình đồng chí cộng sản” đã ngỡ ngàng về sự việc Trung cộng đặt giàn khoan dầu ở quần đảo Hoàng Sa, thuộc về chủ quyền Việt Nam. Thực ra nếu chúng ta xét lịch sử xa của cộng sản, thì chúng ta không có gì ngạc nhiên.Trung cộng và Việt cộng đã nhiều lần đánh nhau.

Bởi lẽ đó, chừng nào hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa vẫn còn phải mang cái ách chế độ cộng sản, lấy lý thuyết Marx làm nền tảng cho chế độ kêu gọi đấu tranh giai cấp, một lời kêu gọi chiến tranh triền miên, không những chiến tranh chính nội bộ, mà còn chiến tranh với nước ngoài, chừng đó hai dân tộc không thể nào sống hòa bình với các nước chung quanh và với cộng đồng thế giới.

Người dân sống dưới chế độ độc tài phát xít hay độc tài cộng sản không những chỉ như một hạt mầm gieo trên một mảnh đất khô cằn mà còn bị giới lãnh đạo dùng như những bia đỡ đạn cho tham vọng bành trướng và đế quốc của mình.

Vì vậy, ngày hôm nay, những chế độ độc đoán độc tài, không phát triển hay phát triển chậm hơn những chế độ dân chủ và đi ngược lại trào lưu tiến hóa của con người là như vậy.

Quả thực nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh, từ trẩy hái qua du mục, quân chủ, tới dân chủ ngày hôm nay, mỗi một nền văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã khác nhau hay nói một cách rõ hơn, hiện đại hơn là cách tổ chức chính trị, kinh tế khác nhau, từ thể chế gia tộc, bộ lạc, tới quân chủ và dân chủ.

Nước Tàu và Việt nam hiện nay nói riêng và các nước phương Đông nói chung trong đó có cả các nước Trung Đông, những nước này đã có một nền văn minh rất sớm, hơn cả Tây phương. Nhưng tiếc rằng chế độ quân chủ kéo dài quá lâu. Ngày hôm nay chế độ cộng sản ở Tầu và Việt Nam cũng chỉ là một chế độ quân chủ phong kiến trá hình. Chế độ cộng sản để rồi sẽ tắt luôn như một nhóm lửa trước khi tàn.

Tây phương mặc dầu văn minh đến chậm hơn Đông phương, nhưng đã biết từ bỏ sớm chế độ quân chủ để bước sang chế độ dân chủ, và kinh tế thị trường đã phát triển rất mạnh, vượt mặt Đông phương.

Đối với những chế độ quân chủ, từ lạc hậu như ở các nước Trung Đông cấm đoán ngay cả những người phụ nữ làm đủ mọi nghề, ra đường phải bịt mặt, tới chế độ cộng sản tước hết mọi quyền căn bản nhất của con người, người xưa có câu “Trễ còn hơn không”. Hãy từ bỏ thể chế chính trị quân chủ phong kiến, độc tài cộng sản để bước sang chế độ dân chủ tôn trọng những quyền căn bản của con người, trong đó có nam nữ bình quyền, tự do tư tưởng và ngôn luận, thì mới hy vọng theo kịp những nước văn minh. Gương Nam Hàn và Đài Loan cho ta thấy rõ. Hai nước này đã từ bỏ chế độ độc tài vào thập niên 80, để bước sang chề độ dân chủ, thế mà ngày hôm nay cả 2 nước đã có thể sánh cùng với những nước văn minh khác trên thế giới.

Đất nước và dân tộc đang đứng trước hiểm họa diệt vong, trong thì đảng cộng sản mặc tình cấu kết với ngoại bang bán đất dâng biển, hèn với giặc, ác với dân, giết hết tinh anh, triệt mọi cơ hội phát triển của người dân, ngoài thì Tầu cộng lộng hành, ngang nhiên kéo dàn khoan đến vùng biển Việt Nam. Con đường duy nhất để chống ngoại xâm là bằng mọi cách phải thay đổi thể chế chính trị từ độc tài cộng sản qua Dân chủ Tự do, vì có như thế, giới lãnh đạo mới quy tụ được sức mạnh toàn dân, vận động được các quốc gia và cộng đồng yêu chuộng Tự Do và Hòa bình trên thế giới cô lập và bẻ gãy mọi mưu mô bá quyền của Tầu cộng (7*).

IV. VĂN HÓA QUỐC GIA TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA VĂN HÓA:

“Trong hiện tình văn hóa thế giới hôm nay có thể khẳng định rằng bên cạnh quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra như một xu thế tất yếu và đang trở thành đề tài sôi nổi và nóng bỏng trên thế giới thì chúng ta còn nhận ra một trào lưu toàn cầu hóa, thậm chí còn quyết liệt hơn, sâu sắc hơn,đó là toàn cầu hóa về văn hóa.

Với tình đặc thù và tính độc lập tương đối của mình, quá trình toàn cầu hóa diễn ra rất gần song song với toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu hóa kinh tế nói riêng. Trên cơ sở sự tăng cường mạnh mẽ của toàn cầu hóa kinh tế, sự tăng cường mạnh mẽ của các thành tựu khoa hoc, công nghệ, đặc biệt là giao thông và viễn thông; sự tăng cường giao lưu ảnh hưởng và xích lại gần nhau giữa các dân tộc, các quốc gia, khiến văn hóa các dân tộc có nhiều cơ hội giao lưu ảnh hưởng, cọ sát, học hỏi chia sẻ lẫn nhau. Trong quá trình như vậy, một mặt văn hóa các dân tộc vừa phong phú đa dạng hơn, mặt khác cũng không loại trừ sự mất mát, thui chột của các nền văn hóa, các yếu tố văn hóa lỗi thời, không còn sức sống cạnh tranh. Như vậy, cũng như toàn cầu hóa nói chung, mà cốt lõi của nó là toàn cầu hóa kinh tế, thì toàn cầu hóa văn hóa cũng đương nhiên hiện hữu. Vấn đề chỉ còn là toàn cầu hóa văn hóa như thế nào, theo tiêu chuẩn nào, mức độ nào mà thôi. “Toàn cầu hoá văn hoá có thể được hiểu là quá trình văn hoá các dân tộc, thông qua giao lưu, dung hợp, xâm nhập và bổ sung lẫn nhau, không ngừng phá vỡ tính hạn chế về khu vực và về mô hình của văn hoá dân tộc mình và trong sự bình phán và chọn lọc của loài người mà đạt được sự hoà đồng văn hoá, không ngừng chuyển các nguồn khu vực của văn hoá dân tộc mình thành các nguồn hưởng thụ chung, sở hữu chung của loài người. Tuy nhiên, điều cần chú ý là toàn cầu hoá văn hoá là một quá trình bao gồm sự xung đột, giao lưu, dung hợp giữa các nền văn hoá dân tộc, đồng thời bản thân nó cũng là một kết quả, tức là các nguồn khu vực của văn hoá các dân tộc có thể được loài người cùng hưởng cùng sở hữu. Nhưng nó tuyệt nhiên không có nghĩa là sự mất đi của các nền văn hoá dân tộc để hình thành nên một thứ văn hoá có tính toàn cầu thống nhất, liên thông, phổ quát”

Như vậy, toàn cầu hoá văn hoá đã tạo ra những cơ hội, thách thức và rủi ro đối với các nền văn hoá khác nhau trong việc quảng bá nền văn hoá của mình ra bên ngoài. Trong quá trình toàn cầu hoá, các nền văn hoá đều bình đẳng, giao lưu với nhau trong thế bình đẳng, đều có những chỗ “mạnh”, những chỗ “yếu”, đều có “quyền” tự do nhìn nhận, lựa chọn, thử nghiệm để tiếp nhận từ “kẻ khác” những gì mà họ muốn tiếp nhận.

Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia đều tham gia vào quá trình toàn cầu hóa với những mức độ giống nhau và đều được bình đẳng như nhau. Khi tham gia vào toàn cầu hóa, các nước phát triển có rất nhiều lợi thế. Phần còn lại của thế giới thì chịu thiệt thòi về nhiều mặt và gặp nhiều thử thách. Mặc dù vậy, trong thế giới ngày nay, các quốc gia không thể tẩy chay hoàn toàn toàn cầu hóa hoặc đứng ngoài quá trình toàn cầu hóa. Vấn đề đối với tất cả các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển, là phải có chiến lược thích ứng và khôn ngoan để vượt qua thử thách và chớp lấy thời cơ; trong quá trình hội nhập thế giới, phải có ý thức, giữ vững chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ để đưa quốc gia dân tộc mình đến chỗ phồn vinh” (8*).

V. VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG VĂN HÓA:

Càng ngày người ta càng nhận thức rõ tầm quan trọng, quá quan trọng của văn hóa. Có thể nói “Vai trò” và “Chức năng” Văn Hóa giữ vai trò quyết định toàn bộ “Sinh Mênh” con người, xã hội, dân tộc, quốc gia và nhân loại. Vấn đề là chúng ta có “quán chiếu sâu sắc” nhận thức rõ vai trò và chức năng văn hóa để “hiện thực” và “diệu dụng” văn hóa trong thời đại của chúng ta hay không?!

1. Vai Trò Văn Hóa:

Văn Hóa có các vai trò chính yếu sau đây:

a- Văn Hóa giữ vai trò khai sáng trí tuệ con người. Không những trên phương diện Triết học, Văn học, Luật học, Khoa học mà còn trong Chính Trị học, Văn Hóa học, v.v…

b- Văn hóa có vai trò chủ động đấu tranh, giúp con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, vượt thoát, giải thoát chính con người mình…hòa đồng cùng vũ trụ, vạn hữu.

c- Văn hóa giữ vai trò: Truyền sinh: SỐNG CÒN NỐI TIỀN HÓA

d- Văn hóa có vai trò: Chống cái ác, Phát huy cái thiện, dẫn đưa con người tới Chân Thiện Mỹ.

Ngoài 4 vai trò chính yếu trên, Văn hóa còn có các chức năng có tính cách đa năng, đa hiệu như sau

2. Chức Năng Văn Hóa:

a- Văn hóa có chức năng tìm tòi, học hỏi thảo luận nghiên cứu.

b- Văn hóa có chức năng “Ứng xử” với tha nhân, “Thích nghi” với mọi hoàn cảnh…

c- Văn hóa có chức năng “Sáng tạo”, “Phát huy sáng kiến”, “Phát minh” Khoa Học Kỹ Thuật.

d- Văn hóa có chức năng “Giáo dưỡng” “Giáo hóa” con người.

e- Văn hóa có chức năng tạo ra “Xung đột” “Đối kháng” “Mâu thuẫn” “Tán tụ” “Bảo thủ” “Tiến bộ” theo qui luật “Âm Dương” “Sinh Khắc Chế Hóa”.

f- Văn hóa có chức năng “Điều hợp” “Hóa giải” mọi mâu thuẫn trong cuộc sống.

g- Văn hóa có chức năng “Chuyển hóa” thời cuộc. “Thăng hoa con người” và “Thăng hóa xã hội”

h- Văn hóa có chức năng “Thẩm thấu” sâu rễ bền gôc tạo nên Thuần Phong, Mỹ Tục của mỗi Dân Tộc…

i- Văn hóa có chức năng “Hội nhập” con người vào hoàn cảnh mới, cộng đồng mới…

j- Văn hóa có chức năng “Vượt thoát” và “Sáng Hóa”

k- Văn hóa có chức năng “Chọn lọc”, “Tiếp thu” tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác, đồng thời “Đào thải” những cổ hủ lỗi thời.

l- Văn hóa có chức năng “Hiện đại hóa” xã hội thời đại.

VI. SỨ MẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA:

Có người quan niệm rằng “văn hóa thì “trường cửu”, còn chính trị là “nhất thời” rồi đi đến quan niệm: Cần phải tách “chính trị” ra khỏi “Văn hóa”… Nhận định trên văn hóa có giá trị trường cửu hơn chính trị thì đúng, nhưng nhận định thứ hai “Tách chính trị ra khỏi văn hóa lại là sai! Văn hóa và chính trị tuy là hai bộ môn có những điểm khác nhau, nhưng lại có nhiều điểm giống nhau nhất là về mục đích và cứu cánh. Hơn thế nữa Văn hóa còn là “nguyên lý” “nguyên tắc” hướng dẫn chính trị, phục sự con người. Chỉ có nền chính trị vô nhân, vô đạo như chính trị độc tài “quân phiệt” độc tài “giáo phiệt” kiểu độc tài Hồi giáo cực đoan” hay chính trị “độc tài toàn trị cộng sản” mới lợi dụng văn hóa, dùng văn hóa là công cụ phục vụ “chính trị” bá đạo thì không kể. Trong trường hợp này Văn hóa bị “tha hóa” bởi chính trị và cả hai “văn hóa” cũng như “chính trị” đều bị suy đồi… Không còn là văn hóa, chính trị tiến bộ hay văn hóa chân chính nữa. Chúng ta không bàn đến loại “văn hóa suy đồi” ở đây.

Trở về văn hóa chân chính tiến bộ, chúng ta đã nhận định văn hóa có chức năng và vai trò vô cùng quan trọng như đã nói trên, nên văn hóa có “Sứ mệnh” là điều hiển nhiên và tất yếu, không ai có thể phủ nhận được..

1. Sứ mệnh Văn Hóa theo kinh Dịch:

Theo học giả Nguyễn Đăng Thục, nguyên nghĩa danh từ Văn hóa của tây phương có thể tìm thấy ý nghĩa tương đồng rút từ “Lời thoán” của Kinh Dịch: “Quan thiên văn dĩ sát thời biến, quan nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (Nhìn hiện tượng trên trời để xét sự biến đổi của thời tiết. Nhìn hiện tượng của nhân quần xã hội để hóa nên thiên hạ, thay đổi thế giới). Theo cái nhìn của Kinh Dịch: Văn hóa có chức năng và sứ mạng thay đổi nếp sống con người và thay đổi cả vận mạng thế giới. Sứ mạng văn hóa chỉ tóm gọn như vậy thôi. Lối nói của Kinh Dịch là lối nói “cô đọng” “hàm súc” ít lời mà nhiều ý, đòi hỏi chúng ta phải trầm tư sâu sắc mới lĩnh hội được hết ý tứ của người xưa! (Xin xem định nghĩa văn hóa thứ hai trong bài “Bàn về 25 định nghĩa văn hóa của Chu Tấn cũng trong tuyển tập này).

2. Sứ Mạng Văn Hóa Theo Lý Thuyết Gia Lý Đông A

Cụ Nguyễn Hữu Thanh tức Lý Đông A (9 *) Tổng Thư Ký của Đảng Đại Việt Duy Dân và cũng là nhà Văn Hóa lớn của Việt Nam, thế giới có đưa ra 5 lời thề cho các chiến sĩ cách mạng của Đảng Đại Việt Duy Dân như sau:

Thề Giác Biện chứng Lớn

Thề Tu Tính Mệnh Ta

Thề Cứu Nòi Giống Việt

Thề Thương Loài Người Khó

Thề Cùng Vũ Trụ Hòa.

Qua 5 lời thề trên tuy Lý Thuyết gia Lý Đông A không nói đến danh từ “Sứ mạng văn hóa” nhưng xét vào nội dung 5 lời thề nói trên, đích thực chúng ta thấy đây là 5 sứ mệnh lớn của Văn Hóa Chính Trị Việt Nam.

– Lời Thề 1: Thề Giác Biện Chứng Lớn:

                “Biện chứng Lớn” ở đây không phải là “Biện chứng pháp Duy Tâm” ( “Idalistic dialectic” của Hegel) hay

                “Biện Chứng Pháp Duy Vật” (Materialistic dialectic” của Karl Marx) mà là Duy Dân Tung Hợp Biện Chứng của Lý Đông A).

– Lời Thề 2: Thề Tu Tính Mệnh Ta.

                Các cụ ta xưa có câu: “Từ Thiên tử (Vua) cho đến thứ dân ai ai cũng phải lấy việc TU THÂN làm gốc ( Tu thân vi bản)

– Lời Thề 3: Thề Cứu Nòi Giống Việt:

                Dân tộc Việt Nam bị “linh lạc” bị “điêu linh thống khổ” dưới ách đo hộ Tầu, thực dân Pháp-Nhật, rồi C.S nên rất cần phải cứu nguy.

– Lời Thề 4:Thề Thương Loài Người Khó:

                Chỉ đại đa số nhân loại bị nghèo khổ áp bức bóc lột trên toàn thế giới

– Lời Thế 5:.Thề Cùng Vũ Trụ Hòa:

Chỉ khi nào người dân Việt chúng ta hoàn thành được 4 lời thề trên, tâm hồn mình mới được thảnh thơi, tự tại hòa đồng cùng Vũ Trụ

Năm lời thề của Lý Thuyết Gia Lý Đông A lớn lao thay! Vĩ đại thay! Cao cả vô cùng… Đây cũng chính là Sứ Mạng Cao Tột Của Văn Hóa Chính Trị Việt Nam. Lý thuyết gia Lý Đông A còn gián tiếp, bí nhiệm khuyên chúng ta: “Sinh Mênh Việt Nam Luôn Gắn Bó Với Sinh Mênh Nhân Loại Không Thể Tách Rời”

3. Sứ Mạng Văn Hóa theo Học Giả Hồ Hữu Tường:

Trong cuốn Tương lai Văn Hóa Việt Nam Học giả Hồ Hữu Tường đã định nghĩa “Văn hóa là cái gì làm cho con người trở thành NGƯỜI (Chữ Người viết Hoa). Theo định nghĩa này thì sứ mệnh văn hóa Việt Nam sẽ vô cùng cao quí và lớn lao. Hiện nay dân số Việt Nam ở trong nước là 95 triệu người (Quốc nội và Hải ngoại) xấp xỉ 100 triệu người. Nếu trong tương lai văn hóa VN có thể đào luyện cho 100 triệu người dân thường đều trở thành 100 triệu CON NGƯỜI (Viết Hoa) thì nền văn hóa chính trị Việt Nam sẽ hùng mạnh vinh quang và rực rỡ đến như thế nào… (Đây là “dự phóng” hay “giấc mơ văn hóa” của học giả Hồ Hữu Tường. Xin tất cả độc giả và toàn dân Việt Nam đều nên lắng nghe, chia sẻ và góp phần vào sứ mệnh văn hóa cao cả vĩ đại này. (Xin xem lại định nghĩa văn hóa thứ 6 của học giả Hồ Hữu Tường trong bài “Bàn về 25 định nghĩa văn hóa của Chu Tấn).

4. Sứ Mạng Văn Hóa theo Văn Hào André Malraux:

Nhà văn hào Pháp André Malraux (10*) có định nghĩa Văn hóa như sau:

“Văn hóa là tất cả các hình thái của nghệ thuật, tình yêu và suy nghĩ, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít nô dịch hơn”

Trong định nghĩa này nhà văn hào André Malraux tuy xác định văn hóa có sứ mạng giải phóng con người, thoát khỏi các chế độ và tất cả các hình thức “nô dịch” con người. Nhưng tác giả tỏ ra rất bi quan là qua tác dụng và hiệu năng văn hóa trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến con người trở nên ít nô dịch hơn!”. Có nghĩa là “Thân phận con người- “Condition humaine” trong nhân loại cho đến thế kỷ 20 – thời đại mà André Malaux đưa ra định nghĩa văn hóa vừa nói – Con người vẫn còn bị các hình thức “nô dịch” tồi tệ chưa hết được! Phải thế không?

Thấp hơn hay đặc biệt hơn, Văn hào Albert Camus định nghĩa “Văn Hóa là tiếng khóc của con người khi đối diện với số phận”

Văn hóa chỉ có tính cách “phản ứng” lại bằng “Lời than” hay “tiếng khóc” thôi sao? Điều này chúng ta không lấy làm lạ vì Albert Camus còn là triết gia theo triết thuyết Hiện sinh – Ông cho “cuộc đời là phi lý” – nhưng không buông xuôi theo số phận mà chống lại số phận, phản kháng lại số phận bằng bất cứ biểu hiện nào…dù là “Lời than hay tiếng khóc”…cũng là cách phản kháng ….(11*)

Cùng quan tâm, suy tư về “Sứ mạng Văn Hóa” song Lý thuyết gia Lý Đông A và học giả Hồ Hữu Tường thì hoàn toàn tin tưởng và “lạc quan”. Trái lại hai văn hào André Malraux và Albert Camus thì quá “dè dặt và bi quan”… Vậy người làm văn hóa trong thời đại chúng ta nên có thái độ nào?

Thiết nghĩ, từ cuối thế kỷ 20 và bước sang đầu thế kỷ 21 chúng ta đã kinh qua bốn biến cố lịch sử lớn sau đây:

Một là: Cuối thế kỷ thứ 20 nhân loại đã bùng nổ cuộc cách mạng truyền thông- Internet- có tác dụng thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian:Chỉ một biến cố nhỏ xẩy ra-tân Phi Châu hay châu Đại dương –mấy phút sau đã trở thành tin tức lan truyền khắp thế giới,…

Hai là: Năm 1989 chế độ CS tại các nước Đông Âu và đế quốc CS Liên Sô sụp đổ, chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh và đã đánh dấu thời điểm “cáo chung chủ thuyết sai lầm không tưởng Mac-Xít”.

Ba là: Vào đầu thế kỷ 21 đánh dấu kỷ nguyên “Toàn Cầu hóa” từ văn hóa, chính trị, kinh tế, thương mại…vv…

Bốn là: Năm 2011 “Đợt sóng dân chủ thứ tư” đã chính thức bùng phát và trào dâng trên toàn thế giới… Với bốn biến cố lịch sử này nên “Độ gia tốc chính trị Văn hóa” đã tiến rất nhanh, không còn trì trệ như trước nữa. Đây là 4 chứng cứ lịch sử hùng hồn nhất, cho phép chúng ta khẳng định người làm văn hóa trong thời đại hiện tại, không chỉ có niềm tin lớn, mà còn có thái độ lạc quan có tính cách viễn kiến, thống quan và được kiện chứng bằng thực tiễn lịch sử. Chúng ta cần quan niệm “Sứ mạng Văn Hóa” quan trọng và lớn lao này, nhịp theo đà tiến của Lịch Sử Văn Hóa Toàn Cầu Hóa.

4. Văn Hóa Việt Nam Trong Thời Đại “Toàn Cầu Hóa”:

Có các sứ mệnh sau đây:

Khai sáng trí tuệ con người, hình thành Minh Triết nhân loại.

Giáo hóa con người.

Làm cho cuộc sống lên hương, làm cho cuộc đời thêm tươi thêm đẹp. Văn hóa đem lại nguồn vui sống cho con người.

Thăng tiến con người, phát triển, thăng hóa xã hội trên mọi phương diện.

Văn hóa có sứ mệnh ngăn chặn cái Ác để mưu cầu Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền cho con người và Xã Hội.

Văn hóa có sứ mệnh khuyến khích con người làm việc THIỆN, phụng sự Con Người, Xã Hội,Tổ Quốc và Nhân Loại, Liên Hành Tinh.

Giải Phóng con người ra khỏi mọi chế độ độc tài và nhiều hình thức “nô dịch” “nô lệ hóa” con người.

Thiết dựng chế độ dân chủ (Tam quyền phân lập) trên qui mô thế giới, làm nền tảng căn bản tiến tới chế đô “Nhân Chủ Quốc Gia” và“ Nhân Chủ Toàn Cầu”

Văn hóa có sứ mệnh: Phát huy “Dân tộc Tình”, “ Dân Tộc Tính” và “Dân Tộc Chí”…

Văn hóa có sứ mệnh: Tôn Vinh Đạo Sống, Bảo vệ Sư Sống Phát triển Sư Sống, Thăng Hoa Sự Sống, Khoáng trương Sư Sống và Thành Toàn Sư Sống, con người Dân Tộc, Nhân loại. Liên Hành Tinh.

Văn hóa có sứ mệnh gin giữ hòa bình và xây dựng nền Thái Hòa Nhân Loại

Sau cùng Văn Hóa có sứ mệnh khó khăn nhất và cũng cao đẹp nhất là giúp con người Tự Vượt Và Tự Thắng Chính Mình

VII. KẾT LUẬN:

Từ thời cổ đại, nhân loại đã khám phá ra sức mạnh hay sứ mạng của Văn Hóa. Tuy nhiên theo bản chất văn hóa nặng về phần TRI (Lý thuyết) còn Chính trị nghiêng về phần HÀNH (hành động, thực hiện) nên trong thời quân chủ vẫn thường diễn ra tệ trạng: “Minh quân’ (Vua sáng suốt) thì ít còn “Hôn quân” (Vua u tối) thì nhiều, “Thanh quan” thì ít còn “tham quan ô lại” thì nhiều! Ngay cả sang thời đại Dân Chủ vẫn có một số nước theo chế độ tài kiểu độc tài “Quân phiệt” độc tài “Giáo phiệt” kiểu Hồi giáo cực đoan” hay nền chính trị độc tài toàn trị Cộng Sản!!! Chính vì chính trị lấn át Văn hóa, bắt Văn hóa phải làm “công cụ” cho chế độ độc tài nên “Sứ mạng văn hóa” vẫn chưa được phát huy đúng mức… khiến nhà văn hào Pháp André Malraux đã phải than thở: “Thân phận con người” (Condition humaine) trải qua bao nhiêu thế kỷ vẫn còn bị tình trạng “Nô dịch”hay chính trị “Nô lệ hóa con người”

Tuy nhiên tình trạng tồi tệ này không thể là mãi mãi! Lịch sử phải sang trang….

Bước sang thế kỷ 21 nhân loại đã tiến sang thời đại “Toàn cầu hóa Kinh tế” “Toàn cầu hóa Chính tri” và “Toàn cầu hóa Văn hóa: nên vấn đề “SỨ MẠNG VĂN HÓA” cần phải làm sáng tỏ và tiến hành một cách dũng mãnh hơn. Chúng ta khẳng định “Văn hóa Việt Nam có sứ mênh “Chống cái Ác để mưu cầu Tư Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho Con Người và Xã Hội…

Văn hóa có sứ mệnh thiết dựng chế độ Dân chủ (Tam quyền phân lập) trên qui mô toàn thế giới, làm nền tảng căn bản tiến tới chế độ “Nhân chủ Quốc Gia” và “Nhân Chủ Toàn Cầu” không là lời lẽ “khoa trương” hay “cường điệu” mà là thông điệp Văn Hóa “Minh Nhiên”, “ Tự nhiên” vậy.

Chu Tấn

Tài Liệu Tham Khảo:

(1*) Vấn đề nông dân đầu thế kỷ 21- Nguyễn Minh Cần (Nguồn: Đài RFI ngày 7-09-2012)

(2*) Phỏng Vấn Ông Trần Quang Thành về “Công Đoàn Độc Lập” (Nguồn: Đài RFA)

(3*) Vua Nghiêu: (2337 TCN-2258 TCN )-Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia

(4*) Kim Định (Nguồn: Newvietart.com)

(5*) Tần Thủy Hoàng (259-TCN -210 TCN) –Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia.

(6*) Sự quan trọng của Thể chế chính trị trong đời sống con người- Chu Chi Nam-(Nguồn: Đối Thoại 08-6-2014).

(7*) Tại sao chúng ta phải thay đổi thể chế chính trị trước khi chống giặc ngoại xâm- Chu Chi Nam (Nguồn: Đối Thoại 08-6-2014)

(8*)Hue.edu./vn/vi/id129 Nhìn nhận thế nào về Toàn Cầu Hóa Văn Hóa- Đặng Thị Minh Phương…

(9*)Tiểu Sử Lý Đông A (1921-1947) Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia.

(10*) Tiểu Sử André Malraux (1901-1975) Bách khoa Toàn Thư Mở Wikipedia.

(11*) Thuyết Hiện Sinh qua Tư Tưởng các Triết Gia-Võ Công Liêm- (Nguồn: NEWVIETAR.COM ).




Truyện NHƯ ÁNG MÂY TRÔI – Đỗ Dung

NHƯ ÁNG MÂY TRÔI

Đỗ Dung

Sau lưng chiếc quan tài, một vách tường đá rêu phong, ánh sáng trắng như ánh sáng thiên nhiên từ trên trần cao dịu dàng tỏa xuống.  Tiếng nước chảy róc rách quanh những tảng đá rồi nhẹ nhàng rơi xuống mặt hồ. Xung quanh chỗ Tuyết Minh nằm đầy hoa. Căn phòng đầy hoa. Những vòng hoa huệ tây màu tím chen lẫn những bông hồng, cúc… trắng, tím nhẹ, phớt hồng. Tuyết Minh yêu màu tím. Em nằm gọn gàng trong chiếc áo dài màu hoa cà, mái tóc buông xõa, đôi mắt khép lại bình yên. Dáng em nằm thanh thản, êm đềm như nàng công chúa ngủ trong rừng của những truyện cổ tích thần tiên.

Lễ phát tang giản dị. Không Tăng Ni, không ban hộ niệm, không lời tụng kinh, không tiếng chuông mõ. Không Linh Mục, không Mục Sư, không một lời nguyện cầu hướng dẫn vong linh. May mắn còn có bàn thờ hoa tươi thắm, đèn nến lung linh. Khuôn hình em tươi cười, mờ ảo sau chiếc bình hương tỏa khói trầm thơm ngát. Những vòng khăn tang trắng tự quấn cho nhau.

Chín chị em gái mấy chục năm ríu rít chia sẻ ngọt bùi, bây giờ Tuyết Minh nằm đó, sau buổi lễ hỏa táng em tôi thành tro, thành bụi, chúng tôi không bao giờ trông thấy em nữa. Như có vết dao đâm nhói trong tim, đau đớn!

Tôi lặng lẽ chú tâm cầu nguyện cho em và cả tám chị em cùng đem hết tình thương nguyện cầu:

– Ngủ đi Minh, ngủ một giấc thiên thu bình yên. Em hãy giữ tâm an lành về nơi tiên cảnh. Ở đó không còn lo âu, bon chen, tính toán, không có đau đớn, khổ sở, muộn phiền.

– Cầu xin các đấng tối cao, Trời, Phật hay Thiên Chúa, Các Ngài hãy cứu vớt linh hồn em, hướng dẫn em về chốn Vĩnh Hằng, đời đời Hạnh Phúc trong vòng tay che chở của Các Ngài.

– Xin Tổ Tiên, Ông Bà nội ngoại, Bố, Anh Dũng, các Cô, Các Cậu linh thiêng hãy đón em, hướng dẫn, che chở em để em khỏi đi lầm đường, lạc lối.

Gia đình chúng tôi theo Phật Giáo. Bẩy tuần lễ cuối cùng, sau những suy sụp tinh thần và những đau đớn tột cùng của thể xác vì căn bệnh ung thư, em đã gặp một phái đoàn truyền giáo Tin Lành, những người bạn của thời sinh viên Berkeley. Em tin em được cứu rỗi, em đã gặp Thiên Chúa và em xin chuyển đạo. Rất tiếc là thời gian quá ngắn nên em chưa chuẩn bị kỹ càng và gia đình chúng tôi cũng chưa quen với tín ngưỡng mới của em nên có hơi lấn cấn trong phần nghi thức tang lễ.

Mẹ chúng tôi đến, chiếc xe lăn đưa mẹ đến bên chiếc quan tài. Mẹ ôm mặt em, vật vã:

– Con ơi, con có thương mẹ không con? Sao con đành bỏ mẹ mà đi! Sao mẹ lại khổ thế này? Hết chôn anh con bây giờ đến lượt con. Con có biết mẹ khổ như thế nào không hả? Đau đớn cho mẹ quá…con ơi!

Tiếng khóc than, tiếng kể lể của mẹ nghe thật não lòng.

– Mẹ, mẹ bình tĩnh để em ra đi cho thanh thản. Mẹ giữ gìn sức khỏe. Mẹ bình tĩnh đi… mẹ ơi…

Những giọt nước mắt lăn dài. Những tiếng khóc thút thít. Những tiếng nấc nghẹn ngào cố chận lại trong họng không để thoát ra.

Năm mươi năm về trước… Ngày mẹ tôi chuyển dạ, tôi đã đưa mẹ tôi vào nhà bảo sanh của bà Tiến ở xế cửa chợ An Đông. Ngồi ngoài phòng đợi tôi nghe rõ tiếng mẹ rên rỉ, xuýt xoa vì đau. Tiếng bà Tiến vỗ về:

– Cố lên… bà cố lên. Nào bà cố rặn đi nào…

– Sắp ra rồi. Cố nào… Rặn đi… nào… Ráng chút nữa. Ráng, ráng…

Và… Tiếng bà đỡ reo vui:

– Xong rồi! Con gái! Tài hoa lắm đây, con bé này có tràng hoa quấn cổ. Xinh đẹp, tài hoa lắm đây này.

Một lúc sau tiếng con bé khóc oe oe.

Khi bố mẹ tôi mới lập gia đình, một ông thày bói đã đoán là bố tôi sẽ có ba người con trai, không kể con gái. Bố tôi mong ba người con trai của ông sẽ anh dũng, tuấn tú, minh mẫn nên đã đặt sẵn bộ tên Anh Dũng, Anh Tuấn và Anh Minh. Anh Dũng khôn ngoan ra ngay đầu tiên nên bà và bố mẹ tôi yên chí có người nối dõi. Sau ba cô con gái, em Tuấn đã xuất hiện đúng lúc để bà khỏi mòn mỏi chờ mong. Tiếp theo em Tuấn, ba nàng Phương Nam, Quỳnh Mai, Anh Thư lần lượt ra đời. Khi mẹ tôi có mang lần này cả nhà yên chí chờ đón cu Anh Minh, tưởng là sẽ theo thứ tự như lần trước. Bụng mẹ tôi mỗi ngày một to ra nhưng không tròn cao mà xệ xuống. Lại thêm một bé gái nữa. Mẹ tôi thở dài: “Thằng Anh Minh đi lạc”. Bố tôi ngẫm nghĩ hay tại thằng nhỏ không thích tên Anh Minh nên bố tôi lấy tên Minh đặt cho con bé này: Đỗ Thị Tuyết Minh.

Hai năm sau mẹ tôi sinh thêm một bé gái cho bà và bố tôi một dây “Ngũ long công chúa” vì theo các cụ ngày xưa nếu sinh được năm cô con gái liền nhau thì bố mẹ sẽ làm ăn khấm khá. Năm con bé xinh như những con búp bê, từ con búp bê Nhật Bổn Phương Nam, mũm mĩm Quỳnh Mai, dịu dàng Anh Thư, mắt tròn xoe “Miko” Tuyết Minh đến con búp bê mắt nhung “Mi Cun” Thiên Hương. Sau Mi Cun thằng con trai thứ ba của bố mới đủng đỉnh ra đời, bố đặt tên em là Đỗ Anh Minh Duy. Cuối cùng mẹ tôi còn sản xuất cô út Đoan Thùy cho trọn vẹn một tá, mười hai người con.

Căn nhà luôn rộn rã tiếng cười đùa của một bày con nít. Chúng tôi đều mang dòng máu văn nghệ của bố, yêu văn chương, thi phú, múa hát, đàn ca. Nhà con đông, lương sĩ quan của bố tôi chỉ đủ cho những nhu cầu căn bản. Mẹ tôi phải tần tảo bán buôn để các con có cuộc sống no đủ, ăn uống phủ phê và hè được đi nghỉ mát Đà Lạt, Nha Trang hay Vũng Tàu… Bố tôi đặt làm một chiếc bàn vừa rộng, vừa dài bằng đá mài màu xanh ngọc láng bóng, chiếm gần hết phòng ăn làm chỗ cả nhà tụ họp quây quần. Những buổi trưa hè nóng nực, cậu Thắng hoặc em Hạnh đạp xe sang hãng kem ở đường Nguyễn Trãi mua cả kí lô. Để tiết kiệm việc rửa ly mẹ tôi đổ kem vào chiếc thố lớn để giữa bàn, cho mỗi đứa một cái muỗng, ăn chung. Mấy con búp bê bò cả lên bàn, chổng mông lên trần, chúi đầu quanh thố kem. Nghêu, sò, ốc, hến mẹ tôi cũng mua cả bao, luộc đầy một nồi rồi để cả nồi lên giữa chiếc bàn đá, cả lũ rào rào ăn như tầm ăn rỗi. Mỗi lần nhà đổ bánh xèo hay tráng bánh cuốn, mấy đứa nhỏ chia nhau chực, hễ chị đổ xong chiếc bành xèo hay tráng gần đầy đĩa bánh cuốn là bưng ngay lên chiếc bàn đá và chỉ một loáng lại có con nhỏ khác cầm chiếc đĩa không xuống bếp ngồi chờ. Buổi chiều sau khi tắm, ăn cơm tối xong cả lũ được túa ra chơi ở vỉa hè trước nhà, như một bầy cò trắng. Đồng phục nhà trường là quần áo trắng nên mẹ tôi mua cả cây vải trắng về may. Mặc sẵn ở nhà, sáng dậy đi học khỏi phải thay quần áo.

Bầy con của bố mẹ tôi cứ nhởn nhơ chơi và phởn phơ lớn. Cuối năm học nào cũng nghễu nghện vác phần thưởng về nhà. Đến tuổi dậy thì trước cửa đã có những cây si. Cả bầy lại rúc rich, ríu rít trêu chọc nhau. Những hỗn danh cho các chàng được thoải mái đưa ra, anh mũi heo, anh mù dở, anh sếu vườn, anh mập, anh lùn… Anh nào qua được cửa ải ông cụ chống nạnh gườm gườm là đến sự phán xét, chấm điểm của lũ “chào mào mổ khế”.

Ngày 30 Tháng Tư, năm 1975, tất cả đổi thay. Ông bố phải đi cải tạo. Hai cô chị lớn, Dung và Thuận đã lập gia đình, hai cậu con trai lớn và Vân Hạnh đi du học. Còn lại sáu đứa con gái đang tuổi lớn và trai út Minh Duy núp bóng mẹ. Mẹ tôi như gà mẹ xù lông che chở bầy gà con xao xác. Một mình mẹ phải chèo chống, đã vất vả càng vất vả hơn để các con dù không được ăn ngon nhưng không bị đói, dù không được diện đẹp nhưng không đến nỗi rách rưới tang thương. Đồ đạc trong nhà được bán đi dần dần nhưng chiếc đàn dương cầm và mấy cây đàn ghi ta mẹ tôi không đem bán vì các con còn gì sau những giờ lao động và vất vả giúp mẹ trong việc mưu sinh. Chút thì giờ rảnh rỗi mấy chị em vẫn tụ họp nhau, thêm mấy người bạn, nhất là mấy người con của Bác Giáo trong xóm cùng nhau ca hát. Anh Hai TDL làm đầu tầu lập Hội Ca Cầm.

Tưởng cứ yên bình như thế, dù nghèo vẫn tìm được những niềm vui trong hoàn cảnh thanh bần, đạm bạc. Đầu năm 1978 nhà mẹ tôi bị kiểm kê, họ niêm phong hết nhà cửa, đồ đạc và đuổi cả nhà đi kinh tế mới với tội danh gia đình ngụy, tư sản mại bản. Năm ấy Phương Nam đang học Nha từ trước năm 1975 nên được học tiếp, Mai và Thư đã xong trung học nhưng không được vào đại học, Tuyết Minh đang học lớp 11, Thiên Hương lớp 9, Minh Duy lớp 7 và Đoan Thùy mới lớp 4. Nhìn bầy con, mẹ bấm bụng thở dài. Tương lai các con đi về đâu. Muốn yên thân chẳng được yên thân. Chịu lam lũ cũng chẳng được làm người lam lũ! Mẹ tôi tìm đường đưa các con ra biển, từng đứa, từng đứa. Mẹ đành ở lại với bé út để nuôi bố trong tù. Nhờ may mắn và hồng phúc tổ tiên nên các em tôi đến bến bờ bình an và từ từ tụ hội.

Tuyết Minh mỏng manh, yếu đuối nhưng rất thông minh, xinh đẹp, tài hoa. Sang Mỹ em vừa tròn 18, bỏ lớp 12, vào thẳng Đại Học Cộng đồng. Chỉ sau hai năm em được nhận vào trường Đại Học Berkeley, nhẹ nhàng lấy bằng Cử Nhân và Cao Học về ngành Kỹ Sư Cơ Khí với hạng danh dự. Dù là một khoa học gia giỏi, giữ nhiều chức vụ then chốt trong sở làm nhưng em vẫn ham mê đàn hát. Tính nết rất lãng mạn và đam mê, khi hát Minh thường để hết tâm tư nên giọng ca rất truyền cảm. Ray rứt như “Nửa Hồn Thương Đau” (nhạc Phạm Đình Chương) hay tha thiết trong “Nghìn Trùng Xa Cách” (nhạc Phạm Duy), em được mệnh danh là con chim sơn ca của Trường Đại Học UC Berkeley.

Tuổi trẻ, tiền bạc, danh vọng, địa vị, nhan sắc, Tuyết Minh đều có. Bao chàng trai theo đuổi. Thế mà định mệnh trớ trêu em không được duyên may, phận đẹp. Đường thênh thang, mượt mà, hoa gấm em không đi mà bước vào những nơi chông gai, bụi rậm…Hạnh phúc gia đình tan vỡ, một nách hai đứa con thơ, vừa làm cha, vừa làm mẹ, em đã mạnh mẽ, can đảm, dùng nghị lực của người thiếu phụ trẻ nuôi dậy các con.

Vì công việc sở Minh được đi khắp thế giới, từ Âu sang Á, từ Mỹ sang Phi. Con người nhạy cảm và tinh tế nên Minh đã hấp thụ được tinh hoa của nhiều nền văn hóa. Nghiên cứu, tìm hiểu từ các ngành nghệ thuật, những phong tục, tập quán địa phương đến ngay cả văn hóa ẩm thực. Trong những buổi tụ họp đại gia đình Minh luôn là đầu bếp chính. Minh nấu ăn rất ngon, trình bày thật khéo và có tài đánh trống lảng để khỏa lấp chuyện thật giỏi. Khi xót xa về số phận long đong của em, mẹ hoặc các chị vừa đề cập tới là em đã vội vàng:

– Mẹ xem con rút xương con gà hay không này!

Hoặc:

– Cái món Prime Rib này chị nhớ bỏ một chút rượu vang nha.

Hí hoáy ngồi viết công thức cho chị rồi cười:

– Đừng quên cho mấy giọt nước mắm… hí hí.

Dù là “single mom” Minh vẫn có nhiều người tử tế muốn chắp nối nhưng nếu hai thằng con trai tỏ ý không bằng lòng thì em phải chấm dứt ngay sợ các con buồn. Mãi đến khi các con khôn lớn em mới kết bạn với “ Anh hàng xóm”, được vài năm hạnh phúc, sanh thêm thằng con trai thứ ba thì tai ương ập xuống, em tôi mắc bệnh ung thư.

Hai chị em cùng bị bệnh ngặt nghèo nên đồng bệnh tương lân. Các con tôi đã trưởng thành, ba đứa con của Minh còn quá nhỏ nên lòng em trĩu nặng âu lo. Minh muốn khỏi bệnh cho nhanh nên đồng ý với bác sĩ dùng chương trình hóa trị ngắn nhất, thuốc liều mạnh nhất nên bị thuốc hành tả tơi. Các cháu ở gần phải đến trông nom dì và giúp dì những lúc dì bị ói mửa. Mái tóc dài mượt như nhung rụng dần, còn lại cái sọ tròn xoe, nhẵn bóng. Chị em đến thăm xót xa. Mẹ tôi đau đớn. Đầu trọc trông em như một ni cô, vẫn trẻ, vẫn đẹp. Minh bị bệnh tất cả anh chị em lao xao, dù đất nước mênh mông, mỗi người đều có gia đình riêng, có công việc riêng để lo toan nhưng hễ nghe tin chẳng lành là anh chị em lại tụ về thăm hỏi, chia sẻ.

Sau một năm làm “chemo” và “radiation” Minh lành bịnh, đi làm trở lại, vẫn lên sân khấu hát trong những dịp được mời để gây quỹ từ thiện. Mái tóc lại dài mượt mà như xưa.

Thảnh thơi được năm năm thì bệnh cũ tái phát.  Ung thư vào tới xương. Thương làm sao… Nhìn em, nhìn chị… nghẹn ngào…  Bác sĩ nói: Sáu tháng! Biết làm gì hơn là cầu nguyện.

– Tại sao Minh khổ vậy chị?

Nghe Minh hỏi, biết trả lời sao! Mẹ tôi đến thăm em thường và nói em lập bàn thờ Phật, niệm Phật Quan Thế Âm ngài sẽ phù hộ cho tâm hồn thanh thản. Minh tự tay xây lấy một cái am nhỏ sau vườn làm nơi thờ Phật, hàng ngày em cũng thỉnh chuông và thắp nhang nguyện cầu. Như có sự màu nhiệm, sau khi giải phẫu cắt bỏ gần hết mấy cơ quan nội tạng, Minh ra khỏi bệnh viện là đi làm lại ngay, lại lo toan, tính toán, sắp xếp cho tương lai ba thằng con. May mắn Minh gặp ông thày châm cứu giỏi nên cầm cự được hơn ba năm.  Nhưng sức người có hạn, ung thư tàn phá xác thân em, hệ thống miễn nhiễm không còn, gan hư, thận hỏng, xương xốp, tế bào ung thư lên đến óc… Thương quá Minh ơi… những cơn đau hành hạ xác thân em.

– Tại sao Minh khổ, chị ơi tại sao Minh khổ vậy hả chị?

Minh có biết chị buốt ruột như thế nào khi nghĩ đến nỗi đau đớn của Minh không! Đã nhiều lần chị nói với Minh tất cả đều do nghiệp lực, những nghiệp lực từ đời đời kiếp kiếp nào đó mình đã vướng phải nên nó đẩy đưa ra những chuyện xảy ra ngoài ý muốn của mình. Hãy vui vẻ mà trả nghiệp và thảnh thơi mà sống, quẳng gánh lo đi, buông bỏ hết đi, vui vẻ mà sống.

Minh đã gào lên:

– Tại sao lại vô lý như vậy hả chị? Vậy mình phải trả đến bao giờ mới hết nghiệp của mình? Kiếp sau lại khổ như thế này nữa sao?

– Nếu mình không tạo thêm nghiệp xấu, mình không cố tình làm hại ai mà cố gắng làm những việc tốt lành, chăm làm việc thiện thì nghiệp cũ từ từ sẽ trả dứt. Điều cần nhất là mình giữ tâm thanh thản, buông bỏ hết hệ lụy ở đời. Những chuyện không tốt xảy ra mà mình không cố ý là do nghiệp đưa đẩy còn nếu mình cố ý làm việc xấu thì đó chính là mình tạo thêm nghiệp cho mình.

Một hôm mấy chị em đến thăm Minh, em gầy quá chỉ còn da bọc xương nhưng nét mặt rất vui. Một con cá bông lau thật to nướng vàng thơm phức.

– Ốm đau mà còn bầy vẽ thế này!

– Sáng nay Minh thấy khỏe lắm nên ra chợ mua cá về nướng. Cá tươi nguyên còn bơi trong hồ đó chị.

– Chị không có can đảm chỉ con cá, họ vớt lên đập cho chết! Chị mua cá đông lạnh thôi.

– Nó đã ở trong bể cá ở chợ rồi, mình không mua cũng có người khác mua. Số nó tới ngày chết là nó phải chết thôi chị ạ. Này chị ăn thử xem, cá chắc mà ngọt thịt lắm, khác hẳn cá đông lạnh.

Con cá thật to, đĩa rau sống tươi xanh bên đĩa bún trắng nõn, mắm nêm pha rất ngon, Minh làm bếp thật khéo. Không hẹn trước mà cũng có mặt cả Thuận, cô em liền tôi và Thùy, cô em út. Bốn chị em và tài xế của tôi là anh rể cả quây quần gói cá chấm mắm nêm và ăn đậu hủ chiên xả ớt do cô Thùy đem đến. Vừa ăn vừa ôn lại chuyện ngày xưa chị em thân thiết, đùa nghịch. Minh kể chuyện phá đám mấy anh chàng theo chị PN. Có anh chàng viết tình thư một lá dài như sớ táo quân lọt vào tay Minh, em đưa cho bố, bố cho ngay xuống ghế ngồi lên. Cứ thế kể lại cho nhau nghe chuyện này chuyện kia, chuyện của thời trẻ con, chuyện của thời con gái.

Tuyết Minh đã bước lên chiếc thuyền con lênh đênh vượt biển.  Sang đến đây em đã chịu khó học hành, đã thành công trên con đường học vấn cũng như vững vàng trong sự nghiệp trên đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này nhưng số phận long đong, em không được duyên may, phận đẹp, rồi em lại vướng phải căn bịnh hiểm nghèo.  Thật tội cho em!

Khi chia tay ra về tự nhiên Minh ôm các chị và bật khóc: “Hồi này Minh nghĩ đến các chị em nhiều, Minh mong gặp tất cả mọi người”. Lên xe nhìn dáng gầy còm em đứng nhìn theo mà không cầm được nước mắt.

Ngày 23 Tháng Bẩy, năm 2011, sinh nhật 50 của Minh, các chị em hẹn nhau trở về, chia việc cho nhau. Các cháu gái lớn gần gũi dì hơn, Khanh, con của Hạnh hễ cứ rảnh lại đến thăm và ngủ lại với dì. Bạn bè xa gần kéo về dự ngày sinh nhật cuối cùng của em. Tuyết Minh mặc chiếc áo đầm trắng nằm đó, leo lét như ngọn nến trước gió, cố gắng mỉm cười với mẹ, với chị em, bạn bè. Cậu Thắng từ Oklahoma cũng bay vội sang thăm.

Chỉ hai ngày sau, 25/7 /11 Tuyết Minh đã trút hơi thở cuối cùng trong sự yêu thương của toàn thể gia đình. Chúng tôi ở bên em, bất lực nhìn em, hơi thở yếu dần rồi lịm tắt. Không khóc, không khóc…bảo nhau không được khóc. Nước mắt chảy ngược vào trong. Bảy giờ chiều, giờ định mệnh.

Em mất ngày Thứ Hai, Chủ Nhật là ngày đám tang em.

Các anh chị em, bạn bè lên đọc tiểu sử, đọc điếu văn, nhắc kỷ niệm. Nơi tổ chức nghi lễ kiến trúc như một thánh đường, trần cao vút, những khung cửa sổ kính trang trí đẹp mắt, dài, cao, vuốt nhọn lên tới trần, thanh thoát. Tôi không tin ở mắt tôi. Tôi như người mộng du. Tôi chưa chấp nhận sự thật. Em tôi chết thật rồi sao. Vô lý!

Ngày hôm sau, trước khi đưa em đi, nhóm truyền giáo Tin Lành tới hát thánh ca. Rồi cả nhà đứng quanh chiếc quan tài. Nắp hòm đóng lại. Tim nhói đau. Vĩnh biệt em. Mãi mãi không bao giờ trông thấy em nữa. Đoàn người lặng lẽ đi. Tám chị em gái đi hai bên chiếc quan tài. Trong đầu tôi: Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát…tiếp tục niệm hồng danh Phật. Chiếc hòm đưa vào cửa lò thiêu.

Một cái bấm nút. Lửa bùng lên… Nam Mô A Di Đà Phật.

Vĩnh biệt em!

Em như một áng mây tới đây và em đã trở về nơi nguyên thủy.

Đỗ Dung




VIẾT VỀ NHỮNG TAM GIÁC THIÊN THẦN – Mai Thanh Truyết

Viết về những tam giác thiên thần

Sáng nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ tức khoảng 5 giờ sáng. Ngồi trước laptop. Tự dưng nghĩ về những hình ảnh thật xa xưa, trên 60 năm qua, hình ảnh những chiếc áo dài thướt tha xếp hàng, đôi khi có “chen lấn” trước một chiếc cửa sổ nhỏ ở Viện Đại học Saigon nơi công trường Dân chủ tức Công trường Con Rùa đường Duy Tân, Saigon. Đây là nơi các chị, dĩ nhiên là cũng có các anh, nhưng tôi nào chú ý đến đâu(!). Các chị là ai? Là những Cô Tú vừa đậu xong tú tài II đến đây để ghi danh vào các đại học ở Saigon.

Nhìn những nét mặt rạng rỡ, tươi vui có điểm thêm một nét “tự tin” vào tương lai trên mỗi gương mặt dù khác nhau qua những chiếc áo dài thướt tha. Và dĩ nhiên cũng có những chiếc jupe muôn màu tạo thêm nét chấm phá của các Cô Tú bên Marie Curie, Couvent, Regina, hoặc JJ Rousseau nữa…Có thể nói tôi có “cái nhìn” khác nhau so với các bạn trai khác.

Khác nhau ở chỗ:

  • Các bạn tôi chỉ nhìn thoáng qua tổng thể các chị để rồi tập trung vào “ngực tấn công và mông phòng thủ”. Xin nói trước là những từ ngữ trên chưa hề có trong đầu thập niên ’60 của thế kỷ trước, mà chỉ xuất hiện vài năm trở lại đây thôi.
  • Còn tôi, chỉ chăm chú vào những “tam giác thiên thần” như tựa đề của bài tản mạn nầy thôi.

Mà tam giác thiên thần là gì? Ở đâu trên người của các chị?

Xin đừng nghĩ bậy bạ các bạn ơi! Ở tuổi hoa niên của thời buổi chúng tôi lúc bấy giờ rất thánh thiện, không chất chứa trong đầu óc những hình ảnh “đen tối” với những ý nghĩ thầm kín giữa đàn ông – đàn bà đâu. Xin nói ngay để bạn đọc khỏi…lùng bùng lỗ tai (!) là tam giác thiên thần chính là nơi hội nhập giữa lưng quần và kẽ hở bên hông chiếc áo dài của các chị đó! Nơi đây để lộ ra một mảng “thịt” trắng…hoàn toàn không có ý gợi dục già cả, mà nói lên một sắc thái đặc biệt có thể thể hiện ra cá tính (?) của từng chị một. Tôi nghiệm ra như thế!

Từ hình tam giác “đều” (ba cạnh bằng nhau) nhỏ nhắn, cho đến tam giác “cân” (hai cạnh bằng nhau thôi) với “đường huyền” rộng hẹp khác nhau! Đôi khi cũng có những tam giác…không giống con giáp nào cả mà tôi không biết mô tả là sao, chỉ trưng hình ra cho các bạn nhìn mà thôi.

Viết đến đây, tôi cũng biết trong đầu các bạn tôi thời bấy giờ lại có ý nghĩ …lợn cợn rồi đây.

Nhưng không sao, tôi sẽ kéo các bạn về thực tế của những tam giác thiên thần nầy. Với tôi, chính là vì ý nghĩ thiên thần cho nên “chữ nghĩa” mới chạy thông suốt tự do trên xa lộ mạng như thế nầy suốt buổi sáng. Cái đẹp dưới nhản quan của một người bị méo mó nghề nghiệp là phân tích “vi mô” (lại dùng từ ngữ của phía bên kia rồi), phân tích từng nguyên tử của hóa học…cho nên tôi nhìn cái đẹp không giống ai cả!

Đó là ánh mắt nai vàng ngơ ngác, đôi mắt lá răm làm người “được ngó” chết sửng!

Đó là cái miệng chưa nói đã cười mời mọc!

Đó là đôi môi chim chím nhưng thầm nhắc rằng …đã “chấm” rồi đó;

Đó là vùng eo thon thả hé lộ… tam giác thiên thần thể hiện một vùng trắng ngần tinh khiết!

Sau cùng, đó là cái duyên của một người con gái!

Chính cái điểm sau cùng tạo nên sắc thái đặc biệt của mỗi thiếu nữ. Cái duyên không định hình được, không thể phân tích hay mô tả mà chỉ có người có cầu nối Van Der Waals hóa học   mới kết dính (binding) được người nữ mà thôi. Duyên là vô hình và hữu hình. Bạn nào hiểu được thì hiểu. Không hiểu thì chịu thôi!

Tôi cũng không quên viết tiếp là hiện tại tôi không còn “tuổi” để ngắm những tam giác thiên thần trên hay không còn vui thú khi ngắm nhìn những tam giác thiên thần của thời hoa niên nữa. Tất cả chỉ vì và có lẽ văn minh đã đánh mất đi hình ảnh cách đây gần 60 năm qua thời niên thiếu rồi.

Số là, chiếc áo dài ngày xưa chỉ cài “nút bóp” cho nên tam giác thiên thần hiện ra trọn vẹn, tinh khiết và đơn sơ. Còn ngày nay, áo dài của các chị được kết nối hai tà áo bằng cái “fermeture” vô duyên, đôi khi làm mất đi tính tự nhiên và hồn nhiên của tam giác thiên thần khi các chị sơ ý để đầu dây fermeture đưa ra trên đỉnh của tam giác. Tam giác thiên thần của tôi bị ô uế đi. Rất tiếc.

Viết đến đây tôi chợt nghĩ đến một anh bạn già Quý Mùi của tôi trên FB tên HL, hình ảnh cái tam giác thiên thần của anh ngày xưa đi lấy chồng, và sau bao nhiêu năm trôi qua, tam giác thiên thần của anh đã vào miên viễn rồi mà anh vẫn còn ray rứt thắc mắc tự hỏi: “em không ngờ ta lớn tuổi còn yêu – nên ỷ lại chẳng phòng thân thiếu phụ – và bữa đó có một người lãnh đủ – vầng trăng nghiêng sụp lặn mất sau đồi.” Tôi cũng thuộc loại “nòi tình” nhưng lại chịu thua cách “yêu và nhớ” của anh bạn già nầy.

Không những thế, anh còn nói …vói thêm là:”giai nhân nan tái đắc hề – nên ta cứ phải tình si một đời – dặm ngàn không thể người ơi – trần gian thì sắp hết thời trần gian – ta nhen đóm lửa đêm trường – soi cho biết một cánh hồn ở đâu – em nghiêng mái tóc âu sầu – bay không ngớt cõi đời nhau muộn màng – đành nan tái đắc tình nhân – ơn nhau khép mắt xin đừng ngó theo…”

Viết đến đây, nhận biết có lẽ tam giác thiên thần của anh bạn già của tôi “thiên thần” hơn tôi, cho nên dù người yêu của tuổi hoa niên đi lấy chồng rồi, đi vào bờ giác rồi, mà anh vẫn tiếp tục “Tro bụi bám mảnh quần hồng – Ngoảnh nhìn lại nhớ.. bóng hồng ngày xưa…” Tôi chịu thua là phải rồi.

Thưa các bạn,

Bài tản mạn về những tam giác thiên thần của tôi hôm nay đến đây là hết (chương trình Tùng Lâm). Viết đến đây, tôi hỏi “tôi còn tỉnh táo” hay là đã bắt đầu đi vào tuổi Alzheimer, chỉ biết nhớ chuyện xưa mà quên đi chuyện nay?

Tôi chưa có câu trả lời, nhưng chắc chắn là tôi …viết những dòng tản mạn vui trên đây để cho “bên thắng cuộc” thấy là hiện tại tôi không còn cổ súy và chiến đấu cho công cuộc…Chống Tàu Diệt Việt Cộng nữa, mà chỉ nhằm mục đích “mua vui” trên mạng facebook “mới” của tôi mà thôi. (Xin thưa, FB cũ xây dựng gần 10 năm bị đánh sập chỉ vì tôi làm liên tục công việc vừa nói trên trong hơn 30 năm).

Chắc không đó???

Nghèo mà ham???

Mai Thanh Truyết

Viết trong cơn Alzheimer – 11-8-2021

Ghi chú: Bạn Hoàng Lộc thân mến,

Thành thật xin lỗi về việc trích thơ của bạn mà không xin phép trước cũng vì bạn tuy không nói ra nhưng chắc bạn (?) cũng đã vì những tam giác thiên thần mà “nhả” ra những bài thơ lai láng tình si từ tuổi hoa niên cho đến giai lão…78! Bạn vẫn:”ai biểu cứ thương một lần hạnh ngộ – áo em bay không ngớt gió trong đời – ta khóc ngất bao lần sau bóng áo – chỉ mơ hồ nghe được chút thơm rơi – biền biệt mãi những gì ta tưởng gặp – ngày điêu linh nắng rớt cuối con đường – em yêu dấu, em đã từng ngoảnh mặt – thì sá gì dâu biển phía sau lưng…”

Bạn làm tôi nhớ đến “Chúa nhật nầy Trẫm nhớ Ái khanh không? Của nhà thơ Nhất Tuấn vừa mất tuần trước đây.

Còn phần tôi, những tam giác thiên thần ngày xưa tôi đã bỏ vào “spam” rồi. Làm như thế để cho chứng Alzheimer sẽ phải chậm phát triển lại. Tôi chỉ còn TÔI!

Thưa các Bạn,

Nếu chứng Alzheimer của tôi chậm phát triển, tôi sẽ cố gắng viết vài hàng về chiếc áo bà ba với cái quần lãnh đen óng ánh xanh đậm do thuốc nhuộm từ hột mặc nưa (Châu Đốc), một loại phẩm nhuộm mà tôi tình cờ có dịp dự phần vào việc sản xuất sau 1975 khi còn kẹt lại.  Đây cũng là một hình ảnh thiên thần của thời hoa niên của tôi. Hơn 60 năm qua sau thời mới lớn, đến bây giờ tôi mới hiểu sâu hơn và thấm được tình tự dân tộc của những người dân mộc mạc, chất phác của miền Đồng Bằng Sông Cửu Long miền Nam. Quê hương ơi! Quê hương còn đó không?




TẠI SAO HỌ HỨA NHIỀU THẾ – Kiều Mỹ Duyên

TẠI SAO HỌ HỨA NHIỀU THẾ?

KIỀU MỸ DUYÊN

Lời hứa- thứ cân đo sức nặng lời nói của một con người.

          “Một lần bất tín vạn lần bất tin”, ông bà mình thường nói như thế. Một lần thất tín, nói không giữ lời thì vạn lần người ta không tin. Chữ tín vô cùng quan trọng, tiền đến rồi tiền đi, ở xứ Mỹ làm ra tiền không khó, ai cũng có thể làm ra tiền, nhưng phải có chữ tín, mất chữ tín là mất tất cả. Có người nói mất tình yêu là mất tất cả nhưng theo tôi người đến rồi người đi là bình thường, nhưng chữ tín vô cùng quan trọng, mất chữ tín là mất tất cả. Thời xưa, ông bà mình thường dạy con cháu hãy xem trọng chữ tín hơn cả tánh mạng của mình. Mình hứa với ai phải giữ đúng hẹn, hứa gặp ai cũng phải đúng giờ. Tôi rất phục những người giữ chữ tín, hứa làm điều gì phải thực hiện cho bằng được, hứa gặp ai phải đến đúng giờ, đến trước giờ hẹn. Chúng tôi nhớ ngày xưa học ở Úc, nghỉ hè chuẩn bị về nước, cô giáo dễ thương của chúng tôi mời đến nhà ăn tiệc chia tay. Vừa ngừng xe trước nhà cô giáo, chúng tôi thấy có 1 người Nhật học cùng lớp chúng tôi ở phòng lab đang đứng trước nhà. Tôi hỏi:

          – Sao ông không vào nhà cô giáo?

          Người Nhật trả lời:

          – Tôi đến trước giờ, tôi đợi còn 5 phút nữa tôi sẽ vào là đúng giờ.

          Người Nhật rất giữ chữ tín, hứa điều gì thì làm điều đó. Cách chào hỏi của họ cũng rất dễ thương, cúi đầu thật thấp với cô giáo. Họ rất lễ phép và tôn trọng thầy cô giáo của mình, với bằng hữu cũng vậy. Người sinh viên Nhật này là con của người em Nhật Hoàng hiện tại, được giáo dục từ nhỏ, thuộc dòng dõi Hoàng gia Nhật nên cung cách của vua chúa có khác?

          Từ nhỏ tôi đã được gia đình và cô giáo huấn luyện phải đúng hẹn đã quen rồi, cho nên thấy ai xem thường chữ tín, một lần, hai lần, sau đó tôi sẽ không giao thiệp nữa. Làm việc trong hội từ thiện quốc tế lâu năm, người già, người trẻ trong Hướng Đạo, hay các hội từ thiện quốc tế đều giữ chữ tín, nói việc gì với ai đều phải ghi chép trong sổ hẹn để còn nhớ. Trong những lớp huấn luyện chuyên viên địa ốc cũng vậy, tôi thường khuyên các chuyên viên của tôi phải hết sức thận trọng lời nói của mình. Nói chuyện với ai phải ngồi xuống bàn, phải ghi chép cẩn thận, nhất là những lời hứa của mình. Chỉ cần trễ hẹn một lần là mất khách hàng, chỉ cần trễ hẹn vài lần là mất bằng hữu, nhất là hứa giúp ai việc gì là phải thực hiện cho bằng được.

          Nhiều người than phiền với tôi:

          – Sao đất này họ “Hứa” nhiều thế?

          “Hứa” nghĩa là hứa lèo, hứa rồi không làm, hứa rồi biến mất. Bây giờ thực tế lắm chứ không lãng mạn như ngày xưa:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân…

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

Tôi sẽ trách- cố nhiên! – nhưng rất nhẹ

Nếu trót đi, em hãy gắng quay về…

( Ngập ngừng- Hồ Dzếnh)

          Bây giờ hẹn mà không tới thì đừng nhìn mặt nhau, hẹn là phải tới, không tới được thì phải gọi điện xin lỗi, nhắn tin hoặc viết email xin lỗi vì có việc không tới được.

Đừng quá tin vào những lời hứa, vì không phải ai hứa mà họ cũng sẽ làm.

          Người làm thương mại chữ tín phải trên hết, hơn cả sinh mạng của mình, thất tín vài ba lần kể như tiêu cuộc đời, đừng hứa nhiều quá mà không làm được. Nhiều người làm thương mại mà là họ Hứa (hứa lèo) sớm muộn gì cũng bỏ nghề, và cũng không ai muốn giao thiệp với người có bệnh hứa mà không làm.

          Ở bất cứ nước nào, đừng hứa nhiều mà không làm thì dễ dàng thành công ở thương trường, và đừng nói nhiều, nói đủ để người nghe khỏi chán, nhất là đừng nói về mình, lắng nghe nhiều càng tốt. Người biết lắng nghe và hiểu người khác thì dễ thành công hơn, nhưng ở đời này có được bao nhiêu người biết điều này. Học ở trường, người nào cũng học giống nhau nhưng khi thực hành có ai làm được những gì thầy cô đã dạy mình?

          Người nói nhiều mà không có kiến thức, nói thiên thu bất tận rồi không biết mình nói thứ gì? Nói nhiều là bệnh cô đơn, nói như chưa bao giờ được nói, có người còn lẩm bẩm 1 mình, thì nên đi bác sĩ để bác sĩ giải thích bệnh của mình như thế nào? Theo thống kê, người bệnh tâm thần ở xã hội này chiếm 20%, bệnh chưa tới độ trầm trọng phải nằm bệnh viện, nhưng nếu người bệnh biết mình bị bệnh, lo chạy chữa thì có thể khỏi, nhưng nếu để bệnh trầm trọng thì hết thuốc chữa.

          Nhiều người họ Hứa, Hứa rất nhiều mà chẳng làm được bao nhiêu. Tôi nhớ lâu lắm rồi, một cựu Bộ Trưởng thời Việt Nam Cộng Hòa có 1 cô em gái. Khi tôi hỏi thăm em gái của ông thì ông trả lời em của tôi bình thường, sau đó tôi hỏi thăm em rể của ông thì ông nói em rể của tôi là họ Hứa. Nói xong ông cười, rồi ông giải thích:

          – Cô biết tại sao tôi nói em rể tôi là họ Hứa không? Chuyện là như thế này, trước khi cưới em gái tôi, em rể tôi nói: “Anh sẽ lo cho em hết cuộc đời này. Nếu em không thích đi làm thì em ở nhà đi học, mọi việc có anh lo.” Thế rồi sau khi cưới em rể tôi (anh này cũng từng là luật sư), em gái tôi biết rằng chồng của mình nợ ngập đầu, nợ credit card, nợ xe, nợ tiền học. Em gái tôi lo trả nợ cho chồng, phải làm thêm ngày thứ bảy, chủ nhật và cả ngày lễ.

          Cho nên người nào hứa nhiều quá quý vị đừng tin nhé. Người nào hứa nhiều thì cũng là người mắc bệnh, bệnh hứa, bệnh này rất khó trị, vì đã vào máu của họ rồi.

Thứ đắt nhất bây giờ là NIỀM TIN

Thứ rẻ nhất bây giờ là LỜI HỨA

          Người nào thường hay trễ hẹn, hứa rồi không đến, hứa làm việc gì đó rồi không làm, chỉ một lần thôi cũng đừng tin. Uy tín cần nhất trong cuộc sống, người không giữ được uy tín của mình kể như xong cuộc đời này. Sống trong xã hội mà không ai tin mình, kể cả ông bà, cha mẹ, anh chị em không tin mình, thì như người chết, sống thêm cũng vậy thôi.

          Ông bà mình nói của rẻ là của bèo, hứa nhiều mà chẳng làm được bao nhiêu? Cho nên khi nghe thiên hạ hứa nhiều quá thì đừng tin, nhất là vấn đề tình cảm. Tình cảm chân thật không thể sống vì lời hứa mà không bao giờ thực hiện. Anh sẽ yêu em suốt cuộc đời này, suốt đời này anh chỉ yêu mình em thôi. Từ từ rồi sẽ biết, vì không ai biết được ngày mai. Yêu thương thề non hẹn biển, sống chết có nhau, hỏi có bao nhiêu người giữ được lời thề? Sự thay đổi của con người trong tức khắc, cũng như sự sống của con người thấy đó rồi chết đó. Có bao nhiêu người sống lâu trăm tuổi, có bao nhiêu người giữ được lời hứa của mình, lòng người thay đổi nhanh lắm. Người nào có bệnh “hứa”, nói dối, nói láo, hứa lèo một lần thôi, không có lần thứ hai.

Một sự từ chối rõ ràng luôn luôn tốt hơn một lời hứa giả dối…

          Người nào có bệnh hứa, hứa nhiều mà làm chẳng bao nhiêu thì suốt đời không thể khá được. Tiền đến rồi tiền đi, nhưng những ở xung quanh ta vẫn nhớ những lời hứa lèo của ta thì kể như tiêu cuộc đời. Nếu người nào rủi bị bệnh hứa thì nên đến bác sĩ tâm lý, chữa trị thế nào cũng sẽ khỏi nhưng phải kiên trì. Có bệnh thì phải chữa, tự mình chữa không được thì phải nhờ đến bác sĩ tâm thần, bác sĩ có kinh nghiệm sẽ tìm mọi cách để chữa trị cho bệnh nhân. Có người có bệnh hứa lèo, nhưng họ nói một cách tự nhiên như thật, đã nói là bệnh mà, người bị bệnh không biết mình bệnh, tội nghiệp thật?

          Xin chúc những người bị bệnh hứa lèo sẽ chữa được bệnh để sống vui vẻ với người thân của mình. Nếu người nào biết người sống xung quanh mình đang mắc bệnh Hứa thì nên khuyên họ đi bác sĩ, nếu để bệnh trầm trọng thì phiền lắm, phiền cho gia đình và phiền cho người xung quanh của mình.

          Người nào mắc bệnh tâm thần hay bệnh hứa chỉ cần nói chuyện 5 phút là biết ngay, hy vọng bác sĩ tâm thần giúp người bệnh hứa khỏi bệnh. Mong lắm thay.

Orange County, 9/8/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




ĐI TÌM NGƯỜI KHÔNG NHÀ CHO QUÀ -Kiều Mỹ Duyên

Cho nhiều hơn nhận thì sẽ được nhận nhiều hơn cho.

          Chuyên viên địa ốc ở văn phòng Ana Real Estate rất có lòng, trong suốt thời gian dịch bệnh cùng mọi người đi làm công việc xã hội không ngừng nghỉ. Tiền vào hay không không biết, nhưng làm việc từ thiện vẫn làm. Mọi người làm việc xã hội theo cá tính của mình, riêng chuyên viên địa ốc Tuấn Lưu quanh năm suốt tháng đều đi cho người không nhà thực phẩm: bánh mì thịt, bánh mì sandwich, nước lọc, nước ngọt, nước cam, nước chanh, sữa tươi, bánh ngọt, kẹo, chocolate, trái cây, v.v.

          Mục sư David Huỳnh nhắc đến Tuấn Lưu và khuyến khích nên tham gia chiến dịch cho quà của nhà thờ. Tuấn thường đi một mình thăm người không nhà và cho quà, đôi khi đi với vài bằng hữu phát quà từ Anaheim, Santa Ana, Garden Grove, quanh Little Saigon. Tuấn thường đi từ 6 giờ chiều đến 9- 10 giờ tối, phát hết quà trong xe, Tuấn mới về. Xe của Tuấn lớn, rộng rãi, thực phẩm để đầy băng sau và trong cốp xe.

          Tôi thường nói với Tuấn:

          – Cô sẽ đi phát quà với con.

          Nhưng vào các buổi chiều, tôi thường đi thăm những người già ở viện dưỡng lão hoặc ở xung quanh Little Saigon, chưa có dịp đi cùng Tuấn Lưu.

          Chiều thứ bảy vừa qua, chúng tôi cũng đã sắp xếp đi tặng quà cùng Tuấn Lưu. Phái đoàn gồm có Tuấn Lưu, Phượng Lê và con gái Phượng Lê là Lê Bảo Vy. Bảo Vy hiền lành, nụ cười rất dễ mến, có đai đen võ Karate, dáng rất đẹp. Cô gái nào học võ dáng cũng rất đẹp, nhìn Bảo Vy ít ai biết cô gái xinh đẹp này có mặt thường xuyên ở võ đường. Hai chị em của Bảo Vy đều yêu thích võ thuật và thích làm việc từ thiện.

          Phượng Lê nói:

          – Thưa cô, cháu đang bận, nhưng con bảo đi cho quà người không nhà, cháu đi ngay.

          Tôi không ngờ thành phố Garden Grove, Westminster, có quá nhiều người không nhà, trong đó có người Việt Nam. Ngày xưa, tôi đi theo phái đoàn Phật tử của chùa Bảo Quang hàng tuần cho cơm người không nhà ở công viên gần tòa án Santa Ana, không bao giờ tôi gặp người Việt Nam đi xin cơm. Tôi rất hãnh diện về người Việt Nam tị nạn, tôi thường nói với bằng hữu ở khắp nơi trên thế giới về đây thăm viếng bà con rằng người Việt Nam tị nạn của chúng tôi đi phát cơm, đi cho cơm chứ chúng tôi không đi xin cơm. Đi đến đâu mà tôi biết có những hội từ thiện tổ chức cho cơm cho người không nhà là tôi tham gia ngay. Đi phát cơm cho người không may mắn để nghe tâm sự của họ tại sao họ không nhà, tại sao họ ở ngoài đường?

          Mấy chục năm trước, khi tôi đến San Jose thăm bằng hữu: nữ ký giả Phan Trần Mai, Lê Diễm, Bích Loan và hội ái hữu Trưng Vương, được bằng hữu đưa đến thăm cựu đại tá Không Quân Vũ Văn Lộc, chúng tôi được mời đi phát cơm cho người không nhà. Ở đó chúng tôi gặp rất nhiều người đến lấy cơm. Tôi gặp một gia đình mà tôi nhớ mãi khuôn mặt xinh đẹp của người phụ nữ Mỹ da trắng. Bà ngồi ở bàn và đọc sách triết, trong lúc những đứa nhỏ xung quanh và ông chồng đi lấy cơm. Bà có bằng Master, chồng là kỹ sư điện. Ông bà thất nghiệp vì công ty đổi đi tiểu bang khác, các con ông bà đang học, nên ông bà không đi theo công ty của họ, đành thất nghiệp. Ông bà trú ngụ trong nhà từ thiện, chờ đi xin việc làm. Những đứa nhỏ hiền lành ngồi bên cạnh mẹ.

          Ở miền Bắc và ở miền Nam California, tôi đã từng tham gia cho cơm của chùa Bảo Quang 26 năm vào trưa thứ ba hằng tuần, chưa bao giờ tôi gặp người Việt Nam cho cơm cho người không nhà.

          Thứ bảy ngày 24/7/2021, đi cùng phái đoàn cho thức ăn cho người không nhà với Tuấn Lưu. Vừa lên xe, Tuấn Lưu nói ngay:

          – Homeless nhiều lắm cô ơi.

          Xe chạy vừa qua 3 ngả tư, Tuấn quẹo xe vào gần chợ Hòa Bình. Tuấn nói tiếp:

          – Chỗ nào cũng có homeless cô ơi.

          Góc đường Brookhurst và Westminster, bên trái, bên phải, 4 góc đường, chỗ nào cũng có homeless ban ngày, ban đêm trú ngụ. Cuộc sống của họ rất giản dị, một cái mền, một túi đồ, thế là xong. Ban đêm, họ tụ tập từng nhóm 5- 7 người.

          Chúng tôi ngừng xe, Phượng, Tuấn nói với những người đứng ở góc đường và đang ngồi dưới gốc cây:

          – Các anh lại xe chúng tôi lấy quà.

          Khuôn mặt của họ rạng rỡ, vui tươi. Tuấn quen với họ vì đã đi phát quà nhiều năm, nên thấy xe Tuấn là họ biết ngay Tuấn đem quà tới, họ đưa tay vẫy vẫy Tuấn. Tuấn biết tính tình từng người, từng nhóm. Một ông ngồi bất động dưới đất trước một cửa hàng, mắt ngơ ngác nhìn trời. Tuấn nói:

          – Cô ơi, ông này không lấy quà, nhưng bạn của ông ấy lấy qua đưa thì ông ấy ăn ngay.

Phượng Lê (đứng bên trái) và Tuấn Lưu (nón xám) đang phát thực phẩm cho người không nhà. (Ảnh do Kiều Mỹ Duyên chụp)

          Chúng tôi ngừng xe ở tiệm Lee Sandwich. 5 người vui vẻ nhận quà: Mỹ, Mễ, và có một người trẻ Việt Nam. Không phải thức ăn nào cho người không nhà họ đều nhận đâu nhé, họ thích thứ nào thì nhận thứ đó, không phải nhận một lúc nhiều thứ. Khi chúng tôi từ trong chợ trở ra thì thấy họ để tất cả thức ăn xuống đất, rồi mọi người ngồi quây quần cùng ăn vui vẻ. Chúng tôi nghe được tiếng cười reo vui của họ, không ai dành ăn, họ nhường nhịn lẫn nhau. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao mỗi người họ đều lấy thức ăn khác nhau.

          Người không nhà tụ tập mỗi nơi chừng 3- 5 người. Tuấn nói:

          – Ngày xưa họ tụ tập từng nhóm đông lắm, bây giờ chia ra rải rác nhiều nơi khác nhau vì an ninh đuổi. Chủ cơ sở thương mại sợ mất khách hàng vì thấy homeless họ không đến, nhất là phụ nữ đi chợ hay đi mua đồ ban đêm.

          Trên đường Westminster, từ đường Euclid đến đường Newland, chỉ một đoạn đường ngắn mấy cột đèn, mà có 10 nhóm người không nhà. Đường Westminster ở hướng Bắc thuộc thành phố Garden Grove, ở hướng Nam thuộc thành phố Westminster, khu thương mại nào cũng có người không nhà. Chúng tôi nghĩ chính quyền địa phương cũng biết tình trạng này của thành phố?

          Trong hơn 2 giờ đi cho thực phẩm cho người không nhà, tôi chưa gặp phụ nữ nào đi xin cơm. Tôi hỏi Tuấn thì Tuấn trả lời như sau:

          – Có phụ nữ chứ cô, có cả phụ nữ Việt Nam, nhưng hôm nay có lẽ họ dời địa điểm khác.

          Tôi cũng đã từng gặp một phụ nữ lớn tuổi ngồi trước tiệm ăn. Tôi đang ngồi ăn bên trong tiệm, nhìn ra cửa sổ thấy người phụ nữ Việt Nam ốm nhom, ngồi im lặng như thiền. Tôi đem tiền đến cho và hỏi cô ấy có ăn không thì tôi mua thức ăn ở nhà thờ đến. Giọng nói của người phụ nữ rất hiền lành:

          – Cảm ơn.

          Sau khi tâm sự, tôi mới biết bà đang mướn garage của người quen, chưa xin được trợ cấp xã hội, chồng bảo lãnh sang rồi bỏ, vì ông xã có vợ khác rồi. Người phụ nữ kể tôi nghe hoàn cảnh của cô ấy mà nước mắt rưng rưng.

Con cò ốm nhom đang ngóng cổ chờ ai? Chờ thức ăn hay chờ người cho thức ăn?

(Trang Nguyễn chụp tặng Kiều Mỹ Duyên)

          Hôm đó chúng tôi đi đến 10 địa điểm trên đường Westminster. Địa điểm cuối cùng là góc đường Brookhurst và đường 15, thành phố Garden Grove, ở đây có 11 người không nhà tụ họp ở lề đường, có người ngồi trên xe lăn. Một người bàn tay rung rung đến xe chúng tôi lấy sữa, bánh mì, nước uống cho những người khác đang tụ họp. Họ rất đoàn kết và thương yêu nhau, hình như trong nhóm có lãnh tụ, tôi đoán như thế. Họ sống ở lề đường, ở góc phố, ở gốc cây. Đồng hương đi ngang chỗ chúng tôi đang nói chuyện và phát quà cho người không nhà, mặc dù chúng tôi mang mask, họ không biết chúng tôi là ai, nhưng cũng đưa tay vẫy chào.

          Người ở xa về California thăm Little Saigon, đi ngang qua các nẻo đường, thấy đầy rẫy homeless, chỗ nào cũng có homeless và đường nào cũng có homeless. Họ nói với chúng tôi:

          – Nếu tình trạng homeless đầy đường thì sợ ảnh hưởng nhiều đến các cơ sở thương mại và ảnh hưởng nhiều đến những đứa trẻ đi đến trường.

          Tôi nói với các bằng hữu:

          – Họ hiền lắm, tôi chưa nghe người homeless nào cướp giật hay chọc ghẹo người đi đến cơ sở thương mại bao giờ. Nếu chủ phố gọi Cảnh Sát thì họ đi, nhưng rồi cũng trở lại những nơi họ yêu thích.

          Khi còn làm Đại Bồi Thẩm Đoàn của Tòa Thượng Thẩm Orange County, chúng tôi đi thăm nhiều nhà tạm trú của Orange County nhưng không có người Việt Nam ở. Những người không nhà không thích sống ở trong nhà, có người già, người trẻ. Có lẽ số phận của con người là thế, người này thế này, người khác thế khác, làm sao biết được?

          Chuyên viên địa ốc Phượng Lê nói chuyện với khách hàng từ tốn, chậm rãi, ăn uống hay đi đứng cũng vậy, mà không hiểu tại sao đi cho thực phẩm cho người không nhà lại bước đi rất nhanh, phân phát thực phẩm cũng rất nhanh. Phượng Lê ân cần hỏi mọi người không nhà lấy thực phẩm nào mà họ thích, không thích là họ không nhận. Nhìn ánh mắt, nụ cười của những người không nhà, chúng tôi cảm nhận được một điều họ vui thật, họ rất hồn nhiên.

          Đi cho thực phẩm người không nhà, tự nhiên tôi nhớ đến Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, từ khi nhậm chức Giám Sát, ông lo cho người homeless, ông mua một tòa nhà ở thành phố Santa Ana cho người vô gia cư, tôi đã đến đó nhiều lần vào ban đêm để làm phóng sự, cũng là bệnh viện cho người bệnh tâm thần. Luật sư Andrew Đỗ đã làm được nhiều việc cho người bất hạnh mà trước đây không ai làm được. Đó là lý do tại sao người Việt tị nạn hãnh diện về người trẻ Việt Nam đã vào dòng chánh trị và làm được nhiều việc mà người khác không làm được.

Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, ngủ qua đêm tại Homeless Shelter năm 2016. (Luật sư Andrew Đỗ áo đỏ, ngồi giữa)

Chủ Tịch Hội đồng Giám Sát Orange County, luật sư Andrew Đỗ, phát thực phẩm cho người dân. (Luật sư Andrew Đỗ, áo xanh tay dài, bên trái)

          Khi trở lại văn phòng, chúng tôi ngừng lại tiệm cơm chay, và đề tài người không nhà được kể tiếp, thực khách trong tiệm lắng nghe. Chúng tôi rất cảm động vì nhiều người Việt có lòng quảng đại.

          Ông chủ nhà hàng nói:

          – Cô ơi, cô lớn tuổi rồi, buổi tối ra đường cẩn thận, và sức khỏe của cô nữa.

          Đời sống rất đẹp vì người quan tâm đến người. Làm việc gì giúp đỡ người khác, dù nhỏ xíu trong lòng sẽ thấy vui vui.

          Ông chủ nhà hàng nói:

          – Cô cho thực phẩm người không nhà, nên hôm nay thấy cô rất vui.

          Khi về, tôi kể chuyện cho một đồng hương, mà vợ chồng họ làm việc xã hội quanh năm suốt tháng. Tôi kể về Tuấn Lưu cho thực phẩm người homeless hàng tuần. Vị đồng hương đó đề nghị:

          – Bạn tôi hàng ngày nấu 5000 phần cơm để giá rẻ, nếu cần tôi sẽ giới thiệu.

          Đề tài về người không nhà nhiều lắm. Người thì bị bệnh, người thì bị vợ bỏ, giao nhà cho vợ rồi ra đường ở, buồn quá vào sở không làm việc chuyên cần, bị thất nghiệp, v.v. Nhiều lý do để trở thành người không nhà lắm.

          Tuấn Lưu nói:

          – Cô ơi, đi cho cơm cho homeless quen rồi, hôm nào không có thực phẩm, không đi cho họ thì con thấy nhớ họ.

          Khi vào làm địa ốc với văn phòng Ana Real Estate, Tuấn Lưu kể:

          – Mẹ của con trước khi mất, mẹ con làm công quả ở Thánh Thất Cao Đài, Tây Ninh. Con mong dành dụm một số tiền để về Tây Ninh giúp người nghèo.

          Ước mơ của Tuấn giản dị như thế nhưng chưa thực hiện được. Ba Tuấn định cư theo diện H.O, ba là nhà binh cũng là nhạc sĩ, dạy nhạc tại nhà. Qua cách nói chuyện, tôi biết Tuấn thương mẹ lắm. Cả nhà ăn chay. Tuấn thường nhắc về người mẹ qua đời ở Việt Nam. Tuấn mơ ước về Tây Ninh làm từ thiện, nhưng làm được bao nhiêu, Tuấn đều mua thức ăn cho người không nhà, nên ước mơ của Tuấn về thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh, hay thăm mộ mẹ, chắc còn lâu lắm mới thực hiện được, trừ khi trúng vé số.

          Người có lòng thì nhiều lắm. Người có lòng quảng đại ở khắp nơi trên thế giới. Thế giới này vui vẻ vì nhờ có nhiều người tốt, người này quan tâm đến người kia.

Hạnh phúc là biết cho đi.

          Một buổi tối thăm người không nhà, nhìn những người không nhà, không tài sản, không tiền bạc nhưng họ sống rất vui, đùm bọc lẫn nhau, có thức ăn chia cho nhau, dù sống ở dưới gốc cây, lề đường. Dù không nhà nhưng có người có cây đàn guitare, với tiếng đàn vui tươi, cũng làm cho đời sống của họ thêm phong phú.

          Hy vọng chính quyền địa phương quan tâm đến người không nhà hơn nữa, vì trước đây khi họ chưa bệnh, họ cũng đã từng đi làm việc và đóng thuế cho chính phủ.

          Mong các vị lãnh đạo tôn giáo, các nhà hảo tâm giúp đỡ những người không nhà, để cuộc sống của họ khá hơn.

          Xin Thượng Đế ban phúc lành cho tất cả những người bất hạnh khắp nơi trên thế giới.

Orange County, 26/7/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Tưởng Niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm – Giao Chỉ – San Jose

Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm
Tưởng niệm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm
Giao Chỉ Vũ Văn Lộc

Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y,
Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp,
Chín mươi năm, cuộc đời như gió thoảng,
Chiều cô đơn về chậm lúc cao niên.

Nhà văn Giao Chỉ tưởng niệm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vừa qua đời ngày 24/6/2021 tại California.

⭐️ Những đại tướng VNCH
Quý vị có biết quân đội chúng ta có bao nhiêu ông đại tướng. Cao cấp và thâm niên nhất là đại tướng Lê Văn Tỵ, khi ông qua đời thời kỳ quốc trưởng Nguyễn Khánh đã truy thăng ông lên Thống Tướng. Các vị đại tướng khác là tổng thống Dương Văn Minh, quốc trưởng Nguyễn Khánh, Tổng tham mưu truong Cao Văn Viên và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.        
⭐️ Hoàng hôn của các đại tướng
Ngoại trừ tướng Cao Văn Viên ra đi từ miền Đông, tất cả các vị đại tướng đều trải qua những ngày cuối cùng tại tiểu bang CA Hoa Kỳ.
Nước Mỹ đã từng là đồng minh của các tướng lãnh cầm quyền. Rồi đã quay lưng bỏ rơi, nhưng sau cùng Hoa Kỳ cũng vẫn là nơi quý vị gửi nắm xương tàn. Tôi có dịp nói chuyện với đại tướng Cao Văn Viên tại cao ốc cao niên xứ Virginia, với quốc trưởng Nguyễn Khánh và thủ tướng Khiêm tại Việt Museum San Jose. Không hỏi về chiến tranh và quốc sự. Chỉ hỏi về tuổi hoa niên. Còn tuổi nào là tuổi của tình yêu lúc mới vào đời. Tình yêu nước, yêu người và yêu chính mình.  Các niên trưởng đều đồng ý là tuổi 20. Thời kỳ trước 1954, ở Secteur Hưng Yên đã có 3 vị sĩ quan trẻ tình cờ gặp nhau trên chiến trường Bắc Việt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu gốc Phan Rang, Trung Kỳ. Trung Úy Cao Văn Viên gia đình từ Lào trở về Hà Nội, Bắc Kỳ. Đại úy Trần Thiện Khiêm, quê Long An, Nam Kỳ. Không ai biết rằng sau này sẽ trở thành tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Cũng vào thời kỳ đó đại úy Nguyễn Khánh từ Sài Gòn ra hành quân Hà Nội đã lấy cô vợ của 36 phố phường.
Nửa thế kỳ sau tôi hỏi niên trưởng Khánh ai lái xe đưa ngài từ Sactramento về thăm bảo tàng Việt Museum tại San Jose ? Ông nói ngon lành. “Moi” lái chứ ai. Lại hỏi ai ngồi ghế chỉ huy bên cạnh? Bà ngoại hàng Đào của đám Bắc Kỳ nhà anh chứ còn ai. Mấy năm sau cả hai ông bà cùng vào ở chung một phòng trong nhà già bác sĩ Ngải. Luật nursing home là nam nữ bất khả chung phòng, ngoại trừ phòng của ông bà quốc trưởng. Khi quốc trưởng ra đi, khách vào thăm, cô gái hàng Đào Bắc Kỳ, một thời đệ nhất phu nhân hồn nhiên nói rằng anh Khánh đi công tác. Không có nhà. Bà đã thăng hoa ngay trước khi tình Bắc duyên Nam vẫn còn nguyên vẹn.
Ông Khánh lấy vợ Bắc nhưng ông đại úy Khiêm thì vẫn một lòng một dạ với tình yêu Nam Kỳ. Ông lấy vợ Rạch Giá. Trong quân đội cấp bậc của chúng tôi xa cách. Trong chính quyền vai trò của chúng tôi lại càng cách biệt, nhưng về đường tình duyên chúng tôi chẳng khác biệt bao nhiêu. Nhà tôi cũng là nữ sinh trường Nguyễn Trung Trực cùng với chị em bà Trần Thiện Khiêm. Khi cùng ngồi nói chuyện tôi thưa rằng từ Bắc vào Nam tìm thấy hồ Than Thở ở Đà Lạt. Ai ngờ đi hành quân ở Hậu Giang thấy Rạch Giá cũng có hồ Than Thở. Xếp Khiêm vỗ đùi nói rằng: “Toi”nói đúng, “moi”lấy vợ Rạch Giá cũng thấy cái hồ Than Thở  Mệt lắm.  
⭐️ Nói đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm ai cũng tiếc rằng ông Thiệu ông Khiêm đều không ông nào để lại hồi ký. Lúc sinh thời thủ tướng Khiêm nổi tiếng là người ít nói dù trước năm 1975 hay sau này trải qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Ngày xưa trong một buổi đại hội tại Vũng Tàu do tổng thống Thiệu chủ tọa có cả nội các và tướng lãnh tham dự. Hội trường có cả trăm người chiếu trực tiếp trên TV. Tổng thống thao thao bất tuyệt. Ông nói thẳng những điều cấm kỵ. Về bang giao Việt Mỹ, ông không ngần ngại nói rằng ảnh hưởng Hoa Kỳ Việt Nam rất quan trọng và trực tiếp. Bên Mỹ hắt hơi là bên ta sổ mũi. Suốt buổi thủ tướng ngồi bên cạnh, đeo kính mát, yên lặng và bình tĩnh. Báo chí gọi là ông Tư mắt Kính. Không nói. Không lỡ lời. Không sai lầm. Đó có thể là khuyết điểm của chính khách. Đó cũng có thể là ưu điểm của chính trị gia. Sau này ra hải ngoại cũng như thế. Dư luận có thể thêu vẽ và bình luận về vai trò của đại tướng trong chính trường Việt Nam từ binh biến 63 cho đến ngày tàn cuộc 75, nhưng không hề khai thác được điều gì trực tiếp từ niên trưởng Khiêm. Tất cả chỉ là suy diễn.
⭐️ Những ngày sau cùng.
Những năm gần đây niên trưởng Khiêm quanh quẩn tại San Jose. Vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh với tuổi ngoài 90. Ông không ngần ngại xuất hiện trong các buổi họp mặt đông đảo. Cùng với niên trưởng đô đốc hải quân Trần văn Chơn và tham mưu trưởng Nguyễn Khắc Bình, quý vị làm thành bộ ba tương đắc của QLVNCH. Thêm vào sự hiện diện của tổng trưởng kinh tế Nguyễn Đức Cường và dân biểu dược sĩ Nguyễn văn Bẩy.  Dù sao cũng chỉ còn vang bóng một thời. Chung quanh là những người biết chuyện nhưng không nói và người không biết tha hồ lên tiếng. Văng vẳng đâu đây là lời nói than vãn của trung tướng Thiệu: Mất nước là mất tất cả. Trong hoàn cảnh cả cộng đồng Việt hải ngoại chia rẽ giữa 2 đảng Cộng Hóa và Dân Chủ, ông đại tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà lặng lẽ ra đi.  Lúc cư ngụ ở San Jose niên trưởng Khiêm bị té và đau chân. Ông nằm trong Nursing home một mình. Hồ Than thở xứ Kiên Giang của ông đã bỏ đi từ lâu sau một thời gian rất dài ông phải săn sóc cho bà. Ông thủ tướng đã trải qua giai đoạn rất vất vả nuôi vợ mệt mỏi hơn cả lúc cầm quyền. Ông vẫn nằm chờ đợi một mình. Một hôm có vị linh mục là cha xứ gốc Việt của miền Senter vào thăm thân phụ. Quan sát thấy tình cha con trong vòng đạo lý tôn giáo. Cha vào thăm con hay con vào thăm cha. Đại tướng bèn mời linh mục đến gặp. Ông muốn tìm về niềm tin tôn giáo vào những ngày cuối của cuộc đời. Tôi tưởng rằng niên trưởng Khiêm lẽ ra phải theo đạo từ thời ông Diệm, nhưng tôi nhầm. Thời đó mà rửa tội có thể do ảnh hưởng chính trị. Nhưng đến năm 2021 mà theo đạo là do tiếng gọi của con tim. Đại tướng hỏi vị chủ chiên tên họ là gì. Thầy tu thưa rằng họ Lê chữ đệm là Trung, tên gọi là Tướng. Lê Trung Tướng. Chuyện đơn giản thành phức tạp. Vào ngày đẹp trời. Ngay tại Nursing Home có ông Trung Tướng họ Lê rửa tội cho đại tướng thủ tướng họ Trần tại San Jose. Cuối tuần qua lễ tang đã tổ chức cho niên trưởng Khiêm tại San Diego nhưng hoàn cảnh hiện nầy mọi chuyện đều phải xếp hàng. Niên trưởng của chúng tôi, vị đại tướng cuối cùng của QLVNCH cũng đang xếp hàng nằm chờ chưa đến lượt hỏa thiêu.
⭐️ Con người một thời lẫm liệt, kiến trúc sư của biết bao nhiêu cuộc cách mạng và binh biến. Người đã từng chờ đợi Được làm Vua và Thua làm đại sứ. Đã gần 50 năm lưu lạc xứ người. 10 năm nuôi vợ đau yếu và sau cùng hồn thiêng đã bay về cố hương nhưng xác tục vẫn nằm chờ trong phòng lạnh để hỏa thiêu cùng thiên hạ. Đại tướng Khánh, đại tướng Viên, đại tướng Khiêm ai cũng nghĩ rằng cuộc đời đẹp nhất ở tuổi cấp úy ngoài 20. Nếu phải được trở lại làm tuổi trẻ 20 sẽ làm lại từ đầu. Sáng suốt hơn, xây dựng hơn, bao dung hơn và giúp được biết bao nhiêu cho đất nước cho dân tộc và cho chính mình.
Giao Chỉ VVL
⭐️ https://youtu.be/Tt7DdtjN0hw

Thủ Tương Trần Thiện Khiêm cùng các tướng lãnh VNCH viếng thăm Việt Museum San Jose .


  Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393 ReplyReply allForward




CÒN NHÌN THẤY NHAU – Kiều Mỹ Duyên

KIỀU MỸ DUYÊN

Hình từ trái sang phải: Phạm Lang (chủ nhà), nhà văn Phương Hoa, Như Hảo, Minh Thúy, Đỗ Dung, Lê Diễm và Kiều Mỹ Duyên.

(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)

          Nhiều người lớn tuổi nói với nhau:

          – Bây giờ chúng ta còn nhìn thấy nhau là quý lắm rồi.

          Đúng vậy, thấy đó rồi mất đó.

          Một phái đoàn đến từ San Jose, gồm có Lê Diễm, Đỗ Dung, Phương Hoa và Minh Thúy. Họ là những nhà văn nữ có tác phẩm đã phát hành. Trong phái đoàn này chỉ có một ông, mọi người chọc ông Sơn là gươm lạc giữa rừng hoa. Phụ nữ dù lớn nhưng gặp lại bạn cũ thì ăn nói rất tự nhiên. Nơi gặp gỡ tại một ngôi nhà thật đẹp ở gần biển, có cổng an toàn. Gió biển lồng lộng dù trời đang nóng như lửa. Các bà ăn mặc rất đẹp, vẫn còn đang kiêu sa của một thời vàng son. Một ông khách và ông chủ nhà, Tiến Sĩ Barry từng là giáo sư dạy ở Đại học Hawaii, và là Giám đốc kỹ thuật Lực Lượng Chống Tàu Ngầm, Hạm Đội khu vực Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

          Nhà đẹp từ trước nhà vào trong nhà. Hoa nở rực rỡ, nơi nào cũng có hoa tươi. Phụ nữ chiếm đa số, chỉ có hai ông phải chụp hình, quay phim các nữ nhà văn này.

          Bước vào hành lang của ngôi nhà, chúng tôi thấy một phụ nữ với bình dưỡng khí bên mình. Người phụ nữ đẹp này tươi cười như hoa. Cách đây không lâu, bác sĩ bảo cô ấy chỉ sống được 2 năm nữa, nhưng năm nay là năm thứ sáu, cô ấy vẫn sống vui vẻ. Trời nóng trên 90 độ mà từ San Jose đi một đoạn đường thật xa đến thăm bằng hữu ở Orange County thì còn gì quý bằng?

          Họ chỉ ở lại một đêm thứ bảy, rồi Chúa nhật trở về San Jose. Tình bằng hữu tuyệt vời, có sức mạnh mãnh liệt khiến những người phụ nữ này phải đi 6 giờ và về 6 giờ, trong lúc Trời nóng như thiêu như đốt. Tôi phục những người phụ nữ yếu ớt nhưng có sức mạnh tinh thần mãnh liệt.

          Sức mạnh tinh thần khiến họ đâu cũng tới, đến đâu cũng được. Hai vợ chồng chủ nhà rất nhiệt tình tiếp khách. Người chồng là người Mỹ không nói được tiếng Việt, nhưng rất nể vợ. Nếu không nể vợ thì đâu có tiếp một phái đoàn đông như thế? Trong lúc mọi người nói chuyện ào ào, ông chủ nhà không hiểu gì hết? Bà chủ nhà là thi sĩ, các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều bản nhạc hay từ thơ của cô. Thức ăn nhiều quá, món nào cũng ngon. Mọi người nói chuyện xưa, chuyện nay, và ăn uống, không còn thì giờ để nhắc đến các tác phcủa chủ nhà. Thôi thì để khi khác vậy?

Hình từ trái sang phải: Đỗ Dung, Minh Thúy, ông Sơn, Bary Root (chủ nhà, chồng cô Phạm Lang), Phương Hoa, Kiều Mỹ Duyên, Lê Diễm và Như Hảo.

(Hình do cô Phạm Lang cung cấp.)

          Tình bạn ngọt ngào như thế? Quen nhau mấy chục năm, hiểu nhau mấy chục năm, tình bằng hữu nếu hiểu nhau dù xa cũng gần. Người ở bên này đại dương và người ở bên kia đại dương vẫn thương mến nhau, vẫn thấy gần nhau, vẫn hiểu nhau, nhưng gặp mặt nhau vẫn tốt hơn, nhìn ánh mắt của nhau đâu cần nói nhiều. Có người đi đến một nơi xa dự một cuộc họp nào đó chỉ cần gặp một người, đâu cần gặp tất cả thiên hạ, hạnh phúc được gặp người đó, chỉ chào hỏi nhau, hay nói vài câu cũng đủ. Tình cảm là như thế, có những việc làm không ai hiểu nổi, không ai giải thích được, không ai phân tích và hỏi tại sao?

Kiều Mỹ Duyên cầu mong mọi người sống yêu thương và bình an.

Còn nhìn thấy nhau là quý lắm.

(Hình chụp ở Costa Rica)

          Thế giới này nếu có tình người, cha mẹ thương con, con thương yêu ông bà, cha mẹ, bằng hữu thương nhau như ruột thịt, người này giúp đỡ người kia thì thế giới không có chiến tranh, không có hận thù, không có nhà tù, không có Cảnh Sát, không có quân đội.

          Chúng tôi đã từng đến một quốc gia tuyệt vời như thế. Chúng tôi đến Costa Rica dự lễ Quốc Khánh của Tòa Thánh Vatican theo lời mời của Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt. Chúng tôi rất ngạc nhiên vì ra đường không thấy Cảnh Sát. Mỗi cây đèn đều có cây Thánh Giá ở góc đường, nơi đó có nhà thờ. Nhà thờ khắp nơi, Đông, Tây, Nam, Bắc, chỗ nào cũng có nhà thờ. Một quốc gia có 4 triệu dân, có 94 % là đạo Công Giáo, xứ sở không có Cảnh Sát, không có nhà tù. Costa Rica cách California 3 giờ đồng hồ đi máy bay. Nơi đây là Thiên Đường của những người yêu thiên nhiên, yêu không khí trong lành. Người dân có tuổi thọ rất cao vì họ sống với biển, với gió biển, suối, rừng, cây xanh khắp nơi.

Khâm sai Sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt.

          Khi về tới California, mọi người trong phái đoàn ai cũng nhắc đến biển, đến nơi Đức Mẹ hiện ra, và đặc biệt nhớ một xứ sở thanh bình không có Cảnh Sát. Suốt hành trình viếng thăm Costa Rica, đi khắp nơi không thấy bóng dáng một Cảnh Sát nào hết. Một xứ sở bình yên, tối ngủ không cần khóa cổng, khóa cửa, tuyệt lắm đồng hương ơi.

          Tôi mong đồng hương, nhất là những nhà văn nên đến Costa Rica một chuyến. Hãy để cho mình một thời gian sống với biển, suối, rừng cây xanh, ăn thật nhiều trái cây ngọt lịm, sẽ thấy đời đẹp hơn, vui hơn, đáng sống hơn, không lo lắng gì hết, quên hết muộn phiền, mệt mỏi, vất vả của cuộc sống thường ngày. Hãy nhìn từng đàn chim bay trên mặt biển. Hãy nhìn những khuôn mặt vô tư, nhảy múa, ca hát suốt ngày, vui như vui thời trẻ thơ, vui như sống ở Thiên Đường, không có chiến tranh, không có người ăn mày trên đường phố. Những người nào có tính nghệ sĩ sẽ tha hồ sáng tác những bản tình ca tuyệt diệu, những bài thơ, bài văn, đem niềm vui và lẽ sống cho người khác.

Kiều Mỹ Duyên đi giữa rừng cây ở Costa Rica.

          Nếu tôi là ca sĩ, tôi sẽ ca những bản nhạc tuyệt vời về tình người. Nếu tôi là thi sĩ, tôi sẽ làm những bài thơ về tình người tuyệt vời. Nếu tôi là văn sĩ, tôi sẽ viết về những mối tình bất hủ. Tôi ca ngợi hòa bình, không có chiến tranh, không có ai sản xuất vũ khí, không có người giết người, chỉ có người yêu người mà thôi.

         Tôi thích nói về tình yêu hơn thù hận. Yêu thương nhẹ nhàng hơn, thù hận sẽ làm cho đầu óc mình nặng nề, khó thở. Hãy thương nhau, hãy cho nhau nụ cười hay lời thăm hỏi ân cần, ấm áp. Hãy nhìn những người ra đi nhưng lòng không muốn từ giã cõi đời này. Ai mà không thích sống với gia đình và người thân của mình mãi mãi chứ?

          Đã nhiều năm, chiều nào chúng tôi cũng vào thăm đồng hương ở viện dưỡng lão. Tôi đã từng nghe:

          – Tôi không muốn chết, tôi không muốn chết.

          Tiếng rên rỉ của bệnh nhân làm cho người nghe xúc động, nhưng rồi thần chết cũng đến và đem người bệnh ra đi về cõi nào đó không ai biết?

          Còn sống thì còn yêu thương. Tình yêu ơi đừng cất cánh bay cao, bay xa. Tình yêu vĩnh cửu!

          Tôi rất trân quý tình yêu, tôi rất trân quý những buổi gặp gỡ với các bằng hữu từ xa đến. Họ đến từ những nơi rất xa, từ San Jose, Arizona, Florida, Chicago, Michigan, Boston, D.C, Seattle, Pháp, Úc, Á Châu, v.v.

          Tôi tự hỏi mai này mình còn gặp những bằng hữu này nữa không?

          Xin chúc sức khỏe, bình yên và hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Orange County, 21/7/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




TÌNH YÊU, TÌNH YÊU, VÀ TÌNH YÊU ƠI! – Kiều Mỹ Duyên

Đôi chim có bạn líu lo, ca hát đêm ngày vui buồn cùng ai.

          Một cô gái dễ thương, chủ nhiệm một tờ báo về Orange County dự đại hội kể với tôi rằng có người nói với cô:

          – Tôi cho em một hòn đảo nếu em để tôi chăm sóc em trọn đời. 

          Em trả lời:

          – Em yêu người chứ em không yêu hòn đảo, vì hòn đảo không có tiếng nói.

          Tôi nhìn vào mắt cô gái với sự ngưỡng mộ và thích thú.

          Một chàng trai trung niên đến thăm tôi cùng với một cô gái trung niên nói:

          – Cô ơi, em có 5 bất động sản, đã trả hết nợ rồi. Cô làm ơn cho tên của cô này vào với em.

          Nói xong chàng trai đưa tay chỉ vào cô gái cùng đến thăm tôi.

          Chàng trai đưa cho tôi địa chỉ của 5 bất động sản. Tôi đưa cho cô nhân viên tìm ra chủ quyền của 5 bất động sản này.

          Khi cô gái vừa bước ra ngoài để tìm báo đọc, tôi nói với chàng trai:

          – Em có biết khi em cho tên cô gái vào chủ quyền thì cô gái có phân nửa chủ quyền tài sản của em không?

          Chàng trai vừa cười vừa nói:

          – Cái mạng của em, em còn cho cô ấy huống chi bất động sản hay tiền bạc?

          Tôi nhủ thầm với chính mình tình yêu ơi, tình yêu sao mà dễ thương. Con người sống vì tình yêu, chết vì tình yêu. Tình yêu không thể giải nghĩa được tại sao mình thương yêu người này mà không  thương yêu người khác, tình yêu nhẹ như cơn gió thoảng.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

(Tống Biệt Hành- Thâm Tâm)

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…

(Vì sao- Xuân Diệu)

          Tôi được tham dự một tiệc cưới ở Bolsa, chú rể 80 tuổi, là một người nổi tiếng trong cộng đồng vì hoạt động xã hội, cô dâu gần 76 tuổi. 5 thế hệ trong gia đình tham dự tiệc cưới, nhưng 1 năm sau tôi đi thăm và cầu nguyện cho người vừa qua đời, cũng 5 thế hệ đội khăn tang. Tình yêu ơi, tình yêu, họ sống với nhau một năm, một năm hạnh phúc còn gì quý báu hơn? Tình yêu ơi, tình yêu ơi, tình yêu cất cánh cho hai tâm hồn hòa điệu. Tôi nghe chuyện tình của người trẻ, tôi nghe chuyện tình của người già, trái tim có tiếng nói của nó, không cần hỏi tại sao tôi yêu?

          Nếu tôi viết chuyện tình của người tôi quen viết hoài không hết. Tôi sợ nhìn những khuôn mặt với nước mắt, tôi thích nhìn nụ cười với những khuôn mặt đang yêu và được yêu rực rỡ thế nào! Tôi thích nghe tiếng cười giòn tan của những người cho trái tim của mình cho người khác. Ôi tình yêu sao mà đẹp quá?

          Có người nói thần tượng của tôi phải có tiếng nói, nghe tôi cười, nghe tiếng tôi khóc, khi tôi có việc khẩn cấp như Thần Chết thấp thoáng bên cạnh tôi thì thần tượng hiện hữu bên tôi, thần tượng của tôi không ngồi trên bàn thờ.

          Tình yêu vui thật, ngàn màu sắc khác nhau như thơ, lãng mạn, vui tươi, tình yêu không tính toán, khi yêu là yêu không cân nhắc, không phân biệt một thứ gì, không có sự ngăn cách.

          Tình yêu, tình yêu ơi, sao mà đẹp thế?

          Nếu không có tình yêu người ta sẽ không mặc đẹp, không có tình yêu người ta cũng sẽ không nghe nhạc. Tình yêu ơi sao mà mầu nhiệm? Những cô gái trẻ tâm sự với tôi, con mua áo đẹp để ra đường lọt vào mắt xanh của hoàng tử trong mộng, chàng trai ăn mặc đẹp để lọt vào mắt xanh của công chúa. Tình yêu sao mà tuyệt vời! Nếu không có tình yêu chàng trai sẽ không dành dụm tiền mua nhà rước nàng về dinh. Nếu không có tình yêu, không lập gia đình, không có những đứa trẻ thiên thần thì mua nhà có đất rộng để làm chi? Có vườn rộng rãi, có tiếng cười của trẻ thơ, tình yêu ơi sao mà tuyệt vời?

          Tình yêu ơi là tình yêu, có xe đẹp, có nhà đẹp, có tiền dành dụm để cùng người yêu đi du lịch vòng quanh thế giới thăm những kỳ quan trong chuyện cổ tích, tình yêu ơi sao mà đẹp quá?

          Nếu mọi người đều yêu thương nhau thì không có chiến tranh, không có nhà tù, không có chém giết lẫn nhau.

          Tình yêu ơi, tình yêu sao mà mầu nhiệm? Khi yêu đời sống rất đẹp, đẹp lắm người ơi và tình yêu làm cho người ta lạc quan hơn, yêu đời hơn, thấy gì cũng đẹp, nhìn đời bằng mắt màu hồng. Những người đang yêu hay đang có tình yêu nhìn vào đôi mắt của họ là biết ngay. Đôi mắt rực rỡ, nụ cười thật tươi, vui ơi là vui, tiếng cười nói trong trẻo, reo vui hơn. Tôi mong thế giới đầy tình yêu, người yêu người, Thượng Đế yêu người, chính quyền thương dân lo cho dân, cha mẹ thương con, ông bà đùm bọc con cháu của mình. Ôi tình yêu tuyệt vời, người yêu người, chỉ thấy việc tốt của người xung quanh, và người yêu người đời sống sẽ phong phú hơn, tuyệt vời quá.

          Mọi người yêu thương nhau, đầu óc không căng thẳng, không có mưu mô thủ đoạn lường gạt lẫn nhau. Tình yêu lên tiếng gọi, tình yêu ơi! Hãy nghe tiếng chim hót ngoài vườn buổi sáng, hãy nhìn những cánh hoa rực rỡ rung rinh trong gió, nghe mùi hoa lý hương thơm ngát trước sân nhà mà nghĩ đến người mình thương yêu nhất.

          Tình yêu ơi, hỡi tình yêu, con người thì đến lúc nào đó phải ra đi nhưng tình yêu vĩnh viễn vẫn còn ở đây, ở trong trái tim của những người thương yêu mình.

          Tình yêu sao mà tuyệt vời, tình yêu sao dễ thương và tình yêu vĩnh cửu.

Orange County, 12/07/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Tản Mạn Về…Nói Với Chính Tôi (Trích từ sách “TÔI”) – TS Mai Thanh Truyết

Kể từ khi có mặt trên cõi ta bà nầy 79 năm, tôi bằng lòng với những gì tôi “được” và những gì tôi “mất”. Hiện tại, sau gần 9 năm “giã từ vũ khí” nghĩa là từ giã công việc áo cơm, ngồi chiêm nghiệm lại những gì đã làm trong quá khứ, tôi có làm nhiều điều đúng và cũng có nhiều điều sai; – Điều đúng làm tôi vui và – Mỗi điều sai là thêm một bài học mới cho tôi. Trong suy nghĩ ấy, tôi xin cám ơn Trời Phật đã ban cho tôi tánh biết nghe và biết phục thiện.

“Cuộc sống vốn đã bất toàn”, lời của Cố GS Nguyễn Văn Trường thường nhắc nhở tôi trong thời gian từ khi tôi quen anh cho đến hôm nay vẫn còn đâu đây sau hơn 50 năm. Và đó vẫn là một “công án” tôi luôn luôn áp dụng mỗi khi giáp mặt với những khó khăn hay phiền muộn trong đời. Nhờ vậy mà tâm hồn tôi có được an nhiên tự tại sau mỗi lần bị trắc trở. Cám ơn người anh lúc nào cũng là cái thắng của con ngựa bất kham nầy.

Thiết nghĩ từ khi mới sanh ra đời, con người vốn bị bao quanh bởi Vô Minh, lớn lên cũng phải sống trong Vô Minh. Nhưng những hình thức vô minh bên ngoài khiến cho ta dễ nhận định và cải sửa; còn chính cái vô minh trong tâm mới thực sự làm tăng trưởng lòng sân hận trong chính ta.

Nhận thức được Vô Minh “nội tại” để hạn chế bớt Sân hận, hạn chế bớt cái NGÃ trong Tâm. Từ đó, mới có thể tiến tới giai đoạn VÔ CHẤP – VÔ TRỤ.

Một khi đã vô chấp, ba quỹ dữ trong tâm là Tham, Sân, Si sẽ không còn cơ hội để phát triển nữa. Từ đó ta có thể trở về gần với tánh Không.

Nhưng trong kinh Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng có viết:” Chớ nghe ta nói KHÔNG mà liền chấp KHÔNG. Nếu để TÂM trống KHÔNG mà ngồi yên lặng, tức là chấp cái VÔ KÝ KHÔNG, tức là tánh không tưởng nhớ gì cả. Đó là cái tánh nửa chừng, nó không nhớ và không phân biệt gì cả”.

Tôi chiêm nghiệm rằng, an nhiên tự tại là trực diện với Vô minh trong chính mỗi chúng ta, cộng thêm những bất toàn mà mình phải chấp nhận để từ đó được tôi luyện và thạch hóa tánh Không.

Tôi đang đi vào con đường Đoạn Ái để tiến tới tánh Không, chẳng chấp mà chẳng bỏ, cũng không nhiễm vương, không dính níu, lòng như trống không để tiến bước vào MA HA trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. 

Xin thưa cùng tất cả bạn đọc và bè bạn khắp nơi.

Cuốn sách TÔI là cuốn sách cuối cùng tôi trang trải về những ưu tư về đất nước thân yêu của chúng ta, một Đất Nước trong suốt chiều dài lịch sử từ khi lập quốc cho đến ngày nay đã phải chịu nhiều oan nghiệt.

Nhưng tiếc thay, những oan nghiệt trong quá khứ đã đến từ một chủng tộc khác dòng, khác giống; còn nỗi oan nghiệt dân tộc phải chịu ngày hôm nay phát xuất từ một chủng tộc đồng nhứt, nói cùng tiếng nói của cùng một dòng Việt tộc.

Đã cùng là một dòng Việt tộc mà cung cách hành xử còn tệ hại hơn thời thuộc địa Pháp, tệ hại hơn thời Bắc thuộc thưở xa xưa.

Đó chính là nỗi oan khiên nghiệt ngã của Quê hương.

Nỗi oan khiên nầy biết đến bao giờ mới được xóa đi?

TS Yoshiharu Tsuboi, người Nhựt đã trình luận án tiến sĩ năm 1982 tại Paris với đề tài:”Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885” trong đó ông đưa ra một suy nghĩ tương đối mới khi nhận định về nguyên nhân mất nước về tay người Pháp không phải vì vua Tự Đức bế quan toả cảng, mà chính vì vua, quan, và dân bị phân liệt thời bấy giờ, do đó, không thể nào tạo được sự kết đoàn để chống giặc được.

Và ngày nay, trong một tuyên bố gần đây về hiểm họa Hán hóa, ông đã đưa ra một nhận định hơi triết lý nhưng đầy tính nhân bản là: “Cần phải tạo ra thật nhiều con người biết sống trong sạch. Chính họ là sức mạnh cho đất nước Việt Nam”.

Nhu74ng người con Việt ngày nay cần “Trong” trong TÂM và “Sạch” trong HÀNH ĐỘNG.

Làm được hai điều nầy, chắc chắn Việt Nam sẽ thoát khỏi cơn hồng thủy phương Bắc trong một tương lai không xa.

Mai Thanh Truyết

Trích hai trang cuối cùng của sách TÔI-2019




CHÚC BÌNH YÊN CHO NGƯỜI VỪA ĐI -Kiều Mỹ Duyên

Làm nghề truyền thông lâu năm quen nhiều cho nên ngày nào cũng nghe tin người quen ra đi. Tôi chỉ biết cầu nguyện cho người vừa ra đi bình yên.

          Tuần rồi tôi đọc bài của Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý ở Portland viết bài tiễn biệt Linh Mục Phạm Văn Ninh, chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ La Vang vừa ra đi. Cha Ninh rất hiền. Tôi được biết cha khi chúng tôi đến Portland để làm phóng sự cho đài truyền hình SBTN (Saigon Broadcasting Television Network), phỏng vấn giáo sư Jerry Braza, Health Education của đại học Western Oregon, ông cũng là Chủ Tịch hội từ thiện Forgotten People Foundation (2005). Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn và An Nguyễn broker là 2 người trong ban chấp hành hội từ thiện này.

          Chúng tôi thăm nhà thờ, chùa trong 2 ngày cuối tuần, làm 6 phóng sự cho đài truyền hình.

          Thành phố Portland rất đẹp, cây cỏ xanh mướt vì có nhiều mưa. Người dân hiền lành, hiếu khách. Chúng tôi đến thăm chùa nào cũng được mời ăn cơm. Đặt phòng ở khách sạn, nhưng chúng tôi ở chùa, trụ trì là ni cô, đang học cao học.

          Tôi phỏng vấn cha Ninh trước nhà thờ Đức Mẹ La Vang Portland, dưới bóng mát của hàng cây xanh, trên đồi cây cỏ xanh mướt nhìn xuống đồi. Cha Ninh hiền lành. Cha kể về lịch sử  Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang Portland. Tháng 6/ 1975 chung cư Halsey Square là nơi số đông người tị nạn được đưa về, và cũng chính từ nơi đây Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Oregon đã ra đời, và là tiền thân của Giáo Xứ La Vang ngày nay. Đến đầu năm 1977, số người tị nạn Công Giáo Việt Nam tại Portland lên đến cả ngàn người. Tháng 2/ 1981, số người tị nạn Công Giáo tại Portland và các vùng phụ cận ngày càng lên cao. Cha Cao Đăng Minh đã mời cha Trần Công Nghị từ California và cha Phạm Văn Ninh từ thành phố Salem, thủ đô của tiểu bang Oregon đến giúp đỡ. Đến tháng 4/ 1997 xây dựng Thánh Đường Đức Mẹ La Vang. Đến năm này, Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang đã được tổ chức quy mô hơn. Có ba vị linh mục phục vụ là cha Hồng Phúc, cha Cao Đăng Minh, và cha Phạm Văn Ninh.

          Cha Ninh giới thiệu tôi với linh mục Hoài Đăng. Ở Louisiana có lụt lội nên linh mục nhạc sĩ người Mỹ gốc Việt này về Portland sống với cha Ninh.

          Cha Ninh hiền lành, khiêm tốn. Tôi hỏi cha Ninh về tình hình nhà thờ có người Việt Nam và sự phát triển Công Giáo Việt Nam ở Portland. Cách đây 20 năm, đài truyền hình SBTN (Saigon Broadcasting Television Network) đi khắp nơi trên nước Mỹ. Nhà người Việt Nam nào cũng xem truyền hình đài tiếng Việt. Đối với khán giả Việt Nam lớn tuổi thì tivi, radio, báo tiếng Việt là nhu cầu cần thiết của họ.

          Hưu trí nếu còn khỏe mạnh thì đi câu cá, bắn chim, đi bộ lên núi, đi du thuyền ở sông, ở biển, nhưng nếu không khỏe thì ở nhà xem truyền hình, nghe radio, đọc sách báo, đi thư viện, đi nhà thờ hay đi chùa,.v.v.

          Nhu cầu tinh thần cần lắm, nếu còn sức khỏe là còn tất cả.

          Khi nghe tin Đức Ông Phạm Văn Ninh qua đời, chúng tôi cầu nguyện cho Đức Ông được sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.

LẠI MỘT NGƯỜI VỪA RA ĐI

Đại tướng Trần Thiện Khiêm

          Một người ít nói nhưng mỗi lần nói làm cho người nghe cười. Tôi thường gọi điện thoại thăm những người lớn tuổi ở Việt Nam, ở Mỹ hay ở các quốc gia khác. Một lời thăm hỏi ân cần làm vui lòng người lớn tuổi. Có một lần, một vị lớn tuổi nói với tôi:

          – Tôi thích tham gia sinh hoạt cộng đồng nhưng tôi không muốn làm phiền người khác. Cuối tuần, tụi nhỏ không đi làm, tôi nhờ chở đi chỗ này chỗ nọ. Thỉnh thoảng, tôi nhờ Đại Tá Cổ Tấn Minh Châu đưa tôi đi sinh hoạt cộng đồng. Anh Châu tốt lắm.

          Nói về người trẻ là giáo sư đại học Chapman, ông nói:

          – Phương Lan có 2 cha, 2 mẹ.

          Tôi chưa hết ngạc nhiên thì ông nói tiếp:

          – Cha mẹ ruột của Phương Lan là 2 người, vợ chồng chúng tôi 2 người nữa thành ra 4 người.

          Tôi nhớ bé Phương Lan lúc chúng tôi vào nhà chị Tư. Chị Tư cùng các phu nhân thường thường vào 6 giờ sáng vào Tổng y viện Cộng Hòa chăm sóc thương binh, nhất là các chiến sĩ bị thương từ mặt trận mới vừa về đêm qua. Chuẩn bị vào phòng ăn thì tôi thấy một cô gái nhỏ, ngồi trước đàn dương cầm. Bé này vào khoảng trên dưới 10 tuổi, bé đánh đàn dương cầm, tiếng đàn lảnh lót reo vui. Bé Phương Lan sinh ra đời được yêu thương bởi 2 mẹ, 2 cha, cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi, bé được mọi người thương yêu. Hai anh của bé Phương Lan: anh trai cả là Dũng học ở Thụy Sỹ, anh kế là Tuấn học xong tú tài toàn phần, tình nguyện vào trường Thủ Đức, sau đó tốt nghiệp ra trường là chuẩn úy.

          Người ở đầu giây nói tiếp:

          – Hồi ở Việt Nam, tôi đọc sách của Hòa Thượng Tuyên Hóa, chùa Vạn Phật Đường, sang đây hai vợ chồng tôi đến Bắc California thăm Hòa Thượng.

          Tôi thường thăm những người tôi quen, tôi đến nhà hay gọi điện thoại lại nhà, tôi còn gọi vào nhà thương hay viện dưỡng lão. Một lần, tôi gọi đến viện dưỡng lão ở miền Bắc, một đồng hương nói chuyện rất vui vẻ. Ông nói với giọng reo vui:

          – Cô Duyên à, tôi vừa được rửa tội.

          Đồng hương lớn tuổi kể tiếp:

          – Trung Tướng vừa rửa tội cho Đại Tướng.

          Thì ra tên của Linh Mục rửa tội cho ông là Lê Trung Tướng.

          Nghe giọng nói, tôi biết đồng hương lớn tuổi đang rất vui.

          Là người lạc quan, tôi thích tiếng cười, đi đến đâu tôi cũng thích nghe tiếng cười reo vui. Lạc quan, yêu đời, yêu người và tôi thích nghe người này nói tốt về người khác.

          Nói về cô bé đánh đàn dương cầm khi tôi đến thăm chị Tư, ngôi nhà ở Chợ Lớn. Tôi mê tiếng đàn của cô bé này.

          Rồi một ngày đẹp trời, tôi thăm nhà khác, tôi cũng gặp cô bé này, đang ngồi thẳng, đánh đàn ở phòng khách. Thì ra 2 bé đánh đàn này là một.

          Có một lần về vùng Hoa Thịnh Đốn họp, qua lời mời của chị Trân, anh Trân là em ruột của chị Tư. Chị Tư là phu nhân của một Đại Tướng, “chị Tư” là tiếng gọi thân thiện của tất cả mọi người cùng làm việc xã hội với chị. Chị Trân chở đến nhà của một đồng hương. Nhà nhỏ, xung quanh là rừng cây xanh mướt. Tôi hỏi chị chủ nhà ông xã của chị đâu rồi? Chị cho biết anh ấy đang quét lá cây. Tôi hỏi:

          – Cuối tuần nhiều người đến thăm, sao ông xã của chị không đợi đến cuối tuần để mọi người giúp quét lá cây phụ?

          Chị chủ nhà trả lời:

          – Ngại lắm, làm việc gì được thì anh ấy tự làm.

          Nhà này là condo, nhỏ, xung quanh là rừng cây xanh mướt.

          Ăn một tô phở ở một ngôi nhà nhỏ trong rừng cây do chủ nhà tự nấu, bàn ăn nhỏ, gần cầu thang. Khi tôi về California một thời gian thì nghe tin chị chủ nhà té từ cầu thang xuống đất, rồi nằm một chỗ 10 năm. Người chồng chăm sóc vợ rất chu đáo, sau đó người vợ qua đời. Một đời người thoảng như giấc chiêm bao.

          Những người thân của tôi ở Hoa Thịnh Đốn lần lượt ra đi như Trung Tướng Phan Trọng Chinh, anh Trân, Đại Tướng Cao Văn Viên và phu nhân qua đời, Đại Tá Nguyễn Văn Y xem tử vi rất xuất sắc và phu nhân qua đời, giáo sư Nguyễn Ngọc An qua đời, tướng Lê Minh Đảo, Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, v.v. Đa số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, bộ trưởng Việt Nam đều tị nạn ở vùng Hoa Thịnh Đốn, mỗi lần hội họp ở miền Đông, tôi thường thăm những người tôi quen, rồi thì những cánh chim đại bàng từ từ rơi rụng.

          Rừng cây ở Hoa Thịnh Đốn vẫn xanh, vẫn còn đó, tuyết vẫn rơi vào mùa Đông, nhưng người thì lần lượt ra đi nhiều quá.

          Rồi Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, Tướng Lê Văn Tư, Đại Tá Phạm Văn Chung cũng vừa ra đi, người tốt cũng đi, người không tốt cũng đi. Người còn sống vẫn hoạt động trong cộng đồng, thế hệ thứ hai vẫn hoạt động tích cực. Ngoài lo cho đời sống bình thường của mình, người có lý tưởng vẫn tiếp tục hoạt động cho Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, đến bao giờ người Việt Nam trong nước được sống bình yên như người dân của các nước khác có Tự Do thật sự?

          Tôi ao ước, tôi mong cho người đi linh thiêng phù hộ cho người ở lại được sống một đời bình yên.

          Ngày xưa, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm nghiêm lắm, ít nói, không tuyên bố nhiều. Khi về già ở trong một căn nhà nhỏ giữa rừng cây. Phu nhân của ông cũng âm thầm như ông, sống âm thầm cho đến khi qua đời.

          Những người giữ chức vụ lớn có người thương, có người ghét, nhưng rồi cũng như mọi người, dù có người thương người ghét thì bây giờ ông cũng đã rời trần gian ra đi một cách êm ả.

          Cầu xin Ơn Trên cho mọi người đến trần gian với tiếng khóc thì khi ra đi với tiếng cười. Cầu xin trong lúc hấp hối đừng đau đớn quá, đừng rên la, chỉ xin giờ ra đi êm ả.

          Trong mấy ngày tôi nghe tin 3 người ra đi là cha Phạm Văn Ninh ở Portland, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm ở San Diego, và ông Lý Tòng Tôn ở Lancaster, Los Angeles.

Ông Lý Tòng Tôn, em của Tướng Lý Tòng Bá.

(Hình do bác sĩ Đỗ Văn Học cung cấp)

          Ông Lý Tòng Tôn cười nhiều hơn nói, phu nhân của ông cũng vậy, cười nhiều hơn nói. Ông thích ca, đi hát nhiều hơn ở nhà. Mong ông sẽ gặp lại các bạn nghệ sĩ đã đi trước xuống suối vàng. Thôi thì đem tiếng cười giòn tan hòa lẫn với gió mây và đem theo lời chúc lành, chúc anh em bằng hữu về thế giới bên kia gặp lại bằng hữu đã đi trước mình sẽ hạnh phúc, sẽ vui tươi hơn.

Ông Lý Tòng Tôn (áo trắng bên phải) hội ngộ các văn nghệ sĩ.

(Hình do nhà văn Việt Hải đứng ngoài cùng bên trái cung cấp)

          Nhà văn Việt Hải rất tận tình loan tin về bằng hữu, nhất là văn nghệ sĩ. Ông rất quan tâm đến những người bệnh như anh chị Quang Nguyễn, Minh Đức Hoài Trinh, thi sĩ Cao Mỵ Nhân, Trung Tá Hạnh Nhân, Lưu Anh Tuấn họa sĩ, học trò của tôi.

          Thi sĩ Vũ Thùy Nhân vừa vào văn đàn http://thovanyenson.com
của anh Việt Hải nói anh Hải có lòng tốt lắm chị ơi.

          Cha Ninh ơi, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và anh Lý Tòng Tôn ra đi bình yên, hạnh phúc trong cuộc hành trình về nước Chúa. Xin phù hộ cho người ở lại tiếp tục hành trình tốt đẹp của mình.

Orange County, 1/7/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




CÓ NÊN KẾT ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG??? – Cựu GS LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH

       LUẬT PHÁP đặt ra là để bảo vệ AN NINH, giữ gìn TRẬT TỰ, bảo vệ QUYỀN LỢI Con Người với Con Người, bảo vệ MẠNG SỐNG và TÀI SẢN của cá nhân và cộng đồng Gia Đình, Quốc gia và Quốc tế.
       Những người đứng ra cầm cán cân Công Lý, là Đại Diện Công Lý, là nhân danh Công lý, bao giờ cũng nên Nghiêm minh, Chính trực, Công Bằng, Vô tư phán xét những ai vi phạm luật lệ Nhà Nước đặt ra, cũng chính là để hướng dẫn, giáo dục Con Người cả nước đến với CHÂN THIỆN MỸ.
Theo hình luật, ngoài những tội do từng quốcgia qui định còn có những tội sau đây mà không quốc gia nào dung chế, tha thứ cho được, mà còn kịch liệt bài trừ với hình phạt nặng nề gắt gao.  Đó là:  ‘Tội Giết Người’ (Sát Nhân), ‘Tội Hiếp Dâm’ và ‘Tội Buôn Bán Ma Túy’, ‘Hẻroine’, vì nó giết chết mạng sống, giết chết cả tương lai, cuộc đời của Con Người, nên không một quốc gia nào trên trái đất này chấp nhận được!
Tất cả, ai ai cũng đều ‘Muốn Sống’, Không-Ai-Muốn-Chết, nhất là Bị-Giết-Chết,  Bị-Tước-Đoạt-Mạng-Sống, Bị-Sát-Hại!!!
Vậy tại sao chính ta Muốn Sống, Không-Muốn-Bị-Giết-Hại mà lại đi ‘Bức Tử’, Tàn Sát Người khác?!
“Điều gì ta không muốn người khác làm cho ta thì ta không nên làm cho người khác”! Thế mà:        
1/ Ai ai cũng vui thích đồng ý đón nhận châm ngôn này, nhưng, trên thực tế, hình như có ít người thực hiện ĐÚNG theo, mà đa số thì lại thản nhiên gây-tạo-cho-người-khác-những-gì-chính-bản-thân-không-muốn-người-khác-làm-cho-ta!

2/  Đến như cả các vị  phán quan, các quan chánh án cầm cân nẩy mực, ngồi ghế xét xử, khi luận tội những trường hợp như ‘Giết Người’, ‘Hiếp Dâm’, ‘Buôn Bán Ma Túy’ là những ‘Trọng Tội Khó Tha Thứ’ được mà lại như vô tình thản nhiên tuyên “Án Tử Hình” họ!!!  Có những trường hợp Giết Người, hay Buôn Bán Ma Túy, cảnh ngộ rất thương Tâm  mà các quan không lý tới!
Sao lạ vậy, khi mà theo Luật pháp: “Dù dưới hình thức nào, dù bất kỳ nguyên nhân gì, cũng không ai được quyền tước đoạt sinh mệnh của bất kỳ ai!

3/  “Khó thể tha thứ được” đâu có nghĩa là phải ‘Giết Chết Kẻ Phạm Tội’, như họ đã giết chết ai đó?!
            Chẳng lẽ không có hình phạt nào dành cho những kẻ ‘Trọng Tội’ khó thể tha thứ được, khiến họ phải đau đớn thống khổ, bi ai, thê thảm nhứt là sự dày vò, ân hận về tinh thần vì tội ác họ đã gây tạo cho người khác, và làm liên lụy đến nhiều người phải khốn khổ theo, là gia đình ‘bị cáo’ và gia đình nạn nhân ‘nguyên cáo’, khiến cho họ, có người phải Sống-Không-Bằng-Chết’ hay sao?!   Hình phạt đó không đáng sợ gấp trăm ngàn lần hơn hình phạt họ hải sợ chỉ có mấy ngày, mấy tháng, hay mấy năm, nhất là chỉ một thoáng mấy phút trước giờ ‘Hành Hình’ thôi sao?!

4/ Vả chăng, có thể đó là án OAN!!!  Nếu xử tử rồi, về sau có cơ hội nhắc đến, thẩm tra lại, biết họ đã ‘Bị OAN’ thì làm sao cứu chữa ‘SAI LẦM’ vì đã giết họ chết rồi ?!

5/ Và, nếu kẻ có tội chí tình ‘Ăn năn, Sám hối’ tội lỗi họ đã gây tạo, và họ có thể ‘Đới Công Chuộc Tội’ xứng đáng, thì không phải là đáng tiếc lắm sao?!
           Con Người có ai mà không từng phạm những điều Sai Trái,  Lỗi Lầm, dù nhẹ dù nặng?! 
Điều quan trọng  là họ Biết-Nhận-Lỗi-Tội của họ, nhận sự ‘Sai Lầm’, và Biết-Ăn-Năn, Hối cải Lỗi Tội của họ!  Đó không phải là điều dễ dàng mà ai cũng dũng cảm làm được!!!
Và một khi họ đã không hèn nhát mà can đảm nhận Tội, không trốn tránh, thì sao lại không-giúp-họ-có-thời-gian, cho-họ-có-cơ-hội-để-Ăn-Năn-Cải-Hối-Sữa-Đổi, Đoạn trừ Dứt Lỗi Tội?!

6/ Thưa rằng:’Nếu Giết họ Chết Đi rồi, thì chủng tử Xấu Xa, Độc Ác, Hung Dữ, Nguy Hại đến thế nào đó, sẽ chấm dứt , chứ không phải sẽ vẫn đeo đẳng theo họ suốt từ kiếp này đến kiếp khác sao?!  Họ sẽ mãi mãi vẫn còn là người cùng hung cực ác, họ vẫn còn cứ gây bao tai họa cho biết bao người, cứ gây tạo thảm kịch triền miền, biết bao giờ mới chấm dứt, nếu không tạo cho họ có cơ hội để họ thắm thía nỗi thống khổ do ‘Tội Ác’ của họ, để Giúp Họ Tĩnh Thức để Ăn Năn , Sữa Đổi, Đoạn trừ Lỗi Tội ?!
“Nhứt nhựt VÔ THƯỜNG tại,
“Phương tri mộng lý nhân.
“Vạn bang đô bất khứ,
“Duy  chỉ “NGHIỆP” tùy Thân!”

Một mai Tử Thần đến,
Mơ  màng biết về đâu?!
Vạn nơi khó thể cầu!
Họa Phước mãi dính “Thân”!

7/ Đã nhân danh Công Lý, là đại diện cho Công Lý trừng phạt, ngăn ngừa  những kẻ ‘PhạmTội’, dù là những tội nặng đến thế nào, như ‘Tội Sát Hại Người’, thì nên chí công và ‘vô tư’ xét xử. Cho điều tra chu đáo: vị tất, không một trường hợp nào mà Kẻ Bị-Hại (‘nguyên cáo’) không có Lỗi, kèm bên ‘Tội’ của kẻ phạm Tội (‘bị cáo’)! Nếu đúng vậy thì cả hai đều phải bị thẩm xét, bị bị ‘luận tội’ và phải bị ‘trừng phạt’, nếu có thể được thì cũng nên giảm án cho phạm nhân, Không nên ‘Bức Tử’?!

8/ Những ‘Tội về Chính trị’, thuộc An Ninh Quốc gia:  Người Phạm tội nặng, nhẹ thế nào đó, thì do họ có lập trường, có chánh kiến, có hoài bão, ước vọng, lý tưởng của họ, hoặc có thể do họ bị quyến rủ, bị ép buộc, bị khống chế…!  
Trên đời, “Không Ai Hoàn Toàn” (“Nul n’est parfait ici-bas”) thì “cũng Không Có Tư Tưởng nào, Lập Trường, Chủ trương, Quan niệm, Chánh kiến, Chế độ, luật lệ nào v.v…’Hoàn Hảo’ hết! Có phải vậy không?!  Tốt có, thì Xấu cũng có; Đúng có, Sai Lầm cũng không tránh khỏi; có ích lợi cũng có tai hại; có ưu điểm thì bên cạnh cũng có khuyết điểm. Hể có ‘quân tử thì cũng có ‘Tiểu nhân’ một bên!  Cũng như có “Dương” thì cũng có “Âm”, không bao giờ thiếu mất một trong hai.
          Vậy thì tại sao chúng ta bắt buộc người khác phải chấp nhận theo chủ trương, lý tưởng v.v..của ta mà không được thực hiện lý tưởng của họ, cho là họ SAI, họ LẦM ?!
Tại sao ta cho rằng ta ĐÚNG, người khác SAI?  Cũng như “5 người Mù xem VOI”!  Mỗi người chỉ rờ vào để quan sát một phần nơi cơ thể Con Voi mà thôi!  Thế rồi người nào cũng quả quyết cho rằng mình diễn tả hình dáng Con Voi Rất Đúng, rất chính xác, còn tất cả những người khác đều SAI bét?! 
           Hóa ra Ai cũng Đúng, theo sự nhận xét,  hay theo kinh nghiệm cá nhân mỗi người, nhưng mà là SAI theo tổng thể, theo nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều mặt, mà vì chưa rõ biết, chưa thấy, chưa từng trãi?!
             Nếu thấy họ quá-nguy-hiểm-cho-chế-độ của mình, cho sự lãnh đạo, cai trị, lèo lái Con Thuyền Quốc gia mà mình đang đảm trách, thì tại sao không-Giam-Cầm-Họ lại mà lại ‘sát hại’?!
 Và kiên nhẫn dùng chính sách NHÂN ĐẠO, để cảm kích, để lôi cuốn, để họ tâm phục khẩu phục ?!
           Nếu không thành công đi nữa, thì cũng Nên-Tôn-Trọng-Ý-Chí, Quyền-Tự-Do-Của-Con-Người, Sự Dũng Cảm của họ. 
          Vậy thì cứ Giam-Cầm-Họ-lại, đối xử tử tế, nhân đạo, để cảm hóa, cho đến khi nào có thể trả lại Tự Do cho họ, không được sao?!  Lại còn sẽ gây ảnh hưởng Tốt Đẹp sâu sắc cho Chế độ.  Tiếng đồn Lành sẽ vang xa, và sẽ không vô tình ‘Làm Hư Hỏng Chế Độ ! 
          Dù cho có Thất Bại , không thu phục được họ thì vẫn lưu được ‘Tiếng Thơm Tiếng Tốt’ muôn thuở trong sách sử!  Có vậy mới đúng là có Chánh Nghĩa! 
Và Chánh Nghĩa, Công lý bao giờ cũng thắng!
9/Huống chi, Công Lý, là cái lý công bằng, là phải Chí Công, Vô Tư.
Chí là hết sức, là rất, Công là công bằng, công minh, công chính, không thiên vị, không nghiêng lệch bên nào!  Chí Công là Rất-Rất-Công-Bằng, không thiên vị một ai.
Vô là không, tư là tư lự, là tư tưởng, nghĩ ngợi.  Vô Tư là không tư tưởng lung tung, không nghĩ ngợi đủ điều lợi hại, là hồn nhiên, trong sáng, không có điều gì vẫn đục, mờ ám, khuất lấp …..
             Một khi đã Bất Bình, Không Thể Chấp Nhận Cái Việc Tước Đoạt Sinh Mệnh của Bất Kỳ người nào, thế thì vị Thẩm Phán nếu tỉnh bơ tuyên bố ‘Xử Tử’cái người đang bị xét xứ, ‘Dứt Bỏ Mạng Sống’ của họ thì không phải là mâu thuẩn hay sao???!!!
Vì một khi đã Phẩn nộ, đã hết sức bất bình hành vi cùng hung cực ác của Kẻ Sát Hại Nhân Mạng người khác, họ đã nhúng Tay vào Máu, tước Đoạt Mạng Sống của Người khác, thì vị Quan Tòa phải hành động khác họ: Nếu  “Xử Tử Hình” người tội nhân ấy, thì không phải đã ‘Ra Tay’ giống y tội nhân đã làm rồi?!  Thì chẳng khác nào một người cha thường hay rầy la phản đối kịch liệt người con chớ có “cờ bạc”, rượu chè, mất hết tư cách Con Người, mà người cha thì ngày nào cũng ‘Ghi Số Đề”, và hay được bạn bè mời đi “nhậu lai rai” giải sầu là sao?  Thế thì có dạy răn được người con hay không?!
           Vậy thì, hóa ra “Chẳng có ai được phép, được quyền “Giết Chết” ai, mà chỉ có Quan Tòa, nhà lập pháp, và nhà lãnh đạo Nước MỚI CÓ QUYỀN “XỬ TỬ” người này người nọ thôi?!
             Luật Pháp đặt ra là để giữ gìn an ninh trật tự trong nước, là để giáo dục toàn dân, dù chức vị lớn cở nào thì cũng phải xử tội, nếu có tội, để ‘Làm Gương” mà không bỏ qua, không tha thứ Lỗi Tội.
            Đó cũng là bổn phận, là trách nhiệm và cũng là quyền lực của Nhà Lãnh đạo Nước, người quyết định cuối cùng ( là Vua, là Tổng Thống, là Chủ tịch Nước).
            Cho nên, ‘Nhà Cầm Quyền’ tức ‘Chánh phủ’, nói chung, nhà Lập Pháp và Quan tòa, nói riêng, ‘Không-Kết Án-Tử-Hình dù ai có ‘Trọng Tội’ nào, thì có nghĩa là Tha-Tội-Chết , mà Bắt-Tội-Sống, là “Giam Cầm lại”!  Đó là một sự trừng phạt nặng nề, đau khổ nhứt! 
 Nhứt nhựt tại ‘Tù’, thiên thu tại ngoại!”
 THA CHẾT là THA-KHÔNG-GIẾT-CHẾT, chứ không phải THA-KHÔNG-BẮT-TỘI mà phải Xử TỘI đã làm!  Và tùy theo cách gây tội mà ra hình phạt.
Chỉ trừ trường họp “BỊ CÁO”  không có LỖI TỘI , hoàn toàn do nguyên cáo. hay rủi ro thế nào đó, thì bị cáo mới được TRẮNG-ÁN.

10/Đã là NGƯỜI thì AI cũng có QUYỀN SỐNG!  Và tất cả ai ai cũng đều CÓ-QUYỀN- TỰ-DO!TỰ DO là cái QUYỀN THIÊNG LIÊNG CAO QUÝ NHẤT CỦA CON NGƯỜI !
            Con Người mà MẤT ĐI QUYỀN TỰ DO rồi, tức là BỊ TƯỚC ĐOẠT “QUYỀN ĐƯỢC SỐNG” theo Ý Muốn của mỗi người, không-Được-Tự-Mình-Làm-Chủ-Lấy-Mình,  Bị khống chế , bị câu thúc, bị bắt buộc nhất nhất phải làm theo lệnh, theo ý người khác, là-bị-tước-đoạt-QUYỀN-LÀM-NGƯỜI, thì còn gì đau đớn, thống khổ, bi ai, cực nhục cho bằng ! 
Thì Con Người đó chẳng khác gì một ‘CON VẬT
, thì  không phải là đáng thương tâm lắm lắm sao?!  Họ làm sao sống có Ý Nghĩa, Sống Đẹp, Sống Vui, Sống Hiên Ngang, Hùng Dũng ?!
           Không-một-ai-có-quyền-Tước-Đoạt ‘Quyền TỰ DO’ thiêng liêng cao quý của bất kỳ ai!  Phải vậy không?! Không ai có quyền Bắt-Buộc-Ai-Phải-Sống-Theo-Ý-Của-Ai!  Chỉ trừ khi nào:LÀ KẺ CÓ TỘI,  Nặng, Nhẹ, tùy theo đó mà Giam Cầm, lâu hay mau! Huống hồ họ còn bị hành hạ khổ sở thế nào đó về thể xác cũng như tinh thần, thì há không phải là họ sẽ Sống-Đau-Thương, Thống-Khổ, Tũi-Nhục, Sống-Không-Bằng-Chết hay sao?!  Cần gì phải “Giết Chết”! 
           Nếu suy gẫm cho cùng, chính những kẻ sát nhân, hại người tàn ác thì chính những kẻ đó mới là những Con Người khốn khổ đáng thương.  Vì họ còn quá Mê Muội nên mới Thấp Kém, mới Hung Ác.  Để rồi, họ sẽ phải ‘Đền Tội’, phải chịu ‘ Quả Báo’ cho việc tàn ác họ đã làm! Và họ sẽ còn thê thảm hơn những người đã bị họ làm khổ! “Ác nhân Ác Báo” không tránh đâu cho khỏi, dù họ có được tha thứ cở nào, họ cũng không tránh được luật “NHÂN QUẢ”, nói nôm na là “Lưới Trời”.  Người thế gian dù có xử phạt thế nào vị tất cân xứng với hình phạt của họ phải thọ lãnh!

11/  Có điều, tôi cứ lấy làm lạ và thấy thật đáng tiếc!  Vì nghĩ, quý giới chức lãnh đạo quốc gia, đại diện nhân dân, cầm quyền, lèo lái con thuyền quốc gia, và các vị Chánh án, các quan tà, là người đại diện Công Lý, là những người có quý tướng, có địa vị cao sang quyền quý trong xã hội, được mọi người trọng vọng nể kính, thế mà chỉ vì những kẻ ‘Có Tội’ mà lại vô tình khiến tự bản thân bị lôi cuốn theo ‘Kẻ Ác Dữ’, và điềm nhiên tọa thị một cách vô tư vô lự ‘tự Chiêu Lấy Tội Ác’ khi bất bình mà lên ‘án Tử Hình’, buộc kẻ Có Tội Phải Chết (!) là vô tình tự chiêu lấy Sự Nghiệt Ngã cho chính bản thân mình! Một khi ‘Tuyên Án TỬ’, tức là ra lệnh ‘GIẾT CHẾT’, ‘BỨC TỬ’, để rồi phải mang TỘI BÁO thảm hại về sau, thì chẳng phải là đáng tiếc lắm sao?! 
Sao lại để phải đến nỗi như vậy?! 
           Là người-Vô-Can, sao lại đi Gánh-Lấy-Cái-GÔNG-Vào-Cổ, ôm lấy nỗi đoạn trường cho tự thân về sau này?!
          Họ GIẾT NGƯỜI, quan tòa đứng ra xét xử, để đem lại ‘An ninh’, ‘Trật tự’ cho xã hội, đem lại sự Bình An cho người người, và hướng Con Người về với CHÂN THIỆN MỸ, mà sao Ra-cái-Lệnh “PHẢI GIẾT CHẾT”, là “Tước Đoạt Mạng Sống của Một Người”, chứ đâu phải bảo giết con heo, con gà, con chó, con dê…cũng có ‘Tội báo’ nữa mà! 
Vậy thì không phải chính’Quan Tòa’, hay Chủ Tịch Nước, hay Tổng Thống,  bị cuốn hút theo kẻ-có-tội nên tỉnh bơ phạm đúng y theo vào cái ‘sự-Giết-Người’, và vô hình chung trở thành là “Người-Sát-Nhân” kế-tiếp theo sau kẻ ác dữ đó hay sao?! 
Không phải vậy sao?!
             Sao lại thế hỡi quý quan tòa, hỡi quý vị lãnh đạo quốc gia các nước?!

12/  Không ai phản đối các nhà lãnh đạo nước (Vua, Nữ hoàng, Thổng Thống, Chủ tịch Nước) ,  thế nhưng mà, theo như Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni  đã từng khuyên nhủ chúng sinh rằng: “Trồng Dưa được Dưa. Trồng Đậu được Đậu” .  Nếu làm điều lành, tốt, thiện hảo đem lại an vui sung sướng, hạnh phúc cho người khác, thì sẽ được hưởng PHƯỚC BÁO.  Còn nếu trái lại, gieo rắc đau thương khổ não cho ai, thì rồi, dù vì bất kỳ lý do gì, một ngày nào đó, sẽ phải hứng lấy TAI HỌA, tức là phải chịu TỘI BÁO, phải ‘đền Tội’ đã gây tạo mà thôi! 
“Không nên “BẤT MUỘI NHÂN QUẢ!”
Đó là LUẬT BÁO ỨNG, là LUẬT NHÂN QUẢ, là gieo ‘Nhân’ nào thì gặt ‘Quả’ đó! 
 Có ai gieo hạt xoài Cát Chu mà lại gặt hái được trái Xoài Cát Hòa Lộc không?!  Và một khi một hạt xoài, mít, xoài riêng …chi chi  đó, gieo xuống rồi  ( gieo ‘hạt’ là gieo‘NHÂN’ ) thì có bao giờ vài ngày hay vài tháng sau là thu hái được quả mít, trái xoài v.v…để ăn được liền không, mà không phải chờ đợi đủ ngày tháng, tùy loại, mới ra hoa, rồi mới kết trái , rồi lại phải chờ thời gian để trái già, chín, mới thu hoạch được sao ( hái ‘trái’ là được‘QUẢ’ )?!
           Cũng vậy, một khi làm việc Thiện Lành, hay điều Ác Dữ, thì cũng phải chờ một thời gian, tùy việc, phải hội đủ nhân duyên mới được thọ hưởng ‘Phước báo’ (việc Lương thiện ) đã làm, hay gặp khốn khổ thế nào đó (Tai ách, Hoạn họa) phải chịu ‘Tội Báo’ để đền lỗi tội đã làm!  Nếu chưa thấy được thọ hưởng ‘Phước’ chi, hay chưa bị trừng phạt, bị ‘Họa, Tai’ chi,  nên cho rằng là không có ‘Phước Báo’ hay ‘Tội Báo’ chi hết, nên không hãi sợ, nên cứ điềm nhiên tác ác túa xua, thì không phải là MÊ LẦM lắm sao?!
            “Trước khi làm việc gì thì phải nghĩ đến kết quả của nó”.  Đức Phật đã dẫn dắt Con Người nên dùng lòng Từ Bi Nhân Thiện đối với nhau, để người người được Sung Sướng, An Vui.  Ta đem sự sung sướng vui vẻ bình an đến cho người thì người cũng đối lại với ta như vậy,  tức là ta cũng sẽ được An Lành, được HƯỞNG PHƯỚC! Làm trái ngược lại, chỉ gieo đau khổ, tạo nhiều nỗi đoạn trường cho ai thì sẽ bị  ĐỀN TỘI đã gây tạo, phải KHỐN KHỔ, gặp lắm HỌA TAI, còn khổ hơn họ nhiều.  “Gieo Gió thì gặt Bảo!”
           Như đức Chúa JÉSUS CHRIST đạo Công giáo, đã từng khuyên, từng dẫn dắt các ‘Con Chiên’, tín đồ của Đức CHÚA rằng:  Hãy tra gươm vào vỏ, Những kẻ ‘Dùng Gươm’ thì sẽ phải CHẾT ‘Vì Gươm’!”.
 Thế thì không phải Đức Chúa đã khuyên răn Con Người nên có lòng ‘Bác ái’ đối với nhau sao?  Là ‘Không nên tàn sát nhau, giết hại nhau sao?  Vì ‘Giết Người’  thì sẽ bị ‘ Người Giết’ lại!
           ĐỨC KHỔNG TỬ cũng đã khẳng định : “SÁT NHÂN GIẢ TỬ!””           Đạo TIN LÀNH, cũng là Đạo tôn thờ kính ngưỡng Đức CHÚA JÉSUS CHRIST.  Đặc biệt đã cho thành lập “Thành Trú Ẩn”!  Đấy là nơi dành cho những người phạm TỘI NẶNG  như “GIẾT NGƯỜI”, thì phải mau mau chạy đến ẩn trú nơi ‘cái Thành’ đó, để khỏi-bị-GIẾT-CHẾT!  Chả lẽ Đức Chúa Trời lại đi che chở, bảo vệ ‘kẻ Ác dữ’?!
Thế nhưng, nơi đây có các vị mục sư hằng ngày chí thành giáo dục về Tâm Linh, khiến cho người tội phạm ý thức được TỘI LỖI của mình mà ĂN NĂN,  mà thành tâm SÁM HỐI,  SỮA ĐỔI, CHỪA BỎ những thói hư tật xấu, biết Kềm Chế lòng Tham Sân, chịu XẢ BỎ nỗi ai oán, mà dứt trừ sự hung ác  v.vvà là  để “CHỜ-GIỜ-PHÁN-XÉT”, khỏi nhọc công tìm kiếm truy bắt !   ,là để họ chờ đợi nhận lãnh hình phạt theo tội lỗi họ đã gây ra, chứ không phải là Đức Chúa bao che kẻ có tội,’THA TỘI’ họ!).  Thành Trú Ẩn này có mục đích cao cả như vậy là do noi gương ‘Bác Ái’ cao cả của Đức CHÚA JÉSUS, là người vì lòng thương xót Con Người, muốn CỨU CHUỘC TỘI LỖI cho nhân gian nên đã dũng cảm nhận chịu cực hình “ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ”, để phải CHẾT Đi SỐNG Lại bao phen!  Và cuối cùng NGÀI đã được PHỤC SINH!  Đó là kết quả của TÂM THÁNH THIỆN của Đức Chúa!
          Đức PHẬT Thích ca Mâu Ni, cùng Chư PHẬT Chư BỒ TÁT đã dẫn dắt chúng sinh hãy nên dùng lòng TỪ BI ban rải.  “BI thể giới Lôi chấn”!  Lòng TỪ BI (ban rải Tình THƯƠNG, KHÔNG HẬN THÙ ) có thể hóa giải mọi NGUY NAN!  
          Cho nên nếu kính ngưỡng ĐỨC PHẬT, ĐỨC CHÚA… thì nên y giáo phụng hành, nên đem lòng TỪ BI, BÁC Ái đối xử với nhau, Không-Nên-Làm-Khổ-nhau, Tàn-Sát nhau!

“TỪ BI và BÁC ÁI” là sự mềm dẽo của Tình Thương, của sự Nhẫn Nại, của sự HIỂU BIẾT. 

13/ Những người xấu ác, không thể làm được những điều Lành Thiện, tốt đẹp,  cao quý là vì họ chưa Tiến hóa được cao, tâm linh họ còn mê muội, còn ấu trỉ, không phải sao ?! 
Ví như một đứa trẻ con còn ấu trỉ thể xác, mới lên 4, lên 5 tuổi.  Nếu người lớn để món đồ chi trên cao, hơn vóc dáng đứa trẻ (như để trên bàn, trên kệ, trên đầu tủ) và bắt buộc đứa trẻ phải lấy cho kỳ được món đồ đó!  Vậy xin hỏi đứa trẻ con ấy có vói lấy được món đồ ấy hay không, dù có nhón gót cở nào, một khi quá tầm-tay-vói của trẻ con?! 
           Cũng thế, một người còn ấu trỉ tâm linh, thì họ còn u tối, còn thấp kém, nên còn hèn hạ, xấu ác, còn Tham Sân, còn gian xảo, quỷ quyệt, bất nhân, bất nghĩa thế nào đó v.v…tức là tâm họ còn ‘ấu trỉ’ nên còn ‘mê muội’, chưa thanh cao tốt đẹp được! 
           Vì thế cho nên, họ rất cần phải được học hỏi, cần phải được rèn luyện, được un đúc, uốn nắnHọ rất cần phải được ‘giáo dục’ để Tiến hóa lên, để trở nên ngày một tốt lành hơn; ‘Xả Bỏ’ Tâm Ác, ‘Phát’ Tâm Lành, thì họ mới được là người ngày càng thánh thiện, có nhân, có nghĩa, ít phạm Sai Trái, Sái Quấy, Lỗi Lầm, ít tạo Tội tạo Nghiệp Xấu, Ác, rổi sẽ dứt hẳn tác ác, mới làm được Người tốt đẹp, lương hảo, thanh cao.
             Những ai được Tiến Hóa cao hơn, ví như người đứng trên cao, kẻ xấu, ác phải ở dưới thấp!  Vậy thì người đứng trên cao (tức người Tiền hóa hơn) có nên phun nước bọt xuống người đứng dưới thấp hơn , có nên khinh khi , ghét bỏ, tức giận, phẩn nộ, có nên nhục mạ, hành hạ, người đứng dưới thấp (kém Tiền hóa!) hay không, thì nói gì đến việc “BỨC TỬ” họ, “TƯỚC ĐOẠT MẠNG SỐNG” của họ?!
              Vậy có nên Từ Bỏ họ, Khử Trừ họ, Giết Chết họ không?!   
Một khi người đứng trên cao (đã Tiến hóa) mà phun nước bọt, tức khinh thị nhục mạ người đứng dưới thấp thì người đứng dưới thấp (hèn hạ, xấu xa, độc ác v.v..) sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhã, xấu xa, họ phải gục mặt tủi hổ, ai cũng chê bai khinh ngạo! Làm sao né tránh cho được?!
Và trái lại, nếu người đứng ở dưới thấp hơn mà ngửa mặt phun nước bọt lên người đứng ở trên cao hơn (tức là người có nhân, có đức), thì người càng đứng trên cao chừng nào, tức phẩm hạnh càng lớn, càng cao, thì liệu người đứng dưới thấp có phun trúng tới được người đứng trên cao hơn không ?  Và ‘nước bọt ấy’ sẽ phải rơi xuống ngay từ chỗ nó đã xuất phát, phải vậy không?!  Tức lả cuối cùng thì kẻ xấu xa, tồi tệ. bạc ác chừng nào thì chính họ sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhả, sẽ phải bị khinh chê nhiều chừng ấy. 
             Họ sẽ phải KHỐN KHỔ thôi, theo luật ‘NHÂN QUẢ’Đó chính là  ‘LUẬT BÙ TRỪ’ (‘La Loi de Compensation’) đấy mà thôi!!!
             Vậy  thì, chẳng phải là:Làm điều gì thì sẽ nhận y chang điều đó hay sao, dù THIỆN dù ÁC?  Vậy thì, nếu Luật Người Không-Xử thì Luật Hóa Công trong Tạo vật, cũng sẽ xử!  “THIÊN VÕNG KHÔI KHÔI, SƠ NHI BẤT LẬU!”  Lưới Người có thể Thoát được, nhưng Lưới Trời lồng lộng, không một ai tránh né, thoát đi đâu cho khỏi được!
Bao giờ một vật chi, như cục đá,  nếu ném vào khoảng trống không thì nó sẽ mất hút, không còn thấy tâm dạng.  Còn nếu ném vào vật gì, người nào, ở ngay trước mặt, trúng vào đó, lực càng mạnh, thì nó sẽ ‘Dội Trở Lại’ không sai, và càng mãnh liệt hơn, từ chỗ nó đã xuất phát ! 

    Cho nên, đối với Những KẺ CÓ LỖI, CÓ TỘI, thì nên làm thế nào để họ thấy, biết , hiểu là họ CÓ LỖI, CÓ TỘI!

                Không phải là để NHỤC MẠ, PHỈ BÁNG, HÀNH HẠ HỌ , mà là để DẪN DẮT, để giúp họ Ý Thức “LỖI TỘI chỉ đem lại bao ĐAU THƯƠNG THỐNG KHỔ, nhứt là cho chính bản thân, hơn ai hết, khi GÂY ĐAU KHỔ CHO AI! 

Một khi họ ý thức được rồi, thì họ sẽ tự động XẢ BỎ, ĐOẠN TRỪ LÀM VIỆC ÁC HẠI NGƯỜI, sẽ  KHÔNG TÁI PHẠM nữa!  

               Vậy cần có biện pháp, phương cách tốt để hướng dẫn, giáo dục sao cho có hiệu quả!
               Nếu  GIẾT CHẾT KẺ CÓ TỘI, mà không DẪN DẮT, KHÔNG CHỈ BÀY, KHÔNG CHO HỌ CÓ CƠ HỘI để cho họ THẤY, BIẾT, HIỂU, để HỌ nhận chân được rằng: những gị họ đã GÂY TẠO Cho Người Khác thì là chính họ sẽ PHẢI NHẬN, PHẢI RƯỚC LẤY, sẽ PHẢI LÃNH ĐỦ những gì họ đã  làm, đã gây tạo
Và một khi giúp họ nhận chân được điều đó thì xin thưa rằng:  Họ có còn DÁM LÀM VIỆC BẤT PHẢI, CÒN DÁM GÂY TỘI ÁC nữa không, nếu KHÔNG Giải Bày thấu đáo, KHÔNG DẪN DẮT được, và « Không Cho họ Có Cơ Hội » nhận chân “ Triết lý” ấy thì không phải là tàn nhẫn lắm sao, là vô tình lắm sao , là thiếu HIỂU BIẾT, là thiếu lòng TÙ BI THƯƠNG XÓT giữa CON NGƯỜI với CON NGƯỜI lắm lắm hay sao?!

14/ Đó là nói những người phạm tội trong mọi thành phần trong một quốc gia và quốc tế.

Còn đặc biệt với người lãnh đạo một nước, nếu là Tổng Thống, hay Chủ Tịch Nước, hay vua chúa, nếu có PHẠM TỘI TRỌNG gì, thì trong lúc họ còn tại vị, nếu có quyết định chi mà nhân dân thấy có nguy hại cho người dân, cho đất nước thì, tại sao người người trong cả nước không cùng đứng lên, họp lại dũng cảm can gián, khuyên ngăn chí tình, lại cuối đầu tuân phục lệnh ban ra ?!  Rồi đợi đến khi họ mãn nhiệm kỳ, hết Chức hết Quyền, người dân mới nổi lên phản đối, xử TÀN NHẪN, TỆ BẠC, ĐỘC ÁC, công khai Luận Tội Nặng và KẾT ÁN TỬ HÌNH, dù dưới bất kỳ hình thức nào!!! Họ nếu Có TỘI, thì người DÂN KHÔNG CÓ LỖI sao?! 
Dù họ đã mãn nhiệm kỳ, trở lại làm người bình thường trong Nước, nhưng đó cũng là một người đã từng lãnh đạo nước bao nhiêu năm, không có công lao gì với quốc gia dân tộc hay sao mà lại nở đem ra XỬ TỬ một người đã từng được Tiền-Hô-Hậu-Ủng, bao người phải kính cẩn nghiêng mình chào đón, rước đưa rần rộ, uy nghiêm, hiển hách ?!!! 
Nếu không-khép-chặt-cửa-lòng, mở rộng lòng Từ Bi Bác Ái Nhân Thiện cho những người phạm tội một ‘Con Đường Sống’ để họ TỈNH THỨC, để ĂN NĂN, HỐI NGỘ, SÁM HỐI LỖI TỘI thì không đáng thương tâm lắm sao!
Đối với loài động vật hạ đẳng như con Khỉ, con Ngựa, con kiki, con ột ệt, con Trâu, con Cọp, con Beo, con Voi v.v…mà còn huấn luyện được thay, thì với Con Người có Trái Tim Biết Cảm, có Khối Ốc Biết Nghĩ Suy, thì làm sao Không-Cảm-Hóa được, không rèn luyện, giáo dục được sao?! Và đối với người bình dân còn nên như vậy, huồng hồ từng là một vị nguyên thủ quốc gia của cả nước ?!
              Nếu có TRỌNG TỘI chi Không-Thể-Tha-Thứ được, thì sao không cho LƯU ĐÀI NGƯỜI ĐI BIỆT XỨ, mà CHẲNG NÊN KHỬ TRỪ, DỨT TUYỆT MẠNG SỐNG để họ có-thì-giờ-rộng-rãi BÌNH TÂM Nghĩ Suy mọi lẽ?!  Chắc chắn họ sẽ Ân Hận sâu sắc và sẽ SÁM HỐI !

15/ Một điều nữa, nếu cho rằng là ‘tâm linh kẻ Xấu Ác còn Thấp Kém’, cũng không hẳn có nghĩa là họ đều là những Con Người ngu dốt, khờ khạo, hạ tiện, u tối, mà có thể đó là những người cực kỳ thông minh, tài giỏi, cũng chưa biết chừng!  Nếu họ Tỉnh Thức ‘quay đầu lại’, quyết chịu dứt trừ xả bỏ tập nhiễm xấu ác độc dữ, tham lam, tàn nhẫn v.v…, thì họ lại là những người rất đặc sắc, tuyệt vời, là người đắc dụng, xã hội rất nhờ cậy!
              Có giống cây ăn trái, hay bông hoa chi đó, hể đó là một loại cây trái quý hiếm, rất ngon , rất bổ dưỡng, hay là một loại bông hoa vừa đẹp vừa thơm kỳ lạ thì thường rất khó trồng, hay có nhiều sâu bọ!  Nếu ‘nhà làm vườn’ biết  kiên nhẫn, chịu khó chăm sóc, cắt tỉa lá sâu cành hư, bón phân tưới nước cẩn thận mà-không-nhổ-quăng-vứt-đi, thì rồi sẽ gặt hái được những trái thơm ngon, những đóa hoa tươi đẹp, rất quý hiếm ! 
               Con Người cũng vậy.  Không ai là người đáng-phải-BỎ-ĐI, đáng phải Giết, phải Chết!  Đến như sạn, sỏi, cát, đá, cây cỏ nhỏ nhoi trên trái đất mà cũng còn hữu ích, huống hồ là một Con Người!
               Nếu biết cảm hóa, biết hướng dẫn người xấu ác dữ, biết cách ‘chuyển tâm họ’ để họ ‘quay đầu lại’, xả bỏ TÂM ÁC PHÁT TÂM LÀNH thì họ lại là những Người rất năng nổ, đa tài, đắc dụng.   Họ dù cùng hung cực ác thế nào cũng có vài đức tính đáng ngưỡng mộ,  có ích cho nhân quần, một khi được cảm hóa. “Sắt’ mà ‘được toi’ trong lò luyện với ‘lửa cao độ’ thì sẽ trở nên là “THÉP” rất đắc dụng!
              ‘Không ai hoàn toàn TỐT LÀNH, THIỆN HẢO!’  Cũng không ai hoàn toàn XẤU ÁC , BẤT NHÂN BẤT THIỆN’!
Vậy thì có nên phát tâm TỪ BI, BÁC ÁI, THƯƠNG XÓT, những người còn thấp kém, xấu xa, hèn hạ, nham hiểm, độc dữ , cùng hung cực ác thế nào đó không???
CÓ HIỂU BIẾT MỚI THƯƠNG YÊU”, MỚI XÓT XA! Đức PHẬT đã dạy khuyên như vậy.

               Nói tóm lại, CÔNG LÝ thì phải Nghiêm Minh, Công Bằng, Vô Tư, nhưng cần phải có TỪ BI, BÁC ÁI kèm theo, thì mới tạo được AN VUI HẠNH PHÚC  cho người người, giúp nhau TIẾN HÓA!

               Một triết gia, trong quyển “Zen và Ý Thức về Ăn Chay’, tr. 220-222 đã than rằng  “Kiếp nhân sinh sở dĩ lắm ĐAU THƯƠNG là vì CON NGƯỜI ‘THIẾU LÒNG TỪ BI’ đối với nhau: Con Người khép chặt cửa lòng. Cam tâm ‘nô lệ’ cho SI, THAM, SÂN, ÁI (ái dục và Chấp trước), kiếm đủ cớ để chia rẻ nhau, lửa bịp nhau, lung lạc nhau, ngược đãi nhau, khống chế nhau, hận thù nhau, tranh đoạt nhau, tàn hại nhau, gieo rắc biết bao đau thương thống khổ cho nhau!  Nào hay tự mình là người Khổ Trước, trên hết và nhiều hơn hết.”
               Ni sư AYYA KHÉMA Ấn Độ cũng nhận xét chí lý rằng:” Tất cả chúng ta đều là KHÁCH trên trái đất này!  Không ai sở hữu được thứ gì, dù là những gì thân, yêu, quý, nhất của ta!”
               Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng đã than thở và có ý khuyên răn, nhắn nhủ người đời rằng:
                                 “Chào Đời hai bàn tay trắng!
                                “Lìa Đời trắng hai bàn tay!
                                “Sao mãi nhặt cho đầy?
                                “Túi Đời như Mây bay?!”

Vậy thì tại sao Con Người không ý thức điều chí lý ấy để HIỂU BIẾT, để kềm chế thất tình lục dục, để cảm thông nhau, để cố gắng ban rải TÌNH THƯƠNG cho nhau, để rồi tha thứ cho nhau, xóa bỏ tất cả ‘oan trái’,  ‘hận thù’, không ai làm ‘Đao Phủ’ của ai nữa, thì lo gì khi chết đi phải sa ‘ĐỊA NGỤC’, khi chinh Con Người đã tạo lấy biết bao cảnh Địa Ngục thê thảm nơi trần gian này rồi!  Rất nhiều người đã vô tình đóng vai những kẻ ‘Đầu Trâu, Mặt Ngựa’ tay-thước-tay-đao, và biến nhau thành những kẻ “Tội Đồ”, những kẻ “Bị lưu Đày” thê lương, thống khổ?! 

Hỡi quý giới chức Lãnh đạo các Nước, hỡi các nhà Lập pháp, hỡi quý vị quan tòa nước VIỆT NAM và trên toàn thế giới, hãy suy gẫm lại xem:CÓ NÊN LÊN ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG???”, dù là Trọng Tội gì, dưới bất kỳ hình thức nào ???

Và các vị lãnh đạo Nước nếu có phạm lỗi chi nặng, thay vi LUẬN TỘI và Lên ÁN XỬ TỬ HÌNH thì người dân có nên chỉ cho « LƯU ĐÀY ĐI BIỆT XỨ », THA TỘI CHẾT mà  KHÔNG THA TỘI SỐNG vậy?!  CÓ ĐƯỢC KHÔNG???

16/ Và sau đây, xin lạm bàn thêm về vấn đề ‘HẠN CHẾ SINH SẢN’ để bảo vệ SỨC KHỎE CHO NGƯỜI MẸ, là bảo vệ Hạnh Phúc Gia Đình, tức bảo vệ An Vui, Cường Thịnh cho xã hội, cho quốc gia!  Nếu-Sanh-Con-Quá-Nhiều thì Nuôi Dạy Cực Khổ và Khó Chu Toàn Cho Tất Cả Các Con, nhất là các trẻ sanh sau chót!  Và gây khổ nhọc, thương đau nhất cho người “LÀM MẸ”, người phụ nữ. 
Nhưng, thay vi Chỉ-Sanh “HAI-CON” mà thôi, thì CÓ-NÊN-CHO-SANH “BA-CON”???
Vì rằng:

1/ Tài nguyên thiên nhiên tối yếu trong vũ trụ là có BA: THIÊNĐỊANHÂN.  Đó là “TAM TÀI”:Trên là TRỜI, Dười là ĐẤT, ở giữa là CON NGƯỜI!
 TRỜI CHE TA, ĐẤT CHỞ TA. 
Có BẦU TRỜI CON NGƯỜI mới có Không khí để thở để Sống Còn, có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, Con Người mới có sinh khí để Sinh Tồn.

Và CÓ ĐẤT thì CON NGƯỜI mới có nơi ăn chốn ở, mới tạo dựng được nhà cửa để cư trú.  CÓ ĐẤT mới trồng trọt, mới có được ruộng vườn, cây trái, hoa mầu; mới có sông, hồ, ao, rạch ; mới có núi đồi, rừng cây, biển cả; mới có các loài động vật, thực vật!
Thì, CON NGUÒI mới có gạo, có thức ăn , mới có muông thú v.v.. thì CON NGƯỜI MỚI CÓ THỂ SINH TỒN được!
2/ Đứa Con Thứ Ba thường lại là‘Kinh Nghiệm’ của  2 người ‘Cha và Mẹ’ (Nam-Nữ) chung sống với nhau, có kinh nghiệm trong sự hòa hợp thể xác và tinh thần, về đời sống kinh tế, lịch lãm hơn, vững chải hơn, thoải mái, nhẹ nhàng hơn, về vật chất cũng như tinh thần.  Và có sự thương yêu quí mến, trân trọng nhau, hạnh phúc bên nhau hơn, nên khi bào thai được kết tụ sẽ được hưởng nhiều lợi lạc về nhiều phương diện hơn hai lần đầu. Cho nên, các vĩ nhân, những thiên tài,  những người con ưu tú về tài đức, thì có thể thường thấy xuất hiện ở người con thứ 3e! Phải vậy chăng?
Vậy, “NẾU CẢN” ‘KHÔNG-CHO-SINH-ĐỨA-CON-THỨ-BA’ thì gia đình cũng như xã  hội, quốc gia, Đất Nước sẽ Mất-Đi-Biết-Bao-Nhân-Tài, có thể đó là nhà bác học, là bác sĩ, lương y đại tài,  là nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, hiền triết nổi tiếng, là vĩ nhân, cũng chưa biết chừng v.v…  Đó là những Con Người Ưu Tú!
3/a- Vả lại, có thể nói không quá đáng chăng: Nếu không-cho-sanh-đứa-Con-Thứ 3e thì, nếu lở đã kết thành Bào Thai, dù chưa tượng hình hay đã thành hình, người Cha và người Mẹ vì Sợ-Phạm-Luật sẽ bị phạt, nên phải uống thuốc PHÁ-THAI, hay dùng phẩu thuật thì, chẳng khác nào như là XỬ-TỬ-một-Người-đang-còn-trong-Bụng-Mẹ vậy !!! Trẻ đó có TỘI gì mà phải

BỊ XỬ TỬ ?!

3/b- Hoặc, Để-Ngừa ĐẬU THAI, thì người đàn bà Phải-Uống-Thuốc-Ngừa-Thai, RẤT -RẤT-NGUY BIẾN!  Đó là cả một Tai-Họa!
 Vì, Nếu Rủi Đậu Thai thì chắc chắn Đứa-Trẻ-Sanh-ra-Thường-Bị-Dị-TẬT, đủ mọi loại; hoăc Trí Suất IQ RẤT-THẤP-KÉM (!), có khi chẳng khác nào một-loài-động-vật-hạ-đẳng,  chỉ biết ĂN UỐNG NGỦ mà thôi !  Ngoài ra không biết sinh hoạt chi hết, ngay như tắm rửa, mặc áo  quần, cầm đủa muỗng v.v..cũng không biết làm, có người lại không thể nói năng được, không biết thương yêu giận ghét v.v…thì làm-sao-Làm-Một-Con-Người để Tiến Hóa lên?!!!  Đó là một CON NGƯỜI BẤT HẠNH, và là gánh nặng cho gia đình và xã hội!!!

3/c- Hoặc, Nếu đặt-Vòng-Xoắn để TRÁNH  ĐẬU THAI’ thì, đó là một vật bằng kim loại, đặt vào bộ phận sinh dục người đàn bà!  Đặt vào trong mình lâu ngày có thể sanh bệnh KHÓ-TRỊ (cancer) thì đáng thương biết bao!  Một khi người đàn bà trong gia đình BỆNH HOẠN thi biết bao vấn đề bi thảm sẽ đến với gia đình đó!

3/d- Nếu theo luật ÂM DƯƠNG thì ‘HAI’ là  ĐÚNG!  Nhưng trong vũ trụ có Tài Nguyên Thiên Nhiên là “TAM TÀI”, là 3 BẢO BỐI RẤT QUÝ, thì thiếu mất một rồi vậy!!!
Nếu chỉ có BẦU TRỜI và TRÁI ĐẤT mà Không-Có-CON-NGƯỜI, thì đó chỉ là tình trạng sơ khai thuở Tạo-Thiên-Lập-Địa mà thôi!!!
Vậy thì “Chẳng-nên-chỉ-cho-sanh-Hai-Trẻ mà là “NÊN-CHO-SANH “ĐỨA-CON-THỨ-BA”,  phải vậy không???!!!
Vì đức HIẾU SINH xin có đôi lời trăn trở, xin quý vị Nguyên thủ quốc gia và các Nhà Lập pháp, trong nước và trên thế giới suy gẫm minh triết.

23/02/2020 

GIÁC ĐẠO-LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH
Một Cựu Giáo Chức VĨNH LONG
(Cựu Chuyên viên Nghiên cứu Giáo Dục SAIGON trước 1975)
 




MẮT LỆ CHO NGƯỜI – Bích Huyền

MẮT LỆ CHO NGƯỜI

Bích Huyền biên soạn và thực hiện trong Chương trình Thơ Nhạc VOA thập niên 1990′

***

Khoảng từ vài năm đầu thập niên 1980, đời sống dân chúng Sàigòn còn vô cùng thiếu thốn, đói khổ. Có nhiều đợt tù nhân chính trị được thả về. Họ là những người sĩ quan trẻ nhưng bị bệnh tật vì thiếu thuốc men hay vì “lý lịch khá trong sáng ”, không có “nhiều nợ máu với nhân dân”. Những người tù binh trở về ấy đã được dân Sàigon rỉ tai loan tin nhau, ra bến xe, ra ga đón tiếp một cách âm thầm (như mang quà bánh, nước ngọt, trái cây, quần áo và tiền để tặng, những người phu xe xích lô chở về nhà không lấy tiền …v v…).

Năm 1990, tôi được sang định cư tại Mỹ, theo chương trình HO 1. một trong những tình cảm đẹp trong hành trang tôi mang theo là tình thương yêu ấy của đồng bào hai miền Nam Bắc dành cho những người trẻ tuổi anh hùng thất thế ấy- mà nhà cầm quyền CS gọi là “ngụy quân ngụy quyền”.

Năm 1992, tôi được cộng tác với đài VOA, tiếng nói chính thức của chính phủ Hoa Kỳ phát thanh về Việt Nam. Tôi không bao giờ quên những người ở lại, khi đó vẫn còn đang trầm luân đói rách. Thế cho nên, trong những bài tường thuật gửi qua làn sóng VOA, những sinh hoạt Cộng đồng người Việt, những tấm lòng nhân ái tại nơi xứ người hướng về người ở lại. Những bản tin như thế, mang niềm hy vọng cho người miền Nam, nhất là những người tù, người vợ, người mẹ, người con Tù nhân Chính trị.

Ngay cả đến chương trình Câu ChuyệnThơ Nhạc mỗi tốithứ sáu của đài VOA, tôi cũng vẫn có những bài dành cho những người bất hạnh nhất trong một đất nước đã hết chiến tranh. Vâng, cho dù chiến tranh đã tàn nhưng khói của nó vẫn làm cho ta cay mắt.

Tôi nhớ có một chương trình nói về một câu chuyện bắt nguồn từ một cảm xúc về bài thơ mà tôi đã giới thiệu trên đài. Bài thơ ấy như sau:

Một chiều qua bến đò ngang

tình cờ nghe bài hát cũ

người hành khất mù và cô gái nhỏ

cây guitar lạc phím tự bao giờ

Cô gái hát

nỗi đau mênh mông của người tình phụ

chiều bay mưa hiu hắt dòng sông

khách qua đò cuối năm lưa thưa

có người dừng lại

xót xa trong lòng nhưng túi rỗng không

Mấy mươi năm rồi người con gái qua sông

tôi viết lời ca sao buồn quá vậy?

những câu hát cho lòng tôi thuở ấy

ai biết bây giờ

người hành khất hát để ăn xin…

Yêu bài thơ ấy của Đynh Trầm Ca, tôi đã biên soạn một ch/trình Thơ Nhạc “Nhớ người thương binh” và sau bài thơ là ca khúc Mắt Lệ Cho Người của Từ Công Phụng.

Thời gian sau đó, tôi nhận được một lá thư thính giả từ trong nước. (khi đó chưa có email nên phong thư giấy rất thô sơ, vàng úa vì loại giấy dùng rồi phải nấu lại vài ba lần, tem thư cước phí rất đắt do nhiều người chung góp).

Trong thư kể rằng, cũng từ cảm xúc của bài thơ ấy, những người tù xưa đã kể lại một câu chuyện tình ly biệt.

“Có hai người bạn ở trong tù, rất thân nhau. Họ là hai người bạn thời trung học. Lớn lên mỗi người một nơi, cho tới ngày gặp lại nhau thì buồn thay, lại ở trong một trại tù của người Cộng sản.

Sau năm năm trong nhà tù, họ lại chia tay nhau. Một người được thả về mang theo chiếc vòng của người bạn còn ở lại, nhờ trao đến tay một người con gái ở quê nhà. Chiếc vòng đeo tay làm bằng vỏ đạn có khắc bông hoa điên điển. Nhưng tiếc thay, khi tìm được đến nơi thì người con gái ấy đã không còn ở địa chỉ đó nữa…” Phần cuối câu chuyện không có kết thúc, cho nên nó đã để lại cho người đọc một niềm ray rứt thương cảm khôn nguôi.

Nhưng sau đó tôi lại nhận được thư vị thính giả khác. Ông cho biết về một người bạn cùng ở một tiểu bang, người đã nhận mang chiếc vòng của người bạn đồng tù. Người ấy có về lại tìm người bạn xưa. Còn nỗi đau nào bằng khi gặp lại người bạn học thân thiết thời thanh bình cũ, giờ đây trong một hoàn cảnh rất bất ngờ, đầy thương tâm. Người bạn xưa ấy sau khi ra tù bị mù đôi mắt, đang là một hành khất hát rong trên một bến đò… Hai người bạn cũ gặp lại nhau trong một buổi chiều cuối năm trời mưa bay rất nhẹ. Khung cảnh buồn hiu hắt cả lòng…

Được nghe kể rằng người yêu xưa có tìm gặp nhưng người hành khất đã chối từ: “Tôi không phải là người cô muốn tìm lại, chắc người giống người mà thôi”. Khi người đàn bà ấy buồn bã qua cầu, văng vẳng từ phía sau tiếng ghi ta và tiếng hát như đuổi theo…

“Mưa theo dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Đời em đã khép đi vội vàng

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng

Như cánh chim khuất ngàn

Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu

Mưa… soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Thời nào yêu hết trái tim buồn

Lời nào yêu hết trái tim buồn

Xin giữ trong mắt lệ

Nhòa theo từng gót chân người trông vời

Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức,

Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa như em khóc hồn nhiên

Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở

Em thấy không cõi đời vô vọng…

Xin em hãy cho tôi tạ tình,

Khi em đã đi qua quãng đời tôi

Dù một khoảnh khắc sớm phai tàn,

Và lệ em rớt trên môi nhạt

Đôi mắt em rất buồn,

Đôi chúng ta rất buồn,

Vàng câu tình cũ

Xin gửi cho đời…

Trong đời sống, chia ly là chuyện bình thường. Nhưng có lẽ không có cuộc chia ly nào mà không có nhiều nước mắt đớn đau kể từ năm 1975. Bao nhiêu gia đình tan nát. Hai vợ chồng đôi ngả chia xa, hai người yêu nhau muôn đời cách biệt. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng dù thời gian có xóa nhoà đi tất cả, dù không gian có cách xa, họ vẫn mãi nhớ nhau. Rồi có một phút giây nào đó gặp lại, họ nói với nhau lời tạ từ, nghẹn ngào trong hạnh phúc đắng cay, nhạt nhòa mắt lệ…

Tháng 6/2012

Bích Huyền