Thơ Xướng Họa : Chúc Thọ Nhạc Sĩ Vũ Đức Nghiêm 80 tuổi.

CHÚC THỌ 80 TUỔI

BÁC VŨ ĐỨC NGHIÊM

CHÚC THỌ 80 TUỔI

BÁC VŨ ĐỨC NGHIÊM

Mừng huynh Vũ Đức đỏ như son

Văn chương rạng rỡ chốn đầu non

CHÚC THỌ 80 TUỔI

BÁC VŨ ĐÚC NGHIÊM

CHÚC THỌ 80 TUỔI

BÁC VŨ ĐỨC NGHIÊM

1 – Mừng Bác Tám mươi giữ vẹn tròn

Tình nhà, tình nước tấm lòng son

Kiếm cung ngang dọc danh nào mất

Thơ nhạc tình say tiếng hãy còn

Kèm kẹp không làm thân nhụt chí

Trận thù khó triệt dạ vì non

“Gọi Người Yêu Dấu” vang danh sĩ

Ca khúc vui đời lũ cháu con.

 

2- Tuổi Xuân dẫu đã vượt qua rồi

Chí cả chưa sờn hồn vẫn tươi

Thi họa đứng đầu trang Tuyển Tập

Tiếu lâm ban phát những tràng cười

Sáng danh nhạc Thánh lời ca Chúa

Góp tiếng cộng đồng cũng tám mười

Thượng thọ mai nầy lên chín chục

Bóng râm con cháu hưởng quanh Người

 

San Jose, ngày 12 tháng 6 năm 2010

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

 

CHÚC THỌ 80 TUỔI

BÁC VŨ ĐỨC NGHIÊM

CHÚC THỌ 80 TUỔI

BÁC VŨ ĐỨC NGHIÊM

 

 




Trần Văn Sơn : Ngày Về Thăm Bạn

Ngày Về Thăm Bạn

 

 

Vùng biển động bỗng êm từng đợt gió,

Sóng cũng dừng những ngọn cuốn vô tình,

Thuyền lữ khách nhẹ mái chèo lữ thứ,

Xoáy bên dòng lấp lánh ánh bình minh!

 

Loài chim biển xoải tầm bay nhè nhẹ,

Và mây trời quang đãng lộ mầu xanh,

Nghe ríu rít như ca ngày hội ngộ,

Cầu không gian tiếp nối chuyến bay nhanh!

 

Xếp hành lý khách du hành cố quốc,

Tóc hoa râm nhìn vọng khoảng trời xa,

Bao kỷ niệm đau lòng chưa tan biến,

Môi sinh nào đang níu chặt hồn ta?

 

Quê hương cũ như hoang tàn cơ thể,

Loài ký sinh như tàn phá châu thân,

Ta không phải một loài siêu vi khuẩn,

Sẽ tan tành, một giấc mộng siêu nhân?

 

Hệ sinh kháng đang vận hành thích ứng?

Loại siêu trùng đang chế ngự tế bào?

Cơ thể cũ như đang kỳ chuyển dịch?

Cơn đau dài hồi phục sẽ lâu mau?

 

Tôi khát vọng tầm tay không với được,

Khoảng thời gian trôi nhanh quá, vô tình!

Mang nhiễm thể một chuỗi ngày tan vỡ,

Ngày về sao thương quá cố hương mình!

 

Trên lối cũ sỏi đá buồn rời rạc,

Chiếc xe tàng xọc xạch giải đường chiều,

Người Bạn cũ bóng hình nơi thiên cổ!

Xóm thôn nghèo, mái lá vẫn hoang liêu!

 

Trần Văn Sơn

1994

Hôm Qua, Hôm Nay, Ngày Mai

Đoạn đường ta đã đi qua,

Đau thương gắn chặt đời xa xót nhìêu!

Những triều sóng nổi tiêu điều,

Hoang vu Quê Mẹ tịch liêu đường về,

Hôm Qua thù hận não nề!

Vong thân đời sống bốn bề cô đơn!

Biển đời trôi dạt sóng cồn,

Dừng đây ngậm nín căm hờn chưa quên,

Khoảng trời xanh ngắt một miền,

Quên chăng để được gắn liền Hôm Nay?

Ta về đâu giây phút này?

Thuyền đâu chuyên chở những ngày giao thoa?

Tuy đây dòng sống hiền hoà,

Nhưng con xoáy nước nhạt ngoà nguồn xưa!

Rồi bao thế hệ gió mưa!

Ta sao ngăn được giao mùa tiếc thương!

Quê xưa vẫn một giải đường,

Chờ xây đắp mới vấn vương đời mình!

Ngày Mai đời sống vươn mình,

Tình Quê tươi sáng cho mình hân hoan!

Trần Văn Sơn

1993

Rừng Xuân Mới

 

Tôi vào rừng đón Xuân sang,

Bao loài sinh vật ngỡ ngàng nhìn tôi!

Loài hoa khoe thắm tươi cười,

Bầy chim xoải cánh lả lơi cánh dài,

Bướm hồng mềm cánh khoan thai,

Sương còn lắng đọng hạt dài lung linh,

Gió rừng thoang thoảng hương tình,

Và con suối nhỏ rung rinh sóng ngàn,

Cây rừng đơm trái bên ngàn,

Lối mòn xưa đã thênh thang cỏ hồng,

Xa rồi giã biệt trời Đông,

Và bao kỷ niệm bên dòng bi thương!

Bình minh vừa rạng con đường,

Cho tôi nhìn thấy mình đương lạc loài!

Sóng triều nhân thế hôm nay,

Và hôm xưa đã đổi thay hồn mình?

Vào Xuân cảnh vật hữu tình,

Giao Mùa quên lãng bóng mình hôm nao?

Tuổi thơ ôm cánh tay chào,

Nghe trong đầm ấm đi vào Rừng Xuân!

 

Trần Văn Sơn

1994

 




Bà cụ & chiếc xe chó

Bà cụ & chiếc xe chó

Một phụ nữ nhà quê. Một con người luôn ném hết nghị lực ra giữa trời đất để sống. Bảy mươi ba tuổi. Tên Cao Thị Mỹ. Mỹ trong nghĩa từ Hán – Việt là “cái đẹp”. Nhưng ít ai gọi cái tên ấy, người ta thường nhắc đến bà một cách nửa lạ nửa quen: bà cụ có chiếc xe chó

10 năm nay, bà con xã Phước Vinh, khu vực biên giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quen với hình ảnh bà cụ và chiếc xe chó. Bao năm qua chó Vàng cứ lầm lũi kéo xe chạy trên đường, gánh trên vai gánh nặng cuộc đời của bà chủ tội nghiệp của nó.
Cỗ xe cuộc đời
Bà Mỹ từng có chồng, có con. Chồng mất, người phụ nữ ấy hết lặn lội nuôi con, đến nuôi dâu, rồi nuôi cháu. Mấy mẹ con tần tảo xây được căn nhà. Nhà mới chưa ráo hồ thì người ta khiêng xác đứa con trai đầy máu về đặt trước mặt bà. Một “hung thần đường phố” nào đó đã cướp sinh mạng nó rồi bỏ trốn. Người mẹ ấy lặng lẽ bán cái nhà mới xây để lo tang ma và xây một cái mả tươm tất cho con.
Bấy giờ, tài sản đáng giá của người mẹ chỉ còn cái thân già, ba con chó và một con heo. Con trai chết rồi, chẳng còn ai đỡ đần. Chỉ còn đàn chó, con heo trung thành quấn dưới chân bà. Ban đầu bà lấy mấy thanh tre, ghép với hai bánh xe đạp rồi dạy cho con heo kéo. Cái loài ủn ỉn hay ăn hay ngủ chỉ kéo được mấy bước rồi lăn ra nghỉ mệt. Bà thử buộc xe vào cổ ba con chó. Không ngờ chúng kéo chạy bon bon. “Vậy là trời còn thương, cho một kế sinh nhai, di chuyển”. Bà tự nhủ rồi chất một bao gạo, một giỏ xách đựng quần áo và di ảnh của con trai lên cỗ xe chó ấy. Cứ chó kéo xe đi trước, bà đạp xe tất tả theo sau. Người và chó đi về hướng thị xã. Ngày đi. Đêm nghỉ bên lề đường. Ròng rã gần 70 cây số đến toà án tỉnh. Người mẹ quyết tâm đòi công lý cho đứa con xấu số.
Không nhớ nổi bao lâu ăn ở vạ vật bên đường để chờ đến ngày người ta tìm ra kẻ gây tai nạn, tuyên án, người đàn bà già cỗi ấy mới cùng ba con chó lủi thủi về. Đến quê, bà tặng hết số tiền người ta đền mạng sống đứa con trai cho cô con dâu, nó cũng nghèo khó và bạc phước như bà. Còn bà, dắt mấy chú chó xuống chiếc xuồng ba lá sống một đời lênh đênh.
Cuộc đời du cư cứ buổi sớm ra đồng mò ốc, mót lúa, mót mì…, buổi chiều lại cùng mấy con chó chở những thứ vừa kiếm được ra chợ để đổi lấy thức ăn. Hàng năm trời, giấc mơ của con người ấy và mấy chú chó cũng bập bênh trên con xuồng neo ở sông Vàm Cỏ. Sau trận bệnh tưởng chết trên xuồng, bà mới mua khung chòi tre với giá bằng bốn ký thịt bò. Người ta cho dựng nhờ trên một nền đất hoang bốn mùa lộng gió bên kia sông. Vậy là bà có một nơi bình yên để treo di ảnh đứa con thân yêu.

Robinson trên đồng

Nghèo, nhiều người nghèo. Khổ, nhiều người khổ. Nhưng, con người ấy đã cho tôi cảm xúc rất lạ. Lạ từ nụ cười khanh khách trên khuôn mặt đen nhẻm đầy bùn đất. Lạ từ những giọt nước mắt lăn vội khi bỏ di ảnh con vô giỏ bàng rồi treo lên cỗ xe chó chở theo những ngả đường mưu sinh. Lạ từ chuyện lần mò trồng và chăm sóc cả một vườn khổ qua, bí đỏ, rau lang xanh mướt… để cho bà con hàng xóm ai thích ăn thì cứ hái miễn phí. Lạ từ cách mỗi ngày bà đều tìm và cắm một cành hoa tươi lên vách chòi tả tơi. Lạ đến những ngày bà nhịn đói để cho mấy chú chó được no. Lạ từ sự tự vấn bản thân khi trót làm chết mấy chú chó: “Trời! Tui già rồi, mà sao tui còn ngu hết biết vậy trời!”.
Gặp tôi, bà rớt nước mắt hai lần: lần thứ nhất nói tới con trai, lần thứ hai nhắc về mấy chú chó. Cỗ xe tam cẩu giờ chỉ còn một mình con Vàng kéo. Con chó được huấn luyện đeo tờ giấy đi chợ giúp bà cụ đã bị sợi dây quấn vào cổ chết khi thò đầu xuống sông uống nước. Con chó thứ hai từng bơi qua sông kiếm người cứu chủ nhân trong đêm bà bệnh nặng trên xuồng đã bị mấy bợm nhậu bắt trộm làm thịt.
Sau khi chèo xuồng đưa tôi qua sông, bà và con Vàng lặng lẽ quay về căn chòi le lói ánh đèn chong. Nơi ấy đêm đêm chỉ còn bà cụ và con chó ngủ còng queo trên chiếc nệm làm bằng rơm khô. Phía sau xe chúng tôi nặng trĩu mấy trái bí đỏ do chính tay bà cụ nghèo trồng và hái tặng. Dù thành phố đâu thiếu thứ rau trái gì. Dù đời sống vật chất ở vùng biên giới này chẳng dư thứ gì. Nhưng, biết đâu là giới hạn của thiếu và đủ. Thôi thì, cứ hồn nhiên cho và nhận những gì mình có – người đàn bà ít học ấy đã dạy tôi như thế!
 
Y.T 




Võ Đại Tôn : Chắc Má Tao Mừng Lắm

Võ Đại Tôn (Indonesia-Singapore)

 

Thuyền Nhân, mỗi người mang một tâm trạng riêng nhưng cùng chung một tâm nguyện, âm thầm thắp nhang cắm trên các mộ bia hoang tàn. Nhiều mộ bia đã bị đập phá, gạch đá nằm lăn lóc, cỏ cháy vàng khô. Nhiều tấm bia đã phai mờ chữ khắc, nhiều tấm bia không có năm sinh, chỉ ghi ngày chết. Tất cả, tất cả đều im lặng, hoang vu, ngậm ngùi. Trên bục đá cao còn sót lại một cột cổng bằng xi-măng vào nghĩa trang, màu sơn trắng đã thành rong rêu loang lổ, ai đã sơn thêm ba sọc màu đen từ trên xuống dưới, thành lá cờ tang của Tổ Quốc, bơ vơ nơi xứ người. Trông thật ảm đạm, đìu hiu, tôi nghĩ đến những dòng nước mắt màu đen của Dân Tộc hôm qua và hôm nay. Tôi cúi đầu khấn nguyện, cắm nhang trên những nấm mộ vô danh, và tôi đang khóc trong lòng. Vì tuổi già leo dốc cao, và vì quá xúc động trước cảnh tượng điêu tàn hoang sơ này, tôi chợt cảm thấy mình ngộp thở, vội trao lại bó nhang đang bùng khói cho người bạn đồng hành trong đoàn, từ Mỹ qua. “Anh cắm nhang tiếp giùm tôi đi, tôi chóng mặt quá!”. Tôi đến ngồi bên cạnh một mộ bia đã bị đập vụn, nghĩ về thảm trạng của cả một trời quê hương, bên kia bờ biển Đông, và nghĩ đến những người đã chết bên này đại dương.

  và cái ‘Miếu ba Cô” hoang vu trên đảo Galang chiều nay, là nghịch cảnh có thực trong cõi đời này. Nghịch cảnh giữa những người con gái Việt Nam, đang sống và đã chết bên bờ biển Đông, trong hàng triệu nghịch cảnh giữa lòng Dân Tộc. Những người nào còn chút lương tâm, luôn cả nhân loại nếu còn lương tri, sẽ tự tìm ra câu trả lời vì sao ? Trong thời đại này, theo thời gian và theo vị kỷ của con người, có lẽ hai chữ “lương tâm” đang nằm im trên trang giấy trong tự điển. 

dù bia mộ hoang vu

sá gì tên với tuổi !

hòa chung cát bụi

thu !

 

 

 

   

 

Võ  Đại Tôn

Chiều Geyland, Singapore.

16.10/2009.

 




Nguyễn Thị Thanh Dương : KHI TÓC KHÔNG CÒN XANH.

KHI TÓC KHÔNG CÒN XANH.

              Nguyễn Thị Thanh Dương.

           Ngày mái tóc không còn xanh được nữa,
           Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa, 
              Thì em sẽ vì anh mà mở cửa, 
              Trông lên trời đếm hàng vạn sao sa.

                      ( Thơ: Nguyên Sa).

Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời tại thành phố Wichita , tiểu bang Kansas.Gia đình bác mới từ tiển bang Washington D.C. dọn về đây được mấy tháng nay.

Lòng tôi buồn vời vợi đang nghĩ  nên nói cách nào cho đám anh chị em họ của tôi về chuyện hạnh phúc của gia đình mình đang đến hồi sụp đổ?

Chồng tôi về tới nhà, thấy tôi bên chiếc va ly anh chỉ hỏi một cách bình thường:

–         Em sắp đi đâu?

–         Bác Lân em vừa qua đời, em phải về tham dự tang lễ.

Anh lạnh lùng, ngắn gọn:

–         Cho anh gởi lời chia buồn đến họ.

Chúng tôi đang làm đơn ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian hơn 10 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì các con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác.

Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và tủi nhục. Anh đã về Việt Nam du lịch nhiều lần và gian díu với một cô gái trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn với tôi, để cưới cô gái đó làm vợ.

                                             ************

Sau những ngày tang lễ bác, và những lần tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình của tôi hiện nay. Các anh chị đều nói hạnh phúc của tôi không thể cứu vãn được nữa, chia tay là giải thoát cho cả hai.

Wichita thành phố không qúa lớn cũng không qúa nhỏ, và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này, mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh, có người đàn ông tôi từng yêu thương, qúy trọng, nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.

Đến tiểu bang Kansas, thành phố Wichita lại không xa mấy thành phố Liberal, chỉ 4 tiếng lái xe, làm tôi bỗng dưng tha thiết nhớ đến thành phố Liberal, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây, và trong ký ức tôi mơ hồ nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi.

Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong, Mã Lai. Sau 9 tháng gia đình chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi.

Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hứơng Nam của thành phố Liberal nhỏ bé. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc khi mùa Xuân đến là trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo và cây đào lần lượt thi nhau nở hoa.

Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện, và thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John vào những lúc cây có trái chín trên cành. Ôi, tôi mê cây táo chẳng biết loại táo gì mà cành cây khi chĩu trái thì xà xuống thấp đến nỗi tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái. Lại còn vườn dưa hấu trước sân, tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên, to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.

John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài, anh khoe biết cách vắt sữa bò.

 Anh đã chạy rong trên cánh đồng có khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gío mùa hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù.

Đất Texas khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh chỉ toàn là những bãi cây lúp xúp thấp lè tè chưa vượt qua đầu thàng bé lên 10 như anh thuở đó, và những bụi xương rồng rải rác. Nhưng anh vẫn yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình.

Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế.

Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York , tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui..

Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn. Tôi qúa chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi, và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu.

Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa hè đầy nắng. Tôi quen thuộc thò tay mở chốt cánh cổng bằng rào gỗ ngoài sân, và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín. May qúa John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.

Trời nắng nên tôi và John  không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, như chúng tôi thường đến đó ngồi hái trái ăn và tán chuyện gẫu.

Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp mang nhiều trái, John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Hôm nay tôi chẳng cần hái những trái táo mà lên tiếng khoe ngay:

–         Anh John, gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.

Mặt Johm hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:

–         Sao? Em sẽ đi…có thật không?

–         Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ gĩa cha mẹ anh. Bây giờ tôi cũng sang để chào tạm biệt anh.

Giọng John vẫn bàng hoàng:

–         Có bao giờ em trở lại đây không?

Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều:

–         Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ.

John bỗng vụt đứng dậy:

–         Hãy dợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay.

John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:

–         Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!

Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:

–         Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.

–         Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!

–         Vâng, không bao giờ !

                               ***********

 

Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới, và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ!

 Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược. Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học, làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra..

Tôi đã từng nghe chuyện nhà nông khốn khổ, trồng 1 acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo gía sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, gía cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam to, và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống gía rẻ bèo như thế.

Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú qúy, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng.

Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai. Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng trong hạnh phúc trong vài năm đầu.

                                        ************ .

Tôi quyết định thuê xe để lái từ thành phố Wichita đến thăm thành phố Liberal, nói cho đúng hơn để thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa xem họ thế nào?

Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ.

Thanh phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách hơn 20 năm rồi. Tôi hỏi thăm người ta nói nhà ông bà truyền giáo Smith vẫn ở chỗ cũ.

Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng thay đổi, làm lại cái khác, và cái chỗ mở chốt cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế, và như thể vẫn chờ đợi tôi chạm tay vào.

Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp, và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo… Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi.

Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Rồi tôi gõ cửa và chờ đợi.

Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith, bà đã gìa đi -dĩ nhiên-  Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu thì bà đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:

–         Thì ra là cô, tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.

Tôi xúc động và nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:

–         Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John

–         Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày.  Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.

Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:

–         Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…

Tôi vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình, tôi cao giọng hỏi thăm:

–         Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?

–         Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John. Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.

–         Thế anh ấy không muốn sống ở nông trại như anh ước mơ sao?

Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:

–         Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê, mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.

Tôi ngạc nhiên và vui mừng reo lên:

–         Không ngờ John học gỉoi và có chí đến thế!

–         Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine.

–         Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?

–         Chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề, vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John.

Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:

–         Phải đấy, cô nên về ngay đi, và xin cô hãy hứa với tôi một điều.

   Tôi nói với tất cả chân tình:

       –      Tôi xin hưá bất cứ điều gì tôi có thể.

–         Cô hãy đi và đừng bào giờ trở về đây nữa, bao nhiêu năm qua, vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nhưng nếu cô xuất hiện sẽ gợi lại nỗi đau cũ.  Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng

Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:

–         Tôi xin hứa đây là lần cuối cùng đến đây. Thôi, xin chào bà

Tôi đi ra cửa, buớc trên con đường thân quen của thuở  tôi 17 tuổi lòng đầy tham vọng, và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ và ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản.

 Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông, chỉ là một trò cười đối với tôi.

Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng. Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi, và cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng tôi biết là vững chắc, đẹp đẽ biết bao nhiêu, điều mà tôi không hề có.

Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một qúa khứ, một bầu trời xanh, và mất nó vĩnh viễn.

                               Nguyễn Thị Thanh Dương




Trần Khải : Những Ngày Tháng Năm

Những Ngày Tháng Năm

Trần Khải

Tháng năm ở quê nhà có quá nhiều chuyện. Không chỉ chuyện Biển Đông, mà cả chuyện ngay giữa Hà Nội. Không chỉ chuyện của người, mà cả chuyện của hoa. Mới biết, vào cõi này là khổ trăm bề…
Trước tiên, tháng 5 năm nay là bắt đầu vượt qua dấu mốc 35 năm Miền Nam thất thủ. Nghĩa là trải qua hơn ba thế hệ tuổi trẻ, ba thế hệ của những người không liên hệ gì tới cuộc chiến dai dẳng giữa hai miền Nam-Bắc VN, vừa là nội chiến và vừa là tranh chấp ý thức hệ.
Vậy là xong, chỉ thêm 10 năm nữa hoặc hơn, sẽ có thêm nhiều triệu người Việt của một thời Nam-Bắc phân ly trở về với cát bụi, và các thế hệ trẻ sẽ phải lo với các ưu tư mới — của khai thác mỏ bauxite để mai phục Tây Nguyên, của Biển Đông dậy sóng, của hàng trăm ngàn mẫu rừng cho các công ty phương Bắc thuê khó đòi lại được, của môi trường ô nhiễm cạn sông chết cá, của phố thị khói xe mịt mù, của những lá thư chính phủ Hà Nội có câu đầu là chữ Oa-sinh-tơn và câu kế tiếp là chữ huy-vọng thay cho hy-vọng… Trời ạ, quê nhà biến dạng tới nổi không nhìn thấy có gì là quen thuộc nữa.
Cũng tháng này, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi ngày 6 tháng 5-2010. Một vì sao đã băng trên bầu trời thi ca quê nhà. Ông vẫn luôn luôn là một ngọn núi sừng sững, bất kể bao nhiêu áp lực đày đọa — thậm chí phi lý tới mức, như khi Bộ Công An đã quyết định trả tự do theo nhắc nhở của Lê Đức Thọ và áp lực quốc tế, thì chỉ vì một câu nói của Tố Hữu cũng đủ giam nhà thơ Hoàng Cầm thêm một năm tù. Đó là lời của nhà thơ Hoàng Hưng viết trong bài “Trước linh cữu nhà thơ Hoàng Cầm,” đăng trên các mạng Talawas và Boxitvn. Hoàng Cầm đã trở về cõi vô cùng, nhưng chắc chắn rằng những dòng thơ của ông vẫn tưới mát ngôn ngữ dân tộc Việt Nam không thôi.
Nếu chúng ta nhớ rằng, trong tháng 4 cuả 35 năm trước là những cuộc di tản kinh hoàng của Quân Lực VNCH, và để nói chính xác, là những cuộc di tản hàng hàng lớp lớp của nhiều triệu người dân bình thường từ các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên từng có kinh nghiệm về sự đàn áp chuyên chính khốc liệt của những người CSVN.
Trong tháng 5 năm nay, là một cuộc di tản trong đêm của một người ở Hà Nội: Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, người nửa đêm được đưa lên phi cơ, bay từ Hà Nội sang Mỹ. Cuộc di tản này là sự sắp xếp của nhà nước CSVN, vì không muốn thấy ông Kiệt hiện diện ở VN nữa, bất kể rằng Hội Đồng Giám Mục VN đã thu xếp để đưa TGM Kiệt về Châu Sơn dưỡng bệnh  sau khi thu xếp để Tòa Thánh Vatican ưng thuận cho ông từ chức.
TGM Ngô Quang Kiệt, 58 tuổi, phảỉ ra đi, để bàn giao Tổng Giáo Phận Hà Nội lại cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn, 72 tuổi. Chuyện đã được tiên đoán từ nhiều tuần trước: TGM Kiệt phải ra đi, vì nhà nước CSVN không thích có những cuộc biểu tình nhiều ngàn người – trên hình thức là xuống đường cầu nguyện đòi công lý, lúc đầu là đòi nhà nước trả đất Tòa Khẩm Sứ, và sau là đòi trả đất Giáo Xứ Thái Hà. Khởi sự cuộc cầu nguyện tập thể là trong tháng 12-2007. Tính tới bây giờ, kể như là gần 2 năm rưỡi, sau khi qua những sóng gió cả về xô xát, về pháp lý, về can thiệp của Vatican khi đưa TGM Kiệt sang Rôma chữa bệnh.
Một tuần lễ trước ngày sinh nhật ông Hồ (ngày 19 tháng 5), TGM Ngô Quang Kiệt trong đêm 12-5-2010 đã được bí mật đưa lên phi cơ bay sang Mỹ. Không để chậm hơn được sao, và không để ban ngày cho có tiệc chia ly cho phải lẽ? Nhà nước CSVN sợ dân chúng ra đưa tiễn đông, lại sợ giaó dân mang biểu ngữ ra tràn ngập phi trường Nội Bài, thế nên phải lặng lẽ đẩy TGM Kiệt di tản đêm…
Nhưng tại sao bay sang Mỹ? Có ông Đạị Sứ Mỹ Michael Michalak tiễn chân TGM Kiệt ở Nội Bài hay không? Có phải visa nhập cảnh Mỹ làm theo thủ tục khẩn cấp, theo yêu cầu của CSVN đẩy đi càng sớm càng tốt?
Nhưng tại sao phải sang Mỹ, sao không sang Rôma như kỳ chưã bệnh lần trước? Có phải vì Đức Ông Cao Minh Dung ở Tòa Thánh Vatican muốn như thế?
Tình hình di tản khẩn cấp tới mức, theo bài viết nhan đề “TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt bất ngờ đi nước ngoài” đăng ngày Thứ Năm 13-5-2010 trên trang Nữ Vuơng Công Lý, trích:
“Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt đã bất ngờ bay đi nước ngoài vào đêm 12/5/5010 làm xôn xao dư luận Hà Nội.
Ngày 9/5/2010, TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt vào Toà Giám mục Vinh chúc mừng Kim khánh Giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên. Ngài đã ở laị Toà GM Vinh một đêm với Đức cha Cao Đình Thuy&ec
irc;n và sáng 10/5/2010, Ngài đã dâng Thánh lễ cho Dòng Mến Thánh giá Xã Đoài.
Sau khi dâng Thánh lễ, Ngài đã về đan viện Xito Châu Sơn – Ninh Bình, nơi đã chuẩn bị cho Ngài chỗ nghỉ ngơi sau ngày 13/5/2010 hôm nay – Ngày Ngài phải rời chức TGM HN để giao lại quyền TGM cho TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn cách chính thức. Theo dự định, Ngài sẽ trở lại Đan viện Xito Châu Sơn vào ngày 18/5/2010.
Ngày 11/5/2010, bất ngờ Đức TGM Phó Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn đến Châu Sơn tha thiết mời Ngài về HN để “có việc gấp”.
 Chiều 12/5/2010, từ 9h, Ngài về Toà TGMHN bình thường, đột ngột đêm 12/5/2010, Ngài lên đường đi nước ngoài (theo Văn phòng Toà TGM thông báo) trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người.
Điều đáng nói, là cách đó hai ngày, CTV Nữ Vuơng Công Lý cho chúng tôi biết, một cán bộ của Mặt trận Tổ quốc VN đã tiết lộ: Trước sự phản kháng mạnh mẽ của giáo dân Hà Nội và khắp nơi, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng nếu Đức TGM Giuse dù về hưu hay ở đâu thì cũng không thể giải quyết triệt để “Vấn đề Ngô Quang Kiệt". Đặc biệt khi Thư Thỉnh nguyện của Giáo dân với hơn 15.000 chữ ký đã đến Vatican…”
Tháng Năm quả nhiên là đầy sóng gió. Dù là ở Biển Đông, hay ngay giữa Hà Nội.
Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 5 năm nay, Hà Nội quyết định chỉ chơi hoa giả. Nghĩa là, nghị quyết của thành ủy là, hoa thật là để thế giới chơi, còn dân Hà Nội là phải chơi hoa giả. Chuyện tưởng như đùa, nhưng mà là thật: Lễ hội Hoa Anh Đào do Trung Tâm Việt Nhật tổ chức taị Hà Nội sau liên tục ba năm 2007, 2008 và 2009, năm nay 2010 quyết định chỉ xài hoa anh đaò giả.
Và Lễ Hội Hoa Anh Đaò được đổi tên thành Lễ Hội Satsuki Nhật Bản, theo các báo quốc nội. Lễ hội này khai mạc hôm 8-5-2010 tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Giảng Võ – Hà Nội. Báo Tiền Phong, bản tin nhan đề “Satsuki thế chỗ lễ hội anh đào” hôm 9-5-2010 viết, “…Diễn ra trong hai ngày 8 và 9-5 tại Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), lễ hội Satsuki chứng tỏ sức hấp dẫn khác biệt so với lễ hội hoa anh đào các năm trước.”
Vì xài hoa giả, nên đổi tên là Lễ Hội Satsuki, tức Lễ Hội Tháng Năm. Tuy giả, nhưng vẫn “hấp dẫn khác biệt…” Thế mới lạ.
Báo Thể Thao và Văn Hóa số ngày Thứ Bảy 8-5-2010, bản tin nhan đề “Vì sao Lễ hội hoa anh đào đổi tên?” đã viết:
“Tiếp nối thành công của Lễ hội hoa anh đào Nhật Bản tại VN trong 3 năm 2007, 2008, 2009, thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các bạn trẻ và nhân dân VN, năm nay BTC quyết định đổi tên thành Lễ hội Satsuki (tiếng Nhật nghĩa là Tháng năm) sẽ diễn ra trong 2 ngày 8 – 9/5 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm VN (148 – Giảng Võ, HN), với mong muốn lễ hội như một bó hoa tươi thắm góp một phần nhỏ trong các sự kiện chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
TT&VH đã có cuộc trò chuyện với chị Đỗ Thị Minh Phương, Ủy viên Ban điều hành Lễ hội.
* Lý do gì dẫn đến sự đổi tên này, thưa chị?
Lý do đổi tên có rất nhiều. Trong 3 năm qua, khi lễ hội hoa anh đào kết thúc đều có những lời phàn nàn về lễ hội như: hoa anh đào chưa được đẹp, dân mình cũng chưa có ý thức giữ hoa… Vì thế, năm nay BTC phía VN quyết định không tổ chức lễ hội hoa anh đào nữa. Còn phía Nhật Bản thì cảm thấy như vậy sẽ thiếu đi một sân chơi giao lưu văn hóa giữa hai 2 nước, và vẫn quyết định tổ chức lễ hội. Năm nay, BTC quyết định sẽ chỉ trưng bày một cây hoa anh đào giả. Vì không có hoa anh đào, nên phía Nhật không tổ chức lễ hội hoa anh đào được. Ở Nhật Bản cũng có lễ hội tháng 5 và BTC quyết định đổi thành lễ hội tháng 5…” (hết trích)
Hoa giả nhưng cũng “hấp dẫn khác biệt….” Thật vậy sao? Tại sao nhà nước CSVN muốn tuổi trẻ tập cho quen với búp bê sex, thay vì giúp tuổi trẻ đi tìm người để thật lòng yêu thương?
Trời ạ, quả nhiên là Tháng Năm đầy chuyện bí hiểm.