Trần Mộng Tú : LỜI CÁM ƠN RIÊNG

LỜI CÁM ƠN RIÊNG

 

             TRẦN MỘNG TÚ

Cuối năm 1976, tôi lập gia đình được ba tháng, theo chồng từ nam California về nhà cha mẹ chồng ăn mừng lễ Giáng Sinh, cũng là dịp để cha mẹ chồng tôi giới thiệu cô dâu mới với làng xóm của hai cụ. Một cô con dâu Việt Nam, không phải chỉ là điều ngạc nhiên cho làng xóm mà còn cho cả dòng họ bên chồng tôi nữa. Vì chẳng bao giờ họ nghĩ con, cháu họ lại lập gia đình với một người ở cái nước xa lạ đó.

 

Sau tiệc ở nhà, chúng tôi đi chào các cô, chú ở những thành phố gần Helena, Montana. Cha chồng tôi là con trưởng, cụ có một em trai và bốn em gái. Cô Ruth ở gần nhất, nên chúng tôi lái xe đến chào trước.

 

Lần đầu tiên đến thăm cô Ruth đã để lại trong lòng tôi một nỗi buồn bã không bao giờ quên được. Đến hơn ba mươi năm sau, mỗi lần tháng Tư về, ngoài niềm đau của vết thương quốc nạn bị khơi lại, tôi còn bị hình ảnh của cô Ruth ngày hôm đó, hiện ra cùng một lúc, làm vết thương của tôi nhức nhối thêm.

 

Hôm đó, cô Ruth đón chúng tôi ngay trước cửa nhà, ngôi nhà của cô ở trong một khu trại táo, không lớn lắm; chồng tôi nói, chú mất, cô bán dần đi trang trại, vì không lo xuể. Cô lúc đó gần sáu mươi, là một phụ nữ nhỏ bé so với người Mỹ, cô nhanh nhẹn và vui tính, cặp mắt sáng. Cô đem mứt táo do cô làm ra mời chúng tôi, xong cô nói chuyện về công việc trồng táo, hái táo và bán đi. Trước kia cô chú có cả ngàn mẫu, càng về già, càng bán bớt đi. Bây giờ không còn chú, cô nói, sẽ bán nốt trại này trong vòng năm năm, vì cô không đủ sức trông. Các con cô cũng chán làm việc trong trại táo rồi, họ bỏ đi làm xa ở những thành phố lớn hơn.

 

   “Hai cháu nếm món bánh táo này, còn mứt táo, cô đóng hũ nhiều lắm, chốc nữa nhớ   mang

     về một vài hũ.”

 

Tôi vừa ăn mứt táo, vừa ngắm cái dáng cô nhanh nhẹn, đi qua, đi lại, mang nước, mang bánh cho chúng tôi. Tôi đang nhâm nhi thưởng thức hương vị cây nhà, táo vườn, thì cô đem đến trước mặt tôi một tờ giấy khá to, gấp làm bốn, trải ra trước mặt tôi. Tôi nhìn xuống, đó là tấm bản đồ Viêt Nam.

 

Cô nhìn tôi, hỏi:

    “Chỉ cho cô Đà Nẵng ở đâu, cách Sài Gòn chỗ cháu ở bao xa?”

 

 Tôi chưa nghĩ ra tại sao cô lại có tấm bản đồ Việt Nam, tại sao cô muốn biết hai địa điểm này cách nhau bao xa? Tôi ngước nhìn chồng tôi, tôi thấy anh ngồi im, và anh tránh cặp mắt tôi. Tôi cúi xuống tấm bản đồ, tìm vị trí Đà Nẵng- Sài Gòn, chỉ cho cô. Cô nói rất nhẹ, nhưng tôi nghe rõ từng tiếng một.

 

    “Michael nó chết ở đây, Đà Nẵng.”

 

 Cô nói xong, gấp tấm bản đồ lại, mang vào buồng trong. Tôi nghe như có một tảng đá đè lên ngực mình, miếng bánh táo trong cổ họng tôi nghẹn cứng, tôi không nuốt được nữa, cuống họng của tôi như bị co lại. Tôi cầm ly nước, uống vội một ngụm, để cho miếng bánh trôi xuống, tôi thở hắt ra, tôi ứa nước mắt.

 

Cô Ruth trở ra với tấm hình của Michael mặc quân phục. Một thanh niên rất trẻ, có khuôn mặt thanh mảnh và cặp mắt sáng của mẹ. (Sau này tôi được biết Michael chết lúc 19 tuổi)

Cô Ruth nói:

“Chúng tôi chẳng biết gì về Việt Nam cả, chỉ biết đó là một nước nhỏ ở vùng Đông Nam     Á đang có chiến tranh, và nước Mỹ đang gửi quân sang giúp. Con trai tôi vừa học xong trung học. Người ta bốc thăm trúng tên nó, thế là nó đi, thế là nó chết. Nó đi rất tình cờ và chết rất tình cờ.”

 

Tôi ngồi im như một phiến đá nhỏ, tôi không biết phải nói gì. Nhìn mặt cô khi nói về cái chết của con với một giọng bình thản, xa vắng, không thấy có xúc động, không thấy có nước mắt trong đó, tôi bỗng rùng mình. Hình như cái đau của cô đã bị đông đặc lại, trong cô chỉ còn sự oán trách. Sự oán trách bây giờ tìm được đúng đối tượng, mang ra giải bầy. Cô chỉ nói có mấy câu mà tôi có cảm tưởng như cô đang trách móc, hay kết tội tôi. Tôi, một cô gái tỵ nạn đến từ cái nước con cô bị tử trận, rồi lại lấy cháu cô. Bây giờ đến trình diện cô. Chẳng biết cô có nghĩ: cả con lẫn cháu cô đều hệ lụy vì Việt Nam không? Chắc cô có tấm bản đồ này lâu rồi, cô đã thuộc lòng điểm nào là Sài Gòn, điểm nào là Đà Nẵng, cô mang ra hỏi tôi chỉ với mục đích cho tôi biết cái mất mát to lớn của cô trên đất nước tôi. Cô muốn tôi chịu trách nhiệm một phần nào về nỗi thống khổ cô mang vác bao nhiêu năm nay. Tôi ra về với một trái tim nặng trĩu ngàn cân và hai môi ngậm kín.

 

Tôi đã đến Hoa Thịnh Đốn đã đọc tên của Michael, đã đặt tay lên vầng trán lạnh của anh, nói thì thầm lời cảm tạ. Giống như thân nhân của các người lính Mỹ khác, các con tôi đã lấy giấy bóng than (carbon paper) tô lên tên anh, đem về nhà.

 

Cứ mỗi lần đến tháng Tư, những hình ảnh đau thương mở ra từng đoạn. Đọc những bài viết, và nhìn lại những hình ảnh về những người lính đã hy sinh trong cuộc chiến, tôi thấy trong đó có thấp thoáng tấm hình xuân trẻ của Michael cùng lúc với đôi mắt sáng và lạnh của cô Ruth nhìn tôi khi nói câu: “His death was sudden!”

 

Hơn ba mươi năm lập gia đình, chúng tôi rất nhiều lần đến thăm cô, khi cô bán nốt trại táo ở Montana rồi mua một căn nhà nhỏ ở Lake Chelan, Washington cho gần với con gái, chúng tôi thăm cô thường xuyên hơn. Trong thâm tâm tôi, tôi nghĩ, tôi có nợ cô một món nợ, cô không đòi trực tiếp và tôi vẫn trả cô gián tiếp. Tôi rủ chồng đến thăm cô, quan tâm đến cô nhiều hơn các cô chú khác. Mỗi lần đến, tôi mang theo một món quà nho nhỏ, chúng tôi mời cô đi ăn trưa, cô vẫn nhanh nhẹn, vui vẻ. Cô không hỏi tôi về Đà Nẵng nữa, không nói về Michael nữa. Tấm hình của Michael bây giờ cô mang ra phòng khách, không cất trong phòng ngủ của cô như lần đầu tiên tôi tới thăm cô. Cặp mắt cô vẫn sáng, nhưng ánh mắt cô nhìn tôi đã mỗi lần thăm là một lần dịu xuống. Tôi đoán cô không còn oán hận nước Việt Nam đã cướp mất người con trai cô, và cô thiếu  nữ Việt Nam đã lấy cháu cô nữa. Cô “tha” cho tôi rồi. Phải chăng cô đã hiểu cả ba chúng tôi: Cô, Michael và tôi đều chỉ là nạn nhân của chiến tranh.

 

Khi cô tám mươi tuổi, con cháu tổ chức cho cô cái lễ thượng thọ vào một mùa hè ngay trên bờ hồ của Lake Chelan, chúng tôi có đến dự. Cô mặc một cái áo có in hình tất cả con cháu ở sau lưng áo, nhưng phía trước ngực thì in hình Michael. Người con này, luôn luôn ở trong trái tim người mẹ, bà vẫn ôm cậu trước ngực mình.

 

Khi nào bạn có đến chiêm ngắm bức tường đá đen ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, có khắc tên gần sáu mươi ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh cho cuộc chiến Việt Nam, bạn thấy tên Michael Keys, thì đó chính là con của cô Ruth, em họ chúng tôi. Xin bạn hãy đặt tay lên vầng trán lạnh của Michael, cho anh một lời cám ơn riêng.

 

Trần Mộng Tú

Tháng Tư, 2010

 




Diệu Nga : Những Giọt Lệ Hồng

Mẹ tôi không muốn di cư sang Mỹ ở tuổi sáu mươi. “Già rồi, sang bên ấy chỉ ăn bám vợ chồng chúng mày!”. Bà nói khăng khăng như thế nhưng con gái xuống nước năn nỉ ỉ ôi, bà lại xiêu lòng. Ờ, nó nói cũng phải, mình qua bên ấy giữ cháu ngoại cũng vui, lại đỡ nhớ, khỏi phải chờ mong.  

Mình ở đây nó phải gửi tiền về cấp dưỡng, tốn kém lắm chớ chẳng không!” Dì tôi cười, nói như lẩy: “Nợ đòi rồi đấy, cứ sang mà trả cho xong!” Nghe mẹ kể lại lời dì, tôi cảm thấy hơi áy náy. Quả thật tôi cần mẹ không chỉ thuần túy vì tình cảm.
 
Tôi cầu cứu bà sang để chăn bầy cháu bốn đứa. Dạo này buôn bán ể ẩm, tôi không kham nỗi tiền giữ trẻ, cũng không thể tiếp tế đều đặn cho mẹ nên rước bà qua là nhứt cử lưỡng tiện… Căn nhà ba phòng của vợ chồng tôi, bề ngoài trông cũng khang trang với cây cảnh chung quanh và cửa garage tự động nhưng thật ra chỉ rộng 1100 sf. Trừ phòng ngủ chánh tương đối rộng rãi, hai phòng còn lại vuông vức, nhỏ xíu xiu.
 
Đất ở San Francisco là đất vàng. Căn nhà cũ kỷ năm mươi tuổi này trị giá chừng sáu chục ngàn nhưng lô đất 4000 sf của nó giá hơn bốn trăm, dù là nằm ở vùng ngoại ô xa tít. Thành ra cứ rán giữ, rán nắm dù mệt muốn hụt hơi.
 
Cửa tiệm fast food bán cho nhân viên các hãng xưởng gần đây cũng theo đà lay-off mà đi xuống. Đến đầu tháng là chúng tôi điên đầu với đủ thứ tiền phải thanh toán. Tư trang sắm từ những năm phồn thịnh buôn may bán đắt lặng lẽ nuối đuôi nhau đi hết, vào nằm im nơi các tiệm cầm đồ.
 
 Chúng tôi không hề nghĩ đến giải pháp bán nhà vì đó là gia tài duy nhất, cũng là mối kinh doanh không sợ lỗ vốn; vả lại bây giờ đi mướn một apartment tồi tàn đủ chỗ chứa sáu người, giá thuê hàng tháng còn mắc hơn số tiền trả góp nhà.
 
Trong tình thế kiệt quệ này, nếu có mẹ tôi lo cho tụi nhỏ, đưa đón đi học, quán xuyến việc nhà, tôi sẽ rảnh rang hơn để đi làm thêm lặt vặt buổi sáng, trưa về phụ tiệm ăn với chồng tôi. Buổi tối chúng tôi sẽ đi clean các tiệm ăn, chợ búa. Chịu khó một thời gian hi vọng kinh tế sẽ phục hồi trở lại.
 
Mọi người đã hăm hở đón chào thiên niên kỷ mới, ai ngờ nó bắt đầu bằng sự xuống dốc! Mẹ sang Mỹ vào mùa Thu. Trời khá lạnh đối với mẹ vì chưa quen nhưng màu xanh của biển trời đã thu hút mẹ. Lũ cháu xúm xít lấy bà vì ngày thường không ai gần gũi chúng cả. Chúng xổ tiếng Anh líu lo, thậm chí cô bé út mới bốn tuổi cũng không rành tiếng Việt. Bà cười dễ dãi: “Sẽ có cuộc trao đổi nhé! Bà dạy các cháu nói tiếng Việt, các cháu dạy cho bà nói tiếng Anh.” Thấy mẹ vui, tôi an lòng.
 
Thế là bên cạnh cái giường hai tầng của hai cô bé gái là tấm nệm của bà ngoại. Ban đêm, ba bà cháu nói chuyện rì rầm; có khi hai cậu trai cũng gõ cửa xin vào để được hưởng không khí đầm ầm bên bà ngoại rất hiền và rất vui. Mẹ như bà tiên có chiếc đũa thần đã biến căn nhà bừa bãi đầy phiền muộn của chúng tôi thành một tổ ấm ngăn nấp, sạch sẽ và đầy tiếng cười.
 
Trước kia, chúng tôi chỉ dùng những thức ăn ế ẩm từ cửa hàng, lắm khi nuốt chẳng trôi. Mẹ bảo cứ bỏ thịt bỏ rau và tủ lạnh cho bà. Thế là mỗi chiều về gia đình tôi được quây quần chung quanh bàn ăn có cơm canh nóng hổi, hương vị ngọt ngào.
 
Chỉ sau và tháng, các con tôi khỏe mạnh ra, lễ phép ra và biết phụ giúp công việc lặt vặt trong nhà. Hai cậu con trai lớn, bà phân công lo vườn tược cây kiểng: “Thằng Hùng mười hai tuổi, lớn rồi, lo chăm sóc các cây lớn, tỉa lá, bón phận, Hậu cũng mười tuổi rồi, thay vì ôm máy chơi game, có thể phụ anh quét sân, tưới nước.” Bà hiền lành nhưng nói gì các cháu cũng nghe. Chúng không còn là những đứa bé “vô tích sự” như thuở trước.
 
Thật ra chúng không đến nỗi tệ nhưng vợ chồng tôi quần quật với công ăn việc làm, không có thì giờ dạy dỗ, chỉ vẽ. Bảo làm chuyện gì, chúng thực hiện qua loa lấy có, rầy mãi phát mệt thành ra không thèm sai biểu nữa, tự mình làm chóng xong mà vừa ý hơn. Con Hoa hãnh diện khoe với mẹ: “Bà dạy con nấu cơm. Con biết lặt rau, rửa chén, lại biết tráng trứng nữa cơ!” Tôi hôn con, thầm cám ơn mẹ đã cho gia đình tôi cơ hội để sống có hạnh phúc thay vì cứ mãi rầy rà, cãi vả, gây ó nhau trong một căn nhà bề bộn, dơ bẩn.
 
Mẹ vốn là một Phật tử thuần thành. Thỉnh thoảng bà giảng dạy cho tôi về đạo lý: “Hạnh phúc không phải là món quà từ đâu đến, không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng thể do phúc đức mà được. Mình phải biết cách sống, biết cách hợp tác xây dựng thì mới có hạnh phúc.” Thuở ấy, đầu óc tôi quá dầy đặc với những con số để có thể hiểu lời mẹ khuyên, vả lại cũng không có thì giờ… Thôi thì để mẹ lo giùm.
 
Mỗi chiều về nhìn các con ngoan, được ăn bữa cơm tối ngon, đối với tôi đã là đủ rồi. Tôi bận rộn với nợ nần đến nỗi không mấy khi chú ý đến tâm tình của mẹ. Bây giờ kiểm điểm lại mới nhớ rằng tôi ít hỏi thăm về sự buồn vui của bà. Thay đổi môi trường sống, bà bỏ lại sau lưng biết bao nhiêu thứ: chị em, họ hàng, lối xóm, sư ông, bằng hữu… Đôi khi, mắt mẹ thoáng buồn. Tôi chỉ hỏi qua loa: “Mẹ có mệt không?” Chao ôi, rõ tệ, miệng hỏi mà lòng vái thầm: “Mẹ đừng ngã bệnh, khổ con!” Là con một nên cách suy nghĩ của tôi thường ích kỷ như thế. Cái gì cũng qui về mình, cho mình thôi!
 
Thắm thoát, mẹ ở với chúng tôi đã được một năm rồi. Gia đình thì ổn thỏa nhưng tình trạng tài chánh càng ngày càng bết bát mặc dù vợ chồng tôi bỏ sức lao động gấp đôi. Giao kèo mướn cửa tiệm sắp hết hạn mà chẳng tìm được người sang lại. Không ký thêm thì mất tiệm, mất luôn năm mươi ngàn bỏ ra sang tiệm trước kia, nhưng tiếp tục thì ngày càng thua lỗ, chẳng kham được nữa. Chuyện gì đến, phải đến.
 
Tháng sau đó, vợ chồng tôi lủi thủi dọn đồ về trả lại cửa hàng cho người ta sau mười năm làm chủ. Bây giờ hóa ra là kẻ làm công, lại làm những nghề linh tinh quét dọn. Tủi thân mà tức số phận mình. Mẹ an ủi: “Thôi, như thế đỡ lo con ạ. Tinh thần căng thẳng quá có khi phát dại, hóa cuồng! Trong cái dở có cái hay là thế!” Chúng tôi lợi dụng thời gian tương đối rảnh rang này để sửa chữa căn nhà hư dột. Anh Thắng chịu khó và khéo tay nên cái gì cũng tự làm được, đỡ tốn tiền mướn thợ.
 
Một hôm anh leo lên mái nhà để lợp lại mấy miếng ngói bể. Sơ ý thế nào chẳng rõ, anh trợt chân té xuống bất tỉnh. Chỉ có mình mẹ ở nhà! Bà bình tĩnh gọi 911, vắn tắt vài câu tiếng Anh: “He falls down from the roof. He stops breathing!” Và rành rọt đọc địa chỉ, số phone nhà cho họ. Ai ngờ bà âm thầm học chữ Anh mau đến thế! Bà đã cứu mạng chồng tôi! Thắng bị gãy chân và dập ống quyển. Phải nằm tại chỗ từ năm đến sáu tháng.
 
Tình cảnh này đưa mẹ tôi vào môi trường mới. Bà tự nguyện thế chỗ cho chồng tôi để quét dọn, lau chùi các cửa tiệm hầu phụ giúp tôi về tài chánh. Mẹ hăng hái trong công việc. Tôi đoán rằng ở nhà mãi mẹ cũng buồn, nay được ra ngoài bà cảm thấy vui hơn. Bà có những người bạn mới: cô thâu ngân vui tính, bà lão phụ trách hàng rau cải, chú “Thoòng” chuyên khuân vác.
 
Mẹ hòa mình với họ, với cuộc sống của những người lao động tay chân. Đâu ai biết rằng trước 1975, mẹ là giáo sự dạy Pháp văn tại một trường công lập lớn ở Sài Gòn. Các con tôi biết hoàn cảnh bi đát của gia đình nên mỗi đứa một tay, cùng nhau lo chuyện nhà. Mẹ tôi hài lòng thấy các cháu tự ý thức được trách nhiệm, biết thương mẹ thương cha. Ngày anh Thắng trở lại công việc, tôi xin mẹ ở nhà nghỉ ngơi.
 
Mẹ nói: “Con ơi, ra ngoài cũng vui, lại kiếm được đồng tiền. Từ ngày đi Mỹ đến nay đã gần hai năm, mẹ chưa gửi tiền về giúp các em, các cháu bên ấy. Tụi nó nghèo lắm mà chẳng có cách kiếm ra tiền cho kịp đà leo thang của vật giá. Bên này kiếm tiền dễ hơn. Có tiền, mẹ lại có phương tiện cúng dường, bố thí…” Tôi im lặng nghẹn ngào, chợt nhớ rằng mẹ chưa hề hỏi tôi một đồng xu nào và tôi quên bẵng rằng mẹ cũng có nhu cầu tiêu xài.
 
Trên thế gian này, không có nhân viên nào làm việc cật lực mà không đòi hỏi thù lao như thế! Vô tình, tôi đã “đòi nợ” mẹ tôi một cách tận tình. Dì tôi cũng có lý khi bà mỉa mai tôi. Trong lúc tôi đăm chiêu, mẹ nhẹ nhàng tiếp: “Mẹ đã xin được chân rửa chén trong nhà hàng. Rửa bằng máy chả cực nhọc gì!” “Trời đất ơi, rửa chén, cần sức lực của người đàn ông Mễ mới kham nỗi. Nồi niêu son chảo to như cột đình, nặng như búa tạ, làm sao mẹ nhấc cho nổi!” Tôi xuống giọng tiếp: “Mẹ nhìn lại mẹ xem. Tay mẹ gầy yếu, lưng mẹ đã cong, bước đi không còn nhanh nhẹn. Dù họ cần người, mướn tạm, vài hôm cũng cho nghỉ việc thôi!” Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ mẹ.
 
Bà già thật rồi, cái già đến nhanh quá. So với hồi mới qua, bà như tăng thêm năm, bảy tuổi. Mẹ tôi cúi đầu xuống thấp. Hình như bà cố giấu giọt lệ vừa ứa ra. Tôi nhẹ nâng cầm mẹ lên và nhìn sâu vào đôi cửa sổ tâm hồn ấy.
 
Trời ơi, mắt mẹ đã kéo mây! Đôi mắt bồ câu đen láy ngày nào từng làm điên đảo các chàng trai cùng trang lứa, cột chân ba tôi vào tổ ấm gia đình, giờ đã một phần ngả màu đục lờ như nước gạo vo. Tóc mẹ trắng bơ phờ, đuôi mắt nhăn như rẻ quạt, vầng trán sạm đen vết đồi mồi…
 
Tôi mủi lòng xót xa. Hai mẹ con ôm nhau, nước mắt người này thấm ướt vai áo người kia. Tôi nhỏ nhẹ: “Con không dám trái ý mẹ, nhưng mẹ rán chờ. Con hứa sẽ tìm công việc nhẹ nhàng hợp với mẹ hơn, mẹ nhé! Vong hồn ba mà biết mẹ cực khổ thế này chắc khó siêu.” Trời cũng thương tình. Đâu chừng một tháng sau thì bà lão làm rau cải xin nghỉ việc về hưu. Mẹ tôi trở thành “bà cụ hàng rau”. Danh xưng và chức vụ gắn liền với mẹ tôi từ đấy. Vậy mà bà vui.
 
Mỗi tháng bà lãnh được hơn ngàn bạc. Phân nửa số tiền, bà gửi về Việt Nam: phần cúng dường, phần bố thí, phần giúp đỡ các em, các cháu. Số còn lại, bà dành dụm mấy kỳ lương, đưa tôi hơn ngàn bạc. “Mẹ thấy người ta dựng phòng trong garage cũng tiện lắm. Nếu chồng con không phiền, con lấy tiền này nhờ nó mua vật liệu, che tạm cho mẹ một căn phòng nhỏ. Con Hoa, con út bắt đầu lớn, tụi nó cần sự riêng tư. Mẹ cũng vậy, có phòng riêng mẹ sẽ dựng kệ thờ Phật, mỗi ngày mẹ có thể lễ bái, tụng kinh, niệm Phật…”
 
Chồng tôi nghe kể lại, vui vẻ đáp: “Chuyện nhỏ! Mẹ muốn gì anh cũng xin vâng, nói chi việc ấy!” Từ đấy, mẹ lộ vẻ hoan hỉ lắm. Sáng tối hai thời, ít khi nào bà bỏ lỡ công phu. Bà như một người đạt được mục tiêu cho đời mình, không có gì để ưu tư, khắc khoải.
 
Mùa Đông năm ấy, thời tiết hơi khác thường. Ban ngày ấm áp xen kẽ với những đêm buốt giá mà nhiệt độ đôi khi hạ thấp đến không ngờ. Vợ chồng tôi mời mẹ tạm trở về phòng cũ vài ba tháng, ngoài garage lạnh quá dễ sinh bịnh. Mẹ nói: “Ở chỗ này quen rồi, dời đi khó ngủ.” “Mẹ nhớ vặn heat cho đủ ấm nhé!” “Ờ, tao biết mà!” Ngờ đâu mẹ đã không qua khỏi mùa Đông! Buổi sáng chẳng thấy mẹ dậy sửa soạn để đi làm, tôi bảo “đứa nào ra đánh thức bà dậy, nhanh lên kẻo trễ!”
 
Con Hoa quấn mền đẩy cửa bước ra garage miệng kêu léo nhéo. “Ngoại ơi, ngoại à…” Không có tiếng trả lời… Nọ bật đèn, tiến đến cạnh giường: ngoại quấn hai cái mền kín mít, nằm im ỉm. Nó lắc chân ngoại, bà chẳng đáp. Nó lôi cái mền xuống: mặt bà xám xịt, lạnh ngắt, đôi mắt khép hờ… “Mẹ ơi, mẹ! sao kỳ vầy nè!” Cả nhà đổ xô ra. Chồng tôi đạo Chúa, vội làm dấu thánh giá…
 
Tôi xỉu ngay tại chỗ khi loáng thoáng nghe thằng Hùng la lên: “Sao bà không mở heat?” Cuộc điều tra của cảnh sát quấy rầy chúng tôi một thời gian, cuối cùng họ kết luận: “Bà cụ không thường mở heat; cái máy mua hai tháng về trước còn mới tinh chưa hề được sử dụng!” Tôi như người mất hồn trong đám tang của mẹ. Sự hối hận như lưỡi dao có răng, nó cưa xé lòng tôi.
 
Trái tim tôi cơ hồ rỏ máu thành những giọt lệ hồng. Bạn bè khuyên tôi nên đến chùa xin cúng thất, thiết lễ cầu siêu cho bà. Tôi chẳng thể nói năng chi cùng vị sư ở chùa, chỉ biết dập đầu lạy cầu cứu với đôi mắt sưng húp. Chồng tôi bình tĩnh hơn, anh buồn bã kể đầu đuôi tự sự. Câu chuyện khiến thầy thương tâm, thầy thường an ủi, khuyên giải sau những thời lễ cúng. Khi thấy tôi bắt đầu trở lại bình thường, thầy dành cho gia đình chúng tôi một thời pháp thoại.
 
Thầy giảng về lý vô thường, khổ, không. Các con tôi tỏ ra thích thú với sự thật giản dị và sâu sắc này, chúng đòi được học giáo lý đạo Phật thay vì đi nhà thờ với ba. Riêng tôi, tôi nhớ mãi câu kết luận của thầy trong buổi nói chuyện ấy: “Con người ta sở dĩ đau khổ triền miên là tại mình muốn nắm giữ! Cái gì cũng khư khư ôm chặt. Làm sao giữ mãi được vì bản chất của chúng là vô thường, là không. Hãy buông bỏ hết đi, chừng nào bỏ được, chừng ấy mới có chân hạnh phúc!”
 
Phải rồi, nếu chúng tôi không bám chặt vào căn nhà thì mẹ tôi đã không phải vất vả đến thế, không đến nỗi chết cóng ngoài garage. Và gia đình tôi không lụy đến mức này. Tôi thỏ thẻ bàn với chồng: “Anh à, căn nhà này mình không giữ nỗi thì bán nó đi. Em tính rồi, sau khi thanh toán hết nợ nần mình cũng còn vài trăm ngàn. Dọn sang Texas, nhà cửa rẻ hơn, mình có thể tậu căn khác hoặc là giữ làm vốn, tính chuyện làm ăn…” ” Ờ nhỉ, hồi đó sao mình ngu quá, cứ ôm lấy nó mà cắm cổ đi cày trả nợ. Liệu giữ không được thì sớm buông đi…
 
Nhờ ông thầy giảng dạy, mình mới sáng mắt ra!” Sau khi dọn sang Texas, trước khi bắt tay vào công ăn việc làm, tôi đến quì dưới chân sư ông kể lể hết sự tình, xin sám hối thì lòng tôi mới có thể yên. Sư ông trầm ngâm và yên lặng nghe tôi vừa khóc rấm rức vừa kể về mẹ tôi, đệ tử mà người rất quí mến. Sư ông không hề cắt ngang bằng những câu hỏi. Người không phê phán gì, chỉ để yên cho tôi khóc, khóc oà vỡ như cái đập nước bị ngăn chận, nay có người tháo ra…
 
Mãi một lúc lâu lắm sau đó, sư ông mới dạy: “Người mẹ nào cũng có trái tim Bồ Tát. Mẹ con hành Bồ Tát đạo ngay trong gia đình trước khi mở rộng ra trong cuộc sống với mọi người. Con hãy hảnh diện có bà mẹ như thế! Con sẽ không cảm thấy hối hận ray rứt nữa nếu con biết đi theo hướng đi của mẹ con, biết xả bỏ cái tôi vị kỷ để lo cho người chung quanh.”
 
Tôi sụp xuống đảnh lễ người đã chỉ cho tôi tháo mở cái gút dây kết mối ân hận trong tôi. Tôi trở về Texas với sự bình yên và tâm nguyện cao cả… Nhưng khi mùa Vu Lan về, cầm hoa trắng trên tay, tôi không thể ngăn được những giọt lệ hồng phát xuất từ trái tim tôi… Than ôi! Khi tôi biết nghĩ tới mẹ, biết giá trị của trái tim bồ tát, biết thương mẹ thì bà đã không còn nữa trên đời…
 
Diêu Nga



NNS, Sơn Nguyễn : NHẤT KHOẢNH TRUNG HƯNG

Mới sáng vào làm việc, mở mail đã thấy ngay Bài Phú Chữ Hán của Ông Chú gởi, bảo đọc đi… Chú ơi, Chú cứ tưởng Cháu "hay chữ" lắm sao…?
Thôi (thì) cũng chuyển cho Thân Hữu đọc, vì là một bài Phú hay về Lịch sử (có thể cho các Bác lớn tuổi giữ làm tài liệu…).
 
 

Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn

玄溪鄭國還手筆

 

壹頃中興

(參會獨韻賦)

迴想

多少黃金歷史;

多麼倖面雲仍.

黎後時期如此;

中興階斷特徵.

癸巳年張阜王有化州侵犯 明屬時期确立;

壬戌月重光鄧容東海殉節陳朝制度告終.

勞役恨人人掘起;

亡國讎眾眾衝鋒.

太元紅衣党農民人群義聚;

清化藍嶽山豪長劍搠旗張.

平吳完畢;

              保越興隆.

不幸哉

愛州處避難昭宋光紹;

北山鑵懸首統元恭皇.

東都城內莫登庸僭權攛位;

岑下省鄰黎維絢上殿中興.

乙巳年降將楊執壹毒葯命亡上父;

戊申歲賢婿鄭太師掃莫扶弼黎王.

又榮光哉

丞於君德;

倀有臣忠.

至拾年方殘酷戰爭箑歌勝利;

近參世紀太平安樂建設盛強.

百越江山累培廣面;

貉鴻文獻開展多方.

戰略弘深南北東西皈壹帶;

智謀淵博士農工賈發千疆.

紀綱曲折不容內亂無雙今古;

政体新奇沒有外侵獨壹亞東.

興業不求高名天子;

侑民永守大節棟涼.

二百四拾玖年常哥盛治;

七萬五陸餘日空境刀鎗.

拾壹鄭代義忠護國;

拾陸黎朝強旺安邦.

廉正上表;

賢才宣揚!

秤其硌種;

秤其鴻宗!

榮焉甚豪傑!

榮焉甚英雄!

有偈雲

天機變幻寔無窮,

國運敗衰倘盛強.

可以英雄生世局,

雖然世局造英雄!

 

NHẤT KHOẢNH TRUNG HƯNG

(Tam hội độc vận phú)

 

HỒI TƯỞNG

Đa thiểu hoàng kim lịch sử,

Đa ma hãnh diện vân nhưng.

Lê hậu thời kỳ như thử;

Trung hưng giai đoạn đặc trưng.

Quý Tỵ niên Trương Phụ, Vương Hữu – Hóa Châu xâm phạm, Minh thuộc thời kỳ xác lập;

Nhâm Tuất nguyệt Trùng quang, Đặng Dung Đông Hải tuẫn tiết, Trần triều chế độ cáo chung.

Lao dịch hận, nhân dân quật khởi;

Vong quốc thù, chúng chúng xung phong!

Thái Nguyên “Hồng Y” Đảng, nông dân nhân quần nghĩa tụ;

Thanh Hóa Lam Nhạc sơn, hào trưởng kiếm sóc kỳ trương.

Lê Lợi thừa cơ xuất binh, thập niên kháng chiến;

Vương Thông thất thế bại trận, nhất đán quy hàng.

Bình Ngô hoàn tất; – Bảo Việt hưng long.

 

BẤT HẠNH TAI!

Ái châu xứ tị nạn, Chiêu Tông – Quang Thiệu;

Bắc Sơn quán huyền thủ, Thống Nguyên – Cung Hoàng.

Đông Đô thành nội, Mạc Đăng Dung tiếm quyền thoán vị;

Sầm Hạ tỉnh lân, Lê Duy Huyến thượng điện trung hưng.

Ất tị niên hàng tướng Dương Chấp Nhất, độc dược mệnh vong thượng phụ;

Mậu Thân tuế hiền tế Trịnh Thái Sư tảo Mạc phù bật lê vương.

 

HỰU VINH QUANG TAI!

Thừa ư quân đức, Trương hữu thần trung.

Chí thập niên phương tàn khốc chiến tranh, âu ca thắng lơị;

Cận tam thế kỷ thái bình an lạc, kiến thiết thịnh cường.

Bách Việt giang sơn lũy bồi quảng diện;

Lạc Hồng văn hiến khai triển đa phương.

Chiến lược hoằng thâm, nam bắc đông tây quy nhất đới,

Trí mưu uyên bác, sĩ nông công cổ phát thiên cương.

Kỷ cương khúc triết bất dung nội loạn, vô song kim cổ;

Chính thể tân kỳ một hữu ngoại xâm, độc nhất Á Đông.

Hưng nghiệp bất cầu cao danh thiên tử;

Hựu dân vĩnh thủ, đại tiết đống lương.

Nhị bách tứ thập cửu niên thường ca thịnh trị;

Thất vạn ngũ lục dư nhật không cảnh đao thương.

Thập nhất Trịnh đại nghĩa trung hộ quốc;

Thập lục Lê triều cường vượng an bang.

Liêm chính thượng biểu;

Hiền tài tuyên dương;

Xứng kỳ lạc chủng;

Xứng kỳ hồng tông!

Vinh yên – Thậm hào kiệt!

Vinh yên  – thậm anh hùng!

 

HỮU KỆ VÂN

Thiên cơ biến ảo thực vô cùng

Quốc vận bại suy thảng thịnh cường

Khả dĩ anh hùng sinh thế cục

Tuy nhiên, thế cục tạo anh hùng?

 

PHÚ

MỘT THOÁNG TRUNG HƯNG

(bài phú ba đoạn một vần)

 

HỒI TƯỞNG LẠI

Bao nhiêu nét son lịch sử; – bấy nhiêu hãnh diện giống dòng,

Tiêu biểu thời kỳ Lê hậu; – Đặc trưng giai đoạn Trung hưng.

Năm Quý Tỵ Trương Phụ, Vương Hữu xâm phạm Hóa Châu, Minh thuộc thời kỳ xác lập ;

Tháng Nhâm Tuất Trùng Quang, Đặng Dung tuẫn tiết biển Đông, Trần triều chế độ cáo chung.

Ôm hận khổ sai lao dịch, người người quật khởi;

Mang thù mất nước nhà tan, chúng chúng xung phong.

Đất Thái Nguyên đảng “Áo Đỏ” nông dân khí hào nghĩa tụ;

Miền Thanh Hóa núi Lam Sơn hào trưởng kiếm tuốt cờ dương.

Thừa cơ Lê Lợi xuất quân, mười năm kháng chiến;

Thất thế Vương Thông bại trận, một sớm quy hàng;

Công cuộc bình Ngô trọn vẹn; – sự nghiệp giữ nước rỡ ràng.

 

BẤT HẠNH THAY!

Đất Thanh Hóa ẩn thân Quang Thiệu;

Quán bắc Sơn phơi xác Cung Hoàng.

Tại Đông Đô, Mạc Đăng dung chiếm quyền cướp ngôi báu,

Ở Sầm Hạ, Lê Duy Huyến dấy nghiệp tiếp Trung hưng.

Năm Ất Tỵ hàng tướng Dương Chấp Nhất dùng thuốc độc giết ngầm Thượng phụ;

Năm Mậu Thân rể qúy Trịnh Thái sư mang trí lực phò ta Lê vương.

 

VÀ VINH QUANG THAY!

Do vua nhiều đức tốt; – nhờ tôi gắng tận trung;

Tròn một chục năm chiến tranh tàn khốc, khải hoàn thắng lợi;

Gần ba thế kỷ yên hưởng thái bình, vun đắp thịnh cường.

          Giang san Bách Việt ngày càng nới rộng; – Văn hóa Lạc Hồng rộn bước

        mở mang.

Chiến lược sâu xa, Nam Bắc Đông Tây quy thành một mối;

Trí mưu uyên bác, sĩ nông công cố sải cánh muôn phương.

Kỷ cương rờ rỡ, chẳng dung tha nội loạn, khôn tìm nơi kim cổ;

Chính thể lạ lùng, không gợn bóng ngoại xâm, chưa thấy chốn Á Đông .

Dương nghiệp đâu cần ngôi Thiên tử; – giúp dân mãi hưởng tiếng Trung hưng;

Hơn hai trăm năm chỉ còn thái thịnh; – gần tám vạn ngày không cảnh máu xương!

Mười một đời Chúa Trịnh trung quân hộ quốc;

Mười sau triều vua Lê Trung hưng vượng an bang.

Đức liêm chính giữ gìn tôn trọng; – Kẻ hiền tài ưu ái biểu dương;

Xứng danh con Lạc! – Xứng danh cháu Hồng!

Vinh thay thực là hào kiệt; – Vinh thay thực là anh hùng!

 

CÓ KỆ RẰNG:

Máy trời đóng mở thực khôn cùng

Vận nước khi suy lúc thịnh cường

Chẳng nhẽ anh hùng sinh thế cục?

Mà là thế cục tạo anh hùng?….

 
Chia sẻ cùng Thân Hữu một Nhạc phẩm hay:
159-NNS-Mộng Lành.pps
Nhạc: Hoàng Trọng
Ca sĩ: Loan Châu
 
Bài viết:
Đoạn Trường Tân Thanh
 
Tình Thân,
Kính,
NNS
…………………………………………………………………….
Đoạn Trường Tân Thanh

Khi Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều để về quê sau một thời gian say sưa ân ái, Nguyễn Du tả cảnh chia tay bằng hai câu thơ bất hủ:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.

Kẻ ra đi, người còn bịn rịn nắm áo giữ lại, đến lúc biệt ly mới ngỡ ngàng nhận ra là mùa thu đã đến từ lúc nào không hay, lá vàng đã phủ đầy lối đi. Thì ra đôi uyên ương đã quá say sưa đến quên cả thời gian.
Nhưng vần thơ trác tuyệt như vậy đầy rẫy trong truyện Kiều. Thiên tài của Nguyễn Du là đã vừa viết truyện vừa sáng tác ra ngôn ngữ để viết. Và những sáng lạo ngôn ngữ của ông quả là tuyệt vời. Nhưng cụm từ của ông đã trở thành những thành tố quan trọng của tiếng Việt. Sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, rạch đôi sơn hà, hàng thần lơ láo, đội trời đạp đất, tài tử giai nhân, sở khanh, v.v… Kiến thức về văn học của tôi không có bao nhiêu, nhưng tôi cũng đã đọc khá nhiều tác giả lớn bằng tiếng Pháp và tiếng Anh và nhiều truyện Tàu. Tôi chưa hề thấy một nhà văn nào sáng tạo ra ngôn ngữ nhiều như Nguyễn Du.
Những về một khía cạnh khác, truyện Kiều lại đem đến cho tôi một tâm sự chua chát. Đoạn Trường Tân Thanh là tên của một tiểu thuyết vô danh của một tác giả vô danh bên Trung Quốc, Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du đã giữ nguyên tên tác phẩm và, theo một số nhà nghiên cứu văn học, cũng giữ nguyên cả cốt truyện, kể cả những chi tiết ngớ ngẩn như hồn ma Đạm Tiên, Từ Hải chết đứng, Thuý Kiều chết đi sống lại và gặp vãi Giác Duyên… Ông cũng giữ nguyên cái triết lý tài mệnh tương đố bi quan và rẻ tiền. Nói chung, Nguyễn Du không có cảm hứng và tư tưởng của chính mình mà chỉ hòa nhịp theo cảm hứng của một tác giả tầm thường của Trung Quốc và đi theo mạch tư tưởng rất tầm thường của người này. Nguyễn Du là khuôn mặt văn học lớn nhất và cao nhất của nước ta cho tới ngày nay, cho nên nhưng thiếu sót của ông càng đáng tủi hổ cho chúng ta hơn là nơi những tác giả khác. Hình như không có câu thơ nào trong Cung Oán Ngâm Khúc mà lại không có một điển tích văn hóa hay lịch sử Trung Hoa và quyết nhiên không có một qui chiếu Việt nam nào cả. Chinh Phụ Ngâm là tác phẩm hoàn toàn của người Việt nam, bản chữ Nho của Đặng Trần Côn cũng như bản chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm, nhưng đó lại là một truyện Tàu, bối cảnh và các nhân vật của nó đều là Trung Hoa. Tâm hồn của người chiến sĩ lên đường được diễn tả qua hai câu thơ:
Săn lâu lan rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Nhưng sự Phục Ba là sự gì? Đó là việc tướng nhà Hán Mã Viện, có tước Phục Ba Tướng Quân, đem quân đánh bại Hai Bà Trưng, dẹp cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên của Việt nam, và đặt ách đô hộ một ngàn năm trên nước ta. Một sự kiện như vậy mà lại gây hứng khởi trong lòng hai danh sĩ xuất sắc bậc nhất của nước ta đủ chứng tỏ cảm hứng của sĩ phu Việt nam vào thời đó đều chỉ hoàn toàn là vay mượn.
Trong thế kỷ 19 thơ văn Việt nam đã làm một bước nhảy vọt vĩ đại cả về phẩm lẫn lượng. Bước nhảy vọt này đã được tiếp nối và tăng cường trong thế kỷ 20 với sự bành trướng của chữ quốc ngữ, thơ mới và tiểu thuyết theo kiểu phương Tây. Cũng trong thế kỷ 20 mà chúng ta bắt đầu làm quen với văn nghị luận và biên khảo. Nhưng chúng ta vẫn chưa có một tác phẩm nào lớn, có tầm vóc quốc tế. Cảm hứng vụn vặt, đam mê chốc lát – di sản của một nền văn hóa nhàn dư – đã chỉ đẻ ra những tác phẩm nhỏ, hoặc họa hiếm lắm là trung bình như trường hợp truyện Kiều. Chúng ta thiếu óc sáng tạo và thiếu sự dài hơi. Tại sao?
Không phải chúng ta thiếu tài năng. Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, v.v… đều đáng được coi là những thiên tài của ngôn ngữ.
Không phải chúng ta thiếu đề tài và chất liệu. Mười lăm thế kỷ đấu tranh với thiên nhiên để khai mở đồng bằng sông Hòng, đấu tranh với ngoại bang, vua quan và sĩ phu để giữ gìn căn cước. Cả một cuộc nam tiến vĩ đại kéo dài bảy thế kỷ trong đó những tấm áo nâu đã dắt dìu nhau vào tới Cà Mau. Hơn một trăm năm Trịnh – Nguyễn phân tranh, ba mươi năm tranh hùng Nguyễn ánh – Tây Sơn; cuộc xâm lăng của người Pháp và gần một thế kỷ Pháp thuộc mang theo một cuộc đụng độ dữ dội chưa từng có giữa hai thế giới và hai nền văn hóa khác hẳn nhau. Thế rồi cuộc chiến đấu giành độc lập, cuộc can thiệp của Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc kéo dài hai mươi năm, nhưng cuộc di tản lịch sử đem người Bắc vào Nam và đem người Việt trải rộng ra khắp thế giới, v. v… Biết bao đổi thay bị hùng tráng lệ, biết bao đau khổ, mừng vui, tình nghĩa, phản trắc. Tất cả những đảo lộn dồn dập đó, nhất là trong hơn bốn thế kỷ gần đây, đã có thể cũng cấp đề tài cho những tác phẩm tầm cỡ lớn hơn Chiến Tranh và
Hòa Bình, Anh em Karamazov, Les Hommes de Bonne Volonté, Les Thibault, Gon withthe Wind, Grapes of Wrath, A Farewell to Arms… Chúng ta không sáng tác được vì chúng ta thiếu tầm nhìn và cách nhìn để thấy được cái vĩ đại ngay chung quanh chúng ta. Chúng ta thiếu tư tưởng.
Sự thiếu tư tưởng của chúng ta là quá rõ rệt. Chúng ta không có một đóng góp nào cho tư tưởng thế giới đã đành nhưng chúng ta cũng không nhận thức được về chính mình. Việc du nhập một cách cuồng tín chủ nghĩa cộng sản vào Việt nam, cũng như sự kéo dài dai dẳng của nó, và của lập trường chống cộng, tố giác một cách phũ phàng sự yếu kém về tư tưởng của chúng ta. Hiện tượng Kim Dung trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 mới thực là kỳ quái? Truyện kiếm hiệp của Kim Dung chỉ có giá trị tương đương với một bộ truyện giải trí nhi đồng, một bộ truyện bằng tranh hay một phim hoạt họa. Nó không dựa trên một sự thực nào, không có một giá trị văn học nào mà cũng không chuyên chở một tư tưởng nào, hay một nhãn quan nào về cuộc sống và thế giới. Nó chỉ có cái khác với các bộ sách kiếm hiệp cổ điền ở chỗ nó tương đối hóa tất cả, pha trộn thiện ác, chính tà. Hình như nó cũng có tham vọng qua các nhân vật và phe phái phản ảnh phần nào thế tranh hùng trên thế giới. Nhưng nó trình bày một cách ngây ngô hời hợt. Và nhất là nó hoàn toàn không có giá trị văn học. Vậy mà cả miền Nam say mê, ngay cả các trí thức được coi là lớn cũng bỏ công nghiên cứu và bàn luận. Tôi cũng có đọc một số truyện nổi tiếng nhất của Kim Dung với mục đích phân tích tâm lý của trí thức miền Nam lúc đó. Thể thực là tôi rất thất vọng, thất vọng về truyện Kim Dung thì ít, vì dầu sao nó cũng có giá trị giải trí, nhưng thất vọng lớn về sự thấp kém bi đát của trí thức miền Nam lúc đó. Thiếu tư tưởng và cảm hứng thì dĩ nhiên ta không thể sáng tạo mà phải đi vay mượn của nước ngoài. Nhưng có những bộ môn nghệ thuật trong đó chúng ta bắt buộc phải sáng tạo, phải có cảm hứng của chính mình, dựa trên những chất liệu quanh mình, chẳng hạn như hội họa, điêu khắc và, ở một mức độ bớt gay gắt hơn, ca múa. Chúng ta yếu trong những bộ môn này là lẽ dĩ nhiên. Điều đáng buồn là, ngoại trừ thơ văn, những sáng tạo ít ỏi của chúng ta cho đến dầu thế kỷ 20 này, dù là hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa, v.v… đều không do những phần tử Sĩ phu mà do Dân gian.
Điều cũng đáng buồn là hầu hết những người lỗi lạc nhất của chúng ta, những Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, v. v… Đều nhờ đã từng đi sứ hay xuất ngoại và học hỏi được ở nước ngoài. Như thế phải nói ngay rằng nền giáo dục của chúng ta không đào tạo ra được nhân tài. Cái gì đã giam hãm trí tuệ Việt nam, không cho nó vượt thoát, sáng tạo và bay bổng?
Giải thích đầu tiên là do lịch sử nước ta. Chúng ta không phải là một dân tộc tự do. Trong hai ngàn năm sau công nguyên, nghĩa là gần như trọn chiều dài lịch sử đích thực của chúng ta, chúng ta đã bị ngoại thuộc hơn một ngàn năm, chúng ta đã phải chịu đựng những cuộc chiến thảm khốc trong phần lớn thời gian còn lại; ưu tư phải dành cho sự sống còn thay vì cho suy nghĩ và sáng tạo. Các chế độ tự chủ của ta chẳng qua cũng chỉ là những bạo quyền bản xứ. Chúng ta không có tự do. Và một con người không có tự do thì cũng không thể có óc sáng tạo.
Giải thích thứ hai là do địa lý. Nước ta được dựng lên từ châu thổ sông Hồng. Các công trình thủy lợi, đắp đê ngăn nước, đào kênh dẫn nước là chuyện sinh tử của xã hội. Chúng ta cần những chế độ bạo ngược áp đặt những hy sinh tàn nhẫn để chống cự với thiên nhiên cho sự sống sót của tập thể. Đó là số phận nô lệ chung trong quá trình hình thành của mọi dân tộc sống quanh những con sông lớn, với lưu lượng thay đổi đột ngột. Sau hàng ngàn năm bị chà đạp và hành hạ như thế, chúng ta hấp thụ bản chất nô lệ cộng thêm với cuộc sống nông dân cơ cực phải vật lộn với đất để lấy từ đất ra miềng ăn cho từng ngày. Kết quả là chúng không biết nhìn xa và sáng tạo. Cái địa lý đã nuôi ta cũng đồng thời để lại cho chúng ta những tì vết. Vậy thì để vươn lên chúng ta phải thắng được di sản lịch sử và địa lý đó. Các tiến bộ kỹ thuật đã giải tỏa chúng ta khỏi ách nô lệ của đê điều. Còn lại là di sản tâm lý do quá khứ để lại. Chúng ta cần một quyết tâm sống như những con người tự do và xây dựng đất nước trên tự do, bởi vì chỉ có những con người tự do mới có khả năng sáng tạo.
Lịch sử và địa lý không giải thích tất cả. Còn những yếu tố khác mà chúng ta có lẽ đã chấp nhận do hoàn cảnh lịch sử và địa lý, nhưng với thời gian chúng đã đóng một vai trò còn quan trọng hơn…
NGK
………………………………………………….
Thơ:

Tứ Ngâm Tận Tuyệt

 

Thương mà biết nói sao cho hết?

Lậy Chúa!  Cho con giữ được lòng!

Cát bụi dẫu mờ con mắt lệ

Trời còn có buổi vẫn xanh trong!

 

Lê Hành Khuyên

…………………………………………………………………

CHIỀU MỘT MÌNH

ta một mình chiều nay
lòng hững hờ như gió
cuốn hút những phai tàn
trong hồn sầu bỏ ngỏ

ta một mình chiều nay
chất chồng bao nỗi nhớ
chẳng biết sẽ về đâu
cuộc tình nào cũng lỡ

chiều ơi, chiều trôi mau
như dòng sông ra biển
đổ muôn nhánh muộn màng
nên lòng đầy hiu quạnh

vẫn mình ta chiều nay
đọc lại tờ thư cũ
nghe muôn tiếng rộn ràng
trong tim nào héo úa

buổi chiều sẽ tàn phai
trên từng ô vuông nhỏ
ôi đời mình thoáng bay
đong đưa bằng nỗi nhớ

thôi thì ta chiều nay
ngồi ngắm mình cô quạnh
em có về nữa không ?
mộ vàng ai đă lạnh


 

TRIỀU HOA ĐẠI

……………………………………….

trời cũng buồn
 
 
không ngờ đến vậy người ơi
đã đau như thể cả đời chưa đau
hỏi thăm mây trắng ngang đầu

thì ra thuở ấy trời cao cũng buồn


7- 2010

 
hoàng lộc
……………………………………………………………
 
Kính.
NNS  



Công Tử Hà Đông : MƯA SÀI GÒN…

MƯA SÀI GÒN…

Trước năm 1975, Khu Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sàigòn, nơi Công Tử Hà Đông sống mấy chục năm, mùa mưa đến thường bị ngập nước, khu nhà tôi sức mấy. Bây giờ Công Tử sống ở Virginia, Hoa Kỳ, nơi chàng vẫn gọi là Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, sức mấy mà mưa làm ngập lụt nơi chàng ở, còn tôi ở khu Nguyễn Thiện Thuật, Quận Ba, Sàigòn, mùa mưa đến khu nhà tôi nước ngập quá xá..

Đấy là lời Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang, người sống bền với Sàigòn từ năm 1954 và năm nay vẫn sống ở Sàigòn, viết trong bức thư mới nhất của chàng. Đúng thôi. Trước năm 1975, Thuyền Trưởng ngụ cùng nhà với ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, chức vụ cuối cùng của Trung Tá, tức đến 11 giờ trưa ngày 30 Tháng Tư năm 1975, là Quản Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến là anh em cùng vợ – đúng ra là "anh em cùng nhiều vợ" – với Thuyền Trưởng Hai Tầu kiêm văn sĩ tiểu thuyết phơi-ơ-toong diễm tình Văn Quang Chân Trời Tiếm, Tiếng Khóc Học Trò. Nhà, phải gọi là tư gia, nâng bi là tư dinh, của Trung Tá ở trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, Sàigòn, là nhà lầu, mới xây, đầy đủ tiện nghi, tô-lô-phôn, máy lạnh, phòng khách sa-lông Tây bọc da, phòng ăn bàn ghế gỗ cẩm lai, phòng ngủ kiểu Tây riêng biệt, có cửa đóng kín. Ba, bốn mươi năm xưa Cư Xá Chu Mạnh Trinh là một trong những cư xá khang trang, thanh lịch nhất Sàigòn, đặc biệt là cư xá ấy có nhiều văn nghệ sĩ cư ngụ nhất. Trước năm 1975 mỗi khi mùa mưa đến, Cư Xá Chu Mạnh Trinh chẳng bao giờ bị ngập nước. Nhưng đấy là chuyện trước năm 1975.

Trước năm 1975 Sàigòn của tôi rất đẹp, chỉ sau năm 1975 bọn Bắc Việt Cộng nón cối, giép râu, lính cái đít bự hơn cái thúng, khiêng ảnh Lão Già Hồ vào Sàigòn, Sàigòn của tôi mới xấu đi, mới bẩn đi. Trước năm 1975 mỗi năm khi mùa mưa đến với những trận mưa lớn đầu mùa – đồng bào tôi gọi là những "cây mưa" – mưa lớn quá nước mưa chẩy ra sông không kịp, Sàigòn của tôi cũng có vài con đường bị ngập nước, nhưng rất ít. Chẳng hạn như đường Lê Lai, nơi có tòa soạn nhật báo Ngôn Luận tôi thường đến hàng ngày, nhưng dù mưa có lớn đến đâu, dù có bị ngập nước mấy đi nữa chỉ hai giờ đồng hồ sau khi dứt mưa là đường Lê Lai lại khô ráo, sạch boong, nước đã rút hết. Thành phố Sàigon yêu thương của tôi chỉ bị nạn nước mưa ngập không thuốc chữa từ sau ngày bọn Bắc Việt Cộng vào chiếm Sàigòn.

Trước 1975 Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến, Quản Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, ở nhà lầu, nhà lầu của ông, không phải nhà mướn, đi xe tu-bin Peugeot 504, hút thuốc điếu Winston, sài bật lửa gaz Dupont. Một tháng sau ngày 30 Tháng Tư 1975 ông xách túi, từ biệt bà vợ hiền – bà vợ hiền thứ tư của ông – ông theo tiếng gọi của cái gọi là "Ủy Ban Quân Quản", cái ủy ban mà người dân Sàigòn gọi là Ủy Ban Quanh Quẩn, ông lên đường đi "học tập cải tạo". Ngày xa xưa ấy, một sáng Tháng Năm năm 1975, chắc ông, cũng như nhiều vị sĩ quan quân đội tôi, nghĩ rằng ông chỉ đi xa tòa nhà lầu của ông trong cư xá Chu Mạnh Trinh nhiều lắm là một, hai tháng rồi ông lại trở về trong vòng tay ấm của bà vợ hiền của ông, vì vậy ông đi tù cộng sản mà ông mang theo cái bật lửa gaz Dupont và hai tuýp gaz Dupont dzin để sạc bật lửa!

Như thị ngã văn. Chuyện sĩ quan ta mang hôïp quẹt Dupont đi tù cải tạo là do chính ông Trung Tá kể cho tôi nghe. Nhưng sự đời thảm não tơ vương không có chuyện đi tù cộng sản rồi lại thơ thới trở về mái nhà xưa êm đẹp như ông Trung Tá quân ta tưởng. Bắc Việt Cộng nó cho ông đi tù mười mùa lá rụng. Khi ông trở về thành phố cũ, vỉa hè xưa, bà vợ hiền của ông đã đi một đường không sang sông mà là vượt biển tự bao giờ, tòa nhà lầu của ông đã bị bọn Bắc Việt Cộng chiếm mất, một thằng cán bộ Việt Cộng làm chủ ngang xương tòa nhà lầu của ông trong cư xá Chu Mạnh Trinh. Vắn tắt, tóm lại, đại khái cuộc sống của ông Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến ở Sàigòn những năm 1986, 1987, 1990 không có một ly ông cụ nào khác với cuộc sống của không biết bao nhiêu ông sĩ quan quân đội tôi kẹt giỏ bỏ súng, bỏ lính, bỏ nhiệm sở, bỏ nhân dân, bỏ nước, chạy lấy người không kịp, bị bọn Bắc Việt Cộng nó bắt đi tù. Cuộc sống ấy đã được một ông Tầu từ mấy ngàn năm xưa miêu tả đầy đủ trong mấy câu : "Nhà mình người ở, xế mình người đi, vợ mình người chí chạt, con mình người đưa sang Kampuchia lấy xác bón cây thốt nốt.." Cuộc sống của các ông đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái lá đa ca dao, rách, nát, bèo nhèo hơn cái mền Sakymen, xưởng máy bên Cầu Bình Triệu. Ông Trung Tá đi tù về trên răng dưới không có lựu đạn, quả đáng tội trên răng dưới ông cũng có đôi giép, không nhà, không vợ con – lại phải nói cho đúng ông có nhà, có vợ con, cái gì chứ vợ con thì ông có hơi nhiều, nhưng ông bị mất nhà, mất vợ con, ông về sống trong một nhà cho mướn ở đường Sư Vạn Hạnh. Căn nhà này có nhiều phòng nhỏ được làm để cho những em lấy Mỹ mướn những năm 1965, 1970. Năm xưa ấy khi chủ nhân căn nhà chia nhà ra làm nhiều phòng nhỏ chỉ là để cho các em lấy Mỹ mướn thôi, chủ nhà đâu có ngờ rằng chẳng mấy mùa cóc chín sau khi các em lấy Mỹ không còn khứa Mỹ nữa những căn phòng nhỏ đó lại có khách mướn. Lần này khách mướn không phải là Me Mỹ mà là các ông sĩ quan đi tù về. Hai ông Trung Tá ở chung một phòng, mỗi ông một cái giường sắt cá nhân, không ông nào có vợ con chi, bữa mô ông nào cần tiếp khách thì ông kia phú lỉnh đi khỏi phòng chừng ba, bốn tiếng đồng hồ mới về. Rồi ông Trung Tá dạt về sống trong Cư Xá Nguyễn Thiện Thuật. Mỗi năm mùa mưa tới, những cây mưa lớn đổ xuống Sàigòn, con đường Nguyễn Thiện Thuật nước ngập như sông, nước ngập cả ngày, cả đêm, 24 tiếng đồng hồ nước chưa rút đi hết, bọn trẻ nhỏ trong khu phố có dịp ở truồng chạy ra đường nghịch nước.

Sàigòn hiện nay có đến 100 chỗ bị ngập nước trong mùa mưa. Một chỗ ngập nặng là đường Trần Quốc Toản của ta, nay bị bọn Việt Cộng gọi bằng cái tên không giống con giáp nào là đường 3 Tháng 2. Đoạn đường này mỗi trận mưa lớn nước ngập lên cả thước. Nghe nói bọn Việt Cộng xây cái gọi là Nhà Hát Hòa Bình của chúng ngay trên cửa cống chính của đường Trần Quốc Toản, bít luôn ống cống nên đường này mới ngập nước nặng đến như thế. Năm nào trong mùa mưa cũng có cả chục người Sàigòn chết thảm vì bị nước cuốn vào những miệng cống.

Liêu lạc bi tiền sự… Sống buồn ở nước Mỹ, quê người Mỹ, chuyện mưa Sàigòn làm tôi nhớ Saigòn quá chời, quá đất. Bây giờ là Tháng Năm Tây, bây giờ là Tháng Tư Ta. Tháng Tư đầu mùa hạ, tiết trời thật oi ả…Năm nào Tháng Tư Ta Sàigòn cũng oi mưa, nóng bức, khó chịu đến mười lăm, hai mươi ngày. Rồi trận mưa đầu mùa đến Sàigòn, sấm vang, chớp giựt đùng đùng, loe lóe, đất trời Sàigòn chuyển động,nháng lửa, gió lớn, cây lá vặn mình, những đường dây diện Sàigòn đong đưa nhẩy tuýt, cả thành phố nín thở chờ đợi, bầu trời vỡ bung, nước đổ xuống sầm sập. Mưa..! Mưa..! Không khí nhẹ đi. Mát rượi. Người Sàigòn thở ra khoan khoái. Ôi.. phải được sống ở Sàigòn người Việt Nam mới có cái thống khoái chờ, và thấy, và hưởng cái khoái lạc khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống…

Những cây mưa đầu mùa Sàigòn…! Những năm 1960 tôi từng viết: "Sàigòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp mới tắm xong…" Từ ấy đã bốn mươi mùa mưa đi qua cuộc đời, những nàng trinh nữ năm ấy nay đã thành những bà cụ già, nhiều nàng có thể còn đa tình, trái tim còn sống mạnh nhưng già thì các nàng vẫn già, hôm nay nhớ lại tôi lấy làm lạ tại sao một anh cả đẫn ngớ ngẩn như tôi lại viết được một câu gợi cảm đến như thế về thành phố Sàigòn của tôi sau cơn mưa lớn:"Sàigòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong!" Mai sau nếu có chàng trai hào hoa, phong nhã nào ngửi da thịt người đàn bà chàng yêu thương vừa mới tắm xong, thơm phức, và nói: "Em sạch như thành phố Sàigòn sau cơn mưa lớn…" thì một nửa câu nói tình tứ ấy là của tôi!

Ở đây thép rỉ, son mòn…Xa quê hương, tôi nhớ những mùa mưa tôi nằm trong phòng tù Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu ở quê hương tôi.

Những phòng tù Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, bốn tường kín mít, mái tôn, không có trần, nhốt 20 người đã khó thở nhưng nhồi nhét đến 40 người tù. Những tháng mùa nắng phòng tù nóng như lò nướng bánh mì. Bọn tù chúng tôi rôm sẩy đầy mình, nải chuối sứ hãy còn xanh được treo trên tường phòng tù chỉ sau một đêm chịu hơi người sáng hôm sau đã chín vàng rọm. Trận mưa lớn đổ xuống, có tên cai tù tốt bụng mở cửa phòng tù cho tù chạy ra sân tắm mưa ở ống máng, chỉ hai phút tắm mưa bao nhiêu rôm xẩy lặn hết.

Tôi nhớ những trận mưa lớn ở Nhà Tù Chí Hòa.

Nhà tù Chí Hòa có nhiều chuột cống. Bọn chuột cống biết bọn tù chúng tôi bị nhốt trong phòng, không động được đến cái chân lông của chúng được nên tối xuống, khi cửa sắt hành lang đã đóng, đã khóa, bọn chúng đàng hoàng kéo nhau ra hành lang, đưổi nhau, đùa rỡn, nhẩy măm-bô, nhót tăng-gô, nựng nhau, cắn nhau, bọn tù chúng tôi đứng sau hàng song sắt suỵt suỵt dọa nạt chúng, chúng tỉnh queo, chúng coi như pha, chúng không thèm chấp. Chúng còn dương mắt nhìn chúng tôi khinh bỉ, chúng tôi nghe tiếng chúng nói: "Chúng mày tù, chúng mày làm gì được chúng ông? Suỵt soạt ký gì?" Nên khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống, nước thoát đi không kịp, các ống cống đầy nước, bọn chuột cống phải chạy lên sân nhà tù, chúng tôi thích thú khi thấy anh em tù nhân được ra làm những việc chia cơm, quét dọn, vây đuổi đập chết cả mấy chục con…

Và sau những trận mưa lớn đầu mùa, đêm xuống, nằm thao thức không ngủ được trên nền xi-măng phòng tù Chí Hòa, tôi ngạc nhiên nghe tiếng ếch nhái kêu vang suốt đêm. Tôi tự hỏi trong cả bẩy, tám tháng trời nắng nóng vừa qua, bọn nhái bén, chẫu chàng, chẫu chuộc trốn nấp ở đâu, làm sao chúng sống qua cả bẩy, tám tháng trời nắng nóng để đêm nay, trời vừa đổ cơn mưa lớn, chúng kéo nhau lên mặt đất đồng ca vang rân như thế?

Tôi nhớ mùa mưa thứ nhất tôi nằm trong sà-lim số 15 Khu B Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Mùa mưa năm 1977, đây là những tháng thứ nhất tôi bị tù trong đời tôi. Một đêm mưa lạnh, không ngủ được, tôi làm thơ:

Nằm trong khám tối âm u
Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa
Bồi hồi tưởng mái nhà xưa
Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao?
Thương Em nhạt phấn, phai đào
Đêm đêm trở giấc chiêm bao một mình.
Ngủ đi Em, mộng bình minh
Mưa bao nhiêu giọt là Tình bấy nhiêu.

Một đêm mưa năm 1976 tôi trên xe đạp đi lang thang trong thành phố không đèn tối đen, tôi làm thơ:
Ở đấy mộ người toàn cỏ trắng
Riêng mộ người yêu cỏ sắc xanh.
Đêm mưa, đèn tắt, thành xưa vắng
Thương nhớ tình ta chỉ một anh.
Em đi mùa ấy mưa hay nắng?
Đời vắng khanh đời chỉ nhớ khanh.
Lầu vàng, nhà cỏ rồi yên lặng
Phố chợ, rừng hoang cũng vắng tanh
Người yêu, người ghét đều quên lãng
Chẳng còn anh cũng chẳng có em
Mồ em cỏ ấy vàng hay trắng?
Anh biết mồ anh cỏ sắc xanh!

Em yêu dấu..Anh kể Thơ Mưa của những thi sĩ chính hiệu con nai vàng em nghe nhé. Thơ Việt của chúng ta có nhiều Thu và Mưa. Trong Thơ Ta Mưa cũng nhiều nếu không nói là nhiều hơn Thu. Thuyền Trưởng Văn Quang nhắc đến bài Thơ "Mưa Sàigòn, Mưa Hà Nội" của Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn, Thơ do Nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc:

Mưa hoàng hôn, trên thành phố buồn, gió heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa
Thương mầu áo ngà. thương mắt kiêu sa, hiền ngoan thiết tha…
Thơ ngây đôi má nhung hường
Hà Thành trước kia thường thường về chung lối đường
Khi mưa ướt lạnh mình chung nón dìu bước thơm phố phường…
Mưa ngày nay như lệ khóc phần đất quê hương tù đày
Em ngoài ấy còn nhớ hẹn xưa miệt mài?
Giăng mắc heo may! Sầu rơi ướt vai, hồn quê tê tái…

*

Mưa mùa thu, năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù
Tủi thân nhớ bao ngày qua
Mưa ngùi thương nhòa trên giòng sông Hồng Hà
Ôi còn đâu vàng son mùa thu hiền hòa
Đau lòng Tháp Rùa, Thê Húc bơ vơ, Thành Đô xác xơ
Cô liêu trong nỗi u hoài, lòng người sống lạc loài, thê lương mềm vai gầy
Bao oan trái dâng lên tê tái, cho kiếp người héo mòn tháng ngày
Mưa còn rơi, ta còn ước rồi nắng yêu thương về đời
Vang trời tiếng cười, ấm niềm tin hồn người, mây trắng vui tươi
Tình quê ngút khơi, Tự Do phơi phới…

Bài thơ trên đây được đặt tên là "Mưa Sàigòn, mưa Hà Nội" nhưng cứ theo như ý ngu không có một su teng văn nghệ, văn gừng nào của tôi thì nó chẳng có một ly ông cụ nào là "Mưa Sàigòn", nó chỉ là "Mưa Hà Nội". Năm xưa ấy, năm 1956, khi thi sĩ sáng tác nó, có thể vì ông sống ở Sàigòn mà mần thơ nhớ riêng mưa Hà Nội trong khi Sàigòn cũng có mưa mà ông không nhắc nhở gì đến Mưa Sàigòn cả, sợ chuế nên thi sĩ móc ba tiếng "Mưa Sàigòn" vào cho bài thơ có tí mầu sắc Sàigòn. Cũng dễ hiểu thôi, năm 1956 đất nước ta mới bị chia cắt, thi sĩ Hoàng Anh Tuấn, nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương còn trẻ, hai ông mới xa Hà Nội của hai ông có hai niên nên hai ông nhớ thương Hà Nội của hai ông. Hai ông cảm khái nên ông ni mần thơ, ông kia phổ nhạc bài thơ nhớ thương Hà Nội đó. Hai mươi năm sau, năm 1975, người ta thấy cả hai ông – thi sĩ, nhạc sĩ – không ông nào còn nhớ thương Hà Nội nữa, khi có thể về thăm lại "Thành Đô yêu mến.." hai ông bỏ chạy có cờ!
Trở lại với Mưa trong Thơ, với Thơ Mưa, em yêu dấu, anh kể một lô Thơ Mưa em nghe nhé!

Đây là Thơ Mưa Trần Huyền Trân:

Mưa bay trắng lá rau tần
Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa.
Có người về khép song thưa
Để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng.

*

Ta trở về đây không gối chăn
Một mình ly rượu rét căm căm
Không là lính thú sầu lên ải
Cũng thấy lòng chia dưới cát lầm.

Nhớ lại mùa mưa những thuở nào
Rượu rồi nâng cổ áo lên cao
Dăm ba mồi thuốc đi chung bóng
Lòng chép cho lòng bao chiêm bao;

Lên thang nghe gió nhủ, mưa thầm
Gác trọ không đèn hết cố nhân…

Thi sĩ không là lính thú sầu lên ải, mà cũng thấy lòng chia dưới cát lầm. Tôi không phải là thi sĩ nhưng ở xứ người đôi khi về nhà khuya lên thang gác tôi cũng nghe gió nhủ, mưa thầm, cả những đêm trời Mỹ không mưa gió, tôi cũng nghe tiếng gió nhủ, mưa thầm vang lên trong trái tim tôi, chỉ có điều là ở nước Mỹ tôi lên thang nghe gió nhủ, mưa thầm, gác trọ sáng đèn nhớ cố nhân!

Vài dòng Mưa nữa trong Thơ Trần Huyền Trân:

Phải đây mùa nhớ thương nhau
Chim ngoài ngọn gió, mưa đầu cành mưa
Biết yêu thì khổ có thừa
Hình dung một thoáng, tương tư chín chiều
Xa nhau gió ít, lạnh nhiều
Lửa khuya tàn chậm. mưa chiều đổ nhanh
Bóng đơn đi giữa kinh thành
Nhìn duyên thiên hạ, nghe tình người ta
Đêm về hương ngát bên hoa
Tỉnh ra thì lại vẫn là chiêm bao.

Đưa người ta không đưa qua sông, sao có tiếng sóng ở trong lòng. Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Thi sĩ Thâm Tâm tự hỏi như thế. Thâm Tâm chỉ để lại cho đời ba, bốn bài thơ, bài nào cũng làm tôi cảm khái. Đây là Mưa trong Thơ Thâm Tâm:

Ngoài phố mưa bay, xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
– Ới ơi..bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về!
Không nhớ bài thơ dưới đây của thi sĩ nào:
Nửa khuya tỉnh giấc lòng đau
Nửa mong tảng sáng, nửa cầu thâm khuya.
Tiếng chuông ở giáo đường kia
Hay trong chùa nọ, sầu chia sang người.
Biết mưa đang đổ nên lười
Nằm nghe lá rụng tơi bời rung cây.
Em ơi…Buồn lạnh thế này
Cùng ta chẳng có một ngày nằm đôi…

Ối giời ơi… Cơm nhà, quà vợ như tôi, chân chính, thuần thành, thâm niên, trung kiên, tuyệt đối… Dzậy mà đọc bài thơ trên tôi cũng muốn kêu toáng lên…Em ơi… Buồn lạnh thế này… Cùng ta chẳng có một ngày nằm chung, xin lỗi, nằm đôi. Chít mất!

Mới đây một bạn đọc viết cho tôi:

– Đọc đoạn ông tả cuộc chia tay với người đẹp độc giả buổi trưa đường Thống Nhất Sàigòn, nắng vàng lung linh, tôi cảm khái cách gì…

"Cảm khái cách gì.." Bạn ơi..Đọc chuyện tôi bạn "cảm khái cách gì", tôi đọc hai câu Thơ "Em ơi buồn lạnh thế này..Cùng ta chẳng có một ngày nằm đôi.." tôi cũng "cảm khái cách gì.." Mèn ơi..! Cảm khái quá đi mất! Cảm khái ơi là cảm khái.

Giời mưa ướt áo làm gì..?
Năm mười bẩy tuổi chị đi lấy chồng
Tuổi son má đỏ, môi hồng
Bước chân về đến nhà chồng là thôi
Hôm qua mưa gió đầy trời..

Thơ Nguyễn Bính có nhiều Mưa:

Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng…

Huế có nhiều thi sĩ, tôi thấy Thi sĩ Bắc Kỳ Nguyễn Bính làm Thơ Mưa Huế tuyệt nhất:

Mấy tuần ròng rã gió mưa
Bên lầu đò lạnh, gió lùa nước dâng.
Ngược xuôi, mưa gió dãi giằng
Nằm đây nhớ nửa vầng giăng chốn nào.
Mưa rào rào, gió ào ào
Trùm chăn say khói thuốc lào đê mê.
Học sinh mấy buổi đi về
Quần cao, nón thấp ê chề gió mưa.

*

Giời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày..
Hôm qua còn sót hơn đồng bạc
Hai đứa bàn nhau uống rượu say.
Nón lá, áo tơi ra quán ruợu
Chơ vơ trên bãi nước sông đầy…
Sầu nghiêng mái quán, mưa tong tả
Chén ứa men lành, lạnh ngón tay.
Ôn lại những ngày mưa gió cũ
Những chiều hành viện, những đêm say…
Và Nguyễn Bính làm thơ ở Nam Kỳ:
Những ai đan áo ngự hàn ngày xưa
Những ai mảnh quạt đề thơ
Nam Kỳ cũng gió, cũng mưa
Đêm đêm đắp đổi cũng vừa chăn bông.
Mình đi trăm núi, ngàn sông
Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam…
Những ai đón bạc, đưa vàng
Những ai ai đó, bây giờ những ai..?
Há rằng uổng một đời trai
Quyết tâm phá bí, ai dè vẫn thua.
Đến đây đường khóc cùng đồ,
Phải đâu Ba Thục hay bờ Ô Giang?
Đèn chong lụi cả canh tàn
Ngoài sông ai đó quá giang gọi đò.
Hỡi người đi gió, về mưa
Có gây dựng nổi cơ đồ gì không?
Đã đành nhớ núi, thương sông
Nằm đây xa cách muôn trùng ải quan…

*

Một thân lận đận nơi trời xa
Nằm nghe mưa rơi trên mái nhà
Gió bắt vào thu đầy tiếng lá
Đời tàn mộng đẹp, tiếc xuân qua
Long tong mưa nhỏ gieo từng giọt
Ắng lặng không nao một tiếng gà
Chờ nửa vầng trăng, trăng chẳng lại
Đêm dài đằng đẵng, đêm bao la
Cũng may cho những người lưu lạc
Càng khỏi trông trăng, đỡ nhớ nhà…
Em ơi..Anh đưa em sang Thơ Mưa Huy Cận:
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời lành lạnh, nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
Rơi rơi, dìu dịu, rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ
Tương tư hướng lạc, phương mờ
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe
Gió về lòng rộng không che
Hơi may hiu hắt bồn bề tâm tư.

*

Người ở bên trời, ta ở đây
Chờ mong phương nọ, nhớ phương nầy
Tương tư đôi chốn tình ngàn dặm
Vạn lý sầu lên, núi tiếp mây
Nắng đã xế về bên xứ bạn
Chiều mưa trên bãi nước sông đầy.
Trông vời bốn phía không nguôi nhớ
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay.
Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt
Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày
Chiếu chăn không ấm người nằm một
Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay.

Em ơi… Đến đây là những dòng Thơ Mưa anh cảm khái suốt một đời: Thơ Mưa Vũ Hoàng Chương
Đàn rưng rưng lệ, phách dồn mưa
Tiếng hát tàn rơi hận thuở xưa.
Bụi nhuốm Thiên Thai mờ hứng ruợu;
Đời sau say giúp mấy cho vừa!
Cô đơn men đắng sầu trăng bến
Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa.
Nhịp đổ càng mau nghe ríu ríu
Tê rời tay ngọc lúc buông thưa.

*

Tóc sõa tơ vàng nệm gối nhung
Đây chiều hương ngát lả hoa dung
Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo
Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng.

Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay
Buồn mưa trăng lạnh, nắng hoa gầy
Nắng mưa đã trải tình nhân thế
Lưu lạc sầu chung một hướng say.

Gặp gỡ chừng như truyện Liêu Trai
Ra đi chẳng hứa một ngày mai
Em ơi lửa tắt, bình khô rượu
Đời vắng em rồi, say với ai?

*

Ôi thân mến! Nhắc làm chi thuở ấy
Đêm nay đây hồn xế nẻo thu tàn..
Khóc chia lìa, ai níu gọi than van?
Ta chỉ biết nằm nghe tình hấp hối.
Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối
Mưa. mưa hoài! Rượu chẳng ấm lòng đau.
Gấm the nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay mầu đôi mắt biếc?

Chao ôi..Cơm nhà, quà vợ từ hằng hà sa số kiếp, một chai la-ve 33 ăn nói đã loạng quạng, vậy mà cũng hiu hiu tiêu sái gõ nhịp sầu ca "Em ơi lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi, say với ai..?" Cả đời chỉ biết có một người đàn bà, vậy mà cũng "..Gấm the nào từ buổi lạnh lùng nhau..Vàng son có thay mầu đôi mắt biếc..?" Cảm khái cách gì!

Còn nhiều dòng Thơ Mưa Vũ Hoàng Chương nhưng đêm có khuya, ngày có rạng, người viết dù hứng khởi, dù cảm khái, bài viết cũng không thể quá dài, trang báo có hạn, trang báo còn phải dành cho bài viết của người khác và cho quảng cáo, em cùng anh sang Thơ Mưa Đinh Hùng:

Tình đến bên người, núi chắn ngang,
Tà dương mái tóc ngút mây vàng
Bỗng nghe lạc trận mưa ngàn đổ
Cả một mùa thu đã quá giang…

Sóng tóc rừng mưa gợn trập trùng
Nghẹn ngào từng tiếng nấc thu không
Sương pha áo mỏng, gầy non bạc
Chiều lặng soi gương, xót má hồng.

Chiều lại chiều mưa, nước ngập đồng
Mộng vàng hoa mướp rụng ven sông
Đợi em từ mấy phương bèo rạt
Mưa lọt chiêm bao, tóc rối bồng.

Giấc mộng đêm nào cũng gió mưa
Gối chăn như hải đảo vô bờ
Sóng dâng hồn vách sầu nghiêng bóng
Thoáng ngọn đèn trôi ánh mắt xưa.

*

Mênh mang sóng mắt
Ngờ biển dâu
Núi non nhìn ta vừa nghiêng đầu
Hình như hội ngộ
Từ ngàn thâu.
Ta tỉnh hay mơ? Chiều nay trăng khép
Hàng mi sầu
Hay tà dương thu
Mưa rơi mau?

Thơ của ai tôi cũng có thể phụ đề Việt ngữ, thường là tâng bốc, suýt xoa, hít hà hay quả là hay, hay quả, quả hay, cảm khái ơi là cảm khái, đến Thơ Mưa Đinh Hùng thì tôi thôi không ca tụng nữa. Ca tụng, tâng bốc là thừa.

Giữa đêm lòng bỗng hoang vu
Gối chăn nghe cũng tình cờ quan san.
Bước thu chừng sớm lìa ngàn,
Nhớ giây nguyệt lạnh, cung đàn thương hoa.
Em về rũ tóc mưa sa
Năm canh chuốt ngón tỳ-bà khói sương.
Rời tay nhịp phách đoạn trường
Hồn đêm nay thấm mùi hương năm nào?
Sầu che nửa mặt chiêm bao,
Dòng mưa, thu lệ chìm vào phấn son.
Nét mày cong vút núi non,
Mông mênh xiêm trắng linh hồn vào thu.

*

Có kẻ nghe mưa trạnh mối sầu
Vắt tay nằm mộng suốt đêm thâu.
Gió từ sông lại, mưa từ biển
Không biết người yêu nay ở đâu?

Tôi ngủ bâng khuâng một gối buồn
Giường lênh đênh nổi giữa băng sơn.
Xoay mình giận mảnh chăn hờ hững.
Tuyết phủ, sương dâng một nửa hồn.

Người ta xa lánh cả tôi rồi!
Trở gối, nghe hồn động biển khơi.
Xa bạn, xa lòng, xa mắt đẹp,
Gió mưa dòng tóc, đắng vành môi.

Dĩ vãng dầm mưa lén bước về
Áo trùng, mây tỏa, mặt sầu che.
Run tay ấp nửa bàn chân lạnh
Thương những con đường mưa cuốn đi

Bài viết đã dài mà Mưa còn nhiều. Đành ngừng ở đây thôi. Ngừng nhưng còn tiếc nên Mưa thêm vài cơn Mưa nữa..

Những Thơ Mưa trên đây đều là Thơ Mưa trước năm 1975. Từ ấy, tức từ năm 1945 đến nay, ta có Thơ Mưa Quang Dũng:

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai
Sông xa từng lớp lớp mưa dài.
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai?

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia?
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến tề…

Em nhớ không em, những tiếng Ca Mưa chúng ta cùng nghe ngày xưa khi chúng ta còn trẻ:

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?
Sao còn đứng mãi nơi giang đầu?

Và:

Em đến thăm anh một chiều mưa, đường trơn ướt tiêu điều..
Em đến thăm anh chiều đông giá, em đến thăm anh chiều mưa gió, đường xa lạnh lùng..

Và:

Mưa rừng ơi mưa rừng..

Những lời Ca Mưa chìm trong dĩ vãng nhạt nhòa, hình ảnh Sàigòn trong mưa thấp thoáng hiện về, cả thành phố trắng xóa nước mưa, Sàigòn dưới cây mưa như người đàn bà đẹp nằm chịu cơn lạc thú, cây mưa đầu mùa Sàigòn như gã đàn ông quằn quại trên thân thể người đàn bà đẹp, những con đường ngập nước như những dòng sông.

Mưa ở Sàigòn mới là mưa. Tôi không biết ở những nơi khác ra sao, tôi thấy mưa Virginia không trận nào ào ạt lớn, mạnh, đại lượng, ban phát khoái lạc, oai nghiêm như những trận mưa ở Sàigòn, nhất là những trận mưa đầu mùa mưa, như những trận mưa đang đổ xuống Sàigon tháng này.

Đành phải tạm ngừng thôi..

Mưa, mưa hoài! Rượu chẳng ấm lòng đau
Gấm the nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay mầu đôi mắt biếc?

Em về rũ tóc mưa sa
Năm canh chuốt ngón tỳ-bà khói sương

Gió từ sông đến, mưa từ biển
Không biết người yêu nay ở đâu?

Gió từ sông đến, mưa từ biển..Không biết người yêu nay ở đâu? Cảm khái cách gì!

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG




Phiêu Dao : Tôi kể người nghe Tổ Quốc ta

Quê Xưa

Ai đốt bếp để khói tìm rơm rạ?
 Để nội về,khen mãi miếng cháy thơm
Ai nheo nhóc đùa vui cùng lũ trẻ
Nghịch cát sân còn nóng nắng ngoài thềm
Ừ ta đó! một buổi chiều lội suối
 Vai thư sinh,mái tóc kiểu vỏ dừa
 Mắt đeo kính,miệng nói cười nhan nhản
Cũng thanh tao,nho sĩ cuối đầu thưa
Ừ lạ quá! khi tìm về quá khứ!
Bóng hồng nào cứ hiển hiện thoáng qua
Như chớp nhoáng lòng ta chưa định hướng
Nắm tay nàng nhún nhảy giữa ta bà
 Đây thân gỗ còn ghi lời hẹn ước!
 Đây sông xưa,còn văng vẳng lời yêu
 Tiếng tuyên thệ dội về từ thưở trước
Bổng giật mình,da diết nhớ quê nhiều

Phiêu Dao
2/1/2009.



Tôi kể người nghe Tổ Quốc ta
Hàng tre xanh ngát bến sông ngà
Chảy quanh uốn khúc bên đồi vắng
Cánh nhạn tung bay thả bóng xa

Tôi kể người nghe Tổ Quốc ta
 Xanh xanh lụa gấm trải quan hà
Nghìn năm văn hiến đa màu sắc
Thiếu nữ áo dài trắng thướt tha

Tôi kể người nghe Tổ Quốc ta
 Nhân tài hiền sĩ khắp nhà nhà
Nước non vẫn hẹn người anh dũng
Chiến trường vẫy gọi súng xông pha

Nước non,non nước là chi chi?
Yêu nước,thương non có lợi gì?
Tổ quốc tương đồng như tổ ấm
Mất non,mất nước sẽ ai bi

Đêm nay,thơ thẩn trước thềm hoa
Trông nỗi hương Xuân thổi la đà
Nức nở thư sinh mềm vạt áo
 Công lao chửa góp giúp quê ta

Phiêu Dao
10/2/2010.




Những bài thơ trúng giải thi Văn Thơ Lạc Việt năm 2008

GHI CHÚ: Nhằm mục đích bảo tồn và phát triển văn học dân tộc nơi hải ngọai, đồng thời cũng nhằm khuyến khích tinh thần sáng tác của mọi tầng lớp người Việt yêu thích văn thơ. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt xin trân trọng thông báo đến đến quý vị, cuộc thi văn thơ của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt năm 2010 lấy tên là Giải Văn Thơ Lạc Việt, và sẽ phát động vào trung tuần tháng 5, năm 2010.

 

Thi Thơ Văn 2008 Văn Thơ Lạc Việt

Giải nhất cho bài thơ

 

NGẬM NGÙI

 

Bờ dâu năm cũ đâu rồi?

Con thuyền còn buộc bời bời gió thu

Làng trên xóm dưới mịt mù

Tiếng con chim lạ vẫn gù vườn sau

Quê hương xa cách lòng đau

Thấy trăng trước cổng tưởng đâu quê nhà

 

H.Sơn

Thi Thơ Văn 2008 Văn Thơ Lạc Việt

Giải nhì cho bài thơ

 

CHIỀU NGHIÊNG

 

Em nghiêng mình hát khúc du ca

tiếng hát rơi trên những mái nhà

vỡ xuống loang cơn buồn viễn xứ

tan trong triều đại của mầu da

 

Em nghiêng mình ngước mắt nhìn mây

vũng tối vây quanh ánh lửa gầy

dẫy u hoài trồng lan giới tuyến

đêm đêm vời vợi một đường giây

 

Em nghiêng mình đổi bước tìm nhau

thành phố hôn mê khúc nguyện cầu

đại lộ se mình trong biển lạnh

con đường tình tự dẫn về đâu

 

Em nghiêng mình chải tóc nhìn lơi

đường rẽ bâng khuâng cả dáng người

chiếc khoáy trên đầu em điểm lệch

xoay đời nhau lạng bước ngàn nơi

 

Em nghiêng mình cúi xuống vực sâu

hẳn thấy ma vương đứng gục đầu

giải đất quê hương hình chữ “S”

cong đời thương nhớ quặn mùa đau!

Hà Dzi

 

 

 

Thi Thơ Văn 2008 Văn Thơ Lạc Việt

Giải ba cho bài thơ

 

CON ĐƯỜNG TỰ DO

 

Trời ơi! Nhớ mẹ nhớ cha

Nhớ như là nhớ quê nhà bỏ đi

Trăm năm hỏi có còn gì?

Còn làn tóc bạc, ai vì ta thương?

Chao ôi! Cái giá văn chương

Gì hơn tìm lại con đường Tự Do.

 

Vân Bích Loan

 

 


Thi Thơ Văn 2008 Văn Thơ Lạc Việt

Giải Khuyến khích 1 cho bài thơ

 

BUỒN TRONG HY VỌNG

 

Xôn xao bàn tán Tháng Tư về

Tham luận nhiều bài đọc thấy ghê

Nào pháo rót vô sao thoát nhỉ ?

Rồi tăng xấn tới chạy mô hề

Ba quân gẫy sung than tù tội

Quần chúng hồn phiêu của kiểm kê

Tay trắng chỉ chừng trong tìch tắc

Ôi đau biết mấy nát tan quê !

 

Ôi đau biết mấy nát tan quê !

Ba chục năm hơn chửa chin kê

đất khách nhiều trò không kém xạo

Quê nhà lắm cảnh khác chi hề

Thương thương quê mẹ thương thương lạ !

Nhớ nhớ tình em nhớ nhớ ghê !

Một nén hương lòng xin tiến kính

Anh linh tử sĩ độ ngày về

 

Anh linh tử sĩ độ ngày về

Trong cảnh thanh bình sung sướng ghê !

Trước hết chung lòng xây miếu tổ

Sau thời lấy đức xử quân hề

Phương cương đất nước điều sai sửa

Hạnh phúc toàn dân chỗ lệch kê

Chim Việt Cành Nam vui một tổ

Muôn năm êm ấm mái tranh quê

 

Từ Thanh Hà 


Thi Thơ Văn 2008 Văn Thơ Lạc Việt

Giải Khuyến khích 2 cho bài thơ

 

LẼ  NÀO

 

Dân đang lúc dầu sôi lửa bỏng

Chỉ mong sao sạch bóng quân thù

Bà con lúc ấy tha hồ

Làng trên xóm dưới ngọn cờ vàng bay

Giờ nước vẫn trong tay chúng nó

Lũ chúng mình góp gió thành giông

Ra đi mồ mả tổ tông

Họ hàng quyến thuộc tưởng không ngày về

Về là có vần đề diệt Cộng

Về là nuôi giấc mộng Tư Do

Đâu còn chưa ấm chưa no

Làm sao chưa sợ, chưa lo gì à?

Về để nhớ lời thề năm cũ

Hẹn ra đi diệt lũ sài lang

Ta còn trong cảnh trái ngang

Lẽ nào lấy đó làm sang trở về

Song Hạnh