Phạm Biển Thước : NHỚ THƯƠNG PHẠM HƯƠNG TÍCH

NHỚ THƯƠNG PHẠM HƯƠNG TÍCH

 

Ngẫm cảnh tang điền biến đổi thay

Nay còn mai mất vượt tầm tay

Trớ trêu Con Tạo xoay vần khác

Thương khóc đau buồn đến cỏ cây

 

Phạm Biển Thước

28.12.2007

 

 

 

 

 

 

GỬI CHÁU KIM DUNG

 

Chú biết nói gì với cháu đây

Dung ơi, mắt chú đã vơi đầy

Lau đi, thấm lại còn chưa hết

Nước mắt tuôn tràn ướt cả tay

 

Anh Tích chú thương rõ thật nhiều

Con người gương mẫu có bao nhiêu

Đường đời gặp khó không than vãn

Chấp nhận can trường khổ cũng vui

 

Người chồng hiền đức cháu kề vai

Sống trọn cuộc đời hạnh phúc thay

Nay có vội vàng đi bước trước

Dọn đường cháu thoát cảnh lưu đầy 

 

Đàn con thiếu bố thiếu tình thương

Vượt cõi trần gian vạn dặm trường

Tuy đã trưởng thành nhưng vẫn thiếu

Tìm đâu cho thấy bóng nghiêm đường

 

Nay cháu thay chồng làm phụ thân

Dạy con cho biết nghĩa nhân quần

Yêu người mến Chúa an vui sống

Chữ nhẫn, tâm hòa, với chữ nhân

 

Cháu hãy bình tâm bớt khổ đau

Cầu cho chồng cháu sớm về mau

An vui lạc cảnh trên Thiên Quốc

Hưởng phúc trường sinh tại cõi sau.

 

Phạm Biển Thước

28.12.2007

 




Trúc Lang : Người

NGƯỜI

Viết để nhớ hương hồn Em Vương Kim Lan, Cô giáo  bị CS hạ sát

Tết 52 tại Hội An . TL

 

Người lại về trong chiếc lá mưa ngâu,

Sao không hỏi ? Có một lời hối tiếc !

Hay chẳng biết tình không hay nói hết ?

Xóa dấu chân kinh động đất trời cao !

 

Ta nhìn người tầm với bắt chiêm bao ?

Lòng chẳng nói tay muốn ôm trái đất,

Sao không nhớ ? Không thương ? Người nói thât !

Trong tiếng than có hoang dại côn trùng. ?

 

Tóc người buông từ một thuở Mê Cung,

Bước câm lặng như mang xiềng xích nhớ…

Dáng siêu thoát từ bi theo gió vỡ :

Đường mây bay nhiên tượng bụi mù sương.

 

Chữ say người thần trí lạc vô thường,

Thơ Ta viết mơ như trời xé lụa ?

Có phải thật ? Âm dương người mở cửa !

Cõi ta bà có sửng sốt trong kinh ?

 

Ngón hao gầy vóc người ốm tâm linh,

Nơi Địa Tạng Ta nghe người  xuống tóc ?

Mà chẳng biết tường rêu hương khói mọc !

Sách vô vi thiền viện mấy nghìn pho ?

 

Người lại về đườg phố thị mưa to,

Mắt ướt hết một trời Ta lõa thể ?

Giữa diễm lệ người bay từng giọt lệ,

Gói xác Ta đắp hồn áo quan người.

 

TRÚC LANG OKC

Hạ Canh Dần 2010

 


TÌNH YÊU THỨC DẬY

Anh sẽ bảo tình yêu kia thức dậy ?

Nói cùng Em mặt trời đỏ trên môi !

Cho Anh yêu say dậy nắng lên đồi,,

Trái tim nhỏ đôi mắt huyền chín góc ,

Trong tiếng gió có con chim biết đọc,

Biết há mồm hót giọt nắng trong mơ ?

Biết làm tình ru ngáy ngủ bâng quơ ,

Như muốn nói âm thanh vào tượng đá ..

Em có bảo tình Anh như cỏ lá ?

Dại vô cùng trong biển nắng bay nhanh !

Và rừng hoang là tự điển màu xanh ?

Cây vũ trụ mọc lên từng nhánh mắt !

Rồi những buổi Anh ngồi nghe gió Bấc ?

Cứ rú lên trong da thịt phù du !

Mắt ngời xanh theo chiếc lá mùa thu,

Ôi ! Vẻ đẹp sắp tuôn thành đũa lệ..

Rồi giọt nắng gắp thành thơ lõa thể,

Nuốt si tình khiến Anh lạc hoang sơ!

Tình yêu ơi ! Hãy thức dậy cho mơ ?

Cho Em trẻ một ngàn năm thế kỷ.

Cho triết lý tuôn trào Chân Thiện Mỹ,

Để nhìn Em trong suối tóc thần bay !…

Ngớp vô song miệng lưỡi đến cuồng say,

Từ một thuở cánh chuồn chuồn cánh bướm.

TRÚC LANG OKC

Hạ Canh Dần 2010



 



LỜI THƠ YÊU

 

Yêu đi Em !  Cho thế giới làm tình ?

Cho Anh viết vần thơ say thứ nhất !

Câu tình tự vốn là lời nói thật,

Từ con tim tuổi trẻ thuở còn xanh.

 

Con chim non đang hót vội trên cành ?

Bay bỏ lại nhánh Xuân phơi dưới lá,

Anh đã thấy hồn Em bay bướm lạ ?

Mười hai con mắt biển vẫy nghìn tay..

 

Say mê nào ? Sần sượng đến không hay !

Ngớp vô tận lời thơ yêu gió lộng,

Chảy sửng sốt xa hoa càng biến động ?

Hớp vào mơ  như xé toạc bao la !

 

Yêu đi Em ! Cho ngất ngửa làn da ?

Cho xác thịt tê mê chờm dậy bóng,

Tương tư ứ dáng buông tuồng vóc đọng,

Tình của sao, thơ của nguyệt bay cao !

 

Biết gì không ? Thanh sắc lút dường nào !

Ôi !  Vẻ đẹp từ nơi Em đã toát ?

Từ ngực trắng xiêm y vừa lộ thoát,

Thuở cơ hồ chết điếng ọc tinh hoa.

 

Anh đi tìm vũ trụ với cao xa ?

Tiếng Em gọi ngàn năm thần phách ngã,

Trong cỏ lá hình Em  màu tượng đá,

Lời thơ yêu chưa gò lại giai âm !!!

 

TRÚC LANG OKC

Hạ Canh Dần 2010

CHỚ CÓ ĐỂ TA SAY

 

Thế gian ơi ! Chớ có để Ta say ?

Để Em chết trần truồng trong diễm lệ !

Xác lõa thề âm thanh nào mọc rễ ?

Sắc phù du ngạo nghễ vốn đi hoang !

 

Rồi Ta say cùng một lũ hoang đàng,

Bước kinh dị lệch bàn chân xóa nát,

Rừng hoang phế vang lên ngàn biển cát

Có phải Em ? Từ Thiên Cổ vần thơ !

 

Nhớ vành khuyên tổ mặt nước vu vơ,

Ta miệt thị lũ người kia bỏ ngõ,

Em chạy đến tìm Ai ? Ngoài cõi gió !

Rêu rong về  lửa oan khốc lăn vòng..

 

Dù Ta là con đốm lạc đi rong ?

Say trên dốc ngàn năm hòn đá vỡ !

Chân dung tạc hình Em ngoài mốc rợ,

Núi rừng ơi ? Chớ có để Ta say !

 

Bởi Em là trời gió nổi mây bay ?

Trong ánh mắt hồn Ta chưa khép vội

Rừng hư ảo lỡ đêm tàn, núi tối ?

Giấc hoang đường Em dỗ ngọt trong thơ !

 

Và Em ơi ! Hãy mặc áo vu vơ ?

Chút lõa thể xé rào đâu phá lệ !

Ta vốn gã say sưa quên Thượng Đế ?

Chết bên Em chớ có để Ta say !!!

 

TRÚC LANG OKC

Cuối Ha Canh Dần 2019

 




Lê Thương :NHỮNG VẦN THƠ CHUI

NHỮNG VẦN THƠ CHUI

Dân Việt Nam ta vốn có hồn thơ lai láng nên ngoài những mẩu chuyện châm biếm đả phá chế độ cộng sản, họ còn sáng tác rất nhiều vần thơ và ca dao nói lên những hoàn cảnh sinh hoạt bi ai cũng như tâm tư uất hận của người dân dưới chế độ bạo tàn. Dĩ nhiên những vần thơ “quốc cấm” này đều khuyết danh, chỉ được lén lút học thuộc lòng rồi thì thầm rỉ tai cho nhau nghe nên được gọi là “thơ chui”.

CHẠY! CHẠY!

Tự do, độc lập nhất trên đời,
Thiên hạ sao mà chạy chết thôi!
Mới thấy bóng cờ sờn tóc gáy,
Vừa nhìn ảnh bác toát mồ hôi.

Mười thương có một bác Hồ,
Làm cho điêu đứng cơ đồ Việt Nam!

Ăn đói vác nặng, lưng còng mắt hoa.
Một người làm việc bằng ba,
Để cho lãnh đạo xây nhà, xây lăng.
Mọi người thi đua thật hăng,
Để cho lãnh đạo ăn nằm thảnh thơi.
Công nhân vợ ốm, con côi,
Lãnh đạo nhà đẹp, xe hơi bề bề.

Phu nhân buôn lậu dài dài,
Cô chiêu, cậu ấm nước ngoài yên thân.
Chung quy chỉ chết thằng dân!

Hay:

Hay:

Hoặc:

 




AI ĐEM THUYỀN TÌNH (Phạm THị Thu Hiền)

AI ĐEM THUYỀN TÌNH
Truyện ngắn: Phạm thị Thu Hiền
 
         Ngồi bên tôi chị nức nở khóc, nước mắt chan hoà nhoè nhoẹt cả mảng màu son phấn, bộ ngực tròn trịa cứ phập phồng nhô lên hạ xuống trong một sự xúc động và kiềm chế lớn. Có ai ngờ tai hoạ lại giáng xuống đầu chị nhanh đến thế
           Gần 20 năm trước chị theo bạn bè rủ rê lôi kéo tìm đường vượt biên: ”Hoặc là con nuôi cá, hoặc là con nuôi má hoặc là má nuôi con”. Cuộc vượt biên không thành chị bị hất trở lại bờ và anh chính là người đã cứu chị ra khỏi cái chết đã cận kề trước mặt
           Tỉnh dây trên giường bệnh, chị đau xót nhận ra sự trớ trêu của số phận mình.Tiền mất, hận mang, người tình rời bến, trong khi sức khoẻ suy sụp, tâm trí hoang mang, không khác gì cảnh cá nằm trên thớt
           Giữa bệnh viện thành phố, không bạn bè, người thân, chỉ có anh là chỗ dựa duy nhất, thỉnh thoảng người mẹ già nua từ quê cất công lên thăm, qươ từ quả trứng, con gà đến chổi cùn, rế rách qươ đi để có tiền cho chị bồi dưỡng, còn lại mọi khoản viện phí thuốc thang, anh tình nguyện trả giúp. Hai người gắn bó với nhau từ ngày đó , dù anh hơn chị hẳn một giáp và dáng vẻ có phần đậm đà cục mịch
           Chiếc hon đa 50 là tài sản duy nhất anh còn sau những ngày dài chăm sóc chị, lại trở thành vật hiến tế cho đám cưới. Số tiền mừng tổng cộng được ba chỉ anh đưa cả cho chị làm vốn buôn bán, phần anh sống cầm chừng bằng số lương kỹ sư kinh tế thất nghiệp. Ba đứa con lần lượt ra đời trong sự chờ đợi mong ngóng của hai vợ chồng trẻ, chị tảo tần thức khuya dạy sớm buôn đầu chợ, bán cuối chợ xoay đủ mặt hàng, còn anh ngoài việc trông nom con cái lại tranh thủ phụ giúp chị trong việc mua bán, cất hàng sớm tối..Cuộc sống dần dần qua được khúc nghèo nàn cực nhọc . Khi cơ chế mới mở ra, tấm bằng kỹ sư kinh tế mà anh tưởng chỉ còn nước xếp xó bỗng được trọng dụng. Anh được cất nhắc lên trưởng phòng, rồi viện phó, viện trưởng. Từ cấp viện, cơ quan anh nâng cấp lên thành công ty cho phù hợp với cơ chế mới, từ đó bắt đầu mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngoài. Sau mỗi chuyến đi dài ngày của anh, đồ đạc của nả ùa tràn vào mọi ngõ ngách trong nhà. Chị cũng bỏ nghề buôn thúng bán mẹt để ở nhà nội trợ, trông nom con cái cho anh toàn tâm toàn ý với công việc. Trong tay sẵn có đồng tiền, ngoài việc xây mới toàn bộ ngôi nhà tập thể đang ở thành toà biệt thự ba tầng lầu, chị còn đầu tư vào việc mua nhà, mua đất, để rồi khi cơn sốt đất nổ ra , chị bỗng trở thành người giàu nứt đố đổ vách,trong tay có tới cả ngàn cây vàng
           Một lần anh trở về dắt theo một cậu bạn học cùng đại học, kém anh tới mười tuổi, bộ dạng không được nghiêm chỉnh lắm, chị thắc mắc, liền được anh trả lời:
           -Cậu này cùng học một lớp với tôi, mình nhiều tuổi lại là bộ đội gửi học nên được bầu là lớp trưởng, cậu ta dân phổ thông sang, học giỏi lắm, giữ chức lớp phó học tập kiêm cán sự ngoại ngữ đấy, chẳng hiểu số phận đưa đẩy thế nào đang làm ăn ”ngon lành” ở xí nghiệp lại bị ”phốt”, vừa mất việc, vừa phải bán nhà trả nợ đậy.. Vài năm nay sống bằng nghề chở xe ôm, vợ con thấy nheo nhóc quá không chịu nổi cũng bỏ mặc , tha nhau về bên ngoại ở..Giờ, ngày chạy ”xe ôm”, đêm về thuê phòng nghỉ trọ cùng đám sinh viên, mỗi tháng góp vài trăm ngàn đồng ti?n trọ qua đêm…Chiều nay cậu lái xe về quê giỗ mẹ, anh định đi ta xi thì cậu này rồ chiếc xe ”còi” tới năn nỉ, mời chào rối rít, tưởng ai, hoá ra người quen, tay bắt mà mặt cứ buồn rười rượi, càng nghe càng cám cảnh, anh rủ về nhà mình ở cùng cho vui, đằng nào nhà mình cũng còn dăm phòng bỏ trống, lại trả được cái ơn xưa cũ.Thành thật, nếu không nhờ cậu ấy thức khuya, dạy sớm, chỉ bảo, tận tình cho hàng năm trời, thì trượt dài cả ngoại ngữ với toán ngay từ năm thứ nhất rồi, làm gì có nổi tấm bằng đại học mà thành tổng giám đốc như bây giờ?
 Nể quyết định của chồng, chị bằng lòng chấp thuận để anh ta ở m?t phòng bỏ không tận tầng 4. Thời gian đầu ”cậu bạn” cứ một điều anh, hai điều chị, việc gì cũng răm rắp nghe theo…Chuyện nhà cửa, dù công to, việc bé gì cũng lăn xả vào giúp, nh?ng lúc rỗi rãi lại bỏ công, bỏ của vào việc chăm sóc vườn hoa, cây cảnh. Không hiểu sao cậu ta lại sùng kính phong cách c?a ng??i Nh?t trong vi?c chăm sóc cây c?nh ??n thế. Bao nhiêu, chậu, bình, bồn ,lọ sành sứ, gốm, ??t nung, nhôm, thuỷ tinh, gỗ ???c cậu ta thu mua, nhặt nhạnh, khuân về, cọ rửa, tiả tót, tạo dựng môi trường, cảnh quan vô cùng diệu nghệ, bắt mắt, không khác gì m?t cu?c trưng bày nghệ thuật tạo hình. Tuy là cái tròn, cái vuông, cái bát giác, cái cao, cái thấp, cái lưng lửng, cái thon vót, cái bung toả, nh?ng dưới bàn tay, đôi mắt của người yêu nghệ thuật, như một thợ làm vườn chính hiệu, cậu ta sắp xếp xen kẽ nhau, tạo khoảng không , kẽ hở hợp lý mà không hề gây nhàm chán… Th?i gian ??u, rỗi vi?c, nể lời, chị lên ng?i xem cậu bạn giảng gi?i về đặc tính sinh học c?a t?ng loài hoa, từ loài chịu hạn giỏi như hoa đá, xương rồng, ngà voi, ??n loài đòi n??c như ngọc châm, phong lan v.v Tất cả đều phô diễn vẻ đẹp mơn mởn đương thì, hoặc ẩn náu một chiều sâu triết học , ??c bi?t là khóm phong lan , bề ngoài xù xì mộc mạc mà khi nở hoa thì bung ra hết tầm , tận lực ,vô cùng kỳ ảo, thanh thoát… Mỗi cành cây, tán lá , theo lời kể của "cậu em" như một tứ thơ phiêu diêu, ẩn hiện, lúc xào xạc , to nhỏ, lúc câm nín , hoang vu, vừa hồn nhiên, vừa ẩn chứa… như tích tụ trong nó cả nghìn n?m thiên nhiên hoang dã, lại như mời gọi con người đến để lắng lòng, tận hưởng, giúp người ta yên tĩnh, thanh thoát, gột rửa bao nhiêu bụi bẩn, xô bồ của cuộc đời… Chiều tối , xong việc lại đón cháu út đi học, rồi hễ chị có nhu cầu lại chở chị đi chợ gần, chợ xa mua đồ, thăm bạn.. Đầy ân cần, chu đáo, từ ánh mắt, cử chỉ, lời nói, vô cùng lễ phép, thân th??ng. Từ chỗ ái ngại ,thương hại, chị bắt đầu đem lòng cảm mến lúc nào không hay. Của đáng tội, từ ngày bỏ chạy xe ôm, thoát cảnh lang thang đầu đường, xó chợ, được ăn đủ, ngủ đẫy nơi chăn ấm, nệm êm, cậu em đã biến đổi hoàn toàn, từ anh chàng lý trưởng lẻo khẻo trói gà không chặt, da b?t nắng đen nhẻm, thành chàng công tử hào hoa phong nhã, béo trắng lúc nào không hay
           Ma sui quỷ khiến gì, mỗi đợt chồng chị đi công tác vắng là mỗi đợt họ xích lại gần nhau hơn, cái góc sân nơi đặt vườn hoa cây cảnh là nơi thư giãn của hai người. Tình yêu, sự đam mê tưởng ngủ thiếp trong lòng chị bao năm nay , giờ trước sự hiện diện của ”cậu em” quý phái (hơn chị hai tuổi) bỗng bàng hoàng tỉnh giấc, chị ngơ ngác nhìn vào cái ”tổ ấm” bấy lâu nay trống hơ trống hoác của mình. Anh mải chạy theo công việc, những đối tác lớn nhỏ, những vụ chuyển nhượng hàng ngàn USD đã sớm ”lão hoá” ở độ tuổi 50. Trừ những lúc đi nước ngoài, còn khi ở nhà thường xuyên lẩn tránh bổn phận làm chồng, coi chuyện chăn gối là chuyện lửa rơm, cuồng dại của một thời trẻ dại…
            Điều gì phải đến đã đến. 17 năm trước chị ngã vào vòng tay anh vì mang nặng lòng biết ơn, quý trọng, thì giờ đây chị hoàn toàn gục ngã trước ”cậu em” vì tình yêu. Chị tình nguyện thay chồng chăm sóc ”em” mỗi ngày một thêm chu đáo.Thời kỳ đầu, cậu ta chỉ dùng ”hàng thùng”, ”si đa” hoặc đồ thừa thải của anh cũng đã oách chán. Nay anh có thứ gì, em có thứ đó, khoản mời mọc, tiếp đãi trong bữa ăn có phần còn tươi tỉnh , rôm rả hơn. Tận tay chị rót rượu tây, đồ nhắm cho em ăn, uống, còn kèm cả cuối mắt, đầu mày, mời mọc, đon đả nữa
           Từ chỗ không chút nghi ngờ, anh bỗng nhận ra những dấu hiệu bất an trong tổ ấm của mình ..thế là sóng to, gió lớn nổi ra, không khí trong nhà lúc nào cũng ầm ĩ như sắp có bão
           Nhận ra sự thừa thãi của mình trong nhà, cậu em đành phải khăn gói ra đi. Mối hiểm hoạ vừa kịp ngóc đầu dậy tưởng như được loại trừ triệt để .Ai ngờ anh tiếp tục rong ruổi theo những chuyến đi xa cùng bồ nhí, thư ký trẻ đẹp, còn chị luôn “tình cờ” gặp lại cậu em ở ngã tư đầu phố..để rồi khi anh từ Nhật, từ Pháp, từ Mỹ trở về thì mọi sự đã rõ mười mươi… "cậu em" đêm đêm vẫn bỏ lại căn phòng lạnh lẽo nơi gác 4 để chui vào chăn ngủ với vợ của bạn thân – cũng là ân nhân của mình 
           Cả hai quyết định ra toà, cậu út ở lại với anh, hai cô gái lớn chia theo mẹ. Đồ đạc kèm theo gồm nhà cửa, vàng bạc, xe cộ, đủ để cho ba mẹ con sống dư dả trọn đời
           ”Có mới nới cũ”, chị toàn tâm, toàn ý vun vén cho cái tổ ấm vừa hồi sinh của mình, nào mua sắm đồ độc, đồ sịn, đồ ngoại, nào may sắm quần áo, trang điểm, nâng cấp cơ thể bằng cách chỉnh hình, giải phẫu, hút mỡ bụng, đốt mỡ hai bờ trên và dưới mi mắt, nâng mũi, nâng ngực v.v Vậy mà cuộc tình nồng nàn chỉ vẻn vẹn chưa đầy năm trời bỗng âm thầm tắt dụi. "Cậu em" luôn đi sớm, về khuya, tiêu tiền như mất cắp, thỉnh thoảng còn bỏ đi cả tuần không rõ lý do. Khi về người phờ phạc, héo rũ như cái xác không hồn, như quả chanh bị vắt kiệt nước. Chị tra hỏi, vặn vẹo bao lần chỉ được trả lời quấy quá hoặc ừ hữ cho qua rồi lại vùi đầu vào ngủ mê mệt..Cuối cùng cái kim trong bọc cũng lòi ra. Ngồi xe ta xi theo “thám tử tư” đến tận tổ con chuồn chuồn, chị ngã người ra khi chứng kiến cảnh ông chồng mới của mình đang vui vẻ hạnh phúc trong căn nhà gọn gàng, sạch sẽ bên vợ đẹp, con khôn
           Trở về nhà, đau xót và căm phẫn, chị bùng lên như một quả cầu lửa chứa đầy năng lượng, quyết thiêu tất cả anh ta và vợ con thành tro…Đáp lại, anh quỳ xuống van nài:
            -Mình đừng giận, đừng hiểu lầm tôi, chỉ vì quá nhiều ham hố trong khi sức hèn, tài mọn, tôi mới đẩy vợ con vào ngõ cụt, phải bán nhà, trả nợ để thoát cảnh gông cùm, tù tội…Giờ mình thương tôi , trả tôi về chốn cũ ..dù sao giữa chúng tôi mới chỉ là …giận hờn, ly thân, tôi không thể bỏ vợ con được, ngược lại, cô ấy cũng thế…Thiếu tôi, cô ấy không sống nổi …
           Thì ra số tiền, vàng, USD, trị giá gần cả tỉ bạc chị để trong tủ gần năm trời nay, tưởng bốc bay theo những cuộc truy hoan, ăn nhậu, cờ bạc, chơi chứng khoán của "cậu em" lại hiện hình thành căn hộ ba phòng khép kín trong khu tập thể và hai chiếc xe máy loại sang cho vợ và hai đứa con anh ta..
           Càng hẫng hụt, chua xót, chị càng nhận ra sự chông chênh dưới những bước chân mình. "Cậu em" đã quay về với vợ con, gây dựng và bù đắp cho tổ ấm của mình, cho dù có muốn " chung thân" rút lõi chị suốt quãng đời còn lại, thì cuộc hôn nhân này chỉ còn lại cái vỏ thôi…vậy mà… cả năm trời qua, quá mờ mắt, áo tưởng về hạnh phúc, chị đã cố dứt tung mọi ràng buộc với chồng để tìm lại hạnh phúc đích thực của mình, khi tuổi đời mới đang dần xế bóng, chị vừa chớm 40, còn "cậu em" 42…và đã tưởng tìm được, sẵn sàng trả mọi giá để tìm, nào ngờ…
Đổ ập xuống giường, câu thơ của nhà thơ nào đó cứ vang vọng trong óc chị:
 
 
Ai đem thuyền tình
Buộc vào… bến lở
Mình tôi lang thang
Gom từng mảnh vỡ
 
 Tháo cả mái trời
 Che không đủ ấm
 Đội ngàn cơn mưa
 Không nhoà kỷ niệm
 
 Như cây tìm lá
 Như cá tìm vây
 Anh gọi khản lời
 Chiều dang dở gió
 
 Mở tr?ng ra tìm
 Trăng còn in búng
 Mở cỏ ra xem
 Cỏ còn hơi ấm
 
Hoa vẫn ngày nào
Không an ủi được
Tình bao nhiêu bậc
Em còn nhớ chăng?*
 
Hà Nôi 7-3-2009
PTTH
————————–
 *Thơ Hữu Thỉnh



Trần Mộng Tú : Trùng Dương Ơi !

 Trần Mộng Tú

                                                    TRÙNG DƯƠNG ƠI!

 

                                                   “Gửi Thái, Thiết, Vân, Frank và mùa Hè ở Bandon.”

 

 

  thở nhẹ nhàng, biển mở mắt ra, biển nhắm mắt lại, biển

 an hòa. Sóng xô như gió thổi nhẹ trên cánh đồng mạ

xanh, sóng mềm như mi mắt người tình, bọt sóng như

 một chuỗi hạt trai dài vô tận.

Tám bàn chân từ xa rủ nhau đến, gọi hai bàn chân bạn.

 Mười bàn chân cùng chạy về phía biển.

 Những bàn chân đi bên cạnh nhau, lúc dang xa, rời rạc,

 riêng tư, lúc chập vào nhau ríu rít. Ngửa mặt, nhìn trời,

mây trắng nõn từng cụm trên nền xanh biếc. Mây uốn

 lượn, thay đổi hình dáng, vẽ bức tranh vân cẩu. Cúi xuống,

 nhìn sóng nước. Chao ơi là đẹp! Biển êm như tấm chăn

 vừa tung ra; sóng nhẹ, đánh lên bãi như sữa đổ; cát mịn như

da thịt thanh xuân. Có tiếng ai hỏi:

 

   –   Muốn đến Hoàng Sa đi lối nào?

 

   –   Cứ đi thẳng hướng tây.

 

  –   Nghĩa là cứ dẫm lên sóng nước, cứ băng qua mầu xanh mênh mông này?

 

  –    Đúng.

 

–    Không phải đâu, đừng nghe, cứ rẽ về tay phải, hướng bắc.

 

Một giọng khác cất lên:

 

–          Hay mình rẽ trái, về hướng Nam đúng hơn.

 

–          Tốt hơn về nhà, vào Map Quest. Điểm khởi hành là Bandon, Oregon- Mỹ, điểm đến là Hoàng Sa, Việt Nam.

 

 Ngập ngừng một chút, tiếng ai chen vào:

 

–          Có chắc không, coi chừng gây lúng túng cho Map Quest, Hòang Sa, bây giờ thuộc Trung Quốc chứ.

 

         Im lặng, chỉ có tiếng sóng đánh nhẹ lên những bàn chân. Một tiếng nói thật khẽ lại cất lên:

–          Nhưng vào Map Quest rồi, biết đường rồi, có về tìm lại không?

 

Không thấy ai trả lời. Những bàn chân cứ bước song song với biển và tiếng trả lời cứ giữ trong lòng.

 

 

  Cứ thế mà đi trên bãi, những dấu chân mờ dần trong cát theo buổi chiều đang xuống.

 

Những bàn chân của kẻ xa xứ, đang in dấu trên cát của bên này bờ đại dương, trong cái an vui bè bạn, vẫn có

 cái ngậm ngùi riêng mang. Mỗi hồn vọng ra biển, về phía bên kia bờ, một cách khác nhau.

 

 Đêm về, biển gọi bằng những tiếng còi hu…hu…hu…từ Light House (Nhà hải đăng) suốt đêm. Nằm nghiêng

nghe biển gọi, ôm sóng đầy lòng. Sóng không hiền nên mi mắt không khép lại trong đêm. Trở dậy uống ly nước

 lọc. Chao ôi! Làm sao uống được trùng dương vào lòng.

Ngôi nhà nằm song song với biển, đêm tĩnh lặng, không trăng, dán mắt vào khung kính cũng chỉ nhìn thấy những

mái nhà như những vòm nấm khổng lồ, trải dài phía biển. Đêm như những miếng thạch đen, cắt vụn ra từng miếng.

 

Biển sáng nay thức dậy hung hãn, sóng đổ những tiếng gầm nghe xa như tiếng sấm. Rủ nhau xuống bãi xem mặt

 trời lên. Vừa đi vừa xăm xoi nhìn dấu vết tinh khôi đầu ngày mới in xuống, nào hay, đã có những dấu thức dậy

 sớm hơn mình: Dấu bàn chân trần đủ năm ngón và gót lõm xuống cát, bàn chân là dấu vết bước vào đời nguyên

 thủy mong manh đầu tiên của con người; dấu gót giầy thể thao khỏe mạnh vẽ những vạch uốn lượn, vững chắc;

 dấu chân ngựa tròn cái vết móng sắt in sâu một cách tự tin; dấu lượn vòng của lốp xe đạp, như một trò chơi trên

cát; dấu chân chó to, nhỏ, gần gũi, thân mật; nhưng ngoạn mục nhất, nhiều nhất là dấu chân của bầy chim biển,

chúng thanh mảnh, như những cái tăm. Mới nhìn xuống, tưởng như ai tinh nghịch vừa vứt tung ra một nắm tăm

tre trên bãi. Nhìn một lúc, thấy cũng giống như vết cào xước trên lưng cát. Dấu chân chim nhiều lắm. Sóng chưa

 kịp kéo đi hết, đàn chim lại sà xuống in những dấu chân mới. Biển là thế giới của hải âu. Chúng sống và chết với

sóng, với cát. Suốt dọc dài của biển, thỉnh thoảng lại gặp một xác hải âu, chúng chết thế nào, cách nào, ai biết. Chỉ

 thấy cái chết  của chúng thảm quá! Sóng đánh xác vào tận trong bãi, đã bốc mùi. Cánh rời ra từng chiếc, rải rác

 trên bãi. Nhìn xác chúng, khó hình dung được khi còn sống, những cánh chim bay là là trên mặt nước xanh, nô

đùa với sóng là đề tài cho bao nhiêu bài thơ, bản nhạc, bức hình, tranh vẽ. Những cánh chim đó còn bay vào trong

kỷ niệm của những mối tình.

Rồi những con dã tràng nhỏ xíu, chạy thật nhanh, trốn thật nhanh, khi ẩn, khi hiện, không làm sao bắt kịp chúng.

 Chúng xây lâu đài trên cát như loài người xây mộng  lớn, mộng con trong đời. Cũng mong manh, cũng xụp lở,

cũng tiếp tục xây lại từ đầu.

 Trên bãi còn những thân cây nằm ngang dọc, chúng gẫy đổ ở rừng nào, ai biết được! Chỉ biết chúng trôi dạt ra biển,

sóng kéo vào bờ. Chúng mất gần như hết lớp áo mặc ngoài, chúng bị sóng vùi dập, sóng soi mòn, chúng không còn

 giữ được cái vẻ nguyên thủy của cây nữa. Đôi khi trông chúng giống như một bông hoa biển khổng lồ, đôi khi như

vòng tay âu yếm của người mẹ, hay cái đầu ngơ ngác, thất thần của một con vật không rõ hình, ở quá lâu trong

nước biển.

 

Biển hôm nay không hiền nữa, biển đang nổi cơn giận dữ. Vừa đi song song với biển vừa nghe như một nỗi đe

dọa phủ chụp xuống mình. Nhìn con sóng dâng cao, đứng thẳng, rồi đổ xuống một tiếng rầm, những bàn chân

chùn bước lại. Đứng lui vào trong, tránh sóng tràn lên, để rồi chạy không kịp, vẫn ướt gần qua đầu gối. Nhìn ra

 ngoài khơi, không thấy tỏ đường chân trời. Biển khuất lấp một phần, bởi sương phủ kín từ xa, kéo thẳng một

hàng song song với mặt biển; sóng dâng cao, tới tấp, trắng xóa đánh vào bờ, hóa thành một bức tranh với mầu

 xanh của nước ở giữa, mầu trắng của sương và của sóng cùng ôm hai bên.

 

 Ai đó lại chỉ tay ra biển, lên tiếng:

 

     –  Tưởng tượng đi, tưởng tượng một chiếc thuyền mong manh, với hai, ba chục người. Già có, trẻ con có,

 đang kêu khóc, vật vã trên đó. Làm sao mà không chìm, làm sao mà bơi qua đầu ngọn sóng, để sống còn.

 

  –  Có đấy, có người Trời cứu, sống còn. Nhưng họ nói, đến chết không bao giờ dám nhìn biển nữa.

 

Câu thơ của Vũ Hoàng Chương được một người đọc lên:

 

        Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

        Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh

 

 Rồi một người khác tiếp theo:

 

        Biển vô tận xá gì phương hướng nữa

        Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh.

 

  Lạ thật đấy! Thi sĩ có phải tiên tri đâu mà làm câu thơ cho vận vào cả một dân tộc như vậy.

 

–          Dân tộc mình bị vận từ thời trứng nước. Khi không cha mẹ chia tay, người đem con lên núi, người mang

 con xuống biển. Rồi bặt tăm, chẳng quay đầu nhìn lại nhau. Cha mẹ không nhìn nhau, nên con cháu, tàn

sát nhau không thấy động tâm, không thấy rung lòng.

 

Im lặng, chỉ có tiếng sóng trả lời. Những bàn chân vẫn bước song song với biển.

 

Những ngày ở biển, có hôm sóng hiền hòa, có hôm sóng giận giữ. Nhưng bầu trời lúc nào cũng trong xanh và

 mây trắng từng mảng lững thững trôi, những đám mây vô xứ.

Những bàn chân vẫn sáng, chiều, rủ nhau ra bãi. Bước song song với biển, nghe sóng đánh trong lòng. Họ vừa đi

 bên nhau, vừa nói chuyện văn chương, chuyện quê nhà, quê người, chuyện sông, chuyện biển.

 Vừa đi vừa ngửa mặt nhìn trời xanh, mây trắng, rồi lại nhìn đường chân trời giáp với biển, tưởng tượng quê

 hương mình ngay đó, ngay cái ngấn mênh mông trời nước đó.

 

    Chia tay, người ở lại với biển. Sáng, chiều nghe sóng động một mình, đuổi theo mây trắng trên trời một mình.

 

 Người về hồ, lặng đứng nhìn những chiếc thuyền nhỏ đang lũng thững dăng buồm, trôi hiền hòa trong dòng nước

 êm ả không một tiếng động. Câu hát nào từ một cõi xa xăm bỗng vọng về:

 

“ Trùng dương ơi, có xót xa cũng hoài mà thôi!” (*)

 

 

 tmt

 Tháng 9/09

 

(*) Ngày Đó Chúng Mình- Phạm Duy




Nguyễn Thị Thanh Dương : LÁ THƯ ĐẾN TỪ BANGKOK.

 LÁ THƯ ĐẾN TỪ BANGKOK.

 
                                              Nguyễn Thị Thanh Dương.
 
Tiếng nói bên kia đầu dây điện thoại xa lạ, làm cho tôi ngỡ ngàng:
–         Xin lỗi, chị là ai nhỉ?
–         Chị Nhuận đây, Nhuận Ngã Ba Ông Tạ đây, xưa ở cùng trại tị nạn Thái Lan với em, nhớ ra chưa?
Tôi thảng thốt reo lên:
–         Trời ơi, bây giờ thì em nhận ra giọng nói Bắc Kỳ di cư 54 của chị rồi, bao nhiêu năm xa cách chứ ít gì!   
–         Chính xác là  16 năm. Thật  khủng khiếp, bước chân thời gian qúa dài.
Hai người ríu rít  kể và hỏi thăm cuộc đời nhau cũng như của những bạn bè cùng ở trại tị nạn trước kia. Tôi rời khỏi trại tị nạn Thái Lan sang Mỹ định cư ngày 8 tháng 12 năm 1993, chị Nhuận đậu thanh lọc và qua Mỹ sau tôi một năm. Người phỏng vấn chị là một anh luật sư trẻ đã  kín đáo thiết tha nhờ chị một chuyện là sang Mỹ tìm hỏi tin tức, địa chỉ của tôi để cho anh liên lạc. Anh tên Piyawat. 
Thuở đó, tôi là một cô gái xinh xắn, làm việc ở bưu điện trong trại tị nạn, và sau này tôi  làm cho văn phòng cao ủy định cư, nên có thể nói vào thời điểm đó không người tị nạn nào mà không biết mặt, biết tên tôi. Anh Piyawat  nói về tôi là chị Nhuận nhận ra ngay, chị đồng ý và hứa sẽ giúp anh với tất cả nhiệt tình, để trả ơn anh đã giúp chị đậu thanh lọc dễ dàng, là một giấc mơ vĩ đại cho những con người vượt biên cuối mùa, đang đối diện với bức tường thanh lọc khó khăn, đang sống khắc khoải từng ngày chờ đợi tin vui mong được đi định cư ở nước thứ ba.
Qua Mỹ, chị Nhuận có ý tìm tin tức của tôi nhưng không ai hay biết. Tình cờ mới đây, chị Nhuận nghe từ một người bạn và biết địa chỉ của tôi, chị liền báo tin cho Piyawat, anh rất vui mừng và sẽ gởi một lá thư cho tôi, chẳng biết để nói chuyện gì mà anh đã theo đuổi bao nhiêu năm qua.
Tôi vượt biên bằng đường bộ, cuối năm 1989, từ Việt Nam sang Campuchia và từ biên giới Campuchia đi một đoạn biển mất một ngày là sang tới biên giới Thái Lan, chỉ một đoạn  biển tưởng chừng ngắn ngủi và đơn giản thế mà cũng suýt chết thảm thương.
Người tổ chức vượt biên thuê thuyền chở chúng tôi gồm 41 người từ bờ biển Campuchia sang phía Thái Lan, nhưng họ không dám đến gần đất Thái, sợ bị bắt, chỉ đổ bộ trên một hòn đảo san hô nhỏ bé, vừa đủ cho cả đám đứng chen chúc bên nhau, cách rất xa bờ đất Thái, lúc ấy khỏang 7 giờ chiều. Họ thúc đẩy chúng tôi rời thuyền thật nhanh và vội vàng quay trở về Campuchia. Thế là họ phủi tay, xong trách nhiệm, chúng tôi phải lo liệu mà vào bờ, bằng cách nào tùy ý. Thật là hoang mang và hãi hùng, người thì khóc lóc cầu nguyện, người thì nguyền rủa bọn tổ chức vượt biên vô lương tâm. Trời càng tối thuỷ triều càng lên cao, nước phủ ngập đảo, rồi lên dần tới đầu gối chúng tôi, cứ cái đà thủy triều lên này chúng tôi sẽ bị chết chìm tập thể ở đây mà không ai hay biết. Hai thanh niên tình nguyện lội thử xuống nước để về phía bờ biển Thái mờ xa đằng kia, nhưng đi được vài bước thì hụt hẫng vì biển sâu, không thể đi được. Đúng lúc ấy, tôi mới nhớ ra mình có mang theo một cái phao, thế là mấy thanh niên to, khỏe, hì hục thổi phao cho căng phồng lên và  một anh tình nguyện ôm phao bơi vào bờ cầu cứu.
Một giờ sau đã có hai chiếc thuyền tam bản của người Thái ra đảo san hô, nhưng họ đòi ai có tiền, vàng thì mới được lên thuyền. Thế là ai có vàng bạc dấu kỹ cũng mau chóng mang ra để đổi lấy sự sống. Thuyền của họ đưa chúng tôi cặp sát vào bờ, chúng tôi bước qua bãi biển sình lầy thật khó khăn, vất vả, có người lên tới bờ rồi là nằm vật xuống ngất xỉu, nhưng cuối cùng mọi người đều an toàn .
Hôm sau cảnh sát Thái Lan đưa về tạm cư trong khu gia binh của họ trước khi giao nộp chúng tôi cho cao ủy tị nạn.
Trại gia binh cảnh sát nằm trên đầu con đường dốc, làng Tha Luông, thị trấn Chad thuộc vùng biển nên khí hậu mát mẻ, ấm áp. Sau những ngày ngủ bờ bụi tại Campuchia, sau chuyến vượt biển đối diện với tử thần, những ngày sống ở đây đã cho tôi một cảm gíac an lành dù tôi biết còn bao nhiêu chông gai, khó khăn phía trước vì đã nghe tin thời gian này Thái Lan sẽ thanh lọc những thuyền nhân trước khi cho phép gặp các nước thứ ba đi định cư.
Chúng tôi không ai còn một đồng xu dính túi. Hàng ngày tôi và một hai người bạn  thường lân la làm quen với một vợ lính cảnh sát, nơi ngôi nhà  chúng tôi ngủ nhờ mái hiên sau, tôi sẵn sàng làm giúp việc nhà cho chị ta như giặt giũ quần áo, để được chị  thương tình cho mấy gói mì ăn tạm những lúc đói lòng. Giữa cảnh đời bấp bênh, tôi thèm thuồng nhìn cảnh sống đời thường êm đềm của chị, có một mái nhà, có đứa con nhỏ để chăm lo và có người chồng trở về nhà sau một ngày làm việc.
Mỗi sáng sớm thức dậy, tôi hay đứng trong hàng rào bên hông trại và nhìn xuống cuối con đường dốc phía dưới, thấy xa xa căn nhà bán hàng tạp hóa mà có lần tôi đã xin phép trưởng trại ra đó mua đồ bằng những đồng tiền ít ỏi của vợ anh cảnh sát trả công cho tôi, ngôi nhà chìm trong làn sương mờ, êm đềm như trong cổ tích. Tôi thấy vài phụ nữ Thái đi ngược lên đồi, chờ xe lam lên thị trấn, và những  em học sinh, nữ mặc đầm xanh, nam mặc quần xanh, áo trắng, lên đầu dốc, gần trại, đợi xe bus chở đến trường. Những hình ảnh bình thường ấy đã xâm chiếm tâm hồn tôi, nỗi nhớ quê hương, nhớ nhà và cuộc sống đã qua
Ba tuần sau chúng tôi rời thị trấn Chad , chính thức về sống ở trại tị nạn Panat Nikhom. Sống ở đây thì tôi đã hiểu sự thật phũ phàng, tất cả thuyền nhân phải qua cuộc phỏng vấn thanh lọc đầy khó khăn. Thế là mỗi người phải tìm những chứng cớ  để chứng minh đã bị chính quyền cộng sản trả thù hay vì lý do đoàn tụ gia đình, để mong đậu thanh lọc.
Tôi xuất thân là nữ sinh trung học, học giỏi nhưng không đậu đại học chỉ vì tôi chưa được kết nạp vào đoàn viên. Lý do cha tôi làm việc trong chính quyền chế độ cũ, và có hai người anh “phản động” đi vượt biên. Buồn, chán và khóc rất nhiều vì thi rớt đại học một cách bất công trong khi tôi biết chắc bài làm của tôi đều khá, nên tôi muốn đi vượt biên để tìm cuộc sống tự do dân chủ và phát huy khả năng thật sự của mình. Nhưng lý do ấy không đủ mạnh để tôi có thể vượt qua cuộc phỏng vấn, những bạn bè quanh tôi, những người anh, người chú lớn tuổi và kinh nghiệm hơn tôi, đều khuyên tôi nên khai cho mình một “hoàn cảnh” đáng thương là đi vượt biên để “đoàn tụ” với chồng, vì những lý do tình cảm vợ chồng là nhân đạo được ưu tiên hàng đầu, dễ đậu thanh lọc nhất.
Tôi liên lạc với các anh tôi bên Mỹ, họ đã gấp rút tìm cho tôi một người hùng tình nguyện giúp đỡ, đứng ra nhận là chồng tôi, và không đòi lại một điều kiện nào cả. Thế là hồi mới đến trại, tôi khai độc thân, bây giờ tôi lên gặp người có thẩm quyền để xin mẫu đơn về …khai lại đã có chồng. Những chuyện vô lý, vô duyên như thế xảy ra khá nhiều ở trại, ai không có lý do chính trị vững vàng thì cứ sáng tác ra chuyện tình dang dở để hi vọng được người phỏng vấn “xót thương”.
Ngày tôi mới về Panat Nikhom, có anh Thái đen to con đẹp trai tên Tha Nu, là nhân viên thuộc bộ nội vụ Thái trong trại, theo tôi sát nút, khi tôi được làm ở bưu điện, ngày nào anh cũng lái xe Honda qua đó tìm tôi, hôm nào không trốn kịp thì tôi đành phải mỉm cười và chào hỏi anh vài câu, hôm nào được các bạn cùng làm “báo động” khi thấy bóng dáng Tha Nu hay nghe tiếng xe gắn máy của anh từ xa, là tôi đã chui xuống gầm bàn để trốn, và ai đó đã trả lời anh là tôi không có mặt ở đây. Nhưng chính anh, chính là anh Tha Nu đã giúp tôi điền lại cái form khai đã có chồng và còn góp ý thêm điều này bớt điều kia. Làm việc trong chính quyền Thái và gần gũi với đám tị nạn hàng ngày nên  Tha Nu thừa hiểu những gì cần thiết phải khai để đạt hiệu qủa cao nhất khi đi phỏng vấn .
Năm 1991 những người tị nạn ở Thái Lan đã biểu tình phản đối phái đoàn phỏng vấn khó khăn, bất công, đánh rớt nhiều người, nên chúng tôi được chuyển lên Sekiew và những người phỏng vấn cũ được thay bằng những sinh viên luật trẻ trung hơn  đến từ Bangkok.
Ngày tiễn tôi đi Sekiew anh Tha Nu cầu chúc cho tôi đậu thanh lọc, vì những người đậu thanh lọc sẽ trở về Panat Nikhom, đợi chờ các nước phương tây phỏng vấn, và như thế anh sẽ được gặp tôi lần nữa. Tôi đã thật sự cảm động, nước mắt rưng rưng trước tấm lòng của anh đối với tôi, dù tôi vẫn không hề yêu anh.
Ở Sekiew tôi đã gặp Piyawat, người Thái bảo rằng cái tên này vừa đẹp vừa sang như con người anh. Đám phụ nữ tị nạn chúng tôi ai cũng ao ước được lọt vào bàn phỏng vấn của anh, vì người ta đồn rằng anh thương người và tử tế, không như những nhân viên Thái khác, hống hách, lạm dụng chức quyền hà hiếp thô bỉ những người Việt Nam tị nạn  như cá nằm trên thớt, họ muốn làm gì thì làm. Tôi may mắn đạt được điều ước ấy.
Anh thật xứng đáng với lời đồn, Piyawat là một người Thái trắng cao, khuôn mặt vuông, đôi mắt dài đẹp vẻ hiền lành và nụ cười dễ mến. Anh lịch sự mời tôi ngồi và rót trà cho tôi uống trong khi anh mở đống giấy tờ hồ sơ dầy cộm của tôi ra đọc, hình như anh hơi mỉm cười có vẻ chế nhạo hơn là hạch họe khi ngẩng lên hỏi tôi:
–         Tại sao khi mới nhập trại cô khai độc thân, sau lại khai có chồng, vì yêu chồng nên phải vượt biên, sang Mỹ để đoàn tụ? Cô thật là mâu thuẫn.
Đã học thuộc bài bản từ trước nên tôi không bối rối:
–         Vì ban đầu tôi hoang mang, lo sợ nên khai đại, sau khi đã bình tâm tôi quyết khai đúng sự thật..
Anh vẫn giữ nụ cười đầy cảm tình đó và đọc tiếp hồ sơ, sau đó anh hỏi tôi nhiều câu, câu nào tôi cũng trả lời suông xẻ. Nhưng cuối cùng là một câu thật bất ngờ, khi anh gấp đống hồ sơ lại và nhìn đăm đăm vào đôi mắt tôi:
–         Nếu bây giờ tôi nói rằng tôi yêu cô, sẽ cưới cô. Vậy cô có muốn về Bangkok sống với tôi không?
Tôi sững sờ nhìn anh, không biết trong ánh mắt hiền lành tình tứ ấy đâu là sự thật? có thể anh đùa vui? có thể anh đang thử lòng tôi? có vì vẻ đẹp trai và nghề nghiệp tương lai tươi sáng của anh mà  xiêu lòng chấp nhận? tức là chối bỏ mọi lời khai tha thiết vừa rồi  Và anh ta sẽ biết ngay là tôi ngụy tạo hồ sơ và đánh rớt không thương tiếc.
Tôi không phủ nhận đã rung động vì vẻ đẹp trai và phong cách của anh, nhưng cái tình cảm vừa hé nhụy mong manh ấy không biến tôi thành một cô gái đa tình ủy mị ngay được. Tôi nghiêm nét mặt, cứng rắn đáp:
–         Tôi xin lỗi, tôi không thể. Tôi luôn mong muốn được đoàn tụ với chồng tôi.
Anh lẳng lặng đẩy tập hồ sơ qua một bên, và hẹn buổi chiều phỏng vấn tiếp.
Buổi chiều tôi đến sớm hơn giờ hẹn một chút, vì chẳng ai muốn đến trễ, làm mất thì giờ của người phỏng vấn, chỉ gây thêm ác cảm, bất lợi cho mình.
 Trong văn phòng của anh lúc đó có hai người bạn cũng là sinh viên về đây làm công việc phỏng vấn, khi tôi ngồi xuống ghế đối diện  Piyawat, hai người bạn vẫn chưa chịu ra khỏi phòng, một người mở tập hồ sơ của tôi ra và cũng như anh Piyawat buổi sáng, anh này nhìn tôi mỉm cười với vẻ nghi ngờ:
–         Cô đã có chồng rồi à? Mà chồng cô lại nhỏ hơn cô những ba tuổi.
–         Vâng, nhưng chúng tôi yêu nhau không kể gì tuổi tác.
May qúa anh này không hỏi gì thêm nữa, như câu hỏi rất có lý vừa rồi của anh, có thể làm tôi bối rối, trở tay không kịp, vì đã đến giờ làm việc, phải trở về phòng của họ. Anh Piyawat tiếp tục phỏng vấn tôi, và một lần nữa câu cuối cùng của anh cũng bất ngờ như buổi sáng:
–         Cô đã suy nghĩ chưa? Nếu qủa thật có một tình yêu của người chồng dành cho cô, thì tôi cũng có một tình yêu bằng hay hơn thế, chứ không thể nào thua kém anh ta. Cô hãy về Bangkok với tôi đi !
Trong đầu tôi nghĩ đến ngày đoàn tụ với các anh tôi ở Mỹ, tôi không thể đánh một ván bài liều với một người xa lạ, mới gặp tôi lần đầu đã nói yêu tôi đến thế. Cái hồ sơ gia cảnh dở dang mong đoàn tụ với chồng, tôi đã tốn bao nhiêu công lao soạn ra cho hợp lý, ăn khớp với mọi tình huống và học thuộc lòng, không thể chỉ vài phút giây yếu lòng mà buông rơi tất cả.
 Trong cuộc phỏng vấn sống còn này, trong trại tị nạn buồn chán mà tư cách của con người dễ bị chà đạp này, tôi cũng như bao nhiêu người khác mong thoát ra càng sớm càng tốt. Đây không phải là nơi chốn cho tôi mơ mộng , tôi đã nghĩ thầm “ Anh Piyawat ơi, nếu anh yêu tôi thật, nếu anh đang nói những lời thật của con tim, thì tôi vô cùng xin lỗi anh, chúng ta đã gặp nhau không đúng chỗ, không đúng lúc rồi”
–         Cô trả lời tôi đi, tôi xin cô !
Bây giờ người cầu xin van nài không phải là tôi, là cô gái tị nạn mà cuộc đời tôi vui hay buồn, chờ trông vào tấm lòng của người phỏng vấn này, mà lại là anh. Tôi cắn môi dưới của tôi gần rướm máu để thốt lên được mấy chữ:
–         Không, tôi chỉ muốn đoàn tụ với chồng tôi.
Anh thẫn thờ kết thúc cuộc phỏng vấn buổi chiều và  khi tôi chào anh ra về, anh bắt tay tôi thay cho lời nói, bàn tay anh đã bóp chặt tay tôi như muốn níu giữ tôi mãi mãi…
Cuối tuần ấy, cũng là ngày lễ gì đó của người Thái, nên trong trại có tổ chức một trận bóng đá, tòan là nhân viên trong trại,  Piyawat là một thành viên trong đội bóng đá, người ta mở hàng rào ngăn trại, nơi đám tị nạn chúng tôi đang ở, để thông thương sang bên khu sân bóng.
Đời tị nạn buồn, rảnh rang, nên trò chơi gì cũng khiến chúng tôi tò mò và vui lây, nhất là nghe tin có  Piyawat tham dự đá bóng, những cô gái đã từng được anh phỏng vấn, đang đợi chờ kết qủa, đua nhau ăn diện để sang  bên đó, họ lượn quanh sân, tìm cách tiếp cận  Piyawat, để mỉm cười với anh và nhắc nhở anh, hỏi anh về trường hợp của mình, anh nắm hồ sơ chúng tôi trong tay như nắm quyền sinh sát, nếu muốn, anh chỉ việc mở hồ sơ ra xét lại, viết cho lời nhận xét hay ho trước khi những hồ sơ được gởi đi Bangkok cho cấp trên . Hầu như mọi quyết định ở đấy đều tùy thuộc vào lời nhận xét của người phỏng vấn.
Tôi không có mặt trong đám con gái ấy, dù anh đã để lại trong tôi một ấn tượng đẹp. Những người bạn rủ tôi sang coi đá bóng, và tôi chỉ đứng xa, không hề đi kiếm tìm anh, nhưng tôi đã thấy anh đi vòng quanh sân dáo dác ngó khắp nơi trong đám đông người tị nạn đang vây quanh sân, anh đã nhìn thấy tôi, anh đứng sững tuyệt vọng vì khỏang cách qúa xa, mà anh với tư cách nhân viên trong ban phỏng vấn không thể đến bên tôi được, người ta sẽ nghi ngờ và dị nghị, gây bất lợi cho tôi hơn là cho anh.
Khoảng cách chúng tôi nào chỉ một sân bóng mà cả hai khung trời cách biệt. Tôi không biết số phận mình sẽ đậu hay rớt thanh lọc? ngày mai sẽ ra sao? đời tôi sẽ trôi nổi đến đâu? còn anh, một ngày nào đó xong nhiệm vụ, sẽ trở về Bangkok tiếp tục học hành, ra trường, có vợ đẹp, con xinh là điều trong tầm tay của anh.
Sau ngày lễ, tôi ngạc nhiên khi nghe loa gọi tên tôi và hẹn giờ lên văn phòng gặp Piyawat để bổ túc thêm một vài giấy tờ, nhiều người cũng ngạc nhiên như tôi vì chưa có trường hợp nào như thế bao giờ. Nhưng có một chú dày dạn kinh nghiệm đời, quen rất thân đã nói với tôi:
–         Chẳng có gì cần bổ túc hết, cô đã có một đống hồ sơ nộp cho họ rồi. Anh ta chỉ muốn gặp cô thôi.
Nhưng tôi vẫn không khỏi lo âu, khi đến ngày hẹn tôi lên văn phòng thấy Piyawat đang phỏng vấn một người. Đã chờ đợi sẵn, vừa thấy tôi, anh đứng dậy đi ra ngoài và  nói rất nhỏ với tôi, vì sợ người bên trong nghe thấy:
–         Cô sẽ đậu phỏng vấn, hãy học Anh Ngữ và chờ ngày đi khỏi nơi đây.
Tôi ngỡ ngàng sung sướng tưởng như mơ:
–         Cám ơn anh Piyawat.
Lần đầu tiên tôi gọi tên anh, cũng rưng rưng nước mắt vì cảm động như đã từng rơi nước mắt vì  Tha Nu, nhưng lần này với sự rung động của con tim.
Một năm sau những người đậu thanh lọc mới có kết quả từ Bangkok gởi về, ngôi nhà thờ trong trại là nơi chúng tôi đến nhận giấy báo kết qủa , mà những người rớt hay chưa được phỏng vấn cũng kéo nhau ra bu quanh nhà thờ để chứng kiến cảnh người khác may mắn. Cầm tờ giấy đậu thanh lọc trong tay như cầm một vé lên thiên đàng, tôi bước ra ngoài, không nỡ nhìn đám đông, rồi đây trong số đó ai sẽ được may mắn như tôi? ai sẽ phải hồi hương Việt Nam trong đắng cay thất vọng ?
Khi tôi trở về Panat Nikhom, tôi không gặp Tha Nu, họ nói anh đã được cấp trên điều động đi nơi khác.
Anh có còn nhớ đến tôi không và có nuối tiếc vì không bao giờ gặp lại nhau lần nữa?
                                            ************ *
Sau cuộc điện thoại với chị Nhuận, đúng như chị đã nói, mấy tuần sau tôi nhận được một lá thư đến từ Bangkok.
                      “ Ngày..tháng..năm 2009,
Tôi là Piyawat, tôi đã chờ đợi cô mỏi mòn bao năm, kể từ khi cô rời khỏi trại tị nạn Thái Lan đi định cư ở Mỹ.
Tôi không bao giờ quên ngày tôi phỏng vấn cô, là một ngày tháng Năm, năm 1991, đẹp trời nhất trong đời tôi, cái ngày định mệnh đã cho tôi một tình yêu chớp nhoáng và vô vọng.
Đọc hồ sơ và nghe những lời khai của cô tôi thừa biết là gỉa tạo như nhiều người đã làm khi đó, rất dễ cho tôi quyết định ghi những nhận xét đủ cho cô bị rớt thanh lọc.
 Tôi tin cô còn độc thân và khi tôi ngỏ lời yêu cô, tôi đã thấy đôi mắt cô đầy bối rối, phân vân. Nhưng tôi biết là cô không dám liều lĩnh làm một quyết định táo bạo nhận lời tôi mà ở lại Thái Lan, lấy gì bảo đảm tôi sẽ mang cô ra khỏi trại tị nạn và cưới cô?
Sau lần phỏng vấn cô, tôi đã phỏng vấn nhiều trường hợp tương tự, những cô gái Việt Nam trẻ như cô, tôi không rung động vì họ, nhưng tôi viết nhận xét tốt cho họ có thể đậu thanh lọc, chỉ vì một lẽ đơn giản, tôi nhớ cô qua những người đồng hương của cô.
Trở về Bangkok, tôi học xong đi làm và chờ đợi tin cô từ chị Nhuận, từng ngày, từng tháng, từng năm…Nước Mỹ mênh mông, cô như cánh chim bay, biết đâu mà tìm?
Mấy năm sau tôi lập gia đình, nay đã có hai đứa con, và tôi cũng tin chắc cô đang hạnh phúc ấm êm nơi vùng đất mà cô đã khao khát mong chờ định cư.
Giờ đây, tình yêu mãnh liệt thuở ban đầu trong tôi không còn nữa, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được cô, một cô gái Việt Nam trong trắng và đầy tự trọng, tôi đã đánh gía cô như thế dù chỉ vài lần gặp, khi đối diện tôi trong phòng phỏng vấn, chỉ có hai người, cô không hề cho tôi một nụ cười dễ dãi, không liếc mắt đong đưa, không hứa hẹn trao tình cho tôi như vài cô gái khác đã làm để đánh đổi lấy cơ may đậu thanh lọc.
Đây là lá thư đầu tiên và cũng là cuối cùng tôi viết cho cô, giờ đây tôi không có quyền mong đợi gì nơi cô nữa, vì cả hai chúng ta đều đã có gia đình, hai cuộc đời riêng biệt, tôi chỉ muốn xác định với cô một điều mà ngày ấy tôi biết  đã làm cô hoang mang, lo âu  tự hỏi tôi yêu cô thật tình hay gỉa tạo để thử lòng cô?
Tình yêu tôi dành cho cô là tất cả tấm lòng tôi, là mối tình đầu của tôi.
Mến chào cô, chúc cô luôn hạnh phúc bên chồng con.”
Đọc xong lá thư tôi bàng hoàng cảm xúc.
Dù đã định cư ở Mỹ 16 năm, nhưng hình ảnh trại tị nạn Thái Lan vẫn còn rõ ràng trong tôi, một khỏang đời đáng nhớ, nơi ấy tôi đã hoang phí mất 4 năm trời, 4 năm tuổi thanh xuân tươi đẹp của một thời thiếu nữ, chập chờn những âu lo, buồn bã, những hi vọng, thất vọng và cả tuyệt vọng. Nhưng cũng chính nơi ấy, có Piyawat đã để lại trong tôi một hình ảnh lãng mạn, xứng đáng đánh đổi cho những sự mất mát kia.  Anh  là người đàn ông đầu tiên đi vào tâm hồn tôi.
Tôi ấp lá thư lên ngực như để gần anh hơn. Giá như chị Nhuận tìm thấy tôi sớm, vài năm sau khi tôi đến Mỹ, lúc ấy tôi vẫn còn nghĩ đến anh nồng nàn. Biết đâu tôi đã bay đến Bangkok gặp anh trước khi anh sang Mỹ gặp tôi?
Nay thì qúa muộn, khỏang cách giữa chúng tôi càng ngày càng xa,  không bao giờ nối gần lại được. Nhưng tên anh Piyawat, và thủ đô Bangkok nơi anh trú ngụ sẽ là một điệp khúc yêu thương vang vọng mãi trong trái tim tôi.
                                   Nguyễn Thị Thanh Dương
                                           ( July- 2009)