CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN

Trần Mộng Tú

 

                                                      CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN

 

 

         Khí trời vẫn còn lạnh lắm, sáng tây bắc Mỹ vẫn mù sương. Chiếc hồ chạy dài trước nhà như có như không, đứng ở tả ngạn không nhìn thấy hữu ngạn, dốc thấp không nhìn thấy đồi cao, xe sau không nhìn thấy xe trước. Bình minh, hai tay vẫn phải giấu kỹ vào trong túi áo khoác khi tản bộ trong xóm, những ngón tay thỉnh thoảng lại co vào nhau như hỏi xem có ngón nào đã ấm chưa? Đi vòng mấy con dốc vừa hết một bình minh, vẫn không hết lạnh.

 

Thế mà buổi trưa, sương vừa tan từng chỗ như lụa được mang cắt chia nhau từng khúc; đoạn dài may áo, đoạn ngắn may khăn. Nhìn ra vườn sau, trên sườn đá hai con nai ở mé bìa rừng tây nam đang lững thững vào vườn, chúng đi tìm nụ non của mấy bụi hồng dại, chúng đi tìm những cánh hoa báo xuân ( Primroses). Hóa ra mùa xuân đã thực sự đến rồi.

Chúng lững thững đến, ngơ ngác nhìn quang cảnh, cúi xuống tìm hoa ăn, xong lại lững thững đi. Người ở trong cửa kính, nín thở, không dám gây tiếng động, người nhìn nai, nai nhìn người. Cuối cùng, có đến, phải có đi.

 

Nai tìm về vườn sau, có nghĩa là xuân đang đến. Ai đó hấp tấp chạy ra vườn tìm mùa mới. Hai cây đào ngoài kia, một cây bên trái, phía tây nam, cao ngang với mái nhà, hoa cánh đơn phơn phớt hồng, có hương thơm rất nhẹ; một cây giữa vườn sau, cây chiết, có hai loại hoa khác nhau, mầu hồng cánh kép, và mầu trắng như hoa mơ. Cả hai cây, chíu chít nụ, những nụ đã nứt ra một chút ở đầu như báo hiệu sự có mặt sắp đến. Đứng hết dưới gốc cây này, sang gốc cây kia, nhìn lên những cành nụ vươn ra trong nắng mới; không khí ngọt ngào, tinh khiết, khe khẽ lạnh; người ngồi xuống, cúi nhìn đất, tìm những nụ hoa Daffodils (thủy tiên đất), hoa Tulips (kim hương) đang thi nhau chồi lên khỏi mặt đất. Người biết chỉ còn hai tuần nữa thiên nhiên sẽ cho những đóa hoa tuyệt đẹp. Hoa Irish (diên vỹ) và Rhododendron (sơn lựu) hoa Peony (mẫu đơn) cũng đang chồi lên, ra nụ. Đây là những đóa hoa sẽ nở vào tháng năm.

Cây Magnolia (mộc liên) sát cửa sổ buồng ăn, sẽ cho những đóa hoa như bông sen trắng với những chiếc lá dầy xanh biếc như được cắt ra từ một khối ngọc nào đó, vào tháng sáu.

Chao ôi! Nói về hoa thì làm sao kể tên cho hết. Mỗi mùa một loài hoa nở, ngay cả mùa thu, lá thu cũng khác gì những cành hoa gấm trên cây, mùa đông lạnh giá cũng còn có hoa xuyên tuyết (Croquets), và ai kia còn nhìn sông nước gọi: “Hoa sóng,” nhìn trời gọi: “Hoa mây”

   Mỗi lần người nghe thiên nhiên cựa mình theo gót chân nai trở về, mang mùa xuân vào vườn, bỗng có câu thơ cũng chợt trở về:

 

 Huyền Trân Huyền Trân ơi

 Mùa xuân mùa xuân  rồi

 Ngoài kia chín vạn bông trời nở

 Riêng có tình ta khép lại thôi.(Nguyễn Bính)

 

Mấy câu thơ của Nguyễn Bính tả mối tình huyền hoặc của Huyền Trân và Trần Khắc Chung

Cô công chúa ở tuổi xuân và đẹp như hoa xuân đó có đoạn sử nói cô là người yêu của quan Thượng Tướng Trần Khắc Chung trước khi cô sang Chiêm quốc.  Huyền sử kể lại rằng: Công chúa ngại đường sông, sang Chiêm về nhà chồng bằng đường bộ, quan thượng tướng Trần Khắc Chung đi tháp tùng, khi đến đèo Hải Vân, đoàn lữ hành dừng lại nghỉ chân, công chúa đã viết bài thơ “Nước Non Ngàn Dậm Ra Đi” để gửi tâm tình mình cho người yêu vào đó:

 

Cái tình chi !
Mượn màu son phấn,
Đền nợ Ô Ly,
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì,
Độ xuân thì,
Số long đong, hay là duyên nợ gì ?
Má hồng da tuyết,
Quyết liều như hoa tàn, trăng khuyết.
Vàng lộn theo chì.
Khúc ly ca,
Sẽ còn mường tượng nghe gì ?
Thấy chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng,
Hướng dương hoa Quì
Dặn một lời Mân Quân :
Như chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân,
Vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần…

 

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Trần Khắc Chung có mang lòng yêu  công chúa Huyền Trân. Cứ tưởng tượng huyền sử trên là có thật thì mối tình của hai người đẹp và đáng thương biết nhường nào; Nhưng cũng theo quốc sử Trần Khắc Chung lại là một trong những người đồng ý đem gả công chúa cho vua Chiêm để đổi lấy hai châu Ô, Ly. Tại sao? Có phải Trần Khắc Chung đặt tình yêu nước lên trên tình riêng hay không? Ta hy sinh tình yêu của ta cho bờ cõi nước Đại Việt được mở mang. Nào ai biết rõ được tâm tư ấy!

 

Trong dân gian, người ta thương tiếc một vị công chúa sắc nước hương trời, cành vàng lá ngọc, phải đem gả cho Chế Mân (còn được coi là Mán) nên đã có câu đồng dao:

 

 Tiếc thay cây quế giữa rừng

 Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

 

Khi vua Chiêm mất, Trần Khắc Chung sang cứu công chúa khỏi dàn hỏa và hai người lênh đênh trên sông nước một năm mới trở về đến quê nhà. Nhưng sử sách của nước non Chiêm phủ nhận điều đó. Ta hãy đọc một đoản tài liệu sử Chàm dưới đây:

 

“Vua Champa Jaya Simhavarman đệ tam (tiếng Việt gọi là Chế Mân) đã dâng hiến cho Ðại Việt vào năm 1306 hai vùng Ô và Ly (lãnh thổ của Huế hôm nay) để được kết hôn với công chúa Huyền Trân của Ðại Việt. Sự kết hôn này đúng là một vở bi kịch tình sử. Vì rằng chưa đầy một năm chung sống với công chúa Ðại Việt, Jaya Simhavarma đã tử trận trong một khung cảnh vô cùng mờ ám, để rồi Huyền Trân tìm cách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung mà chưa ai hiểu được nguyên nhân nào để giải thích cho sự hiện diện của Trần Khắc Chung trong bối cảnh lịch sử này. Nhiều câu hỏi thường được nêu ra vì cái chết đột ngột của vua Jaya Simhavarma đệ tam. Nguyên nhân nào giải thích cho mưu mô chạy trốn của công chúa Huyền Trân, trong khi ai cũng biết rằng công chúa Ðại Việt này không thể hội đủ điều kiện để xin lên giàn hỏa. Nếu theo truyền thống Champa, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được phép để hiến thân trên giàn hỏa với chồng của mình.” ( *)

 

    Cũng theo sử, tuân lệnh di ngôn của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, khi về đến hoàng cung (năm 1308), công chúa được gửi vào chùa để tu đến hết đời (Khi sang Chiêm công chúa 19 tuổi, hơn một năm sau vua Chiêm mất; lúc Trần Khắc Chung đón công chúa mới 20 tuổi) Lênh đênh sông nước một năm, ở tuổi 22, công chúa được đầu gia Phật giáo, tu tại núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh), năm 1311 Công Chúa cùng một thị nữ về tu ở dưới chân núi Hổ (Huyện Thiên Bản, Nam Định) công chúa qua đời ở tuổi 53.(1287-1340).Hiện nay ở Huế có điện thờ Công Chúa Huyền Trân.

 

Người thời nay, ngẫm lại, chỉ trong vòng ba năm, cuộc đời của công chúa Huyền Trân

đã qua bao nhiêu thay đổi và thay đổi nào cũng là những đánh dấu ngàn thu.

 

 Công chúa Huyền Trân sang làm vợ vua Chiêm để mang về hai châu Ô, Ly (lãnh thổ Huế ngày nay)là có thật trong quốc sử, nhưng chung quanh bộ ba: Công chúa Huyền Trân, quan thượng tướng Trần Khắc Chung, và vua chiêm Chế Mân, có rất nhiều huyền sử.

 

Theo huyền sử kể lại:  Khi sang Chiêm gặp chồng là vua Chế Mân, một vị vua oai phong, trẻ đẹp công chúa không hề oán ghét, công chúa sanh cho vua một vị hoàng tử, và bình tâm sống trong địa vị và hoàn cảnh của một bà hoàng hậu nước Chiêm. Nhưng sang năm thứ hai, Trời mở ra một trang đời khác cho công chúa không kém phần ngoạn mục, cho nàng được lênh đênh trên sông nước với người yêu hơn 365 ngày. Trai tài, gái sắc, tình xưa; chắc chẳng còn gì đẹp bằng!(theo huyền sử). Năm thứ ba Trời lật trang sách kế tiếp (theo quốc sử.) Công chúa đi vào sau cánh cổng chùa. Nét mặt còn đẹp như hoa mận, tóc còn mướt như liễu xanh. Công chúa qùy xuống, cổng chùa đóng lại. Thật may mắn thay khi trang kinh được mở ra, những trang quốc sử, tình sử, huyền sử, được Trời đóng lại như gắp một cuốn sách, để lên kệ.

      

Một bài thơ để lại cho hậu thế về cái giá trị của một trang quốc sắc.

 

 

Công Chúa Huyền Trân

 

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô, Ly vuông ngàn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
Lòng đỏ khá khen lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn nhẩn nhau mấy đứa Hời. (Hoàng Cao Khải)

 

Chỉ sau ba ngày đầy nắng, mùa xuân thực sự đã về trên những cây hoa đào trong vườn nhà, trên những con lộ trong làng, chúng nở tung những chùm hoa kiều diễm. Hoa có biết là những người con gái, không phải là hoa nhưng nhan sắc của nàng đã viết lên những trang sử diễm lệ hay không?

 

Tháng Tư/2009

 

    (*) Để Hiểu Thêm Về Lịch Sử Champa- TS Po Dhama.

    –  Tài liệu: Tự Điển Bách Khoa

 




Nguyễn Phan Ngọc An : NHỮNG CƠN BÃO TRONG ĐỜI

NHỮNG CƠN BÃO TRONG ĐỜI

                                   Tùy Bút  : Nguyễn Phan Ngọc An

Viết tặng hiền huynh John Nguyễn

  

 

Rặng phi lao xào xạc…người đàn bà giật mình run rẩy, hơi lạnh từ biển bốc lên, toàn thân nàng co rúm lại với khí trời giá buốt đêm nay. Nàng nhìn đồng hồ, còn 20 phút nữa là đến giờ hẹn của Kiệt, chàng đã hứa là bỏ vợ con ở lại Việt Nam để vượt biên với nàng và hai con riêng của nàng.

Người đàn bà đó không ai xa lạ…cách đây gần mười năm,  Viên Chi tên của nàng ! Viên Chi là một cô gái đẹp, dịu dàng, hiền hậu. Nàng làm việc cho một văn phòng hành chánh tại thị trấn…Rồi một dịp tình cờ Chi quen Hữu, một thanh niên độc thân, hiện là trưởng ban thâu nhận nhân viên của văn phòng người Mỹ tại đây. Hai người sau thời gian tìm hiểu đã yêu nhau chân thành và một đám cưới linh đình đã diễn ra sáu tháng sau đó.

Hữu đưa Chi vào làm việc chung sở với chàng, nhờ vào trí thông minh nên chỉ một thời gian học hỏi Chi đã nói tiếng Anh lưu loát và làm việc rất tích cực . Hữu một mực yêu thương vợ, chiều chuộng nàng bởi chàng là hiện thân của giai cấp văn minh mới – Chàng rất ga lăng và lịch sự với mọi người, nhất là đàn bà, con gái…Vì vậy bạn bè đã tặng cho chàng một biệt danh là H lập phương tức là Hữu hào hoa. Chàng quý trọng và hiếu thảo với mẹ cha hai bên, xem cha mẹ vợ như cha mẹ mình…bởi vậy chàng được cảm tình nồng hậu phía bên vợ thật  nhiều.

Ngày nhập ngũ đã đến, Hữu cũng như bao thanh niên thời loạn, chàng phải lên đường tòng quân. Mẹ chàng, một người đàn bà phúc hậu tiễn chân chàng với những gói hành trang và thực phẩm thu xếp sẵn trước cả tuần cho con…nước mắt bà chan hòa trên đôi gò má nhăn nheo. Hữu hôn mẹ và vợ từ giã với hai giọt lệ vừa âm thầm rơi xuống ! Trời mỗi lúc mỗi tối…xung quanh chàng không còn một người thân yêu nào nữa…những  anh em ngồi trên chuyến xe cũng một tâm trạng như chàng, họ lặng im và buồn bã. Chàng  nghĩ  tới Chi, chàng phải đi xa trong lúc Viên Chi vừa mang thai đứa con đầu lòng, một cấu tạo của tình yêu, một sợi giây thiêng liêng của tình nghĩa vợ chồng. Hữu thở dài ngao ngán…ngày mai sẽ ra sao ? đất nước chiến tranh người thanh niên không có quyền nghĩ đến hạnh phúc riêng tư nhưng ai cấm được nỗi đau đang trào dâng như sóng vỗ trong lòng ! chàng nhắm mắt lại để tự kềm chế cơn xúc động khi đoàn xe mỗi lúc một rời xa mái ấm thân yêu của chàng…

Ròng rã hai ngày đêm, đoàn xe chở quân nhân nhập ngũ đã đến điểm cuối để vào quân trường nhập khóa học. Những ngày đầu ai cũng ngại ngùng bỡ ngỡ với những kỷ luật khắc khe, quân phong, quân kỷ…Rồi thời gian cũng quen dần đi, Hữu bây giờ dạn dày sương nắng, da chàng đen sạm và vóc dáng trông rắn chắc khỏe mạnh hơn xưa nhiều . Cuộc sống quân ngũ bận rộn bù đầu không cho chàng có thời gian suy nghĩ nhiều về gia đình, có chăng là sau những giờ tập luyện về đêm, chàng thường ngồi thừ người hàng giờ mà không sao giỗ được giấc ngủ muộn màng!

Buổi sáng hôm nay, tất cả sinh viên sĩ quan mặt mày rạng rỡ, tóc tai cắt ngắn gọn gàng, nghiêm chỉnh trong bộ quân phục thẳng nếp…ai cũng quên hết những nhọc nhằn cơ cực của đời lính, bởi hôm nay có lệnh lần đầu cho thân nhân thăm viếng. Hữu cuống cả người lên khi nhìn thấy mẹ và vợ lên thăm chàng với những xách tay nặng trĩu thức ăn và quà bánh…Đời lính còn gì sung sướng hơn ? Hữu mĩm cười đắc ý hân hoan ôm mẹ và vợ hôn lấy hôn đề.

Ngày mãn khóa học đã đến, buổi lễ long trọng trang nghiêm. Hữu cũng như tất cả anh em cùng khóa được cấp chỉ huy gắn chiếc lon Chuẩn Úy lên cầu vai áo, đồng thanh tuyên thệ sống chết bảo vệ quê hương, hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho tiền đồ tổ quốc. Hữu chọn đơn vị pháo binh nên được thuyên chuyển về sư đoàn 18 đơn vị 181 Pháo Binh đóng tại Long Khánh. Thỉnh thoảng Viên Chi ẵm con lên thăm chàng tại đơn vị mới. Đời sống chàng cảm thấy thú vị quá rồi còn dám mơ ước gì hơn ?

Thời gian trôi đi, tuổi lính cũng lên cao theo ngày tháng, Hữu bây giờ là Trung Úy Trung Đội Trưởng Pháo Binh, dưới tay chàng có 30 người Hạ Sĩ Quan và binh sĩ cùng 2 cây Đại Bác 105 vá 155 ly làm việc không ngưng nghỉ. Pháo đội của chàng đóng tại Gia Ray vùng đồng bằng tỉnh Long Khánh.

Một đêm kia được tin Viên Chi đang chuyển bụng sanh đứa con thứ 2 , Hữu tức tốc một  mình lái chiếc xe Jeep về quê thăm vợ. Đường thì xa, đèo gốc gồ ghề, không gian âm u tĩnh mịch không có một âm thanh nào ngoài tiếng xe đang chạy của chàng. Hữu thoáng rùng mình lo ngại, dường như tâm linh báo cho chàng biết sẽ có việc chẳng lành…Chàng hồi hộp lạ thường, ngồi trên xe mà cứ muốn như bay bỗng cho mau đến nhà, chàng lo cho vợ gặp chuyện không may, ruột gan chàng nóng như lửa đốt !

Gần đến chân cầu đột nhiên có tiếng súng nổ rồi tiếp theo tiếng pháo kích ầm vang một góc rừng đêm tĩnh mịch, Hữu thắng gấp chiếc xe…Ầm ! trúng đạn pháo kích chiếc xe Jeep phát hỏa bốc cháy, Hữu vội vàng nhảy khỏi xe nhưng không còn kịp nữa ! bộ quân phục đang bị thần hỏa tấn công mảnh liệt , toàn thân chàng như ai xé, ai cắt từng mảnh thịt da, chàng cố chồm đến chiếc máy truyền tin khẩn cấp  trên xe, nhưng nó đã bị cháy toàn bộ  thống điện…Trong giờ phút tử sinh con người thường có nhân sinh quan bén nhạy, can đảm tột cùng bất chấp đớn đau, chàng lăn tròn trên cỏ bao nhiêu vòng đến khi ngọn lửa trên người tắt lịm và chàng cũng…lịm người đi !

Đoàn xe cứu thương đến…Hữu đã bất tỉnh không còn biết gì nữa…

Hữu định thần nhớ lại những gì xãy ra trong đêm qua, chàng cựa mình, toàn thân nhức buốt đớn đau, mở mắt ra chỉ thấy một màn đêm dày đặc…loáng thoáng bên tai chàng có những tiếng thầm thì rồi tiếng khóc ! Chàng đang ở đâu ? Chàng còn sống hay đã về thế giới bên kia, một thế giới lặng im miên viễn ! Còn tiếng khóc kia của loài người hay của những hồn hoang bất hạnh chốn a tỳ ? Hữu mở miệng nhưng không nói được…miệng chàng bị băng kín, trực giác bén nhạy cho chàng biết chàng còn sống và bị băng bó từ đầu đến chân…Rồi những tiếng lao xao ồn ào tiếp theo và Hữu thấy người bị nhấc bỗng lên và đặt xuống một vị trí khác, người ta đẩy chàng đi rất nhanh…Con ơi là con…con của tôi ! Trời ơi…anh ơi ! Tiếng của mẹ chàng, tiếng của vợ chàng ! Hữu bàng hoàng…làm sao cho người thân yêu biết rằng tôi còn sống ? Họ đã buộc chặt mắt miệng tôi, thân thể tôi. Hữu cố vẫy vùng nhưng chỉ làm chàng đau đớn hơn, chàng hiểu vết thương trên mình rất nặng…Hữu khe khẻ cầu nguyện ơn trên cho chàng được sống để báo đáp nghĩa sanh thành và tròn trách nhiệm với vợ dại con thơ.

Hai tháng nằm viện Hữu đã phục hồi sức khỏe, tuy gương mặt và thân thể vẫn loang lỗ những vết phỏng còn đỏ ửng. Ngày trở về đơn vị, ông Chỉ huy Trưởng và tất cả anh em Tiểu Đoàn 181 Pháo Binh tổ chức tiệc ăn mừng và tung hô Hữu là “ Người về từ cõi chết “.

 

Rồi chiến trận bùng nổ khắp nơi trên đất nước đau thương của chàng, Hữu cùng pháo đội di tản ra vùng biên giới để bảo vệ các tiền đồn. Chàng chỉ còn biết tin gia đình qua những bức thư do Viên Chi gửi đến không thường xuyên qua những người lính về phép thăm gia đình. Hàng ngày chàng chỉ nhìn thấy khói súng và xác người ngã gục…Một đêm kia, Hữu không sao ngủ được nằm xuống nhắm mắt lại là thấy hình ảnh Bích Phượng, đứa con gái đầu lòng xinh đẹp vừa lên 3 tuổi của chàng oằn oại trên vũng máu, chàng giật mình kinh hải…nhớ lại lời tiên đoán của một ông thầy người Miên ! Khi Viên Chi sinh ra Bích Phượng, cha chàng một mực yêu quý cháu nội và bắt ở với ông để ông chăm sóc, ông thương yêu cháu hơn tất cả mọi thứ trên đời. Một hôm ông thầy Người Miên tình cờ ghé vào nhà và đã nói : “ Ông cụ nên trả nó về cho cha mẹ nó nuôi, nếu không ông cụ sẽ là người giết chết nó và sau nầy khi tuổi già ông cụ không sống với con cái mà chỉ sống với người dưng “. Chỉ mấy lời rồi ông thầy lầm lủi bỏ đi, cả nhà đều cho rằng ông ta nói xàm nên không ai lưu ý, bây giờ…bỗng dưng Hữu bật dậy, một cảm giác sợ hãi khiến chàng nổi da gà…chàng vội vàng quay số điện thoại tổng đài để gọi về nhà. Đầu giây bên kia tiếng Viên Chi nức nở: “ Anh về được không ? Bích Phượng bị xe cán chết rồi ! chết chiều hôm qua” !

Hữu bàng hoàng đau đớn gục xuống nền nhà, đầu óc chàng quay cuồng hỗn loạn, thế là hết ! đứa con đầu lòng yêu quý của chàng đã không còn nữa !…

Ngoài trời mưa càng lúc càng lớn…những giọt rơi rơi như những mũi kim đâm xé tâm hồn người sĩ quan gan dạ. Trước kẻ thù chàng chưa hề nao núng, trước cái chết chàng không hề run sợ, mà bây giờ trước nỗi đau mất mát này, chàng đã khóc…chàng khóc thật nhiều thương tiếc đứa con yêu dấu ra đi không bao giờ trở lại nữa rồi ! Hữu nhắm nghiền đôi mắt lại để hình dung lần cuối cùng hình ảnh đứa con gái thân yêu, những dòng lệ cứ thi nhau tuôn tràn không dứt…

Ngày tháng trôi đi theo nỗi đau nhức buốt, cuộc chiến tranh Nam Bắc thì mỗi ngày một lan rộng trên khắp miền đất nước thân yêu…biết bao người con của Mẹ Việt Nam đã anh dũng hy sinh, biết bao kẻ đã vùi thây oan uổng vì trận chiến nồi da xáo thịt này ? Hữu may mắn vẫn bình yên sau những cuộc hành quân ác liệt với quân thù, pháo đội chàng đã di chuyển để yểm trợ khắp bốn vùng chiến thuật…

Sau những chiến công dài chàng được tưởng thưởng và chỉ huy một pháo đội vùng ven đô. Một đêm kia, một đêm bão tố kinh hoàng…tất cả mơ ước của chàng đều sụp đổ ! Chàng lặng lẽ sếp hàng ra trình diện đi học tập cải tạo và chàng được đưa đến vùng Suối Máu thuộc tỉnh Biên Hòa. Nơi đây chàng gặp rất đông chiến hữu…tất cả nhìn nhau trong tâm trạng nghẹn ngào câm lặng !

Hạ về thiêu đốt đời nam tử

Một nửa sơn hà xóa chí trai

Giấc mộng vá trời ôm bốn bể

Biển dâu hóa kiếp bậc anh tài…

 

Một thoáng tìm về giấc mộng xưa

Vườn thưa trong nắng, áo ai bay

Sao ta một cõi nhìn sông núi

Thương tiếc đời trai kiếp đọa đày !

 

Đớn đau cho giống nòi Hồng Lạc

Một cuộc trầm luân, cuộc bể dâu

Bao kẻ vùi thây trên đất mẹ

Rồng tiên một thuở ngậm thương sầu…

 

Chiến quốc ngàn năm soi dấu sử

Anh hùng máu đỏ ngập trường sa

Canh gà giục giã hồn trai Việt

Mơ bóng cờ vàng…dậy tiếng ca

 

Thân ta, cá chậu chim lồng

Chờ trông cánh nhạn phương đông mịt mù

Nghìn gian khó, kẻ tội tù

Thì thôi phó mặc phù du kiếp tằm

Viên Chi nàng chẳng đến thăm

Phải chăng tình nghĩa bao năm chẳng còn ?

Sóng lòng vỡ, ngọn sầu tuôn

Đất bằng biển động…điên cuồng thế nhân !

 

Nhân tình thế thái…Sau ngày Hữu vào trại tù đến nay, Viên chi chỉ đi cùng mẹ chàng và đứa em gái chàng đến thăm chàng được 3 lần rồi biền biệt trên một năm nay. Kinh nghiệm cuộc đời đã cho Hữu đoán được những gì xãy ra trong tình cảm Viên Chi ? Sợi giây oan trái cột chặt bước chân ! Hữu là kẻ tội tù không biết được ngày mai ? Hữu không dám hỏi han hay tìm hiểu mỗi khi mẹ và em gái lên thăm, vì sự thật sẽ làm Hữu đau lòng thêm mà thôi…

Bảy năm dài đằng đẳng trôi qua trong ngục tù kẻ chiến bại, những nỗi uất hờn cơ cực không bút mực nào tả xiết…thôi thì trời cao còn phải chịu những cơn giông bão, sấm sét xé không gian thì nhân thế, ôi làm sao tránh khỏi hình phạt của kiếp người ! Hữu thầm tưởng tượng nỗi đau này có lẽ là nỗi đau chung cả một dân tộc bị lưu đày từ tiền kiếp xa xưa mà ngày nay hậu quả phải gánh chịu…

Lê Nguyên Hữu.

Đang cuốc đất Hữu giật mình đánh thót, người cán bộ Cộng Sản cầm trên tay một tờ giấy và tiếp tục đọc tên…anh em nhìn nhau tái mặt không hiểu việc gì ? Sau khi đọc tên 11 người xong họ cho biết đã học tập cải tạo tốt và được trở về với gia đình. Hữu mừng chảy nước mắt, liệng vội cái cuốc vào bụi bước tới cảm ơn người cán bộ, lăng xăng chạy về trại thu dọn áo quần cho chuyến hồi quê sáng ngày mai.

Trên chuyến xe trở về quê cũ, chàng suy nghĩ miên man đến Viên Chi và thở dài áo não, nếu thật tình nàng đã phụ chàng thì còn gì chua chát hơn ! Những năm chung sống  mặn nồng, trọn vẹn cho nhau, chàng chưa làm điều gì cho Viên Chi phật ý bởi chàng cưng quý vợ khó ai sánh kịp. Chưa bao giờ Hữu to tiếng với Viên Chi chớ đừng nói chi chuyện gây gỗ, đánh mắng…thì tại sao ? Viên Chi nỡ phản bội chàng ! Chàng cưng vợ đến nỗi lên xuống xe Jeep hoặc xe đò chàng luôn ẵm xuống không để nàng tự bước vào những khi thai nghén,  bây giờ có lẽ nàng đang hạnh phúc bên người đàn ông khác, Hữu thấy xót xa trong lòng, chàng thương các con chàng không hiểu hiện giờ chúng sống ra sao ?

Về đến quê nhà chàng mới am tường cớ sự, vợ chàng đã bỏ nước ra đi từ năm 1977 mang theo đứa con gái thứ 2 và thằng út của chàng, bỏ lại hai đứa con gái giữa ở lại Việt  Nam cho dì Bông là chị hai của Viên Chi nuôi dưỡng…chàng còn được biết rằng vợ chàng đã đi với nhân tình, trong lúc ông ta bỏ vợ con ở lại để vượt biên với vợ của chàng !

Số phận hẩm hiu, Hữu đem hai con về ở với chàng để bà nội và cô chăm sóc, chàng đã chịu vất vả trong đời sống mới tuy rằng gia đình chàng cũng khá giả. Hữu muốn sớm được trả quyền công dân nên chàng đã mua xe ba bánh đạp chở hàng cho con buôn, lúc không có hàng chở chàng đi theo các xe tải lớn khiêng những cây nước đá nặng nề. Nhờ lao động tốt và giao tế khéo chỉ 6 tháng sau chàng đã được trả quyền công dân. Từ đó ngày đêm Hữu âm thầm tìm cách quan hệ các ghe tàu và đã mua được một chiếc ghe Kubota xanh, chàng khôn ngoan tinh tế nên đã nghiễm nhiên đứng tên chủ tàu.

Hữu cho hai cháu ruột của chàng vào danh sách thuyền viên tuy rằng chúng còn rất nhỏ, còn hai con chàng vì là gái nên đành chịu không thể cho đứng tên trên tàu. Ba cậu cháu và hai thuyền viên ngày đêm đi đánh cá, bắt tôm che mắt mọi người và chính quyền, chỉ mong một ngày đoạt thành ý nguyện.

Vào một đêm không trăng, trời tối đen như mực, chàng tổ chức một cuộc vượt biển…trên ghe chỉ vỏn vẹn 5 người. Khi tấp vào bãi để đón hai con và vài người bạn chí thân thì mới hay tất cả đã bị bắt ! Chàng chỉ biết kêu trời và chết điếng trong lòng…chàng biết không thể trở về nhà vì cớ sự đã đổ bể và chàng sẽ trở vào tù không có ngày ra. Hữu dặn dò hai thuyền viên và hai  cháu cho ghe vào núp trong miệng hang hai đáy để chàng tìm cách vào bờ lo liệu mọi việc…

Chiều hôm đó Hữu mượn xe Vespa của chị Bông phóng về nhà thăm dò tình hình, em gái Hữu đã chận chàng lại khi còn cách nhà 3 cây số và báo cho chàng biết những nguy hiểm sẽ xãy ra vì hiện giờ chính quyền đang theo dõi chàng chặt chẽ. Hữu ngỡ ngàng quay đầu xe mà lòng dâng lên một nỗi buồn vô hạn ! từ bây giờ tôi sẽ sống ra sao nếu tôi không thực hiện được ước nguyện vượt biển của mình ?

Hữu không còn cách nào khác hơn, chàng phải vượt biển ngay đêm nay. Chàng mướn ghe nhỏ để ra sông tìm ghe của chàng, ba ngày ròng rã không tìm thấy chiếc ghe, Hữu lo lắng vô cùng ! không biết điều gì đã xãy ra cho hai cháu và hai thuyền viên bởi vì chàng biết trên ghe không lương thực thuốc men hay nước uống gì cả, hoặc có thể ghe đã bị bắt ?

Khi thất vọng đè lên tột độ thì Nghĩa xuất hiện. Hữu mừng như vừa trúng số độc đắc, Nghĩa là thuyền viên trên ghe chàng, Nghĩa bất chấp hiểm nguy lội 5 cây số vào bờ tìm Hữu vì không có Hữu như rắn không đầu và bốn người trên ghe đã nhịn đói nhịn khát hai ngày qua. Khi Hữu hiểu vì sao tìm không gặp ghe mới rõ Nghĩa nghe lầm nên đợi chàng ở miệng hang ba đáy…anh em ôm nhau nghẹn ngào rơi lệ !

Tốc hành cho một chuyến vượt biển ngay đêm nay, em gái Hữu đã giúp chàng không ít, nhờ thế chàng có được bãi bến, lương thưcï và nhiên liệu ra đi…Đêm 30 tháng 6 năm 1983 âm lịch, một đêm giông tố bão bùng, đất trời nổi cơn thịnh nộ giương oai, chàng và các bạn phải vất vả lắm mới tiếp cận được ghe và âm thấm vượt biển trong bầu trời không có một vì sao…

Trời vẫn còn thương tưởng cho đoàn người tỵ nạn, không có người lái, không có hoa tiêu, Hữu đã làm tất cả công việc đó với hết sức cố gắng của mình trong hồi hộp tận cùng bởi chàng đâu phải lính Hải Quân, lính Thủy, chàng là lính Pháo Binh chỉ sống trên đất liền.

Sau nửa tháng chống chọi với phong ba, bão táp hiểm nguy giữa đại dương bao la, mấy phen tưởng đã làm mồi cho biển cả, cho cá sấu, cá mập…gặp qua 8 chiến hạm nước ngoài kêu gào thảm thiết họ vẫn dửng dưng không cứu vớt nhưng vẫn còn hồng ân hộ độ, chiếc thứ chín đã dừng lại cứu nguy vớt đoàn người lên chiến hạm đem về đảo Singapore tỵ nạn .

Ngày tháng trôi đi trong buồn bã chán chường, ba cậu cháu cũng quen dần với những gian lao thiếu thốn, với mì gói, đồ hộp qua ngày để mong được sớm vào Mỹ với diện quân nhân cải tạo. Nhờ vào tài tháo vát, trí thông minh Hữu đã nhận vai trò quan trọng tại đảo và giúp đỡ nhiều đồng hương tỵ nạn như chàng. Phần đông ai cũng thương mến Hữu nên cũng an ủi được phần nào tâm hồn kẻ lưu vong xa xứ…

Hữu nhớ lại lá thư Viên Chi đã viết cho chàng cách nay 6 tháng “ Em vẫn chờ anh và hai con” cũng vì bức thư đó đã thúc đẩy chàng liều lĩnh ra đi coi thường sinh mạng, bất chấp tội tù. Khi ở đảo liên lạc với Viên Chi rất khó khăn, nàng chỉ một lần gửi chút tiền và nhắn trong thư là hãy nhận nhau là anh em…Điều đó đủ cho Hữu hiểu những gì xãy ra trong cuộc sống hiện tại của vợ chàng ! Hữu đau đớn và chẳng màng cuộc tao phùng, chàng xin vào Mỹ cùng hai cháu và ngày ấy đã đến…

Ngoài trời từng đợt mưa rả rich, trong lòng như sóng vỗ từng cơn…đến Mỹ đã hơn tháng trời chẳng gặp mặt các con, gặp vợ chỉ thỉnh thoảng thăm hỏi trên phone mà thôi, Hữu hiểu tất cả và chàng chấp nhận số phận đã an bài. Chàng chịu khó chịu cực làm đủ mọi công việc vất vả để kiếm tiền 3 cậu cháu sống qua ngày, hai cháu chàng còn quá nhỏ nên chỉ đi học mà thôi. Hữu làm xe lunch, cắt cỏ, đi hái trái cây cho các farm và cuối cùng chàng cố tâm học hành lấy bằng cấp đi làm việc Bảo Hiểm – Thuế Vụ – Địa ốc và Du Lịch.

Một chiều kia Viên Chi báo tin sẽ bay qua thăm chàng, nàng không đến một  mình mà với cả hai đứa con riêng của nàng và ông chồng sau, người đã đưa nàng đi vượt biển năm xưa…Viên Chi hối hận mong được sống lại với Hữu nhưng Hữu quyết tâm từ chối, chàng không thể làm một việc trái lương tâm để phá hạnh phúc người khác dù rằng hiện tại là kẻ đã cướp đi lẽ sống của đời chàng. Hữu khuyên Viên Chi trở về với chồng và các con, cố gắng chăm sóc các con chàng và nếu được hãy giao chúng cho chàng nuôi.

Tám năm dài lặng lẽ trôi qua, nơi đất khách quê người đã buồn Hữu lại càng buồn thêm. Chàng quyết định một chuyến về thăm quê hương, thăm cha mẹ. Chưa đi thì đã được tin mẹ mất ! Hữu cầm tờ điện tín trong tay mà chết lặng hồi lâu, tám năm dài vết thương tình còn đang rỉ máu chưa lành, giờ nhận thêm một vết chém ngang đầu ! Mẹ mất là chàng mất tất cả rồi, bầu trời hoa gấm thương yêu bao năm chàng ấp ủ  ngày gặp lại, giờ chỉ còn trong ảo ảnh mà thôi ! Hữu tưởng như mình không còn khóc được nữa, nỗi đau đến tê liệt óc tim chàng. Đôi mắt Hữu hoa lên và chàng cảm thấy tối đen cả mặt mày…chứng bệnh tim đã trở lại với Hữu  sau quá nhiều giai đoạn thương tâm của cuộc đời chàng !

Dù sao cũng phải về thăm mộ me, thăm cha già tuổi đã bát tuần, thăm hai đưÙa con gái thân yêu còn ở quê nhà tuy chàng đã làm giấy tờ bão lãnh từ lâu nhưng vẫn chưa được đoàn tụ. Hữu cũng làm giấy tờ bãọ cha sau khi mẹ mất, cha chàng học rộng biết nhiều hẵn ông rất vui lòng theo chàng đến Mỹ.Nhưng Hữu có ngờ đâu cha từ chối không đi, cha yêu thương mảnh đất quê hương, cha không muốn rời xa nơi chôn nhau cắt rốn…

Từ phi trường San Francisco Hữu đã thấy nôn nao trong dạ, chỉ hai mươi giờ nữa thôi Hữu có mặt trong mái ấm thân yêu bao năm xa cách dù biết rằng lòng đau như cắt khi hình ảnh mẹ chỉ còn trên bia đá mà thôi !

Sau một tháng về thăm quê Hữu quen với Loan, cô giáo dạy cắt may của hai đứa con gái chàng. Loan nhanh nhẹn bặt thiệp và đã đặt tình cảm tha thiết với Hữu, với hy vọng được đi Mỹ như bao người đàn bà khác…Hữu bây giờ còn có gì rung động được trái tim bởi không bao giờ chàng quên hình ảnh Viên Chi tuy nàng đã phản bội chàng ! Thời gian trở về Mỹ Hữu đã quên Loan dễ dàng, lăn bổ vào cuộc sống như cái máy mà mọi người nơi đây ai cũng phải chấp nhận. Một hôm Hữu nhận được thư cha gửi qua, ôngkhen lấy khen để cô Loan và ngỏ ý muốn Hữu cưới cô làm vợ để có người chăm sóc cho ông khi đứa em gái của chàng cũng sắp đi Mỹ với diện con bão lãnh. Hữu lặng im không trả lời thư cha về việc đó mà chỉ thăm hỏi sức khỏe cha mà thôi…

Ngày hai con đến Mỹ Hữu thấy cuộc sống có thêm sinh khí, chàng vui hơn xưa và đồng ý với hoàn cảnh gà trống nuôi con mặc dù cũng có nhiều cô, nhiều bà muốn xây dựng gia đình với Hữu. Một năm sau đó em gái chàng cũng đến Mỹ và theo lời năn nỉ, nhờ vả của Loan cũng như nhìn thấy Loan tử tế với cha, em gái chàng cũng vì muốn có người chăm sóc cho cha nên khuyên anh mình về Việt Nam cưới Loan…vì chữ hiếu Hữu đã bay ngay về sau đó một tuần tổ chức đám cưới với Thụy Loan. Hữu cũng bày tỏ cho Loan biết về ý định của chàng là Loan sẽ không đi Mỹ và mỗi năm Hữu về một lần, Loan đồng ý và sống riêng nơi tiệm may, hàng ngày về thăm cha chồng, cha chàng thì hiện sống với đứa cháu gái trong căn nhà của ông.

Một ngày nọ Loan gọi phone qua Mỹ nửa đêm, bảo Hữu phải đuổi vợ chồng đứa cháu gái ra khỏi nhà vì bảo rằng thằng cháu rể hỗn với ông ngoại. Hữu không hiểu hư thực thế nào nên cho Loan tự giải quyết. Loan đã đuổi vợ chồng đứa cháu với lý do lệnh của cậu 5 ( Hữu). Một tháng sau đó, cha Hữu gọi qua than thở về sự cư xử tệ bạc của con dâu. Loan bỏ nhà đi ngày đêm không lo lắng cơm nước cho ông lại còn hỗn xược mắng nhiếc ông với những ngôn từ thậm tệ, ông buồn đâm ra bệnh nặng. Loan xúi ông đưa hết giấy tờ nhà sang tên qua cho cô ta và lấy tiền của ông xài phí…Thời gian sau em gái Hữu sốt ruột thương con không nhà cửa sống vất vả lang thang nên bay về Việt Nam cho rõ sự tình. Em gái Hữu đau buồn trước cảnh không ngờ, Loan đã bỏ nhà đi hai tuần lễ bỏ mặc cha Hữu đói khát chẳng ai lo chỉ nhờ chút nào vào sự giúp đỡ của hàng xóm, ông chỉ còn xương bọc da nằm liệt trên giường ! nếu em gái Hữu không về kịp chắc gì còn gặp được cha…đã thế trong nhà không còn một món gì ? cô Loan dọn sạch sẽ đồ đạc quý giá cho đến những thứ thường dùng của cha Hữu…vợ chồng đứa cháu ở nhờ chỗ nầy, ở tạm chỗ kia, muỗi cắn nát tay chân, nửa đêm còn phải ẵm con ngồi ngoài cột đèn điện chờ quán caphê khách về hết mới vào ngủ nhờ ngoài hiên…có đêm ngủ nhờ nhà bạn nghèo không có giường, trải chiếu nằm dưới đất, nửa đêm mưa lớn hai vợ chồng và đứa con nhỏ nằm trên vũng nước. Ba tháng sau vì bị muỗi độc chích nhiều đứa bé bị nhiễm Siêu vi B tình trạng rất nguy hiểm !

Em gái Hữu hận thù đi tìm Loan nhưng cô ta đã trốn biệt tăm, lo cho cha lành mạnh cô em trở về Mỹ cho Hữu biết nội tình. Hữu căm giận và ly hôn từ đó…

Lại một vết thương lòng tuy muộn màng nhưng vẫn không thiếu xót xa, bởi Hữu nào có yêu Loan chẳng qua vì chữ hiếu chàng phải hy sinh cái công hàm độc thân mà bấy lâu nay chàng cố gìn giữ. Nhìn lại mình, tóc đã bạc, 50 tuổi chưa tìm được chốn an thân, tình đời nghĩ ra càng ngao ngán. Nơi chốn phồn hoa vật chất nầy chàng thấy cô độc và cô độc lạ lùng bởi biết còn tin ai nữa, sợ những người đàn bà trên đầt Mỹ để rồi gặp phải kẻ ác tâm nơi đất mẹ ! Buồn như chưa bao giờ buồn, chán như chưa bao giờ chán, các con chàng lần lượt lập gia đình theo chồng đi xa., Hữu trở về cuộc sống độc thân nơi xứ người với tâm hồn sỏi đá lạnh băng như tuyết mỗi chiều rơi rơi tản mạn trên những đồi núi xa xa…một màu trắng bạc như vôi chẳng khác chi lòng dạ con người ?…

Nắng đã tắt trên đồi cây ngọn cỏ, bóng hoàng hôn đang dần chiếm không gian…Hữu quên hết thời gian quanh mình chỉ còn một nhận thức duy nhất là chàng đang sống trên đất Mỹ, thế giới của xa hoa, giàu có và hiện đại…nhưng chẳng có được những tình cảm yêu thương, đùm bọc nhau như chốn quê nhà, nơi đó, mẹ hiền đang nằm lặng yên trong giấc ngủ nghìn thu…nơi đó có người cha thân yêu gầy còm, khập khểnh từng chiều ngồi trông ngóng tin con nơi vạn lý xa xôi !

Hữu chợt rùng mình ứa nước mắt, phần vì khí trời buốt lạnh đêm nay, phần vì lo cho cha đang lâm trọng bệnh nơi quê nhà, không biết qua khỏi hay không ? Nghĩ điều đó Hữu lo sợ vì tuổi cha đã cao, chàng đứng phắt dậy nhìn xuyên qua đại dương để mong hình dung ra dáng cha già và mái nhà thân yêu cũ…nhưng chàng có thấy gì đâu ? bát ngát một màu mây trắng đục ẩn hiện trên những đồi núi ngút ngàn xa tắp chân trời ! xa quá cha ơi…cả một nửa địa cầu con biết phải làm sao săn sóc cho cha, con chỉ còn biết cầu xin nơi đấng thiêng liêng ban phép nhiệm màu cho cha lành mạnh và con sẽ về thăm cha một ngày thật gần…

Chàng lủi thủi bước lại chiếc xe, mở cửa bước lên rồ máy rồi lại bước xuống nhìn chiếc xe. Sang trọng quá, lịch sự quá! Có ai biết cho rằng người ngồi trong chiếc xe này đang chua chát từng cơn cho những bất hạnh của đời mình…

           

 Nguyễnphanngọcan – California 




Nguyễn Phan Ngọc An : BAO LA TÌNH MẸ

BAO  LA TÌNH MẸ

                    Tâm bút : Nguyễn Phan Ngọc An

 

Trong vũ trụ có lắm kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt xảo nhất vẫn là trái tim người mẹ …

 

Trời mùa thu nơi xứ người sao mà âm u quá, tôi liên tưởng đến quê hương mình mà thương mà nhớ ngập lòng … Mười chín năm xa cách quê nhà, dẫu có vài lần về thăm nhưng chỉ còn là nỗi đau thầm lặng trong tôi, nhìn mái nhà xưa, nhìn di ảnh Mẹ Cha trái tim tôi như trào lên niềm u uất, nước mắt tôi tuôn rơi làm nhạt nhòa mọi vật xung quanh !

 

Rồi tôi lại lặng lẽ ra đi, trở lại phương trời viễn xứ để vật lộn với cuộc sống gian nan, mà người ta thường bảo là “ Ai đến Mỹ cũng thành tuổi Sửu” … Thực tế là như vậy, mười chín năm lăn lóc xứ người, tôi chưa hề có giấc ngủ trưa mà không chỉ riêng tôi, tất cả mọi người đều như thế, cuộc sống nơi đây như cái máy, cày như trâu cày ruộng mà cũng chẳng có dư với cái nợ bill hàng tháng chất chồng – Nước Mỹ đang thời kỳ suy sụp tận cùng, người thất nghiệp lên tới con số khổng lồ chưa bao giờ có, chính phủ cũng đành bó tay trước đại nạn này, bởi vậy, các bạn ơi, Hoa Kỳ không là thiên đường như mọi người ca tụng đâu, những người có đủ khả năng kinh tế học thành tài như Bác Sĩ, Kỹ Sư, Doanh Gia thì sung sướng đấy, còn ngược lại nửa nạc nửa mở học hành chẳng tới đâu thì vất vả vô cùng mà có lẽ số người vào hàng này thì đông vô kể …trong số đó có tôi.

 

Con người khi đến tuổi về già thường hay suy nghĩ vẩn vơ, nỗi buồn thường xâm chiếm bất ngờ … như tôi đây, gần sáu bó rồi còn gì ! Thật khủng khiếp, mới hồi nào mất nước có tí tẹo tuổi đời mà bây giờ … ghê quá, bằng tuổi cha mẹ khi xưa – Con đường về La Mã cũng cận kề, cuộc sống này như áng phù vân, thời gian trôi vùn vụt chẳng chờ chẳng đợi một ai, có tiếc nuối cái thuở xuân hồng cũng chỉ là ảo vọng mà thôi, tóc sẽ bạc, răng sẽ rụng dần và xác thân chờ ngày về nuôi cây cỏ – Con người sống với nhau bằng một chữ Tâm, để khi nằm xuống vẫn còn được thương tiếc nhắc nhở phải không các bạn, ngày xưa khi Cha Mẹ tôi còn sống thường hay khuyên nhủ điều này, tôi cũng cố gắng để sống sao cho không thẹn với lòng mình, dẫu đời nhiều vị kỷ, lắm bon chen nhưng ta hãy nhìn đời bằng cắp mắt lạc quan, thanh thản và hãy sống thật tốt đẹp cho Mẹ chúng ta vui dẫu Mẹ còn hay đã mất bởi vì Mẹ là kỳ quan tuyệt xảo nhất trần gian bạn ạ .

 

Tôi nhớ lại khi xưa, ngày tôi còn rất nhỏ, mỗi lần có các cháu của Mẹ tôi từ Bình Long xuống chơi là Mẹ hay làm món chả trứng đánh chung mắm ruốc, Mẹ tôi cho gia vị thế nào mà ngon quá, trứng và mắm ruốc tan lẫn vào nhau phát ra mùi thơm nồng, lớp trên mặt chả một màu vàng ửng thấy mà thèm … Mẹ tôi cho ăn chung với dưa leo sắt lát hơi dày, cháu Dưỡng của Mẹ mỗi bữa ăn tám chén cơm tưởng chừng bể bụng mà vẫn còn muốn ăn nữa cái món hấp dẫn này – Hai mươi mốt năm nay từ khi Mẹ mất tôi không còn được thưởng thức nơi nào làm ngon như Mẹ đã làm, chính tôi đã tự làm mà cũng chả giống ai cả, ăn món này tôi càng thèm càng nhớ lại nhớ Mẹ mình mà đau mà tủi thôi !

 

Mẹ tôi làm nhiều món ăn mà mãi đến bây giờ tôi vẫn không học được, có lẽ tôi vụng về nấu nướng hay vì Mẹ có biệt tài … Tôi rất thích món canh bún tàu nấu với lòng gà, ôi chao ngon tuyệt – Nó đậm đà làm sao ấy, bún tàu thật dai và trắng phau, lòng gà thì đủ loại tim, gan, cật, trứng non, mề … trên mặt tô canh bún tàu lòng gà loáng thoáng màu mở hành phi và rau ngò gai với rau răm sắt nhỏ, trông hấp dẫn và khi ăn vào càng mê ly bởi vị ngọt và đậm đà của tô canh ấy, cho đến nay tôi cũng chưa bao giờ ăn được tô canh bún tàu lòng gà có mùi vị thơm ngon như Mẹ tôi nấu ngày xưa tuy rằng tôi đã đi ăn nhiều nhà hàng để mong tìm lại hương vị thuở xa xưa của gia đình.

 

Chúng ta có những người Mẹ tuyệt vời nhưng tất cả chúng ta đều thờ ơ khi Mẹ còn sống, điều đó đã làm bao con tim nức nở vào những ngày lễ Vu Lan, Lễ Mẹ và vào cả những đêm buồn thao thức trở trăn ! Mẹ là nguồn suối mát che chở bảo bọc ta, Mẹ là ánh sáng pha lê trong suốt hướng dẫn ta trên con đường vạn nẻo chông gai, mất Mẹ rồi mới thấy tiếc nuối vô vàn, những ai còn Mẹ là diễm phúc cuộc đời, là niềm vui bất tận đó bạn ơi, hãy làm bất cứ mọi điều cho Mẹ vui, Mẹ sống thêm với chúng ta bởi mất Mẹ là mất cả bầu trời dịu ngọt, cô đơn buồn tủi sẽ vây chặt chúng ta trong mỏi mòn bạn ạ !

 

Ngày xưa trong vòng tay Mẹ ấm êm, những khi tôi bị cảm Mẹ nấu cháo cảm cho tôi ăn là tôi hết bệnh ngay, Mẹ nấu cháo thật nhừ và thật sôi trên bếp, Mẹ tôi đập sẳn hai lòng đỏ trứng gà, sắt nhuyển thật nhiều củ hành ta, rắc thật nhiều tiêu xay, một chút nước mắm nhỉ vào một cái tô, xong Mẹ tôi múc cháo đang sôi trên bếp đổ vào tô trộn đều cho tôi ăn ngay lập tức, tôi vừa ăn vừa thổi vừa xuýt xoa vì vị cay nồng của tiêu và hành sống, chỉ hai lần ăn như thế là tôi hết cảm ngay, quả là liều thuốc tiên Mẹ đã cho tôi, suốt đời tôi không quên được – Bây giờ ở xứ phù hoa này, mỗi mùa thu đến là cảm cúm bao vây hành hạ, tôi uống bao nhiêu thuốc cũng không khỏi, ăn bao nhiêu tô cháo cũng không lành bởi nào có được tô cháo cảm như Mẹ nấu cho ăn, vì bệnh mà còn phải xuống bếp tự nấu cháo mà ăn, mệt nhừ người ra thì còn nấu ra hồn gì nữa !

 

Mẹ ơi – Viết những dòng này con nhớ Mẹ vô vàn, Mẹ là người Mẹ đáng kính, đáng yêu, Mẹ đảm đang mọi bề, Mẹ lại có cái Tâm cội phúc – Con nhớ mãi mỗi lần có kẻ ăn xin đến cửa nhà, không có tiền thì Mẹ mang gạo ra cho, không bao giờ Mẹ để họ đi với lòng thất vọng, biết bao nhiêu lần như thế từ khi con lên ba và nhìn thấy cử chỉ đáng yêu của Mẹ, tấm lòng của Mẹ dành cho người nghèo khổ hơn mình, Mẹ còn ăn chay trường từ khi con lên ba tuổi con biết được hàng ngày Mẹ chỉ ăn đậu hủ kho tương với xì dầu chay … con chưa hề thấy Mẹ ăn một miếng thịt miếng cá nào, vậy mà ngày cúng giỗ hay ngày có tiệc khoãn đãi người thân Mẹ làm món tiết canh tuyệt vời ngon…Cho đến bây giờ món tiết canh của Mẹ làm vẫn là niềm thèm thuồng trong lòng anh em con mỗi khi nhắc tới món tiết canh vịt của Mẹ làm khi xưa – Con còn nhớ Mẹ bằm xương vịt, cánh vịt, cổ vịt đến nhuyển nhừ bằm chung rau răm cũng nhiều, Mẹ đánh tiết vịt tài ghê khi cho tiết lên đĩa thịt băm tiết đong liền và Mẹ sắp lên mặt tiết từng loạt lòng vịt sắt mỏng, Mẹ rải đậu phọng rang đâm lên mặt lòng, khi ăn Mẹ nướng bánh tráng thật dòn và chén nước mắm nhỉ cùng chanh sắt sẳn để trên bàn, ai muốn ăn bánh tráng chung thì ăn, không thì ăn chỉ tiết canh – Bây giờ nói đến tiết canh con thèm quá, bởi Mẹ làm vừa thơm vừa ngon, con rất sợ máu nhưng Mẹ làm con ăn ngon lành không thấy ghê sợ vì tiết đậm màu xuống không đỏ choẹt như màu máu, có lẽ khi hãm tiết Mẹ có cách nào đó mà mãi đến nay con chẳng hiểu được cái bí quyết đó Mẹ ơi …

Tôi đã mấy lần đến tiệm tiết canh tại San Jose ăn thử xem ra sao, kêu thêm lòng và thịt vịt thì không có mà tiết thì để cả thau đầy – Ðĩa tiết canh hôi mùi máu tanh tanh, chẳng có thịt bằm chỉ toàn là tiết và rải lưa thưa mấy lát gan mề, rau răm mấy cọng để trên dĩa riêng, vài hột đậu phọng giả sẳn để riêng … Tôi ngạc nhiên hỏi sao thịt vịt lòng vịt không còn mà tiết lại nhiều thế, có phải đây là tiết heo không ? Người bán hàng lọng cọng không trả lời, bảo tôi hỏi chủ chứ bà ta không biết, tôi nghi ngờ trong bụng từ đấy và không bao giờ đến tiệm ăn tiết canh nữa bởi đã không ngon mà lại còn gian xảo, dù vậy tôi cũng không tỏ thái độ gì khi ra về để giữ lịch sự cho họ làm ăn, ngay đến bây giờ tôi viết lên câu chuyện này cũng với mục đích tiếc nuối món tiết canh của Mẹ tôi mà thôi !

 

Thời gian vùn vụt trôi qua, khi tôi đã ra đời gian nan nếm đủ thì Mẹ cũng ra đi, Mẹ bỏ tôi quá sớm, trong khi có nhiều người 70 tuổi vẫn còn Mẹ, tôi chỉ ngoài ba mươi đã mất Mẹ rồi ! Hai mươi mốt năm dài trong cô đơn xuôi ngược, hình bóng mẹ luôn là niềm an ủi vô cùng trong tôi, ngày xưa tôi được Mẹ dìu dắt tôi trở thành phật tử, biết ăn chay cầu kinh tụng niệm, biết làm điều phước thiện biết thương yêu giúp đỡ mọi người xung quanh cũng nhờ vào đức tính nhân hậu của Mẹ tôi, trong lòng tôi luôn mang hoài bão được làm những việc từ thiện, chỉ tiếc rằng tôi có tấm lòng nhưng trời chưa đãi ngộ nên cái kiếp nghèo cứ đeo đẳng không buông tha – Tôi tự hứa với lòng không làm điều thất đức, đồng tiền làm ra bằng mồ hôi nước mắt mới có giá trị tồn tại, những kẻ gian manh kiếm tiền bằng hành vi tội lỗi nhuốc nhơ thì đồng tiền ấy có đem ra giúp ai thì chỉ làm thêm tội lỗi gạt người và sẽ không tồn tại với thời gian.

 

Tôi vẫn không quên những ngày chiến tranh khốc liệt vào gần cuối tháng 4 – 1975 – Trưa hôm 28-4-75 trận chiến có mòi nặng nề hơn, đạn pháo kích đã nổ dòn tại thành phố tôi sinh sống, dường như người trúng đạn cũng đã nhiều, gia đình tôi cũng như mọi người xung quanh xóm, khóa cửa trốn chạy sang Vũng Tàu lánh nạn … Mẹ tôi ở lại sau cùng để khóa cửa lấy ít thứ cần dùng nên cuối cùng thất lạc Mẹ ! Trên đường chạy loạn bằng đường bộ trên 20 cây số, người chật ních cả đường lộ, mấy cha con anh em tôi phải chạy theo đoàn người tỵ nạn ngay đành bỏ lại Mẹ thân yêu không biết sống chết lẽ nào ? Ðây là một ngày kinh khủng trong đời tôi, đạn pháo kích của quân đội gọi là Giải Phóng Miền Nam cứ tuôn xối xả xuống lòng đường, nơi dân lành chạy loạn – Trước mặt tôi một chiếc xe Honda trúng đạn pháo, trên xe có 4 người, hai vợ chồng hai đứa con nhỏ – Người chồng và hai con chết liền tại chỗ, xương thịt văng khắp nơi, người vợ bị thương, lúc ấy tình thế nguy ngập ai cũng phải chạy qua không thể ngừng lại giúp nhau được, hốn vía ai cũng bay cả lên trời không biết viên đạn pháo lúc nào rơi trúng mình nên tôi cũng chạy bạt mạng không nhìn được người trúng đạn là ai, nào ngờ sau 2 tuần chạy loạn trở về nhà tôi mới biết đó là vợ chồng cô bạn ờ cách nhà tôi hai căn, cô ấy là bạn hàng xóm, nay đầu quấn khăn tang mỏi mòn trong đau khổ …

Chưa hết đâu, một tai nạn thương tâm trong ngày chạy loạn mà khi đến Vũng Tàu tôi mới được biết hung tin – Gia đình bạn thân của tôi, chị Minh Châu đang ở Sài Gòn với chồng con nên thoát nạn, trên đường chạy loạn Ba Má và anh em của chị Minh Châu tấp vào một căn nhà có hầm trú ẩn tại Rạch Dừa … nhà quen nhưng gia đình họ đã bỏ chạy không còn một ai ở nhà, thế là Ba Má và anh em chị Minh Châu vào núp cả trong hầm trú ẩn – Một trái pháo rơi ngay miệng hầm làm tám người thiệt mạng, bốn người bị thương nặng, tất cả là người ruột thịt của chị Minh Châu – Một hung tin đến lạnh người trong ngày chạy loạn, xương máu chất chồng thêm trên mảnh đất quê hương, biết bao gia đình tan nát thê lương, biết bao cuộc đời trôi nổi lầm than vì chiến tranh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn !

Cũng chưa yên, cha con anh em tôi vừa đặt chân đến Vũng Tàu, chưa kịp nghỉ ngơi trong căn nhà của chị dâu thì bỗng nghe một loạt súng nổ hơn chục tiếng gần sát bên nhà – Tôi hoảng hốt cùng anh chị chạy qua chổ nổ súng thì mới tỏ tường, mười một xác người nằm chết đủ kiểu, kẻ thì đang ôm mặt, người thì đang chui vào gầm giường, kẻ thì đang chạy miếng há to, người thì đang sụp lạy … Ôi, một thảm cảnh đau lòng, gia đình một Thượng Sĩ QLVNCH, ông đã bắn chết mười người thân yêu rồi quay súng bắn vào mình tự sát – Mười một người chết nằm ngồi đủ kiểu, thì ra họ là người chạy từ Bắc vào Nam, nay không còn ngỏ chạy nên giết chết cả gia đình gồm bà chị ruột, vợ chồng và tám đứa con –

Tôi lảo đảo chạy về nhà bà chị dâu nằm vật xuống – Trời ơi, chỉ trong một ngày tôi chứng kiến ba gia đình chết thảm, nỗi oan khiên của người dân Việt đất trời có thấu chăng, máu đã chảy thành sông, xương phơi thành núi …

 

Nghĩ đến mà đau dân tộc tôi

Điêu linh tang tóc lệ đầy vơi

Ai đem xương trắng phơi thành núi

Máu đỏ thành sông … hận ngút trời

 

Sau ngày tang tóc miền Nam 30-4-75, toàn bộ sĩ quan QLVNCH bị lệnh tập trung cải tạo, gia đình tôi có ba người phải thi hành lệnh tập trung cải tạo – Anh trai tôi, chồng tôi và em trai tôi – Mỗi người bị tù một nơi, hàng tháng khi nào tôi không lên thăm thường xuyên ông chồng được thì gửi quà qua bưu điện, còn anh trai thì thỉnh thoảng tôi cùng Mẹ tôi gồng gánh đi thăm nuôi, em trai tôi cũng vậy – Gia đình tôi thuộc thành phần không may mắn trong chế độ mới nên mọi sự đều nan giải khó khăn – Các con tôi còn nhỏ phải vất vả phụ tôi trong cuộc sống chưa quen, nhìn chúng mà lòng tôi quặn thắt từng cơn…Mỗi kỳ đi thăm anh trai, em trai hay chồng tôi Mẹ tôi luôn làm món mắm ruốc xào với thịt ba chỉ, xã bằm và các món gia vị gì đó mà Mẹ làm rất thơm ngon để lâu không hư hay thiu gì cả – Mẹ tôi mua mắm ruốc nổi tiếng của Bà Giáo Thảo, Mẹ sắt thịt ba chỉ mỏng rồi trộn lẫn gia vị đường, tiêu, hành, tỏi, muối … tôi cũng không rành nữa, Mẹ ướp một giờ đồng hồ xong đem xào chung với mắm ruốc đã lọc lại thật kỹ sau khi đã cho dầu vào chảo thật nóng. Món ăn này đem thăm nuôi người tù rất tốt vì để được lâu, hồi đó anh trai tôi mê món này của Mẹ nên không thèm về để ở tù đến trọn tám năm mới chịu ra về – Rồi thì tất cả cũng là định mệnh, anh trai tôi, chồng tôi và em trai tôi cũng lần lượt vượt biển tìm đất sống sau thời gian được ra tù – Mẹ tôi mất và rồi Cha tôi cũng mất, anh em tôi đau đớn nơi đất lạ quê người, tôi còn may mắn nhìn được Mẹ lần cuối cùng và tiễn Mẹ đến nơi an nghỉ nghìn thu ! Cha tôi buồn bã và mười năm sau cũng từ giã cõi đời, chúng tôi thành những đứa con không còn Cha Mẹ, không còn tình thương yêu vô bờ bến của Mẹ Cha, anh em tôi nương tựa nhau mà sống nổi trôi nơi đất tạm dung, tôi may mắn có người anh trai quá xứng đáng đã lo lắng bảo bọc chu toàn cho mẹ con tôi, bầu trời Cali vẫn còn nồng ấm tình người và tôi đang có nhiều hy vọng trong tương lai…

 

Mẹ ơi – Ðêm nay nơi xứ Cali lạnh buồn con nhớ Mẹ, hai mươi mốt năm dài Mẹ nằm yên trong huyệt lạnh, thân xác Mẹ đã thành tro bụi hòa cùng với thiên nhiên cây cỏ, còn con gái của Mẹ nay đã thành bà nội, bà ngoại, với cái tuổi này con không còn mơ mộng yêu đời như xưa nữa, cuộc sống con với cái nghề đạm bạc, con sống bình yên không đua đòi, không ăn chơi bay nhảy, xin Mẹ yên lòng nơi cõi nghìn thu rằng con của Mẹ tuy sống độc thân nhưng vẫn luôn giữ tròn đạo hạnh, con của Mẹ chỉ cầu mong Cha Mẹ phù hộ cho anh em con và các cháu của Cha Mẹ được bình an và may mắn trong cuộc đời đầy bão táp phong ba này, hầu mong một ngày trở lại quê hương thắp nén hương thơm lên mộ phần Cha Mẹ.

 

Mùa thu nơi Cali là mùa đáng sợ nhất, bởi nó vừa buồn lại vừa mang tật bệnh đến cho con người – Một buổi họp mặt bạn bè tôi gọi mời chỉ khoảng 25 người mà đã đến 8 người đang bị cảm cúm – Rồi không hiểu tại sao sau buổi họp mặt về tôi cũng bị cảm cúm luôn, đến nay vẫn chưa khỏi – Hết nhảy mũi đến cảm cúm, con người cư ngụ trong thung lũng chắc là không mấy tốt, không khí và những chất thải của hóa chất hãng xưởng cùng bông hoa cứ lẩn quẩn không thoát được, ai cư ngụ miền Bắc Cali đều không tránh khỏi bị phiền toái cho sức khỏe quá nhiều – Mong bình yên trên quê hương Việt Nam để chúng ta có ngày đoàn tụ trên đất Mẹ thân yêu muôn thuở.

 

Nguyễn phan ngọc an – San Jose




Mầu Hoa Khế : Ông Tư Đờn

Ông Tư Đờn

  • Có một chuyện cứ để nằm trong bụng , lâu lâu lại thấy như có lỗi với người ta vậy đó. Dễ chừng đã hai mươi lăm năm, nhớ hồi dẫn con Cà Na đi vượt biên nó mới hai tuổi đui. Hai má con theo sự sắp đặt của mấy người tổ chức. Chạng vạng cở đâu sáu bảy giờ tối, có chiếc xe Honda chạy xề tới nhà, người đàn ông mặt mày lạ hoắc bước vô nhà lấm la lấm lét như đi ăn trộm đưa ra tờ giấy xếp tư được nhét sâu trong túi quần. Tôi đọc thì mới hay là phải đi theo người này tới chỗ "ém gà "là địa điểm của một căn nhà trong đường giây tổ chức vượt biên, đặng khuya lên "taxi" là cái thuyền máy nhỏ, ém cở mười người để đưa ra thuyền lớn đang đậu núp ở một cái góc khuất nào đã được ăn chia với công an địa phương. Hai giỏ đồ được chuẩn bị cả tuần lễ trước, gồm mấy bộ đồ, ít lương khô, con Cà Na còn nhỏ nên mua thêm một ống sửa giống như ống kem đánh răng, rủi khi lên tàu nó có đói thì nặn ra cho có chút chất bổ dưỡng. Quan trọng là phải có thêm cái áo ấm dày, chứ trên biển cả làm gì có lửa củi mà hơ. Tôi bồng con Cà Na trên tay, con nhỏ ngơ ngơ hai mắt tròn đen tưởng má bồng đi chơi, nó đâu biết từ giây phút này hai má con đang giao số phận cho ông trời định đoạt. Bà ngoại con Cà Na rưng rưng nước mắt, còn ông ngoại nó quay ngoắt lưng để che giấu sự xúc động mãnh liệt ,bởi tôi nhìn cái bờ lưng ốm nhách của ông già như đang run rẩy .Tôi bồng con mạnh dạn đi bương ra cửa leo lên xe HonDa của người ta mà mắt không dám nhìn ngoái vô nhà, mà có nhìn vô chắc tôi cũng chẳng thấy gì bị nước mắt đã oà ra như mưa . Tới điểm hẹn , thì có người đàn bà ra dấu bảo đi theo sau bằng khoảng cách xa xa, bả làm người tốt xách dùm hai giỏ đồ mà tôi đã để hết tâm trí lo lắng. Nào là mang cái này hay mang cái kia, thêm cái này, bớt cái nọ . Vậy mà ác nhơn hết sức, khi tôi xuống cái ghe nhỏ thấy có thêm tám người nữa ngồi sẵn ở đó. Thì con mẹ lách mình ở ngõ nào đem theo luôn hai giỏ đồ sinh tử của tôi. Tôi sững sờ có miệng cũng không nói ra lời, nghẹn đắng họng, đắng hầu. Người đi cùng chuyến cũng lặng câm, ai nấy đều có chung một sự lo lắng không biết phong hiểm ra sao, nhưng tâm sự thì mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau nên cứ ngồi im mà ôn lại những gì đã có, đã qua trước giờ phút chia ly. Trời tối thật mau, tội con Cà Na không có chi ăn nằm trong lòng tôi khóc rấm rức, tôi thấy con khóc muốn đứt ruột rồi còn bị người cùng đi trừng mắt, khó chịu . Tôi thiệt là không biết kêu đâu cho thấu, chỉ biết ôm con dỗ sao cho mau nín , mà nó đói quá thì cũng lã người ra ngủ trên tay tôi . Chiếc ghe máy đi độ mấy tiếng thì ra tới sông Thủ Thiêm, chỉ chừng mười giờ đêm nhưng trên sông mênh mông thì thấy tối thui. Đang chạy ngon lành, trên ghe ai nấy cũng còn im thích chưa ai nói gì với nhau thì bỗng đâu nghe tiếng súng nổ, ban đầu nghe chừng ba phát, sau nghe thêm đùng đùng như đang tới gần chiếc ghe. Trên ghe bắt đầu hổn loạn, tôi nghe cái cậu trẻ lái ghe nói . – Chết mẹ rồi, công an tới rồi. Cả ghe nhốn nháo tròng trành như muốn lật nhào úp xuống nước, tôi quá hãi hùng càng ôm con chặt hơn. Tiếng cậu lái ghe lớn hơn giữa trời lồng lộng gió: – Bà con nghe tui , tui lủi vô chỗ cạn ai nấy nhanh chân nhảy xuống nhớ núp xuống xình nghen. Miệng chưa dứt câu cái ghe đã là là vô cái đám xình lau sậy ven sông. Trời tối không ai nhìn ra mặt ai, mọi người nhảy tủm xuống nước biến mất trong bóng đêm. Trên ghe chỉ còn hai má con tôi, thêm một ông già và một cô gái. Vừa lúc thuyền công an trờ tới bắc loa gọi bằng cái giọng bắc 75 đanh thép: – Mấy người bên kia bước ra lên thuyền mau. Vừa gọi vừa rọi đèn pha, họ thòng cho cái ván, cũng may khoảng cách gần xịch nên tôi ôm con bước lên không mấy khó khăn. Họ đưa vô một căn nhà giữa đồng không mông quạnh . Khi tới nơi thì tôi mới biết nơi đây đã có một số người cùng chung số phận với má con tôi. Cái đám người bắt chúng tôi nói có gì trong người phải nộp sạch . Cứ giống như mấy cuốn phim kiếm hiệp tôi coi trước đây là gặp phải bọn thảo khấu. Ai nấy đều lột ra hết bỏ trong cái nón lá .Còn tôi cái lá gan cũng to, dấu hai chỉ vàng cột trong đuôi tóc nhất định không lấy ra, ngẫm nghĩ nếu họ tìm thấy thì cứ giả ngu giả khờ kiểu Tôn Tẩn giả điên cho qua phà . Qua một đêm họ gọi là "mần việc", sáng ra họ chở tới bến đò đưa ra trại giam ở Cần Giờ . Trên chuyến đò chúng tôi khoảng hai mươi người được 4 người công an đi theo canh giữ. Cùng đi trên tàu cũng có những người thường dân đi buôn bán. Họ thấy con Cà Na khóc vì đói nên có người hảo tâm cho nó cái bánh ú, tôi phải mâm mâm rồi đút cho con, hai tuổi mà ăn bánh ú dễ mắc nghẹn như chơi . Cả nhóm bị nhốt ở Cần Giờ mười ngày, thì nghe đâu tổ chức bỏ vàng ra xin chuộc, bị tôi đi cũng đã đón
    g trước 3 cây vàng, chờ tới đảo hay đâu đó thì đưa tiếp 3 cây vàng nữa . Ở tù thì ai mà chẳng biết nó cơ khổ tới mức nào, cũng nhờ có con nên tôi được châm chế cho mấy chuyện gọi là lao động . Nhà tù chưa xây cất thêm, nên nhóm người vượt biên được lùa chung ở một góc trại, chỉ có mái che chứ chung quanh trống rốc. Đêm trong tù lạnh lẽo, muỗi mòng, ai thấy con bé nhà tôi cũng thương, họ cho mượn cái khăn quấn kẻo bị muỗi cắn. Còn tôi thức trắng mấy đêm nằm đập muỗi cho con, phần lạnh buốt da không sao ngủ được . Có bà cụ cho mượn bộ đồ để thay , chứ đã năm ngày không tắm rữa hôi hám như ăn mày. Còn con Cà Na, thì có cái khăn quấn, nên hai Má con mang hai bộ đồ đi xã nước lạnh câu từ cái giếng nhỏ, chỉ có nước lên vào buổi sáng chứ tới trưa là cạn queo rồi mang ra phơi ở hàng rào kẽm gai để có mà thay đổi . Suốt mười ngày trong trại tù ở Cần Giờ, con Cà Na dễ thương hay không biết má nó dễ thương mà nó ngày được trái chuối, ngày được củ khoai. Lúc đi lấy cơm tù phần cơm cũng nhiều hơn người khác. Tối tối được nghe một người tù hát cải lương, hát hay như Út Trà Ôn nên ông trưởng trại tù cũng nghiền nghe. Sau mười ngày cam khổ, cả nhóm vượt biên được thả ra cùng một lúc, một số người có người nhà đến đón. Lúc này thì tôi mới biết là cùng một đường giây tổ chức. Hai má con được thả ra khỏi trại giam vào lúc 5 giờ chiều, bơ vơ nơi đất Cần Giờ, có hai chỉ vàng mà đâu dám lấy ra bán sợ này sợ nọ. Cũng may mắn số người được ra cùng ngày họ có gì thì đưa hết cho tôi, trong giỏ đồ có ít bánh. Tôi nghĩ thôi đêm nay ra sạp chợ ngủ đại một tối, bị sáng sớm mới có chuyến tàu về Vũng Tàu vào lúc 6 giờ sáng. Đang lúc bồng con trên tay lơ ngơ đi tìm coi chợ nằm ở đâu. Lúc đi ngang qua một tiệm may đồ, thì thấy có hai vợ chồng tuổi chừng bốn mươi đưa tay ngoắc hỏi: – Phải mới trỏng ra hôn? Nhìn gương mặt hiền lành chất phát của họ, tôi gật đầu xác nhận. Người vợ đứng lên ra nắm tay tôi dắt vô cửa tiệm. Nói là cửa tiệm chứ căn nhà rất nhỏ độ bề ngang 4 mét bề dài 6 mét , họ ở trên gác còn bên dưới thì mở tiệm may. Vô tới nơi ông chồng lên tiếng: – Tối nay tui cho ở rồi sáng mai ra bến đò mà về. Ông quay qua bà vợ dặn dò cơm nước rồi chỉ ra mé sau cho hai má con được tắm một bữa thoả thích. Nước ngọt ở xứ này cũng phải mua, chứ giếng đào chỉ có nước lờ lợ không dùng được. Tối đến được ăn cơm trắng, canh chua với tôm thẻ kho rim. Bữa ăn hôm đó tôi nhớ suốt đời, cái tài nấu nướng của hai vị ân nhân và khắc sâu ân tình của họ. Sau bữa cơm họ giăng cho tấm mùng thật lớn trên gác, họ nhường chỗ ngủ cho hai má con, còn họ thì ngủ dưới nhà. Đúng 5 giờ sáng họ lên đánh thức, không thôi tôi đã bị ngủ mê, một giấc ngủ ngon kể từ lúc bị bắt mới có được . Ông chồng đưa hai má con ra bến đò, tôi nắm tay bà vợ mà nước mắt muốn trào nói lời cám ơn tận đáy lòng. Ra tới bến đò vị ân nhân mua cho tôi ly cà phê đen uống cho ấm bụng, mua cho con Cà Na cái bánh giò chéo quảy. Tàu cũng vừa trờ đến, tôi loay hoay định nhờ ông bán dùm chỉ vàng để làm lộ phí. Ông xua tay cầm ít tiền dúi vô tay rồi hối thúc tôi lên tàu cho kịp chuyến. Tới giây phút đó tôi mới thấy mình đoảng hậu ghê, tên của hai vợ chồng ông tôi chưa hề biết, chỉ nghe kêu là ông Tư. Người miền Nam tên theo thứ tự thì quá nhiều tên gọi như thế làm sao sau này tìm mà trả lại cái ơn nghĩa này. Tôi đứng vô tàu ngoái mặt ra ngoài hỏi: – Ông Tư ơi.. ông tên là gì ? Ông cười sảng khoái nói – Ở đây ai mà không biết ông Tư Đờn . Con tàu nổ máy lướt ra khỏi bến, trời lờ mờ sáng tôi vẫn còn thấy bóng ông Tư Đờn đứng im trên bến nhìn theo . Ông Tư Đờn, đã trên hai mươi lăm năm tôi chưa hề trở lại Cần Giờ. Bây giờ tóc trên đầu cũng đôi ba sợi bạc, tấm lòng vàng của hai vợ chồng ông tôi cứ thấy nặng mãi ở trong tim. Thôi thì cứ theo dòng đời đưa đẩy, nếu kiếp này không cho tôi gặp lại hai người, hai vị ân nhân giúp người không cần báo đáp. Cho tôi hẹn lại kiếp sau bởi nợ gì cũng trả được chứ nợ ân tình làm sao mà trả cho xong !?… Mầu Hoa Khế Oct. 28. 2009 *Tôn Tẩn: nhân vật trong Tam Quốc Chí
  • Email được gửi lúc: 23:34:18 – 19/07/2010



    Dòng Thơ Nguyễn Vạn Thắng : GIỖ THÂN PHỤ

    (Thương về Thân Phụ Nguyễn Vạn An tạ thế ngày 16/9/1997)

    GIỖ THÂN PHỤ
     
    Ba đi tiếc nhớ mãi khôn nguôi
    Tháng chín năm xưa tiễn một người
    Héo hắt lòng đau bao kỷ niệm
    Cảnh đời thay đổi chẳng ngừng trôi
     
    Lá úa trên cây đổi sắc màu
    Chia tay cách biệt quặn lòng đau
    Bầu trời ảm đạm như thương xót
    Một kẻ ra đi trả nợ đời
     
    Mây xám trời Thu, lá đổi vàng
    Năm dài mòn mõi với thời gian
    Mồ Ba yên nghỉ trong lòng đất
    Rêu phủ u buồn với tháng năm
     
    Cứ lần Thu đến lá vàng rơi
    Hình ảnh năm xưa lại đến rồi
    Ghi khắc trong tim hoài kỷ niệm
    Thương thầm giọt lệ có nào nguôi
     
    Bao năm đất khách, chốn quê người
    Chia cách khôn cầm mắt lệ rơi
    Phụ tử tình thâm còn nhớ mãi
    Tình Cha nghĩa nặng có nào vơi
     
    Thu lại về đây có khác nào ?
    Thương về kỷ niệm với buồn đau
    Ba đi lặng lẽ mùa Thu ấy
    Kẻ ở người đi mắt lệ sầu
     
    Nguyễn Vạn Thắng



    GIỖ THÂN PHỤ (2)




    Nguyễn Phan Ngọc An : Hận Sông Ba.

    HẬN SÔNG BA

    ( cảm thơ TLT – Texas)         

     

    Người nặng tình yêu cho đất nước

    Bao giờ quên được hận Sông Ba

    Chia ly bờ cõi sầu tan tác

    Nước Việt nghìn năm thấm lệ nhòa…

     

    Pleiku sương lạnh trời Tây Nguyên

    Chiến sĩ hiên ngang chẳng lụy phiền

    Cất bước oai hùng theo nhịp trống

    Một thời thanh sử dễ nào quên ?…

     

    Ngày ấy xông pha với Tiểu Đoàn

    Máu đào loang đỏ dòng Dakpla

    Chư Pao lệ nhỏ hờn ai oán

    Gởi sóng trùng dương nỗi xót xa…

     

    Ngồi đây mà nhớ mãi Hàm Rồng

    Vùng đất cơ đồ rạng núi sông

    Thung Lũng Hồng nửa đêm thức giấc

    Nghẹn ngào nhìn máu lệ pha hồng !

     

    Lòng dân ngậm nuốt đau hờn tủi

    Chỉ phút giây bình địa Củng Sơn

    Chiến sĩ gục đầu bên dốc núi

    Lòng hờn căm thảm bại đau buồn

     

    Sài Gòn đẹp mãi cho non nước

    Một thuở thanh bình ta ấm thân

    Cơn gió bạo cường tràn nỗi tức

    Mất rồi dòng nước mát trong ngần ?

     

    Địa danh muôn thuở đất Sài Gòn

    Xưng bá xưng hùng ngôi Đế Vương

    Hòn ngọc viễn đông ngày ấy đã

    Ngậm ngùi đưa tiễn kẻ lên đường !

     

    Nỗi đau đã thấu chín từng mây

    Buộc phải quy hàng buổi sáng nay

    Cả một đời sống cho nghiệp võ

    Ðành mang tủi hận tháng năm dài

     

    Máu đào loang đỏ bên dòng nước

    Vũ trụ quay cuồng dưới ánh sao

    Hàng vạn sanh linh đang nuối tiếc

    Còn đâu lựu thắm với hoa đào ?

     

    Quê hương rên xiết lời ai oán

    Một dãy sơn hà đẫm khói sương

    Tai họa ngày nay, ai biết được

    Tại trời cao gieo cảnh tai ương

     

    Uất hờn đôi mắt hằn tia máu

    Đêm vắng Sông Ba hiện bóng trơi

    Chẳng hẹn cùng nhau ngày gặp lại

    Còn may mắn đó … cũng do trời…

     

    Giang san là của người dân Việt

    Đừng để ngậm hờn cho cổ nhân

    Đừng để Tổ Tiên niềm nuối tiếc

    Mấy ngàn năm hùng mạnh dân, quân …

     

    Ly hương nhớ lại thêm buồn tủi

    Thương những oan hồn thây chất thây

    Ba mươi lăm năm rồi, ai nhớ, hỏi ?

    Xường chồng như núi tự xưa rày !

     

    Một lòng mơ ước với quê hương

    Một sáng cờ bay ngập phố phường

    Nước Việt reo vui mừng phục quốc

    Sáng ngời dân tộc, ngát yêu thương …

     

    nguyễnphanngọcan – California

    CẢM ƠN NGƯỜI

     

    Xin đa tạ bằng tấm tình tha thiết

    Ðến những vầng trăng, những áng mây bay

    Những mùa thu lá uá gió heo may

    Ðem thi hứng cho hồn tôi sầu mông

     

    Xin gửi đến quê hương miền biển sóng

    Lời cảm ơn mãi lắng đọng trong tim

    Nhạc biển ru thời thơ ấu êm đềm

    Tôi đã dệt thành bao lời trìu mến

     

    Những giây phút ngày nao đầy lưu luyến

    Nào thầy xưa nào bạn cũ nay đâu

    Chia tay nhau khi sắc phượng thắm màu

    Và xa mãi tuổi thần tiên áo trắng

     

    Hơn nửa cuộc đời dãi dầu mưa nắng

    Hành trang còn gì trên bước ruổi dong

    Xin cảm ơn ai với cả tấm lòng

    Giúp tôi sống lại tuổi hồng muôn thuở

     

    Giữa biển phù vân hoa thơ vẫn nở

    Là kết tinh nỗi trăn trở ngày đêm

    Là tiếng lòng tôi với trọn nỗi niềm

    Xin trân trọng gửi dành riêng tri kỷ

     

    Xin đa tạ những tâm hồn thiện mỹ

    Chia xẻ buồn vui trên bước phong ba

    Ðất khách tha hương bốn biển là nhà

    Chung dòng máu Việt bút hoa … tuyệt vời …

     

     nguyễnphanngọcan – San Jose

    CẢM THÔNG

     

    Vời trông vũ trụ khôn cùng

    Ngàn sao lấp lánh soi cùng thế gian

    Ta chợt thấy trong ngàn tinh tú

    Một tao nhân vui thú thanh nhàn

    Bút hoa người vẽ tơ vàng

    Như trong huyền thoại chuyện nàng liêu trai

    Ta lỡ kiếp trang đài phiền muộn

    Lắm gian nan trong cuộc phong trần

    Dòng thơ mộc mạc đôi vần

    Xin tao nhân hãy một lần cảm thông

    Ôi ngà ngọc má hồng đâu nữa

    Ba mươi năm tựa cửa buồn trông

    Thời gian chồng chất, chất chồng

    Môi son đã nhạt, má hồng đã phai

    Sao tâm vẫn ai hoài tiếc nuối

    Mộng và đời trong buổi hoàng hôn

    Ai mang son trẻ vào hồn

    Dòng thơ huyền diệu cho lòng đơm hoa

    Lời tha thiết chan hòa ý sống

    Thơ tao nhân cảm động hồn ta

    Mai này năm tháng trôi qua

    Lời thơ không dễ … nhạt nhòa trong tim

     

    nguyễnphanngọcan  – California