Tản Mạn Về…Nói Với Chính Tôi (Trích từ sách “TÔI”) – TS Mai Thanh Truyết

Kể từ khi có mặt trên cõi ta bà nầy 79 năm, tôi bằng lòng với những gì tôi “được” và những gì tôi “mất”. Hiện tại, sau gần 9 năm “giã từ vũ khí” nghĩa là từ giã công việc áo cơm, ngồi chiêm nghiệm lại những gì đã làm trong quá khứ, tôi có làm nhiều điều đúng và cũng có nhiều điều sai; – Điều đúng làm tôi vui và – Mỗi điều sai là thêm một bài học mới cho tôi. Trong suy nghĩ ấy, tôi xin cám ơn Trời Phật đã ban cho tôi tánh biết nghe và biết phục thiện.

“Cuộc sống vốn đã bất toàn”, lời của Cố GS Nguyễn Văn Trường thường nhắc nhở tôi trong thời gian từ khi tôi quen anh cho đến hôm nay vẫn còn đâu đây sau hơn 50 năm. Và đó vẫn là một “công án” tôi luôn luôn áp dụng mỗi khi giáp mặt với những khó khăn hay phiền muộn trong đời. Nhờ vậy mà tâm hồn tôi có được an nhiên tự tại sau mỗi lần bị trắc trở. Cám ơn người anh lúc nào cũng là cái thắng của con ngựa bất kham nầy.

Thiết nghĩ từ khi mới sanh ra đời, con người vốn bị bao quanh bởi Vô Minh, lớn lên cũng phải sống trong Vô Minh. Nhưng những hình thức vô minh bên ngoài khiến cho ta dễ nhận định và cải sửa; còn chính cái vô minh trong tâm mới thực sự làm tăng trưởng lòng sân hận trong chính ta.

Nhận thức được Vô Minh “nội tại” để hạn chế bớt Sân hận, hạn chế bớt cái NGÃ trong Tâm. Từ đó, mới có thể tiến tới giai đoạn VÔ CHẤP – VÔ TRỤ.

Một khi đã vô chấp, ba quỹ dữ trong tâm là Tham, Sân, Si sẽ không còn cơ hội để phát triển nữa. Từ đó ta có thể trở về gần với tánh Không.

Nhưng trong kinh Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng có viết:” Chớ nghe ta nói KHÔNG mà liền chấp KHÔNG. Nếu để TÂM trống KHÔNG mà ngồi yên lặng, tức là chấp cái VÔ KÝ KHÔNG, tức là tánh không tưởng nhớ gì cả. Đó là cái tánh nửa chừng, nó không nhớ và không phân biệt gì cả”.

Tôi chiêm nghiệm rằng, an nhiên tự tại là trực diện với Vô minh trong chính mỗi chúng ta, cộng thêm những bất toàn mà mình phải chấp nhận để từ đó được tôi luyện và thạch hóa tánh Không.

Tôi đang đi vào con đường Đoạn Ái để tiến tới tánh Không, chẳng chấp mà chẳng bỏ, cũng không nhiễm vương, không dính níu, lòng như trống không để tiến bước vào MA HA trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. 

Xin thưa cùng tất cả bạn đọc và bè bạn khắp nơi.

Cuốn sách TÔI là cuốn sách cuối cùng tôi trang trải về những ưu tư về đất nước thân yêu của chúng ta, một Đất Nước trong suốt chiều dài lịch sử từ khi lập quốc cho đến ngày nay đã phải chịu nhiều oan nghiệt.

Nhưng tiếc thay, những oan nghiệt trong quá khứ đã đến từ một chủng tộc khác dòng, khác giống; còn nỗi oan nghiệt dân tộc phải chịu ngày hôm nay phát xuất từ một chủng tộc đồng nhứt, nói cùng tiếng nói của cùng một dòng Việt tộc.

Đã cùng là một dòng Việt tộc mà cung cách hành xử còn tệ hại hơn thời thuộc địa Pháp, tệ hại hơn thời Bắc thuộc thưở xa xưa.

Đó chính là nỗi oan khiên nghiệt ngã của Quê hương.

Nỗi oan khiên nầy biết đến bao giờ mới được xóa đi?

TS Yoshiharu Tsuboi, người Nhựt đã trình luận án tiến sĩ năm 1982 tại Paris với đề tài:”Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885” trong đó ông đưa ra một suy nghĩ tương đối mới khi nhận định về nguyên nhân mất nước về tay người Pháp không phải vì vua Tự Đức bế quan toả cảng, mà chính vì vua, quan, và dân bị phân liệt thời bấy giờ, do đó, không thể nào tạo được sự kết đoàn để chống giặc được.

Và ngày nay, trong một tuyên bố gần đây về hiểm họa Hán hóa, ông đã đưa ra một nhận định hơi triết lý nhưng đầy tính nhân bản là: “Cần phải tạo ra thật nhiều con người biết sống trong sạch. Chính họ là sức mạnh cho đất nước Việt Nam”.

Nhu74ng người con Việt ngày nay cần “Trong” trong TÂM và “Sạch” trong HÀNH ĐỘNG.

Làm được hai điều nầy, chắc chắn Việt Nam sẽ thoát khỏi cơn hồng thủy phương Bắc trong một tương lai không xa.

Mai Thanh Truyết

Trích hai trang cuối cùng của sách TÔI-2019




CHÚC BÌNH YÊN CHO NGƯỜI VỪA ĐI -Kiều Mỹ Duyên

Làm nghề truyền thông lâu năm quen nhiều cho nên ngày nào cũng nghe tin người quen ra đi. Tôi chỉ biết cầu nguyện cho người vừa ra đi bình yên.

          Tuần rồi tôi đọc bài của Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý ở Portland viết bài tiễn biệt Linh Mục Phạm Văn Ninh, chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ La Vang vừa ra đi. Cha Ninh rất hiền. Tôi được biết cha khi chúng tôi đến Portland để làm phóng sự cho đài truyền hình SBTN (Saigon Broadcasting Television Network), phỏng vấn giáo sư Jerry Braza, Health Education của đại học Western Oregon, ông cũng là Chủ Tịch hội từ thiện Forgotten People Foundation (2005). Giáo sư Nguyễn Tường Tuấn và An Nguyễn broker là 2 người trong ban chấp hành hội từ thiện này.

          Chúng tôi thăm nhà thờ, chùa trong 2 ngày cuối tuần, làm 6 phóng sự cho đài truyền hình.

          Thành phố Portland rất đẹp, cây cỏ xanh mướt vì có nhiều mưa. Người dân hiền lành, hiếu khách. Chúng tôi đến thăm chùa nào cũng được mời ăn cơm. Đặt phòng ở khách sạn, nhưng chúng tôi ở chùa, trụ trì là ni cô, đang học cao học.

          Tôi phỏng vấn cha Ninh trước nhà thờ Đức Mẹ La Vang Portland, dưới bóng mát của hàng cây xanh, trên đồi cây cỏ xanh mướt nhìn xuống đồi. Cha Ninh hiền lành. Cha kể về lịch sử  Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang Portland. Tháng 6/ 1975 chung cư Halsey Square là nơi số đông người tị nạn được đưa về, và cũng chính từ nơi đây Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Oregon đã ra đời, và là tiền thân của Giáo Xứ La Vang ngày nay. Đến đầu năm 1977, số người tị nạn Công Giáo Việt Nam tại Portland lên đến cả ngàn người. Tháng 2/ 1981, số người tị nạn Công Giáo tại Portland và các vùng phụ cận ngày càng lên cao. Cha Cao Đăng Minh đã mời cha Trần Công Nghị từ California và cha Phạm Văn Ninh từ thành phố Salem, thủ đô của tiểu bang Oregon đến giúp đỡ. Đến tháng 4/ 1997 xây dựng Thánh Đường Đức Mẹ La Vang. Đến năm này, Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang đã được tổ chức quy mô hơn. Có ba vị linh mục phục vụ là cha Hồng Phúc, cha Cao Đăng Minh, và cha Phạm Văn Ninh.

          Cha Ninh giới thiệu tôi với linh mục Hoài Đăng. Ở Louisiana có lụt lội nên linh mục nhạc sĩ người Mỹ gốc Việt này về Portland sống với cha Ninh.

          Cha Ninh hiền lành, khiêm tốn. Tôi hỏi cha Ninh về tình hình nhà thờ có người Việt Nam và sự phát triển Công Giáo Việt Nam ở Portland. Cách đây 20 năm, đài truyền hình SBTN (Saigon Broadcasting Television Network) đi khắp nơi trên nước Mỹ. Nhà người Việt Nam nào cũng xem truyền hình đài tiếng Việt. Đối với khán giả Việt Nam lớn tuổi thì tivi, radio, báo tiếng Việt là nhu cầu cần thiết của họ.

          Hưu trí nếu còn khỏe mạnh thì đi câu cá, bắn chim, đi bộ lên núi, đi du thuyền ở sông, ở biển, nhưng nếu không khỏe thì ở nhà xem truyền hình, nghe radio, đọc sách báo, đi thư viện, đi nhà thờ hay đi chùa,.v.v.

          Nhu cầu tinh thần cần lắm, nếu còn sức khỏe là còn tất cả.

          Khi nghe tin Đức Ông Phạm Văn Ninh qua đời, chúng tôi cầu nguyện cho Đức Ông được sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.

LẠI MỘT NGƯỜI VỪA RA ĐI

Đại tướng Trần Thiện Khiêm

          Một người ít nói nhưng mỗi lần nói làm cho người nghe cười. Tôi thường gọi điện thoại thăm những người lớn tuổi ở Việt Nam, ở Mỹ hay ở các quốc gia khác. Một lời thăm hỏi ân cần làm vui lòng người lớn tuổi. Có một lần, một vị lớn tuổi nói với tôi:

          – Tôi thích tham gia sinh hoạt cộng đồng nhưng tôi không muốn làm phiền người khác. Cuối tuần, tụi nhỏ không đi làm, tôi nhờ chở đi chỗ này chỗ nọ. Thỉnh thoảng, tôi nhờ Đại Tá Cổ Tấn Minh Châu đưa tôi đi sinh hoạt cộng đồng. Anh Châu tốt lắm.

          Nói về người trẻ là giáo sư đại học Chapman, ông nói:

          – Phương Lan có 2 cha, 2 mẹ.

          Tôi chưa hết ngạc nhiên thì ông nói tiếp:

          – Cha mẹ ruột của Phương Lan là 2 người, vợ chồng chúng tôi 2 người nữa thành ra 4 người.

          Tôi nhớ bé Phương Lan lúc chúng tôi vào nhà chị Tư. Chị Tư cùng các phu nhân thường thường vào 6 giờ sáng vào Tổng y viện Cộng Hòa chăm sóc thương binh, nhất là các chiến sĩ bị thương từ mặt trận mới vừa về đêm qua. Chuẩn bị vào phòng ăn thì tôi thấy một cô gái nhỏ, ngồi trước đàn dương cầm. Bé này vào khoảng trên dưới 10 tuổi, bé đánh đàn dương cầm, tiếng đàn lảnh lót reo vui. Bé Phương Lan sinh ra đời được yêu thương bởi 2 mẹ, 2 cha, cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi, bé được mọi người thương yêu. Hai anh của bé Phương Lan: anh trai cả là Dũng học ở Thụy Sỹ, anh kế là Tuấn học xong tú tài toàn phần, tình nguyện vào trường Thủ Đức, sau đó tốt nghiệp ra trường là chuẩn úy.

          Người ở đầu giây nói tiếp:

          – Hồi ở Việt Nam, tôi đọc sách của Hòa Thượng Tuyên Hóa, chùa Vạn Phật Đường, sang đây hai vợ chồng tôi đến Bắc California thăm Hòa Thượng.

          Tôi thường thăm những người tôi quen, tôi đến nhà hay gọi điện thoại lại nhà, tôi còn gọi vào nhà thương hay viện dưỡng lão. Một lần, tôi gọi đến viện dưỡng lão ở miền Bắc, một đồng hương nói chuyện rất vui vẻ. Ông nói với giọng reo vui:

          – Cô Duyên à, tôi vừa được rửa tội.

          Đồng hương lớn tuổi kể tiếp:

          – Trung Tướng vừa rửa tội cho Đại Tướng.

          Thì ra tên của Linh Mục rửa tội cho ông là Lê Trung Tướng.

          Nghe giọng nói, tôi biết đồng hương lớn tuổi đang rất vui.

          Là người lạc quan, tôi thích tiếng cười, đi đến đâu tôi cũng thích nghe tiếng cười reo vui. Lạc quan, yêu đời, yêu người và tôi thích nghe người này nói tốt về người khác.

          Nói về cô bé đánh đàn dương cầm khi tôi đến thăm chị Tư, ngôi nhà ở Chợ Lớn. Tôi mê tiếng đàn của cô bé này.

          Rồi một ngày đẹp trời, tôi thăm nhà khác, tôi cũng gặp cô bé này, đang ngồi thẳng, đánh đàn ở phòng khách. Thì ra 2 bé đánh đàn này là một.

          Có một lần về vùng Hoa Thịnh Đốn họp, qua lời mời của chị Trân, anh Trân là em ruột của chị Tư. Chị Tư là phu nhân của một Đại Tướng, “chị Tư” là tiếng gọi thân thiện của tất cả mọi người cùng làm việc xã hội với chị. Chị Trân chở đến nhà của một đồng hương. Nhà nhỏ, xung quanh là rừng cây xanh mướt. Tôi hỏi chị chủ nhà ông xã của chị đâu rồi? Chị cho biết anh ấy đang quét lá cây. Tôi hỏi:

          – Cuối tuần nhiều người đến thăm, sao ông xã của chị không đợi đến cuối tuần để mọi người giúp quét lá cây phụ?

          Chị chủ nhà trả lời:

          – Ngại lắm, làm việc gì được thì anh ấy tự làm.

          Nhà này là condo, nhỏ, xung quanh là rừng cây xanh mướt.

          Ăn một tô phở ở một ngôi nhà nhỏ trong rừng cây do chủ nhà tự nấu, bàn ăn nhỏ, gần cầu thang. Khi tôi về California một thời gian thì nghe tin chị chủ nhà té từ cầu thang xuống đất, rồi nằm một chỗ 10 năm. Người chồng chăm sóc vợ rất chu đáo, sau đó người vợ qua đời. Một đời người thoảng như giấc chiêm bao.

          Những người thân của tôi ở Hoa Thịnh Đốn lần lượt ra đi như Trung Tướng Phan Trọng Chinh, anh Trân, Đại Tướng Cao Văn Viên và phu nhân qua đời, Đại Tá Nguyễn Văn Y xem tử vi rất xuất sắc và phu nhân qua đời, giáo sư Nguyễn Ngọc An qua đời, tướng Lê Minh Đảo, Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, v.v. Đa số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, bộ trưởng Việt Nam đều tị nạn ở vùng Hoa Thịnh Đốn, mỗi lần hội họp ở miền Đông, tôi thường thăm những người tôi quen, rồi thì những cánh chim đại bàng từ từ rơi rụng.

          Rừng cây ở Hoa Thịnh Đốn vẫn xanh, vẫn còn đó, tuyết vẫn rơi vào mùa Đông, nhưng người thì lần lượt ra đi nhiều quá.

          Rồi Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, Tướng Lê Văn Tư, Đại Tá Phạm Văn Chung cũng vừa ra đi, người tốt cũng đi, người không tốt cũng đi. Người còn sống vẫn hoạt động trong cộng đồng, thế hệ thứ hai vẫn hoạt động tích cực. Ngoài lo cho đời sống bình thường của mình, người có lý tưởng vẫn tiếp tục hoạt động cho Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, đến bao giờ người Việt Nam trong nước được sống bình yên như người dân của các nước khác có Tự Do thật sự?

          Tôi ao ước, tôi mong cho người đi linh thiêng phù hộ cho người ở lại được sống một đời bình yên.

          Ngày xưa, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm nghiêm lắm, ít nói, không tuyên bố nhiều. Khi về già ở trong một căn nhà nhỏ giữa rừng cây. Phu nhân của ông cũng âm thầm như ông, sống âm thầm cho đến khi qua đời.

          Những người giữ chức vụ lớn có người thương, có người ghét, nhưng rồi cũng như mọi người, dù có người thương người ghét thì bây giờ ông cũng đã rời trần gian ra đi một cách êm ả.

          Cầu xin Ơn Trên cho mọi người đến trần gian với tiếng khóc thì khi ra đi với tiếng cười. Cầu xin trong lúc hấp hối đừng đau đớn quá, đừng rên la, chỉ xin giờ ra đi êm ả.

          Trong mấy ngày tôi nghe tin 3 người ra đi là cha Phạm Văn Ninh ở Portland, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm ở San Diego, và ông Lý Tòng Tôn ở Lancaster, Los Angeles.

Ông Lý Tòng Tôn, em của Tướng Lý Tòng Bá.

(Hình do bác sĩ Đỗ Văn Học cung cấp)

          Ông Lý Tòng Tôn cười nhiều hơn nói, phu nhân của ông cũng vậy, cười nhiều hơn nói. Ông thích ca, đi hát nhiều hơn ở nhà. Mong ông sẽ gặp lại các bạn nghệ sĩ đã đi trước xuống suối vàng. Thôi thì đem tiếng cười giòn tan hòa lẫn với gió mây và đem theo lời chúc lành, chúc anh em bằng hữu về thế giới bên kia gặp lại bằng hữu đã đi trước mình sẽ hạnh phúc, sẽ vui tươi hơn.

Ông Lý Tòng Tôn (áo trắng bên phải) hội ngộ các văn nghệ sĩ.

(Hình do nhà văn Việt Hải đứng ngoài cùng bên trái cung cấp)

          Nhà văn Việt Hải rất tận tình loan tin về bằng hữu, nhất là văn nghệ sĩ. Ông rất quan tâm đến những người bệnh như anh chị Quang Nguyễn, Minh Đức Hoài Trinh, thi sĩ Cao Mỵ Nhân, Trung Tá Hạnh Nhân, Lưu Anh Tuấn họa sĩ, học trò của tôi.

          Thi sĩ Vũ Thùy Nhân vừa vào văn đàn http://thovanyenson.com
của anh Việt Hải nói anh Hải có lòng tốt lắm chị ơi.

          Cha Ninh ơi, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và anh Lý Tòng Tôn ra đi bình yên, hạnh phúc trong cuộc hành trình về nước Chúa. Xin phù hộ cho người ở lại tiếp tục hành trình tốt đẹp của mình.

Orange County, 1/7/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




CÓ NÊN KẾT ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG??? – Cựu GS LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH

       LUẬT PHÁP đặt ra là để bảo vệ AN NINH, giữ gìn TRẬT TỰ, bảo vệ QUYỀN LỢI Con Người với Con Người, bảo vệ MẠNG SỐNG và TÀI SẢN của cá nhân và cộng đồng Gia Đình, Quốc gia và Quốc tế.
       Những người đứng ra cầm cán cân Công Lý, là Đại Diện Công Lý, là nhân danh Công lý, bao giờ cũng nên Nghiêm minh, Chính trực, Công Bằng, Vô tư phán xét những ai vi phạm luật lệ Nhà Nước đặt ra, cũng chính là để hướng dẫn, giáo dục Con Người cả nước đến với CHÂN THIỆN MỸ.
Theo hình luật, ngoài những tội do từng quốcgia qui định còn có những tội sau đây mà không quốc gia nào dung chế, tha thứ cho được, mà còn kịch liệt bài trừ với hình phạt nặng nề gắt gao.  Đó là:  ‘Tội Giết Người’ (Sát Nhân), ‘Tội Hiếp Dâm’ và ‘Tội Buôn Bán Ma Túy’, ‘Hẻroine’, vì nó giết chết mạng sống, giết chết cả tương lai, cuộc đời của Con Người, nên không một quốc gia nào trên trái đất này chấp nhận được!
Tất cả, ai ai cũng đều ‘Muốn Sống’, Không-Ai-Muốn-Chết, nhất là Bị-Giết-Chết,  Bị-Tước-Đoạt-Mạng-Sống, Bị-Sát-Hại!!!
Vậy tại sao chính ta Muốn Sống, Không-Muốn-Bị-Giết-Hại mà lại đi ‘Bức Tử’, Tàn Sát Người khác?!
“Điều gì ta không muốn người khác làm cho ta thì ta không nên làm cho người khác”! Thế mà:        
1/ Ai ai cũng vui thích đồng ý đón nhận châm ngôn này, nhưng, trên thực tế, hình như có ít người thực hiện ĐÚNG theo, mà đa số thì lại thản nhiên gây-tạo-cho-người-khác-những-gì-chính-bản-thân-không-muốn-người-khác-làm-cho-ta!

2/  Đến như cả các vị  phán quan, các quan chánh án cầm cân nẩy mực, ngồi ghế xét xử, khi luận tội những trường hợp như ‘Giết Người’, ‘Hiếp Dâm’, ‘Buôn Bán Ma Túy’ là những ‘Trọng Tội Khó Tha Thứ’ được mà lại như vô tình thản nhiên tuyên “Án Tử Hình” họ!!!  Có những trường hợp Giết Người, hay Buôn Bán Ma Túy, cảnh ngộ rất thương Tâm  mà các quan không lý tới!
Sao lạ vậy, khi mà theo Luật pháp: “Dù dưới hình thức nào, dù bất kỳ nguyên nhân gì, cũng không ai được quyền tước đoạt sinh mệnh của bất kỳ ai!”

3/  “Khó thể tha thứ được” đâu có nghĩa là phải ‘Giết Chết Kẻ Phạm Tội’, như họ đã giết chết ai đó?!
            Chẳng lẽ không có hình phạt nào dành cho những kẻ ‘Trọng Tội’ khó thể tha thứ được, khiến họ phải đau đớn thống khổ, bi ai, thê thảm nhứt là sự dày vò, ân hận về tinh thần vì tội ác họ đã gây tạo cho người khác, và làm liên lụy đến nhiều người phải khốn khổ theo, là gia đình ‘bị cáo’ và gia đình nạn nhân ‘nguyên cáo’, khiến cho họ, có người phải Sống-Không-Bằng-Chết’ hay sao?!   Hình phạt đó không đáng sợ gấp trăm ngàn lần hơn hình phạt họ hải sợ chỉ có mấy ngày, mấy tháng, hay mấy năm, nhất là chỉ một thoáng mấy phút trước giờ ‘Hành Hình’ thôi sao?!

4/ Vả chăng, có thể đó là án OAN!!!  Nếu xử tử rồi, về sau có cơ hội nhắc đến, thẩm tra lại, biết họ đã ‘Bị OAN’ thì làm sao cứu chữa ‘SAI LẦM’ vì đã giết họ chết rồi ?!

5/ Và, nếu kẻ có tội chí tình ‘Ăn năn, Sám hối’ tội lỗi họ đã gây tạo, và họ có thể ‘Đới Công Chuộc Tội’ xứng đáng, thì không phải là đáng tiếc lắm sao?!
           Con Người có ai mà không từng phạm những điều Sai Trái,  Lỗi Lầm, dù nhẹ dù nặng?! 
Điều quan trọng  là họ Biết-Nhận-Lỗi-Tội của họ, nhận sự ‘Sai Lầm’, và Biết-Ăn-Năn, Hối cải Lỗi Tội của họ!  Đó không phải là điều dễ dàng mà ai cũng dũng cảm làm được!!!
Và một khi họ đã không hèn nhát mà can đảm nhận Tội, không trốn tránh, thì sao lại không-giúp-họ-có-thời-gian, cho-họ-có-cơ-hội-để-Ăn-Năn-Cải-Hối-Sữa-Đổi, Đoạn trừ Dứt Lỗi Tội?!

6/ Thưa rằng:’Nếu Giết họ Chết Đi rồi, thì chủng tử Xấu Xa, Độc Ác, Hung Dữ, Nguy Hại đến thế nào đó, sẽ chấm dứt , chứ không phải sẽ vẫn đeo đẳng theo họ suốt từ kiếp này đến kiếp khác sao?!  Họ sẽ mãi mãi vẫn còn là người cùng hung cực ác, họ vẫn còn cứ gây bao tai họa cho biết bao người, cứ gây tạo thảm kịch triền miền, biết bao giờ mới chấm dứt, nếu không tạo cho họ có cơ hội để họ thắm thía nỗi thống khổ do ‘Tội Ác’ của họ, để Giúp Họ Tĩnh Thức để Ăn Năn , Sữa Đổi, Đoạn trừ Lỗi Tội ?!
“Nhứt nhựt VÔ THƯỜNG tại,
“Phương tri mộng lý nhân.
“Vạn bang đô bất khứ,
“Duy  chỉ “NGHIỆP” tùy Thân!”

Một mai Tử Thần đến,
Mơ  màng biết về đâu?!
Vạn nơi khó thể cầu!
Họa Phước mãi dính “Thân”!

7/ Đã nhân danh Công Lý, là đại diện cho Công Lý trừng phạt, ngăn ngừa  những kẻ ‘PhạmTội’, dù là những tội nặng đến thế nào, như ‘Tội Sát Hại Người’, thì nên chí công và ‘vô tư’ xét xử. Cho điều tra chu đáo: vị tất, không một trường hợp nào mà Kẻ Bị-Hại (‘nguyên cáo’) không có Lỗi, kèm bên ‘Tội’ của kẻ phạm Tội (‘bị cáo’)! Nếu đúng vậy thì cả hai đều phải bị thẩm xét, bị bị ‘luận tội’ và phải bị ‘trừng phạt’, nếu có thể được thì cũng nên giảm án cho phạm nhân, Không nên ‘Bức Tử’?!

8/ Những ‘Tội về Chính trị’, thuộc An Ninh Quốc gia:  Người Phạm tội nặng, nhẹ thế nào đó, thì do họ có lập trường, có chánh kiến, có hoài bão, ước vọng, lý tưởng của họ, hoặc có thể do họ bị quyến rủ, bị ép buộc, bị khống chế…!  
Trên đời, “Không Ai Hoàn Toàn” (“Nul n’est parfait ici-bas”) thì “cũng Không Có Tư Tưởng nào, Lập Trường, Chủ trương, Quan niệm, Chánh kiến, Chế độ, luật lệ nào v.v…’Hoàn Hảo’ hết! Có phải vậy không?!  Tốt có, thì Xấu cũng có; Đúng có, Sai Lầm cũng không tránh khỏi; có ích lợi cũng có tai hại; có ưu điểm thì bên cạnh cũng có khuyết điểm. Hể có ‘quân tử thì cũng có ‘Tiểu nhân’ một bên!  Cũng như có “Dương” thì cũng có “Âm”, không bao giờ thiếu mất một trong hai.
          Vậy thì tại sao chúng ta bắt buộc người khác phải chấp nhận theo chủ trương, lý tưởng v.v..của ta mà không được thực hiện lý tưởng của họ, cho là họ SAI, họ LẦM ?!
Tại sao ta cho rằng ta ĐÚNG, người khác SAI?  Cũng như “5 người Mù xem VOI”!  Mỗi người chỉ rờ vào để quan sát một phần nơi cơ thể Con Voi mà thôi!  Thế rồi người nào cũng quả quyết cho rằng mình diễn tả hình dáng Con Voi Rất Đúng, rất chính xác, còn tất cả những người khác đều SAI bét?! 
           Hóa ra Ai cũng Đúng, theo sự nhận xét,  hay theo kinh nghiệm cá nhân mỗi người, nhưng mà là SAI theo tổng thể, theo nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều mặt, mà vì chưa rõ biết, chưa thấy, chưa từng trãi?!
             Nếu thấy họ quá-nguy-hiểm-cho-chế-độ của mình, cho sự lãnh đạo, cai trị, lèo lái Con Thuyền Quốc gia mà mình đang đảm trách, thì tại sao không-Giam-Cầm-Họ lại mà lại ‘sát hại’?!
 Và kiên nhẫn dùng chính sách NHÂN ĐẠO, để cảm kích, để lôi cuốn, để họ tâm phục khẩu phục ?!
           Nếu không thành công đi nữa, thì cũng Nên-Tôn-Trọng-Ý-Chí, Quyền-Tự-Do-Của-Con-Người, Sự Dũng Cảm của họ. 
          Vậy thì cứ Giam-Cầm-Họ-lại, đối xử tử tế, nhân đạo, để cảm hóa, cho đến khi nào có thể trả lại Tự Do cho họ, không được sao?!  Lại còn sẽ gây ảnh hưởng Tốt Đẹp sâu sắc cho Chế độ.  Tiếng đồn Lành sẽ vang xa, và sẽ không vô tình ‘Làm Hư Hỏng Chế Độ ! 
          Dù cho có Thất Bại , không thu phục được họ thì vẫn lưu được ‘Tiếng Thơm Tiếng Tốt’ muôn thuở trong sách sử!  Có vậy mới đúng là có Chánh Nghĩa! 
Và Chánh Nghĩa, Công lý bao giờ cũng thắng!
9/Huống chi, Công Lý, là cái lý công bằng, là phải Chí Công, Vô Tư.
Chí là hết sức, là rất, Công là công bằng, công minh, công chính, không thiên vị, không nghiêng lệch bên nào!  Chí Công là Rất-Rất-Công-Bằng, không thiên vị một ai.
Vô là không, tư là tư lự, là tư tưởng, nghĩ ngợi.  Vô Tư là không tư tưởng lung tung, không nghĩ ngợi đủ điều lợi hại, là hồn nhiên, trong sáng, không có điều gì vẫn đục, mờ ám, khuất lấp …..
             Một khi đã Bất Bình, Không Thể Chấp Nhận Cái Việc Tước Đoạt Sinh Mệnh của Bất Kỳ người nào, thế thì vị Thẩm Phán nếu tỉnh bơ tuyên bố ‘Xử Tử’cái người đang bị xét xứ, ‘Dứt Bỏ Mạng Sống’ của họ thì không phải là mâu thuẩn hay sao???!!!
Vì một khi đã Phẩn nộ, đã hết sức bất bình hành vi cùng hung cực ác của Kẻ Sát Hại Nhân Mạng người khác, họ đã nhúng Tay vào Máu, tước Đoạt Mạng Sống của Người khác, thì vị Quan Tòa phải hành động khác họ: Nếu  “Xử Tử Hình” người tội nhân ấy, thì không phải đã ‘Ra Tay’ giống y tội nhân đã làm rồi?!  Thì chẳng khác nào một người cha thường hay rầy la phản đối kịch liệt người con chớ có “cờ bạc”, rượu chè, mất hết tư cách Con Người, mà người cha thì ngày nào cũng ‘Ghi Số Đề”, và hay được bạn bè mời đi “nhậu lai rai” giải sầu là sao?  Thế thì có dạy răn được người con hay không?!
           Vậy thì, hóa ra “Chẳng có ai được phép, được quyền “Giết Chết” ai, mà chỉ có Quan Tòa, nhà lập pháp, và nhà lãnh đạo Nước MỚI CÓ QUYỀN “XỬ TỬ” người này người nọ thôi?!
             Luật Pháp đặt ra là để giữ gìn an ninh trật tự trong nước, là để giáo dục toàn dân, dù chức vị lớn cở nào thì cũng phải xử tội, nếu có tội, để ‘Làm Gương” mà không bỏ qua, không tha thứ Lỗi Tội.
            Đó cũng là bổn phận, là trách nhiệm và cũng là quyền lực của Nhà Lãnh đạo Nước, người quyết định cuối cùng ( là Vua, là Tổng Thống, là Chủ tịch Nước).
            Cho nên, ‘Nhà Cầm Quyền’ tức ‘Chánh phủ’, nói chung, nhà Lập Pháp và Quan tòa, nói riêng, ‘Không-Kết Án-Tử-Hình dù ai có ‘Trọng Tội’ nào, thì có nghĩa là Tha-Tội-Chết , mà Bắt-Tội-Sống, là “Giam Cầm lại”!  Đó là một sự trừng phạt nặng nề, đau khổ nhứt! 
 “Nhứt nhựt tại ‘Tù’, thiên thu tại ngoại!”
 THA CHẾT là THA-KHÔNG-GIẾT-CHẾT, chứ không phải THA-KHÔNG-BẮT-TỘI mà phải Xử TỘI đã làm!  Và tùy theo cách gây tội mà ra hình phạt.
Chỉ trừ trường họp “BỊ CÁO”  không có LỖI TỘI , hoàn toàn do nguyên cáo. hay rủi ro thế nào đó, thì bị cáo mới được TRẮNG-ÁN.

10/Đã là NGƯỜI thì AI cũng có QUYỀN SỐNG!  Và tất cả ai ai cũng đều CÓ-QUYỀN- TỰ-DO! Vì TỰ DO là cái QUYỀN THIÊNG LIÊNG CAO QUÝ NHẤT CỦA CON NGƯỜI !
            Con Người mà MẤT ĐI QUYỀN TỰ DO rồi, tức là BỊ TƯỚC ĐOẠT “QUYỀN ĐƯỢC SỐNG” theo Ý Muốn của mỗi người, không-Được-Tự-Mình-Làm-Chủ-Lấy-Mình,  Bị khống chế , bị câu thúc, bị bắt buộc nhất nhất phải làm theo lệnh, theo ý người khác, là-bị-tước-đoạt-QUYỀN-LÀM-NGƯỜI, thì còn gì đau đớn, thống khổ, bi ai, cực nhục cho bằng ! 
Thì Con Người đó chẳng khác gì một ‘CON VẬT”
, thì  không phải là đáng thương tâm lắm lắm sao?!  Họ làm sao sống có Ý Nghĩa, Sống Đẹp, Sống Vui, Sống Hiên Ngang, Hùng Dũng ?!
           Không-một-ai-có-quyền-Tước-Đoạt ‘Quyền TỰ DO’ thiêng liêng cao quý của bất kỳ ai!  Phải vậy không?! Không ai có quyền Bắt-Buộc-Ai-Phải-Sống-Theo-Ý-Của-Ai!  Chỉ trừ khi nào:LÀ KẺ CÓ TỘI,  Nặng, Nhẹ, tùy theo đó mà Giam Cầm, lâu hay mau! Huống hồ họ còn bị hành hạ khổ sở thế nào đó về thể xác cũng như tinh thần, thì há không phải là họ sẽ Sống-Đau-Thương, Thống-Khổ, Tũi-Nhục, Sống-Không-Bằng-Chết hay sao?!  Cần gì phải “Giết Chết”! 
           Nếu suy gẫm cho cùng, chính những kẻ sát nhân, hại người tàn ác thì chính những kẻ đó mới là những Con Người khốn khổ đáng thương.  Vì họ còn quá Mê Muội nên mới Thấp Kém, mới Hung Ác.  Để rồi, họ sẽ phải ‘Đền Tội’, phải chịu ‘ Quả Báo’ cho việc tàn ác họ đã làm! Và họ sẽ còn thê thảm hơn những người đã bị họ làm khổ! “Ác nhân Ác Báo” không tránh đâu cho khỏi, dù họ có được tha thứ cở nào, họ cũng không tránh được luật “NHÂN QUẢ”, nói nôm na là “Lưới Trời”.  Người thế gian dù có xử phạt thế nào vị tất cân xứng với hình phạt của họ phải thọ lãnh!

11/  Có điều, tôi cứ lấy làm lạ và thấy thật đáng tiếc!  Vì nghĩ, quý giới chức lãnh đạo quốc gia, đại diện nhân dân, cầm quyền, lèo lái con thuyền quốc gia, và các vị Chánh án, các quan tà, là người đại diện Công Lý, là những người có quý tướng, có địa vị cao sang quyền quý trong xã hội, được mọi người trọng vọng nể kính, thế mà chỉ vì những kẻ ‘Có Tội’ mà lại vô tình khiến tự bản thân bị lôi cuốn theo ‘Kẻ Ác Dữ’, và điềm nhiên tọa thị một cách vô tư vô lự ‘tự Chiêu Lấy Tội Ác’ khi bất bình mà lên ‘án Tử Hình’, buộc kẻ Có Tội Phải Chết (!) là vô tình tự chiêu lấy Sự Nghiệt Ngã cho chính bản thân mình! Một khi ‘Tuyên Án TỬ’, tức là ra lệnh ‘GIẾT CHẾT’, ‘BỨC TỬ’, để rồi phải mang TỘI BÁO thảm hại về sau, thì chẳng phải là đáng tiếc lắm sao?! 
Sao lại để phải đến nỗi như vậy?! 
           Là người-Vô-Can, sao lại đi Gánh-Lấy-Cái-GÔNG-Vào-Cổ, ôm lấy nỗi đoạn trường cho tự thân về sau này?!
          Họ GIẾT NGƯỜI, quan tòa đứng ra xét xử, để đem lại ‘An ninh’, ‘Trật tự’ cho xã hội, đem lại sự Bình An cho người người, và hướng Con Người về với CHÂN THIỆN MỸ, mà sao Ra-cái-Lệnh “PHẢI GIẾT CHẾT”, là “Tước Đoạt Mạng Sống của Một Người”, chứ đâu phải bảo giết con heo, con gà, con chó, con dê…cũng có ‘Tội báo’ nữa mà! 
Vậy thì không phải chính’Quan Tòa’, hay Chủ Tịch Nước, hay Tổng Thống,  bị cuốn hút theo kẻ-có-tội nên tỉnh bơ phạm đúng y theo vào cái ‘sự-Giết-Người’, và vô hình chung trở thành là “Người-Sát-Nhân” kế-tiếp theo sau kẻ ác dữ đó hay sao?! 
Không phải vậy sao?!
             Sao lại thế hỡi quý quan tòa, hỡi quý vị lãnh đạo quốc gia các nước?!

12/  Không ai phản đối các nhà lãnh đạo nước (Vua, Nữ hoàng, Thổng Thống, Chủ tịch Nước) ,  thế nhưng mà, theo như Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni  đã từng khuyên nhủ chúng sinh rằng: “Trồng Dưa được Dưa. Trồng Đậu được Đậu” .  Nếu làm điều lành, tốt, thiện hảo đem lại an vui sung sướng, hạnh phúc cho người khác, thì sẽ được hưởng PHƯỚC BÁO.  Còn nếu trái lại, gieo rắc đau thương khổ não cho ai, thì rồi, dù vì bất kỳ lý do gì, một ngày nào đó, sẽ phải hứng lấy TAI HỌA, tức là phải chịu TỘI BÁO, phải ‘đền Tội’ đã gây tạo mà thôi! 
“Không nên “BẤT MUỘI NHÂN QUẢ!”
Đó là LUẬT BÁO ỨNG, là LUẬT NHÂN QUẢ, là gieo ‘Nhân’ nào thì gặt ‘Quả’ đó! 
 Có ai gieo hạt xoài Cát Chu mà lại gặt hái được trái Xoài Cát Hòa Lộc không?!  Và một khi một hạt xoài, mít, xoài riêng …chi chi  đó, gieo xuống rồi  ( gieo ‘hạt’ là gieo‘NHÂN’ ) thì có bao giờ vài ngày hay vài tháng sau là thu hái được quả mít, trái xoài v.v…để ăn được liền không, mà không phải chờ đợi đủ ngày tháng, tùy loại, mới ra hoa, rồi mới kết trái , rồi lại phải chờ thời gian để trái già, chín, mới thu hoạch được sao ( hái ‘trái’ là được‘QUẢ’ )?!
           Cũng vậy, một khi làm việc Thiện Lành, hay điều Ác Dữ, thì cũng phải chờ một thời gian, tùy việc, phải hội đủ nhân duyên mới được thọ hưởng ‘Phước báo’ (việc Lương thiện ) đã làm, hay gặp khốn khổ thế nào đó (Tai ách, Hoạn họa) phải chịu ‘Tội Báo’ để đền lỗi tội đã làm!  Nếu chưa thấy được thọ hưởng ‘Phước’ chi, hay chưa bị trừng phạt, bị ‘Họa, Tai’ chi,  nên cho rằng là không có ‘Phước Báo’ hay ‘Tội Báo’ chi hết, nên không hãi sợ, nên cứ điềm nhiên tác ác túa xua, thì không phải là MÊ LẦM lắm sao?!
            “Trước khi làm việc gì thì phải nghĩ đến kết quả của nó”.  Đức Phật đã dẫn dắt Con Người nên dùng lòng Từ Bi Nhân Thiện đối với nhau, để người người được Sung Sướng, An Vui.  Ta đem sự sung sướng vui vẻ bình an đến cho người thì người cũng đối lại với ta như vậy,  tức là ta cũng sẽ được An Lành, được HƯỞNG PHƯỚC! Làm trái ngược lại, chỉ gieo đau khổ, tạo nhiều nỗi đoạn trường cho ai thì sẽ bị  ĐỀN TỘI đã gây tạo, phải KHỐN KHỔ, gặp lắm HỌA TAI, còn khổ hơn họ nhiều.  “Gieo Gió thì gặt Bảo!”
           Như đức Chúa JÉSUS CHRIST đạo Công giáo, đã từng khuyên, từng dẫn dắt các ‘Con Chiên’, tín đồ của Đức CHÚA rằng:  “Hãy tra gươm vào vỏ, Những kẻ ‘Dùng Gươm’ thì sẽ phải CHẾT ‘Vì Gươm’!”.
 Thế thì không phải Đức Chúa đã khuyên răn Con Người nên có lòng ‘Bác ái’ đối với nhau sao?  Là ‘Không nên tàn sát nhau, giết hại nhau sao?  Vì ‘Giết Người’  thì sẽ bị ‘ Người Giết’ lại!
           ĐỨC KHỔNG TỬ cũng đã khẳng định : “SÁT NHÂN GIẢ TỬ!””           Đạo TIN LÀNH, cũng là Đạo tôn thờ kính ngưỡng Đức CHÚA JÉSUS CHRIST.  Đặc biệt đã cho thành lập “Thành Trú Ẩn”!  Đấy là nơi dành cho những người phạm TỘI NẶNG  như “GIẾT NGƯỜI”, thì phải mau mau chạy đến ẩn trú nơi ‘cái Thành’ đó, để khỏi-bị-GIẾT-CHẾT!  Chả lẽ Đức Chúa Trời lại đi che chở, bảo vệ ‘kẻ Ác dữ’?!
Thế nhưng, nơi đây có các vị mục sư hằng ngày chí thành giáo dục về Tâm Linh, khiến cho người tội phạm ý thức được TỘI LỖI của mình mà ĂN NĂN,  mà thành tâm SÁM HỐI,  SỮA ĐỔI, CHỪA BỎ những thói hư tật xấu, biết Kềm Chế lòng Tham Sân, chịu XẢ BỎ nỗi ai oán, mà dứt trừ sự hung ác  v.v… và là  để “CHỜ-GIỜ-PHÁN-XÉT”, khỏi nhọc công tìm kiếm truy bắt !   ,là để họ chờ đợi nhận lãnh hình phạt theo tội lỗi họ đã gây ra, chứ không phải là Đức Chúa bao che kẻ có tội,’THA TỘI’ họ!).  Thành Trú Ẩn này có mục đích cao cả như vậy là do noi gương ‘Bác Ái’ cao cả của Đức CHÚA JÉSUS, là người vì lòng thương xót Con Người, muốn CỨU CHUỘC TỘI LỖI cho nhân gian nên đã dũng cảm nhận chịu cực hình “ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ”, để phải CHẾT Đi SỐNG Lại bao phen!  Và cuối cùng NGÀI đã được PHỤC SINH!  Đó là kết quả của TÂM THÁNH THIỆN của Đức Chúa!
          Đức PHẬT Thích ca Mâu Ni, cùng Chư PHẬT Chư BỒ TÁT đã dẫn dắt chúng sinh hãy nên dùng lòng TỪ BI ban rải.  “BI thể giới Lôi chấn”!  Lòng TỪ BI (ban rải Tình THƯƠNG, KHÔNG HẬN THÙ ) có thể hóa giải mọi NGUY NAN!  
          Cho nên nếu kính ngưỡng ĐỨC PHẬT, ĐỨC CHÚA… thì nên y giáo phụng hành, nên đem lòng TỪ BI, BÁC Ái đối xử với nhau, Không-Nên-Làm-Khổ-nhau, Tàn-Sát nhau!

“TỪ BI và BÁC ÁI” là sự mềm dẽo của Tình Thương, của sự Nhẫn Nại, của sự HIỂU BIẾT. 

13/ Những người xấu ác, không thể làm được những điều Lành Thiện, tốt đẹp,  cao quý là vì họ chưa Tiến hóa được cao, tâm linh họ còn mê muội, còn ấu trỉ, không phải sao ?! 
Ví như một đứa trẻ con còn ấu trỉ thể xác, mới lên 4, lên 5 tuổi.  Nếu người lớn để món đồ chi trên cao, hơn vóc dáng đứa trẻ (như để trên bàn, trên kệ, trên đầu tủ) và bắt buộc đứa trẻ phải lấy cho kỳ được món đồ đó!  Vậy xin hỏi đứa trẻ con ấy có vói lấy được món đồ ấy hay không, dù có nhón gót cở nào, một khi quá tầm-tay-vói của trẻ con?! 
           Cũng thế, một người còn ấu trỉ tâm linh, thì họ còn u tối, còn thấp kém, nên còn hèn hạ, xấu ác, còn Tham Sân, còn gian xảo, quỷ quyệt, bất nhân, bất nghĩa thế nào đó v.v…tức là tâm họ còn ‘ấu trỉ’ nên còn ‘mê muội’, chưa thanh cao tốt đẹp được! 
           Vì thế cho nên, họ rất cần phải được học hỏi, cần phải được rèn luyện, được un đúc, uốn nắn!  Họ rất cần phải được ‘giáo dục’ để Tiến hóa lên, để trở nên ngày một tốt lành hơn; ‘Xả Bỏ’ Tâm Ác, ‘Phát’ Tâm Lành, thì họ mới được là người ngày càng thánh thiện, có nhân, có nghĩa, ít phạm Sai Trái, Sái Quấy, Lỗi Lầm, ít tạo Tội tạo Nghiệp Xấu, Ác, rổi sẽ dứt hẳn tác ác, mới làm được Người tốt đẹp, lương hảo, thanh cao.
             Những ai được Tiến Hóa cao hơn, ví như người đứng trên cao, kẻ xấu, ác phải ở dưới thấp!  Vậy thì người đứng trên cao (tức người Tiền hóa hơn) có nên phun nước bọt xuống người đứng dưới thấp hơn , có nên khinh khi , ghét bỏ, tức giận, phẩn nộ, có nên nhục mạ, hành hạ, người đứng dưới thấp (kém Tiền hóa!) hay không, thì nói gì đến việc “BỨC TỬ” họ, “TƯỚC ĐOẠT MẠNG SỐNG” của họ?!
              Vậy có nên Từ Bỏ họ, Khử Trừ họ, Giết Chết họ không?!   
Một khi người đứng trên cao (đã Tiến hóa) mà phun nước bọt, tức khinh thị nhục mạ người đứng dưới thấp thì người đứng dưới thấp (hèn hạ, xấu xa, độc ác v.v..) sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhã, xấu xa, họ phải gục mặt tủi hổ, ai cũng chê bai khinh ngạo! Làm sao né tránh cho được?!
Và trái lại, nếu người đứng ở dưới thấp hơn mà ngửa mặt phun nước bọt lên người đứng ở trên cao hơn (tức là người có nhân, có đức), thì người càng đứng trên cao chừng nào, tức phẩm hạnh càng lớn, càng cao, thì liệu người đứng dưới thấp có phun trúng tới được người đứng trên cao hơn không ?  Và ‘nước bọt ấy’ sẽ phải rơi xuống ngay từ chỗ nó đã xuất phát, phải vậy không?!  Tức lả cuối cùng thì kẻ xấu xa, tồi tệ. bạc ác chừng nào thì chính họ sẽ phải lãnh đủ sự nhục nhả, sẽ phải bị khinh chê nhiều chừng ấy. 
             Họ sẽ phải KHỐN KHỔ thôi, theo luật ‘NHÂN QUẢ’.  Đó chính là  ‘LUẬT BÙ TRỪ’ (‘La Loi de Compensation’) đấy mà thôi!!!
             Vậy  thì, chẳng phải là:Làm điều gì thì sẽ nhận y chang điều đó hay sao, dù THIỆN dù ÁC?  Vậy thì, nếu Luật Người Không-Xử thì Luật Hóa Công trong Tạo vật, cũng sẽ xử!  “THIÊN VÕNG KHÔI KHÔI, SƠ NHI BẤT LẬU!”  Lưới Người có thể Thoát được, nhưng Lưới Trời lồng lộng, không một ai tránh né, thoát đi đâu cho khỏi được!
Bao giờ một vật chi, như cục đá,  nếu ném vào khoảng trống không thì nó sẽ mất hút, không còn thấy tâm dạng.  Còn nếu ném vào vật gì, người nào, ở ngay trước mặt, trúng vào đó, lực càng mạnh, thì nó sẽ ‘Dội Trở Lại’ không sai, và càng mãnh liệt hơn, từ chỗ nó đã xuất phát ! 

    Cho nên, đối với Những KẺ CÓ LỖI, CÓ TỘI, thì nên làm thế nào để họ thấy, biết , hiểu là họ CÓ LỖI, CÓ TỘI!

                Không phải là để NHỤC MẠ, PHỈ BÁNG, HÀNH HẠ HỌ , mà là để DẪN DẮT, để giúp họ Ý Thức “LỖI TỘI chỉ đem lại bao ĐAU THƯƠNG THỐNG KHỔ, nhứt là cho chính bản thân, hơn ai hết, khi GÂY ĐAU KHỔ CHO AI! 

Một khi họ ý thức được rồi, thì họ sẽ tự động XẢ BỎ, ĐOẠN TRỪ LÀM VIỆC ÁC HẠI NGƯỜI, sẽ  KHÔNG TÁI PHẠM nữa!  

               Vậy cần có biện pháp, phương cách tốt để hướng dẫn, giáo dục sao cho có hiệu quả!
               Nếu  GIẾT CHẾT KẺ CÓ TỘI, mà không DẪN DẮT, KHÔNG CHỈ BÀY, KHÔNG CHO HỌ CÓ CƠ HỘI để cho họ THẤY, BIẾT, HIỂU, để HỌ nhận chân được rằng: những gị họ đã GÂY TẠO Cho Người Khác thì là chính họ sẽ PHẢI NHẬN, PHẢI RƯỚC LẤY, sẽ PHẢI LÃNH ĐỦ những gì họ đã  làm, đã gây tạo! 
Và một khi giúp họ nhận chân được điều đó thì xin thưa rằng:  Họ có còn DÁM LÀM VIỆC BẤT PHẢI, CÒN DÁM GÂY TỘI ÁC nữa không, nếu KHÔNG Giải Bày thấu đáo, KHÔNG DẪN DẮT được, và « Không Cho họ Có Cơ Hội » nhận chân “ Triết lý” ấy thì không phải là tàn nhẫn lắm sao, là vô tình lắm sao , là thiếu HIỂU BIẾT, là thiếu lòng TÙ BI THƯƠNG XÓT giữa CON NGƯỜI với CON NGƯỜI lắm lắm hay sao?!

14/ Đó là nói những người phạm tội trong mọi thành phần trong một quốc gia và quốc tế.

Còn đặc biệt với người lãnh đạo một nước, nếu là Tổng Thống, hay Chủ Tịch Nước, hay vua chúa, nếu có PHẠM TỘI TRỌNG gì, thì trong lúc họ còn tại vị, nếu có quyết định chi mà nhân dân thấy có nguy hại cho người dân, cho đất nước thì, tại sao người người trong cả nước không cùng đứng lên, họp lại dũng cảm can gián, khuyên ngăn chí tình, lại cuối đầu tuân phục lệnh ban ra ?!  Rồi đợi đến khi họ mãn nhiệm kỳ, hết Chức hết Quyền, người dân mới nổi lên phản đối, xử TÀN NHẪN, TỆ BẠC, ĐỘC ÁC, công khai Luận Tội Nặng và KẾT ÁN TỬ HÌNH, dù dưới bất kỳ hình thức nào!!! Họ nếu Có TỘI, thì người DÂN KHÔNG CÓ LỖI sao?! 
Dù họ đã mãn nhiệm kỳ, trở lại làm người bình thường trong Nước, nhưng đó cũng là một người đã từng lãnh đạo nước bao nhiêu năm, không có công lao gì với quốc gia dân tộc hay sao mà lại nở đem ra XỬ TỬ một người đã từng được Tiền-Hô-Hậu-Ủng, bao người phải kính cẩn nghiêng mình chào đón, rước đưa rần rộ, uy nghiêm, hiển hách ?!!! 
Nếu không-khép-chặt-cửa-lòng, mở rộng lòng Từ Bi Bác Ái Nhân Thiện cho những người phạm tội một ‘Con Đường Sống’ để họ TỈNH THỨC, để ĂN NĂN, HỐI NGỘ, SÁM HỐI LỖI TỘI thì không đáng thương tâm lắm sao!
Đối với loài động vật hạ đẳng như con Khỉ, con Ngựa, con kiki, con ột ệt, con Trâu, con Cọp, con Beo, con Voi v.v…mà còn huấn luyện được thay, thì với Con Người có Trái Tim Biết Cảm, có Khối Ốc Biết Nghĩ Suy, thì làm sao Không-Cảm-Hóa được, không rèn luyện, giáo dục được sao?! Và đối với người bình dân còn nên như vậy, huồng hồ từng là một vị nguyên thủ quốc gia của cả nước ?!
              Nếu có TRỌNG TỘI chi Không-Thể-Tha-Thứ được, thì sao không cho LƯU ĐÀI NGƯỜI ĐI BIỆT XỨ, mà CHẲNG NÊN KHỬ TRỪ, DỨT TUYỆT MẠNG SỐNG để họ có-thì-giờ-rộng-rãi BÌNH TÂM Nghĩ Suy mọi lẽ?!  Chắc chắn họ sẽ Ân Hận sâu sắc và sẽ SÁM HỐI !

15/ Một điều nữa, nếu cho rằng là ‘tâm linh kẻ Xấu Ác còn Thấp Kém’, cũng không hẳn có nghĩa là họ đều là những Con Người ngu dốt, khờ khạo, hạ tiện, u tối, mà có thể đó là những người cực kỳ thông minh, tài giỏi, cũng chưa biết chừng!  Nếu họ Tỉnh Thức ‘quay đầu lại’, quyết chịu dứt trừ xả bỏ tập nhiễm xấu ác độc dữ, tham lam, tàn nhẫn v.v…, thì họ lại là những người rất đặc sắc, tuyệt vời, là người đắc dụng, xã hội rất nhờ cậy!
              Có giống cây ăn trái, hay bông hoa chi đó, hể đó là một loại cây trái quý hiếm, rất ngon , rất bổ dưỡng, hay là một loại bông hoa vừa đẹp vừa thơm kỳ lạ thì thường rất khó trồng, hay có nhiều sâu bọ!  Nếu ‘nhà làm vườn’ biết  kiên nhẫn, chịu khó chăm sóc, cắt tỉa lá sâu cành hư, bón phân tưới nước cẩn thận mà-không-nhổ-quăng-vứt-đi, thì rồi sẽ gặt hái được những trái thơm ngon, những đóa hoa tươi đẹp, rất quý hiếm ! 
               Con Người cũng vậy.  Không ai là người đáng-phải-BỎ-ĐI, đáng phải Giết, phải Chết!  Đến như sạn, sỏi, cát, đá, cây cỏ nhỏ nhoi trên trái đất mà cũng còn hữu ích, huống hồ là một Con Người!
               Nếu biết cảm hóa, biết hướng dẫn người xấu ác dữ, biết cách ‘chuyển tâm họ’ để họ ‘quay đầu lại’, xả bỏ TÂM ÁC PHÁT TÂM LÀNH thì họ lại là những Người rất năng nổ, đa tài, đắc dụng.   Họ dù cùng hung cực ác thế nào cũng có vài đức tính đáng ngưỡng mộ,  có ích cho nhân quần, một khi được cảm hóa. “Sắt’ mà ‘được toi’ trong lò luyện với ‘lửa cao độ’ thì sẽ trở nên là “THÉP” rất đắc dụng!
              ‘Không ai hoàn toàn TỐT LÀNH, THIỆN HẢO!’  Cũng không ai hoàn toàn XẤU ÁC , BẤT NHÂN BẤT THIỆN’!
Vậy thì có nên phát tâm TỪ BI, BÁC ÁI, THƯƠNG XÓT, những người còn thấp kém, xấu xa, hèn hạ, nham hiểm, độc dữ , cùng hung cực ác thế nào đó không???
“CÓ HIỂU BIẾT MỚI THƯƠNG YÊU”, MỚI XÓT XA! Đức PHẬT đã dạy khuyên như vậy.

               Nói tóm lại, CÔNG LÝ thì phải Nghiêm Minh, Công Bằng, Vô Tư, nhưng cần phải có TỪ BI, BÁC ÁI kèm theo, thì mới tạo được AN VUI HẠNH PHÚC  cho người người, giúp nhau TIẾN HÓA!

               Một triết gia, trong quyển “Zen và Ý Thức về Ăn Chay’, tr. 220-222 đã than rằng  “Kiếp nhân sinh sở dĩ lắm ĐAU THƯƠNG là vì CON NGƯỜI ‘THIẾU LÒNG TỪ BI’ đối với nhau: Con Người khép chặt cửa lòng. Cam tâm ‘nô lệ’ cho SI, THAM, SÂN, ÁI (ái dục và Chấp trước), kiếm đủ cớ để chia rẻ nhau, lửa bịp nhau, lung lạc nhau, ngược đãi nhau, khống chế nhau, hận thù nhau, tranh đoạt nhau, tàn hại nhau, gieo rắc biết bao đau thương thống khổ cho nhau!  Nào hay tự mình là người Khổ Trước, trên hết và nhiều hơn hết.”
               Ni sư AYYA KHÉMA Ấn Độ cũng nhận xét chí lý rằng:” Tất cả chúng ta đều là KHÁCH trên trái đất này!  Không ai sở hữu được thứ gì, dù là những gì thân, yêu, quý, nhất của ta!”
               Đức ĐẠT LAI LẠT MA Tây Tạng đã than thở và có ý khuyên răn, nhắn nhủ người đời rằng:
                                 “Chào Đời hai bàn tay trắng!
                                “Lìa Đời trắng hai bàn tay!
                                “Sao mãi nhặt cho đầy?
                                “Túi Đời như Mây bay?!”

Vậy thì tại sao Con Người không ý thức điều chí lý ấy để HIỂU BIẾT, để kềm chế thất tình lục dục, để cảm thông nhau, để cố gắng ban rải TÌNH THƯƠNG cho nhau, để rồi tha thứ cho nhau, xóa bỏ tất cả ‘oan trái’,  ‘hận thù’, không ai làm ‘Đao Phủ’ của ai nữa, thì lo gì khi chết đi phải sa ‘ĐỊA NGỤC’, khi chinh Con Người đã tạo lấy biết bao cảnh Địa Ngục thê thảm nơi trần gian này rồi!  Rất nhiều người đã vô tình đóng vai những kẻ ‘Đầu Trâu, Mặt Ngựa’ tay-thước-tay-đao, và biến nhau thành những kẻ “Tội Đồ”, những kẻ “Bị lưu Đày” thê lương, thống khổ?! 

Hỡi quý giới chức Lãnh đạo các Nước, hỡi các nhà Lập pháp, hỡi quý vị quan tòa nước VIỆT NAM và trên toàn thế giới, hãy suy gẫm lại xem:“CÓ NÊN LÊN ÁN TỬ HÌNH NHỮNG TRỌNG TỘI KHÔNG???”, dù là Trọng Tội gì, dưới bất kỳ hình thức nào ???

Và các vị lãnh đạo Nước nếu có phạm lỗi chi nặng, thay vi LUẬN TỘI và Lên ÁN XỬ TỬ HÌNH thì người dân có nên chỉ cho « LƯU ĐÀY ĐI BIỆT XỨ », THA TỘI CHẾT mà  KHÔNG THA TỘI SỐNG vậy?!  CÓ ĐƯỢC KHÔNG???

16/ Và sau đây, xin lạm bàn thêm về vấn đề ‘HẠN CHẾ SINH SẢN’ để bảo vệ SỨC KHỎE CHO NGƯỜI MẸ, là bảo vệ Hạnh Phúc Gia Đình, tức bảo vệ An Vui, Cường Thịnh cho xã hội, cho quốc gia!  Nếu-Sanh-Con-Quá-Nhiều thì Nuôi Dạy Cực Khổ và Khó Chu Toàn Cho Tất Cả Các Con, nhất là các trẻ sanh sau chót!  Và gây khổ nhọc, thương đau nhất cho người “LÀM MẸ”, người phụ nữ. 
Nhưng, thay vi Chỉ-Sanh “HAI-CON” mà thôi, thì CÓ-NÊN-CHO-SANH “BA-CON”???
Vì rằng:

1/ Tài nguyên thiên nhiên tối yếu trong vũ trụ là có BA: THIÊN–ĐỊA–NHÂN.  Đó là “TAM TÀI”:Trên là TRỜI, Dười là ĐẤT, ở giữa là CON NGƯỜI!
 TRỜI CHE TA, ĐẤT CHỞ TA. 
Có BẦU TRỜI CON NGƯỜI mới có Không khí để thở để Sống Còn, có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, Con Người mới có sinh khí để Sinh Tồn.

Và CÓ ĐẤT thì CON NGƯỜI mới có nơi ăn chốn ở, mới tạo dựng được nhà cửa để cư trú.  CÓ ĐẤT mới trồng trọt, mới có được ruộng vườn, cây trái, hoa mầu; mới có sông, hồ, ao, rạch ; mới có núi đồi, rừng cây, biển cả; mới có các loài động vật, thực vật!
Thì, CON NGUÒI mới có gạo, có thức ăn , mới có muông thú v.v.. thì CON NGƯỜI MỚI CÓ THỂ SINH TỒN được!
2/ Đứa Con Thứ Ba thường lại là‘Kinh Nghiệm’ của  2 người ‘Cha và Mẹ’ (Nam-Nữ) chung sống với nhau, có kinh nghiệm trong sự hòa hợp thể xác và tinh thần, về đời sống kinh tế, lịch lãm hơn, vững chải hơn, thoải mái, nhẹ nhàng hơn, về vật chất cũng như tinh thần.  Và có sự thương yêu quí mến, trân trọng nhau, hạnh phúc bên nhau hơn, nên khi bào thai được kết tụ sẽ được hưởng nhiều lợi lạc về nhiều phương diện hơn hai lần đầu. Cho nên, các vĩ nhân, những thiên tài,  những người con ưu tú về tài đức, thì có thể thường thấy xuất hiện ở người con thứ 3e! Phải vậy chăng?
Vậy, “NẾU CẢN” ‘KHÔNG-CHO-SINH-ĐỨA-CON-THỨ-BA’ thì gia đình cũng như xã  hội, quốc gia, Đất Nước sẽ Mất-Đi-Biết-Bao-Nhân-Tài, có thể đó là nhà bác học, là bác sĩ, lương y đại tài,  là nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, hiền triết nổi tiếng, là vĩ nhân, cũng chưa biết chừng v.v…  Đó là những Con Người Ưu Tú!
3/a- Vả lại, có thể nói không quá đáng chăng: Nếu không-cho-sanh-đứa-Con-Thứ 3e thì, nếu lở đã kết thành Bào Thai, dù chưa tượng hình hay đã thành hình, người Cha và người Mẹ vì Sợ-Phạm-Luật sẽ bị phạt, nên phải uống thuốc PHÁ-THAI, hay dùng phẩu thuật thì, chẳng khác nào như là XỬ-TỬ-một-Người-đang-còn-trong-Bụng-Mẹ vậy !!! Trẻ đó có TỘI gì mà phải

BỊ XỬ TỬ ?!

3/b- Hoặc, Để-Ngừa ĐẬU THAI, thì người đàn bà Phải-Uống-Thuốc-Ngừa-Thai, RẤT -RẤT-NGUY BIẾN!  Đó là cả một Tai-Họa!
 Vì, Nếu Rủi Đậu Thai thì chắc chắn Đứa-Trẻ-Sanh-ra-Thường-Bị-Dị-TẬT, đủ mọi loại; hoăc Trí Suất IQ RẤT-THẤP-KÉM (!), có khi chẳng khác nào một-loài-động-vật-hạ-đẳng,  chỉ biết ĂN UỐNG NGỦ mà thôi !  Ngoài ra không biết sinh hoạt chi hết, ngay như tắm rửa, mặc áo  quần, cầm đủa muỗng v.v..cũng không biết làm, có người lại không thể nói năng được, không biết thương yêu giận ghét v.v…thì làm-sao-Làm-Một-Con-Người để Tiến Hóa lên?!!!  Đó là một CON NGƯỜI BẤT HẠNH, và là gánh nặng cho gia đình và xã hội!!!

3/c- Hoặc, Nếu đặt-Vòng-Xoắn để TRÁNH  ĐẬU THAI’ thì, đó là một vật bằng kim loại, đặt vào bộ phận sinh dục người đàn bà!  Đặt vào trong mình lâu ngày có thể sanh bệnh KHÓ-TRỊ (cancer) thì đáng thương biết bao!  Một khi người đàn bà trong gia đình BỆNH HOẠN thi biết bao vấn đề bi thảm sẽ đến với gia đình đó!

3/d- Nếu theo luật ÂM DƯƠNG thì ‘HAI’ là  ĐÚNG!  Nhưng trong vũ trụ có Tài Nguyên Thiên Nhiên là “TAM TÀI”, là 3 BẢO BỐI RẤT QUÝ, thì thiếu mất một rồi vậy!!!
Nếu chỉ có BẦU TRỜI và TRÁI ĐẤT mà Không-Có-CON-NGƯỜI, thì đó chỉ là tình trạng sơ khai thuở Tạo-Thiên-Lập-Địa mà thôi!!!
Vậy thì “Chẳng-nên-chỉ-cho-sanh-Hai-Trẻ” mà là “NÊN-CHO-SANH “ĐỨA-CON-THỨ-BA”,  phải vậy không???!!!
Vì đức HIẾU SINH xin có đôi lời trăn trở, xin quý vị Nguyên thủ quốc gia và các Nhà Lập pháp, trong nước và trên thế giới suy gẫm minh triết.

23/02/2020 

GIÁC ĐẠO-LÊ THỊ NGUYỆT ÁNH
Một Cựu Giáo Chức VĨNH LONG
(Cựu Chuyên viên Nghiên cứu Giáo Dục SAIGON trước 1975)
 




MẮT LỆ CHO NGƯỜI – Bích Huyền

MẮT LỆ CHO NGƯỜI

Bích Huyền biên soạn và thực hiện trong Chương trình Thơ Nhạc VOA thập niên 1990′

***

Khoảng từ vài năm đầu thập niên 1980, đời sống dân chúng Sàigòn còn vô cùng thiếu thốn, đói khổ. Có nhiều đợt tù nhân chính trị được thả về. Họ là những người sĩ quan trẻ nhưng bị bệnh tật vì thiếu thuốc men hay vì “lý lịch khá trong sáng ”, không có “nhiều nợ máu với nhân dân”. Những người tù binh trở về ấy đã được dân Sàigon rỉ tai loan tin nhau, ra bến xe, ra ga đón tiếp một cách âm thầm (như mang quà bánh, nước ngọt, trái cây, quần áo và tiền để tặng, những người phu xe xích lô chở về nhà không lấy tiền …v v…).

Năm 1990, tôi được sang định cư tại Mỹ, theo chương trình HO 1. một trong những tình cảm đẹp trong hành trang tôi mang theo là tình thương yêu ấy của đồng bào hai miền Nam Bắc dành cho những người trẻ tuổi anh hùng thất thế ấy- mà nhà cầm quyền CS gọi là “ngụy quân ngụy quyền”.

Năm 1992, tôi được cộng tác với đài VOA, tiếng nói chính thức của chính phủ Hoa Kỳ phát thanh về Việt Nam. Tôi không bao giờ quên những người ở lại, khi đó vẫn còn đang trầm luân đói rách. Thế cho nên, trong những bài tường thuật gửi qua làn sóng VOA, những sinh hoạt Cộng đồng người Việt, những tấm lòng nhân ái tại nơi xứ người hướng về người ở lại. Những bản tin như thế, mang niềm hy vọng cho người miền Nam, nhất là những người tù, người vợ, người mẹ, người con Tù nhân Chính trị.

Ngay cả đến chương trình Câu ChuyệnThơ Nhạc mỗi tốithứ sáu của đài VOA, tôi cũng vẫn có những bài dành cho những người bất hạnh nhất trong một đất nước đã hết chiến tranh. Vâng, cho dù chiến tranh đã tàn nhưng khói của nó vẫn làm cho ta cay mắt.

Tôi nhớ có một chương trình nói về một câu chuyện bắt nguồn từ một cảm xúc về bài thơ mà tôi đã giới thiệu trên đài. Bài thơ ấy như sau:

Một chiều qua bến đò ngang

tình cờ nghe bài hát cũ

người hành khất mù và cô gái nhỏ

cây guitar lạc phím tự bao giờ

Cô gái hát

nỗi đau mênh mông của người tình phụ

chiều bay mưa hiu hắt dòng sông

khách qua đò cuối năm lưa thưa

có người dừng lại

xót xa trong lòng nhưng túi rỗng không

Mấy mươi năm rồi người con gái qua sông

tôi viết lời ca sao buồn quá vậy?

những câu hát cho lòng tôi thuở ấy

ai biết bây giờ

người hành khất hát để ăn xin…

Yêu bài thơ ấy của Đynh Trầm Ca, tôi đã biên soạn một ch/trình Thơ Nhạc “Nhớ người thương binh” và sau bài thơ là ca khúc Mắt Lệ Cho Người của Từ Công Phụng.

Thời gian sau đó, tôi nhận được một lá thư thính giả từ trong nước. (khi đó chưa có email nên phong thư giấy rất thô sơ, vàng úa vì loại giấy dùng rồi phải nấu lại vài ba lần, tem thư cước phí rất đắt do nhiều người chung góp).

Trong thư kể rằng, cũng từ cảm xúc của bài thơ ấy, những người tù xưa đã kể lại một câu chuyện tình ly biệt.

“Có hai người bạn ở trong tù, rất thân nhau. Họ là hai người bạn thời trung học. Lớn lên mỗi người một nơi, cho tới ngày gặp lại nhau thì buồn thay, lại ở trong một trại tù của người Cộng sản.

Sau năm năm trong nhà tù, họ lại chia tay nhau. Một người được thả về mang theo chiếc vòng của người bạn còn ở lại, nhờ trao đến tay một người con gái ở quê nhà. Chiếc vòng đeo tay làm bằng vỏ đạn có khắc bông hoa điên điển. Nhưng tiếc thay, khi tìm được đến nơi thì người con gái ấy đã không còn ở địa chỉ đó nữa…” Phần cuối câu chuyện không có kết thúc, cho nên nó đã để lại cho người đọc một niềm ray rứt thương cảm khôn nguôi.

Nhưng sau đó tôi lại nhận được thư vị thính giả khác. Ông cho biết về một người bạn cùng ở một tiểu bang, người đã nhận mang chiếc vòng của người bạn đồng tù. Người ấy có về lại tìm người bạn xưa. Còn nỗi đau nào bằng khi gặp lại người bạn học thân thiết thời thanh bình cũ, giờ đây trong một hoàn cảnh rất bất ngờ, đầy thương tâm. Người bạn xưa ấy sau khi ra tù bị mù đôi mắt, đang là một hành khất hát rong trên một bến đò… Hai người bạn cũ gặp lại nhau trong một buổi chiều cuối năm trời mưa bay rất nhẹ. Khung cảnh buồn hiu hắt cả lòng…

Được nghe kể rằng người yêu xưa có tìm gặp nhưng người hành khất đã chối từ: “Tôi không phải là người cô muốn tìm lại, chắc người giống người mà thôi”. Khi người đàn bà ấy buồn bã qua cầu, văng vẳng từ phía sau tiếng ghi ta và tiếng hát như đuổi theo…

“Mưa theo dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Đời em đã khép đi vội vàng

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng

Như cánh chim khuất ngàn

Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu

Mưa… soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Thời nào yêu hết trái tim buồn

Lời nào yêu hết trái tim buồn

Xin giữ trong mắt lệ

Nhòa theo từng gót chân người trông vời

Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức,

Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa như em khóc hồn nhiên

Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở

Em thấy không cõi đời vô vọng…

Xin em hãy cho tôi tạ tình,

Khi em đã đi qua quãng đời tôi

Dù một khoảnh khắc sớm phai tàn,

Và lệ em rớt trên môi nhạt

Đôi mắt em rất buồn,

Đôi chúng ta rất buồn,

Vàng câu tình cũ

Xin gửi cho đời…

Trong đời sống, chia ly là chuyện bình thường. Nhưng có lẽ không có cuộc chia ly nào mà không có nhiều nước mắt đớn đau kể từ năm 1975. Bao nhiêu gia đình tan nát. Hai vợ chồng đôi ngả chia xa, hai người yêu nhau muôn đời cách biệt. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng dù thời gian có xóa nhoà đi tất cả, dù không gian có cách xa, họ vẫn mãi nhớ nhau. Rồi có một phút giây nào đó gặp lại, họ nói với nhau lời tạ từ, nghẹn ngào trong hạnh phúc đắng cay, nhạt nhòa mắt lệ…

Tháng 6/2012

Bích Huyền




Niềm Vui Của Cha – MINH THÚY & Hình Ảnh Ngày Quân Lực VNCH, Kỷ Niệm Ngày 19 Tháng 6 2021 – Lê Văn Hải

       Ông Lang được chích thuốc phòng dịch Coronavirus từ tháng ba năm nay. Sau bao ngày bó chân bó cẳng ở tiểu bang Alabama nơi gia đình con gái, hôm nay ông mới được về Cali thăm con trai. Trời Cali thật lạ, tuy đã tháng sáu nhưng ông vẫn thấy lạnh, ngày lạnh ít mặc áo ấm nhẹ, đêm lạnh nhiều mặc áo dày vẫn thấy run, hay tại tuổi trên 80 của ông cơ thể đã bị yếu đi nhiều?!

Hùng (con trai) và vợ là Vân sang nhà hàng cuối năm 2019, làm ăn chưa được 5 tháng thì bị tình trạng đóng cửa vì dịch bệnh, vợ chồng lo lắng xanh mặt, tình trạng kéo dài phải chịu trả tiền rent chờ đợi. Bao nhiêu tiền dành dụm trước đây đã đắp đổ hàng tháng, may có bà ngoại giúp đỡ và con gái lớn vừa học vừa làm có tiền dành dụm đưa ba mẹ. Hùng xót xa thương con, cha mẹ  nào muốn con mới ra đời đã phải nặng gánh lo toan nhu vậy, nhưng tình thế làm ăn lao đao chung, nên đành phải nhận lòng hiếu thảo của con. Mấy tháng qua quán ăn được mở trở lại phục vụ dưới hình thức “Food togo”, nhưng nơi Hùng Vân bán, đa số là sinh viên thuê nhà chung quanh trường   San Jose State University, nay các em học online tại nhà, vợ chồng cố cầm cự khách vãng lai, bỏ công cầu mong đủ trả tiền rent chờ đợi tương lai hy vọng sáng sủa hơn. Tình hình xăng dầu mắc mỏ, vật giá leo thang kinh khủng, Hùng Vân mua hàng thực phẩm giá cả tăng gấp ba, tháng trước vợ chồng hì hục dán thay đổi lên giá chút xíu khiêm nhường, thì nay mua hàng lại tiếp tục tăng, vợ chồng khổ sở không dám nghĩ đến chuyện tăng thêm sợ mất khách.

Ông Lang nhìn hoàn cảnh con cháu cũng buồn rầu lo lắng thêm, tuổi ông nay cũng gần đất xa trời, nhưng rước vào biết bao nhiêu sự lo lắng trước cuộc sống hiện tại từ kinh tế, dịch bệnh và mới đây là sự kỳ thị dân Á Đông. Hằng ngày xem tin tức hình ảnh dân Á đông bị hành hung, ông chỉ biết âm thầm thở dài, không dám đi dạo bộ ngoài đường như trước nữa, suốt ngày loanh quanh sau khu vườn. Sống với con này lại nhớ con kia, mỗi con làm việc và sinh sống mỗi tiểu bang, ông luôn cầu mong có nhiều sức khỏe để còn đi thăm các con.

Về đây, nhìn vợ chồng Hùng đầu tắt mặt tối, sáng rời nhà sớm, tối về muộn, các cháu đi học, ông cũng chẳng còn ai để chơi. Bạn lính, bạn tù, bạn thời đi học có nhiều, thường liên lạc bằng email. Ngày xưa thỉnh thoảng họp hội đoàn nơi này nơi kia, nay từ từ đã rụng lần hồi, bạn bè còn lại, đa số không còn lái xe được, gọi phone thăm nhau đều nghễnh tai nói chuyện, ông nói vịt, bạn nói gà, mở volume thật lớn, nghe và hiểu được bao nhiêu thì hiểu. Thế giới người già bị thu hẹp niềm vui và tăng dần sự cô đơn lạc lõng.

Sáng nay cháu gái đầu của Hùng là Sophia Thu Hằng được nghỉ ở nhà, lần đầu tiên ông Lang thấy cháu có thì giờ kể từ khi qua đây. Tuổi trẻ bận rộn theo việc học hành, nhiều sinh hoạt bên ngoài, may mắn gặp bữa có cháu ngồi chung mâm cơm, thăm hỏi đôi điều rồi các cháu trở về phòng sớm lẹ, mà nếu có ngồi chung cũng cúi mặt vào phone. Nhiều lúc ông cũng muốn cười nhìn các cháu ngồi kề nhau nhưng nói chuyện bằng text qua phone, tiết kiệm lời nói tối đa, không ngờ cái phone nó có sức thu hút và điều khiển mạnh mẽ như vậy, chả bù với ông bây giờ muốn nói nhưng không ai nghe, và cũng chẳng nghe được ai nói dù đôi tai đã gắn hearing aid.

Trời nắng ấm, Ông đi dạo quanh vườn, cầm kéo cắt tỉa những bông hoa héo, lá sâu, nhặt rác, nhổ cỏ dại. Những chậu hoa tươi sáng lên dưới ánh nắng vào hạ, hoa Snapdragon hồng, vàng xinh tươi thường bán nhiều nơi của tiệm Trader Joe’s, hoa Hồng mấy cây đủ màu sắc nở nụ thật xinh, hoa chuối màu gạch đậm đà, hoa Cúc vàng tươi rực rỡ, còn nhiều hoa nữa ông không biết tên, ông dừng lại cắt tỉa thật kỹ loài hoa màu tím, hình thù như hoa Phượng, màu tím gợi nhớ nhiều kỷ niệm, ánh  mắt  ông xa xăm về vùng quá khứ…

                                    ***

Thủa ấy cuộc tình của ông được trải dàn hình ảnh thơ mộng nơi đất Thần Kinh. Hương (vợ ông) học trường Đồng Khánh, ông học trường Quốc Học. Từng chiều tan trường ông đạp xe về hướng Vỹ Dạ, tình cờ cũng thấy cô gái đạp cùng hướng, thường hay để chùm hoa dại màu tím trên giỏ xe, ông bị cú sét “phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng”, với nét mặt đẹp thánh thiện, trong sáng. Từ đó mỗi giờ tan trường ông thường nấn ná đợi chờ trước cổng trường mình, mắt nhìn đoàn nữ sinh đi bộ, đoàn đạp xe rất rõ ràng chứ không như Hàn mặc Tử “ áo em trắng quá nhìn không ra “. Rồi từng ngày xe theo xe  nhặt bóng nắng đường dài,  Ông đạp chậm theo ai hát vừa đủ họ nghe 

Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi

Cô đi về đâu tan buổi học rồi

Cô xuôi Đạp Đá hay về Nam Giao

Cô về Vỹ Dạ hay ngược Kim Luông…   (Thu Hồ)

May mắn cho Hương chưa tới Vỹ Dạ, cũng chưa qua Đập Đá thì nàng đã rẽ vào đường Nguyễn Công Trứ có chợ Cống lối sâu, nếu không sẽ còn nghe “gả điên” có giọng ca khàn đục bám theo sau. Đều đặn thời gian có lẽ cô thấy anh thanh niên mặc áo trắng, quần xanh với nét mặt thanh tú không đến nỗi tệ, nên có lần cô cũng mở miệng trả lời câu hỏi làm quen của ông, vừa đạp xe vừa giữ chiếc nón quai tím thật duyên dáng làm tim ông đập mạnh rung động. Hai người quen nhau từ đó, chỉ tiếc nàng không đạp xe qua khỏi Đập Đá để thấy con đường thơ mộng trải nhẹ xác hoa Sầu Đông, ông ước chi được thấy loài hoa nhuỵ tím cánh trắng nhỏ tí theo làn gió thoảng bay rụng bám trên áo nàng, tóc nàng chắc sẽ làm ông ngây ngất thêm nữa.

“Khi gió mới lên làn tóc tung tăng.

Xõa ngang bờ vai khi tuổi dậy thì

Đôi môi hồng thắm duyên là nên duyên 

Mắt tròn như mộng say đời xinh xinh 

Cô là tất cả trời đẹp xứ kinh”

Mối tình kéo dài bằng những cánh thư trao gởi được hơn một  năm thì ông đi lính vào Thủ Đức sau khi đậu Tú Tài 2, lúc đó Hương đang học lớp đệ nhị. Ông ra trường sợ mất Hương, về phần nàng đang ham yêu nên tốt nghiệp trung học xong lo sợ”một ngày xa nhau xóa bao hình bóng”, nên cũng muốn lấy chồng để giữ tình yêu. Cha mẹ Hương lo lắng đời lính phiêu bạt, còn Hương thì chưa có nghề nghiệp gì, nhưng lúc yêu nhau con người ta thường mạnh mẽ chẳng sợ điều gì, ông luôn trấn an Hương “trời sinh voi, trời sinh cỏ”.

Cuộc đời binh nghiệp rày đây mai đó, nên Hương bồng con theo ông sống từ tỉnh này đến tỉnh khác cho đến ngày mất nước. Ông đi tù cải tạo. Hương ôm hai đứa con dại vô Sài Gòn ở ké nhà mạ đã vào trước đó. Tuổi đời còn dại chưa từng va chạm, Hương theo người ta buôn gì lỗ đó, vốn liếng chẳng có, đi họp tổ nghe dụ dỗ vợ tù cải tạo nếu đi kinh tế mới chồng sẽ được về sớm. Hương tìm lên hướng Long Thành dựng nhà làm rẫy chờ ngày ông về. Hai năm, ba năm, rồi tới tám, chín năm chưa về, chồng ở tù ‘mút mùa Lệ Thủy.” Hương trở lại Sài Gòn vì muốn con cái học hành, nhờ em chồng giúp đỡ cho ở ké góc nhà sau. Hương kiếm được chỗ ngồi đầu hẻm nấu xôi bán, ngày nào bán ế các con than thở “ăn xôi hoài sợ quá mẹ ơi”. Bòn nhặt chút tiền dư Hương lặn lội ra miền Thanh Hóa đèo heo hút gió thăm ông, tủi tủi mừng mừng chẳng nói được điều gì, ông chỉ biết nhìn Hương nước mắt ràn rụa. Những đêm trong tù thao thức, ông đã từng nghĩ với nhan sắc của Hương ra đời thế nào cũng có nhiều người theo đuổi, Ông chẳng trách hờn nếu Hương bước thêm bước nữa, trái lại còn thương hoàn cảnh người đàn bà yếu đuối mất dần tuổi xuân, chồng lại tù tội không có ngày về. Trước mắt ông là hình ảnh người thiếu phụ đen sạm ốm yếu tàn tạ, khiến ông càng đau lòng thắt ruột, nhưng biết làm gì hơn trong hoàn cảnh này. Sau chuyến  thăm chồng về Hương bị mất chỗ ngồi bán xôi, nàng chỉ biết cắn răng vác thúng đi dạo quanh vùng bán rao. Tình cờ có người bà con thấy hoàn cảnh quá nghèo khổ, nên giới thiệu hàng may gia công, Hương cặm cụi sáng tối ngày mười mấy tiếng, gắng nuôi con ăn học, mòn mõi đón chồng sau gần 14 năm “cải tạo”.

Ông ngừng tỉa cây, ngồi xuống bộ bàn ghế đặt dưới gốc Phượng tím, mắt ông lại càng xa vời như người mộng du tiếp tục quay về vùng ký ức…Bao nhiêu năm trong tù, đau khổ nhục nhã lao động bào mòn thể xác tinh thần, nhưng khi về nhà đối diện cảnh thực tế, ông càng đau đầu lo âu đủ thứ nhìn cuộc sống vợ con vất vả, ông đã sụt mất nhiều cân. Ông làm đủ nghề thợ mộc, thợ hồ, làm thuê làm mướn, chỉ muốn nhắm mắt lại mỗi lần thấy lá cờ đỏ sao vàng, tim đau nhói khôn tả, nuốt nước mắt chảy ngược vào lòng nhức nhối.

Vài năm sau ông đi diện HO qua Mỹ, đau lòng  rời xa Quê Hương Đất Tổ sống đời tỵ nạn mà vết thương trong tâm hồn thầm lỡ loét mỗi ngày mỗi sâu hơn. Vợ chồng ông bắt tay cày cuốc cố gắng lo gầy dựng cuộc sống mới, nhưng cuộc đời đếm trên đầu ngón tay niềm vui chẳng được bao nhiêu, vợ ông ngả bệnh bất ngờ, chỉ nửa tháng sau buông nghiệp trần ra đi. Ông mất thăng bằng tâm lý, có những đêm uống rượu say mèm trốn chạy sự thật đau đớn, thức giấc nửa đêm thấy bão tuyết ngoài trời, ngôi nhà trống vắng lạnh lùng, ông ước chi được đi theo vợ giải thoát. Các con đã lập gia đình ở riêng rất lo lắng, gọi phone đến thăm, ông sợ hãi dọn dẹp sạch những chai rượu, không để lại dấu vết gì vì sợ các con buồn. Thấy tình trạng cha suy sụp như vậy, các con muốn ông về sống chung. Ông không vực dậy nỗi bản thân, bỏ bê công việc nên bị laid-off. Con ông lệ thuộc công việc, nên di chuyển sang tiểu bang khác, từ đó ông ở hai nơi…

           – Ông đang ngồi nghĩ gì vậy ?

Tiếng bé Hằng đang bước ra vườn hỏi làm ông choàng tĩnh trở về thực tại 

– Ờ ông đang ngắm và cắt tỉa hoa cho gọn cháu à 

Ông có thể kể con nghe chuyện VN, chuyện ông được không?  Con đọc vài tài liệu nhưng chưa hiểu hết.  

            Ông gật đầu mừng rỡ, các cháu ngoại còn quá nhỏ, nhưng hôm nay cháu nội đã trưởng thành và muốn tìm hiểu về quê hương Việt Nam. Ông rửa tay và hai ông cháu ngồi đối diện. Nắng xuân pha lẫn giọt hạ hồng tươi sáng ấm áp, mùa hè đang chào đón, bầu  trời trong xanh dịu mát, ông hít thở không khí trong lành, kể giọng chậm rãi….

– Khi giặc miền Bắc xâm lấn miền Nam… ông bị đi tù, bà nội con đã dầm mưa dãi nắng ngồi bán xôi nuôi ba và cô của con, ông từng bị còng tay ngồi xà lim, đi lao động làm đủ việc nặng nhọc, nhiều lúc ông không ngờ được có ngày mình còn sống trở về. May mắn đất nước Hoa Kỳ dang tay cứu vớt, đưa HO sang đây làm lại cuộc đời. Dân VN rất sợ Cộng Sản cai trị bởi chế độ độc tài, nên liều mình tìm cách trốn thoát bằng đường bộ hoặc đường biển, đàn bà bị cướp hãm hiếp bắt cóc, người ta bỏ mạng rất nhiều ngoài biển cả vì tàu chìm.

         Bé Hằng chớp mắt lia lịa như cố đè nén nỗi xúc động, cháu đứng lên quay vào trong, hồi sau cầm ra ly nước cho ông uống, mặt mày tỉnh táo hơn ngồi xuống chờ đợi ông kể tiếp. Ông phải tìm chữ giải thích cách này cách kia vì nhiều từ ngữ cháu không hiểu.

         – Cháu biết dân tỵ nạn trên khắp các nước luôn bảo vệ lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đó là lá cờ tự do mà đời ông đã gìn giữ đất nước trong hai mươi năm, biết bao người đổ xương máu hy sinh mất một phần thân thể, nay đã tàn phế bên quê nhà, cho nên cháu cố gắng học thật giỏi, góp công trả ơn nước Mỹ nói chung và giúp cộng đồng Việt Nam nói riêng nhé, đó là điều ông mong cháu luôn ghi nhớ…

       Bé Hằng ngồi yên mắt đỏ hoe, bỗng dưng choàng ôm ông 

         – Con thương Ông lắm, giống như con thương ông Ngoại cũng đi tù mấy năm, con chỉ nghe qua lời mẹ kể vì Ngoại mất khi con nhỏ quá, may mắn nay được nghe Nội kể, “I love you so much”. 

Câu chuyện ngưng ngang đó vì cháu còn chuẩn bị đi dạy học ở KM (Kumon Learning Center).

         Tháng sáu bé Hằng tốt nghiệp hai năm trường Chabot College để chuẩn bị vào U.C Berkeley.  Quá đỗi kinh ngạc của ông và cha mẹ, cháu mặc áo, mũ làm lễ kèm theo khăn quàng cổ bằng cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ thân yêu của người tỵ nạn Cộng sản đã trân quý gìn giữ khắp nơi. Có niềm vui nào bằng với ông bây giờ, cháu đã tìm hiểu lý do về chuyện tỵ nạn của người Việt trên xứ người. Riêng đối với Hùng và vợ, niềm hạnh phúc dâng tràn nhìn con ngoan hiền, tiền kiếm được đưa hết cha mẹ lúc vợ chồng Hùng gặp khó khăn về business. Hơn một tháng nay công việc buôn bán có vẻ hồi sinh trở lại, Hùng hy vọng tình hình sẽ khá hơn, vợ chồng anh sẽ cố gắng làm lụng, phụ giúp vào ước mơ của con gái chọn ngành theo ý muốn. 

Sắp đến ngày lễ Father’s Day, bé Hằng hỏi cha và ông thích quà gì để cháu mua, vì cháu muốn món quà được dùng không bị bỏ xó. 

Ông Lang mỉm cười vỗ đầu bé Hằng 

– Cháu biết choàng lá cờ vàng, lá cờ chính nghĩa người dân tỵ nạn VN luôn tranh đấu để được xuất hiện trong các buổi lễ một cách trân trọng, cháu đã hiểu phần nào về quê hương đất nước, thì là món quà quý giá tặng cho ông rồi, ông chẳng cần thêm gì nữa hết.

Hùng cũng âu yếm nhìn con 

– Con đã là món quà lớn mẹ Vân tặng cho cha rồi, con biết chăm chỉ học hành, hiếu thảo với cha mẹ, ngoan hiền như vậy cha đặt hết kỳ vọng về con, cha vui lắm không cần quà cáp gì đâu con. 

Buổi tối gia đình dùng cơm với những món hơi đặc biệt, gọi là ăn mừng bé Hằng ra trường. Không khí đầm ấm, hình ảnh gia đình hạnh phúc giữa ba thế hệ ông, cha, và cháu, bữa cơm thêm ngon miệng.  Ông Lang và Hùng cụng ly bia, nháy mắt ra dấu chia sẻ niềm vui chung của những ông cha.

Bất chợt Hùng sực nhớ ra điều quan trọng đã quên nói

– Con báo ba tin mừng nữa là năm ngoái vì bệnh dịch Covid_19 nên Liên Hội Quân Nhân gác kiếm không tổ chức ngày Lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, nhưng năm nay tổ chức đúng ngày 19 tháng 6 tại đường West Hedding St. San Jose, con đã nắm thông báo và địa chỉ đây, hôm đó con sẽ chở ba đi dự lễ, như vậy là quà Father’s Day đó nhé, khỏi cần mua gì tặng phải không ba?

            – Cha mày…chỉ được cái lém lỉnh. 

Lâu lắm rồi nụ cười của ông mới mở rộng hết ga như vậy, ông nghĩ “chuyến về Cali này thật hên, ông sẽ được hồi sinh lại quá khứ trong ngày lễ QLVNCH…”

Minh Thúy (Thành Nội)

2021




TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN MINH ĐỨC HOÀI TRINH – KIỀU MỸ DUYÊN

Nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn Khánh Lan, Kiều Mỹ Duyên, nhà văn Việt Hải

          Chị Minh Đức Hoài Trinh mới mất đây mà đã 4 năm, nhưng gia đình và bằng hữu vẫn nhớ đến chị, làm lễ tưởng niệm chị. Buổi tưởng niệm được tổ chức ở nhà hàng Diamond Seafood, thành phố Westminster sau dịch cúm vô cùng cảm động. Ba thế hệ tham gia buổi lễ tưởng niệm, đồng thời cũng nhân ngày của Cha. Phụ nữ trong những tà áo dài màu sắc sặc sỡ, tha thướt như ngày nào còn là nữ sinh trung học. Nhà văn Việt Hải, trưởng ban tổ chức, nói về lý do buổi tiệc hôm nay. Lệ Hoa, vợ của Việt Hải vẫn đẹp như ngày nào nhưng không đi bên cạnh chồng lúc Việt Hải phát biểu ý kiến. Giọng nói của Việt Hải rất mạnh, tinh thần minh mẫn mặc dầu đã qua cơn bạo bệnh. Người có tâm huyết thì nhất định phải sống lâu trăm tuổi để làm việc cho cộng đồng.

          Lời nói của Việt Hải nhắc về nhà văn Minh Đức Hoài Trinh rất tình cảm và chân thành. Người đi thì đã đi nhưng người ở lại nhớ mình là một điều rất khó. Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh đã ra đi nhưng để lại nhiều bài viết rất xuất sắc. Thơ của chị đã được phổ thành nhạc ở Âu Châu và Mỹ Châu. Bài hát Ai trở về xứ Việt do nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ thơ của chị Minh Đức Hoài Trinh được hát khắp nơi trong các cuộc họp mặt hoặc các buổi cắm trại sau năm 1975 ở Âu Châu và Úc Châu.

Nhà văn Thụy Lan, Việt Hải, Khánh Lan

          Nhà văn Việt Hải nói ít nhưng phát biểu đầy ý nghĩa. Nhà văn Nguyễn Quang, phu quân của chị Minh Đức Hoài Trinh nhắc về những kỷ niệm của anh chị từ ở Pháp sang Hoa Kỳ định cư. Nhạc sĩ Võ Tá Hân, con trai Đại Tá Võ Sum, cũng phổ nhạc nhiều bài hát từ thơ của thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Nhạc sĩ Võ Tá Hân gọi thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là cô. Trong một gia đình có nhiều văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ Linh Bảo cũng được nhắc nhở đến n

          Trong buổi họp mặt chủ nhật ngày 13/6/2021 có sự hiện diện của các bậc trưởng thượng như Đại tá Lê Thương (Chỉ huy trưởng Pháo binh SĐ2 Bộ binh), Đại tá Lê Bá Khiếu (Tỉnh trưởng Quãng Ngãi), Trung Tá Hà Văn Thức (Chỉ huy trưởng quân nhu bốn vùng chiến thuật), Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhường (Tiểu đoàn 34 Pháo Binh), Giáo sư Dương Ngọc Sum, Bác sĩ Nguyễn Trọng Việt, Giáo sư Lê Tinh Thông, ông Nguyễn Đức Luận. Ban hợp ca cất tiếng hát lảnh lót, đa số là nữ ca sĩ, chỉ có một nam ca sĩ, là nhà văn Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, tươi sáng như gươm lạc giữa rừng hoa.

          Các diễn giả phát biểu ý kiến xen những bài hát được phổ nhạc từ thơ của Minh Đức Hoài Trinh, làm cho buổi tưởng niệm nhà văn Minh Đức Hoài Trinh thêm phần hào hứng. Lúc đầu, nhà văn Việt Hải nói dự trù khách tham dự chừng 50 người, không ngờ cuối cùng hàng trăm người đến dự. Buổi lễ rất vui, khai mạc đúng giờ, các MC gồm 3 cô luân phiên điều hợp chương trình là các ca sĩ Mộng Thủy, Khánh Lan và Thụy Lan, những người điều khiển chương trình duyên dáng, tha thướt trong chiếc áo dài nhu mì không kém phần thời trang. Các nàng người nào cũng ăn mặc đẹp, bận rộn trình diễn ca nhạc và tiếp khách. Nhà thơ Dương Hồng Anh (cháu nội của danh sĩ Dương Khuê) tươi cười và có sách, thơ in hàng năm tặng bằng hữu, sách không bán. Sự lạc quan của các thi văn sĩ trong những bài hát làm cho những người trẻ hiện diện thích thú. Nếu đến đám đông mà nghe rên than thì tuổi trẻ không thích, nhiều người trẻ phát biểu ý kiến như thế. Ban Tổ Chức cố gắng dung hòa giữa những thế hệ. Buổi lễ được Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian  thực hiện, đây là do sự kết hợp bởi 2 nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật chuyên về thi ca văn học và nhóm Tiếng Thời Gian chuyên về âm nhạc và ca kịch, ca vũ nghệ thuật. Tổ chức ra đời được gần 7 năm, với nhân số hội viên hơn 70 người.

Nữ sĩ Dương Hồng Anh ký tên tặng sách.

          Giáo sư Quyên Di nói về ngày của Cha rất có ý nghĩa, với năng khiếu thuyết trình trong phong thái ý nhị và dí dỏm khi trình bày đề tài. Giáo sư Quyên Di hát về Cha giống như ca sĩ chuyên nghiệp, được vỗ tay nồng nhiệt nhưng lại hát có mấy câu, chờ lần sau hội ngộ.

Kiều Mỹ Duyên kể lại những kỷ niệm đẹp với chị Minh Đức Hoài Trinh

          Kiều Mỹ Duyên nhớ về chị Minh Đức Hoài Trinh là gặp chị ở trong thang máy đến nơi họp báo của hòa đàm Paris, năm 1969. Chúng tôi bàn với nhau về việc đặt câu hỏi với phái đoàn Bắc Việt về biến cố Mậu Thân. Tại sao các ông giết 6 giáo sư người Đức sang Việt Nam dạy học trong chương trình trao đổi văn hóa quốc tế? Câu hỏi này được sự thu hút của giới truyền thông quốc tế, nhất là ký giả người Đức. Tối hôm đó, chúng tôi lại gặp nhau tại buổi tiệc của Liên Hợp Quốc. Chị em có cơ hội ngồi gần nhau. Sau này, chúng tôi gặp lại, chị kể chị du học ở Trung Quốc. Khi Trung Quốc biến thành Cộng Sản, chị sang Hồng Kông, nhờ người bạn bán cây đàn dương cầm để giúp chị đi sang Pháp. Ở Pháp, chị học về báo chí.

          Chị kể cho chúng tôi nghe rất nhiều về cuộc đời của chị, rất sống động và đầy hứng thú. Xa quê hương, nhưng năm nào chị cũng về Việt Nam vào gần Tết để giẫy mã cha mẹ. Chị Minh Đức Hoài Trinh cuối đời được phước có anh Quang chăm sóc cho chị. Chị định cư ở Hoa Kỳ, tại Midway City, Orange County. Thỉnh thoảng, tôi đến thăm chị. Chị dạy đàn tranh và thường cùng học trò trình diễn đàn tranh trong đại hội. Tôi rất thích nghe tiếng đàn của chị vì tiếng đàn rất lạc quan.

          Có nhiều người trong buổi tiệc là góa phụ. Không hiểu tại sao sang đây đàn ông đi trước nhiều hơn đàn bà?

          Nhiều người thương nhà văn Minh Đức Hoài Trinh và ca ngợi nhà văn Nguyễn Quang vì anh đã chăm sóc chị cho đến cuối đời. Có bao nhiêu đàn bà được hưởng hạnh phúc như thế?

Nhà văn Nguyễn Quang, phu quân của chị Minh Đức Hoài Trinh nhắc về những kỷ niệm của anh chị từ ở Pháp sang Hoa Kỳ định cư.

          Nhà văn Quyên Di nói về Cha rất ý nghĩa và thâm thúy, cảm động nhất là đoạn chót. Đàn ông cũng khóc nhưng nói mình chảy nước mắt là do mùi hành.

          Kiều Mỹ Duyên thì cho rằng đàn ông Việt Nam người nào cũng làm vua vì được hầu, những bàn tay của phụ nữ hiện diện vỗ tay như pháo.

          Sau đây tôi xin trích đoạn một phần mà Giáo sư Quyên Di kể chuyện về Minh Đức Hoài Trinh: “Mở đầu sách Đại Học, tức là một trong Tứ Thư của Nho giáo, chúng ta đọc được câu: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện,” có nghĩa là: Đạo học làm việc lớn là ở chỗ làm rạng tỏ cái đức sáng của mình, thương yêu người dân, đạt tới chỗ vô cùng chí thiện. Khi được gợi ý và rồi chấp nhận tên Minh Đức làm bút hiệu, cô thiếu nữ có tên thật là Võ Thị Hoài Trinh đã có một chí lớn, noi theo gương Triệu Thị Trinh: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ.” Tuy nhận tên Minh Đức nhưng cô thiếu nữ ấy không quên gốc gác của mình, bởi vậy đã thêm vào bút danh hai chữ Hoài Trinh để trở thành Minh Đức Hoài Trinh. Hoài là ôm ấp, giữ gìn. Hoài Trinh là ôm ấp, giữ gìn một lòng trung trinh, chung thuỷ với quốc gia dân tộc.

          Minh Đức Hoài Trinh sinh ở Huế ngày 15 tháng 10 năm 1930; trở về với Đại Ngã tại Cam Thành ngày mồng 9 tháng 6 năm 2017 (tức là cách đây 4 năm.) Trong 87 năm tại thế, Minh Đức Hoài Trinh đã làm những việc lớn lao. Năm 1964, Minh Đức Hoài Trinh sang Pháp, theo học đại học lừng danh Sorbone, ngành Báo Chí và Hán Văn. Tốt nghiệp năm 1967, Minh Đức Hoài Trinh trở thành phóng viên đài truyền hình Pháp. Năm 1972, MĐHT được cử theo dõi để tường trình về hoà đàm Paris.

          Đây là những công việc hết sức khó khăn đối với một người nữ, với thân hình mảnh mai, xinh đẹp. Nhưng Minh Đức Hoài Trinh đã vượt qua tất cả để thực hiện được.

          Năm 1974, Minh Đức Hoài Trinh về nước, làm giáo sư ngành báo chí tại Đại Học Vạn Hạnh. Năm 1975, Minh Đức Hoài Trinh sáng lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và là chủ tịch tiên khởi. Ngoài ra, như tôi được biết, Minh Đức Hoài Trinh còn được đề cử vào ban tuyển lựa những tác phẩm của giải Nobel Văn Chương.

          Những việc làm lớn lao Minh Đức Hoài Trinh làm một mình, âm thầm mà làm, nhưng đã làm rực sáng lên con người Minh Đức Hoài Trinh. Những công việc này không phải dễ dàng để ai cũng làm được, nhưng Minh Đức Hoài Trinh đã làm được.

          Hôm nay chúng ta tưởng niệm Minh Đức Hoài Trinh. Nghiêng mình trước di ảnh của bà, tôi rất xúc động và lấy làm hãnh diện vì nữ giới Việt Nam có một người như Minh Đức Hoài Trinh.

          Trong lúc này, tự dưng tôi nhớ đến một bài hát của Nguyễn Đức Quang. Anh viết du ca rất nhiều, trong đó có một bài không phổ biến lắm, nhưng đã nghe hay đã hát thì ai cũng thích. Đó là bài “Chiều Quan Tuy Hoà.” Bài này được viết trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam khốc liệt. Một ngày nào đó, nhạc sĩ đến Tuy Hoà, thấy cảnh xơ xác của đồng quê Việt Nam. Tuy nhiên trong đêm đen xơ xác đó, nhìn lên bầu trời, chúng ta thấy lấp lánh một vì sao. Tôi xin hát một đoạn, để chúng ta “thưởng thức” tâm tình của Nguyễn Đức Quang. Tôi hát đoạn này vì thấy có cái gì liên quan đến Minh Đức Hoài Trinh. Đoạn ấy như sau:

“Rồi khi tia nắng phía non tây tàn,

Người đây như cũng như dần tan.

Nhịp đêm tiếng súng đong đưa ngoài ngõ,

Người qua song chắn ngó nhìn trời xa.

Ôi, đỉnh trời lấp lánh trong đêm dài,

Mình tu chưa chín nên nào hay.”

          Minh Đức Hoài Trinh như là một vì sao sáng trong đêm dài, nhưng có khi chúng ta chưa nhìn thấu được cái lấp lánh đó. Một lấp lánh của mong ước Việt Nam được hoàn toàn tự do, nhân quyền, dân chủ. Và ước vọng của Minh Đức Hoài Trinh, bà đã từng thổ lộ với tôi và nhiều người khác, là dựng lại cờ vàng tại Việt Nam.

          Những điều đó làm sao chúng ta không cảm phục được.  Một mình mà làm, âm thầm mà làm, nhưng…”.

          Phải chăng Minh Đức Hoài Trinh đã ra đi, nhưng sự ngưỡng mộ và luyến tiếc vẫn ở mãi với nhiều người.

Ảnh chụp kỷ niệm nhân Giỗ 4 năm của nhà văn Minh Đức Hoài Trinh, 13/06/2021.

          Những buổi tiệc vui và nhớ về người đã ra đi là cơ hội gặp gỡ nhau, nghe nhạc, hàn huyên, nhắc về quá khứ và nói đến tương lai.

          Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh suốt đời tranh đấu cho Việt Nam có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Chị là Chủ Tịch văn bút Việt Nam.

          Bây giờ chị đã về với ông bà. Xin chị linh thiêng phù hộ cho người Việt Nam tị nạn có ngày về khi Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền.

Sinh viên Minh Đức Hoài Trinh đang đi trong khuôn viên  Sorbonne, Paris, 1955.
Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh và phu quân Nguyễn Quang sinh hoạt với Liên nhóm, 2016

Orange County, 13/6/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)