Khi tôi đến thành phố đó, mặt trời bắt đầu lên một lượt với ngày, vạt núi thả dần ánh nắng mầu vàng, đổ chứa chan trên khắp nẻo, tôi nói xe dừng lại ngắm nhìn …
Anh mỉm cười trong tâm thức tôi, vì anh có đang ở cạnh tôi đâu, đó chỉ là những ngôn từ không thoát ra tiếng nói, hay đó chỉ là mơ mộng lâu ngày trở thành …quán tính.
Tôi muốn nói với anh rằng : Anh không cần phải thốt lên âm thanh, chúng ta đang là những nhân vật nổi trong một bức tranh tĩnh .
Anh biết tôi từng phút giây đang làm gì, vì mỗi ngày tôi viết thư cho anh, kể hết ngọn nguồn . Không đòi hỏi một hồi âm, dù thì thầm như hơi gió mùa thu, lẫn với sương bay, khói toả…
Tại sao có một người biết tôi từng giọt nước mắt rơi ra, từng tia nhìn lặng lẽ, mà anh lại …chậm hiểu thế chứ ?
Anh cười một cách xót xa: ” Thì suy tư của M có lạnh mấy, như gió mùa thu, cũng chỉ mát thôi . ”
Đúng rồi, có cần chi đốt lửa chờ khí ấm, bởi gió mùa thu đã lẫn trong hơi thở M rồi …người tình tịnh ngôn thân kính ạ.
Thế là mình đã mấy ngày ” nín lặng ” trong cái nhà thương ở thành phố Thiên Thần Gabriel, trong tư thế bắt buộc phải ngồi bó gối nơi chiếc ghế dành cho người thăm, kê ở cạnh giường bà chị đang đau thập tử nhất sinh.
Cả một đại dương cách trở thân tộc, chỉ có bà chị với mình ở xứ sở này, hai chị em đều đang tuổi thu vàng, ngắm cây phong bắt đầu thưa lá… nghe hơi thu lùa qua thân áo, và nỗi buồn tênh thấm vào từng chân tơ kẽ tóc mỗi người .
Bà chị ngó mông lung, nói thật nhỏ nhẹ :
” Nằm nhà thương 4 ngày, chờ thuốc chưa về, giống như là chờ chết.”
Bà chị yên lặng, rồi tiếp:
” Hình như phải có thật nhiều tiền, ở MỸ tư bản mà, để chưa hay không được cơ quan y tế chấp thuận cách chữa hay thuốc hiếm kiểu ” Mê đi Mê đi “, là bỏ tiền ra ngay . ..
” Không .” Tôi trả lời : ” Vẫn phải đi theo hành lang y tế vạch sẵn, bởi có ôm bịch tiền, cũng chẳng kéo được bịnh có tên có tuổi dữ tợn đó, ra khỏi cơ thể đâu . ”
Bà chị tội nghiệp của tôi bấy giờ đang bị nghi là ung thư bạch huyết cầu, những vết nám thoạt mầu hồng , sau sậm dần, rồi nổi những cục u, đau nhức .
” Mê đi – Mê đi ” của chị đang chưa cho phép tiến hành hoá trị…đau nhức và tái tê về cuộc sống chênh vênh trên đường đời .
Chồng chị mất năm ngoái, chị đau năm nay, không con cháu. Nhà thương là nơi chị đang tạm trú mấy hôm nay, nhưng chị với tôi đều có cảm tưởng là lâu quá rồi .
Cái viễn ảnh trước mặt mang mầu sắc thê lương chi lạ, nhưng chị yêu đời quá, chị muốn sống cảnh “độc thân ” thêm vài năm để đi chơi cho biết đó, biết đây…
Chị bảo có lên Thiên Đường đi nữa, thì cũng phải biết hạ giới này đẹp đẽ đến thế nào chứ.
Sở dĩ có hiện tượng này, thèm được sống để ngắm trời đất chung quanh ta thôi.
Chị biết tôi sẽ hỏi : ” Chị muốn sống cho ai ? ”
Và tôi biết chị sẽ trả lời : ” Muốn sống cho bản thân chị .”
Tôi cũng yêu đời như chị, nhưng lại hay so sánh các hoàn cảnh khác, của các đối tượng khác.
Tôi không đặt ước hẹn với đất trời khiêm cung như chị, xin Thượng Đế có 2 năm ( hai năm quay đi quay lại là hết ) .
Tôi không xin Ngài kiểu lương thiện thế, tôi xin cho cuộc tình tôi thơ mộng suốt trăm năm.
Buổi chiều thứ bảy ở nhà thương, khi ánh nắng bắt đầu lên lại chín tầng mây buồn nản, tôi không dám nhớ anh giờ phút này, nó làm như không gian hấp hối, như tôi đang kể, nhất là ở nhà thương, không có người thân kẻ thích.
Tôi lặng lẽ ngồi trong phòng khách lớn, nhìn thân nhân và khách ra vô thăm viếng .
Đủ giới người, đủ tuổi tác, đủ sắc tộc …
Có tiếng khóc thầm, khóc nhỏ, hay chỉ sụt sịt trong lỗ mũi, nhưng cũng có tiếng la to vì bịnh nhân đau quá .
Ngày nghỉ nên lượng người thăm viếng đông hơn ngày thường, tuy nhiên chẳng thấy ai cười rỡn, như thế là rất biết tôn trọng bịnh nhân .
Y tá tới thông báo cho chị tôi biết rằng tối , dù ai cũng nghĩ và lo là không có thể có thuốc làm xạ trị cho chị ấy, nhưng thuốc đã về, chị tôi sẽ được chuyển lên lầu 4, để làm “ki mô” như mong đợi được chữa trị .
Tôi định nói với chị nhà xa quá, chắc tôi không tới được thường xuyên đâu. Nhưng nhìn vẻ buồn nản, đôi khi hốt hoảng, tôi lại sợ chị tôi mang cảm giác tuyệt vọng về sức khoẻ không phục hồi .
Cảm giác tuyệt vọng thì khởi sự đều giống nhau, hư hao sức khoẻ như nêu trên, suy thoái tinh thần dẫn đến bất lực trầm trọng, mất niềm tin trong cuộc sống, phá sản, vô hiệu hoá tài năng và khả năng. Muốn biến khỏi thế gian này .
Sau ngồi phân tách từng trường hợp một, mới thấy là mọi chuyện đều đi tới 2 giải pháp bắt buộc tự nhiên, mà quý cụ xưa thường nói là : ” cùng tắc biến, biến tắc thông ” .
Có điều cái ” thông ” đó, nó bi quan hay lạc quan .
Cuối cùng trong chẩn trị cũng vậy, gặp thầy gặp thuốc thì khỏi bịnh thôi, và đó là cái “thông ” quý giá nhất mà ai đau ốm kinh niên, trầm kha cũng đều mong mỏi .
Chị ơi, chị thân yêu ơi, ngày mai trời sẽ sáng, chúng ta hãy cầu nguyện cho thế giới bình an, cho chị hanh thông êm đềm , hy vọng chan hoà trong bình minh rực rỡ, chị tôi cười héo hắt, còn tôi thì tràn ngập nỗi nhớ, niềm thương bao la, nhưng tuyệt vọng vô cùng, vì hình ảnh này cứ bị cắt xén dần, cho tới khi mất hút .
Bây giờ thì đúng là không còn gì trước mặt tôi, kể từ buổi chiều hôm đó, sân bệnh viện Thiên Thần Gabriel vẫn nắng mưa sương gió, năm này sang tháng khác, những người đến, những người về, song cũng đã biết bao người đến không về, mà đi mất hút, vâng , họ đã đi mất hút, kể cả chị tôi.
Tôi cúi xuống nhìn lớp lá vàng, lá đỏ, lá khô …ở một công viên nơi thành phố đó .
Có lẽ chị tôi chưa bao giờ dư thì giờ như tôi, là tới một công viên, để nghe lòng mình xa xót buồn thương …
Từ tâm thức, lại cũng chỉ từ tâm thức thôi, anh gọi tôi, anh bảo rằng : ” Cuộc đời hữu hạn là vậy, cho dẫu có níu kéo thời gian cho đủ một trăm năm, chúng ta cũng không có thêm tháng ngày tuyệt vời em hỡi …”
Chị tôi mất vào đúng buổi giao mùa vãn hạ qua thu 31/8 cách đây hơn 3 năm .
CAO MỴ NHÂN
KHÓC BẠN
Ấu Oanh
“Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…”
Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.
Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.
Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.
Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp “Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi” “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay “Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.
Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo “Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải “Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.
Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại “Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an “Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.
Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.
Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự: “Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”.
Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng.
Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”.
Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc
Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số “tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi: “Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn “Vĩnh Biệt Phượng” cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!
Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói “Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng, vì đói ăn đó Oanh ạ!”
“Nghề” bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.
Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác: “Cứ yên tâm chờ đợi”. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.
Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.
Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:
– Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?
Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:
– Có việc gì hả Oanh?
Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:
– Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.
Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.
– Oanh nói gì? Ai có bầu?
– Mình.
– Hả?
– Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.
Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:
– Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…
Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:
– Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.
Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:
– Phá? Sao lại phá?
– Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…
– Thì nói ra cho mọi người biết.
– Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.
Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:
– Ừ, để mình tính xem.
Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ.
Mẹ tôi bảo:
– Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.
– Mẹ hỏi gì hả mẹ?
– Có phải Oanh toàn con gái không?
– Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.
– Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.
– Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.
– Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.
Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.
Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.
Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.
Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.
Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:
– Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.
– Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi
Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:
– Oanh gửi chị cái này.
Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.
Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành, (trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát, cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.
Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.
Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.
Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.
Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.
Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.
Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: “Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”
Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời. Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu!!” Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút”.
Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.
Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể: “Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.”
Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu?
Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:
Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.
Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…
Rồi dòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, giấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.
Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.
Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi!!!” Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”
Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt… Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ”.
Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!
Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.
Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.
Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu dắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.
Hôm nay ngồi viết những dòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.
Oanh ơi, những dòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.
Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền, Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng Chuông chùa vọng giữa thinh không Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.
Ấu Oanh Hai mươi năm, ngày giỗ bạn, 21.6.1989 – 21.6.2009
Tiểu sử nhà văn Dương Hùng Cường
Sinh ngày 1-10-1934 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân thụ huấn cơ khí viên tại Pháp năm 1953, trở thành hạ sĩ quan cơ khí phục vụ tại nhiều đơn vị. Từ giữa thập niên 1960 phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Chuẩn Úy. Là một cây bút nổi tiếng trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn, ông có 3 tác phẩm đã xuất bản: Lính Thành Phố, Buồn Vui Phi Trường và Vĩnh Biệt Phượng. Sau năm 1975, bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20 Phan Đăng Lưu, Gia Định năm 1987.
Mùa Thu và Bộ Tách Trà – NGỌC HẠNH
Ngọc Hạnh
Ánh nắng bình minh nhẹ nhàng xuyên qua cành cây kẽ lá. Đàn chim tung tăng nhảy nhót, líu lo chào mừng ngày mới.Trên cao trời xanh trong vắt, các khóm hoa, bụi cỏ còn ướt hơi sương.Thu đã đến rồi. Những người đi bộ trên con đường trước nhà đều mặc thêm áo khoác nhẹ. Mấy khóm cúc vàng nở rộ khoe sắc màu rực rỡ trông vui mắt, quyến rũ bướm ong.Từ mấy tuần trước chúng đã hé nụ vàng bé bé xinh xinh.Đó đây, siêu thị và những nơi bán cây cảnh bày rất nhiều hoa cúc : vàng, tím, cam, trắng… Hôm qua đi ngang qua bãi đậu xe ngân hàng cũng thấy họ bày bán các chậu hoa cúc lớn nhỏ bên cạnh đống bí đỏ xếp thành hình kim tự tháp.Hình người nộm thân bằng rơm, đội nón, mặt trắng môi đỏ, tay cầm cây gậy đứng bên các kim tư tháp bí đỏ. Mấy cây bắp khô cao, thẳng đứng bày bên cạnh các người rơm mang cà vạt bảnh bao.
Với tôi mùa Thu có nhiều kỹ niêm vui và buồn. Cách đây hơn 30 năm nơi xứ Cờ Hoa vào mùa Thu người bố yêu quý các con tôi đã rời bỏ gia đình thân hữu về cõi vĩnh hằng khi các con còn đang đi học. Buồn ơi là buồn. Mất bờ vai nương tựa, ai là người dìu dắt các con thơ nơi xứ lạ quê người. Mùa Thu năm ấy thật ảm đạm, buồn hiu hắt. Tôi làm việc như điên cho đến khi các con tốt nghiệp. Cũng may nhờ ơn trên các con có học bổng toàn hay bán phần và mọi việc rồi cũng ổn định, tôi có dâu, có rể, có cháu trai cháu gái. Khi cháu nội học lớp 1, tôi giữ phần đưa đón các cháu đi học vì lúc đó tôi đã nghỉ hưu. Tôi cũng thường theo cháu làm bảo mẫu khi cháu đi dã ngoại do trường tổ chức. Trường tư vùng Hoa Thịnh Đốn các lớp nhỏ từ lớp 1 đến lớp 4 thường được nhà trường cho đi dã ngoại vùng ngoại ô cách trường khoảng 1 tiếng lái xe hay hơn chút ít. Nơi đó các em được xem gà, vịt, ngỗng, heo, cừu thật chứ không phải chỉ thấy qua màn ảnh hay hình vẽ. Các học sinh còn được cho xem các cây con để trong nhà kính chờ ngày đem trồng xuống đất. Có khi các cô cậu tí hon được đưa đi sở thú xem cá, chim, rắn, voi… Vào mùa Thu các học sinh má phính môi hồng còn được nhà trường cho đi xem ruộng trồng bí đỏ. Những trái bí to được hái vào chất đống ở sân trang trại chờ đưa đi các nơi tiêu thụ, bán lẻ ở các siêu thị. Theo người chủ trại họ chỉ hái những trái bí to, những trái bé thì để cho lừa, dê, cừu ăn trước khi cho máy cày ủi, xới đất trồng mùa mới. Các em mầm non thích lắm nhưng nhà trường thì bận và cực hơn ngày thường.
Mỗi khi đi dã ngoại phụ huynh được nhà trường cho bảo mẫu đi cùng đứa trẻ nếu muốn và phải đóng số tiền nhỏ. Học sinh miễn phí. Lúc đi gần cả chục chiếc xe bus chở học sinh chạy trên đường một dọc dài trông thật vui mắt. Mỗi chiếc xe là một lớp học. Trên xe ngoài học sinh có 1 cô giáo và vài ba bảo mẫu. Thật ra cẩn thận thì đi theo để trông nom con cháu mình chứ các trẻ con Hoa Kỳ thường ngoan và nghe lời cô giáo. Trước khi lên đường các bảo mẫu được căn dặn tuyệt đối không cho trẻ em khác ngoài con cháu mình thức ăn, nước uống, kẹo bánh… Trẻ con Mỹ dạn lắm, thích là xin nhưng nên từ chối để tránh phiền phức có thể xảy ra.
Ngày còn ở Viêt Nam tôi nhớ hoc sinh Trung Học Saigon thỉnh thoảng được nhà trường cho đi cắm trại Biên Hòa, Thủ Đức hoặc Vũng Tàu. Tôi không nhớ các lớp nhỏ có được đi dã ngoại thăm viếng miền quê như trẻ em nước văn minh giàu có xứ Cờ Hoa không. Ở thành phố các em chưa bao giờ được trông thấy con cừu, con dê… tận mắt, sờ hay vuốt ve chúng nên rất thích khi được đi đến vùng ngoại ô.
Mùa Thu ở Viêt Nam cũng rất đẹp, dễ thương với khí hậu mát mẻ, ánh nắng nhẹ nhàng, chim bay bướm lượn,
trời xanh trong vắt không bị áng mây che khuất và nhất là một không còn cảnh “cái nóng nung người, nóng nóng ghê”. Mùa Thu cũng là mùa các giáo chức bận rộn chuẩn bị cho năm học mới. Các thầy cô giáo sẽ có học sinh mới, nam và nữ. Thầy trò lạ lẫm buổi đầu nhưng nhanh chóng vào nề nếp, quen biết tính nết nhau. Vào đầu mỗi niên học có thêm một vài giáo sư, nhân viên mới và có thể thiếu vắng vài ba vị như về hưu hay đổi đi trường khác. Vị nào làm việc lâu năm cùng một trường mọi việc sẽ dễ dàng, và tình bằng hữu cũng thân thiết đậm đà hơn.
Viết đến đây tôi nhớ một đồng nghiệp cũ trường Trung Học NT Saigon và muốn rơi nước mắt. Chị ấy và tôi cùng dạy học chung một trường hơn 10 năm và chị đã vĩnh viễn từ bỏ trần thế cách đây hơn hai tháng. Chị Bích Hà ra đi ngày 14/7/21. Với tôi giống như chuyện chiêm bao vì chị ra đi thật bất ngờ: té, hôn mê, vào bệnh viện độ 1 tuần và đi luôn, không một lần tỉnh dậy để lại bao tiếc thương cho gia đình, bạn hữu, cựu môn sinh.
Nhà văn, nhà giáo, nhà báo Bùi Bich Hà dạy học trườngTrung Học Nguyễn Trãi Saigon gần 20 năm, được học trò yêu thương, đồng nghiệp quý mến… Tôi ở trường Nguyễn Trãi khoảng 17 năm nhưng cùng thời gian với chị khoảng hơn 10 năm. Tôi đến trường trước chị và rời quê hương sớm hơn chị. Chị Bích Hà nhanh nhẹn, đảm đang, hoạt bát, tác giả nhiều truyện ngắn truyện dài, tươi cười, hay giúp đỡ người khác. Trước năm 1975 chị Bích Hà và tôi được ông Hiệu Trưởng cử học lớp “Hướng Dẫn Khải Đạo” tương đương counselor của Mỹ. Hai người cùng học một lớp, cùng giáo sư nhưng sang Hoa Kỳ chị tiếp tục làm người cho chi em bạn gái tâm sự, giữ mục “Bạn Gái Nhỏ To” cho tờ tuần báo có tiếng ở Cali. Còn tôi cũng có tờ báo đề nghị giữ mục “Tâm Sự Bạn Gái” nhưng biết thân, tôi đâu dám nhận lời. Chị viết đều đặn tờ cho báo Việt có nhuận bút, phát thanh hàng tuần cho đài phát thanh ở Cali, làm MC thành công cho các buổi “Ra Mắt Sách”, các buổi tiệc trong cộng đồng, họat động không ngừng nghĩ trong các lãnh vực văn chương, học đường, thường dự các buổi họp mặt với các học sinh trường cũ… Còn tôi, hởi ơi, chậm chạp, cù lần, viết có khi sai dấu hỏi ngã, may mà mấy ông nhà báo tốt bụng không rầy rà chỉ im lặng sửa những sai sót. Khác nhau như thế mà chúng tôi bạn bè hơn ½ thế kỷ.
Lúc định cư Hoa kỳ tôi ở miền Đông, chị ở miền Tây ít khi gặp nhau chỉ liên lạc qua điên thoại. Sau này nhờ khoa học tiến bộ chúng tôi có thể dùng điện thư hay gởi các tin nhắn (message) trong đôi phút đã nhận hồi âm, biết tin tức của nhau, không phải qua bưu điện chờ đôi ba ngày mới đến tay người nhận như xưa, cách đây 5, 10 năm. Gần đây chị than đau lưng không ngồi lâu được, đi châm cứu, dùng thuốc Bắc sau khi đến các bác sĩ nổi tiếng Hoa kỳ nhưng chỉ bớt it lâu rồi lại đau. Tuy thế chị vẫn viết và đến đài phát thanh hàng tuần.
Vào tháng đầu 12/2020 tôi nhận được bộ tách trà và bánh ngọt do tiệm Quốc Việt Foods… gởi đến dù tôi không đặt hàng. Gọi Quốc Viêt hỏi thì ra của Bích Hà gởi tặng. Tuy đau chân, bân rộn nhưng chị Bích Hà vẫn nhớ người bạn ở xa, tôi rất cảm động. Bánh ngọt được tiêu thụ vì không thể để lâu nhưng bộ tách trà còn nguyên chưa mở. Tôi định chờ khi hết dịch cúm Bích Hà đến thủ đô sẽ khai trương, cùng nhau thưởng thức trà xanh với bộ ấm mới. Hởi ơi, nay Bích Hà mãi mãi đi xa, vĩnh biệt cõi trần. Người viết sẽ mang bộ tách trà tặng cho nhóm chị em Cô Gái Việt để khi chị em dùng trà nhớ đến nhà văn, nhà giáo, nhà báo hoạt bát, tươi cười trong mọi hoàn cảnh.
Xin cầu chúc người bạn viết nhanh nói khéo Bích Hà được an nhàn nơi cõi thọ và đồng bào Việt Nam, nhân dân thế giới luôn bình an, sống trong tình yêu thương, ấm no, hạnh phúc…
Tôi có mấy câu văn vần để tặng người bạn tốt đã vĩnh viễn ra đi:
Nhớ Bùi Bích Hà
Thương nhớ Bích Hà người bạn hiền
Giã từ bằng hữu về cõi tiên
Con ngoan, cháu thảo, người tri kỷ
Vĩnh biệt từ nay hết muộn phiền
Tám mươi ba tuổi, hàng cao niên
Làng văn nghiệp báo vẫn còn duyên
Môn sinh độc giả nhiều thương tiếc
Cầu chúc bạn hiền vui cõi tiên
VA, tháng 9 năm 2021 – Ngọc Hạnh
VĂN: CHIM BAY VỘI VÃ – CAO MỴ NHÂN
CHIM BAY VỘI VÃ. CAO MỴ NHÂN
Còn 10 phút nữa mới 8:00 pm, trời vẫn sáng, mình vẫn thích cái không gian như vầy, mùa sắp vào hạ, nhưng sao mình vẫn lạnh, vẫn 3,4 cái áo len, thung nỉ…vẫn không rời đôi vớ.
Anh chưa hề hỏi thăm mình nóng mùa hạ, lạnh mùa đông …bao giờ.
Còn mình, mình vẫn nghe rất rõ tiếng chim én rời tổ bay đi, chúng chỉ ở lại đây có đúng 3 tháng mùa xuân.
Mình vừa khép cửa sổ lớn trong phòng, ngó về phương nam, trời bắt đầu tối, ánh sáng nhá nhem, hay giờ gà lên chuồng như ở quê xưa thường nói thế.
Một năm xa cách …Rồi sẽ 10 năm, và bao nhiêu năm sau chả biết, sẽ hết trăm năm.
Anh là nhân vật tiểu thuyết của mình, nên có đứng sát bên mình, vẫn là xa cách.
Anh thân kính ơi, tại sao chỉ với một bàn tay thôi, là chúng ta mở được cửa thiên đường hạnh phúc .
Ố ô, lâu nay mình vẫn cảm nhận được điều hạnh phúc dù ở xa anh, mà vẫn tưởng anh đang ở cạnh mới tuyệt vời chi lạ.
Hôm qua mình gặp lại một nhà văn cũ, ông ta hỏi thăm một cách chân tình rằng: mình có vừa ý cuộc sống đương thời không?
Mình hỏi lại để làm gì ? Ông nói vì thấy các nhà văn, các nhà thơ hay trả lời phỏng vấn, quý vị được hỏi thường chuẩn bị sẵn câu trà lời có lợi cho cuộc đời và sự nghiệp họ .
Nhưng mình có là nhân vật được hỏi đâu, nên chả cần phải giữ gìn, mình nói với ông nhà văn nêu trên cũng rất chân tình:
” Ông ạ, tôi thích cuộc sống này quá, chỉ sợ thời gian không kéo dài thêm cho tôi được sống mãi … như vầy thôi.”
Ông nhà văn trố mắt nhìn tôi:
” Ôi, lần đầu tiên tôi gặp một người, mà là nữ giới nữa, bằng lòng với số phận của mình. ”
Chu choa, thì tôi có lúc tự hỏi là trên đường đời tôi đã đi qua, lên cao, xuống thấp đã từng, chắc tôi cũng đã so sánh phần nào số phận mình, để kết luận: tôi đang thực sự ” Yêu Quí ”
thời gian này.
Sau cuộc đổi đời 30-4-1975, là một Sĩ quan Nữ quân nhân chế độ cũ, tôi có 2 lần bị trả lời một câu hỏi, mà họ, bạo quyền cộng sản nghĩ là tôi không thật lòng khai báo .
Câu hỏi được đặt ra như vầy:
” Chị cho biết thời gian nào chị sung sướng nhất, và thời gian nào chị …khổ sở nhất “.
Khi đặt câu hỏi này, là người ta dư biết câu trả lời :
Nó sẽ là sự miệt thị chế độ csvn, lòng hoài cảm chế độ cũ, VNCH.
Để sau đó tuỳ cách ứng xử, nếu trong tù cải tạo thì theo luật rừng, mà ngoài xã hội thì theo luật …rú chẳng hạn.
Tuy nhiên tôi đã nói thật với lòng mình, là cứ lấy cái mốc thời gian 1975 cho dễ hiểu.
Thì trước 30-4-1975, cuộc sống tôi dư thừa vật chất, chan hoà phương tiện. Nhưng tinh thần tôi, đúng ra là tâm tư tình cảm tôi rất không như ý, vì ông xã tôi quá hào hoa phong nhã, nên tình chồng vợ có hao hụt ít nhiều.
Sau 30 -4 -1975, cuộc sống vật chất hoàn toàn phá sản. Nhưng tinh thần tôi, vẫn tâm tư tình cảm thôi nhé, thư giãn ít nhiều, vì ông xã tôi trực tiếp chấm dứt tình trạng phong lưu, hào phóng, cuộc sống gia đình yên ổn phần nào.
Theo như nhận xét của chị, thì ngoài xã hội đang khó khăn, vất vả hay sao ?
Tôi nghĩ đó không phải đặt ra câu hỏi, vì ai trong xã hội đương thời ( CSVN )đều biết cuộc sống trước mặt.
Thế rồi thì tôi dù muốn dù không, bị cuốn vào cái xã hội mà chủ trương của nó là tôn sùng vật chất.
Như lý luận học thuyết duy vật, mà biện chứng, lý giải thì hẳn là điều không khốn khó, khổ cực, sẽ không phải phương châm đấu tranh của họ.
Tới lúc tôi thèm nhìn một cánh diều trên đồng cỏ cháy nơi nông trường Tây Nam, buổi trưa ngồi giữa nắng chờ nghe tiếng chim bay vội vã lên núi Bà Đen, lòng trống trải buồn vô hạn.
Ông xã tôi đã trên đường vượt biển, để lại cho tôi nỗi mông mênh chán nản .
Câu chuyện sướng khổ vẫn được nối tiếp theo những trang nhật ký, mà tôi nghĩ rằng nếu có bị bạo quyền phát giác, trong nhật ký cũng chẳng có gì động chạm tới xã hội của họ. Bởi vì điều quan trọng nhất đối với tôi, vẫn là tâm tư, tình cảm
bỗng như bị bỏ quên, như mất mát, mình không có một hình ảnh, một lời nguyền đúng nghĩa trong tâm tưởng.
Tôi có lại cuộc sống trước 30-4-1975, giống một bức tranh có đường nét cũ, nhưng mầu sắc mới, khi tôi đến được Hoa Kỳ.
Tất nhiên thời gian chồng chất thêm, tuổi tác cũng bắt kịp chuỗi ngày vội vã, thực dụng, tưởng như không thoát ra được cái khuôn sáo xã hội mới mẻ, bởi vì còn nơi nào khác nữa để tái định cư vui vẻ, tươi đẹp hơn xứ Mỹ này chớ.
Nghĩa là muốn gì có nấy, thích chi thì làm, nhưng phải trong điều kiện không chạm tới quyền lợi của ai.
Do đó, tôi lại đi tiếp con đường của tôi.
Nhìn lại hành trình, có vẻ ngắn bớt, hành trang thì bỏ đi nhiều, nên tôi cảm thấy nhẹ nhõm, tha hồ tung tẩy như thủa mới vào đời.
Có một điều ít ai để ý, là hình như mình biến thành vai phụ trong chính những công việc của mình. Đôi khi mình không tự quyết định công việc mình sẽ làm, mà cứ phải hỏi thăm hay nhờ vả người thân hoặc bạn bè giúp đỡ.
Tức là đang ở trạng thái không đứng vững, hay không chắc chắn đúng, thế nên cuộc sống cũng bớt đi phần nào vui vẻ lạc quan kiểu ngày xưa.
Như vậy lại tự hỏi là: Thế có thể làm được gì khác hơn hoàn cảnh hiện tai ?
Ở thời điểm tôi bây giờ, tôi thẳng thắn trả lời: ” Chẳng làm được gì cả đâu, hãy giữ gìn sức khoẻ để không bị đau ốm, làm phiền con cháu thôi ” .
Nhà văn xưa mới tái ngộ cười: Bà nói đúng, ngay đến thế hệ sau chúng ta cả chục năm, chúng đã sớm có tư tưởng về hưu rồi .
Thế nên tôi mới nói ở trên là tôi đang thích cuộc sống này, chưa hoàn hảo lắm, nhưng thực sự thoải mái, thảnh thơi …
Với tôi, còn có thì giờ mơ mộng nữa chứ …
CAO MỴ NHÂN
VĂN: Từ Bến Sông Thương & Chapa Dang Dở – Cao Mỵ Nhân
Nguồn ảnh: Internet
TỪ BẾN SÔNG THƯƠNG. CAO MỴ NHÂN
Vào khoảng giữa thập niên 80 thế kỷ trước, nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội ( 1914 – 2007 ) nói với tôi là bà sẽ cùng tôi đi lang thang thăm các văn nhân thi sĩ lớn tuổi, ở cả 2 miền nam bắc mà bà quen biết.
Tôi rất hào hứng chờ dịp đi ” lang thang ” này.
Trước nhất, tôi khỏi cần phải đọc sách báo, mới biết được thân thế và sự nghiệp một nhà văn, thơ nào đó mà mình muốn tìm hiểu, hay là muốn ” tham khảo” để định viết lách gì đó .
Kế tới, là tự nhiên tôi không cầu cạnh được giới thiệu, hay muốn diện kiến dung nhan quý vị tên tuổi ấy, mà bỗng nhiên được thấy tận mắt quý vị danh tiếng như các cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vốn sống ở trong nam.
Các vị nổi tiềng từ tiền chiến, như Thế Lữ, Anh Thơ… vốn sống ở ngoài bắc, sau 30-4-1975 lại vô nam cư trú vv…
Người đầu tiên là nữ sĩ Anh Thơ ( 1921 – 2005 ), vì nhà bà ấy ở số 11 đường Thiệu Trị, gần với biệt thự Úc Viên, cuối đường Nguyễn Mình Chiếu, của nữ sĩ Mộng Tuyết và cố thi sĩ Đông Hồ, giáo sư Hán học trường Đại học Văn Khoa Saigon trước 1975 .
Mỗi lần đi như thế, nếu gần thì đi bộ lai rai, xa thì ngoắc cyclo chạy lài dài, thích lắm .
Tôi thua bà đến ba chục tuổi, nên được hội thơ Quỳnh Dao của chúng tôi, do tôi tôn phong nữ sĩ Mộng Tuyết là niên trưởng kỳ 3, tức sau 2 vị niên trưởng đã quá cố : nữ sĩ Cao Ngọc Anh và nữ sĩ Đào Vân Khanh.
Quý vị hội viên coi tôi là em út Quỳnh Dao, đồng thời tôi là ” cây gậy ” của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội luôn.
Do đó, đi đâu tôi cũng được vời tới …
Tuy nhiên, cũng là sẵn dịp vừa từ tù cải tạo ra, tôi chưa có công ăn việc làm, mới rảnh rang như thế, chứ sau này tôi đi làm rồi, thì rong chơi làm sao được nữa.
Từ cái thập niên 30, nhị vị nữ sĩ: một trong nam Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, một ngoài bắc Anh Thơ, đã làm nổi đình đám thơ phụ nữ của nền thi ca mới, không bay bướm, sâu xa được như quý nam thi sĩ cùng thời: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, không trẻ trung, nội tâm được như Nguyễn Bính, Thâm Tâm vv…
Nhưng nhị vị Mộng Tuyết, Anh Thơ, lại mỗi người tự trải cho mình một cái chiếu thi ca riêng biệt trong làng thơ bấy giờ .
Đi song song với quý nữ sĩ đương nêu, về thơ thôi, thì còn có các nữ tác giả khác như Hằng Phương ( phu nhân nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan) Vân Đài ( sau theo Bác Đảng
CSVN cùng với nữ sĩ Anh Thơ) .
Cũng thời tiền chiến đó ( trước 1945 ), 2 cây bút nữ thi sĩ rất đáng trân trọng, quen thuộc trên cả nước là Ngân Giang và Tương Phố .
Tất nhiên còn quý vị nữ thi sĩ khác nếu có, không nổi bật lên, chẳng hạn Mai Đình ( một trong số nữ nhân vật của nhà thơ hẩm phận Hàn Mặc Tử) vv…
Vì chỉ nhắc tới thi ca, nên quý vị nữ văn sĩ cùng thời hoặc xê xích, như quý bà nhà văn Thụy An , Mộng Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Lính Bảo ( sau 1945 ) .
Thi ca phái nữ VN thập niên 30 thế kỷ trước, có một sự kiện riêng biệt, một huyền thoại, mà khởi sự thì như một hiện tượng lạ, sau mỗi lúc mỗi huyễn ảo hơn, bởi cái tên ký tắt kín đáo, và nội dung không mới mẻ, nhưng đi vào đại chúng lan rộng mau chóng, đồng thời năm tháng cứ chất chồng thêm những bí ẩn của tác giả, chứ không phải câu chuyện.
Đó là hiện tượng TTKH với hình ảnh ” Hai Sắc Hoa Tị Gôn ” .
Tôi đi hơi xa về mục đích bài viết này. Tôi chỉ muốn ghi một chút kỷ niệm về nhị vị mang chính danh nữ thi sĩ trên thi đàn thế kỷ vừa qua thôi : Mộng Tuyết , Anh Thơ.
Tất cả những chi tiết như khuynh hướng thơ, sự nghiệp thơ, cuộc đời nhị vị ấy, thì đã đầy đủ trên sách báo vv…
Có chăng là một thoáng gần cuối đời quý bà, mà tôi có cơ hội gặp gỡ.
Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội và tôi đã ngồi trong căn nhà nhỏ thôi, tầng trệt và cái lầu có ban công hẹp, bình thường . Tất nhiên nhà đó là của một gia đình trung lưu miền nam, đã bỏ đi ngoại quốc, vì cộng sản Bắc Việt xâm chiếm miền nam.
Nữ sĩ Anh Thơ theo ” cụ Hồ” cùng với bà Vân Đài, mà tôi chẳng rõ văn nghiệp bà này thế nào .
Riêng bà Anh Thơ thì lặn lội theo đảng, theo thâm niên và tuổi tác bà đã lên tới chức ” thứ trưởng hàm” như một số văn nghệ sĩ tiền chiến theo Việt Minh lúc đầu , sau theo cộng sản là lẽ đương nhiên, như thi sĩ Huy Cận chẳng hạn.
Tức là cái chức để đó cho có vị , chớ chả có quyền hạn gì. Một nữ thi sĩ kiêm họa sĩ miền nam đã thản nhiên kêu đích danh nhà thơ Anh Thơ là ” Thợ thơ bậc 7 “cho phù hợp với giai cấp công nông đi lên.
Nữ sĩ Mộng Tuyết giới thiệu tôi, Cao Mỵ Nhân, nguyên là thiếu tá VNCH, ngành Chiến Tranh Chính Trị , đã xong chuyện đi tập trung cải tạo về.
Bà Anh Thơ im lặng một lúc, rồi cười cười kêu tên tôi, bà xưng là ” chị” như tất cả các nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đều xưng ” chị ” với tôi .
Bà “Thứ trưởng văn hoá” hay “Thợ thơ bậc 7 ” do thi họa sĩ XXX đặt cho bà, vốn có cái tên rất ” mĩ miều xa xưa” do cụ thân sinh đặt cho là Vương Kiều Ân.
Sau, dầu muốn tham gia kháng chiến, để có vẻ tân thời, phá khuôn thước phong kiến, nhưng trong lòng vẫn thích là mệnh phụ phu nhân như hầu hết quý nữ sĩ ở thi đàn Quỳnh Dao.
Chẳng hạn như nữ sĩ Vân Nương phu nhân luật sư Lê Ngọc Chấn, nguyên đại sứ VNCH ở Anh và Tunisie, như nữ sĩ Thu Nga phu nhân của kỹ sư Lương Sĩ Phu, như nữ sĩ Đinh thị Thục Oanh phu nhân của giáo sư thi sĩ Vũ Hoàng Chương vv…và hàng chục phu nhân quý vị tên tuổi khác …
Nên sau này bà thường tới dự tiệc ở các khuôn viên quý bà Quỳnh Dao .
Bà kể lại giai đoạn bà được giải thưởng thơ của Tự Lực Văn Đoàn, và tìm cái bằng ghi giải thưởng thơ đó, do 3 thi sĩ ký tên là : Tú Mỡ , Thế Lữ và Xuân Diệu.
Khi tôi đi Mỹ theo diện tị nạn, thì có mấy diễn đàn báo chí đang tranh luận là : Xuân Diệu có trong Tự Lực Văn Đoàn không ? Lý do cặp bài trùng thi sĩ lớn Huy Cận, Xuân Diệu như chim liền cánh, mà sao chỉ có Xuân Diệu trong Tự Lực Văn Đoàn là thế nào ?
Nhà văn Đặng Trần Huân nêu chi tiết, là Cao Mỵ Nhân đã nhìn thấy tấm bảng ghi giải thưởng thơ Tự Lực Văn Đoàn do 3 thi sĩ nêu trên ký ở văn bằng nữ sĩ tiền chiến Anh Thơ, tất thi sĩ Xuân Diệu là thành viên Tự Lực Văn Đoàn.
Như trên tôi đã trình bầy, là hậu tù cải tạo, tôi chưa có việc làm, nên cứ thế rong chơi.
Nhị vị nữ sĩ Mộng Tuyết và Anh Thơ đều đề nghị tôi nên tới giúp bà Anh Thơ cái việc đọc lại những trang nhật ký của bà Anh Thơ đang viết theo yêu cầu của đâu đó ngoài trung ương, viết hồi ký mà có tiền …lương mấy đồng một trang, tôi chả nhớ .
Tôi đang phây phây mỗi sáng ghé nhà bà Anh Thơ để đọc những trang bà viết, cũng chỉ là đường trường đi…cách mạng, xem một số chấm, phẩy , câu cú vv… văn phạm, chính tả sơ sài.
Đương nhiên cũng có lúc tôi ở lại chơi, cơm nước vv…vì bà chỉ có một mình với cuốn nhật ký dở dang. Phu quân bà lúc đó là bác sĩ trưởng khoa thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy.
Tôi chẳng tò mò, nhưng tình cờ một lần nữ sĩ Mộng Tuyết kể rằng vị bác sĩ ấy nguyên xưa là y tá bệnh viện Chợ Rẫy tập kết ra Bắc năm 1954, nay trở về tiếp thu và được nhận ngay chức trưởng khoa thần kinh như đương nêu .
Đã gần xong cuốn hồi ký ấy,có thêm một thanh niên tới đánh máy kiểu tạch tạch ngày xưa cho tác giả Anh Thơ .
Phút cuối cùng kêu rang rảng, là bà hỏi tôi nên đặt tên cho cuốn hồi ký đó là gì ?
Bà đã đặt cho hồi ký cái tên đằng đằng sát khí là: “Sống Chiến Đấu ” , chỉ còn thiếu mấy chữ ” theo gương bác Hồ ” nữa là đúng cái câu hằng ngày của đảng bà : ” Sống chiến đấu theo gương bác Hồ vĩ đại…” vẫn nói.
Tôi chưa định trả lời thế nào, thì nữ sĩ Anh Thơ tiền chiến chợt nhớ ra, bà nói: ” ngày xưa nhà mình ở nơi có dòng sông Thương chảy qua đấy ” …
Thế là tôi đề nghị bà Anh Thơ đặt cho hồi ký bà : ” Từ Bến Sông Thương “, tôi giải thích đã hết chiến đấu rồi, chị cũng muốn kỷ niệm ” Từ Bến Sông Thương” đó chị thoát ly theo …cách mạng vậy .
Bà Anh Thơ thú vị lắm, đã hoàn tất có lẽ là tập 1. Còn tập 2 đang coi lại .
Tôi được nữ sĩ Mộng Tuyết kéo vào một nơi yên lặng nhất của Úc Viên, tư thất của nữ sĩ , dặn dò rằng : ” Thôi Cao Mỵ Nhân đừng ghé nhà chị Anh Thơ nữa, bà ấy là bà Anh Thơ, không giữ được bản lãnh như những người mình đâu, bà ấy nghe ông Thọ nào đó, vừa từ Bắc vô, nói rằng tại sao chị dám để một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị địch đọc hồi ký trước khi phát hành . ”
Chu choa cũng may cái mối thân tình của nữ sĩ Mộng Tuyết với bà Anh Thơ lâu năm, chứ không thì họ vu vạ cho tôi tệ hơn nữa cũng chẳng kêu trời được .
Tiếp theo, có một bữa tiệc ở Úc Viên, cả bà Anh Thơ lẫn tôi đều có cách nhìn là muốn chào nhau mà cứ ngần ngại, tuy nhiên tôi chỉ là ” chiếc gậy “của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội niên trưởng Quỳnh Dao của chúng tôi, việc tới lui với bà Anh Thơ cho dù có thuận thảo, cũng chỉ là thứ yếu …
Trở lại Chapa năm nay, có lẽ là lần cuối tôi với chàng không còn cơ hội gặp nhau nữa.
Tại sao tôi có ý nghĩ này, bởi lý do rất khách quan, là cả chàng lẫn tôi đều chán nhau đến độ tôi cứ nhìn đồng hồ xem đêm đã hết tới đâu.
Tiếng tích tắc của chiếc kim đếm thời gian, như tiếng búa đóng đinh trên nắp quan tài tình ái rỗng tuếch, trái với ước mơ thủa ban đầu, những cặp tình nhân thường thiết tha thổ lộ : ” Chúng mình sẽ chết cùng nhau trong một huyệt mộ ” .
Mùa xuân này hoa đào vẫn nở như những mùa xuân trôi qua thung thổ núi rừng Chapa, khi tôi được sinh ra, lớn lên, trong bầu không khí ẩm ướt quanh năm .
Tôi bỗng muốn khóc thét như những cô nàng Mèo đến tuổi cập kê xưa, hay khóc oà ra như trẻ thơ thèm sữa mẹ quá, mà người mẹ đi mãi không về.
Mùa xuân ư ?
Mùa xuân ở một miền lâm nguyên xa nhất, cao nhất đất nước Việt Nam .
Quý vị sẽ cười mỉm, rồi nói rằng: ” Lâm nguyên nào mà chẳng ở xa nhất so với nơi chúng ta đang sinh sống thường ngày, thí dụ người ở Cao Bằng nhìn về Đà Lạt . Hay người ở Cà Mâu ngó tới Lạng Sơn chẳng hạn …”
Nhưng cao nhất, thì không thể lý luận chung chung thế được, cao nhất hay không, phải so từ mặt đất xuống bờ đại dương chứ .
Đại dương là cái bình thông đáy khổng lồ, tuy nó được Thượng Đế cho hiện hình theo độ cong của địa cầu, nhưng tôi không dám lan man …
Tôi chỉ đang muốn tưởng tượng lại chốn xưa, nơi tôi được sinh ra : Chapa như nêu trên, danh xưng nghe tưởng là câu thần chú nhật tụng mỗi lần tôi nhớ lại, tưởng tượng thêm, vì mỗi ngày mỗi chồng chất thêm năm tháng .
Bức thư của người Chapa gởi cho tôi, bảo rằng :
” Cô có về không, cả một phương trời đầy hoa anh túc, đa sầu đa sắc, đã tất cả cùng phai như mầu tóc thượng tầng cao nguyên Xuân Viên, làng nghỉ mát Chapa, Đông Dương…”
Ôi sao chúng ta cứ phải níu kéo dĩ vãng cả trăm năm trước thế ?
” Thế cô không nhớ tôi là chàng a phủ thời đó ư ?
Hãy lắng lòng thêm một chút nữa, hình ảnh mùa xuân đầy khói sương đã huyễn hoặc chúng ta cho đến giờ này, dẫu cô đang xa cách thiên đường chúng ta cả nửa vòng trái đất, tôi vẫn bồi hồi xúc động, nhớ nhung… “
Tôi chạnh nhớ tới mùa xuân sau cùng, khi bố mẹ tôi quyết định rời bỏ Chapa , đưa chị em tôi về suôi .
Tức là sau mùa xuân năm đó, chúng tôi đã ở đồng bằng .
Mỗi lần mẹ và chúng tôi, ngước nhìn trời mây châu thổ bay về hướng núi xa xôi, tất cả đều buồn, chị lớn tôi tên Thy , lại kể chuyện Chapa, làm như chỉ có mình chị Thy tôi biết :
” Có nhớ không, cái đám rước từ lòng rừng ra khỏi dốc hoa đào, ngang cửa nhà mình, tiếng kèn Mèo quyện vào tiếng thanh la, rung cả nhà cửa, em Mỵ , là tôi đấy , sợ quá , 2 tay bịt mắt lại , chúi xuống gầm bàn …”
Bà cô tôi đang lo tết nhất nhà quê ngoài Bắc, dừng tay quấy nồi chè kho, là chè đậu xanh đánh như chè Huế, nhưng bỏ mật ( mật là loại đường đen lỏng ) hỏi chị Thy tôi:
” Vậy người Mèo thế nào ? Ăn mặc thế nào ? Dữ hay hiền ? ”
Người Mèo ở độ cao nhất các thứ người thiểu số đó .
Họ dệt vải ” thổ cẩm ” chủ yếu có 3 mầu thôi, đen , đỏ và chàm.
Thấy trong đám rước hôm đó, đàn ông mặc quần, áo lá, đàn bà mặc váy , áo lá .
Đó là ngày xa xưa, chứ bây giờ, thanh niên dân tộc thiểu số đã văn minh, mặc quần jean, áo thung, xe honda leo núi như điên rồi .
Đám rước gồm đàn ông, đàn bà đi hàng dọc lộn xộn, đông độ mấy chục người thôi, không có người già quá, cũng không ai bế ẵm con nít quá nhỏ đi theo.
Họ đi suốt con đường chính của thành phố Chapa mà thủa đó kéo dài cho tới bây giờ, cơ sở đẹp nhất vẫn là ngôi nhà thờ xây bằng đá .
Ở ngay cửa ra vô lòng nhà thờ , có cây hoa đào cánh kép .
Đám rước xuống khu chợ, dừng ngang nhà bà đồ Mèo .
” Bà đồ Mèo ” là tiếng của người Kinh gọi bà người Mèo, bà chuyên nghề ” xỏ lỗ tai ” cho các cô bất kể Kinh Mèo…và nhất là các bé gái .
Chị em tôi cũng được mẹ dẫn tới xỏ 2 lỗ tai để đeo khuyên bạc với kiềng bạc như tất cả chị gái và bé gái ở Chapa xưa.
Bà đồ Mèo bỏ rừng ra thành phố lập nghiệp ” xỏ lỗ tai ” .
Bà đồ Mèo lấy một chiếc kim may nhỏ đã luồn sẵn một sợi chỉ tơ trắng ngả mầu cháo lòng làm dụng cụ xỏ tai.
Điều quan trọng là bà đồ Mèo chỉ dùng 2 đầu ngón tay cái và trỏ bên tay trái, bóp vào trái tai, giữ yên đó, xong tay phải cầm cây kim may kể trên .
Đoạn bà xuyên cây kim qua trái tai đang có 2 ngón tay bà giữ, cho cây kim chui qua hẳn lỗ nhỏ với sợi chỉ tơ để một khúc chỉ nối lại, đánh dấu 2 lỗ tai của khách hàng .
Cho tới khi lỗ tai tự lành, cắt chỉ toong teng, còn lại 2 lỗ thủng ở 2 trái tai sẵn sàng đeo đôi khuyên bạc như tất cả con gái Mèo .
Cứ cách xỏ tai chuyên nghiệp đó, bà đồ Mèo là người duy nhất làm nghề quen thuộc này ở Chapa.
Thái độ nửa tỉnh thành, nửa man dại của bà đồ Mèo, đã hấp dẫn hầu hết khách bất kể ai muốn xỏ lỗ tai.
Bữa có đám rước nêu trên, bà đồ Mèo kê ngoài cửa nhà một cái lu bự đựng nước mưa trong veo, gác mấy cái ống bương đã được cưa mấy đoạn có cái mắt bương, để làm đồ dùng múc nước uống, như ở miền suôi họ có gáo dừa múc nước .
Đám rước Mèo dừng lại, mấy người thay nhau uống nước .
Rồi theo nhau líu ríu trở vô rừng đang có chút nắng xuân .
Chắc bộ lạc ấy cũng đông, ước độ vài trăm người.
Cuộc sống lẩn khuất, huyền bí của họ , chẳng làm phiền ai.
Sa Pa trẻ trung bây giờ là hậu thân của Chapa già lão cỗi cằn, mà tôi cứ thương nhớ mãi .
Trung Tâm Du Lịch Sa Pa lâm nguyên, như cô gái tầm xuân, cứ lượn lờ trước mắt khách du, không sao tìm được quá khứ, cho dẫu quá khứ đó không đẹp, huống chi quá khứ đó lại quá tuyệt vời .
Tôi cúi xuống thau nước ấm mùi hoa đào, che dấu những giọt nước mắt não nùng đang lã chã tuôn rơi…
Thì cũng phải ra phố một lần trước khi vĩnh viễn chia tay.
Tôi thay chiếc áo lụa bạch, mầu tóc cũng lạt phai như tình ái cuối mùa tang chế…
Chàng đăm chiêu buồn, chắc đang tưởng nhớ thời gian chúng tôi gặp nhau ở “chợ tình ” .
Nghĩ đến ” Chợ Tình “, tôi lại buồn cười .
Sự thực cách đây hơn nửa thế kỷ, không ai nói hay là nhắc tới, bởi lẽ khi người Pháp còn trên đất nước VN nói chung, và ở Chapa nói riêng, Chapa do tên Tây đặt cho phần đất mà họ gọi là ” Làng nghỉ mát ” để những ông tây bà đầm đi du lịch hay dưỡng bệnh .
Nếu đúng dịp 14-7 dương lịch hàng năm, thì những người Tây đó họ tổ chức tiệc tùng vui chơi kỷ niệm ngày phá ngục
Bastille 14-7-1789, dựng Khải Hoàn Môn ở Paris.
Họ căng dù mầu, kết hoa, rượu Tây, bánh ngọt vv…
Người Kinh và người Mèo thường nói ” ngày hội ” Cát tó zdu zdee ” có nghĩa ” 14 – juillet ” vậy thôi.
Danh xưng ” Chợ Tình Sa Pa ” sau này như một hứng thú với khách du lịch trong và ngoài nước, âu là cái số lãng mạn cho một thành phố núi rừng thời đại .
Rằng nơi đó, chợ tình nhóm họp ở vài chỗ công cộng trong thành phố .
Nơi nam nữ thanh niên có thể tới đó gặp gỡ, hẹn hò vui vẻ, và cũng đã từng người bản xứ vừa ý, nên duyên chồng vợ .
Ở Praha Tiệp Khắc có ” Cầu Tình “, nhưng chiếc cầu này chỉ có những nghệ sĩ lãng tử ngồi đàn ghi ta, phong cầm dửng dưng, ai muốn nghe thì nghe, không hề thấy những đôi nhân tình tới đó ngó mây trôi dưới đáy sông.
Bất giác tôi mỉm cười nhẹ như hơi gió bấc thổi tới lâm nguyên lạnh lẽo, buồn bã:
” Anh ạ, hương hoa anh túc sẽ ủ hồn em cho tới khi Chapa tan vào khói sương nha phiến …”
Chàng hôn khẽ vào đôi mắt mờ lệ tủi, tại sao tôi phải khóc khi chính nguyên nhân giã biệt không cần phải đặt ra.
Như thế nghĩa là sao ?
Có ai bắt buộc chàng và tôi phải xa nhau vĩnh cửu trọn đời này ? Ôi, câu hỏi tự nó trả lời rồi. Đất trời đã là vực sâu ngăn cách đấy .
Chẳng lẽ tôi ở lại đây ?
Còn chàng, thì chẳng lẽ theo tôi đi đến cuối trời xa tít mù khơi ư ?
Tức là chúng tôi thiếu sức khoẻ, hay nói thẳng ra chúng tôi không còn tuổi trẻ để trang trải tình yêu say đắm hương xuân của hoa rừng ngạt ngào, trên những vạt cây anh túc muộn phiền mê muội .
Nhưng sao cứ mỗi mùa xuân về, tôi cứ phải gặp lại Chapa,
vì tôi không có gì ngoài Chapa làm vốn liếng .
Tôi chỉ có vùng trời đó, phần đất đó làm vốn liếng cho tư duy, nuôi dưỡng tâm tư tình cảm tôi, điều sáng rỡ lấy làm hãnh diện cho tôi bầy tỏ với mọi người .
Tôi đứng ở biên đình, như một người sống giữa quê hương, đợi khách lỡ viễn phương, cả hai đều mang tâm sự về Sa Pa dang dở .
Biên giới hoa đào đã khai quang lãnh địa.
Ngày xưa chỉ toàn một mầu hồng phấn miên man, thủa nguyên sơ tĩnh lặng không một dấu thú hoang, vì là rừng cảnh, nên chỉ có vết hoa rơi ướt hài khách văn nhân, tài tử .
Khi ra khỏi nhà ở cửa rừng hoa đào cánh kép, con dốc đổ xuôi hình thước thợ .
Đó là đoạn dốc ngắn trước cửa nhà ba tôi.
Ngôi nhà với 3 mặt lắp kiến dày, và phần lưng nhà thì lại là vách núi cheo leo.
Cuối đoạn dốc, rẽ qua tay trái, bắt đầu đại lộ chính của Sa Pa, cũng dốc, nhưng thẳng tắp, đại lộ này đã có lần thật xa xăm, bà vú em bồng tôi trên tay, để bước theo đoàn rước của người Mèo, vào mùa xuân năm ấy.
Chị Mỹ tôi đang được cha cố người Pháp làm lễ rửa tội , và cả gia đình bố mẹ tôi thủa ấy đang sắp sửa bữa tiệc trưa nơi sân nhà thờ đá, để hân hoan mừng đón ân sủng của Chúa vừa cho chị Mỹ tôi trở lại đạo .
Chị Mỹ tôi bây giờ không còn nữa, nhưng hình ảnh bé gái mũm mĩm mặc áo dài, tóc bum bê, mở to đôi mắt nhìn cha cố
đọc những lời ” mặc khải ” của Thiên Chúa tối cao, lại khiến tôi thương nhớ Chapa thần thánh nhiều hơn.
Tôi thở dài, nhà thờ đá vẫn hiện thân của một thời xưa cũ không thay lòng đổi dạ.
Nhưng sao tôi vẫn thấy lòng mình chẳng vẹn toàn .
Thế là tôi từ giã chàng, người tình Chapa nguyên thuỷ của tôi, cũng sẽ là người tình muôn đời chỉ hiện diện trong ký ức xa mờ .
Tôi cúi xuống ven đường vòng quanh Cát Cát, hái một nụ hoa sún mầu xanh biếc, hoa dại chưa từng ai đặt tên, tôi thầm thì nói thật nhỏ, nhỏ thêm chút nữa, bởi vì nếu tôi có nói lớn hơn, cũng chẳng có ai nghe, Chapa sẽ bị chôn vùi cùng cát núi, cỏ rừng …
Tên tuổi nó, mang hình ảnh chàng ta đang lịm chết dưới tảng đá khổng lồ, vô cùng trừu tượng ở muôn xưa Fang ci Pan.
Đã từ nửa thế kỷ trước, người ta khoác cho nó một cái tên hiền lành nhưng thơ mộng là Hoàng Liên Sơn hay Núi Sen Vàng.
Khi tôi đứng cạnh anh, tôi chỉ là tấm bia đá sầu ghi nhớ cuộc tình si thung thổ của lâm nguyên này .
Chiếc xe rời khỏi cầu Mây, tôi bâng khuâng tự hỏi: ” Tới bao giờ trở lại ? Ô hay vĩnh biệt rồi mà . ”
Dẫu không tử biệt, cũng là sinh ly.
Trăm năm như một luồng gió thổi qua vách núi, mang khí lạnh về suôi, không có một hơi ấm nào ngoài năng lượng của mặt trời, ấp ủ tình yêu mất dần ý nghĩa : Chapa huyền thoại đâu còn nữa, chỉ có Sa Pa huyễn hoặc ở thủa này .
CAO MỴ NHÂN
NẾU CÓ MỘT NGÀY….Kiều Mỹ Duyên
NẾU CÓ MỘT NGÀY ...
KIỀU MỸ DUYÊN
Kiều Mỹ Duyên cầu nguyện hàng ngày, cầu xin bình an và hạnh phúc.
Tôi là người mộ đạo, tôi cầu nguyện hàng ngày cho những người thân của tôi vừa mới ra đi hoặc đang nằm trong viện dưỡng lão hay ở nhà. Tôi cầu nguyện nếu có một ngày đẹp trời trong tuần lễ, tôi không nghe người quen tôi ra đi không trở lại, ra đi vĩnh viễn. Tôi rất thích nghe tin vui, đám cưới, tôi thích nghe tiếng cười hơn tiếng khóc, tôi thích nhìn những gương mặt hiền từ, giọng nói tao nhã, tôi không thích người này đả kích người kia. Tôi không thích nhìn thấy hình ảnh của người tị nạn, những đứa trẻ mồ côi cõng em của mình đi tị nạn trong lúc cha mẹ của em đã chết trên đường tị nạn. Tôi thích đồng bào tôi có nhà để ở, sống hạnh phúc trong ngôi nhà của mình. Buổi chiều đi làm về, ánh đèn trong nhà bật sáng để đón chủ nhà trở về sau một ngày làm việc mệt nhọc.
Tôi thích nghe và nhìn thấy người già, người trẻ hát líu lo. Tôi còn nhớ trong một chuyến đi hội thảo ở Jamaica, trong một buổi tiếp tân ngoài trời, trong một nông trại rộng mênh mông, một ông lão khoảng 90 tuổi vừa bưng một khay thịt nướng đến mời khách, ông vừa đi vừa hát một bản nhạc vui tươi. Khuôn mặt của ông rạng rỡ, mỗi lần ông nhảy múa thì khay thịt nướng trên tay ông nhảy múa theo điệu nhạc mà ông đang hát.
Đời sống ở núi rừng sao mà dễ thương quá. Nông trại gần 50 mẫu tây, cây cối xanh mướt, những con nai vàng đang gặm cỏ, ngơ ngác nhìn du khách đến thăm nông trại. Người dân ở nông trại sống với thiên nhiên, người nào cũng vui vẻ, hồn nhiên. Nông trại dưới chân núi, trước mắt là dòng sông xanh mướt, nhiều du thuyền lướt trên dòng sông, du khách đưa tay chào thân thiện người ở trên bờ. Những cô gái dáng người rất đẹp, ăn mặc theo thời cổ ở Âu Châu, cưỡi ngựa đi trong nông trại, các cô xuống ngựa nhẹ nhàng như các hiệp sĩ thời xa xưa.
Tôi mơ ước có một ngày mọi người ca hát, nhảy múa vui tươi, không thù hằn, không đả kích lẫn nhau. Tôi mơ ước người yêu thiên nhiên, yêu tiếng chim hót líu lo trên cành cây, và tiếng cười của con suối. Tôi mơ ước có một ngày nhà nhà không đóng cửa, thái bình như thời vua Nghiêu, vua Thuấn, tiền rớt ngoài đường không ai thèm lượm.
Tôi mơ ước có một ngày người yêu người, yêu thiên nhiên, tôi mơ ước có một ngày mọi người yêu cây cỏ, yêu thú hoang trong rừng. Tôi mơ ước có một ngày không có thợ săn săn mồi trên rừng xanh núi thẳm. Tôi mơ ước có một ngày không có một quốc gia nào chế ra bom nguyên tử để giết người, không có nước nào sản xuất khí giới, bán khí giới để giết người. Tôi mơ ước có một ngày những người ở các quốc gia giàu mạnh giúp cho những quốc gia đang phát triển về giáo dục, xã hội, y tế, kinh tế, v.v. Tất cả những đứa trẻ được ăn no, mặc ấm và đến trường học như những đứa trẻ của các quốc gia tân tiến.
Tôi ước có một ngày những người già không phải vào viện dưỡng lão mà được sống vui vẻ, hạnh phúc ở nhà với con cháu.
Tôi ước có một ngày những người già bệnh hoạn không phải vào viện dưỡng lão mà được sống vui vẻ ở nhà với con cháu cho đến khi nhắm mắt lìa đời một cách thanh thản. Đến rồi đi, hành trình sống ở trần gian đầy đủ lắm rồi, không có gì để hối tiếc, làm xong bổn phận của con người rồi ra đi một cách bình yên.
Tôi mơ ước mọi thứ đều đẹp như ở Thiên Đàng hay Cõi Niết Bàn, ở một nơi chốn không có chiến tranh, không có người giết người một cách dã man. Chắc quý đồng hương ngạc nhiên lắm, tại sao những người bán khí giới để người giết người, tiền vào như nước rồi đi làm việc thiện, có lẽ để giảm bớt tội của mình?
Ngày xưa chúng tôi đi cắm trại trong rừng không sợ thú dữ ăn thịt, bây giờ ở ngay trong thành phố, ra đường phải mang khẩu trang vì sợ vi trùng, vào tiệm ăn, ngồi trong xe, ở nhà cũng phải mang khẩu trang vì sợ chết.
Chúng ta từ khi sinh ra còn nằm trong nôi đã nghe mẹ hát những bài ca dao tuyệt vời, trẻ con vào đời với tiếng hát ngọt ngào đầy tình thương bao la của người mẹ, những đứa trẻ lớn lên được thương yêu bằng tiếng hát của người mẹ, tiếng hát ngọt ngào đi vào trái tim của trẻ thơ. Uống sữa mẹ, nghe tiếng hát của mẹ, lớn lên đứa trẻ yêu đời, yêu người mà sống, đời đẹp quá người ơi!
Con lớn lên từ lời ru thương yêu của mẹ.
Tiếng hát ngọt ngào của mẹ đi vào trái tim con.
Tôi đã đến các buôn Thượng, người thiểu số sống rất giản dị, đói thì ăn, khát thì uống, khoai, chim rừng, nước suối, cưỡi ngựa, bắn chim, tắm dưới suối, đời sống bình thản, sống với thiên nhiên, chết với thiên nhiên, đi ngủ theo mặt trời đi ngủ. Những đứa trẻ sinh ra không đi học, thật thà như ông bà cha mẹ, không nói chuyện văn hoa lá cành nhưng họ thật lòng, tiếp khách từ xa đến với trái tim ấm áp của mình.
Tôi mơ ước có một ngày tôi trở về nhà, sống trong khu vườn rộng mênh mông của cha mẹ để lại với các cháu của tôi còn đang ở Việt Nam.
Nếu có một ngày hoa nở rực trời, người người đều yêu thương nhau, giúp đỡ lẫn nhau, một ngày nắng ấm, một ngày không có thù hằn, một ngày chỉ có tiếng cười giòn tan, một ngày với tiếng chim hót líu lo trong rừng cây xanh mướt, một ngày không lo âu, gạo đầy lu, nhà nhà đều hưởng thái bình.
Kiều Mỹ Duyên yêu tiếng chim hót líu lo trong rừng cây xanh mướt.
Cầu mong một ngày không lo âu, nhà nhà đều hưởng thái bình.
Mong lắm thay, tình đầy tim, tiền đầy túi, những đứa trẻ được đến trường học, những cụ già được chăm sóc tận tình và sống hạnh phúc với con cháu của mình.
Nếu có một ngày người nào cũng khỏe mạnh, sống lâu trên 100 tuổi như những Hướng Đạo Sinh, lưng vẫn thẳng, mắt vẫn sáng, quây quần xung quanh là trẻ thơ ca hát.
Nếu có một ngày mọi người đầu óc sáng suốt, ra đường khỏi cần máy chỉ đường, đi đâu thì đến đó, người người dùng đầu óc của mình nhiều hơn là máy móc. Nếu có một ngày trẻ con không chăm chú vào máy vi tính để rồi đeo kính cận thị thật nặng, hoặc phải đi mổ mắt vì máy vi tính hay đài truyền hình làm hại mắt của trẻ thơ. Nếu có một ngày người già, người trẻ suốt ngày không ngồi trước máy vi tính giờ này đến giờ khác thì không ai bị cao mỡ, cao đường hay cao máu. Người nào cũng tập thể dục, thể thao, học Pháp Luân Công, Hoàn Nhiên Khí Công, Hoàng Hạc Khí Công, thái cực quyền, v.v. Người nào cũng tập thể thao thể dục hàng ngày cho nên không bệnh tật, an vui tự tại, ăn uống điều độ không sợ mập, không sợ bệnh. Tôi mơ ước một ngày không có người giết người, không có những người có bầu rồi phá thai. Sẽ có một ngày người thương người, người già, người trẻ, những đứa trẻ chưa ra đời cũng được thương yêu.
Sẽ có một ngày không có quốc gia nào có Cảnh Sát, không có quân đội, không có nhà tù, vì không có tội phạm. Khi đó sẽ không cần mua khí giới, xe tăng, thiết giáp để phòng thủ cho quốc gia mình.
Tôi mơ ước có một ngày ngủ không cần đóng cửa vì không có quốc gia nào có trộm cắp viếng nhà. Sẽ có một ngày có nhiều chùa, nhiều nhà thờ, nhiều cơ sở từ thiện mà không có nhà tù.
Kiều Mỹ Duyên mơ ước thế giới hòa bình, các quốc gia đều có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.
Tôi mơ ước thế giới hòa bình không có quốc gia có người tranh đấu cho có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo vì không có độc tài, không có đàn áp, không có người giết người thì đâu cần đến khí giới, súng đạn?
Ôi, giấc mơ của tôi sao tuyệt đẹp, không biết giấc mơ này có thực hiện được ở trần gian hay giấc mơ tuyệt vời đó chỉ có trên Trời, hay trong giấc ngủ nhiều mộng mơ?
Ôi, mộng và thực khác nhau xa lắm, nhưng mơ thì vẫn mơ. Mơ cho đời đẹp, mơ cho cuộc sống thêm thi vị, cũng như tôi đã từng viết rằng thần tượng của tôi là người, thần tượng của tôi không phải ngồi trên bàn thờ. Nhiều độc giả hỏi tôi vậy thì thần tượng của tác giả là ai, ở đâu mà nhìn tôi khóc, nghe tiếng tôi cười? Hay nhất là im lặng, im lặng hơn ngàn lời nói.
Mộng và thực không cùng với nhau. Thôi thì cứ mơ ước cho cuộc đời thăng hoa?