Trong một cuốn sách mà tôi đọc được ở chỗ kia, khi tôi đang ngồi đợi anh, dù chẳng hẹn hò…
Anh cười phát sặc, hỏi mình : ” Đang đọc truyện gì đó, không bắt đền tui chớ, có hẹn nhau mô, răng cứ chờ tui hoài rứa?
Rồi, sẽ suốt trăm năm, chúng mình chẳng hề dặn dò nhau một lời, sao mình ngồi đợi quên cả ngày tháng, và chờ giờ kết thúc cuộc tình thơ mơ mộng, mong manh.
Biết thế, nhưng sao anh với mình có vẻ như cùng đợi…
Mình cho anh biết cuốn truyện này của một tác giả ngoại quốc, hình như đã được dựng thành phim.
Truyện mô tả một thanh niên đã tự buồn, tự khổ vì nhận diện ra thanh niên đó, không thích hợp với thời đại đang sống, mà lúc đầu thanh niên đó nghĩ cuộc sống chung quanh không thích hợp với chàng ta …
Anh trầm tư, xem mình định nói gì, hay muốn gài điều gì vào sự liên hệ giữa anh với mình.
Mình lắc đầu, giữa anh với mình chẳng có điều gì mâu thuẫn cả.
Chưa kể sự liên hệ của mình với anh rất hài hoà, csvn gọi là tâm đắc, mình ghét cái tiếng ” tâm đắc”, nó là sự đảo lộn của 2 chữ ” được lòng “, thì sao không nói thẳng ra
“được lòng”, vừa trong sáng, vừa chính xác ?
Nhân vật thanh niên trong cuốn sách truyện ấy bực mình quá, đã mấy lần muốn huỷ hoại thân xác, nhưng chàng ta, thanh niên trong truyện lại rất tôn sùng Thượng Đế, không muốn từ chối công ơn Thượng Đế đã tạo dựng ra mình, nên vẫn hiện diện trong cuộc đời mà thanh niên ấy ghét cay, ghét đắng.
Đó là cuốn tiểu thuyết ” luận đề ” về cuộc sống, nó, cuốn sách bị thanh niên dằn vặt trong mọi lúc khác nhau, cả khi ăn lẫn lúc vào giấc ngủ …
Mẹ chàng ta bảo rằng: ” Con hãy không nghĩ tới, dứt khoát không để tâm vào nó nữa, một thời gian con sẽ quên thôi.”
Đúng rồi, không nghĩ tới, sẽ quên thôi.
Nhưng thanh niên không thể không nghĩ tới sự hiện diện của mình trong cuộc sống, vì thanh niên vẫn sinh hoạt kiểu tối thiểu nhất, là ăn uống vv…để duy trì cuộc sống…bình thường như mọi người.
Đồng thời với sự việc nêu trên, thì chàng ta bắt đầu hư hao sức khoẻ, tâm tình khó chịu, ngay với mẹ cậu, thanh niên nói :
” Tại mẹ sanh ra con, lẽ ra mẹ đừng sanh ra con thì không có hoàn cảnh này, con rất tiếc là để mẹ phải buồn, con muốn hoàn toàn không có mặt của con trên cõi đời này, để mẹ không phải yêu thương.”
Người mẹ ” tiếu lâm ” không kém, cười nụ :
” Con an tâm đi, từ nay chúng mình không liên quan nhau nữa, lỡ có ở chung một nhà, cũng coi như xa lạ…”
Anh lặng lẽ hỏi mình : ” Thế Bạn muốn thế nào ? ”
Chẳng lẽ mình trả lời như thanh niên nêu trên, một thứ khùng trí thức :
” Muốn mình không có anh, để không phải si cuồng mê đắm, vì chung quanh không phải của mình, mà anh lại là một nhân tố thiết thực của chung quanh, đám đông, thời đại” .
Ố ô, mình đâu dại thế, mà không phải là dại nữa. Mình là người quanh quẩn trong đám đông, mình thích cái xã hội chung quanh kìa, không hề chán ghét như thanh niên sầu tư hận đời nơi truyện kể, mình lại còn hăm hở, chan hoà sống giữa thiên hạ vv…
Thế có phải mình đã kéo anh ra khỏi đám đông, như con trăn gió ở rừng Phú Quốc xưa, hồi ba mình đi thành lập phi trường Dương Đông từ vài năm sau cuộc di cư 1954.
Mình hết hồn khi thấy con trăn quấn chặt một thân cây, tới chán nó mới rời thân cây, rồi quất vô sâu thẳm rừng hoang.
Anh cười : ” Đó thấy chưa, đừng đổ hô cho tui nha, tui thánh thiện đến tận cùng bằng số …”
Anh như thân cây cao ngất từng xanh, đôi khi mình chỉ là con rắn nước, lặng lẽ bò lên bờ, loanh quanh gốc cây, trời khô hạn quá, lại quay về thuỷ cung lạnh lẽo, chơi vơi…
Thượng Đế quyền phép tối cao, ngài đã sinh ra muôn muôn vàn vàn sinh linh, nhưng không có nghĩa là kẻ trọng, người khinh, để khiến phải ưu tư, ẩn ức, từ chối cuộc sinh tồn mà Thượng Đế đã an bài cho mỗi phần số cuộc đời.
Tha thiết với cuộc đời, lẽ sống quá, đôi khi cũng khiến chúng bạn xem thường, cho là mình dễ dãi chấp nhận.
Mình cảm thấy buồn cười chi lạ, xưa đã làm công tác xã hội ở 1/4 lãnh thổ miền nam , không trải lòng ra… thì làm sao giúp đỡ ai được . Song cũng đừng thái quá thân tình, lại mang hoạ vào thân …
Anh sắp đi xa rồi, con trăn gió vô hình, nó sẽ cuốn không gian lại, nghe hơi thở nóng một hồi, rồi tự quất về đâu…
Kiếp đời này, rồi kiếp đời khác …chàng thanh niên trong cuốn
sách, không thả mình vào mùa xuân tuổi trẻ, không cảm nhận những yêu thương của nhân thế, thì dẫu có từ chối kiếp nhân sinh này, cũng chẳng vui tươi hân hoan gì nơi cõi đời khác được …
Nên chi đối với mình, tất cả sự việc cứ để xẩy ra, cho dẫu là con trăn gió cuốn mình trong không gian, mê đắm nhiệt tình, rồi cũng phải bỏ đi nơi khác, vì nó, con trăn, cũng có lúc nó phải thả dài thân xác nghỉ ngơi, chuẩn bị cho cuộc lột xác hay chết đi … như bất cứ một sinh vật nào …
CAO MỴ NHÂN
NGƯỜI TÌNH CỦA CHAPA.
CAO MỴ NHÂN
Mới sáng ngày ra, tôi đã nghe thấy tiếng réo gọi từ thâm tâm, chàng A Phủ muôn đời ở Chapa xưa, mà tôi không thể nào quên được dáng hình thô kệch, ngốc nghếch, ngơ ngác …bên tai, cùng tiếng gió hú nhẹ thôi, lẫn trong hơi thở dài toàn mùi thuốc lá rừng .
Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn ra cửa sổ, mặt trời hôm nay mầu vàng, không thật đỏ thắm như mấy tuần trước đây, có nghĩa là khí lạnh của sương đêm còn bao phủ .
Đó là mầu mặt trời ở lâm nguyên nhiều cây cao và ghê hồn như lúc nào cũng có ma đứng cạnh …
Và đó cũng là mầu mặt trời đẹp nhất, vào những ngày trong sáng nhất, ấm áp nhất ở nơi tôi đã được sinh ra, CHAPA, vâng , tôi muốn kể hay chỉ cần nhắc lại thời thơ ấu, niên thiếu, quanh ngôi nhà có 3 mặt tường là kiến thật dày, còn vách tường phía sau đã áp vô đá núi .
Đó là hình ảnh đầu tiên tôi thường thấy mỗi năm vào dịp xuân về, cùng hình ảnh chàng a phủ bất biến trong tâm tư tôi, mỗi mùa xuân tôi trở lại gặp chàng, người tình cổ quái của Chapa thủa đệ nhất bán thế kỷ 20 vừa qua, nghĩa là trước cái năm đất nước VIỆT NAM chia đôi, 1954.
Tôi phải dựa vào chàng ta, một nhân vật thực hư ẩn hiện trong ký ức 70 năm qua.
Ông này, chàng a phủ bây giờ rất buồn, và rất nhiều năm rồi đã rất buồn mỗi lần người mán mường ấy cô đơn đi trên con đường không còn một dấu vết cũ .
Chàng a phủ Chapa, phải chỉ danh rõ ràng là người Mèo mới đúng. Cho dẫu sau này , tôi được biết không còn danh xưng Mèo nữa , mà nào là H ‘Mong, nào Miêu, Dao,thậm chí còn kêu chàng là Miu gì đó …
Nhưng là chi thì là, với tôi thủa ở Chapa trước khi phải về châu thổ sông Hồng Hà, tôi vẫn thấy dân chúng sinh sống ở lâm nguyên này, vẫn chỉ nói với nhau 2 chữ : người Mèo .
Thế thì đã hơn một lần tôi kể với quý vị là người Mèo, mà trong đó có chàng a phủ chung chung kia, cư ngụ trên những vạt núi cao nhất, phía tầng thấp hơn của núi non là xã hội của người Mán .
Rồi cứ như thế, càng gần thế giới người Kinh, tức Việt tộc văn minh, tiện nghi là các sắc tộc cơ bản như : Mường, Tày , Nùng ( còn gọi là Nông ? ) , Sáng sủa đẹp mắt vẫn là người Thái ( Thái trắng, Thái đen ) .
Trở lại Chapa như tôi muốn kể hôm nay về chàng a phủ cùng những gì chung quanh chàng ta…
Sáng nay A Phủ nhắc rằng : ” Có thấy mùa xuân sắp về không , cho dẫu còn mùa trăng đông rét mướt nữa , nhưng trong khắp các buôn bản, nhất là ở lũng Mường Hoa, không khí sinh tồn rất lạ . ”
Còn những hơn trăm ngày nữa mới thấy mặt mùa xuân, sao bản Mường Hoa mừng rỡ điều chi vậy chứ ? ”
À, họ ra sức thay đổi những luống hoa, họ ra sức dệt thổ cẩm đủ mầu như sắc hoa ngoài trời , nhất là họ tự may những xiêm y sặc sỡ , không phân biệt tuổi tác, họ thảnh thơi sống giữa thiên nhiên …
Thì vốn từ xưa vậy rồi, có chi khác hơn đâu ?
Hơn chứ, hơn nhiều lắm , dù không phải hơn theo tiếng hú vượn xa, tiếng chim gần nhà vv… mà chúng ta không thể tìm thấy một Chapa thơ mộng, thần thoại nữa .
Tôi rời Chapa đi lâu quá rồi, tôi không hiểu những điều bạn nói a phủ à.
Thế này nhé, chữ CHAPA, đã chỉ còn trong ký ức những ai sống ở đó mấy chục năm xưa rất xưa thôi. Chapa nay kêu là SA PA, vâng SA PÁ , chính là Sa PÁ nguyên bản của H’ MONG đấy, người Trung Hoa lại làm rõ nghĩa ra SA PA là Bãi Cát .
Thế thì từ đây, chúng mình cứ kêu BÃI CÁT cho hiểu ngay nha.
Được, cũng có nghĩa là ngày xưa, tôi được sinh ra nơi Bãi Cát ư ? Thì có sao đâu.
Đừng liên tưởng máy móc vậy, bạn vừa nói ngôi nhà thủa bé thơ bạn ở với cha mẹ, là ngôi nhà ” thần thoại ” toàn vách tường bằng kiến cơ mà, ô nhà như các lâu đài trong chuyện cổ tích vậy nhỉ ?
A , đó chỉ là ” Nhà chức vụ ” ba tôi được cấp từ thời Tây, ba tôi không làm công việc giám đốc sở máy điện kiêm sở máy nước Chapa, sẽ không được ở nhà đó nữa .
Một loạt những vị công chức cao cấp ở Chapa thời đó như ba tôi, đều có nhà ở như vậy , bởi lẽ Chapa là làng nghỉ mát của những ông tây bà đầm người Pháp sống trên toàn cõi Đông Dương thời Pháp thuộc, nên không lạ khi Chapa mang mầu sắc Âu Châu từ buổi đầu tiên khai sáng, đầu thế kỷ 20 vừa qua.
Đứng trước một rừng đào cánh kép tươi vui, rực rỡ, người ta dễ quên đi những bộn bề ý thức, tư duy mà sau này có thể hiểu phạm trù ý thức hệ, thì Chapa thủa đó chính là ngưỡng cửa của thiên đường nơi hạ giới Việt Miên Lèo, mà thực dân Pháp tóm gọn trong 2 chữ Đông Dương quen tai.
Và nếu quý vị cần biết chi tiết về một SA PA, hậu thân của CHAPA xưa, lập tức có hằng trăm phương tiện giúp quý vị đi tới một SA PA, không phải CHAPA, nơi sanh quán của tôi.
Do đó tôi không tổng hợp công việc của một hướng dẫn viên du lịch, tôi lại thầm thì với chàng a phủ già nua, hay có thể gọi là lão phu miền núi Fan Si Pan, tiếng Mèo là Hua Si Pan, được hiểu là Núi Đá Khổng Lồ , cao 3143 m, coi như cao nhất Đông Dương đấy .
Nhưng với a phủ lỗi thời, thì hàng loạt a phủ hiện đại với quần jean, áo khoác da bò, hút thuốc Ăng Lê 3 số 5 , túi thổ cẩm để làm dáng với các cô gái thị thành từ nam ra bắc, quý vị sẽ không thể thấy được những đoạn đường rừng lá to bản , có ngàn loài hoa hiếm, độc, mà sắc hoa anh túc tuyệt vời tự nó thích hợp với cảm quan khách mộ điệu : không giới hạn mầu sắc, và không bó buộc hình thể.
Bởi đó là loài hoa làm say đắm, huyễn hoặc …lòng người , hoa nha phiến, hay hoa thuốc phiện vậy .
Lớp a phủ xa xưa không bị loài hoa trên làm đắm chìm cuộc sống, vì một lý do rất dản dị, nó từ cây độc nở ra, nhưng nó chỉ ví như hoa dại ở núi cao, rừng thẳm.
Nếu không có ánh sáng văn minh, không có phong thái huyễn hư, nha phiến hoa không được biết đến .
Song khi loài hoa anh túc đó được thế nhân chính thức đánh giá về sắc mầu hoa bướm thiên nhiên, hoa thuốc phiện mới xứng danh là hoa khôi thẩm mỹ .
Có ai mang nó về nhà làm tươi đẹp khuôn viên, sảnh đường không ? Nó, hoa anh túc ấy, lại bị lẫn lộn với hoa phù dung ở các vùng đồng bằng .
Hoá cho nên người ta chỉ mượn một chút danh nghĩa ” phù dung ” nơi các bàn đèn thuốc phiện : Khói phù dung.
Cái chất khói phù dung này đã quấn quýt, vấn vương không ít những thi sĩ, chính khách đi tìm một thế giới hoang tưởng .
Người a phủ cuối cùng, có lẽ vậy thật, vì lớp tuổi ông ta trẻ nhất đã sắp tròn trăm năm, ông ta thở dài chỉ cho tôi cái biên giới hoa đào dù đẹp thế , từ Lai Châu tới Cao Bằng cả trăm năm trước, nhất là từ nửa thế kỷ nay, đã phạt ngang .
Việt Nam là Việt Nam, Vân Nam là Trung quốc , không phải vì hoa mà chín bỏ làm mười , người ta đã thực sự không thương tiếc mầu hoa đỏ như ánh rạng đông nữa .
Biên giới hoa đào đã lở loét trầm kha .
Bên này vực hào sâu là cây gỗ lớn, để thay thế mỗi 5 hay 10 năm sinh lợi.
Đôi nơi còn trải thảm hoa trắng xoá, đó là hoa ban dưới trạm đường vô định ở chân núi Hoàng Liên .
Cũng ở dưới lớp hoa ban trắng mầu tang đó, là những nấm mồ sĩ quan VIỆT NAM CỘNG HOÀ bị đi tù tập trung cải tạo, bị chôn vùi nông cạn, không có giọt nước mắt thân nhân rớt thấm ướt thân tàn, vì đường trường cách trở .
Nghĩ cho cùng, SA PA hay SA PÁ bây giờ, đã qua thế kỷ mới , 1/5 của kiếp người xa lạ, còn gì nơi ngưỡng cửa thiên đường đông nam châu Á nhỉ .
Chứ nếu không quý vị sẽ hỏi là, nếu cái BÃI CÁT Sa Pa đó cứ mặc nhiên trước thăng trầm xã hội, qua những biến thiên lịch sử, thì chúng ta có gì hay tìm gì nơi Làng Chapa ( Village Chapa ) còn được dịch ra là Xã Xuân Viên, huyện Chapa
Tỉnh Laokay, bây giờ gọi là thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đó .
Như vậy, làm thế nào dịch sát tên cái Bãi Cát SA PA thuộc Phố Cổ ( Lao Cai tiếng Hoa là Lão Nhai , để nam thanh nữ tú ra Chợ Tình gặp gỡ, hẹn hò, nên duyên chồng vợ .
Ngoài rặng núi Fan Si Pan cao ngất ngưởng mà đa số dân sắc tộc quanh vùng tây bắc kêu là ” Tảng Đá Khổng Lồ,
hiện nay người ta khai thác thành những điểm du lịch được xếp vào hạng nhất VN, trên đó có đỉnh Hàm Rồng, sân Ngắm , sân Mây vv…
Cùng những khoanh ruộng xanh mướt bò vòng quanh sườn núi cũ, tôi tìm thấy được một chút xíu vùng Cát Cát xưa, đoạn đường đèo không dài lắm .
Sương mù không đặc lắm, nên pha ánh nắng có chỗ mầu hồng lạt, có chỗ lại vàng anh như mầu mật ong.
Tôi nói với a phủ, ngày tôi còn bé, mẹ tôi cho đi chơi Cát Cát để mua rau gì đó, cùng những trái bắp to hột mầu vàng, nhưng luộc thì mềm và bở ra, ăn thật ngọt và bùi lắm .
A phủ lắc đầu: ” Bây giờ không có và không cần nữa, người ta thích những cái khác, người ta muốn mầu sắc Hanoi, Saigon, và cả bên Mỹ ” .
Tôi có vẻ như đi tìm một cái bóng của mình.
Tôi thấy tôi không giống ngày xưa, và càng không giống bây giờ, buông tiếng thở dài nhẫn nhịn, a phủ ngô nghê thế mà cũng hiểu ra điều khó diễn tả của tôi.
Cũng chẳng nên buồn, vì thời gian là cái thước đo đúng nhất, và còn là gói thuốc nhuộm muôn mầu .
Không phải như thời đệ nhất bán thế kỷ trước, người Mèo
dệt thổ cẩm là để bán cho du khách, cho nghệ sĩ trình diễn, người bản địa này thích mặc đồ thời đại như quần bò, áo thung có chữ Mỹ ghi dưới hững hình ảnh rất tây phương cơ.
Chúng tôi trở lại thành phố, để đi đúng con đường thủa ấu thơ, từ dưới dốc lên cao, dãy nhà 2 bên đường đổi thay hoàn toan, nhưng điều may mắn nhất, là khu nhà thờ đá vẫn hình thức vậy, chung quanh làm thêm cơ ngơi khác.
Khách quan thì Nhà Thờ Đá Sa Pa là điểm du lịch nặng ký nhất .
Chị MỸ tôi, khi mới 4 tuổi đã được cha xứ làm lễ rửa tội ở nhà thờ đá này .
Nhà Thờ Đá ở down town Sa Pa bây giờ là viên ngọc quý, là tài sản …duy nhất của xưa thì kêu Làng, nay kêu Phường Sa Pa , thuộc Thị xã Sa Pa, tỉnh Lao Cai, nơi chỉ rộng 9274 m vuông với dân số cơ bản là 8975 người, thống kê năm 2009 , không kể du khách thay đổi thường ngày .
Vẫn đứng ở khu Nhà Thờ Đá SA PA, tôi ngó lên cái dốc trước mặt, lưng chừng độ 2/3 con dốc là nhà ba tôi xưa, 1/3 lên đỉnh núi, và tất cả phần đất chung quanh núi là khu rừng đào cánh kép, mùa xuân hoa nở bạt ngàn như xác pháo toàn hồng ở miền suôi.
Ngoài cửa lớn từ đường đi vào lòng nhà thờ là cội đào cố hữu , hay cây đào cựu cảm , bởi chưng ai biết Sa Pa rành rẽ cho bằng A Phủ, người tình vĩnh cửu của CHAPA trong rất xa xăm huyền thoại bản Mèo thân quen, đã mất hút…
CAO MỴ NHÂN
NGÀY GIỖ Cố Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM – Mai Thanh Truyết
TRUYỆN HALLOWEEN: Bà Phù Thủy và Bữa Tiệc Ma – Phương Hoa
Hà vừa đi làm về thì nhận được điện thoại của bà Định, mẹ chồng nàng. Cũng như mọi khi, bà hỏi con dâu với giọng nói có chút e dè, gần như là năn nỉ:
– Cuối tuần này tụi con có nhà không? Mẹ muốn bắt xe buýt xuống thăm để chơi với thằng Cay, nhớ nó quá! Với lại, bữa trước mẹ đã hứa với thằng Cay là sẽ dắt nó đi xin kẹo trong ngày lễ Ma năm nay…
Thằng cháu nội năm tuổi tên Keith mà bà Định cứ một điều Cay hai điều Cay, làm cho Hà vốn đã không có cảm tình với bà lại càng thêm ác cảm. Bà nói chưa dứt câu nàng lập tức gạt phăng:
– Thôi đi mẹ ơi! Thăm viếng làm chi hổng biết nữa! Mẹ già rồi, ở nhà đi cho nó khỏe thân, cuối tuần này tụi con sẽ đưa nó đi chơi xa.
Nói xong Hà gác máy cái rụp, sợ phải nghe bà mẹ chồng tiếp tục ca cẩm làm cho đổi ý.
Sự thật thì Hà không đi đâu cả. Nàng đã hứa với Keith là cuối tuần vào ngày lễ Ma nàng sẽ dắt nó đi xin kẹo.
Đôi lúc Hà cũng cảm thấy áy náy và bất nhẫn khi đối xử với mẹ chồng như thế. Nhưng mỗi lần nghĩ đến việc bà tìm cách ngăn cản không cho Đạt kết hôn với nàng là cái cục tức nó lại trào lên cổ. Hà không bao giờ quên được chuyện người ta nói lại với nàng, có lần bà Định kêu nàng là “Phù Thủy,” đã làm cho Đạt mê mẩn không chịu cưới con gái người bạn thân thuở còn đi nuôi tù bên Việt Nam của bà, theo sự hứa hẹn từ lâu giữa hai người.
Hà tức lắm. Sau khi cưới nhau rồi có con, Hà rắp tâm trả thù bà mẹ chồng, tìm cách để tách bà ra khỏi gia đình nhỏ bé của nàng. Nhưng Đạt là người rất có hiếu và thương mẹ, Hà biết vậy nên cũng không dám tỏ ra là cô con dâu quá quắt trước mặt chồng. Nàng chỉ tỏ những cử chỉ khó chịu khi nào không có mặt Đạt. Bà Định cũng biết thế nên cam chịu buồn một mình, chứ không muốn làm khó xử cho thằng con. Và cũng vì bà rất thương thằng cháu nội Cay. Sau năm 75, bà đã vất vả vừa nuôi con, vừa thăm nuôi chồng, bị hà hiếp đủ điều mà bà vẫn tồn tại cho đến ngày ông Định ra tù rồi sang Mỹ diện HO. Sá gì chuyện khó chịu của cô con dâu! Bà nghĩ thế nên luôn nhẫn nhục dằn lòng để tỏ thái độ ôn hòa. Bây giờ ông Định đã mất, bà không muốn mất luôn thằng con và đứa cháu nội.
Sau khi Đạt cưới vợ, bà Định nhận ra sự ác cảm của cô dâu nên không muốn sống chung, sợ xảy ra chuyện chẳng hay. Bà dọn ra cái chung cư một phòng ngủ gần đó để tiện việc chạy qua chạy lại thăm thằng con trai độc nhất. Khi Hà sinh thằng Cay, bà mừng vô kể và thường qua chơi với cháu. Hà miễn cưỡng để cho bà Định qua lại, nhưng đến khi hai vợ chồng đủ điều kiện mua nhà, Hà nhất định đòi Đạt mua nhà ở thành phố khác, để bà Định khỏi phải lui tới nhiều, chướng mắt. Đạt không muốn xa mẹ, nhưng cũng chẳng muốn gia đình lục đục, sẽ ảnh hưởng cho thằng con. Cuối cùng, Đạt chịu mua cái nhà ở thành phố kề bên, để anh có thể ghé thăm mẹ thường xuyên, và cũng để bà Định có thể lấy xe buýt đi thăm cháu.
Bà phù thủy. “Chiến thắng” này làm Hà hả hê, vui sướng lắm. Nàng vô hãng khoe với con bạn thân người Mỹ Laura, là đã thành công trong việc tách rời bà mẹ chồng ra xa thằng con của mình. Hà cứ ngỡ người Mỹ khô khan tình cảm, lợt lạt tình gia đình giữa các “In-Law,” mẹ vợ mẹ chồng, con dâu con rể với nhau và việc này sẽ làm Laura vui lắm. Không ngờ nghe xong Laura cười ngất:
– “Youre a bitch!” (Mày là đồ sói cái!) Không ngờ một người hiền lành như mày mà cũng “dở chiêu” phù thủy ra!
Lại “Phù Thủy”!
Hà tái mặt, nỗi đau của nàng đã bị chạm vào làm nàng nổi giận:
– Nhưng tao không thích bà ấy!
– Thích hay không thích là việc của mày. Nhưng mày “cấm cửa” bà già chồng thăm cháu, coi chừng bị kiện đấy!
– Kiện? Hà trề môi: – Nó là con của tao, tao muốn cho ai gặp thì cho. Ở đó mà kiện!
Laura lắc đầu:
– Mày sai rồi! Đối với luật pháp, ông bà cũng có đặc quyền viếng thăm cháu của họ! Bà hàng xóm của tao năm ngoái đã thưa con dâu về tội cấm không cho bà thăm cháu nội. Và tòa đã xử bà thắng kiện, buộc cô con dâu để cho bà nội đến đưa mấy đứa cháu đi chơi mỗi hai cuối tuần một lần. Bây giờ bà ấy không cần hỏi “ý kiến ý cá” gì cả, cứ cuối tuần là đến gõ cửa. Và mẹ chúng phải chuẩn bị sẵn sàng quần áo, sách vở, đồ chơi… để cho bà chở tụi cháu đi, đến chiều Chúa Nhật chở về trả lại.
Hà nghe thế cũng hơi ngan ngán. Cái nước Mỹ thật là kỳ cục, luật lệ gì mà lại chui vào xử chuyện trong nhà của người ta kia chứ. Nhưng mẹ chồng nàng rất hiền lành và tiếng Anh tiếng u đâu có bao nhiêu mà sợ bà thưa với kiện. Mỗi lần cảm thấy có chút gì áy náy Hà thường đổ lỗi cho bà để lương tâm đỡ cắn rứt.
Cuối tuần là lễ Halloween. Vợ chồng Hà mới dọn về thành phố này chỉ vài tháng, và đây là cái lễ Ma đầu tiên nơi chỗ ở mới. Hôm qua Hà nói chuyện với Lily bà hàng xóm Mỹ nhà bên cạnh và nghe mấy đứa con bà bàn tán về một “điểm hẹn” tụi nhỏ không bao giờ bỏ qua trong ngày lễ Ma, đó là ngôi nhà màu hồng to lớn và thật đẹp ở góc đường của bà “Phù Thủy.”
Lại Phù Thủy!
Có lẽ Hà bị ám ảnh nên mỗi khi “đụng” phải hai từ này là Hà chột dạ. Lũ trẻ còn kháo nhau nhà bà Phù Thuỷ năm nay trang hoàng lễ Ma rất nguy nga, “ngầu” nhất thành phố. Hà định bụng thế nào cũng đưa thằng cu Keith đến xin kẹo để xem cho biết “bà Phù Thủy” mặt mũi ra sao.
Tính vậy nhưng Hà không chờ được. Buổi sáng cuối tuần, một ngày trước lễ Ma, trong khi cha con Đạt còn ngủ nướng, Hà đi bộ tập thể dục bên ngoài. Vừa tới góc đường là đụng ngay ngôi nhà mầu hồng nổi tiếng của “bà Phù Thuỷ”. Tưởng đâu xa, hoá ra bà ta cũng là hàng xóm. Tiện thể nàng quyết định dừng chân thăm ngôi nhà màu hồng xem thử.
Sống ở Mỹ cũng đã một thời gian dài, Hà từng đi xem rất nhiều cảnh Halloween và hóa trang độc đáo. Nhưng chưa bao giờ Hà được tận mắt chứng kiến “Ngôi nhà Ma” nào kinh khủng hơn là ngôi nhà màu hồng này. Mới bước lại gần, Hà đã sợ hết hồn vì những gì hiện ra trước mắt. Quả thật là một sự trang trí vô cùng khủng khiếp. Gọi là khu nhà Ma thì cũng chưa đúng, mà phải kêu là “ngôi nhà Ma trên nghĩa địa” thì chính xác hơn.
Trước sân, tại một gốc cây xanh là con quỉ đỏ mình người đầu sói đứng há miệng nhe răng. Xung quanh nhiều con Ma khác lớp trắng lớp đen cũng đang vung nanh múa vút hù người khách không mời mà đến. Hà đang đứng tròn mắt sững sờ nhìn vào đám bia mộ dựng xung quanh như một khu nghĩa trang thì “bà Phù Thuỷ” bước ra chào. Bà không có hoá trang, và Hà nhận ra bà Phù Thuỷ mà tụi nhỏ đồn đãi lại là một phụ nữ xinh đẹp còn rất trẻ, chỉ khoảng trong ngoài bốn chục.
– Chào chị. Cô ta nói -Welcome chị ghé thăm.
Hà cũng chào lại, tự giới thiệu, và người hàng xóm cho biết tên là Andra. Khi biết Hà là hàng xóm mới, Andra đưa Hà đi khắp nơi để xem trưng bày, giải thích cho biết tên của từng “con Ma Boo” được chưng trong vườn, như con Ma sói “Wilma Werewolf,” bà Phù Thủy “Willow Witch,” và ma cà rồng “Lily Vampire…”
Sau khi cho Hà xem hết trang trí bên ngoài, Audra nói:
– Chị Hà này, chiều nay năm giờ chị có rảnh mời chị trở lại đây dự buổi tiệc Ma với chúng tôi, chị sẽ được thưởng thức những món ăn độc đáo “có một không hai.” Hàng năm nhà tôi đều có chuẩn bị cho buổi tiệc miễn phí nhưng linh đình này, một ngày trước ngày lễ chính.
– Nhưng chúng ta mới biết nhau lần đầu, mà sao chị đối xử ưu ái với tôi như vậy?
Hà ngạc nhiên hỏi. Người hàng xóm Mỹ cười và trả lời:
– Chúng tôi mời hết tất cả mọi người, quen biết hay không cũng đều có thể vào chung vui. Nhưng chị là hàng xóm mới, và cũng chính vì tôi rất thích làm bạn với người Việt Nam. Rồi cô kể Hà nghe cô đã từng có một người bạn Việt Nam rất thân trước đây nhưng giờ đã dọn đi xa.
Con ma trong vườn. Vì lời mời thật lòng của Andra nên đến chiều Hà rủ Lily người hàng xóm bên cạnh đến dự tiệc ở ngôi nhà màu hồng để xem cho biết buổi tiệc Ma. Hai người để bọn trẻ con ở nhà với cha chúng, ngày mai mới dắt tụi nó đi xin kẹo. Hà chỉ vì tò mò muốn biết “bữa tiệc Ma” ra sao nên định đi một tí rồi về. Khi họ đến thì nhà đã rất đông khách khứa. Người ta đang ăn uống cười nói râm ran, từ bên ngoài vào đến bên trong. Bà Phù Thủy bây giờ đã “lên khuôn” hóa trang y hệt bà phù thủy chưng trước cửa. Thướt tha, nhưng…ghê rợn với khuôn mặt trắng bệt trong chiếc áo chùng đen, tay cầm cây chổi, bà Phù Thủy ra tận cửa tiếp đón và dẫn khách vào nhà.
Vừa bước qua khỏi cửa, Hà giật mình tái mặt khi nhìn thấy một cỗ quan tài đỏ chóe đặt ở góc nhà cạnh chiếc ghế sofa. Trong quan tài là xác chết nằm thẳng cẳng của một phụ nữ mặc áo đầm dài bằng lụa đen óng ánh, đầu đội mũ đen có băng đỏ hai tay gác trên bụng. Nhìn quanh phòng khách, Hà rùng mình khi thấy những chiếc đầu lâu to đùng nhe hàm răng trắng ởn với hốc mắt đỏ lòm như máu, trên tường nhiều tranh ảnh ma quỷ đủ loại nhìn giống như khu địa ngục mà Hà từng thấy trong các bức tranh minh họa
ma quỉ kỳ dị. Thấy Hà nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài và xác chết, Andra nói:
– Tôi đang kêu người đóng một cỗ quan tài thật bằng gỗ đó chị, chắc là đến Halloween năm sau sẽ có.
– Trời đất! Hà kêu lên. -Quan tài thế này cũng đủ làm cho tôi sợ mất vía rồi, mà chị còn đóng quan tài thật thì trông… khiếp đến chừng nào!
– Phải vậy mới đúng là để…hù ma chứ chị. Andra cười ha hả. -Đây là sở thích của tôi!
Thật là một sở thích quái đản. Hà thầm nghĩ.
Bao nhiêu đó cũng đã đủ làm cho Hà sợ đến “vỡ mật” rồi, nhưng khi Andra đưa Hà và Lily vào nhà bếp thì Hà còn “rợn tóc gáy” hơn. Trên bàn, từ ly tách đĩa bát đến thau chậu rổ rá đều là những hình tượng không đầu lâu thì cũng quỷ dữ, hoặc là ác thú ma vương. Andra giới thiệu bọn họ với ba người đàn bà bạn của gia đình, một người Hoa, một Mễ, và một người Mỹ trắng, đang phụ giúp lấy thức ăn vào đĩa, để sẵn ra bàn. Thomas, chồng Andra đứng ngay cửa nhà bếp, đưa cho mỗi người khách bước vào một đĩa thức ăn để họ bưng ra vườn hay trước sân vừa ăn vừa thưởng thức những cảnh tượng ma quái.
Chào hỏi Thomas và mấy người bạn của Andra xong, Hà nhìn kỹ bàn tiệc. Khi thấy các thức ăn trên bàn, ruột gan nàng bỗng cồn cào, phát ói. Một bộ óc người còn tươi roi rói nằm trên đĩa như mới vừa cắt ra. Bàn tay, bàn chân của xác chết tái xanh có dấu mới chặt từ khoảng chân ngay mắt cá. Một cái đầu lâu còn dính đầy máu nằm nhe răng trên cái khay màu đen. Rồi những hàm răng trắng ởn, mấy ngón tay da dẻ nhăn nheo, bộ xương sườn người chết… Hà run run vịn vào bàn, ráng định thần để khỏi bị té xỉu.
Các món ăn trên bàn tiệc ma.
Thế nhưng, những người khách lại rất hào hứng. Vừa nhận đĩa thức ăn là họ dùng nĩa gắm một món cho vào miệng ngay, và trầm trồ khen “Tuyệt vời!” trước khi quay bước đi ra để cho người kế kiếp bước vào. Một bà khách còn nói, “Ăn một lần là nhớ cả đời, nên mỗi năm tôi đều ghé lại đây!” Thì ra tất cả các món ăn kinh dị này đều được làm bằng vật liệu của bánh kem và chocolate, thơm ngát mũi. Dù vậy, Hà cũng chẳng thể nào có gan để nếm thử. Nàng chỉ nhặt vài chiếc kẹo rồi ngậm cho đỡ buồn nôn. Thấy Hà không dám ăn, Andra như đọc được suy nghĩ của nàng nên nói:
– Chị ra đây với tôi! Ra vườn sau cho mát.
Bước theo sau bà “Phù Thủy,” Hà càng lúc càng thấy lạnh mình. Đây quả là chốn “âm ty,” là một khu nghĩa trang với rất nhiều ngôi mộ mới đắp nằm rải rác trong vườn, dưới các gốc cây, bên cạnh hàng rào, gần vách tường của nhà mát. Mỗi ngôi mộ đều có dựng bia đàng hoàng, y như mộ thật. Andra cho biết chính tay cô đã vun đất thành những nấm mồ và dựng bia lên trong tuần lễ đầu tiên của tháng Halloween. Hà bước ra phía cây hồng um tùm bên trái, và sém chút nữa thì té bật ngửa khi đụng phải một con rắn to dài thoòng treo mình từ trên cây xuống đất. May mà Hà kịp nhìn thấy chiếc đầu người trên mình rắn nên mới nhớ ra đó là rắn giả.
– Chị Hà qua đây tôi cho chị xem cái này! Andra nói xong bước lại mở cửa nhà kho b góc khu vườn. Hà đi theo ghé mắt nhìn vào, và há hốc mồm vì sửng sốt. Trong nhà kho không biết cơ man nào là những con Ma cao lớn nhìn rất gớm ghiếc. Thôi thì đủ loại từ rắn rết, đến Ma Vương, Phù Thủy… Andra cho biết cô có một trang web hẳn hoi để bày bán những mặt hàng Halloween này. Đây là những con “ma vương giả” cao cấp, giá bán từ một trăm lên đến nhiều trăm.
– Tôi dùng hết cả những thời gian rảnh để làm ra chúng đấy! Cô hãnh diện khoe.
– Trời ơi! Hà kêu lên. –Vậy thì tiền chị để đâu cho hết.
– Chúng tôi không hề xài số tiền này, Andra nói. -Mà là dùng chúng vào mục đích khác.
Rồi cô cho biết, cô dùng số tiền “bán Ma” để bảo trợ, cấp thức ăn nuôi trẻ em nghèo bên Châu Phi và Philippines. Mỗi đợt cô bảo trợ bốn đứa, hai đứa bên Phi Châu và hai đứa bên Phi, cứ mỗi sáu tháng một lần, Andra đi gửi tiền và bốn thùng quà gồm quần áo sách vở đồ chơi cho lũ trẻ. Cho đến khi tụi nhỏ được mười tám tuổi, đủ tuổi đi làm thì hội từ thiện sẽ chuyển cho Andra những hồ sơ khác để cô tiếp tục bảo trợ.
– Vui lắm chị ạ! Andra nói. – Tụi nhỏ viết thư hồi âm gửi hình ảnh chúng cho tôi và kêu tôi bằng mẹ, dễ thương vô cùng. Hôm nào tôi sẽ cho chị xem thư và hình chúng nó. Vợ chồng tôi không thể có con, nên lấy niềm vui từ những đứa trẻ này làm niềm hạnh phúc.
Hà nghe Andra kể chuyện mà lòng xúc động vô vàn. Bây giờ nhìn Andra Hà có cảm giác đây là bà Tiên hiền dịu chứ không phải là một “bà Phù Thủy.” Nàng chợt nao lòng nghĩ đến những khuôn mặt hốc hác của các đứa trẻ Phi Châu đen nhem nhẻm, gầy gò, trơ xương vì đói thường chiếu trên TV, rồi nẩy ra một sáng kiến. Nàng nói với Andra:
– Sau này khi nào rảnh, tôi sẽ qua đây phụ với chị. Tôi có chiếc máy may rất tốt và còn nhiều cuộn chỉ lớn, cùng các loại vải vóc đủ màu mà ngày xưa anh chị tôi mở shop may, rồi dọn đi tiểu bang khác còn để lại cho tôi. Chúng ta sẽ cùng làm thêm nhiều sản phẩm mới cho bộ sưu tập của chị. Tôi muốn góp phần vào giúp cho tụi trẻ. Tôi hy vọng ở bên chị, tôi cũng có thể khát triển hơn năng khiếu sáng tạo của mình!
– Ồ! Andra kêu lên sung sướng. –Chị tốt quá! Tôi sẽ nói lại với Thomas, chắc anh ấy cũng sẽ vui lắm.
Con ma trong vườn. Khi hai người vào lại trong nhà thì đã thưa bớt thực khách ra vào. Andra bỗng bỏ đi đâu mất. Bà hàng xóm Lily thì vẫn còn mải mê thử cho hết các món thức ăn Ma trên bàn. Hà ngồi không chẳng biết làm gì nên bắt chuyện cùng bà bạn Mễ của Andra tên Angela. Angela kể, đã chơi với Andra từ khi còn học High School. Công việc hiện nay của Andra là làm quản lý cửa hàng “Health Food Store” chuyên bán các loại thuốc nam, cây lá và thực phẩm “organic” gần giống như tiệm thuốc Bắc của người Tàu hay người Việt. Chồng của Andra, Thomas, là một kỹ sư ống nước cũng đang có việc làm rất tốt. Khi Hà khen vợ chồng Andra còn trẻ mà đã tạo dựng được sự nghiệp và làm chủ ngôi nhà đẹp nhất khu xóm này, thì Angela nói:
– Đó là do công sức vợ chồng họ tự gầy dựng lên. Hai người làm việc rất vất vả để có được ngày hôm nay.
Angela còn kể, ngày trước bố của Thomas rất giàu có, nhưng ông chẳng hề giúp họ một tí gì. Ông là người gốc Đức, rất khôn ngoan và thành công trong lĩnh vực kinh doanh, nhưng tính tình cũng rất độc tài. Ông giận Thomas không nghe lời theo học kinh tế để về làm việc với công ty chứng khoán của ông, vì Thomas mê ngành ống nước. Đám cưới của đứa con trai độc nhất ông cũng chẳng cho đồng nào. Nhưng không may cho ông, trong thời kỳ kinh tế tuộc dốc, ông đã bị phá sản. Bây giờ về già ông bị trắng tay.
Hai người đang mải mê trò chuyện, bỗng nghe tiếng nhiều người xôn xao. Hà nhìn qua thì thấy một ông già đang điều khiển chiếc xe lăn từ trong phòng ngủ chạy ra. Andra bước theo sau cười tươi rói. Thì ra cô đi làm công việc hóa trang. Ông già với trang phục áo choàng trắng dài lùng nhùng phủ cả chiếc xe, đầu đội mũ chóp nhọn trắng có dải băng đen. Bộ tóc giả trắng toát dài ma quái lấp lánh dưới ánh đèn, tỏa ra hai bên má phủ xuống ngực. Mắt ông được tô vẽ đen ngòm, cái mũi thì vàng chóe, còn xung quanh miệng được sơn đỏ lòm nhìn thấy rộng hoang như là miệng một con quỷ. Tuy hóa trang nhìn dữ tợn vậy, nhưng ông già trông có vẻ ốm yếu.
Andra đưa ông đến cạnh bàn ăn, lấy đĩa gắp mỗi món một ít, và bưng lại đưa cho ông già, nói bằng một giọng rất dịu dàng:
– “Try a little bit!” Thử một chút đi. Nếu cha ăn được con sẽ lấy thêm mấy món khác cho cha.
Nói xong Andra vẹt mấy sợi tóc giả hai bên miệng ông già, sửa lại chiếc mũ nhọn cho chỉnh. Nhìn cô giống như đang chăm sóc cho một em bé. Rồi cô đứng dậy, nói bằng giọng tran trọng:
– Năm nay, đặc biệt gia đình chúng tôi xin giới thiệu với các bạn một thành viên mới, ông cụ là bố của Thomas, chúng tôi vừa đón ông về từ Ohio, và từ nay ông sẽ sống với chúng tôi.
Trong khi mọi người vỗ tay rôm rả thì Hà ngồi lặng lẽ.
Cử chỉ của Andra đã khơi dậy trong tâm nàng một nỗi ân hận sâu xa lẫn cảm giác xấu hổ khiến nàng ngạt thở. Người cha chồng giàu có của Andra đã từng bỏ rơi vợ chồng cô, vậy mà lúc cuối đời ông già ốm yếu vợ chồng cô vẫn đem về chăm sóc. Còn Hà, chỉ một lời nói vu vơ khi chưa cưới của bà mẹ chồng, mà nàng mang mãi nó trong lòng để cho hận ghét làm cách xa tình bà cháu, nghĩa mẹ con…
Trên đường về, Lily nói chuyện rôm rả, khen các món ăn trong buổi tiệc Ma. Hà im lặng bước đi, trong lòng nghĩ đến việc ngày mai dắt thằng Keith đi xin kẹo.
Về đến nhà, Hà lấy điện thoại gọi ngay cho mẹ Đạt:
– Mẹ ngủ chưa?
Đây là lần đầu tiên từ ngày về làm dâu nàng nói chuyện với mẹ chồng bằng một giọng nói dịu dàng. –Mẹ chuẩn bị để mai con lên chở mẹ xuống chơi với thằng Keith, rồi tối lại mấy mẹ con bà cháu mình dắt nó đi xin kẹo nhé!
Nói xong Hà vội vàng gác máy, để lại đầu dây bên kia bà Định xúc động đến sững sờ.
Đêm đó Hà đã có một giấc ngủ thật ngon. Và đó cũng là lần đầu nàng cảm thấy nhẹ lòng khi nghĩ đến mẹ chồng. Sáng dậy, Hà trở lại ngôi nhà màu hồng của Andra, mua bộ đồ hóa trang Phù Thủy cho nàng và một bộ áo choàng mũ trái bí đỏ cho “nội thằng Keith.”
Phương Hoa
VĂN – Bênh Bồng Như Mây – ĐỖ DUNG
Bềnh Bồng Như Mây
Đỗ Dung
Tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang. Sáu giờ sáng, trời mùa đông Cali tối đen. Hôm nay tôi phải có mặt tại nhà thương Stanford trước tám giờ để làm thử nghiệm. Bác sĩ sẽ luồn một ống thật nhỏ qua tĩnh mạch chính ở chân, ống sẽ theo dòng máu dẫn lên để thông tim, khám phổi. Trời thật lạnh, mặc áo len, khoác áo ngoài mà vẫn không đủ ấm. Hai vợ chồng tôi ra xe, im lặng, không nói một lời và hình như cả hai cùng trĩu nặng âu lo. Trong lòng xe được sưởi ấm, tiếng hát Ý Lan vang lên nhẹ nhàng tha thiết: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…”
Đầu óc tôi bềnh bồng trở về những ngày tháng cũ xám xịt, thê lương. Những nhục nhằn, khổ đau của những người đàn bà còn ở lại, phải đối phó với những kẻ đang vênh vang thắng thế, phải đương đầu với những hoàn cảnh khắt khe.
Căn nhà mẹ tôi mua ở Long Thành để có nơi chốn hồi hương cho khỏi bị lùa đi kinh tế mới. Ao rau muống nước đục ngầu mà thằng bé con rơi tòm xuống tưởng chết. Những luống khoai mì ốm yếu xiêu vẹo vì không người bón tưới thường xuyên. Căn nhà thấp lè tè, tối om chỉ nhỏ như một cái buồng, mái tranh, vách lá, nền đất nện… Mẹ tôi ở đó một mình, như bị đầy đọa, ra vào im lìm như cái bóng.
– Mẹ ơi, Mẹ lấy sẵn cho Bố tiền qua cầu!
Tiếng nói của nhà tôi lôi tôi về thực tại. Bầu trời đã loãng ra, trắng nhờ nhờ và mưa lất phất.
– Mẹ đừng lo, chỉ mấy tiếng đồng hồ là xong ngay mà. (Chúng tôi quen xưng hô với nhau như thế sau khi sanh thằng bé út).
Thấy tôi ngồi yên lặng, chắc lòng anh cũng đang hoang mang, lo lắng. Anh nói trấn an vợ hay để tự làm yên lòng mình.
Sau thủ tục nhập viện, đường đến nơi thử nghiệm hơi xa nên nhà tôi lấy xe lăn cho tôi. Mọi khi ngồi trên chiếc “wheelchair” cho chồng đẩy tôi luôn miệng đùa cợt, trêu chọc bác phu xe:
– Thiên bất dung gian nhé! Lấy vợ trẻ để mong về già được hầu, bây giờ phải đẩy xe cho vợ… hihihi…
– Hà hà…có anh giáo gian tưởng được vợ đấm lưng ai dè phải đấm lưng cho vợ!
Hôm nay tôi cười không nổi. Nhìn bóng in vào những cửa kính khi đi ngang, anh đã mang nét lụ khụ, lưng hơi còng xuống chứ không phưỡn ngực như thời trai trẻ, như những ngày chúng tôi mới quen nhau.
Ngày ấy cô nữ sinh mười tám tuổi cắp sách đi thi Tú Tài hai. Ông bố đã sửa soạn sẵn cho con gái chiếc áo dài trắng nội hóa sạch sẽ, thơm tho, phẳng phiu và buổi sáng đã hò hét bảo con em sửa soạn xe sẵn để đưa chị. Cô thí sinh cả đêm không ngủ, đọc nguyên cuốn Luận Lý Học dày cộm như đọc tiểu thuyết, không dám nói một lời, chỉ sợ những chữ mới nhét vào đầu sẽ rớt ra. Đến trường Gia Long, lần theo bản đồ chỉ dẫn, lần theo số báo danh, cô thí sinh đi tìm chỗ. Giờ đầu tiên là giờ thi Triết. Chỗ ngồi thi ngay đầu bàn nhất, phía bàn giáo sư, y như chỗ ngồi của cô trong lớp nhất A1 ở Trưng Vương. Đề thi vừa được viết trên bảng, con nhỏ thiếu điều rú lên vì… trúng tủ. Giở gói ô mai để ngay trước mặt và con nhỏ bắt đầu phóng bút.
– Thưa Thầy cho con xin thêm tờ giấy!
Con nhỏ đã viết lấp đầy tờ giấy thứ nhất. Thầy giáo coi thi đưa thêm tờ thứ hai, vuốt thẳng và trịnh trọng để trên bàn. Thỉnh thoảng con nhỏ nhón cục ô mai cắn một miếng rồi lại cắm cúi viết, đâu biết rằng người thầy giáo coi thi ấy đang chăm chú nhìn và cứ tủm tỉm cười.
Cái thuở ban đầu, cái buổi gặp gỡ đầu tiên chỉ giản dị như thế.
– Bà Nguyễn, mời bà theo tôi vào đây! Người y tá trẻ vui vẻ ra đón.
Sau khi thay y phục nhà thương, tôi lên giường nằm, bịch thuốc treo trên cao nhỏ từng giọt vào mạch máu, mũi được cắm ống Oxygen. Từng đợt y tá đến, đo máu, lấy máu, gắn máy đo nhịp tim. Nhà tôi vẫn được phép ngồi cạnh tôi, chưa phải ly cách.
Bác sĩ Z, người vẫn săn sóc tôi đến cùng hai bác sĩ trẻ, một nam một nữ. Cả hai đều chưa đến ba mươi. Cô gái xinh xắn, người tầm thước, tóc vàng, da trắng nõn, cặp mắt mở to trong veo màu hạt dẻ. Cô ta tự giới thiệu tên M, giải thích tiến trình và cho biết cô sẽ là người trực tiếp thực hiện cuộc thử nghiệm này. Một thoáng ngần ngừ, tôi nhớ lời dặn dò của một người bạn: “Mổ xẻ hay thử nghiệm quan trọng mi phải yêu cầu bác sĩ chính làm, mi đừng để sinh viên thực tập. Có chuyện gì là hối không kịp đó”. Bác sĩ Z người Ấn Độ, trưởng phân khoa phổi. Mặt ông thật tươi, hai tai dài, đẹp. Mỗi lần đến khám bệnh tôi thường gọi đùa ông là Ông Phật, ông chỉ mỉm cười. Nếu tôi từ chối, cô bác sĩ trẻ này sẽ buồn và nếu ai cũng từ chối thì làm sao sinh viên có cơ hội thực tập. Ý nghĩ lướt nhanh trong đầu và tôi vui vẻ trả lời là tôi rất hân hạnh được cô lo cho tôi. Như đọc được tư tưởng tôi bác sĩ Z nói:
– Bà Nguyễn, tôi sẽ có mặt trong suốt tiến trình này. Bà sẵn sàng chưa?
– Bố ngồi ở phòng đợi, họ đưa Mẹ ra là Bố vào ngay.
Khẽ gật đầu, mắt tôi cũng cay cay.
Người y tá đẩy tôi qua một hành lang dài hun hút. Tôi thật sự cô đơn. Như mấy lần thử nghiệm trước, tôi sẽ được chích thuốc mê, tôi sẽ được đưa vào cơn chết tạm và khi tôi tỉnh dậy thì mọi sự đã xong. Nếu lần này tôi không dậy nữa… hình ảnh các người thân của tôi hiện ra, mặt mẹ tôi rõ nét, rồi đến chồng tôi, mấy đứa con, mấy đứa cháu bé bỏng, chị em, bạn bè… Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Và như phản xạ từ tiềm thức, tôi niệm Phật.
Hai người y tá nhẹ nhàng chuyển tôi sang chiếc bàn dài phủ giấy trắng dưới chụp đèn trắng sáng, màu trắng sáng chói lòa. Căn phòng trắng lạnh lẽo. Mấy người xúm lại làm những sửa soạn cuối cùng, lại đo máu, đo nhiệt độ, đo Oxygen, lại lằng nhằng những dây cùng nhợ. Bác sĩ Z và hai bác sĩ trẻ đến, họ đã đội mũ và mang khẩu trang, chỉ còn hở cặp mắt. Tiếng dụng cụ khua chạm lanh canh. Tôi yên lặng tập trung tinh thần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát.
Một y tá đưa tôi ly nước và viên thuốc:
– Bà Nguyễn, thuốc này sẽ làm bà thanh thản, thuốc làm bà thoải mái thôi, không phải thuốc mê.
– Tôi không bị mê, tôi vẫn tỉnh à?
– Đây là loại thuốc an thần, bà sẽ cảm thấy êm dịu, nhẹ nhàng, không phải thuốc mê. Nào, bà sẵn sàng chưa, chúng ta bắt đầu nhé!
Tiếng bác sĩ Z dịu dàng giải thích.
Bác sĩ M đến bên nói tiếp:
– Chúng tôi sẽ làm tê ngay chỗ đưa ống thử vào người, bà sẽ không cảm thấy đau đớn gì đâu.
Bấy giờ tôi mới quan sát quanh phòng, ngoài chiếc màn hình ghi nhịp tim và nồng độ oxygen trong máu ngay đầu giường còn một màn hình to bằng chiếc TV 52 inches treo trên tường.
Uống viên thuốc được một lát người tôi lâng lâng, chơi vơi như những cụm mây trắng và tôi chìm dần trong vùng mây trắng bềnh bồng trôi.
Mây bay, mây cứ bay… một thảm cỏ xanh hiện ra rồi đến khu vườn đầy hoa trước biệt thự nằm trên đường Cộng Hòa Đà Lạt. Một đám trẻ nô đùa, hái hoa, bắt bướm, chạy đuổi nhau, những tiếng cười khanh khách, giòn tan. Bồn hoa Quỳ, Hướng Dương đầy hoa vàng tươi đang chào nắng, những cánh Pensée mỏng manh rung rinh và những vạt hoa cúc vàng, cúc trắng nở rộ như reo cười. Hàng rào song sắt bao quanh biệt thự như được bọc bằng những khóm hoa hồng đủ màu sắc… Hình ảnh chị em tôi thời thơ ấu, mỗi năm được lên nhà bác ở Đà lạt nghỉ hè. Rồi như khúc phim được chuyển cảnh, tôi như đang nhìn thấy tôi với chàng tay trong tay trong khu rừng thông ven Hồ Than Thở, những cội thông già vươn cao, thẳng tắp. Tiếng lá reo vi vu. Khung cảnh thật tịch lặng. Nắng hanh hanh, gió se lạnh, tôi như đắm chìm trong hạnh phúc êm đềm và như quyện mình trong hơi ấm mới quen của người chồng mới cưới.
Chợt đau nhói, tôi vùng mình ú ớ.
– Bà Nguyễn, bà có sao không?
Tiếng bác sĩ Z.
Tôi nhẹ lắc đầu trở về thực tại. Tôi đang nằm trên chiếc bàn trắng trong bệnh viện, đang ở trong trạng thái chập choạng mơ màng, nửa mê, nửa tỉnh và tôi đã được trở về một quá khứ đẹp đẽ xa xưa.
Ngước nhìn lên màn hình, quả tim tôi đang đập phập phồng và hai lá phổi hiện ra với những đường chằng chịt như rễ cây. Tôi không phải soi vào nội tâm mà tôi đang nhìn vào bên trong thân xác và tôi thấy thật rõ một đường nhỏ giống như sợi chỉ đang luồn lách.
Tôi lại chìm đắm… tôi nhìn thấy người thiếu phụ trẻ trong bộ đồ đen bế thằng bé con chưa đầy một tuổi. Tôi lại nhìn thấy tôi trong Sài Gòn sau ngày mất nước. Tôi bế thằng bé đến một căn nhà ở đường Gia Long, căn nhà được tiếp thu để làm văn phòng ban cải tạo phường thuộc quận một. Tầng dưới kê một bàn giấy, mấy người ngồi làm việc. Tôi được chỉ lên tầng trên. Một căn phòng trống trơn, mắc độc một chiếc võng. Một người đàn ông khoảng năm mươi, cởi trần mặc chiếc quần dài bộ đội đang nằm toòng teng, một chân trên võng, một chân thả xuống đất để đu đưa. Tôi dợm mình quay xuống cầu thang.
– Chị kia, phải chị tới khiếu nại không? Chị vào đây!
Nhận ra ông ta là người đã lên lớp giảng chính sách của nhà nước về kinh doanh bữa trước tại thương xá Tam Đa, tôi bồng con quay lại, rón rén ngồi xuống ngay ngạch cửa. Cũng may khi được gọi đi, mẹ tôi đã cẩn thận dặn bế thằng bé theo để nếu có bề gì người ta phải trả thằng bé về nhà và mẹ tôi biết đường mà đi kiếm.
– Đâu, có chuyện gì chị nói đi!
– Thưa ông…
– Khỏi, chị khỏi gọi tôi bằng ông.
Tôi ngập ngừng:
– Thưa bác… Thưa chú…
Thấy ông ta yên lặng tôi nói tiếp:
– Thưa chú, cháu làm thợ may ở thương xá Tam Đa.
– Chị là chủ hay chị làm công?
– Dạ, cháu mướn tiệm, nhận may gia công.
– Rồi sao?
– Cán bộ đến nhà kiểm kê tịch thu của cháu cái máy may, máy vắt sổ và mấy xấp vải của khách đưa may.
– Chị là chủ tiệm, họ tịch thu là đúng rồi, mai mốt các cửa tiệm vào quốc doanh hết, các chị sẽ vào tập thể, nếu làm thợ may chị có máy của cơ quan, chị đâu cần máy riêng.
Nỗi uất dâng lên tới đỉnh đầu, tôi ráng dằn lòng nhỏ nhẹ:
– Thưa chú, nhà nước nói rõ là chỉ tịch thu những tư liệu kinh doanh, không tịch thu tư liệu sản xuất. Máy để cháu may mướn. Cháu đâu có bán máy may!
Ông ta gườm gườm nhìn tôi:
– Ai nói chị điều đó?
Tôi điềm tĩnh trả lời:
– Chú! Chính chú đã giảng điều đó. Cháu nhớ rất rõ. Cháu đã chăm chú nghe vì chú giảng hay lắm. Chú nói hay lắm.
Ông ta châm một điếu thuốc và rít một hơi dài nhìn tôi đăm đăm. Tôi lạnh cả gáy đợi phán quyết.
– Được rồi, chị để giấy tờ đây, chị về đi tôi sẽ cứu xét trường hợp của chị.
Đặt thằng bé vào chiếc ghế con gắn sau ghi đông chiếc xe đạp mini. Tôi đạp xe đi mà muốn òa lên khóc. Khóc cho vơi đi những ấm ức, những tủi nhục phẫn uất. Những con đường Sài Gòn che phủ bởi những hàng cây sao cao vời vợi, tiếp đến những con đường ngợp lá me xanh… Tôi chẳng còn thấy gì thơ mộng, nghĩ đến chồng đang trong trại tù cải tạo, tôi nhớ quay quắt và cùng cực trong nỗi cô đơn.
Màu trắng của mây lại bềnh bồng và tôi lại thấy tôi đang ngụp lặn trong màu xanh bát ngát của biển, từng đợt sóng nhấp nhô, nhấp nhô tung bọt trắng xóa vào bờ. Tôi đang ở bãi biển Galang. Tôi đang thở hít không khí tự do. Đầu óc thật thanh thản và hân hoan nghĩ đến tương lai tốt đẹp ở vùng đất hứa. Tôi dẫm chân lên cát ấm và chạy tung tăng trong gió. Gió quấn quít quanh tôi. Tôi ưỡn ngực hít một hơi thật dài.
Choàng tỉnh giấc, tôi mở mắt ra, chạm vào khuôn mặt bác sĩ M đang cúi xuống:
– Bà Nguyễn, bà tỉnh dậy nào. Mọi việc xong rồi. Bà là bệnh nhân thật tốt. Chúc bà mau bình phục.
Mấy người y tá xúm lại tháo dây, lau chùi và mặc áo lại cho tôi. Ba bác sĩ chào tôi và hẹn sẽ cho biết kết quả vào kỳ khám bệnh tới.
Họ lại chuyển tôi sang chiếc giường khi nãy và đẩy tôi về phòng hồi sức. Tôi phải nằm yên trong một tư thế, cứ một lát lại có người đến khám vết thương và ấn thật mạnh để khỏi tụ máu bầm. Sau ba giờ, chiếc nệm cứng dưới lưng khiến tôi mỏi mệt rã rời, người anh ách nước, miệng khô đắng và bụng thì đói meo.
Hai người khán hộ đến giúp tôi làm những vệ sinh cá nhân, nâng đầu tôi dậy cho uống nước, bón tôi từng thìa canh, tôi cảm thấy yếu đuối như trẻ con. Tôi mệt mỏi ngủ thiếp một giấc dài không mộng mị. Thức dậy, cô y tá đẩy tôi sang phòng cũ nơi tôi nằm chờ khi sáng và tôi lại nhìn thấy khuôn mặt thật thân quen.
Đỗ Dung
HỒI KÝ – Hoàng Mai Nhất & Bằng Hữu Hiệp Phan
Nguồn hình: Internet
Có ai còn nhớ không:
Ngày xưa đi học Tiêủ Học (1955-1960), cứ mỗi cuối năm phát thưởng cho những học sinh học giỏi (giỏi về học vấn, giỏi về hạnh kiểm); thì trong số những quà thưởng ấy, bao giờ cũng có những quyển tập 100 trang hay 50 trang, mà điều đặc biệt là bìa sau của những tập vở ấy, luôn luôn có truyên hình bằng tranh màu như: Phạm Công Cúc Hoa, Tấm Cám, Hai bà Trưng, Bà Triệu Ẩu cởi voi đánh giặc Tàu chạy có cờ; Vua Quang Trung đại thắng quân Thanh, Tướng Lý Thường Kiệt phạt Tống bình Chiêm; anh hùng Lê Lợi; Ngô Quyền và Dũng Tướng Trần Bình Trọng của nhà Trần lúc chống quân Mông Cổ bị bắt; đã nói một câu nói để đời đi vào lịch sử dân tộc Việt:“Thà làm quỷ nước Nam chớ không thèm làm Vua phương Bắc “…v…v…
Ngày ấy tôi rất thích những tâp vở có truyện tranh ấy mỗi khi được lãnh thưởng. Và những câu chuyện bằng hình ảnh ấy đã đi theo suốt cuộc đời tôi cho đến bây giờ và mãi mãi không bao giờ quên. Tôi rất là trân quý, kính trọng tinh thần yêu nước của tiền nhân để hun đúc cho mình một tinh thần ái quốc và hãnh diện là mình đã được làm con dân nước Việt (VNCH).
Hoàng Mai Nhất (Lê Anh Thượng) Seattle, WA 25/10/21
Xin giới thiệu: Mời đọc bài của Hiệp Phan
Hồi ký của “cậu bé Biên Hòa”
Tôi sinh ra và lớn lên tại Biên Hòa, một tнàин phố hiền hòa nằm bên cạnh dòng sông Đồng Nai thơ mộng.
Nhà tôi ở gần вệин viện Pнạm Hữu Chí (nay là вệин viện Đồng Nai) – một nhà тнươиɢ thí nơi chuyên chữa вệин miễn phí cho mọi người, nơi đây kнôиg hề phân biệt người có tiền hoặc kнôиg, kнôиg hề từ cнốι chữa вệин cho người dân dù phí tổn cao như thế nào. Mọi người вệин đều được đối χử bình đẳng như nhau. Tôi nhớ có một lần bị đạp phải gai nhọn trong lòng bàn chân, bị mưng mủ, đᴀu nhức kinh кнủиɢ, mẹ tôi đưa tôi vào вệин viện này, các y tá & bác sĩ, tiếp chúng tôi một cách ân cần тử tế, với thái độ tôn trọng người вệин mà kнôиg hề hách ᴅịcн hay gợi ý vòi tiền hoặc quà cáp từ người nhà của tôi. Trên tường вệин viện, tôi kнôиg hề thấy có khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” nào cả, nhưng thái độ cư xử hòa nhã của nhân viên y tế ở đây kнôиg khác chi là mẹ hiền. Ngoài cổng вệин viện có một bảng hiệu cấm bóp kèn cho các loại xᴇ cộ để kнôиg ảnh hưởng đến người вệин.
Ngày xưa, thời niên thiếu của tôi đã từng có một hệ thống нàин cнíɴн gọn nhẹ, phục vụ người dân hữu hiệu và lịch sự như vậy, chứ kнôиg phải “нàин” dân là cнíɴн.
Ngày xưa, tôi đã từng biết về một xã hội мαng đầy tình nhân văи qua cách ứng χử của mọi người:
Tôi còn nhớ khi cha tôi mất vào năm 1973, khi xᴇ tang đưa linh cữu ông đến nơi an nghĩ sau cùng, ngồi trên xᴇ tang tôi quan ѕáт thấy các anh cảnh ѕáт, quân cảnh đang làm nhiệm vụ trên các giao ʟộ, khi gặp xᴇ tang đi ngang qua, các anh đứng nghiêm chào theo nghi thức quân cách. Và một điều ngạc nhiên lý thú khác là tôi thấy những người dân mà gia đìɴн tôi kнôиg quen biết, khi họ đi xᴇ gắn máy hoặc xᴇ đạp vượt qua xᴇ tang, kнôиg ai bảo ai, họ đều giở nón cúi đầu chào tiễn biệt cha tôi. Hình ảnh này đã cho tôi một ấn tượng và cảм xúc thật mạnh mẻ. Sau này tìm hiểu, tôi mới biết đó là lề thói ứng xử tнông тнường của mọi người để tỏ lòng tôn trọng đối với người đã khuất.
Vào thời ấy, mỗi khi ngồi học bài khuya, đến 10 giờ, tôi тнường nghe từ radio hoặc TV nhắc nhở mọi người nên điều cнỉnh âm thanh vừa đủ nghe để kнôиg phiền lòng hàng xóm.
Tôi còn nhớ mỗi sáng thứ hai chúng tôi làm lễ chào cờ ở trường tiểu học Nguyễn Du, khi quốc kỳ được kéo lên trong tiếng quốc ca vang lên của toàn thể học sinh, tôi thấy phía bên ngoài cổng trường: chú xích lô dừng xe lại, những người bộ нànн đi ngang dừng lại và bà bán hàng rong cũng bỏ quang gánh, tất cả tự giác đứng nghiêm cнỉnh hướng về quốc kỳ cùng hát quốc ca cho đến khi lễ chào cờ kết thúc .Ý thức công dân của người dân miền nam Việt Nam thời ấy là như thế.
Khi có dịp đi Saigon, tôi để ý thấy tại các giao lộ, các loại xe cộ đều tự giác dừng lại khi đèn đỏ cho dù kнôиg có cảnh ѕáт. Lúc ấy, kнôиg hề có chuyện vượt đèn đỏ cнạy bạt мạnɢ khi kнôиg có người kiểm soát.
Trong giao tế, cảм ơn và xιɴ lỗi là câu nói тнường xuyên của người dân thời ấy.
Ngày xưa thời niên thiếu của tôi đã từng có một xã hội tuy còn nhiều bất cập nhưng rất là văn minh và có được một nền dân trí cao như vậy.
Ngày xưa, tôi đã từng thụ hưởng một nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng. Nền giáo dục này đã dạy tôi làm người trước khi dạy tôi học thức.
Năm 1966, tôi vào học lớp năm (nay là lớp một) tại trường tiểu học Nguyễn Du, trên tường của lớp học vỡ lòng này có một câu cách ngôn “Tiên học lễ hậu học văn” treo cố định suốt cả một năm học .Sau này lớn lên, tôi mới hiểu đó là tiêu chí căn bản của nền giáo dục VNCH.
Tôi đã từng có những thầy cô ở bậc tiểu học tận tâm giảng dạy cho tôi những bài học rèn luyện nhân cách qua sách giáo khoa như: Em tập tính tốt, Các bài tập đọc, sử ký, địa lý, khoa học thường thức, những bài học thuộc lòng từ quốc văn giáo khoa thư, Gia huấn ca, Nhị thập tứ hiếu, Tâm hồn cao thượng ….Các giáo trình này đề cao các giá trị lịch sử, dân tộc, tự chủ, nghệ thuật, văn hóa …để rèn luyện cho học sinh giỏi về kiến thức tổng quát và có tấm lòng nhân hậu yêu nước thương nòi, có lòng biết ơn mọi người trong xã hội.
Bậc tiểu học, hàng tuần thầy cô giáo đều viết lên bảng câu cách ngôn của tuần từ các ca dao tục ngữ ẩn chứa triết lý tình thương để in sâu vào tâm khảm của học sinh. Hàng tháng thầy cô thiết lập bảng danh dự để xếp нạng học sinh theo điểm số. Ngày ấy chất lượng học sinh được phân loại rõ ràng cнíɴн xác chứ kнôиg hề có tình trạng nhà trường cнạy theo thành tích với tỷ lệ 100% học sinh giỏi không có yếu kém !!
Năm 1970, tôi vào trường Trυng học công lậᴘ Ngô Quyền sau một kỳ thi tuyển sinh đệ thất (nay là lớp 6) đầy gay go nhưng cũng rất công bằng. Ở bậc trυng học, tôi đã có những vị giáo sư tận tâm truyền đạt cho tôi kiến thức tổng quát, ý thức công dân và dạy cho chúng tôi về Công pháp quốc tế, Tam quyền phân lậᴘ, về giá trị của một xã hội tự do, dân chủ. Khi học lớp 9, chúng tôi đã được thầy luyện cho kỹ năng thuyết trình trước đám đông, tập tính phản biện và biết phân tích, so sánh đối chiếu , biết tranh luận trước những vấn đề mà chúng tôi kнôиg đồng ý, chứ kнôиg phải răm rắp cúi đầu nghe theo một chiều từ người khác như bầy cừu mà kнôиg dám ᴘнản kháng.
]Ngày xưa Biên Hòa quê tôi có nhà sách Huỳnh Hiệp bán đủ mọi thể loại sách rất đa dạng phong phú từ nhiều tác giả khác nhau, từ nhiều quan điểm khác nhau, kнôиg có vùng cấm. Ở nơi ấy, kнôиg cần mua sách, nhưng tôi có thể tự do thoải mái đọc “cọp” tất cả các loại sách mình ưa thích mà kнôиg bị trở ngại nào. Chúng tôi тнường gọi nhà sách này là тнư viện tri thức cho học sinh nghèo.
Thời niên thiếu đã đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm tuyệt vời và tự hào về một xã hội tươi đẹp mà tôi đã từng sống.
Nhưng một thời hoa mộng ấy đã thật sự kết thúc một cách oᴀɴ nghiệt vào cuối tháng 4 năm 1975 khi tôi 16 tuổi.
Giờ đây, khi thời gian qua nhanh tuổi đờι đã xế, trí nhớ đôi lúc cũng còn lẫn lộn, nhưng quên gì thì quên, tôi kнôиg thể nào quên được những năm tháng được sống trong một xã hội hiền lương tốt đẹp , dù ở trong thời kỳ chιến tranh khốc liệt nhất. Tôi kнôиg thể nào quên được ngày xưa tôi đã từng có một thời niên thiếu như thế. Tôi cũng sẽ kể lại cho con tôi là tôi đã từng sống trong một nước Việt Nam Cộng Hòa văn minh và nhân bản như thế trong quá khứ, mà thế hệ con cháu tôi ngày nay kнôиg thể nào tìm lại được các giá trị ấy ngay trên chính quê hương của tôi .