Nhà thơ Mỹ giúp bảo tồn văn hóa chữ Nôm của Việt Nam

Nhà thơ Mỹ giúp bảo tồn văn hóa chữ Nôm của Việt Nam

18/12/2008

Chữ Việt hiện nay hay là chữ quốc ngữ là do người Pháp đặt ra và nhìn cũng tương tự như Anh ngữ hay Pháp ngữ. Nhưng trong nhiều thế kỷ, chữ Việt đã được viết cách khác dựa vào chữ Nho. Bây giờ chỉ một nhóm người còn đọc nổi loại chữ Hán Nôm đó. Tại Hà Nội, thông tín viên đài VOA Matt Steinglass tham quan một Viện đang cố gắng bảo tồn di sản này.

John Balaban
Nhà thơ Mỹ John Balaban

Tại một quán cà phê cũng là một tụ điểm văn hóa, mấy chục người Việt nam và người nước ngoài đang kỷ niệm 10 năm bảo tồn chữ Nôm. Ông Balaban là một nhà thơ Mỹ đến Việt Nam với tư cách một người thiện nguyện nhân đạo trong chiến tranh cách đây 40 năm. Ông đã chú ý đến chữ Nôm khi dịch tác phẩm của nhà thơ nữ Việt nam Hồ Xuân Hương. Chính ông đã lập ra Hội chữ Nôm.

Ông Balaban nói: “Hồ Xuân Hương là một người vợ lẽ sống vào năm 1800. Một nhà phê bình đã mô tả bà là một khuôn mặt nữ phá phách nhưng xuất chúng của thế kỷ 18 và 19. Đôi khi toàn thể những bài thơ của bà đều mang những ý nghĩa đảo ngược, với tình dục là đề tài tiềm ẩn.”

Những bài thơ của Hồ xuân Hương mang tính cách nữ quyền gây kinh ngạc. Bài thơ sau đây nói về phong tục đa thê một thời rất thông dụng tại Việt nam, khiến những phụ nữ như Hồ xuân Hương phải làm lẽ cho những người quyền thế.

“Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.”

Đọc Thơ Hồ Xuân Hương tưởng chừng mới được viết hôm qua vì những tư tưởng rất hiện đại. Tuy nhiên, phần đông người Việt nam lại không đọc được nguyên bản vì bà viết bằng chữ Nôm. Chỉ một số rất ít người Việt đọc được chữ Nôm, phần đông là các nhà sư, người già, hay những người có sở thích.

Và những người thật sự hiểu chữ Nôm? Tổ chức vừa nêu cho là chỉ có khoảng 30 người trên toàn thế giới.

Tại thư viện quốc gia Việt Nam, một nhóm nhỏ do hội này tài trợ đang bận rộn với một công trình lớn: chuyển qua kỹ thuật số 4,400 bản thảo Hán Nôm giá trị nhất trong văn khố Quốc gia Việt nam.

Đứng đầu nhóm bảo tồn tại thư viện là ông Tô Trọng Đức. Nhóm này chụp những hình rõ của mỗi tư liệu và nhập những dữ kiện liên quan đến việc tư liệu đã được in như thế nào và sưu tập ra sao. Sau cùng họ viết lại bằng tay toàn bộ tác phẩm, vì không có phần mềm nào dành cho chữ nôm.

Cách đây ít năm, Hội đã gửi đại diện tới dự một hội nghị quốc tế của ủy ban điều hành việc chữ được tạo mã ra sao trên Internet.

Mới đầu, các đại biểu Trung Quốc phản đối việc tạo một hệ thống mã riêng cho chữ Nôm. Họ nói đó chỉ là một loại chữ của Tàu. Sau đó một chuyên gia Việt nam đưa một bản chữ Nôm ra và người Trung quốc đã không đọc được, vậy là hiện nay chữ Nôm đã có hệ thống tạo mã chính thức của mình trên Internet.

Đây là một bước ngoặt đối với loại chữ mà từ 75 năm nay không có gì quan trọng được viết ra.

Người Việt nam bây giờ đọc thi văn cổ điển như các bài thơ của Hồ Xuân Hương bằng loại mẫu tự ABC mà người Pháp đã đưa vào từ đầu thế kỷ 19.

Ca sĩ Lê Phạm Lệ ngâm thơ Hồ Xuân Hương nói rằng thơ chữ Nôm và chữ quốc ngữ không hoàn toàn giống nhau.

Cô Lê nói: “Một cách nào đó, tôi thấy là ngâm thơ Hồ xuân Hương bằng chữ Nôm cho cảm giác mạnh hơn. Lý do là đó giống như một sự cảm thông với một di sản cổ điển. Đó cũng là mục tiêu, là nỗ lực mà Hội chữ Nôm đang theo đuổi.”

Với cố gắng và duyên may của Hội chữ Nôm, một thế hệ trẻ Việt nam sẽ có thể thưởng thức thơ Hồ Xuân Hương đúng như đúng như lúc bà đặt bút lông lên giấy tại Hà Nội cách đây 200 năm.

VOA News

 




Thơ Tháng Tư của Phan Ni Tấn, Hoàng Ánh Nguyệt

NẮNG THÁNG TƯ                                             

 

 

 
Cái gì được thổi phồng lên ở đây
Ngọn lửa
Cây đàn
Hay mũi súng
Còn ai vừa mới bước vào tôi
vẻ mến thương như nắng
Không phải cái nắng sáng nay
Trui sâu mùi khét lẹt vào những ngách chợ
Tất cả những cánh cửa khép lại
Những cõi lòng khép lại
Chỉ có tiếng oán thù là mở ra
Tôi phải nói sao với em
Khi cuộc đổi đời này không như ta mơ ước
Rằng chỉ có máu và nước mắt luồn trong mỗi thớ tim
Cuộc sống bây giờ
bị dồn lên những chuyến xe lầm than chia cách
Người mẹ xa lìa mái thân yêu
Người cha xa lìa chốn tương lai
Trong khi Tội Ác vẫn không ngớt thò ra những bàn tay đẫm máu
bóp mặt người méo lại
Tôi là khúc hát âm u lướt trong bóng chiều mờ tối
Tôi hát có em nụ cười đã khép
Con đường đưa em đến chợ mỗi ngày bị chắn ngang
bằng một sắc luật tháng tư mới ban hành
Dưới ánh nắng rỡ ràng của tháng tư
Ảo mộng con người lần lượt bị tích thu chất thành đống
Cũng dưới áng nắng rỡ ràng  của sáng nay
Tôi đi qua tôi
Đi qua những mặt người
Những mặt người với những cái mồm lắp đầy nỗi khốn khổ
Tại sao trong gió lành sáng nay lại mọc ra nhiều điều bất hạnh
Tại sao sự bình yên trên mặt đất lại không được quyền nhặt lấy
Và sự tự do buộc phải đứng im hỏi giấy
Tại sao những con đường phải quay về một hướng
Xua tuổi thanh xuân lảo đảo những nhát cuốc quên đời
Và sâu hơn nữa trong chiến trường đẫm máu
Nơi Sự Chết dễ dàng thắng thế Sự Sống Còn hụt hã của con người
 
Ôi cuộc đời
Ôi nhân loại
Cái gì sẽ phồng lên trong ước vọng
Ngọn lửa
Cây đàn
Hay lưỡi kiếm
Còn ai vừa mới bước vào tôi vẻ mến thương như nắng
Không phải cái nắng ngày xưa
Cái nắng sáng nay mọc ra
như một bụi hồng
Xám xịt
 
Phan Ni Tấn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 




Thơ Trần Văn Lương : HÃY ĐỂ BỐ


HÃY ĐỂ BỐ

DẠO: Lòng không muốn sống xa nhà

       Nhưng trời bắt tội tuổi già biết sao!

 

 

(Kính mến gửi về Chú, ngậm-ngùi đánh dấu ngày mà Chú, vừa tới tuổi 90, phải vào nhà dưỡng-lão, mặc dù con gái Chú rất thiết-tha muốn được đưa Chú về nhà.)

 

          Đêm bệnh-viện, sầu tơi trên tóc trắng,

          Người già nằm, bóng hạc lắng chiều sương, 

           Mắt ngu ngơ như nắng lỡ độ đường,

          Nhìn con gái dựa bên giường gà gật.

 

Đầu ngật ngầy váng vất,

Thương con mình tất bật ngược xuôi,

Mấy ngày qua luôn túc-trực không rời,

Đến tối mịt mới về nơi tổ ấm.

 

          Bàn tay già chầm chậm,

          Thờ thẩn nắm tay con.

          Từ rãnh mắt xoáy mòn,

          Giọt thương cảm lăn tròn theo vết cũ.

 

                                         X

                                   X        X

 

 Khuya rồi đó, sao con chưa về ngủ,

 Chuyện tuổi già, con ủ-rũ làm chi.

 Chín mươi rồi, Bố chưa bị cất đi,

 Mình may mắn, có gì mà áo-não.

 

         Hãy để Bố vào ở nhà dưỡng lão,

         Như mọi người vừa khuyên bảo sáng nay,

         Vì một mai khi rời khỏi nơi đây,

         Khó khăn sẽ theo tháng ngày dai dẳng.

 

 Bố không muốn mình trở thành gánh nặng,

 Để cho con phải lo lắng miệt mài

 Đời con còn nhiều trách-nhiệm trên vai,

 Đâu có thể chực-chầu hoài sớm tối.

 

         Thân gầy còm yếu đuối,

          Sao kham nổi đường xa.

          Thêm việc sở, việc nhà,

          Chuyện con cái, dễ gì mà vất bỏ.

 

 Người già thường cau-có

 Nằm liệt giường, càng khó tính gấp trăm.

 Dù cho con chẳng quản ngại nhọc nhằn,

 Nhưng chịu đựng tháng năm dài sao thấu.

 

          Bố vẫn muốn sống đời bên con cháu,

          Dẫu cơ-hàn, mà rau cháo có nhau.

       Bao năm qua mất Mẹ , bấy năm sầu,

          Bố gượng sống với niềm đau-lẻ-bạn.

 

 Buồn nhớ lại ngày vượt biên hoạn-nạn,

 Bỏ quê nhà, chấp-nhận vạn gian-truân,

 Chết trong tay đã nắm chặt chin phần.

 Mạng sống chỉ ngàn cân treo sợi nhỏ.

 

         Con thuyền khốn khổ,

         Sóng gió tả-tơi,

     Phút chót đã kề nơi,

         Lối định-mệnh, ai người sống sót.

 

Tưởng chỉ được nhìn Mẹ, con lần chót, 

 Nhưng Trời thương cho trót-lọt qua đây,

Trong khi bao người biển cả vùi thây,

Giờ sao nữa, chẳng mảy-may tiếc rẻ.

 

         Bố chỉ hận mình không còn sức khỏe,

         Đở đần con việc lẻ-tẻ hôm mai,

         Để chiều về, con bớt phải loay-hoay,

         Được yên nghỉ sau ngày dài kiệt sức.

 

Khi bị đẩy vào trong phòng hồi-lực,

Bố biết mình gần tới lúc xuôi tay.

Dù thoát nạn hôm nay,

Đời cũng phải rẽ ngay vào lối ngoặc.

 

        Bố tự biết như ngọn đèn sắp tắt,

        Nên cố tình bẳn gắt mấy ngày qua.

        Nếu chẳng may phải theo gót ông bà,

        Con cũng đở xót xa giờ đưa tiễn.

 

 Mai kia rời bệnh-viện,

Con đừng bịn-rịn xót xa,

Hãy nghe lời y-tá dặn ngày qua,

 Mà đưa Bố thẳng ra nhà dưỡng lão.

 

        Cuộc sống mới dù là mưa hay bão,

        Bố không buồn,tự bảo vẫn còn may,

        Vì biết rằng, chỉ quanh-quẩn đâu đây,

        Con cháu Bố đang vui vầy hạnh-phúc.

 

 Rồi sẽ có những buổi chiều hun-hút,

Bố nặn dần từng phút ngóng người thân.

Nhưng rủi con chẳng tới được một lần,

Bố cũng hiểu, đừng bận tâm ray-rứt.

 

        Bố không ngại chặng cuối đời khổ cực,

        Nhìn thấy con hạnh-phúc, Bố vui lòng.

        Tuổi đã nhiều, phận Bố thế là xong,

        Con phải sống cho chồng, cho con cái.

 

 Hứa với Bố, con sẽ không buồn mãi,

Nếu mai này, khi Bố phải ra đi,

Mà con không kịp đến lúc phân-kỳ,

Nói cùng Bố lời chia-ly vĩnh-viễn.

 

                              X

                         X      X

 

         Đêm trơn giấc, người con rời bệnh-viện,

         Đôi mắt già quyến-luyến vọng đưa chân.

         Trong ký-ức phai dần,

         Khuôn  mặt những người thân vùng hiển-hiện.

 

               Lòng chợt thoáng bùi-ngùi khi nghĩ đến

               Phút lên đường, theo ước-nguyện ba-sinh,

               Chân bơ-vơ trong tăm tối một mình,

               Mò mẫm lối hành-trình về thiên-cổ.

 

                                  Trần Văn Lương




Tuyển tập thơ Lạc Việt 2007

XUÂN ĐÂU RỒI…?

Chinh Nguyên 

Xuân xứ lạ ô kìa em vừa tới

Cầm trong tay mộng mị đóa hồng tươi

Đôi môi thắm nở trang đài óng ánh

Anh xin em, để anh cắn nụ cười..

Xuân xứ lạ tóc em trôi như suối

Qua bờ vai uốn khúc giữa đồi mơ

Sương thoi thóp hay tim em lay động

Anh ngất ngây ngã xuống vũng tình thơ

Xuân xứ lạ áo em vàng mai nở

Theo gió đùa tà áo vẫy duyên mời

Gót sen hồng, liêu trai thân diễm tuyệt

Anh ngỡ ngàng đứng lặng chẳng trao lời

Xuân xứ lạ, sóng mắt em muốn nói

Tiếng không lời nhưng vụng dại tay trao

Mi chợt khép sau liếc dài nũng nịu

Anh mê say, tay mở cổng lối vào.

Nơi xứ lạ rượu mềm môi .. tỉnh mộng…!

Xuân đâu rồi…! Người có nhớ núi sông…?

Ta cùng người tha hương trôi bến lạ

Nước non buồn… ba mươi mấy năm trông…!

San Jose, Feb. 16, 2007

1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11




Jan. 1. 09 Sinh nhật lần thứ 98 của Nữ sĩ TRÙNG QUANG. (Hạnh Dương)

San Jose, 07-01-2009.
 
Thưa quý văn thi hữu khắp nơi,
Thưa quý bà con và đọc giả bốn phương,
 
Hôm Thứ Năm, ngày 01 tháng 01 năm 2009, là kỷ niệm sinh nhật lần thứ 98 của nữ Nhà Văn, Nhà Thơ TRÙNG QUANG.
 
Cụ bà TRÙNG QUANG sinh ngày 01-01-1912 tại Miền Bắc Việt Nam. Tính theo tuổi Dương là 97, nhưng tuổi ta là Nhân Tý đã 98 rồi, thế  mà  cụ vẫn nhanh nhẹn và sáng tác thơ, văn gần như không mệt mỏi. Cụ ở một mình trên căn phòng chung cư ở lầu 1 nằm sát mặt đường South King Road, San Jose, CA 95122. Đến giờ cơm, có một nữ nhân viên xã hội đến giúp cụ nấu nướng, quét dọn. Từ phòng khách của cụ Trùng Quang, có một cửa sổ nhìn xuống đường South King Road. Cụ cho đặt chiếc bàn nhỏ với 2 ghế salon gần bên cửa sổ để tiếp khách và ngồi tỉnh lặng hay sáng tác. Tôi vẫn thường đến thăm cụ. Mỗi lần như thế, cụ thường mang các sáng tác thơ, văn mới của cụ ra cho tôi thưởng thức và cụ bàn về những dự tính in ấn phát hành trong tương lai, có khi là chuẩn bị cho một vài năm sau.
 
Vinh Danh nu van thi si TRUNG Quang.jpg
Hai em bé tặng hoa, chúc mừng cụ bà Trùng Quang cùng quí vị Học giả Phan Viết Phùng,
nhà nghiên cứu Đặng Cao Ruyên, nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh và Giáo sư Lưu Khôn
tại buổi Vinh Dianh Văn Thi Sĩ Tiền Bối do Thi Văn Đoàn BỐN PHƯƠNG tổ chức ngày
04-5-2008 tại Trung Tâm VIVO San Jose..
 
 
Tôi nhớ lại sự kiện mới đây, vào chiều Chủ Nhật  04-5-2008, từ 2:00pm đến 6:00pm, tại Trung Tâm Vivo số 2260 Quimby Road, San Jose, CA 95122, lối trên 200 quan khách, báo chí truyền thông, văn nghệ sĩ, thi nhân đã đến tham dự Buổi Sinh Hoạt Vinh Danh Văn Thi Sĩ Tiền Bối do Thi Văn Đoàn Bốn Phương tổ chức.
 
Thi sĩ Đông Anh đã tuyên bố lý do buổi Sinh Hoạt đặc biệt vinh danh các cụ ông, cụ bà văn thi sĩ cao niên từ 80 tuổi trở lên vì các đóng góp lớn lao của họ trong nền văn học Việt Nam tại quê nhà trước đây và tại hải ngoại hiện nay. Trong số những văn-thi-sĩ cao niên nầy, Ban Tổ Chức đã đặc biệt giới thiệu người nữ thi sĩ, văn sĩ cao niên nhất, đó là bà cụ TRÙNG QUANG.
 
Dịp này, Thi Văn Đoàn Bốn Phương đã giới thiệu ra mắt tuyển tập truyện ngắn của 11 tác giả nữ văn thi sĩ gốc Việt định cư tại hải ngoại thuộc nhiều quốc gia khác nhau sáng tác. Tuyển tập mang tựa đề "Bóng Cờ Nương Tử" do cụ bà Trùng Quang chủ trương, xuất bản.     (Xin xem tại Link: http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=127695 )
 
Ban Giám Đốc Việt Báo đến chúc mừng cụ bà Trùng Quang.jpg
Phái Đoàn Việt Báo chúc mừng nữ sĩ Trùng Quang. Từ tái: Tài Tử Kiều Chinh đang phát biểu,
Ký giả Hạnh Dương, Nữ sĩ Nhã Ca, Cụ bà Văn Thi Sĩ Trùng Quang đang ngồi, Thi sĩ Trần Dạ Từ
(Ảnh Trương Xuân Mẫn).
 
Trong phần chính vinh danh nữ sĩ Trùng Quang, nhà báo Bội Hương, chủ nhiệm Tuần báo Phụ Nữ Cali,  đã phát biểu như sau : "Cụ bà Trùng Quang sinh ngày 1-1-1912 tại miền Bắc Việt Nam. Ngay từ những năm của thập niên 40 cụ đã là một  phụ nữ tiền phong trong các phong trào thanh niên, sinh viên hoạt động xã hội. Năm 1951 cụ thành lập Hội Phụ Nữ Tương Tế, là hội phụ nữ Việt nam đầu tiên giúp chị em phụ nữ học tiếng Việt, Pháp, Anh, Nhật ngữ. Năm 1952, Nam Phương Hoàng hậu chọn ngày Lễ Hai Bà Trưng làm ngày Phụ Nữ. Từ 1944 tới 1954, cụ Trùng Quang là một trong những bậc nữ lưu tiền phong, nổi tiếng thời 1953, 1954 tham gia các công tác hoạt động văn hoá giáo dục, xã hội cứu trợ đồng bào bị nạn đói . Cố Tổng Thống Nixon, hồi còn la Thượng Nghị sĩ , đến thăm Hà Nội đầu thập niên 1950 đã từng đến gặp cụ để thăm hỏi về việc cụ giúp đỡ đồng bào tản cư vào các thành phố.
 
Tại Hà Nội, cụ là Hiệu Trưởng sáng lập trường Nữ Công Việt Nữ. Di cư vào Nam từ 1954, cụ là Hiệu Trưởng trường Phương Chính , giảng dạy về Việt ngữ, sinh ngữ và nữ công. Cụ là người chủ trương phụ nữ Việt nam phải tiến bộ, văn minh trong vòng lễ giáo. Cụ cũng là người khai sáng ngành mỹ nghệ làm búp bê Việt Nam với kỹ thuật du nhập từ Nhật và Au Châu.
 
Về sinh hoạt văn học nghệ thuật, cụ là người đã có những tác phẩm thơ, văn, kịch bản phổ biến từ hơn nửa thế kỷ qua.Đầu thập niên 1960, cụ gia nhập thi đàn Quỳnh Giao ở Sài Gòn, một thi đàn gồm các bậc nữ lưu tên tuổi, phẩm hạnh như niên trưởng  Cao Ngọc Anh, là ái nữ cụ Cao Xuân Dục, một vị quan triều Nguyễn. Ngoài ra còn rất nhiều tác giả danh tiếng đã tham dự các sinh hoạt văn học do cụ khởi xướng. Nhiều nghệ sĩ trình diễn tài ba , như nữ nghệ sĩ Kiều Chinh cũng là học trò của cụ hoặc có người được cụ dẫn dắt lên sân khấu lần đầu. Do những hoạt động hăng say của cụ trong nhiều lãnh vực, cụ đã được tưởng thưởng  Huân Chương Văn Hóa Giáo Dục, Kinh Tế bội Tinh và Lao Động Bội Tinh.
 
Sau biến cố đau thương của đất nước, Cụ vượt biển tới Au Châu và định cư tại Hoa Kỳ từ 1979. Lúc này mặc dù tuổi đã cao (trên 80), cụ vẫn còn cắp sách trở lại  trường Đại học. Cụ là nữ sinh viên cao tuổi nhất tiểu bang California và hằng ngày vẫn thường sử dụng xe bus để đi học tại trường Evergreen, San Jose. Chỉ ở lãnh vực này cụ đã là tấm gương sáng ngời cho mọi thế hệ đàn em và con cháu về tinh thần cầu tiến và hiếu học.
 
Ngoài ra cụ vẫn tiếp tục sinh hoạt văn học nghệ thuật và không ngừng sáng tác. Trước năm 2000, cụ vẫn thỉnh thoảng hội thơ ở căn nhà hiện tại, gồm các vị cao niên ở San Jose và vài thành viên Quỳnh Dao cư ngụ trong thành phố, cùng nhau hội thơ, bình văn và xướng họa. Năm 2002 , giải thưởng do Việt Báo tổ chức:  Viết Về Nước Mỹ đã vinh danh tác giả Trùng Quang, với bài viết "Tôi đi tìm Tự Do, Dân Chủ" để "hưởng ứng việc cổ võ bà con ta cùng viết lại trang sử của chính cộng đồng mình". Năm đó  cụ đã 90 tuổi.
 
Hai năm sau (2004), khi đã 92 tuổi, cụ đã tổ chức việc biên tập và ấn hành sách bình giảng về áng hùng văn bất hủ của dân tộc là "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi. Và gần đây nhất năm 2006 cụ chủ trương mời các cây bút phụ nữ  cùng viết  chung và đã cho ấn hành tác phẩm Bóng Cờ Nương Tử   Tuyển tập I ,quy tụ 11 cây viết nữ gồm có Diệu Hân, Cỏ May, Nguyễn Thị Nhung, Trần Thanh Ngọc, Nam Mai, Lê Xuân, Cao Mỵ Nhân, Hoàng Mai, Phương Chính, Mai Thị Trâm.  Các tác giả góp mặt trong tác phẩm này ở khắp nơi như Anh, Pháp , Canada, Uc và Mỹ. Trong đó có một trong những cây viết nữ nổi tiếng là nhà thơ Cao Mỵ Nhân hiện ở Nam Cali. Với nhiều tác phẩm đã được in ra của bà như: Ao màu xanh, Thơ Mỵ, Đưa người tình đi tu,  Sau cuộc chiến v….v…Và Cao Mỵ Nhân cũng là tác giả trẻ tuổi nhất góp mặt trong tuyển tập "Bóng Cờ Nương Tử"
 
 
Dưới thời Pháp thuộc, cụ là người phụ nữ đầu tiên lập trường dạy quốc ngữ và huấn luyện nghề nghiệp cho phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội. Khi đất nước chia đôi vào năm 1954, cụ đưa Trường di cư vào Nam, sau đó trường di cư vào Nam khi đất nước chia đôi. Khi di cư đến San Jose tỵ nạn, mặc dầu đã 82 tuổi, cụ đã cắp sách đến trường Đại Học Cộng Đồng ở San Jose để học tiếng Mỹ và được các thầy cô Mỹ thương mến kính phục vì tấm gương cho mọi người nhập cư. Nay đã 97 tuổi mà cụ vẫn sáng tác và thơ của cụ vẫn trữ tình như thủa còn con gái. Trong dịp nầy, sẽ giới thiệu tuyển tập "BÓNG CỜ NƯƠNG TỬ" gồm 12 truyện ngắn của 12 nhà văn nữ của Việt Nam hải ngoại viết và do cụ Trùng Quang chủ trương xuất bản. Hầu hết các truyện nói về đời lính VNCH. Tuyển tập được giới thiệu nhân Mùa Lễ Hội MẸ (Mother’s Day) tại Hoa Kỳ với mục đích vinh danh các bà mẹ chịu đựng nhiều đau thương và mất mát trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam để thay chồng nuôi dạy con thành người.”
 
Thời gian đi qua quá nhanh. Mới ngày đầu năm 2008, cụ Trùng Quang cho gọi tôi đến nhà cụ và nói rằng cụ muốn tôi họa lại một bài thơ về ngày Xuân của cụ mới sáng tác. Tôi ngần ngại vì văn chương thi phú của tôi đã bỏ quên từ lâu không mấy khi thấy nàng thơ thức dậy. Cụ bà Trùng Quang trao cho tôi một bài thơ được đánh máy cẩn thận chia thành 2 phân đoạn. Cụ nói:
 
–           Huyền Anh đọc đi và họa lại hoặc phổ nhạc bài thơ nầy.
 
Tôi làm báo hay làm kinh tế thường dùng tên Hạnh Dương, nhưng lúc sáng tác thi văn hay ca nhạc thì lại dùng bút hiệu Huyền Anh. Cụ Trùng Quang biết cả hai tên nầy của tôi nên bảo tôi chọn hoặc là họa thơ của cụ, hay là phổ nhạc thơ của cụ. Tôi thưa với cụ bà Trùng Quang:
–           Bà ơi, bà tha cho con được không ? Chật vật với cuộc sống con mờ cả mắt lấy đâu mà thơ với nhạc ? Bà tha cho con là phải lắm đó bà !
 
Chẳng những không tha, bà còn nói:
 
–           Huyền Anh phải hứa với tôi một điều là mai mốt tôi tổ chức ra mắt cuốn Tuyển Tập “BÓNG CỜ NƯƠNG TỬ” thì Huyền Anh phải đến hát cho tôi nghe một bản nhạc của Huyền Anh sáng tác nhé !
 
Cụ bà Trùng Quang nắm lấy tay tôi, nói: – “Hứa đi !” Và tôi đã gật đầu. Nhưng còn món nợ họa thơ thì tôi từ chối cũng không được. Lý do là thà rằng họa thơ thì còn nhanh hơn là phổ nhạc nên tôi chọn cái tiết kiệm thời gian.
 
Bài thơ gốc của cụ bà Trùng Quang viết cho ngày đầu năm với tựa đề “ĐÓN XUÂN VUI BÚT” với nguyên văn như sau:
 
ĐÓN XUÂN VUI BÚT
Trùng Quang
 
1.
 
Một sáng mùa Xuân ngập ánh hồng,
Một cung đàn ấm khắp Tây, Đông.
Một rừng thông điểm trời mây biếc,
Một vũng vàng tô biển nước trong.
Một khối bao la hoa lá trổ,
Một bầu bát ngát sắc hương nồng.
Một tia nắng đẹp soi muôn cõi
… Một chữ là mang một tấc lòng.
 
2.
 
Một thoáng đua vui bút nối vần,
Một trời Xuân đẹp nắng vàng sân.
Một trang giấy trắng mươi hàng chữ,
Một ngọn chì đen mấy đoạn văn.
Một phút tiêu dao thơ với nhạc,
Một giây phiêu lãng ảo và chân.
Một vài lờ lãi trong khuôn sống:
“Một tiếng tri âm gọi góp phần”.
 
Trùng Quang.
 
 
Tôi họa lại bài thơ và trao ngay cho cụ bà Trùng Quang bài thơ họa của tôi với nội dung như sau:
 
“NÓI VỚI MÙA XUÂN
Huyền Anh
 
1.
 
Một ánh Xuân giăng sợi nắng hồng
Một lời giã biệt gió tàn Đông
Một cõi bao la trời xanh biếc
Một chút tình riêng giữa đục trong.
Một người vẫn nhớ mùa Mai trổ
Một kẻ không quên rượu Xuân nồng
Một ngày kia sẽ thôi mòn mõi
Một mái hiên chung, một tấc lòng !
 
2.
 
Một mai vũ trụ có xoay vần
Một khi lối cũ lá vàng sân
Một lòng chung thủy xin vẫn giữ
Một chút lỡ lầm cũng ăn năn.
Một đời nghiệt ngã tóc màu bạc
Một kiếp giang hồ mỏi gót chân
Một lời, một ý trong cuộc sống
Một nghĩa tri âm đẹp muôn phần.”
 
Huyền Anh.
 
Vào chiều Chủ Nhật  04-5-2008 tại trung tâm VIVO ở San Jose, khi Thi Văn Đoàn Bốn Phương tổ chức vinh danh cụ bà văn sĩ, thi sĩ Trùng Quang, tôi đã giữ lời hứa hát cho cụ nghe nhạc phẩm “MẸ VIỆT NAM CỦA TÔI”. (Xem Link: <http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=45&nid=128049> ). Tôi nhớ lời bà Trùng Quang kể cho tôi nghe về cuộc đời của bà thật vô cùng đau khổ. Bà là một thiếu nữ xinh đẹp, bà đã yêu một sinh viên tài năng và nhiệt huyết chống thực dân Pháp. Hai người cưới nhau chỉ được vài tháng thì chồng bà đã bị Việt Minh (tức tiền thân của Cộng Sản Việt Nam) ám sát chết vì lúc đó chồng bà lãnh đạo sinh viên Hà Nội chống Pháp và chống cả Việt Minh. Kể từ đó, bà vẫn ở đơn độc như thế để thờ chồng và thay chồng nuôi các em chồng ăn học, đỗ đạt thành các Bác Sĩ nổi tiếng. Bà đem tình thương lập nên trường dạy nghề và dạy chữ quốc ngữ cho phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội vì thời bấy giờ không mấy ai trong giới phụ nữ biết được chữ Việt. Năm 1954 khi phân chia hai miền đất nước, bà đã di cư vào Miền Nam và lập lại Trường dạy nghề và dạy chữ Việt cho phụ nữa tại Sàig-gòn. Sau biến cố tháng Tư Đen 30-4-1975, bà bỏ nước ra đi tỵ nạn và hiện sống tại San Jose. Lúc 82 tuổi, bà ngày ngày cắp sách đi học tại Trường ESL bổ túc sinh ngữ cho người nhập cư và những năm kế tiếp bà theo học trường College rồi Đại Học Cộng Đồng tại San Jose. Bà là một tấm gương phấn đấu không ngừng. Có những bài thơ tình của bà khi đọc cứ tưởng đó là lời thơ lãng mạn của một cố bé 18 trăng tròn. Năm 2002 bà đoạt giải thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ với bài “Tôi Đi Tìm Tự Do Dân Chủ”.
 
Ngoài bài thơ họa của tôi ra, bài thơ “ĐÓN XUÂN VUI BÚT” viết cho Mùa Xuân của bà Trùng Quang đã được thêm 46 thi sĩ hải ngoại họa lại và bà Trùng Quang đã cho in thành tập như tài liệu chỉ trao cho thân hữu vì chưa có đủ ngân phí để in thành sách. Bà hy vọng nếu như cuốn Tuyển Tập “Bóng Cờ Nương Tử” do bà chủ trương được bà con hỗ trợ mua hết ($25.00/cuốn), bà sẽ thu hồi lại vốn để sẽ cho xuất bản tập thơ “Đón Xuân Vui Bút” của bà với phần họa thơ của nhiều tác giả.
 
Hôm nay ngày đầu năm 2009, tôi gởi đến quý vị và các thi nhân khắp thế giới bài thơ “Đón Xuân Vui Bút” của bà cụ Trùng Quang để quý vị và các văn thi hữu bốn phương họa lại như một món quà chúc mừng kỷ niệm sinh nhật thứ 98 của bà văn thi sĩ Trùng Quang (01-01-1912 – 01-01-2009).
 
Tôi cũng sẽ lần lượt gởi các bài thơ hoa của các tác giả sau đây đã có bài họa thơ của bà Trùng Quang đến quý vị và các văn thi hữu để thưởng thức, gồm: Bùi Ngọc Tô, Bùi Tiến, Cao Mỵ Nhân, Cao Tiêu, Cổ Trúc, Đông Anh, Đông Thiên Triết, Đỗ Qúy Bái, Giác Lượng Tuệ Đàm Tử, Hà Thượng Nhân, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Hoàng Ngọc Văn, Huệ Thu, Kiều Hạnh, Khải Chính Phạm Kim Thư, Khương Hạ, Lâm Thi, Lệ Chi, Lệ Hoài Hương, Mặc Lan Đình, Nam Phong, Nam Sơn Ngô Huy Đài, Ngô Đa Thiện, Ngô Đức Diễm, Ngô Phủ, Ngọc An, Ngọc Bích, Nguyễn Hùng, Nguyễn Thị Bạch Tâm, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Phượng Linh, Phương Trang, Tố Nguyên, Thiên Tâm, Trường Giang, Túc Lắc, Tuệ Nga, Từ Phong, Từ Thanh Hà, Uyển Hương, Vân Nương, Vân Trang, Việt Liên, Việt Thao, Vũ Gia Sắc.
 
Những người kế tiếp là tác phẩm họa thơ của qúy vị và các bạn yêu thơ khắp nơi. Xin gởi lên các diễn đàn Internet và copy về Email: VietPressUSA@yahoo.com <mailto:VietPressUSA@yahoo.com>, VietPressUSA@gmail.com <mailto:VietPressUSA@gmail.com>.
 
Xin gởi kèm theo nhạc phẩm “Mẹ Việt Nam Của Tôi” để những ai hạnh phúc còn mẹ sẽ có dịp hát cho mẹ mình nghe.
 
Chúc quý vị và gia đình một Năm Mới đầy sức khỏe, hạnh phúc, an vui, phát đạt.
 
 
Hạnh Dương
 



Blog của HVLY với dòng thơ trữ tình của người Hà Nội. (HVLY)

 

 

Vào Blog của H.V.L.Y.