TRĂN TRỞ THÁI HÀ


Mắng quan tham
Phương Triều – Định cư tại Hoa Kỳ năm 1994 theo diện HO. Đã xuất bản: – Còn Nhớ Còn Thương (Tập truyện, Sông Hậu xb, Sài-gòn 1966) – Tiếng Hát Hoàng Hôn (Tập truyện, Sông Hậu xb, Sài-gòn 1969) – Sầu Hương Phấn (Tập truyện, Sông Hậu xb, Sài-gòn 1972) – Thơ Phương Triều (Thơ, Tình Thương xb, California 1995) – Trăm Bài Thơ Xuân (Thơ, Lê Huỳnh xb, Minnesota 2000) – Xóm Mộ (Thơ, Lê Huỳnh xb, Minnesota 2001) – Giọt Sữa Đất (Thơ, Lê Huỳnh xb, Minnesota 2002) – Xương Rồng Đen (Thơ, Lê Huỳnh xb, Texas 2004) TÀN PHAI Tiếng ai hát nghiêng nỗi sầu xuống nhạc Trăng xanh xao, sóng vỗ mạn thuyền sâu Em đã hái từ trong vườn cổ tích Trái đau thương về lại thuở ban đầu! Dòng tóc ai bay thả chiều gió lượn Mà bướm sầu nghiêng cánh ngủ trên vai Môi mắt đó ngày xưa từng vụng dại Lỡ hôn nhằm vết tích một tàn phai! Em đã đi như chưa hề gặp lại Ta giấu buồn trong rời rã chia ly Em khóc được sao nỗi đời ê ẩm Đã xanh mầm trái đắng thuở xuân thì? Tình trót so le, lỡ lầm duyên phận Em tay gầy ôm trọn nỗi oan khiên Giữa phong ba vùi dập một con thuyền Bao hờn tủi một mình em gánh chịu! Nỗi nhớ thiên thu nỗi sầu tơ liễu Trót làm thân con gái dại khờ thôi Ta tội lỗi một đời mây lãng bạt Tóc mùa xưa buồn rẽ lệch đường ngôi! Sao quạnh quẽ am chiều nhang khói lạnh Người đi qua người ở lại bao giờ? Sao dấu cỏ vẫn in hằn vết cũ Tiền đường xưa chôn kín một duyên hờ? Ta thắp cho em nỗi niềm cháy đỏ Để một đời ta cứ miệt khinh ta! Đêm chập chờn vói mộng đã lìa xa Ngày quạnh quẽ chung thân sầu cô độc!… PHƯƠNG TRIỀU CÕI HƯ HAO Em hát cho đêm… dài nỗi nhớ Gọi tình hao hụt cõi hư hao Nỗi đời chật cứng trên cung bậc Sân khấu đèn khuya buồn xanh xao! Em hát cho dài đêm tưởng niệm Vòng tay khép được mấy bình yên? Ta vong thân giữa tình chan chứa Hồn chết già nua tuổi thiếu niên! Em hát cho người quên khổ lụy. Ai dùm em hát cuộc đời quên Cho những khuya về thân một bóng Cho mỏi mòn trên một lối quen? Em hát dùm ai mà nhỏ lệ Những thân tù tội, những chia lìa Còn em một góc sầu cô quạnh Bên vách đời mưa không mái che… Em hát đêm nay dịp cuối cùng Mai còn về lại với dòng sông Mẹ già trên bến xưa mòn mỏi Chờ đón con về từ long đong! Ngày mai em sẽ không còn hát Em muốn về bên tiếng mẹ ru… “Nhưng sao… quê mẹ đầy ngang trái, “Con sẽ về quê mẹ… ở đâu?” PHƯƠNG TRIỀU GIỌT SỮA ĐẤT Thương giọt phù sa như là sữa đất Đêm quê nghèo mưa trắng lạnh Tiền giang… Em thả tóc hương lài thơm gối mộng Búp tay mềm với gọi giấc mơ tan… Mùa ốc gạo anh còn đi xúc tép Chiều Tân Hưng ngõ bướm rợp hoa vàng (*) Mai họp chợ Nha Mân xuồng ghé sớm (*) Em buổi chiều Rạch Rắn đợi anh sang! (*) Mấy nhỏ bạn miệt Nàng Hai, Xóm Cửi (*) Dặn mua dùm xoài tượng với dưa gan Anh hái mận ra Cái Tàu đổi rẻ (*) Thêm chục xoài cát ngọt cúng trên trang! Van vái được cưới em ngày mới lớn Hạnh phúc đơm đầy hoa lá bình an Đâu biết được mộng đau vùi giấc bướm Nha Mân buồn Rạch Rắn đã sang ngang! Đêm trở lại ngậm ngùi trăng cố thổ Bóng hình xưa bèo bọt giấc mơ tàn… PHƯƠNG TRIỀU ______ (*) Những địa danh tại Sa-đéc
Dòng Thơ Phương Triều : Tàn Phai

– Sanh tại Sa-đéc
|
Nhà thơ Mỹ giúp bảo tồn văn hóa chữ Nôm của Việt Nam |
|
|
18/12/2008 |
Chữ Việt hiện nay hay là chữ quốc ngữ là do người Pháp đặt ra và nhìn cũng tương tự như Anh ngữ hay Pháp ngữ. Nhưng trong nhiều thế kỷ, chữ Việt đã được viết cách khác dựa vào chữ Nho. Bây giờ chỉ một nhóm người còn đọc nổi loại chữ Hán Nôm đó. Tại Hà Nội, thông tín viên đài VOA Matt Steinglass tham quan một Viện đang cố gắng bảo tồn di sản này.
![]() |
| Nhà thơ Mỹ John Balaban |
Tại một quán cà phê cũng là một tụ điểm văn hóa, mấy chục người Việt nam và người nước ngoài đang kỷ niệm 10 năm bảo tồn chữ Nôm. Ông Balaban là một nhà thơ Mỹ đến Việt Nam với tư cách một người thiện nguyện nhân đạo trong chiến tranh cách đây 40 năm. Ông đã chú ý đến chữ Nôm khi dịch tác phẩm của nhà thơ nữ Việt nam Hồ Xuân Hương. Chính ông đã lập ra Hội chữ Nôm.
Ông Balaban nói: “Hồ Xuân Hương là một người vợ lẽ sống vào năm 1800. Một nhà phê bình đã mô tả bà là một khuôn mặt nữ phá phách nhưng xuất chúng của thế kỷ 18 và 19. Đôi khi toàn thể những bài thơ của bà đều mang những ý nghĩa đảo ngược, với tình dục là đề tài tiềm ẩn.”
Những bài thơ của Hồ xuân Hương mang tính cách nữ quyền gây kinh ngạc. Bài thơ sau đây nói về phong tục đa thê một thời rất thông dụng tại Việt nam, khiến những phụ nữ như Hồ xuân Hương phải làm lẽ cho những người quyền thế.
“Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.”
Đọc Thơ Hồ Xuân Hương tưởng chừng mới được viết hôm qua vì những tư tưởng rất hiện đại. Tuy nhiên, phần đông người Việt nam lại không đọc được nguyên bản vì bà viết bằng chữ Nôm. Chỉ một số rất ít người Việt đọc được chữ Nôm, phần đông là các nhà sư, người già, hay những người có sở thích.
Và những người thật sự hiểu chữ Nôm? Tổ chức vừa nêu cho là chỉ có khoảng 30 người trên toàn thế giới.
Tại thư viện quốc gia Việt Nam, một nhóm nhỏ do hội này tài trợ đang bận rộn với một công trình lớn: chuyển qua kỹ thuật số 4,400 bản thảo Hán Nôm giá trị nhất trong văn khố Quốc gia Việt nam.
Đứng đầu nhóm bảo tồn tại thư viện là ông Tô Trọng Đức. Nhóm này chụp những hình rõ của mỗi tư liệu và nhập những dữ kiện liên quan đến việc tư liệu đã được in như thế nào và sưu tập ra sao. Sau cùng họ viết lại bằng tay toàn bộ tác phẩm, vì không có phần mềm nào dành cho chữ nôm.
Cách đây ít năm, Hội đã gửi đại diện tới dự một hội nghị quốc tế của ủy ban điều hành việc chữ được tạo mã ra sao trên Internet.
Mới đầu, các đại biểu Trung Quốc phản đối việc tạo một hệ thống mã riêng cho chữ Nôm. Họ nói đó chỉ là một loại chữ của Tàu. Sau đó một chuyên gia Việt nam đưa một bản chữ Nôm ra và người Trung quốc đã không đọc được, vậy là hiện nay chữ Nôm đã có hệ thống tạo mã chính thức của mình trên Internet.
Đây là một bước ngoặt đối với loại chữ mà từ 75 năm nay không có gì quan trọng được viết ra.
Người Việt nam bây giờ đọc thi văn cổ điển như các bài thơ của Hồ Xuân Hương bằng loại mẫu tự ABC mà người Pháp đã đưa vào từ đầu thế kỷ 19.
Ca sĩ Lê Phạm Lệ ngâm thơ Hồ Xuân Hương nói rằng thơ chữ Nôm và chữ quốc ngữ không hoàn toàn giống nhau.
Cô Lê nói: “Một cách nào đó, tôi thấy là ngâm thơ Hồ xuân Hương bằng chữ Nôm cho cảm giác mạnh hơn. Lý do là đó giống như một sự cảm thông với một di sản cổ điển. Đó cũng là mục tiêu, là nỗ lực mà Hội chữ Nôm đang theo đuổi.”
Với cố gắng và duyên may của Hội chữ Nôm, một thế hệ trẻ Việt nam sẽ có thể thưởng thức thơ Hồ Xuân Hương đúng như đúng như lúc bà đặt bút lông lên giấy tại Hà Nội cách đây 200 năm.
VOA News
NẮNG THÁNG TƯ 
Cái gì được thổi phồng lên ở đây
Ngọn lửa
Cây đàn
Hay mũi súng
Còn ai vừa mới bước vào tôi
vẻ mến thương như nắng
Không phải cái nắng sáng nay
Trui sâu mùi khét lẹt vào những ngách chợ
Tất cả những cánh cửa khép lại
Những cõi lòng khép lại
Chỉ có tiếng oán thù là mở ra
Tôi phải nói sao với em
Khi cuộc đổi đời này không như ta mơ ước
Rằng chỉ có máu và nước mắt luồn trong mỗi thớ tim
Cuộc sống bây giờ
bị dồn lên những chuyến xe lầm than chia cách
Người mẹ xa lìa mái thân yêu
Người cha xa lìa chốn tương lai
Trong khi Tội Ác vẫn không ngớt thò ra những bàn tay đẫm máu
bóp mặt người méo lại
Tôi là khúc hát âm u lướt trong bóng chiều mờ tối
Tôi hát có em nụ cười đã khép
Con đường đưa em đến chợ mỗi ngày bị chắn ngang
bằng một sắc luật tháng tư mới ban hành
Dưới ánh nắng rỡ ràng của tháng tư
Ảo mộng con người lần lượt bị tích thu chất thành đống
Cũng dưới áng nắng rỡ ràng của sáng nay
Tôi đi qua tôi
Đi qua những mặt người
Những mặt người với những cái mồm lắp đầy nỗi khốn khổ
Tại sao trong gió lành sáng nay lại mọc ra nhiều điều bất hạnh
Tại sao sự bình yên trên mặt đất lại không được quyền nhặt lấy
Và sự tự do buộc phải đứng im hỏi giấy
Tại sao những con đường phải quay về một hướng
Xua tuổi thanh xuân lảo đảo những nhát cuốc quên đời
Và sâu hơn nữa trong chiến trường đẫm máu
Nơi Sự Chết dễ dàng thắng thế Sự Sống Còn hụt hã của con người
Ôi cuộc đời
Ôi nhân loại
Cái gì sẽ phồng lên trong ước vọng
Ngọn lửa
Cây đàn
Hay lưỡi kiếm
Còn ai vừa mới bước vào tôi vẻ mến thương như nắng
Không phải cái nắng ngày xưa
Cái nắng sáng nay mọc ra
như một bụi hồng
Xám xịt
Phan Ni Tấn


HÃY ĐỂ BỐ
DẠO: Lòng không muốn sống xa nhà
Nhưng trời bắt tội tuổi già biết sao!
(Kính mến gửi về Chú, ngậm-ngùi đánh dấu ngày mà Chú, vừa tới tuổi 90, phải vào nhà dưỡng-lão, mặc dù con gái Chú rất thiết-tha muốn được đưa Chú về nhà.)
Đêm bệnh-viện, sầu tơi trên tóc trắng,
Người già nằm, bóng hạc lắng chiều sương,
Mắt ngu ngơ như nắng lỡ độ đường,
Nhìn con gái dựa bên giường gà gật.
Đầu ngật ngầy váng vất,
Thương con mình tất bật ngược xuôi,
Mấy ngày qua luôn túc-trực không rời,
Đến tối mịt mới về nơi tổ ấm.
Bàn tay già chầm chậm,
Thờ thẩn nắm tay con.
Từ rãnh mắt xoáy mòn,
Giọt thương cảm lăn tròn theo vết cũ.
X
X X
Khuya rồi đó, sao con chưa về ngủ,
Chuyện tuổi già, con ủ-rũ làm chi.
Chín mươi rồi, Bố chưa bị cất đi,
Mình may mắn, có gì mà áo-não.
Hãy để Bố vào ở nhà dưỡng lão,
Như mọi người vừa khuyên bảo sáng nay,
Vì một mai khi rời khỏi nơi đây,
Khó khăn sẽ theo tháng ngày dai dẳng.
Bố không muốn mình trở thành gánh nặng,
Để cho con phải lo lắng miệt mài
Đời con còn nhiều trách-nhiệm trên vai,
Đâu có thể chực-chầu hoài sớm tối.
Thân gầy còm yếu đuối,
Sao kham nổi đường xa.
Thêm việc sở, việc nhà,
Chuyện con cái, dễ gì mà vất bỏ.
Người già thường cau-có
Nằm liệt giường, càng khó tính gấp trăm.
Dù cho con chẳng quản ngại nhọc nhằn,
Nhưng chịu đựng tháng năm dài sao thấu.
Bố vẫn muốn sống đời bên con cháu,
Dẫu cơ-hàn, mà rau cháo có nhau.
Bao năm qua mất Mẹ , bấy năm sầu,
Bố gượng sống với niềm đau-lẻ-bạn.
Buồn nhớ lại ngày vượt biên hoạn-nạn,
Bỏ quê nhà, chấp-nhận vạn gian-truân,
Chết trong tay đã nắm chặt chin phần.
Mạng sống chỉ ngàn cân treo sợi nhỏ.
Con thuyền khốn khổ,
Sóng gió tả-tơi,
Phút chót đã kề nơi,
Lối định-mệnh, ai người sống sót.
Tưởng chỉ được nhìn Mẹ, con lần chót,
Nhưng Trời thương cho trót-lọt qua đây,
Trong khi bao người biển cả vùi thây,
Giờ sao nữa, chẳng mảy-may tiếc rẻ.
Bố chỉ hận mình không còn sức khỏe,
Đở đần con việc lẻ-tẻ hôm mai,
Để chiều về, con bớt phải loay-hoay,
Được yên nghỉ sau ngày dài kiệt sức.
Khi bị đẩy vào trong phòng hồi-lực,
Bố biết mình gần tới lúc xuôi tay.
Dù thoát nạn hôm nay,
Đời cũng phải rẽ ngay vào lối ngoặc.
Bố tự biết như ngọn đèn sắp tắt,
Nên cố tình bẳn gắt mấy ngày qua.
Nếu chẳng may phải theo gót ông bà,
Con cũng đở xót xa giờ đưa tiễn.

Mai kia rời bệnh-viện,
Con đừng bịn-rịn xót xa,
Hãy nghe lời y-tá dặn ngày qua,
Mà đưa Bố thẳng ra nhà dưỡng lão.
Cuộc sống mới dù là mưa hay bão,
Bố không buồn,tự bảo vẫn còn may,
Vì biết rằng, chỉ quanh-quẩn đâu đây,
Con cháu Bố đang vui vầy hạnh-phúc.
Rồi sẽ có những buổi chiều hun-hút,
Bố nặn dần từng phút ngóng người thân.
Nhưng rủi con chẳng tới được một lần,
Bố cũng hiểu, đừng bận tâm ray-rứt.
Bố không ngại chặng cuối đời khổ cực,
Nhìn thấy con hạnh-phúc, Bố vui lòng.
Tuổi đã nhiều, phận Bố thế là xong,
Con phải sống cho chồng, cho con cái.
Hứa với Bố, con sẽ không buồn mãi,
Nếu mai này, khi Bố phải ra đi,
Mà con không kịp đến lúc phân-kỳ,
Nói cùng Bố lời chia-ly vĩnh-viễn.
X
X X
Đêm trơn giấc, người con rời bệnh-viện,
Đôi mắt già quyến-luyến vọng đưa chân.
Trong ký-ức phai dần,
Khuôn mặt những người thân vùng hiển-hiện.
Lòng chợt thoáng bùi-ngùi khi nghĩ đến
Phút lên đường, theo ước-nguyện ba-sinh,
Chân bơ-vơ trong tăm tối một mình,
Mò mẫm lối hành-trình về thiên-cổ.
Trần Văn Lương