THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG

THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG
 
QUÁCH TẤN
 
Bức Thư thứ Ba
 
     Thi luật xuất phát từ đời nhà Đường bên Trung Quốc cho nên gọi là đường luật.
 
     Đường Luật không phải do một cá nhân hay một nhóm thi nhân cao hứng đặt ra theo sở kiến, sở thích của mình, mà chính là sự đúc kết những kinh nghiệm kỹ thuật lâu đời đã thành công, và điển chế những thành công ấy làm khuôn phép chung cho làng thơ .
     Thật như vậy: từ đời Xuân Thu đến đời nhà Đường, trên 1. 000năm, thơ Trung Quốc lần lần biến chuyển từ giản dị đến phức tạp, từ tự do đến câu thúc. Thơ trong bộ Kinh Thi do Khổng Phu Tử san định thời Xuân Thu (722- 479) trước Kỷ nguyên Thiên Chúa, số câu trong mỗi thiên, số chữ trong mỗi câu, đều không nhất định, cách hạ vần cũng tùy nghi. Đến đời Tấn (265-420), thơ mới bắt đầu khép vào khuôn là mỗi câu 5 chữ, nhưng số câu thì dài ngắn tùy hứng tùy thích của thi nhân. Sang đời Lục Triều (420- 621), thi nhân lại tìm thêm một khuôn nữa là mỗi câu 7 chữ. Thời ấy văn học lại xu hướng thể biền ngẫu . Thẩm Ước lại xướng thiết tứ thanh, bát thể (bát bệnh) đem áp dụng vào thơ ngũ ngôn. Từ ấy, thi nhân phải theo những quy tắc về âm thanh về đối ngẫu; nhưng quy tắc không mấy chặt chẽ, ngòi bút vẫn tung hoành được tự do. Thi sĩ đời Đường (618-907) phát huy phép đối ngẫu và thuyết thanh bệnh của Thẩm Ước. Âm vận và cách luật được giảng cầu tinh tường : Thi Luật được sáng chế và được phần đông thi nhân hoan nghênh. Người có công lớn trong việc chỉnh đốn Thi Luật là Tống Chi vấn và Thẩm Thuyên Kỳ thời Sơ Đường . Rồi từ đời Đường đến đời Thanh (1616- 1911), trên 1.000 năm, thể thơ Đường luật rất được phần đông thi nhân ưa chuộng.
 
     Nước Việt Nam chúng ta có thơ từ nghìn xưa . Và thể thơ thông dụng nhất lá thể Lục Bát và Thể Vè 3, 4 và 5 chữ giản dị và tự do . Mãi đến đời nhà Trần (1225-1400), Hàn Thuyên mới dùng thể Đường luật để làm thơ Nôm. Thi nhân đương thời nhiệt liệt hưởng ứng và từ đời Trần, sang đời Lê đến đời Nguyễn, thể Đường luật được thịnh hành trong làng thơ Quốc âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong trường khoa củ . Thơ quốc âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong trường khoa cử . Thơ quốc âm làm theo thể Đường luật, cổ nhân gọi là thơ Hàn Luật .
          Và để phân biệt với thơ có trước đời Đường, thơ Cổ Thể, người ta gọi thơ làm theo thể Đường luật là thơ Cận Thể .
     Quy tắc thơ Cận Thể rất tinh mật . Muốn sử dụng thể Đường luật được hữu hiệu, tưởng chúng ta nên biết rõ mọi chi tiết, ít nhất là phải rành những điểm cốt yếu, về chương pháp, về cú pháp, về hài ngẫu, thanh điệu…
 
     Chương pháp là phép tắc trong toàn bài .
          Như trên đã nói, phép tắc thơ Cận Thể, tức thơ Đường luật, rất chặt chẽ . Mỗi thiên có định số câu, mỗi câu có định số chữ, mỗi chữ có định tiếng bằng Trắc, và câu nào đối với câu nào, câu nào niêm với câu nào v. v… người làm thơ phải tuân thủ nghiêm chỉnh .
 
     Luật thi lấy tám câu làm chính . Mỗi câu gồm có hoặc 5 chữ hoặc 7 chữ . Thơ 7 chữ 8 câu gọi là Thất Ngôn Bát Cú, hay là Thất Ngôn Luật Thi, gọi tắt là Thất Luật . Thơ 5 chữ 8 câu gọi là Ngũ Ngôn Bát Cú, hay Ngũ Ngôn Luật Thi, gọi tắt là Ngũ Luật.
 
     Khi Luật thơ mới ra đời, các câu thơ trong bài không có tên. Đường nhân chỉ gọi là câu NHẤT NHỊ, câu TAM TỨ, câu NGŨ LỤC, câu THẤT BÁT mà thôi . Đến đời Tống (960 – 1297), Nghiêm vũ mới đặt tên : câu Nhất Nhị gọi là Khởi Liên hay Phát Cú (cũng gọi là Phát Đoan), câu Tam Tứ gọi là Hạm Liên, câu Ngũ Lục gọi là Cảnh Liên, câu Thất bát gọi là Lạc Cú hay Kiết Cú . Qua đời Nguyên (1234 – 1368), Dương Tải đổi tên câu nhất nhị gọi là Phá Đề và chia bài thơ làm 4 phần là Khởi (hay Khai), Thừa, Chuyển, Hiệp (*) và dạy : “Khởi như mở cửa thấy núi, đột ngột tranh vanh, hoặc như mây nhàn từ trong hố bay ra, nhẹ nhàng thong thả . Thừa như con rắn cỏ, sợi dây chuyền, chẳng đứt chẳng rời . Chuyển như sóng lớn muôn khoảnh, tất có nguồn cao đổ xuống . Hiệp như gió quanh khí tụ, ngậm chứa sâu thẳm . (Khởi như khai môn kiến sơn, đột ngột tranh vanh, hoặc như nhàn vân suất hát, khinh vật tự tại, Thừa xứ như thảo xà trắc tuyến, bất tức bất ly. Chuyển xứ như hồng ba vạn khoảnh, tất hữu cao nguyên. Hiệp xứ như phong hồi khí tụ, huyên vịnh hàm súc) . Vương Ngư Dương thời Thanh (1634 – 1711) nói rõ thêm rằng : Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp là phép chung trong việc làm văn. Trong một câu có khởi thừa chuyển hiệp của câu, trong một thủ có khởi thừa chuyển hiệp của thủ, trong 10 thủ có khởi thừa chuyển hiệp của 10 thủ, chớ không thể ấn định câu thứ mấy, đối thứ mấy là khởi thừa là chuyển là hiệp . Tức là Vương Ngư Dương không muốn người làm thơ phải ép mình trong sự phân chia cứng nhắc. Nhưng một khi luật được đem vào trường thi để làm khuôn thước chọn nhân tài, thì khuôn khổ bài thơ luật lại chặt chẽ thêm một bậc nữa . Tên của các câu thơ trong bài đều được thay đổi . Câu Thứ nhất gọi là Phá Đề, câu nhì gọi là Thừa Đề, cặp tam tứ gọi là Thích Thực hay Trạng, cặp ngũ lục gọi là Dẫn Luận hay Bồi Thấm, câu bảy gọi Thúc Kiết hay Chuyển, câu tám gọi là Hoàn Kiết hay Kết.
 
     Những câu 1- (Đề) và 7- 8 (Kết) không phải đối nhau. Chỉ có cặp 3 – 4 (Trạng) và cặp 5 – 6 (Luận) là phải đối nhau, cặp nào đối với cặp nấy, và phải niêm với nhau : câu 1 với câu 8, câu 2 với câu 3, câu 4 với câu 5, câu 6 với câu 7 . Đó là luật nhất định .
 
     Nhưng từ khởi thủy, thi nhân mới định vị cho các câu trong bài chớ chưa phân nhiệm cho từng câu. Nguồn thơ theo nguồn hứng mà đi, không cần phải sắp xếp ý nào trước ý nào sau, miễn sao cho nhất khí quán hạ, cho thủ vỹ tương ứng, miễn sao mạch lạc được liên tiếp, ý tứ đừng trùng điệp …là hay. Khi đã dùng vào trường thi, thì nhiệm vụ của Đề, Trạng, Luận, Kết đều được ấn định rõ ràng . Quy tắc phải được sĩ tử tuân thủ triệt để . Đó là luật thơ cử nghiệp .
 
     Về vấn đề này cũng như các vấn đề về luật bằng và Trắc trong câu, phép đối ngẫu … tôi sẽ nói rõ trong khi bàn về Cú pháp .
 
     Tôi xin nói tiếp về Chương .
 
     Chương dùng ở đây là bài thơ, chớ không phải một bộ phận trong bài văn, lớn hơn tiết. Nói một chương tức là một thủ, và thủ cũng thường gọi là Thiên. Nhưng Thiên trong thơ Liên Hoàn, lại dùng để gọi cả nhóm hoặc 10 thủ, hoặc nhiều hơn hoặc ít hơn .Còn chỉ để chỉ từng bài một thì dùng tiếng Chương hay Thủ . Cùng một đề mục mà phải dùng nhiều bài nối nhau để diễn đạt cho hết ý , mà không theo lối liên hoàn (nối nhau bằng ý chớ không bằng lời) thì cả nhóm cũng gọi là Thiên, từng bài một thì gọi là Chương, là Thủ, như trong thơ liên hoàn . Song đó là danh xưng chớ không phải là quy tắc .
 
     Để làm mẫu về chương pháp, xin dẫn một trong những bài thơ được truyền tụng, bài GỞI PHAN SÀO NAM của Trần Kế Xương :
 
Mấy năm vượt bể lại trèo non
Em hỏi thăm qua bác hãy còn
Mái tóc Giáp Thìn đà nhuốm tuyết
Điểm đầu Canh Tý chửa phai son
Vá trời gặp hội mây năm vẻ
Lấp bể ra công đá một hòn
Có phải như ai mà chẳng chết
Dang tay chống vững cột càn khôn
 
Bài thơ nhất khí quán hạ . Nêm luật chặt chẽ sít sao .
  
Nhưng đúng pháp thơ cử nghiệp, nghĩa là trạng, luận thật phân minh, thì bài VỊNH TRÂU GIÀ của Đặng Đức Siêu sau đây có thể dùng làm kiểu mẫu :
 
Một nắm xương khô một nắm da
Bao nhiêu cái ách cổ từng qua
Đuôi cùn biếng vẫy Điền Đan hỏa
Tai nặng buồn nghe Ninh Thích ca
Nương bóng rừng đào nơi lểu lảo
Nhìn gương cung quế thở phì phà
Bôi chuông nhớ thuở thân gần lụy
Ơn đội Tề vương mạng được tha .
 
   Mới học làm thơ, các bạn nên học tập lối làm thơ cử trước . Tôi sẽ nói kỹ hơn sau khi đã lược giảng xong những điều thiết yếu . Và trong bước đầu của bạn, tôi chú trong đến thơ Thất Luật . Bởi kinh nghiệm bản thân cho thấy rằng một khi chân đã vững vàng trên đường thơ cử nghiệp rồi thì bước sang thơ tài tử rất dễ dàng, và hễ thơ bảy chữ đã thạo rồi thì thơ năm chữ không còn thấy bỡ ngỡ .
 
     Và thơ Ngũ Ngôn cũng như thơ Thất Ngôn, đều lấy 8 câu làm luật . Nhưng phần đông thi nhân vẫn coi thơ Tứ Tuyệt là luật thi, bởi Tuyệt Cú là cắt luật thơ ra làm đôi mà lấy nửa. Phàm trong một bài tuyệt cú mà hai câu sau đối nhau, đó là cắt lấy 4 câu trước – cổ nhân gọi là tiền giải – của bài thơ luật; nếu hai câu trước đối nhau là cắt lấy phần hậu giải; bốn câu đều đối nhau là cắt lấy 4 câu giữa; còn toàn bài không có đối, là cắt lấy hai câu đầu và hai câu sau của bài thơ luật mà hợp lại . Số câu tuy có khác nhưng cách bố trí vẫn không khác nhau, cũng khởi, thừa, chuyển, hiệp , một bên từng cặp, một bên từng câu, mạch văn vẫn tiếp, khí văn vẫn nổi, không dứt không ngừng . Và tuy có 4 câu nhưng ý tứ phải sung mãn như 8 câu thì mới xứng danh là Tuyệt Cú, là Tứ Tuyệt. Bởi Tuyệt vừa có nghĩa là                                  Tiệt (cắt) vừa có nghĩa là tuyệt diệu.
 
     Xin cử mỗi loại một tuyệt để làm mẫu :
 
Hai câu đối nhau như bài DỆT CỬI của Lê Thánh Tông ;
 
Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương
Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường
Tay ngọc đẩy đưa thoi nhật nguyệt
Gót vàng dậm đạp máy âm dương
 
Hai câu đối nhau như bài SONG CHIỀU của TX :
 
Ngày trôi chậm chậm sông đưa lá
Thoi liệng xa xa én dệt mù
Mở rộng song thơ chờ ánh nguyệt
Nửa lòng xuân sắc nửa lòng thu
 
Bốn câu đều đối như bài TỨC CẢNH của Nguyễn Tư Giản làm lúc đi sứ sang Trung Hoa thời Tự Đức :
 
Gió đưa dương liễu cành cành nguyệt
Khói tỏa ngô đồng khóm khóm sương
Thuyền mọn năm canh người Bích Hán
Địch đài một tiếng khách tầm dương
 
Bốn câu đều không có đối như bài MỜI TRẦU của Hồ Xuân Hương :
 
Quả cau nho nhỏ miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thời thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi .
 
     Chỉ có 4 câu mà ý tứ phải đầy đủ, phải trọn vẹn thì bài thơ mới thật hoàn hảo . Bằng còn có thể thêm thắt, thì đó là một bài bát cú mới làm nửa chừng, Ví dụ bài DỆT CỬI của Lê Thánh Tông, đọc lên chúng ta cảm thấy thiêu thiếu như xem chưa hết lớp tuồng mà đã bị hạ màn . Do đó đời sau, nhiều người đã thêm hững câu sau thành một bài bát cú, như Tôn Thọ Tường là một :
 
Thấy dân rét mướt chạnh mà thương
Phải bước lên khung sửa mối giường
Tay ngọc lẹ đưa thoi nhật nguyệt
Gót son lần đạp máy âm dương
Xuân riêng hoa liễu canh dàn cuốn
Ý hiệp rồng mây chỉ vấn vương
Dâng gấm sân chầu mong có thuở
Sánh bường Tô Huệ bức văn chương .
 
     Sửa đổi một vài chữ rồi thêm vào bốn câu thành một bài bát cú lời đẹp ý giàu, lại nói lên được chút tâm sự thầm kín .
     Những bài Tứ Tuyệt có đối thường bị nối đuôi hoặc nối đầu, để ngầm bảo rằng chưa phải thơ Tuyệt Cú . Nhưng nếu ý tứ trong bài không được phong phú, thì loại không có đối cũng dễ biến thành thơ bát cú . Ví dụ bài VẤN NGUYỆT sau đây, tương truyền là của Hồ Xuân Hương :
 
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn
Ba mươi mồng một đi đâu vắng
Hay có tình riêng với nước non
 
     Cụ Tú Nguyễn Khuê đã biến thành một bài bát cú rất được thưởng thức :
   
Dì Nguyệt mình ơi ! Tớ hỏi đon :
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn
Hỏi con ngọc thố chừng bao tuổi
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con
Đêm vắng cớ chi soi gác tía
Ngày xanh lại thẹn với vầng son
Ba mươi mồng một đi đâu vắng
Hay có tình riêng với nước non .
 
     Bài VẤN NGUYỆT của cụ Tú cũng như bài DỆT CỬI của ông Tôn, tuy là thơ chắp nối, song theo đúng khuôn phép . Ý tứ trong toàn bài luôn luôn đi sát đầu đề . Những câu Đề, Trạng, Luận, Kết, câu nào cương vị nấy, nhiệm vụ nấy, không chút sai lệch. Mạch thơ khí thơ, như nước suối cao, gió đồng rộng, không bị gián đoạn hay ngưng trệ . Nếu đi thi thì quan trường dù khắt khe đến đâu cũng không thể đánh hỏng .
 
     Hai bài đó, nếu các bạn xem xét kỹ, sẽ giúp các bạn nắm vững thêm về Chương Pháp.
     Con đường đưa đến diệu xứ của Thơ còn xa lắm .
    
Nhưng trong BẰNG HỮU KIM KÝ của Nguyễn Đôn Phục có câu :
 
     Đất đã đắp cho nên núi, chín chày phải gắng công lao ;
     Đường dù đi đi dốc đến nơi, nghìn dặm chi nài khó nhọc .
 
     Mong các bạn đừng chán nản
 
 
 ==================================
 
 
  
 
QUÁCH TẤN
 
 Bức thư thứ hai mươi bốn
 
Các bạn thân mến,
 
     Còn một lối thơ nữa cũng rất được thông dụng trong các thi xã thi đàn. Đó là thơ CANH HỌA thường gọi là thơ HỌA VẬN .
     CANH HỌA hay HỌA VẬN là đáp họa lại những vận ngữ (hay vận cước) được dùng trong một bài thơ khác, tức bài xướng. Vì vậy người họa trước hết phải xem bài xướng diễn tả sự gì, vật gì, ý cảnh như thế nào, thì mới đáp họa lại được .
     Thơ CANH HỌA cũng là một lối thơ mà đề mục bị hạn chế như thơ Phú Đắc .
     Thơ CANH HỌA:
    
    Về mặt hình thức thì có 3 thể là Thứ Vận, dụng vận và y vận.
     Thứ Vận là dùng những vần mà theo đúng thứ tự của vần bài xướng . Đây là lối phổ thông nhất xưa nay . Như thơ Đông Hồ họa bài CÂY MAI của Tôn Thọ Tường đã dẫn trước đây, chẳng hạn.
    Dụng Vận là dùng những vần bài xướng mà không cần theo thứ tự, có thể đem lên đem xuống tùy nghi. Như bài THƠ XUÂN của chủ nhân Diễm Diễm Thư Trang xướng .
                  
                   Da ngọc ngà phô giấy nõn nường
                   Tóc huyền mun gợn mực yêu đương
                   Dịu thon lưng uốn đường sông núi
                   Trinh bạch lòng pha chút tuyết sương .
                   Xiêm áo phong phanh tờ lụa ngỏ
                   Phấn hồng thoang thoảng bụi hương vương
                   Nàng thơ kiều diễm Xuân kiều diễm
                   Chữ gấm lời hoa gửi bốn phương.
 
Vũ Hoàng Chương thứ vận :
Xuân mới ba mươi sáu nõn nường
Riêng cành mai cũ chiếm yêu đương
Dài sông nghĩa ấy tình cao núi
Pha tuyết thân này mặt nhuốm sương
Chẳng đợi đông quân làm đạo chủ
Vốn là hoa hậu sánh thi vương
Giang Nam mộng lẫn vào Giang Bắc
Trời bốn phương lòng chỉ một phương
 
Đông Hồ dụng vận :
 
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương
Tơ tình xưa để mối nay vương
Thơ lai láng khắp hồn kim cổ
Mực đậm đà thêm ý cỏ sương
Nhà ngọc mong treo vần diễm tuyệt
Lạng vàng dám đổi giá tương đương
Ơn nhờ son phấn duyên tri kỷ
Cho một lần Xuân một nõn nường
 
     Bài họa này, Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê gọi là “gấm vóc đảo canh tơ” tức đảo lộn ngược 5 vần, dưới lên trên, trên xuống dưới . Tuy đảo ngược song vẫn theo thứ tự trước sau, trước sau theo chiều ngược. Đó là theo ý thích của họa giả, chớ phép không buộc . Muốn để vần nào vào câu nào cũng được miễn là dùng những vần của nguyên xướng thì thôi .
     Y Vận là dùng những vần cùng một vận bộ với nguyên tác chớ không theo những vần nguyên tác đã dùng . Ví dụ nguyên tác dùng những vần “phương, vương, sương, đương, nường” thì họa giả dùng những vần “tường, thương, hương, chương, dương” chẳng hạn. Những vần họa và những vần xướng nằm trong một vận bộ, bộ ương.
     Lối Y vận không bó buộc, nhưng trong làng thơ quốc âm ít ai dùng ! Có lẽ thi nhân thấm lẽ ý nghĩa câu “nghệ thuật sanh nhờ nhờ bó buộc, chết vì tự do” (lárt nait de contrainte et meurt de liberté), nên mới đi tìm cái khó vậy !
      Về nội dung thì có 6 phép : SONG HÀNH, SONG LẬP, TƯƠNG ỨNG, TƯƠNG PHẢN, KHAI TRIỂN, BỒ KHUYẾT .
    Song Hành là đi song song với nhau, nghĩa là người xướng và người họa đứng trên một lập trường, cùng diễn tả một ý tưởng . Ví dụ bài của Phan Văn Trị họa vận bài TÔN PHU NHÂN QUI THỤC của Tôn Thọ Tường :
 
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn vầng mây bạc
Về Thục trau tria phận má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng
 
Tôn Thọ Tường
 
Bài họa
 
Cài trâm sửa trắp vẹn câu tòng
Mặt giả trời chiều biệt cõi Đông
Khói tỏa trời Ngô un sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng
 
 Phan Văn Trị
 
     Song lập là đứng song song với nhau. Khác với Song Hành là xong hành ý đồng. Song Lập là ý không đồng nhưng không phản . Nghĩa là Xướng cùng Họa đứng chung một địa phận, nhưng mỗi bên diễn mỗi ý khác nhau. Song hành giống như hai con sông chảy song song, nước bên sông này, hoặc ẩn hoặc hiện, hoặc khi ẩn khi hiện, giao tiếp với nước sông bên kia. Còn Song Lập thì giống như hai ngọn núi đứng song song và ngó
mặt về một hướng, trên mặt đất không thấy mối liên lạc với nhau. Tuy khác ý, song ý không ra ngoài đề bài, cũng như trên mặt đất không thấy có mối liên lạc với nhau nhưng dưới đất vẫn cùng một sơn mạch . Ví dụ bài NGÀY XUÂN TƯƠNG TƯ của Tản Đà xướng rồi tự họa ngược vần (dụng vận):
  
Trách cái tằm xuân nhả mối tơ
Làm cho bối rối mối tương tư
Sương mù mặt đất người theo mộng
Nhạn lảng lưng trời kẻ đợi thơ
Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa
Tương tư một mối hai người biết
Ai độc thơ này đã biết chưa ?
 
Hỡi giống đa tình đã biết chưa
Tơ tằm vương maĩ tự ngàn xưa
Gió mưa bốn bể hồn theo bạn
Vàng ngọc trăm năm túi nặng thơ               
Lửa đốt lòng son câu thế sự
Gương soi tóc trắng nỗi sầu tư
Thuyền nan sóng đánh tàu than hết
Giương cột giăng buồm một sợi tơ (*)
 
(*) hai bài Đông Hồ và Vũ Hoàng Chương họa THƠ XUÂN của Diễm Diễm thư trang trước đây, cũng thuộc về Song Lập.
 
     Tương Ứng tức là xướng hô họa đáp; hoặc hưởng ứng từng câu, từng đoạn, hoặc dồn ý cả toàn thiên đáp ứng lại.
     Phép trước như bài Nguyễn Khuyến hỏi thăm bạn mất cướp và ông bạn họa lại .
 
Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giữa đồng
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà da cóc có đau không
Bây giờ mới thấy trầy da trán
Ngày trước đi đâu mất mảy lông
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông
 
Nguyễn Khuyến
 
Ông thăm tôi, tôi trả ơn ông
Nó có lôi tôi đến giữa đồng
Những tưởng vun thu phòng lúc thiếu
Nào ngờ ky cóp lại như không
Chém cha thằng quỉ đen tai mắt
Chẳng nể ông già bạc tóc lông
Ông nhắn khuyên tôi tôi biết vậy
Thương ông tuổi tác cháu thì ngông
 
Ông bạn
 
Phép sau như bài Xướng họa của Ngân Giang và Vũ Hoàng Chương
 
VÔ ĐỀ
 
Mây trắng lang thang mãi cuối trời
Gió chiều heo hút khắp nơi nơi
Cung đàn đã mấy dây chùng hẳn
Mái tóc bao nhiêu sợi lạnh rồi
Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý
Mùa này chim nhạn có chung đôi
Thương thay trên quãng đường chia ngả
Thì ngả nào không có lá rơi
 
Ngân Giang
 
Lửa khóa mây then bốn vách trời
Về đâu mộng cũng chẳng đành nơi
Vẫn chưa ý gởi vào thơ được
Mà đã dâu toan hóa biển rồi
Ngọn gió nghe chừng xoay mãi hướng
Vầng trăng ai nỡ xẻ làm đôi
Tin xuân lạnh lắm rồng ao cạn
Há chỉ phòng thu lệ nến rơi
 
Vũ Hoàng Chương
 
    Tương Phản là Xướng và Họa đứng trên hai trận tuyến đối lập. Như bài của Đông Hồ mượn lời Nhị Kiều họa vận bài TÔN PHU NHÂN QUI THỤC của Tôn Thọ Tường và 10 bài liên hoàn Phan van Trị họa 10 của Tôn Thọ Tường :
 
I
Giang sơn ba tỉnh hãy còn đây
Trời đất xui chi đến nỗi này
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo
Mây tuôn đen nghịt khói tàu bay
Xăng văng chậm tính thương đòi chỗ
Thấp thỏm riêng lo tiếc những ngày
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay
 
II
 
Thày lay lại chác lấy danh nhơ
Ai mượn mình lo việc bá vơ
Trẻ dại giếng sâu lòng chẳng nỡ
Đường xa ngày tối tuổi không chờ
Áo xiêm chán thấy xăn tay thợ
Xe ngựa nào toan gỡ nước cờ
Rủi rủi may may đâu đã chắc
Miệng lằn lưỡi mối hãy tai ngơ
 
 
 
BÀI HỌA
 
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây
Chẳng đã nên ta phải thế này
Bến Nghé quản bao cơn lửa đỏ
Cồn Rồng đâu mặc bụi tro bay
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở
Bủa lưới săn nai cũng có ngày
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ
Lòng ta sắt đá há lung lay
 
II
 
Lung lay lòng sắt đã mang nhơ
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ
Người trí mảng lo danh chẳng chói
Đứa ngu luống sợ tuổi không chờ
Bài hòa đã sẵn in tay thợ
Cuộc đánh hơn thua giống cuộc cờ
Chưa trả thù nhà đền nợ nước
Dám đâu mặt lấp lại tai ngơ
 
Phan Văn Trị
 
     Khai Triển là nói thêm, bàn thêm những gì nguyên xướng đã nói đã bàn rồi nhưng chưa đủ, chưa trọn. Hoặc dựa vào nguyên xướng mà diễn thêm những ý mới làm cho ý nghĩa bài nguyên xướng thêm rộng rãi, rõ ràng .
 
     Bổ Khuyết là bổ sung vào nguyên xướng những điều đáng nói mà nguyên xướng không nói vì quên hay không tiện nói ra .
     Tức là Khai Triển là mở rộng ý nguyên xướng. Bổ khuyết là thêm ý vào cho nguyên xướng . Hai bên đều thêm, nhưng một bên thêm vốn vào (bổ khuyết), một bên lấy vốn cũ gây thêm lời mới (khai triển).
     Xin lấy những bài xướng họa trong bữa lễ mừng thọ “Thất Tuần” của ông bạn La Dung cách đây chừng mười năm. Bài xướng của La Dung :
 
Non Hành sông Cấm hộ trì ta
Ngất nghểu trời Nam trẻ đến già
Bảy chục xuân rồi không lận bận
Bao nhiêu thu nữa chẳng bôn ba
Trăng lồng chén cúc hương say mộng
Mây trải đình lan bút trổ hoa
Lọ phải lên non tìm thuốc lạ
Linh chi sẵn cỏ mọc quanh nhà .
 
     La Dung là một nhà giáo hưu trí, sính thơ, háo khách, cùng gia đình sống trong cảnh phú túc phong lưu. Bài thơ, văn chương tao nhã. Song đọc lên độc giả chỉ thấy là ông bảy mươi sung sướng từ nhỏ đến lớn, chớ không biết rõ thân phận hung hoài tác giả như sao. Thơ họa có trên 50 bài, song phần nhiều hoặc “cùng tác giả nắm tay nhau mà đi” (song hành), hoặc “đem mình ra đặt song song cùng tác giả để đọ thấp cao” (song lập). Cho nên thơ họa tuy nhiều mà không làm cho nguyên xướng sanh thêm hương sắc. Riêng lấy làm thích được hai bài, một của Hiểu Lam, một của Định Phong :
 
Rượu bảy tuần nâng chúc bạn ta
Bao nhiêu tuần nữa cũng chưa già
Song Nam dẫu gác roi Trình Tử
Trận bút còn hăng tiết Phục Ba
Chẳng bến Đồng Giang phò chín đảnh
Cũng vườn Kim Cốc nhóm trăm hoa
Hỡi ai xa xứ tìm danh lợi
Chớ thấy phong quang đến lộn nhà
 
Hiểu Lam
 
Tiệc thọ Trung tuần mừng bạn ta
Vườn hưu cây kiểng thắm duyên già
Trăng treo viện bút hài tiên nữ
Hương rớt đàn xuân gió hạnh ba
Lầu phụng thanh thanh tiêu trổi ngọc
Tờ mây dợn dợn ráng in hoa
Diệu Trì nhón bước lên cao hái
Quả phước đem chia khắp mọi nhà
 
Định Phong
 
     Bài của Hiểu Lam vừa khai triển vừa bổ túc . Bài của Định Phong vừa bổ túc vừa khai triển nghĩa là Hiểu Lam lấy việc khai triển làm chính . Định Phong lấy việc bổ túc làm chính .
 
     Tác giả La Dung bảo từ trước tới giờ và từ nay về sau, mình không bị danh lợi làm bận rộn, nên trong đời mới hưởng được thú phong lưu . Hiểu Lam nói rộng ra : Nói là không bận rộn là không bận rộn về danh lợi, chớ trước kia bạn đã lo trọn đạo làn thầy được học trò quý mến chẳng khác thầy Trình ngày xưa . Bây giờ về vườn bạn lại hăng say trong nghề ngâm vịnh, hăng say chẳng kém Mã Viện đối việc chiến chinh . Đó là không bận rộn trong chốn bận rộn một cách sinh động . Thú vui của bạn, thú vui nên thơ nên mộng kia, tuy không có ảnh hưởng đến nhân tâm thế đạo bằng thú đi câu của Nghiêm Tử Lăng đời Hán tại Đồng Giang, song vẫn cho những hạng người say đắm vào nẻo lợi đường danh cam thấy rằng không phải chỉ có kim ngân và địa vị là quí . Bạn lại không ích kỷ hưởng thú một mình . Hoa viên của bạn là Tiểu Kim Cốc của Thạch Sùng còn để lại . Bạn thường nhóm thân hữu thân bằng lại để cùng bạn chung vui … Vì vậy cho nên những người buôn danh bán lợi chớ thấy cảnh giàu sang của bạn mà tưởng lầm là “một hội một thuyền với mình”.
     Bài của La Dung chỉ nói riêng về cá nhân tác giả, đọc lên chúng ta cảm thấy tác giả chỉ nghĩ đến mình, chỉ chăm hưởng thú một mình, không chút chú ý đến người chung quanh, cả đến những người thân cận nhất là vợ con … Sợ người ta hiểu lầm bạn mình, Hiểu Lam mở rộng những ý “đã diễn tả chưa trọn” của bạn ra để thuyết minh với những bằng chứng cụ thể là việc làm quá khứ cùng hiện tại của bạn, hầu mong duyệt giả đừng hiểu lầm rằng bạn mình là một con người ích kỷ .
 
     Hiểu Lam vừa khai triển vừa bổ túc là vậy đó .
 
     Còn Định Phong thấy La Dung chỉ nói đến cái thú mình hưởng chớ không nói đến cái cảnh mình đã sống và đường sống, nên mới đem cảnh trước mắt và chảnh đã qua, bổ sung vào chỗ khiếm khuyết; Cảnh đẹp của đình hưu , danh thơm còn sót lại của bậc thầy học gương mẫu, cảnh hạnh phúc trong gia đình, tài văn chương của bạn. Và nhân bạn tự đắc về “cỏ tiên sẵn có” Đình Phong lại khuyên nên bước thêm một bước nữa … đừng nghĩ riêng một mình mình mà nên nghĩ đến “mọi nhà trong xã hội”, như thế mới là hoàn hảo .
 
     Đó là bổ túc và khai triển .
 
     Những bài thơ thượng dẫn là những bài đã được nhiều người tán thưởng. Nhưng có phải là những bài theo đúng qui tắc thơ canh họa hay chăng ?
    
     Muốn biết đúng hay sai, xin nói thêm về qui luật .
    
   Họa vận phải theo 3 qui luật, ngoài những phép tắc đã nói trên , là :
 
1- Bài họa phải cùng một thể luật như bài xướng, nghĩa là hễ bài xướng thất ngôn luật bằng thì bài họa cũng vậy .
2 – Những vần của bài họa phải cùng một nghĩa với những vần bài xướng . Ví dụ vần bài xướng là đường là con đường thì bài họa cũng vẫn phải dùng vần đường với nghĩa con đường chớ không được dùng đường là đường mía, hay đường là nhà … Vần bài xướng là vần châu là hạt châu thì không được dùng trong bài họa chữ châu là châu quận hay châu là thuyền
3 – Những chữ đứng trước vận ngữ bài họa, tức chữ thứ 6 trong câu bỏ vần, đều không được trùng với chữ đứng trước vận ngữ, tức chữ thứ 6 trong câu bỏ vần, bài xướng …
 
     Ba qui luật này được triệt để tuân thủ trong thơ chữ Hán. Nhưng trong thơ Quốc Âm, nhất là từ khi chữ Hán cáo chung, thì không còn được áp dụng một cách chặt chẽ nữa. Qui luật thứ 3 về chữ đứng trước vận cước, còn được phần đông thi nhân tuân theo. Hai qui luật trên, về thể luật và nghĩa của vần, không còn được mấy ai để ý. Chúng ta chỉ xem những bài thượng dẫn thì đủ thấy . Không mấy bài giữ đúng qui luật , bài thì phạm qui luật này bài thì phạm qui luật kia, có bài phạm đến hai qui luật, như bài Định Phong họa vận bài Thất Thập Tự Thọ của La Dung: bài xướng theo luật bằng (Non Hành: bằng bằng), bài họa theo luật trắc (Tiệc rượu: trắc trắc). Bài xướng hạ vần ba (trong bôn ba) chữ Việt, bài họa dùng vần ba (hạnh ba) là chữ Hán. (*) Bài của Hiểu Lam cũng bị lỗi ở vần ba. Bài Vũ Hoàng Chương và Đông Hồ họa lại Thơ Xuân của Diễm Diễm thư trang, vừa lỗi ở vần (xướng: yêu đương – họa: tương đương: xướng: hưng vương – họa: thi vương) Vừa lỗi ở chữ đứng trước vần (xướng : nõn nường – họa : nõn nường). Bài phan văn Trị họa bài TÔN PHU NHÂN QUI THỤC của Tôn Thọ Tường, bị phạm lỗi về thể luật (bài xướng : luật trắc – cật ngựa : trắc trắc; bài họa : luật bằng – cài trâm : bằng bằng), v.v…
         Phạm luật nhưng sự vi phạm ấy không làm giảm giá trị bài thơ . Cho nên thi nhân không bận tâm là phải. Phạm luật mà hay còn hơn đúng luật mà dở . Nhưng vừa không phạm luật vừa hay thì mới thật là diệu thủ !
 
      Thơ xướng họa là một lối thơ thù tạc, một lối thơ tiêu khiển.
      Để mua vui với nhau, làng thơ còn bày ra nhiều lối thơ khác nữa . Thông dụng ngang ngang với thơ Canh Họa là thơ Phân Đề .
 
     PHÂN ĐỀ cũng gọi là thám đề, là chia ra để làm với nhau : người ta viết ra nhiều đề mục vào những mảnh giấy nhỏ gấp lại, mỗi người rút mỗi mảnh, ai trúng đề mục về sự gì, vật gì thì theo đó mà giải thích.
     Vận thì hoặc để cho tự do lựa chọn, hoặc hạn một vần nào đó, hoặc dùng cách Phân Vận .
 
     PHÂN VẬN:
 
         Cách phân vận cũng như cách Phân Đề. Người ta đưa ra một số chữ, mọi người rút lấy một chữ, ai rút trúng chữ nào thì dùng chữ ấy làm vần. Không phải chỉ riêng thơ Phân đề mới dùng cách phân vận. Cách này dùng chung cho mọi loại thơ tiêu khiển. Thơ khi ấy gọi là “phân vận đặc mổ tự” (mỗ là một chữ nào đó. Ví dụ rút được trong chữ hương thì nói “đắc Hương tự” chẳng hạn). 
 
     Nói tóm lại những loại thơ phân đề, họa vận cũng như thí thiếp, nghĩ tác, là những loại thơ mà đề mục bị hạn chế. Còn thơ làm ra do hứng, theo thích, thì đề tài được tự do lựa chọn, đề mục được tự do mệnh danh; tự do chọn đề, tự do đặt tên đề, song thân bài vẫn phải sát đề cũng không được lậu đề, phạm đề .
 
     Nói về thơ mà đề bị hạn định, bấy nhiêu tưởng cũng đã tạm đủ. Hễ loại thơ này thông thạo, thì loại kia không còn khó khăn .
 
(*)Vần Ba(hạnh ba) ở đây, nếu nghiêm khắc thì bị đánh hỏng, vì ba tức là hoa mà vần họa lại dùng ở luận, bị lỗi điệp vận. nhưng vì theo vần quốc ngữ, ba là hoa khác âm khác mặt chữ, thêm văn chương bài thơ khả ái nên được duyệt giả thông qua .
 
QUÁCH TẤN



Dòng thơ thi sĩ Võ Thạnh Văn

 

                                                Phù Hư Dật Sĩ Võ Thạnh Văn

   Nhà thơ Phù Hư Dật Sĩ Võ Thạnh Văn sinh năm 1949 tại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.
SVTBSQ K/1/70/TBB/Thủ Đức; Sĩ quan Phi Công Chinook CH-47.

   Đại học Luật khoa Huế 1972-1975, ĐH Hungtinton, Montgomery, Alabama, 1975/76; ĐH UTA Texas, 1976-79.

   Định cư tại Hoa Kỳ (Alabama, Florida, Georgia, Texas, California) Hiện cư trú : Phù Hư Am, Bắc California.

   Làm thơ : từ 1964; Nhiếp ảnh tư 1975; Viết Văn : 1982; Viết Báo, làm báo : 1985-88. Soạn tự điển : 1995.

   Hiện làm cho nhật báo Investment Business Daily (IBD); Marin Independent Joủnal (IJ).

   Hoạt động văn nghệ : Thư ký Ban Chấp Hành Văn BÚt Việt Nam Hải Ngoại Bắc Mỹ (1006- )

   Nhà Thơ Phù Hư Dật Sĩ Võ Thạnh Văn và tôi gặp nhau trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật tại San Jose, Bắc California và cùng làm việc với nhau trong Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, nhiệm vụ của anh Phó chủ tịch Ngoại vụ.

 Chúng tôi đã lưu lại cho nhau nhiều cảm nghĩ tốt đẹp về bạn của mình để cộng tác lâu dài về hoạt động văn hoá.  Võ Thạnh Văn dễ chinh phục nhân tâm bằng cách sử thế nhã nhặn, khiêm cung và trịnh trọng trong sự tương kính, vui vẻ với người đối diện.

 Thơ, văn là người, nên đọc thơ văn cuả Võ Thạnh Văn tôi không ngạc nhiên với những vần điệu êm đềm, chau chuốt và thỉnh thoảng có những từ ngữ lạ xuất hiện trong thơ của anh, chính vì những từ ngữ lạ này đã tạo cho nhà thơ Võ Thạnh Văn một chỗ đúng riêng biệt trong văn học nghệ thuật với hướng đi truyền thống ngàn đời của dân tộc đấu tranh cho quê hương.

 
   Xin mời quí vị đọc một số thơ của Nhà Thơ Võ Thạnh Văn để có cái nhìn đúng về con người của Võ Thạnh Văn.    
                                                                                       
Chinh Nguyên

Xin click vào dấu  (Bookmark) để mở PDF file

Sau khi mở PDF file click vào dấu Bookmark một lần nữa

để quí vị có mục lục theo từng bài thơ muốn đọc. 




Dòng Thơ Đỗ Thị Minh Giang : Thơ Hoa : Còn Trong Giấc Mơ (MG) & Giấc Mơ Xưa (DA)

                

            

        

     

       

   

          

     

                 

       

              

           

               

 

              

        

  
     

26-7-09

Giấc Mơ Xưa

Em mơ nơi tiền tuyến

Nhớ đi nhặt nắng chiều

Thầm Lặng ,

 

Xưa anh qua nhà em

Lặng lẽ trong màn đêm

Mòn bao nhiêu đôi dép

Cho tình đong đầy thêm .

 

Mỗi buổi tan trường về

Nhẹ bay mái tóc thề

Chân khẽ bước theo sau

Anh mơ lời ước thề .

 

Tình đầu đã thầm trao

Lòng nghe nhiều xuyến xao

Sao anh không bày tỏ

Để duyên mình phai màu .

 

Anh nặng nợ chiến chinh

Đành gác mối ân tình

Em cánh hoa hàm tiếu

Hương sắc ánh bình minh .

 

Cuôc đời trôi nổi trôi

Đành lìa xa mà thôi

Làm sao ta quên được

Dù hai ngã cuộc đời .

 

Anh về gặp lại nhau

Sóng lòng gợn lao xao

Bốn mươi năm nhanh quá

Nghe dâng nỗi nghẹn ngào .

 

Chỉ nhìn thầm lặng thôi

Tất cả đã qua rồi

Bóng chiều ngoài khung cửa

Tia mắt buồn xa xôi .

29-7-09

ĐT Minh Giang .

SILENCE

 

I passed by your house

Silently in the dark curtain

Worn out how many pairs of sandals

For my love filled up more and more.

 

Each time from the school back

Lightly flies your hair hanging

Softly I walk after you

And I dream of an love oath

 

Love seems silently given

My heart feels agitated

Why do not I express

For our love fading

 

I indebt war debt

I resign to put aside my love

You are like a flower ready to bloom

Scent and beauty dawn light

 

Life floats and floats

I resign to go far away

Why can I forget it

Though life now bifurcated

 

I come back and meet you

Heart wave rippled and rippled

Forty years go very fast

I feel at suffocation

 

Only silently watch

All passed away yet

The dusk is outside

Eye light is bluer and bluer

Tin H. Chu 06-08-2009 (100.0)A

                                                                                       MƯỜI SÁU NGÂY THƠ ,

 

 

Năm em mười sáu tuổi

Anh lủi thủi đi theo

Con nít vừa mới lớn

Dám nghĩ gì chuyện yêu .

Trường sát bên ven biển

Hai lớp kề cận nhau

Gió mặn mòi thổi vào

Căng phồng thời niên thiếu .

Em sợ quá lẩn trốn

Vì còn thích ngây thơ

Không muốn thành người lớn

Sợ phải vỡ mộng mơ .

Gần mười năm gặp lại

Em qua thuở đôi mươi

Anh đã là lính trận

Kỷ niệm dịu dàng trôi .

Ba mươi năm không gặp

Một khoảnh khắc nào qua

Trong cuộc đời chúng ta

Chuyện xưa ai còn nhớ.

Xin quá khứ ngủ êm

Giấc bình yên nôi hồng.

Dtmg 12-07

THE INNOCENT AGE OF SIXTEEN

 

 

When I was sixteen.

You follow me lonely

A child just grown up.

Not dare to think of love

My school at coast side

Two classes nest door

The savory wind blows in

It wells out the teen age

I so fear and hide

Because I like innocence

Not want to become a grown up

Fearful a dream broken

Nearly ten year meet you again

You pass twenty age

I was a soldier

Soft souvenir gently flows

Thirty years not meet

A moment passed by

In our life

Old stories no one can remember

Please the past sleep well

Peaceful sleep in a rosy cradle

Tin H. Chu 02-08-2009 (100.0)

           

CÒN TRONG GIẤC MƠ ,

 

Em mơ mặc áo hoa

Bên anh xinh mặn mà

Người trai miền chiến tuyến

Sa trường nắng rám da .

Nước non tình nghĩa nặng

Tay súng giữ biên cương

Mong ngày mai chiến thắng

Anh về nói lời thương .

Tiếng yêu sao nghẹn ngào

Để rồi lỡ đời nhau

Ta ngồi trong bóng chiều

Tay lần đếm niềm đau .

Trong đáy tim ai giữ

Mối tình đẹp ngày xưa

Cuối đời thân lữ thứ

Cũng đành chuyện gió mưa .

Xin một lần gặp lại

Dù biết chẳng làm gì

Những ngày xưa thân ái

Buồn theo cánh chim di .

26-7-09

ĐT Minh Giang

STILL IN DREAM

 

I dream of wearing a multi-colored long dress

At your side I am pretty and passionate

The young man in front line

In battlefield you are tanned

The country you are strongly affected

Guns in hands you protect the country

I wish tomorrow be a victory

Back you say to me your love words

Love words why do the suffocate

Then it make our life half way

We sit in early eve sunlight

By hands we count the pain

In deep heart who keep

Beautiful love in the past

At the end of a hotel life

Must resign to expose to the wins and the rain

Please once we meet again

Though not know what doing

Our precious days in the past

Sadly gone with the wind.

Chu H. Tin 01-08-2009 (100.0)

 

 




Đầu Xuân Bàn Chuyện Dịch Thơ.

Mac Giao — van hoa Viet bi VC tan pha
Thursday, November 20, 2008 12:23 PM
KÍNH NHỜ PHỔ BIẾN CHO VIỆTNAM
ĐẦU XUÂN
LẠI BÀN CHUYỆN DỊCH THƠ
MẶC GIAO
Đầu năm 2007, tôi có cho đăng trong Giai Phẩm Xuân Đinh Hợi Việt Nam xuất bản tại San Jose bài “Đầu Xuân Bàn Chuyện Dịch Thơ”. Xuân năm nay tôi lại xin bàn tiếp về cùng đề tài. Trong bài này, tôi sẽ diễn dịch và chứng minh thêm là thơ rất khó dịch từ ngôn ngữ nọ sang ngôn ngữ kia, bởi vì mỗi ngôn ngữ có nét đặc thù và cái hay riêng. Nếu dịch đúng từng chữ, người đọc chưa chắc hiểu. Nếu dịch kiểu giải thích cho rõ ý thì lời dịch sẽ hết là thơ. Làm sao lột được ý của những câu thơ Kiều của Nguyễn Du
tiếc thay một đoá trà mi
con ong đã tỏ đường đi lối về
Đọc hai câu dịch sau đây, liệu người ngoại quốc có hiểu Nguyễn Du nói gì không và có cảm thấy mấy câu thơ này hay như chúng ta cảm không?
Alas! The devilish bee, with his suckling spout,
Through that camellia went his way in and out
(Lê Cao Phan dịch)
Một câu Kiều khác cũng trong hoàn cảnh tương tự
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung
She thought, “Had I known that deep I should lower
I’d better have let him pick my prime flower”
(Lê Cao Phan dịch)
Tôi xin chứng minh thêm lập luận này bằng một thí dụ khác: Vũ Hoàng Chương là người hay dùng điển tích. Bài thơ sau đây của ông có những chữ khi dịch sang ngoại ngữ vẫn phải để nguyên tiếng Việt, ai hiểu thì hiểu, không hiểu thì đọc chú thích bên dưới. Nếu không đọc thì làm sao biết được sự tích “Châu về Hợp Phố” và câu thơ “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự” của Trương Kế?
XUÂN BÁO NỬA ĐÊM
Bên trời vẳng báo xuân sang
Giữa khi Hợp Phố mơ màng về châu
Gác nằm hiu quạnh bấy lâu
Nửa đêm chợt nổi cái sầu Cô Tô
LE PRINTEMPS S’ANNONCE À MINUIT
De l’horizon accourt la nouvelle: “le printemps vient”
Et à ce moment Hợp Phố rêve au retour de ses perles précieuse
Là-haut, je m’entends, depuis longtemps solitaire
Il est minuit et toute la mélancolie de Cô Tô me pénètre
(Simone Kuhnen De La Coeuillerie dịch)
Dịch ý, dịch lời đã khó như vậy, nhưng còn một thứ khó hơn là dịch tứ thơ. Tứ thơ là một cái gì rất khó định nghiã. Nó là một ý, một lời làm cho người đọc sững sờ thích thú. Nó xác định câu đó là một câu thơ, không phải văn xuôi
Muôn mầu chen dự lễ đăng quang
Biển nước xanh lơ biển cát vàng
Hoa tím buông lơi sườn cỏ biếc
Ôi rừng trinh bạch đảo hồng hoang
(Vũ Hoàng Chương)
A myriad of colours jostled, attending my Coronation-day
Water-sea’s navy blue mixed up with sand-sea’s golden
Hanging on green grassed slopes, bunches of purple flowers swayed
O! white-virgin jungles! Rosy-deserted islands!
(Nguyễn Khang dịch)
Cái hay của bốn câu thơ trên vừa ở ý (ngày đầu con người được sinh ra để làm chủ vũ trụ), vừa ở lời, vừa ở hình ảnh. Những câu thơ dịch đã lột được ý của tác giả và đã nhấn mạnh những mầu sắc làm nên một bức tranh hài hòa. Tuy nhiên những ý và lời tạo nên tứ thơ thì khó dịch nổi. Chẳng hạn “buông lơi” được dịch là “swayed” có nghiã lúc lắc, đung đưa. Khó có chữ nào khác dịch hay hơn.
Nhưng qủa tình không diễn tả được hết ý tứ về những chùm hoa tím buông lơi, buông thả một cách hững hờ, như thể muốn quyến rũ người ngắm. Cũng vậy, tiếng kép “hồng hoang” không chỉ có nghiã là “hoang vắng hồng” (rosy-deserted) , nhưng diễn tả thuở khai thiên lập địa, lúc con người vừa được sinh ra và vừa khám phá ra vũ trụ. Đó là những tứ thơ cả lời lẫn ý, khó dịch vô cùng.
Vì dịch sát nghiã khó hay và khó hiểu, nên các dịch giả thơ (tôi không nói văn xuôi) thường dựa vào ý thơ để “tái sáng tác” bài thơ bằng một ngôn ngữ khác. Như vậy may ra mới có một bài thơ dịch hay. Có thể nói dịch giả cũng là người “đồng sáng tác”. Tôi xin dẫn chứng vài thí dụ
TĨNH DẠ TỨ CỦA LÝ BẠCH
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
Tôi dịch sát nghiã như sau:
Đầu giường trăng sáng tỏ
Mặt đất như mờ sương
Ngửng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương
Nhà văn Toàn Phong đã “sáng tác” một bài dịch khác với những chữ thêm vào cho bài thơ du dương hơn:
Đầu giường trăng sáng như gương
Tưởng như mặt đất dãi sương mịt mùng
Ngửng đầu trăng sáng trên không
Cúi đầu luống những trạnh lòng nhớ quê
Hai câu thơ của Thôi Hộ
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Nếu dịch sát nghiã “Không biết mặt người đã đi đến chốn nào? Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ” thì nghe chẳng có chất thơ chút nào. Phải nhờ đến thiên tài Nguyễn Du “sáng tác lại” thì hai câu thơ dịch mới thật có hồn
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Vì dịch thơ khó như thế nên ông Võ Phiến mới phát biểu một câu rất chí lý: “Cái gọi là thơ” thì dịch được, “cái thật là thơ” thì không dịch được” (Võ Phiến, Đàm Thoại, tr 268. Văn Mới, Hoa Kỳ 2000).
Nói về trường hợp thơ chữ Hán được dịch sang thơ chữ Việt, chúng ta thấy những câu dịch có vẻ thoải mái hơn, dễ lột được cái hay của câu thơ chữ Hán hơn. Sở dĩ vậy là vì trước hết các văn nhân thi bá Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc hàng ngàn năm. Những thể thơ và điển tích Trung Hoa đã trở thành thông thường đối với người làm thơ và đọc thơ Việt Nam.
Thứ đến, các cụ ta lại khôn ngoan biến tiếng Hán thành tiếng Hán Việt để vừa bảo tồn tiếng Việt (Thí dụ tiếng Quan Thoại nói ‘Chúng Hỏa Min Quơ’, các cụ đổi thành ‘Trung Hoa Dân Quốc’), vừa cho tiếng Hán năm âm bậc tương đương với nặng, sắc huyền, hỏi, ngã của tiếng Việt. Nhờ thế, nhiều khi chúng ta đọc những câu thơ tiếng Hán, dù không hiểu nghiã, vẫn thấy rất hay. Đôi khi thơ dịch sang tiếng Việt còn hay hơn nguyên tác. Thí dụ:
Cổ bề thanh động tràng thành nguyệt
Phong hỏa ảnh chiếu cam tuyền vân
(Đặng Trần Côn)
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Những câu dịch sau đây mới thật tuyệt diệu:
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch thượng tang, mạch thượng tang,
Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường
(Đặng Trần Côn)
(Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy)
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Dịch thơ chữ Hán của tác giả người Hoa, dịch thơ chữ Hán của tác giả người Việt như tác phẩm Chinh Phụ Ngâm vừa trích dẫn trên đây, các cụ còn dịch thơ chữ Hán của chính mình sang tiếng Việt. Như vậy là các cụ sáng tác hai lần. Chúng ta hãy đọc những câu thơ tự dịch của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Có những bài chúng ta không ngờ là cụ sáng tác bằng hai thứ tiếng
Hữu thời xuất kinh lộ
Không sơn văn lạc tuyền
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo
Hữu tửu vị thùy mãi
Bất mãi phi vô tiền
Hữu thi vị thùy tả
Bất tả phi vô tiên
Trần phồn tháp bất hạ
Bá Nha cầm diệc nhiên
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo chẳng viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa?
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia muốn gảy, ngẩn ngơ tiếng đàn
Từ thơ ngũ ngôn chữ Hán, cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã chuyển thành thơ song thất lục bát Việt Nam rất tài tình.
Dịch thơ là một việc hao tâm tổn trí. Tôi chỉ đưa vài nhận xét và không dám phê bình ai. Muốn có một bài thơ dịch hay, người dịch phải thông hiểu cả hai ngôn ngữ, phải biết xử dụng ngôn ngữ dịch một cách thành thạo, phải có tâm hồn đồng điệu với tác giả và phải biết cộng tác với tác giả để tái sáng tác bài thơ. Vì vậy chúng ta đừng mong độc giả ngoại quốc mê thơ Kiều khi đọc bản dịch như chúng ta mê khi đọc bản quốc văn.
DỊCH THƠ THỜI ĐẠI
Ở phần trên, tôi đã góp ý thêm về việc dịch thơ của các thi hào nổi tiếng, với những vần thơ văn hoa, chải chuốt, thuộc giòng thơ cổ điển. Tiếp theo đây, tôi xin nói về việc dịch thơ của thời đại mới, với những vần thơ mới. Việc dịch thơ thời đại mới có hai đặc điểm: Một là chỉ chú trọng dịch cho xát nghiã, lột được ý câu thơ, không cần hoa hoè hoa sói. Hai là việc dịch thơ đôi khi trở thành một trò chơi giải trí với những ý và lời rất ngộ nghĩnh, gây nhiều thú vị.
Thơ thời đại được dịch nhiều nhất là thơ có tính đấu tranh. Thí dụ thơ của Nguyễn Chí Thiện được Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ và in thành tập dầy 550 trang có tựa đề “HOA ĐỊA NGỤC – THE FLOWERS OF HELL” Chúng ta hãy đọc vài bài cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh
TÔI IM LẶNG
Tôi im lặng khi kẻ thù hành hạ
Sắt thép đưa vào, đau đớn hôn mê
Câu chuyện anh hùng để trẻ con nghe
Tôi im lặng chỉ vì tôi tự nhủ:
Có ai đi rừng gặp loài dã thú
Lại mở mồm kêu xin chúng thương tha?
I KEEP SHUT
I keep shut my mouth when tortured by enemy
He may resort to iron & steel create unbearable pain
I still keep my mouth shut – leaving tales of heroism
To children – only because I told myself:
Can one imagine running into wild beasts in the forest
And swoop down to plead with them for one’s life?
TRONG BÓNG ĐÊM
Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lớp người đói rét
Phục sẵn những đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử
IN THE NIGHT
In this stifling night
There lies in wait a sun
Unspoken suffering
Hides nothing but thunder and lighting
In the starved and shivering millions
Are thousand armies
When a new era comes
All will go off like an atom bomb
BÁC HỒ RỒI LẠI
Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác mầu hồng
Nước da các cháu nhi đồng mầu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò!
UNCLE HO AND NOW UNCLE TON
Uncle Ho and now we have Uncle Ton
Both are fond of embracing our kids
The uncles’ complexion is rose-tinted
But the children’s in fact is pale blue
In between the uncles’ arse-like flat faces
Red scarves fly around thin-necked skinnies
Bài thơ cuối đã trở thành ca dao mới, không ngờ lại là thơ của Nguyễn Chí Thiện. Bản dịch Anh ngữ của Nguyễn Ngọc Bích cũng rất tới. “Mặt bành bành” mà dịch thành “arse-like flat faces” (mặt bẹt như mông) thì hết chỗ chê.
Đặc tính thứ hai của thơ dịch thời đại là tính khôi hài. Cũng ông Võ Phiến đã phát giác ra những câu thơ nửa tiếng Việt nửa tiếng Triều Châu của đồng bào Việt gốc Hoa vùng Bạc Liêu:
Chờ anh em mãn kiếp chờ
Chờ cho ến xại vượt bờ khùi ui
(Chờ cho rau muống vượt bờ nở bông)
Chim kêu ngồ ố, láng dài
A hia xủa bố, a mùi ùm chai
(Anh đi lấy vợ, em rày chẳng hay)
Những câu lục bát giao lưu ngôn ngữ này làm tôi nhớ tới một câu thơ một bà me Tây gửi cho ông chồng đã về Pháp
Từ khi “toa kít-tê dơ”
“Bon nơ” cũng lắm, “man lơ” cũng nhiều
( “Toa kít-tê dơ”: Toi quitter je: anh rời bỏ em. “Bon nơ”: Bonheur: hạnh phúc. “Man lơ”: đau khổ, bất hạnh)
Thời buổi này, khi người ta muốn tống khứ những uẩn ức ra khỏi lòng, người ta hay trao đổi với nhau những điều gọi là khôn ngoan, nhưng thật ra là than thân trách phận bằng một giọng cố làm ra vẻ tếu để giảm bớt sự bi thảm. Cách đây 3 năm, 2004, tôi có nhận được một “message” của Vũ Thư Nguyên in lại Mười Điều về Hôn Nhân bằng Anh ngữ, bên cạnh có dịch sang Việt ngữ bằng thơ lục bát. Tôi không biết ai là tác giả của những bài dịch này. Tôi thấy hay và đã đóng góp với anh em bằng cách hiệu đính lại một số câu, chữ cho xát nghiã. Thí dụ những câu sau đây:
Marriage and love are purely matter of chemistry
That is why wife treats husband like toxic waste
Hôn nhân cùng với ái tình
Như hai hóa chất rập rình hút nhau
Thế nên bà vợ về sau
Coi chồng như chất độc mầu da cam
A man is incomplete until he is married
After that, he is finished
Đàn ông không vợ chưa hùng
Vợ rồi là kể… cáo chung cuộc đời
Cuối cùng là một truyện kể thêm chưa ai chịu dịch. Tôi đánh liều dịch đại. Xin các bà các cô đừng hỏi tội tôi. Tôi chỉ là người dịch tài tử, không chuyên nghiệp, nhất là không phải tác giả của truyện này:
A long married couple came upon a wishing well.
The wife leaned over, made a wish and threw in a penny.
The husband decided to make a wish too.
But he leaned over too much, fell into the well, and drowned.
The wife was stunned for a moment
but then smiled: “ IT REALLY WORKS!”
Một đôi đã lấy nhau lâu
Đứng trên miệng giếng nguyện cầu nỗi riêng
Bà cầu và ném đồng tiền
Ông nghiêng mình khấn, ngã liền giếng sâu
Bàng hoàng một thoáng chẳng lâu
Bà cười tủm tỉm: “TA CẦU ĐƯỢC NGAY!”
Dịch thơ là để giới thiệu với người ngoại quốc văn chương của nước mình. Trong hoàn cảnh hiện nay chúng ta lại càng cần dịch nhiều hơn cho những người trẻ Việt Nam sống ở nước ngoài có thể đọc và hiểu về văn học quê hương. Tôi không có chuyên môn dịch thuật, chỉ chú tâm sưu tầm những bài đã được các vị khác dịch để giới thiệu những nét hay đẹp của thơ Việt Nam. Trong thời buổi giao lưu đủ thứ, giao lưu văn hóa phải được đặt lên hàng quan trọng. Chúng ta cần biết người và cũng cần người biết chúng ta. Chính vì vậy mà tại Nhật, cũng như tại nhiều quốc gia tiến bộ khác, số sách ngoại quốc dịch sang tiếng Nhật được xuất bản mỗi năm cũng ngang ngửa như số sách viết bằng tiếng Nhật.
Nói chuyện dịch thơ nhân buổi đầu xuân cũng là để tìm lại chút hương xưa, để đưa hồn về với những mùa xuân đã đi qua trong mộng tưởng. Nơi đất khách quê người, xuân vẫn về nhưng chúng ta không có cảnh xuân quê hương, không được hưởng không khí xuân, tình cảm xuân như khi còn ở quê nhà. Trong khi đó, nhìn về quê hương, ta thấy đa số đồng bào cũng đón xuân theo kiểu “Vui là vui gượng kẻo là”. Chúng ta ở “bên trời lận đận” cũng chỉ còn biết nâng chén rượu cay, ngâm câu thơ của cụ Tiên Điền để chia sẻ nỗi niềm với nàng Kiều
Mặc người mây Sở mưa Tần
Những mình nào có biết xuân là gì
Offrait-elle aux clients les délices entières,
Nul désir ne venait pour ses joies printanières
(Lê Cao Phan dịch)
SÁCH THAM KHẢO
– Communion Cảm Thông, Vũ Hoàng Chương, Sài Gòn 1960. Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ.
– Tâm Tình Người Đẹp, Vũ Hoàng Chương, Editions Nguyễn Khang, Sài Gòn 1961.
– Chinh Phụ Ngâm và tâm thức lãng mạng của kẻ lưu đầy, Lê Tuyên, Văn Nghệ tái bản tại Hoa Kỳ, 1988.
– Histoire de Kieu, bản dịch Pháp ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994, .
– The Story of Kieu, bản dịch Anh ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Văn Nghệ, TP HCM, 1996.
– Hoa Địa Ngục – The Flowers of Hell, thơ Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ. Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 1996.



Dòng thơ thi sĩ Nguyễn Đông Giang

 

 

 

 

TUYỂN TẬP THƠ VÔ LƯỢNG TÌNH SẦU 

 

Xin click vào dấu  (Bookmark) để mở PDF file

 Vô LượngTình Sầu, sau khi mở PDF file click vào dấu Bookmark một lần nữa

để quí vị có mục lục theo từng bài thơ muốn đọc. 

 

B Ỏ    Đ Ấ T     
       . Mến tặng những tấm lòng VN tha hương – ndg
                     
 
Xa nước bao năm , còn nhớ nhà
Tim còn nồng ấm , bài Quốc ca   
Còn sống lưu vong , ta còn hát
Nghìn trùng sông núi gọi . Thiết tha
 
               Bỏ đất ra đi đầu đã bạc
               Đêm mơ , ta về lại quê nhà    
              Giơ tay ôm trọn, trời đất cũ
              Nỗi lòng Tây tạng . Nỗi lòng ta !
                                                                                                                           
Bỏ quê ! nghĩ đến buồn nát dạ     
Ừ thôi ! quê mất , còn đâu nhà
Em về làm vợ , anh bộ đội
Ta không buồn , sao lại xót xa !
 
              Bỏ đất xa quê, đời sông chợ
              Mất trắng em , chưa mất chỗ về
            Nơi ra đời , oe oe tiếng khóc   
             Hồn ta ở đó , hởi ! cố quê
 
Ba mấy năm trời , mây qua cửa
Ta tưởng đâu quên , chuyện nhớ nhà
Ta tưởng thời gian , nhòa tất cả
Sao nhòa cố thổ, trong tim ta
 
Quê xa , những người muôn năm cũ
Sống chết , hồn treo ở bên trời ?
Bên nầy buồn vui , lòng ta ai biết
Giọng khàn đêm gọi . Cố hương ơi !
 
    Cali 04122007 – NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 ——————————————————————————————- 
 
 
CHIỀU TRONG QUÁN RƯỢU QUE Â NHÀ
                          *những ngày ra tù CS,sau 1975-ndg
 
 
Chiều có ta ngồi , trong quán rượu
Uống một mình , đợi kẻ đi xa
Rượu chẳng ấm , được lòng kẻ đợi
Ta không buồn , sao lại thở ra
 
 
          Cắn miếng cá khô , uống ly rượu thuốc
          Ta đi đâu , hay trở về nhà
          Nồi cơm nguội , vợ ta đang đợi
          Có thế mà , nghĩ mãi không ra
 
 
Ta uống rượu , vâng ta uống rượu
Có ai cười , có ai cũng như ta
Vắng bạn hữu , mời cô cốc rượu
Hãy vui lòng , cùng gã ba hoa
 
 
          Đời có thế , phải không cô bán rượu ?
          Ta có gì , để gọi điêu ngoa
          Đời đã hỏng , hỏng thêm tí nữa
          Đâu có gì , để gọi bê tha .
 
 
                   NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 LỜI  CHO THỊ LỘ
                  -Kính tặng: N/V Nam Dao,nhân đọc Con mắt xanh”-ndg    
 
 
 
Ta là Nguyễn Trãi , em Thị Lộ                                             
Đêm nồng tình đượm , giữa trăng sao                         
Thu tàn , lá rụng , đời huyễn mộng                            
Ngồi sát vào em , sát nữa vào  
                  
 
Những chiếc lá , trên mặt hồ rụng                       Tình yêu Tổ quốc là như vậy
Đong đưa bay , mờ mịt thế gian                          Còn em Thị Lộ , ta nghĩ sao      
 Đêm nằm nghe mưa , trời ơi ! lạnh                     Em ơi ! hạnh phúc trong cái nhỏ
Ta sợ , buồn ơi ! ta mất nàng                               Thế, yêu một người là thế nào ?
         
                                                                                   
Nhác thấy hình hài em , ở đó                         Là thế nào ư ! ai biết được ù
Vành môi cong, trầu quét, viền hồng             Trải ta , lòng trải trắng mây xa                     
Em nhìn lên, vòm cây cúi xuống                    Lộ ơi ! ngồi sát ôm ta lại           
Em buồn, ngấn nước, lệ tràn sông                Ta là em , em cũng là ta .
        
                                                                                   NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
            Áo em tứ thân , màu biển biếc 
             Một thoáng ấp e , đủ mịt mù                     
             Ừ nhỉ , ta tiếc đời hữu hạn
             Bao giờ , xây đắp cái nghìn thu !
 
 
Em là Thị Lộ, hay ai khác
Chỉ có em, còn lại đời ta
Non sông xã tắc , yêu thì dễ
Yêu người như em, khó như là
 
 
             Tình yêu Tổ quốc , sao trừu tượng
             Được gạn lọc qua , chữ Thánh hiền       
             Ta say mê , không còn ý thức
             Đã không còn sao lại thiêng liêng ?
 
 
————————————————————–
 
 
 NGƯỜI CÀ CHỚN
                                  *   Thân tặng : -LTE bạn tù CS sau 1975
                                                  -Mai xuân Châu , Nguyễn phúc sông Hương – ndg
 
 
 
 
Ta hay gọi bạn , người cà chớn
Biệt tăm , tưởng bạnõ chết lâu rồi
Không ngờ lặn lội , qua tìm tớù
Không ngờ vác xác , tìm nhà thơ
 
Xin lỗi , gọi bạn người cà chớn
Ta nhập tâm , tên ấy mất rồi
Không thể gọi bạn , tên nào khác
Nên cứ yên lòng , một cái tên
 
Như ta yên lòng , bạn còn sống
Lâu nay , tưởng bạnõ gục trong tù
Lâu nay , tưởng bạn theo việt cộng
Ta buồn… chuyện đá nát vàng phai !
 
Ta xúc động , thật tình xúc động
Gặp người , nhớ bạn cũ … lệ rơi
Một thời sống chết , trên chiến địa
Đạn bom không chết , chết trong tù
 
Thoát tù nhỏ , vướng vào tù lớn
Ta lưu vong , trên quê hương mình
Không cà chớn , cũng thành cà chớn
Không bỏ quê , đành phải bỏ quê
 
              Đất tròn , gặp lại người cà chớn
             Cuối nẽo đường mây , cuối cuộc đời !
           Cõi người mù mịt , tăm hơi cá
             Vậy màø vác xác , về thăm tôi …
 
              Cali 2009 – NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
       
 
 
 
 
 
 
 
 
 NHỮNG CÂU THƠ MỘT THỦA QUÊ NHÀ 
 
 
 
 
Những câu thơ – một thủa quê nhà
Anh đọc lại những ngày lạc xứ
Ra đi – ngàn dâu – dặm lữ
Thơ buồn – nhật nguyệt cũng buồn theo
 
          Những câu thơ – anh viết cho em
          Lẽo đẽo theo anh những ngày dong ruổi
          Bến nước vô cùng – đâu là chặng cuối
          Bao giờ trở lại cố hương
 
Biết bao giờ trở lại cố hương
Biển nước mang mang – đoạn đành ngoái lại
Đâu là quê hương – mây mờ quan ải
Chỉ biết lòng mình – ruột thắt quặn đau
 
          Những câu thơ đầy ắp thương yêu
          Anh đã viết dành riêng cho Mẹ
          Chiến tranh về lấy đi tuổi trẻ
          Mẹ già – con Mẹ cũng già theo
 
Thưở quê nhà – qua đò đi học
Mẹ bới khoai – cho con lót lòng
Con qua sông – kiếm đôi ba chữ
Sau nầy – đở khổ tấm than
 
          Những câu thơ – một thời xa xưa
          Viết chẳng hết muôn vàn kỷ niệm
           Non nước nghìn trùng – anh còn dâu biển
          Em chẳng lấy chồng ở vậy làm chi
 
Những câu thơ – một đời yêu nhau
Anh đọc lại những ngày lạc xứ
Lưu vong hề – cùn chân lữ thứ
Anh tiếc hoài – chẳng ở với em .    
 
NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 
 
WESTMINSTER , NGÀY ANH VỀ
                                           *Tặng những chiếc áo dài VN ở quê người – NĐG
 
 
 
 
Lòng mừng , về thăm Westminster                                              
Đi trên Bolsa , vàng rực phốù cờ                                                   
Áo dài Việt Nam , bay trên đất lạ                                                
Cuối tháng Tư buồn , anh viết bài thơ                                          
 
            Áo dài em bay , tiếc ngày tháng cũ
            Còn nhớ không em , xưa buổi lên đường                                     
            Em mang Tổ quốc , đi vượt biển
            Thơ , vẫn vô cùng , nhớ quá quê hương
 
Về đây gặp , những bạn bè xưa
Đời tù tội , nhiều năm chung đủ
Người thù người , cắt tình máu mủ
Đủ rồi , anh bỏ đất sang sông
 
            Anh tin rằng , như có cố hương
           Theo chúng ta , những ngày lạc bước
            Ngày tháng này , của bao năm trước
            Sài gòn cờ bay , rộn rã tấm lòng                                       
 
Em có tình , có nghĩa với non sông
Nên mới gặp , anh đem lòng cảm mến
Nước Mỹ , những ngày anh mới đến
Nhìn lá cờ bay , nước mắt chảy dài
 
             Thành phố anh về , đã có bóng em
             Con đường Bolsa , đầy dấu chân mình
             Tiếng nói tiếng cười , người lên kẻ xuống
             Hơi hám quê nhà , ấm buổi nhục vinh
 
Lòng mừng , về thăm Westminster
Thành phố tháng Tư , đẹp những áo dàiø
Trong nỗi vui buồn , anh xin quên hết
Quên cả chính mình , đời đã tàn phai
 
  
NGUYỄN ĐÔNG GIANG 



Quỳnh Hương : Đón Ánh Trăng Mơ

ĐÓN ÁNH TRĂNG MƠ

 

Em chính là trăng của thế nhân

Chiều lên nắng xuống đẹp vô ngần

Mầu trăng tỏa sáng phương trời nhớ

Soi thấu lòng ta mấy độ xuân.

 

Yêu trăng xây mộng ý thành thơ

E ấp tình trăng dáng đợi chờ

Ta mãi say mơ trời diễm tuyệt

Thôn Đoài lơ lững bóng trăng mơ

 

Chao ơi! Nguyệt đẹp vầng trăng thẹn

Ta mãi chờ em nửa kiếp người

Nhớ thuở bên đồi trăng trải lụa

Trên dòng sông hẹn ngắm mây trôi

 

Đêm nay trang trọng thềm khuê tú

Đón ánh trăng rằm vọng cố nhân

Ta ôm bóng nguyệt nghiêng trời mộng

Ý vị trào dâng đến vạn lần.

 

Trăng ngự hồn ta tự thuở nào

Vàng trăng trải mộng đẹp làm sao

Trong ta hiển hiện mầu nhung nhớ

Trăng nước muôn đời thương mến nhau.

 

                 HOÀNG ÁNH NGUYỆT

                               (21-04-2007)

 

 

 

 

ĐỜI MÀU HỒNG (1)

    (Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (1) của Thi sĩ Thế Nhân)

 

Niềm vui có bạn tâm giao

Xoá bao ẩn ức gió gào qua song

Cuộc đời như mớ bòng bong

Thoáng  buồn giây phút chìm trong luân hồi

Ta về đổ nắng ra phơi

Đổ trăng ra đếm đổ lời ra đong

Đổ bao vướng vít trong lòng

Giúp ta lấp được khoảng không bên trời

Giá ta là áng mây trôi

Dần tan trong gió mà thôi muộn phiền

Chẳng mong lắm của nhiều tiền

Chỉ mong hạnh phúc triền miên vui cười

Là ta thì thật khổ chưa

Ước ao sao được cho vừa lòng ai

Vui lên ta cứ mơ say

Làm thơ xướng họa cùng ai đôi dòng

Cười lên nắng xế dòm song

Đời xinh như mộng thỏa lòng ước mơ

Thi nhân xin chớ hững hờ

Cùng ta múa bút những lời thơ yêu.  

         Hoàng Ánh Nguyệt
(4/4/09)

                                                                                                                                                                               

ĐỜI MÀU HỒNG (2)

 (Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (2) của Thi sĩ Thế Nhân)

 

                      Họa thơ ý thắm tình nồng

                      Tràn dâng kỷ niệm bên dòng Phố Giang

 

Cùng anh đi vớt nắng vàng

Chiều xuân én liệng Phố Giang êm đềm

Cầu Gành,  múc ánh trăng đêm

Đổ vào giếng ngọc vang lên tiếng cười

 

Màu hồng ý thắm xuân tươi

Nhớ năm tháng cũ đầy vơi ân tình

Gíá ta là giọt nuớc xanh

Mà tan trong nắng để thành hạt mưa

 

Trở về đồi mộng trăng xưa

Tình thơ ý nhạn nắng mưa thắm nồng

Niềm riêng chan chứa trong lòng

Càng vui càng thấy màu hồng vấn vương

 

Cùng quê tình nghĩa thân thương

Mong ngày hội ngộ đồng hương chan hòa

Vườn Quỳnh vịnh nguyệt ngắm hoa

Xoá bao phiền muộn kịp hòa vào thơ

                          Hoàng Ánh Nguyệt

                                ( 24-04-09 )