My Search-Tìm




Dấu đời qua nhanh

Dấu đời qua nhanh

Nghĩ đời sao vội qua nhanh
Tàn phai còn lại mong manh phận người
Trăm năm một cuộc rong chơi
Tình yêu nơi chốn tuyệt vời thâm sâu.

Mê tình là một cơn đau
Đôi lần để nhớ, mai sau để buồn
Dòng xuôi chảy đến cội nguồn
Nước dâng dưới bến điên cuồng gió mưa.

Mây trời nhớ núi khi xưa
Mưa bay lất phất gió lùa sương bay
Thu đông ẩn hiện chân mây
Sương rơi rụng ngọc, chứa đầy nhớ thương.

Môi em nở nụ đào hương
Lời em nhỏ nhẹ vấn vương một đời
Ta về nghe nặng tình rơi
Một đời trôi nổi bên trời đắm say.

Lê Tuấn

image.png

Tai nghe tiếng đời

Tiếng lạ xôn xao vạn tiếng gào
Lòng ta tiếng nấc, chợt ngẹn ngào
Để buồn vương vấn mùa trăn trở
Cõi đời va đập tiếng xôn xao.

Cơn đồng thiếp vẫn còn điên đảo
Vạn nỗi buồn dồn dập bên nhau
Tưởng chừng như, đất trời lay động
Xô đời, dịch chuyển những cơn đau.

Người bạn đơi ơi! Thức hay ngủ
Xin cùng ta cất tiếng hát ca
Nhịp đều tiếng vỗ, chuyền thêm lửa
Bạn tình ơi, đừng hắt hủi ta.

Lê Tuấn

Image may contain: Tuan Le



Đà Lạt

Đà Lạt

Tôi chợt thấy tuổi thơ ở đấy
Bóng hoàng hôn nhuộm tím chân mây
Sương quấn quít lối về phố cũ
Đêm Đà Lạt sương lạnh tình đầy.

Đường quanh co bên Hồ Than Thở
Bước lên đồi nhặt quả thông non
Tà áo bay mập mờ sương trắng
Thung lũng tình yêu, dấu cỏ mòn.

Đà Lạt phố, sương mù mơ mộng
Sườn đồi cao vi vút thông reo
Bên kia, làng hoa thêm sức sống
Thung lũng ngàn hoa, phố núi đèo.

Đêm Đà Lạt, hứng giọt sương rơi
Đặt lên môi, nghe tiếng em cười
Tình như đã say theo tiếng nhạc
Đà Lạt ơi! Giai điệu tuyệt vời.

Lat Images, Stock Photos & Vectors | Shutterstock

Lê Tuấn




My Children-Các Con Tôi




Đêm xuân gọi mời

Đêm xuân gọi mời

Ở hai đầu nỗi nhớ
Lặng lẽ buồn bơ vơ
Anh gặp em ngày đó
Đền bây giờ dại khờ.

Tình xưa thời con gái
Tuổi trăng tròn ngây thơ
Môi chạm môi bỡ ngỡ
Đầy ướt át trong mơ.

Nụ mai vàng trước ngõ
Gió xuân đang đợi chờ
Nắng ươm đầy nỗi nhớ
Thêm chữ buồn trong thơ..

Cành đào ươm sắc đỏ
Dập dìu khách vui xuân
Lang thang chiều dạo phố
Bỗng dưng lòng bâng khuâng.

Buổi chiều vàng chợt tối
Hạt mưa xuân nhẹ rơi
Anh cùng em dạo bước
Đêm xuân tiếng gọi mời.

Lê Tuấn

Đi qua buổi chiều

Chiều đi qua dòng sông
Ngắm mây bay cuối trời
Bóng người xưa thoáng hiện
Nghe vang tiếng em cuời.

Chiều đi ngang con đường
Bóng đổ nghiêng trời tây
Ta một mình lặng lẽ
Buớc chân buồn theo mây.

Tiếng chim kêu lạc bầy
Dấu mình trong lá cây
Ta đau vì nỗi nhớ
Bóng em đã đong đầy.

Lê Tuấn

Chiều tà

Tay em vàng lá bay
Rong chơi cuối đường chiều
Áo dài bay phất phới
Hương thơm bay ít nhiều.

Vô tình cánh hoa rơi
Chợt câm nín nghẹn lời
Để em buồn thương nhớ
Ngày xuân đã xa vời.

Nỗi buồn vương xót xa
Tuổi xuân quá mượt mà
Làm sao em bật khóc
Buồn vương ánh chiều tà.

Lê Tuấn




Dấu đêm trong tóc

Dấu đêm trong tóc

1
Tiếng chuông vang vọng giáo đường
Thánh ca em hát từng chương huy hoàng
Lung linh ngọn nến hai hàng
Câu nào thánh hóa địa đàng nơi đây.
2
Chiều xuân gió nhẹ mây bay
Tặng nhau khăn lụa, trao tay đóa hồng
Nửa đêm đắp mảnh chăn bông
Nghe con dế gọi ngoài đồng thiết tha.
3
Lấy hoa sen ướp hương trà
Hứng mưa đun nước pha trà uống xuân
Ngại ngần chen lẫn bâng khuâng
Thương nhau mấy nỗi trầm luân bụi đường.
4
Cánh hoa thông điệp vô thường
Tuết rơi trắng điểm bên đường gió đông
Trời giăng sợi mỏng tơ hồng
Vướng đôi quấn quýt tình nồng có nhau.
5
Dấu đêm trong tóc phai màu
Sợi đen sợi bạc, gối đầu ngủ say
Da thơm vòng ngực vươn đầy
Cho nhau tàn cuộc hao gầy hương trinh.

Lê Tuấn
“trích đoạn trong baì thơ 100 câu lục bát “Theo Bóng Chiều Tà”

Áo xưa khép nép

1
Áo xưa khép nép hững hờ
Hàng khuy hé mở khoe bờ non cao
Đôi môi chín đỏ ánh đào
Cửa mây vén mở lạc vào suối mơ
2
Khóc ai lệ ướt trong thơ
Tóc xanh ngày cũ bây giờ sương bay
Hạt sương đậu cánh hoa này
Nghiêng soi lòng suối bóng ai nhạt nhòa.
3
Dưới giàn thiên lý vàng hoa
Kết thành vương niệm làm qùa tặng em
Tiếng lòng lời nói môi êm
Ru tình theo tiếng êm đềm mê say.
4
Hữu duyên như núi gặp mây
Tơ vương mây cũng đỏ hây dáng hồng
Xuân về trồi lá đươm bông
Bướm bay uốn lượn theo vòng cánh duyên.
5
Trên cành tiếng hót chim khuyên
Em nghiêng suối tóc tơ huyền nhẹ vương
Làn sương trắng điểm phố phường
Gót hài vui bước cung đường lá bay
6
Em về hoa nở trên tay
Áo dài lụa mỏng thơ ngây dáng chiều
Ý thơ muốn tỏ đôi điều
Gởi theo vần điệu mỹ miều ngợi khen.
7
Về xem phố chợ lên đèn
Theo hương vị lạ say men rượu mời
Lặng buồn nhìn cánh hoa rơi
Lòng nghe xao xuyến đất trời sang xuân.
8
Hoa vàng vương nhẹ gót chân
Phố vui mỏi gót tần ngần bước đi
Nào ngờ vướng lụy tình si
Hương thơm bát ngát xuân thì vấn vương.

Lê Tuấn




THỬ PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ CỦA THÍCH TUỆ SỸ

THỬ PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ CỦA THÍCH TUỆ SỸ

Vĩnh Đào

KHÔNG ĐỀ

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.

Trên đây là một bài thơ rất được nhiều người biết đến của nhà thơ thiền sư Thương toạ Thích Tuệ Sỹ (ngày nay là Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ). Bài thơ rất quyến rũ, lời thơ đậm màu triết lý nhân sinh nhưng cũng rất bí hiểm. Làm sao “hiểu” được bài thơ này? Người thưởng thức thơ có thể đọc đi đọc lại nhiều lần và thấy mình bị cuốn hút vì nhạc điệu của bài thơ cũng như những ngôn từ thanh thoát, gợi cảm, vừa giản dị vừa thông thái, nhưng không biết phải diễn dịch cách nào, làm sao theo dõi những tư tưởng của tác giả. Cho đến nay không có một bài bình giảng nào thử đưa ra một đuờng hướng để tiếp cận bài thơ này, ngoại trừ một bài cảm tưởng của Bùi Giáng (“Đi vào cõi thơ Tuệ Sỹ”, đăng trong quyển Đi vào cõi thơ, Nhà xuất bản Ca Dao, Sài Gòn, 1969), được thường xuyên nhắc tới trong những bài viết về thơ Tuệ Sỹ.

Nhưng theo tôi, thi sĩ Bùi Giáng chỉ đưa ra những cảm tưởng khái quát, khẳng định những điều to lớn, mà không đưa ra bất cứ một luận cứ nào để chứng minh những điều mình nói: “Ta tưởng như nghe ra ‘cao cách điệu’ bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche… Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.” Khẳng định những điều to lớn như vậy không có ích gì để giúp cho người đọc có một cái nhìn rõ hơn về tác phẩm.

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ - Nhân Vật Phật Giáo - Hoavouu.com

Trước khi thử tìm một lối tiếp cận thỏa đáng bài thơ này, chúng ta cần biết rõ hơn về tác giả và hoàn cảnh sáng tác thi phẩm.

Thích Tuệ Sỹ, tên thật là Phạm Văn Thương, sinh tại Paksé, Lào, năm 1943. Vào đầu thập niên 1970 trong số các giáo sư của Viện Ðại Học Vạn Hạnh thì Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và Phạm Công Thiện, chủ bút tạp chí “Tư tưởng” của Viện Ðại Học Vạn Hạnh, cả hai đều dưới 30 tuổi, được xem là những trí thức lỗi lạc nhất. Tuệ Sỹ chuyên về Phật học và tư tưởng Đông Phương, còn lãnh vực của cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện là triết lý Tây phương. Cuối năm 1970, Phạm Công Thiện rời Việt Nam để đi Pháp và không trở về. Tuệ Sỹ thay Phạm Công Thiện chịu trách nhiệm tạp chí Tư Tưởng, nhưng đến năm 1973 thì Tuệ Sỹ cũng quyết định rời bỏ Sài Gòn và Viện Ðại Học Vạn Hạnh để rút về chùa Hải Đức, trên đỉnh đồi cao heo hút phía Tây thành phố Nha Trang. Chưa đầy hai năm sau thì xảy ra biến cố tháng 4 năm 1975 và sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.

Cuối hè 1976, Thầy Tuệ Sỹ lại quyết định dấn thân vào một cuộc thử nghiệm mới. Ông rời chùa Hải Đức, một mình đi làm rẫy ở vùng rừng núi Vạn Giả, cách Nha Trang khoảng 60 cây số. Đến năm 1977, ông rời Vạn Giả vào Sài Gòn sống ở chùa Già Lam. Năm 1978, thì bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam cho tới đầu năm 1981.

Ngày 1-4-1984, Thượng toạ Tuệ Sỹ lại bị bắt giữ cùng với Giáo sư Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát và một số tăng ni, bị kết tội âm mưu lật đổ chính quyền. Trong phiên tòa xảy ra năm 1988, ông bị kết án tử hình cùng với Giáo sư Lê Mạnh Thát. Do sự can thiệp của các cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế, ông được giảm án xuống còn chung thân khổ sai. Năm 1998 Thượng toạ cùng với một số người khác được trả tự do.

Năm 1999, Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ đảm nhiệm trách vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), một tổ chức tổ chức không được chính quyền CSVN và Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) thừa nhận. Năm 2019, Tăng Thống Thích Quảng Độ ủy thác Hoà thượng Tuệ Sỹ lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở vị trí Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống trong thời gian Tăng Thống lâm trọng bệnh. Hoà thượng Tuệ Sỹ tiếp tục xử lý thường vụ Viện Tăng Thống sau khi Tăng thống Thích Quảng Độ qua đời vào tháng 2-2020.

Tập thơ Giấc mơ Trường Sơn do An Tiêm xuất bản năm 2002 tập họp các bài trong bốn tập bản thảo mỏng là Phương trời viễn mộng gồm 9 bài thơ viết trước năm 1975, Giấc mơ Trường Sơn gồm 29 bài sáng tác từ năm 1975 đến 1980, Tĩnh toạ gồm 9 bài, viết từ 1983 đến năm 2000, và Tĩnh thất, gồm 32 bài viết trong các năm 2000 và 2001.

Bài thơ trên đây, tác giả chỉ để là “Không đề” trong tập bản thảo. Trong tập Giấc mơ Trường Sơn, bài này mang tên “Khung trời cũ”. Đây có lẽ là tựa do nhà xuất bản đặt khi in lại, nhưng tựa đề này hình như không thích hợp mấy vì không liên quan đến các ý tưởng tản mạn của tác giả, từ những kỷ niệm của quá khứ đến những tư tưởng triết lý về thời gian và cuộc đời, và trở về hiện tại giữa bốn bức tường của tác giả, mơ tưởng đến một con suối giữa rừng, diễn tả rất sâu sắc và cô đọng.

Bài thơ trên được sáng tác theo thể thơ tự do, bắt đầu bằng hai câu thơ 9 chữ, phần còn lại chủ yếu là những câu thơ 8 chữ, xen kẻ với những câu 7 chữ, không theo một trật tự nào nhất định, nhưng khi đọc lên nghe rất quyến rũ vì nhạc tính rất cao và gây nên những cảm xúc khó tả, tùy theo những kỷ niệm cá nhân của người đọc, tuy rằng không dễ tìm ra những ý nghĩ nào dẫn dắt bài thơ.

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Việc đầu tiên không nên làm là tự đặt ra những câu hỏi: Đôi mắt ướt của ai? Tuổi vàng nào? Và khung trời nào mà hội cũ? Những thắc mắc sẽ không bao giờ có được câu trả lời. Tác giả có những tâm tư, ý tưởng, những ám ảnh của riêng mình, viết ra thành lời thơ mà không có chủ đích diễn tả làm sao để người đọc hiểu rõ ngọn ngành. Vậy không có ích gì khi cố gắng tìm một cách diễn dịch nào cho “hợp lý”. Chúng ta chỉ có thể nhận thấy là hình ảnh này đã từng ám ảnh tác giả trong một bài thơ sáng tác trước đó vào năm 1976, trong thời gian đầu ở rừng Vạn Giả:

Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn

Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao

(“Một thoáng chiêm bao”)

Còn áo màu xanh nào? Trên đồi hoang thì chỉ có thể màu xanh của cỏ thay đổi theo thời gian. Hay là áo của một người nào? Không có gì cho phép xác định và điều này cũng không quan trọng để có thể ngăn cản chúng ta tìm hiểu phần tiếp của bài thơ.

Theo lời kể lại của Thượng tọa Thích Phước An, về sau là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hoá của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thì chính Thầy Phước An vào mùa hè năm 1976 đã lên một chiếc xe đò cũ kỷ cùng với Thầy Tuệ Sỹ, để đưa Thầy đi làm rẫy tại một khu rừng hẻo lánh ở thị trấn Vạn Giả, gần đèo Cả. Rồi sau đó thì cứ một, hai tuần, Thầy Phước An lại về rừng Vạn Giả thăm bạn. Thầy thuật lại: “Đôi khi tôi ở lại đêm với anh trong túp lều tranh do tự tay anh cất lấy. Những lúc ở lại đêm như vậy, tôi lại càng cảm phục sức chịu đựng của anh. Đêm nơi đó chẳng có gì cả, ngoài ngọn đèn dầu leo lét trong túp lều tranh và bóng tối mịt mù giữa núi rừng mênh mông.”

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Chính những kỷ niệm ngồi tâm tình trong đêm khuya bên ngọn đèn dầu đã để lại cho nhà thơ những hình ảnh khắc sâu trong ký ức và cho cảm giác mình chia sẻ kiếp sống phiêu bồng của những người du thủ. Tác giả cũng đã nhắc đến một kỷ niệm tương tự trong một bài thơ khác:

Ai biết mình tóc trắng

Vì yêu ngọn nến tàn.

Rừng khuya bên bếp lạnh

Ngồi đợi gió sang canh.

(“Rừng khuya bên bếp lạnh”)

Sau khi hồi tưởng vài hình ảnh của quá khứ, nhà thơ chuyển dòng tư tưởng sang một hướng khác:

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Núi và biển biểu hiện cho thiên nhiên và tạo hoá, một thiên nhiên trường tồn qua năm tháng, không chịu ảnh hưởng của thời gian, không thể bị hủy diệt, không có gì biến mất, dù chỉ là một hạt muối trong lòng biển. Trước cái vô hạn của thiên nhiên là cái hữu hạn của con người:

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Người bị thời gian chi phối có cảm giác ngày vui qua mau, cùng với sự tiếp nối liên tục của các mùa. Xuân Diệu đã từng thở than: “Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều?” Thi hào Victor Hugo của trào lưu lãng mạn Pháp thế kỷ 19 trong tập Lá mùa thu xuất bản tại Paris năm 1831 cũng đã so sánh tính trường tồn bất diệt của thiên nhiên trước cái cái mong manh của đời sống con người. Vạn vật luôn luôn tươi trẻ, mỗi năm lại hồi sinh trong một lễ hội tưng bừng, hoàn toàn thản nhiên, vô cảm trước kiếp người ngắn ngủi. Nhà thơ đã có những câu thấm thía như sau:

Một ngày tôi sẽ ra đi, giữa khung trời mở hội

Mà không có gì mất mát cho cõi đời rạng rỡ bao la! [1]

Nhưng đối với thiền sư, chắc chắn không có những tiếc nuối như vậy. “Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng?” chỉ là một câu hỏi cho người phàm tục. Đối với người tu hành, kéo dài kiếp sống chỉ là để trả cho xong nợ trần thế:

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Chỉ vì “tuổi đời chưa đủ” nên tác giả mới còn phải lưu lại trên trần gian, kéo dài một chuỗi ngày vô vị không có gì mà phải tiếc nuối. Các từ ngữ “gót mỏi” và “đi quanh” cho thấy nỗi chán chường của tác giả trước kiếp sống hiện tại.

Trở về với thực tại, nhà thơ đối mặt với tình trạng bị giam hãm của mình giữa bốn bức tường.

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Phải chăng đây cũng là một bước đi quanh quẩn trên con đường cát bụi của cõi trần gian? Rồi nhà thơ lại đưa trí tưởng tượng đến cảnh vật tự do thanh thản bên ngoài. Và biểu hiệu của tự do chính là con suối tung tăng giữa đá sỏi và cỏ cây, thảnh thơi chảy về sông và ra biển khơi. Trong một bài thơ khác của tập Giấc mơ Trường Sơn, tác giả cũng đã nhắc đến khoảng thời gian bị tù tội:

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng

Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu

Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng

Như sương mai như ánh chớp mây chiều

(“Tôi vẫn đợi”)

Lần này thì mộng mơ của tác giả không còn mơ hồ như sương mai như ánh chớp mây chiều, mà là hình ảnh rõ nét một con suối rộn rã băng ngàn tượng trưng cho ước vọng tự do.

Phần phân tích trên đây chỉ là quan điểm riêng của người viết. Có thể có những lối giải thích khác. Một bài thơ chỉ có giá trị để tồn tại với thời gian nếu nó chứa đựng những ý tưởng dồi dào, gây nên những cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc, và cảm xúc có thể khác nhau tùy người đọc.

Nhà thơ có thể muốn bộc lộ một tâm trạng khó phát biểu thành lời, bộc lộ những tình cảm, những cảm xúc dồn dập, tế nhị, trong những câu thơ cô đọng, và chỉ muốn viết ra cho riêng mình, không cố gắng sắp đặt lời văn cho dễ hiểu. Kết quả chúng ta có thể thấy những câu thơ hết sức quyến rũ do nhạc tính của câu, do nhịp điệu và vần, do sự lựa chọn và kết hợp ngôn từ, từ đó tạo cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thích thú… Nhưng ý nghĩa của câu văn nhiều khi không rõ ràng, có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Và không thể nói là cách giải thích này đúng, hoặc cách nhìn kia sai.

Phạm Công Thiện khi bàn về thơ Tuệ Sỹ có nhận xét là: “Đọc thơ mà thấy rằng tác giả muốn nói rõ cái gì thì chẳng còn là thơ nữa.” [2] Trong những trường hợp này, khẳng định rằng: “Tác giả muốn nói…” là một điều hoài công. Mỗi người có thể cảm nhận bài thơ theo cách của mình, không nhất thiết phải tìm hiểu xem cách mình hiểu có hợp với những suy nghĩ của tác giả hay không.

Mặt khác, đứng trước một sáng tác với những ý tưởng dồi dào trình bày rất cô đọng theo ngôn ngữ thơ, người đọc thường thấy bỡ ngỡ và khó có thể tìm ra một đường lối tiếp cận để tìm thấy những nguồn cảm xúc mà tác phẩm có thể đem lại. Có lẽ vì vậy mà bài thơ “Không đề” hay “Khung trời cũ” của tác giả Tuệ Sỹ tuy được biết rất nhiều nhưng ít khi được bình giải. Nhiệm vụ của người bình giải là vạch ra một lối đi và trình bày những lý lẽ để thuyết phục người đọc khám phá tác phẩm theo lối mình. Cách nhìn đó có thể phù hợp với các ý tưởng của tác giả hay là không. Một khi một tác phẩm nghệ thuặt, một bức tranh hay một bài thơ, được trình bày trước công chúng, thì ý nghĩa có tác phẩm không còn thuộc về tác giả mà thuộc về người thưởng ngoạn.

Vĩnh Đào

[1] Je m’en irai bientôt, au milieu de la fête,Sans que rien manque au monde immense et radieux! Victor Hugo, Les Feuilles d’Automne (1831).

[2] “Nguyên Tánh – Phạm Công Thiện, Một Buổi Sáng Đọc Thơ Tuệ Sỹ” đăng lại trong Nguyên Siêu, Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ và Phương Trời Mộng, tập 2 do Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang in tại California, 2006.

Theo Internet




Tình Yêu như chim trời

Tình Yêu như chim trời

Tình yêu như cánh chim trời
Chơi vơi cánh mỏng diệu vời đường mây
Tay ôm vò rượu đêm say
Tình riêng trong cõi mộng này gần nhau

Tiếng đêm vỡ vụn nỗi sầu
Đêm khuya nức nở cơn đau khóc thầm
Lên non ngậm ngải tìm trầm
Xuống thôn hái đóa sen đầm hóa duyên

Trên cành tiếng hót chim uyên
Em nghiêng tay với, cười duyên một mình
Chợt nhìn dáng đứng rất xinh
Lòng anh như đã, sinh tình nở hoa

Trao nhau khăn lụa nhạt nhòa
Dùng dằng giữ lại khóc òa trên tay
Xót thương cho cõi mộng này
Mai sau xin nhớ đến ngày hội đêm.

Lê Tuấn
“trích dẫn một đoạn trong bài trường thi
Tình yêu như chim trời”

Ơn Trời

Ta buồn gửi gió phương tây
Tình riêng giữ lại đợi ngày ra hoa
Trời Nam giọt lệ nhạt nhòa
Đợi ngày hội lớn, thái hòa yêu thương.

Em về đỉnh núi mù sương
Chênh vênh gót nguyệt vấn vương dáng gầy
Nào ngờ gặp gỡ nơi đây
Nhớ nhau tay nắm thương hoài hương xưa.

Ơn trời tình vẫn đẩy đưa
Người từ xa đến vẫn chưa thẹn lòng
Lương duyên dệt mối tơ hồng
Chẻ đôi sợi nhớ chia dòng lệ rơi.

Mùa xuân ta mãi rong chơi
Nghe chim vui hót gọi đời tặng hoa
Mượn cành hoa nở làm qùa
Ghé thăm bạn cũ uống trà móc câu.

Cuối sông lại nhớ giang đầu
Con thuyền buông lái bên cầu đợi ai
Vui xuân rơi mất chiếc hài
Để cho Hoàng Tử ướm hoài chân em.

Vén màn ta bước vào xem
Em nằm gối mộng không thèm điểm trang
Đèn khuya lửa hắt hiu vàng
Đôi chân ngọc duỗi hai hàng động hoa.

Đời buồn theo bóng chiều tà
Bóng trăng tĩnh mịch hiên nhà nhớ thương
Bước đi theo những cung đường
Tình yêu trong cõi vô thường có nhau.

Lê Tuấn
“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Thả hồn vào trong thơ, viết 100 câu lục bát
trong bài “Tình yêu như chim trời” để vinh danh tình yêu và thăng hoa cuộc sống.”

Image may contain: 1 person, shoes and outdoor

Image may contain: 1 person

Image may contain: 1 person
Image may contain: one or more people and outdoor




Tình yêu trên tay

Tình yêu trên tay

Đếm trên tay khoảng khắc ngọt ngào
Có bao đêm thao thức đợi chờ
Tình yêu đó bao lần bỡ ngỡ
Đã bao lần chờ đợi trong mơ.

Đã yêu em, yêu rất thật thà
Nhớ thương nhau sao quá đậm đà
Đừng quên nhé lần đầu gặp gỡ
Đã chìm sâu cảm giác mặn mà.

Cứ bên nhau tình ta lớn mãi
Dù bao lần chạm mối chia tay
Để cho đời gọi hồn lưu lạc
Về thôi! đừng ngại bóng tàn phai.

Từ đó tình thôi không dở chứng
Lặng lẽ thời gian hóa nhiệm mầu
Tuổi xuân tàn uá theo năm tháng
Tóc điểm hoa sương bạc mái đầu.

Lê Tuấn
“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng”

Image may contain: 1 person, sitting and indoor

Giấc Ngủ Đêm Dài

Lăn qua bên nào cũng nhớ
Nghe tiếng thạch sùng than thở không thôi
Buồn sao cuộc đời trôi nổi
Nhớ và quên vẫn chẻ đôi nỗi buồn.

Chợt thèm lắm vòng ngực ôm
Gối bình yên cánh tay luồn suối tóc
Đêm dài lắm nghe tiếng khóc
Giật mình ngồi dậy, mệt nhọc đời mình.

Đơn sơ như tiếng lòng mình
Tình riêng một bóng thần linh là nàng
Giấc ngủ thao thức muộn màng
Lăn qua đã chạm môi nàng đắm say.

Tế Luân
(người nghệ sĩ lang thang để viết mãi vần thơ tình)




My Last Poem-Bài Thơ Cuối Cùng




Trăng đêm và em

image.png

Trăng đêm và em

1
Đêm khuya trăng đã sáng soi
Là khi em bước lên ngôi nữ hoàng.
Thơ ngây một đóa hoa vàng
Che tà lụa mỏng điệu đàng bước đi.

2
Em làm khổ mối tình si
Hồn nghiêng ngả gọi xuân thì nhớ duyên
Vai nghiêng ôm mái tóc huyền
Đôi bờ ngực nở trên miền vấn vương

3
Theo em bước mấy cung đường
Đèn hoa trước ngõ phố phường sương bay
Em về hoa nở trên tay
Gót hài vướng bụi thêm dài bước đi.

4
Bụi mờ che vết chim di
Vỗ đôi cánh nhỏ bay khi dáng chiều
Ta về mỏi gót liêu xiêu
Ghé thăm quán vắng tiêu điều úa thu

5
Để buồn vỗ giấc mây mù
Âm vang lãng đãng tiếng tù và xưa
Trao nhau khăn lụa sầu đưa
Lau dòng lệ ướt cơn mưa cuối mùa.

6
Giọt rơi sương lạnh gió lùa
Áo em sũng ướt còn chưa muốn về
Đường chiều mỏi bước ê chề
Lời thơ não nuột buồn tê tái buồn.

7
Chờ ai trăng mọc cuối thôn
Vắng em từ dạo căng buồm gió xuôi
Ngẩn ngơ nhìn áng mây trôi
Lòng tha thiệt đợi chia đôi nhánh buồn.

Lê Tuấn
“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng, gửi buồn theo vần thơ lục bát rong chơi” 

Hình ảnh minh họa. Photoshop by Lê Tuấn




Love Me-Yêu Em




Tai nghe tiếng đời

Tôi vẫn thường viết những vần thơ, có lẽ đây chỉ là một thói quen, hay (Trời bắt làm thơ, cũng không chừng). Xin chia sẻ cùng quý vị yêu thích (Thơ) những bài thơ của Tế Luân là câu nói lái của Tuấn Lê hay Lê Tuấn cũng là một. Xin mời quý vị đọc cho vui. Kính chúc quý vị bình an trong mọi ngày.

Trân trọng 

Lê Tuấn

Tai nghe tiếng đời.

Tiếng lạ xôn xao vạn tiếng gào

Lòng ta tiếng nấc, chợt ngẹn ngào

Để buồn vương vấn mùa trăn trở

Cõi đời va đập tiếng xôn xao.

Cơn đồng thiếp vẫn còn điên đảo

Vạn nỗi buồn dồn dập bên nhau

Tưởng chừng như, đất trời lay động

Xô đời, dịch chuyển những cơn đau.

Người bạn đơi ơi! Thức hay ngủ

Xin cùng ta cất tiếng hát ca

Nhịp đều tiếng vỗ, chuyền thêm lửa

Bạn tình ơi, đừng hắt hủi ta.

Tế Luân

Buông Rơi

Ta vén mây trời xem nắng thu

Vào thăm rừng vắng khói sương mù

Em có buồn không tình lỗi hẹn

Xa vắng bên đời, vụng kiếp tu.

Bao mùa thu đến giữa cuộc đời

Em còn cất giữ hay buông rơi

Những ngọn roi tình thôi đau buốt

Còn nhớ, còn vương, đến một người.

Thanh thản từ khi tóc đổi màu

Đường trần lối rẽ biết về đâu

Những ngọn gió đời, thôi vướng bận

Cõi trăm năm buồn, thương nhớ nhau.

Tế Luân

Tìm em

Tìm em, tâm trí mê say

Tìm em, trong nỗi đắng cay phận người

Tìm em, tìm mãi trong đời

Tìm trong nỗi nhớ, chơi vơi chạnh lòng.

Tìm em trong mối tình nồng

Tìm em, dệt mộng tơ hồng vấn vương

Tìm em trăm nhớ ngàn thương

Tìm em mấy nỗi dặm trường phôi phai.

Tìm em về nối tình dài

Xôn xao ngọn cỏ nhớ hoài bên nhau

Trăng đêm xoa dịu cơn đau

Yêu thương nối lại nhịp cầu gấm hoa.

Lê Tuấn

Đêm Vắng

Đêm thanh vắng, ánh trăng thưa

Sương đêm đọng lại giọt mưa cuối mùa

Hạt rơi thêm lạnh hững hờ

Cơn đau thân phận, bóng mờ phù vân.

Hỏi sao em bước xuống trần

Cho mây bỏ núi, bỏ thần xuống chơi

Dù mai tiên có về trời

Nhớ thương tình cũ khóc người trong thơ.

Thương em liễu rũ đào tơ

Tình xưa xin giữ bây giờ sương bay

Ngày sau nhớ cội hoa này

Về thăm người cũ đợi ngày đươm hoa.

Lê Tuấn

“người nghê sĩ lang thang trong thơ, để viết những bài thơ tình yêu”




Her Hair-Mái Tóc




MÁI TÓC – HER HAIR

MÁI TÓC

              Cho Vân-Anh

4 kiểu tóc dài dịu dàng dành cho các nàng công sở - kieu toc dai ...

Nàng có mái tóc huyền
Đẹp như tranh thủy-mặc;
Đường nét thật dáng duyên,
Thật mặn-mà màu sắc.

Tóc như múa nghê-thường;
Sóng đàn như tóc lướt;
Tóc như ướp trầm hương;
Tóc như nhung mịn mướt.

Khi nàng về với tôi,
Nàng thay nhiều kiểu chải;
Như mắt, má, và môi:
Vui tươi và trẻ mãi.

Tôi vuốt dợn tóc êm,
Tôi hít mùi tóc thuộc.
Nắng biển và sương đêm:
Tóc kiêu hào nhập cuộc.

Đời rộng cánh bằng+âu;
Thanh-bần nên sướng chán.
Đôi lứa tưởng còn lâu
Mới bạc đầu, hói trán.

Nhưng, chớp bể, mưa nguồn!
Sắt thép kìm xương thịt:
Mắt nàng rát lệ tuôn,
Lưỡi tôi tê mật rịt!…

Nàng lặn-lội thăm tôi;
Tóc trùm khăn lấm bụi;
Tôi tránh nhìn mắt, môi;
Cổ nghẹn lời tức tủi .

Rồi, một hôm (ngỡ-ngàng!)
Nàng tháo khăn gỡ rối,
Tôi sửng-sốt nhìn nàng:
Tóc điểm màu tiêu-muối!

Ôi! Mới một thời-gian
Mà cồn dâu, bãi bể!
Giếng hẹp ếch gào khan;
Bức bần nên khổ thể!

Mắt nàng đã quầng thâm;
Môi khô và má hóp.
Nhìn mái tóc hoa-râm,
Tim tôi như nghiến bóp!

Tóc hết múa nghê-thường!
Sóng đàn tóc hết lướt!
Tóc hết ướp trầm hương!
Tóc hết nhung mịn mướt!

Tôi muốn vuốt tóc nàng,
Mà bị đời ngăn cấm!
Đành đợi giấc mơ-màng
Để sưởi lòng tạm ấm!

Nàng thương tôi mặn-nồng,
Vì tôi mà lận đận.
Tóc nàng càng trắng bông,
Lòng tôi càng uất hận!

         THANH-THANH

—————————————————————————

     HER HAIR

                           For Vân Anh

She had a head of black hair

Fine like water-color painting

The style so graceful to air

Always charming remaining

Her hair seemed to dance

And glide in musical strain

With perfumes to trance

And velvet in a soft vein

When she became mine

She changed in many ways

Eyes, cheeks, and lips shine

Jolly, joyful, and young always

I stroked her ripple smooth

I breathed her familiar scent

It proudly enjoyed to soothe

Sea sun and night dew extent

Life was wide like an eagle

Pure and right creates elated

The couple thought of regal

As never to be to abyss fated

But, bliss abruptly became bore

Bones and flesh gripped by steel

Her eyes with tears turned sore

My tongue numb with bile to feel

She hiked miserably to visit me

Her hair covered in dusty wimple

I avoided her eyes, lips to see

Throat choked with anger simple

Then once oh! how surprising

She untied the headscarf there

I amazedly stared at her realizing

Her now pepper and salt hair

Alas! Only in a so short time

This topsy-turvy had occurred

Frogs in wells: unheard chime

Famine formed miserable herd

Her eyes were black and blue

Lips dried and cheeks sunken

Looking at the grey hair through

I felt that my heart got shrunken

Her hair had stopped to dance

No more on musical tune to glide

Aromatic spices neither chance

No longer on velours to ride

I wanted to stroke her hair

But life had forbidden to do so

I must wait for dreams to share

To warm my heart chilled in snow

She loves me needless to say

Weary, painful because of me

The more her hair grows gray

The deeper my resentment will be

English version by THANH-THANH




Mẹ Ta Trả Nhớ Về Không




Mẹ Là Ánh Trăng

image.png

Mẹ Là Ánh Trăng

Mẹ là ánh trăng rằm soi sáng
Dải đường xa soi bóng con đi
Con xin gom lá nghìn thu lại
Đốt lửa hồng tưởng nhớ sinh ly.

Ngày ấy con đi chẳng hẹn về
Chiến trường xưa lạc dấu sơn khê
Mẹ buồn thương nhớ đầu bạc trắng
Trắng cả hồn con lúc trở về.

Mẹ vẫn lặng im với nỗi buồn
Một đời tần tảo gánh mưu sinh
Mẹ thanh cao quá, lòng con thẹn
Khắc ghi tình Mẹ, một bóng hình.

Đừng khóc mẹ ơi! Hãy mỉm cười
Ngậm ngùi con nhớ mãi một đời
Nhớ thương cất giữ trong ký ức
Tình mẹ bao la thật tuyệt vời.

Lê Tuấn
“Ngày lễ mẹ, viết bài thơ tưởng nhớ đến mẹ tôi. 

Mẹ đã ở trên trời, nhìn xuống trần gian thương nhớ đàn con”




Ngày ấy lâu rồi

Ngày ấy lâu rồi

Nhớ người xa vắng bóng chiều buông

Từ thuở xa xưa chẳng biết buồn

Ngây thơ trong trắng hoa chớm nở

Trái tim dại khờ mới yêu đương.

Ngày ấy tôi thường dạo phố phường

Ngắm em vui bước buổi trường tan

Những vạt áo dài bay trong nắng

Làm trái tim tôi nhịp rộn ràng.

Ngày ấy tôi thường hay làm thơ

Cả hồn trong trắng đền dại khờ

Mở đầu tôi viết câu lục bát

Gửi chút tình riêng vào trong mơ.

Tôi biết gì đâu một chữ yêu

Mà sao đau nhói ở trong lòng

Mỗi lần em bước qua khung cửa

Tôi vội nhìn theo lòng ước mong.

Tôi sợ sương bay phủ bóng mờ

Xóa đi dấu vết của nàng thơ

Khung trời lạnh lẽo người xa vắng

Em đã đi xa chẳng đợi chờ.

Lê Tuấn

“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng

Viết một bài tình thơ cho thuở dại khờ”




THƠ NHỚ MẸ

THƠ NHỚ MẸ

Thâm tâm vẫn biết đời hư ảo
Mắt cứ trào dâng lệ nhớ thương
Trong mơ thấy mẹ cười nghiêng nón
Mặc áo dài nhung lúc tuổi xuân
Nhớ lúc hoàng hôn bóng ngã dài
Dáng mẹ hao gầy buổi tiển đưa
Thầm thì con nói theo làn gió
Mẹ ở trên trời chắc sẽ vui
Khói hương rồi cũng chìm trong nắng
Tưởng với thời gian sẽ nhạt nhòa
Mây mù che phủ miền thương nhớ
Để mẹ từ đây mãi ngủ yên
Rồi khi trên bước đời vấp té
Con vẩn kêu hòai tiếng mẹ ơi
Con cần một bàn tay che chở
Đặt trên đầu dịu bớt niềm đau
Cần tiếng cười hiền, lời nói ngọt
Xoá mờ đi những vết gai đâm
Đàn con tóc chớm màu sương tuyết
Vẩn ngóng mẹ về trong giấc mơ

(Ngọc Dung)

Image may contain: 1 person



NGẬM NGÙI

NGẬM NGÙI

Chiếc xe đò rùng mình nín thở
Quẳng xuống đường một nhúm xương khô
Gã lính ngụy lưu đày ngơ ngác
Chưa dám tin mình đã trở về
Gã băng qua mùa đông vào phố
Nắng loe hoe đọng ngã ba đường
Chiều ngủ vùi trên manh áo vá
Có con chim cất tiếng chào buồn
Dãy bạc hà hiên trường thuở nhỏ
gió thều thào lúc gã đi qua
Vàng thiêm thiếp thẩn thờ lá đợi
Chút mong manh xuân ấm chợt về
Chiếc cầu nơi tuổi thơ đánh rớt
Đám lục bình khóc ướt dòng sông
Gã lục lọi tìm trong ký ức
Bạn bè xưa ai mất ai còn
Cây trụ điện đứng nơi góc chợ
Gánh cặp loa ruột thắt gan bầm
Hát ra rả vạn lời mị ngữ
Còn riêng mình mòn mỏi tháng năm
Gã tha thẩn mò vào xóm cũ
Người quen xưa tản lạc muôn phương
Trời lồng lộng cao không vói tới
Giẫm cuộc đời nát vụn dưới chân
Con chó già ngồi chơi trước cửa
Ngửi hơi xưa lúc lắt đuôi chào
Chiếc áo mặc lác bươm từng mảng
Con ruồi bay quanh mũi lao đao
Tên công an trông coi khu vực
Biết gã về vác súng hỏi thăm
Con chó nản nhắm nghiền mắt đói
Chuyện thường ngày lâu thét sẽ quen

Quan Dương

Đây là ngã ba cải lộ tuyến Ninh Hoà nơi quốc lộ 1 kéo dài từ Nam ra Bắc . Mũi tên phía phải chỉ hướng Tuy Hoà . Mũi tên còn lại chỉ hướng Ban Mê Thuột . Đó cũng là con đường đi vào phố chợ Ninh Hoà nơi có nhà tôi ở

Mùa đông năm 1981 chiếc xe đò hiệu Khánh Hoà với thùng than to tổ bố đèo theo phía sau rùng rùng ngừng lại và thả xuống nơi này một tên ốm nhách áo quần bèo nhèo nhăn nhúm với bọc đồ được gói trong một miếng ni lông ôm trong bụng . Gã đó là tôi sau sáu năm ở tù vừa được thả về .

Lội theo con đường phía bên trái tôi đi bộ về nhà . Đứng ven bên đường trường Trung học Trần Bình Trọng là nơi tôi đã có sáu năm mài đũng ghế trước khi bước chân vô đời lính. Dãy khuynh diệp trước cổng nay đã sắp già . Những cây khuynh diệp này do chúng tôi trồng khi còn là những cây con bé tí . Năm đó tôi học đệ tam (lớp 10 bây giờ). Nơi này cũng là nơi tôi và các bạn cùng lớp quây quần bên nhau thuở còn đi học . Đang vào mùa đông . Trốn trong nách phía trên cao của dãy khuynh diệp là những vệt nắng chiều thả màu vàng yếu ớt lên những chiếc lá èo ọt . Tôi đứng trước cỗng trường với bộ đồ tù vá đùm đụp nhiều chỗ . Tại nơi này mới hôm nào tôi còn là một cậu học trò với đồng phục quần xanh áo trắng giờ là người tù đang bước vào tuổi trung niên. Cũng chỉ là một người nhưng tôi có cảm tưởng bị tách làm hai . Tôi nhớ bạn bè cùng lớp, những đứa con trai bị dòng chiến tranh cuốn hút tản lạc muôn phương. Những đứa tử trận , những đứa còn sống đang vất vưởng tại một nơi nào của một trại khổ sai nào đó. Những người con gái sợ lỡ xuân thì cũng vội vã lấy chồng là lính giờ cũng đang mòn mõi đợi . Tôi lủi thủi đi vào con phố với biết bao nỗi ngậm ngùi . Không ai nhận ra tôi đang trên con đường . Tất cả đều tan nát…




THƠ PLEIME- THEO CÁNH GIÓ BAY

THƠ PLEIME- THEO CÁNH GIÓ BAY

“Mày nghĩ tụi mình như cánh gió
Ai đi nhốt gió được bao giờ…”

Thiếu úy Nhảy Dù Lê Anh Thái tử trận khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972. Khi được đơn vị giao hoàn xác con, người cha là Lê Văn Tuyến đã tìm thấy một lá thư viết gởi bạn chưa kịp gởi trong những di vật còn lại của con. Ông phổ lá thư đó thành bài thơ sau đây tựa đề là THƠ PLEIME vì thiếu úy Lê Anh Thái đã viết từ khi còn ở Pleime cho đến khi chuyển quân đến Quảng Trị vẫn chưa kịp gởi.

Thiếu úy đã đền nợ nước khi mới tròn 24 tuổi, và có một đứa con mới chào đời 2 tháng đã mồ côi cha.
Thơ Pleime, trích từ tập “Theo Cánh Gió Bay” của thi sĩ Anh Tuyến

Tao được thơ mày cả tháng nay
Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày
Lưng không rời giáp, tay rời súng
Liên lạc thì không có máy bay
Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày
Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây
Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng
Nhớ ngõ Tam Ða tà áo bay
Pleime suốt tháng mưa dầm dề
Mày ơi, thèm quá khói cà phê
Thèm tô phở tái thơm chanh ớt
Thèm rót bọt đầy một cốc bia
Xi nê mày vẫn xem phim chưởng?
Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly?
Những chiều thứ bảy còn đi nhót?
Hay lén ông già nhậu whisky?
Năm nay mày có lên đại học?
Hay thôi, xếp sách nhập quân trường?
Mày tính vào Dù hay Lục Chiến?
Tao chờ mày nhé, ải biên cương
Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang
Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng
Ôm nhau, hai đứa cười ha hả
Râu tóc bù xù như cái bang
Mày nghĩ, đã lâu không được tắm
Hành quân liên tiếp giữa rừng già
Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa
Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da
Hôm qua địch pháo giữa ban ngày
Tao bị thương xoàng ở bả vai
Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt
(Mày đừng có nói mẹ tao hay)
Mẹ tao không biết giờ ra sao?
Còn khóc đêm trường để nhớ tao?
Còn giận tao là thằng bất hiếu
Xem tình cha mẹ như chiêm bao
Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn
Lính kiểng châu thành, lính phất phơ
Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió
Ai đi nhốt gió được bao giờ?
Những đêm biên cảnh sống xa nhà
Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa
Cũng có đôi lần tao muốn khóc
Muốn về thăm mẹ… thế nhưng mà.
..
Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp
Trực thăng đã đáp trong vòng đai
Tản thương lính đã đưa lên đủ
Tao viết thơ này vội gởi ngay
./.
T/g Anh Tuyến




Tôi đã biết mình lầm đường

Bài thơ tâm sự của một lính bộ đội Bắc Việt khi vào Sài Gòn ngày 30/04/1975

Tôi đã biết mình lầm đường lạc lối
Từ sau cái ngày “giải phóng” Miền Nam
Một mùa xuân tang tóc năm bảy lăm
Đi giữa Sài Gòn, tôi nghe mình thầm khóc.
Tôi khóc Miền Nam tự do vừa mất
Và khóc cho mình, chua xót đắng cay
Nửa đời người theo đảng đến hôm nay
Tưởng cứu nước đã trở thành tội ác.
Bởi tôi quá tin nghe theo lời bác
Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.
Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng.
Tôi đã xung phong với bầu máu nóng
Đi cứu Miền Nam ruột thịt nghĩa tình
Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu.
Người dân Miền Nam thật là khó hiểu
Nhà khang trang bỏ trống chẳng còn ai
Phố phồn hoa hoang vắng tự bao giờ
Giải phóng đến sao người ta chạy trốn
Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.
Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Kí gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
Anh bà con tôi- một người công chức
Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
Rồi anh nói: “Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ.”
Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.

Thơ: Huy Phan