Con đường đi , hoá thành sông Đồng ruộng trắng xoá mênh mông biển hồ Những dòng nước cuộn xô Bồ Mưa gào gió thét thẫn thờ lo âu Mây chùng xuống thấp rầu rầu Trời đen mờ mịt một màu tang thương Vài chiếc ghe nhỏ ngoài đường Trong nhà dọn dẹp ghế giường ngổn ngang Nhìn trời lòng thật hoang mang Nước dâng lên mãi nát tan cõi lòng Trời đất sao khiến long đong Bao nhiêu vật dụng chất chồng lên nhau Cầu cho con nước xuống mau Điện thì “ cúp “đã từ lâu tối mù Người thì mệt mỏi gật gù Dựa lưng trên ghế tù mù lất lây Nấu ăn biết chỗ nào đây ? ! Đành nhai sống gói mì này qua đêm Nước phủ chẳng thấy bậc thềm Trong nhà bì bõm lội rêm cả người Cây vườn bầm dập kém tươi Lều bều rác rưởi và rươi quanh nhà Vì rứa Huế phải lo xa Phòng khi bão lụt có mà miếng ăn Nhìn quê hương thật băn khoăn Biết bao suy nghĩ làm răng bớt buồn ? !
Võ Thời 11- 10 – 2020
THƠ ĐỜI TUY ĐỤC MÀ TRONG
Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ Bùi Chí Vinh là cái tên được nhắc tới với nhiều giai thoại, bởi anh có tài ứng khẩu thành thơ nhiều đề tài hóc búa do bạn bè thách đố bên chiếu rượu.
Còn trên thi đàn, thơ đời Bùi Chí Vinh người khoái cũng nhiều, người ghét cũng lắm, thậm chí là một cái gai trong mắt nhiều người vì dám nói thẳng, nói thật, tung hê hết thảy sự đời trong đục, kiểu “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng cũng cái dáng vẻ ngang tàng, gai góc ấy khi thỏ thẻ thơ tình lại biến hóa thành trong veo không có tuổi, kiểu như: “Cô gái ơi anh nhớ em/ Như con nít nhớ cà – rem vậy mà…”.
Tự nhận mình sinh ra dưới một ngôi sao “quậy”, cầm tinh con ngựa bất kham, từng khoác áo lính một thời tuổi trẻ, nhưng có lúc phải làm đủ thứ nghề mạt lộ để sinh nhai như lời tự bạch: “Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương/ Bất lương bàn luận chuyện hiền lương/ Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ/ Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”. Vài năm nay, anh chuyển sang cầm cọ vẽ tranh và đã có hai triển lãm cá nhân gây được sự chú ý trong công chúng.
-Trước đây mọi người quen gọi anh là nhà thơ, nhưng bây giờ gọi anh là họa sĩ trẻ cũng được phải không ạ?
Cứ gọi tôi là Bùi Chí Vinh – Bình Chí Vui là được rồi. Thật ra tôi làm quen với hội họa từ nhỏ, năm chín tuổi đã đoạt giải hội họa Thiếu nhi châu Á với bức tranh màu nước Quang Trung hành quân. Nhưng rồi do cái duyên, tôi gắn bó với văn chương nhiều hơn trong một thời gian dài. Thật vây, mỗi khi làm một công việc mới nào đó tôi đều không có sự tính toán nào. Tôi tin mọi việc đều do sự sắp đặt của số phận cả, và “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
-Bùi Chí Vinh một tay chọc trời khuấy nước mà cũng tin vào số phận sao? Cái sự “cùng tắc biến, biến tắc thông” của anh là gì vậy?
Sao lại không chứ. Tính cách nào, số phận nấy mà. Tôi tin vào số phận, vào Thượng đế, vào luật nhân quả. Nếu có niềm tin, con người ta sẽ sợ làm điều ác, điều xấu. Tôi chỉ không sợ cái ác, cái xấu khi phải đối đầu với nó thôi.
Đời tôi có những việc rất lạ mà tôi tin đó là sự trợ lực của Thượng đế. Tôi có niềm tin vào tâm linh, dù chúng ta đang sống trong thế giới duy vật. Đó là một khi cuộc sống bị đẩy vô chân tường thì tôi lại bộc lộ ra một khả năng mới và sống được bằng khả năng đó. Tôi quăng mình vào thơ một cách dữ dội nhưng rồi đến lúc chỉ được làm thơ tình để mọi người vỗ tay, hay thơ minh họa nghị quyết… tôi không thích nữa và dừng lại. Đưa đẩy thế nào tôi chuyển sang viết truyện cho tuổi mới lớn và bán vào hàng chạy nhất lúc đó cùng với Nguyễn Nhật Ánh. Khi người đặt hàng tôi viết truyện thiếu nhi là ông Nguyễn Thắng Vu, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng qua đời thì lại có người đặt hàng tôi viết kịch bản điện ảnh. Khi những nhà đầu tư làm phim gặp khó khăn thì khả năng hội họa của tôi lại trỗi dậy. Hai triển lãm vừa qua, mỗi cái tôi bán được năm bức tranh. Là “họa sĩ trẻ” mà được như vậy cũng là thành công rồi.
-Hỏi thật, anh đã thành danh trong văn chương, khi “tay ngang” đến với hội họa, anh không sợ bị cho là lấn sân, không “biết mình biết ta” sao?
Tôi có biết gì về hội họa đâu, bỗng một ngày muốn vẽ thì cầm cọ vẽ thôi. Vẽ xong cũng không có ý định triển lãm, nhưng rồi cái duyên cứ đưa đến. Tranh của tôi không giống ai, nó là minh họa cho cái đầu, cho suy nghĩ của tôi nên có sự hồn nhiên, chân thật lẫn dữ dội, thống khổ. Mỗi người có một sứ mệnh riêng nên tôi không nghĩ là mình lấn sân. Và vì “biết mình biết ta” nên tôi chỉ dạo chơi với hội họa một cách thoải mái nhưng hết mình. Bùi Chí Vinh là thế, chơi cái gì cũng phải hết mình.
Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.
-Như vậy sau hội họa, sẽ còn điều bí ẩn nào đó đang chờ anh khám phá phải không?
Như tôi đã nói, đó là một phản xạ tâm linh nên tôi cũng không biết trước. Có thể đó là sự trở lại với văn chương, vì tôi còn nhiều dự định đang ấp ủ.
Nếu có điều kiện viết tiểu thuyết lịch sử hoặc làm kịch bản phim, tôi sẽ chọn viết về thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ, vì những con người anh hùng áo vải thời đó rất ly kỳ. Nó sẽ rất phong phú bởi nhiều tình tiết, chi tiết dạng giả sử, ngoại sử rất hấp dẫn, nhưng đều trên cơ sở khoa học, hợp lý mà tôi có thể tưởng tượng và làm được. Không chỉ có Nguyễn Huệ mà cả Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, rồi sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Chỉnh – một tài năng lớn của thời Lê – Mạc nhưng đi theo Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhiệm cũng vậy. Những người này có đời sống riêng rất đặc biệt, Ngô Thời Nhiệm là đệ nhất văn thần, còn Nguyễn Hữu Chỉnh là đệ nhất quân sư thời đó. Có thể thấy những nhân vật lỗi lạc nhất của Bắc Hà đều theo Nguyễn Huệ, cả những người Hoa tham gia phong trào phản Thanh phục Minh cũng theo Nguyễn Huệ. Chỉ có minh chúa mới có sức thu phục nhân tâm như thế.
-Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn Bùi Chí Vinh thì có cảm giác gì khi “đáo tuế”?
Tôi sinh năm Giáp Ngọ 1954, năm nay 2014 cũng là Giáp Ngọ, vậy là đúng 60 năm cuộc đời. Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn tôi lại không nghĩ vậy. Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều vận hạn khắc nghiệt ở những năm khác nên đến năm tuổi, có khi tôi sẽ phục sinh, nạp đủ năng lượng để sải vó, để rong ruổi, để chinh phục những điều mới mẻ.
“Ngày ta sinh Nguyễn Huệ đã bùng hà/ Nên con – ngựa – tử – vi không người cưỡi/ Ta sút chuồng phá bỏ yên cương/ Lặng lẽ ruổi đời mình lên núi…”. Hình như kiêu hãnh và cô độc là con đường mà anh đã chọn và theo đuổi đến cùng…
Đúng rồi, vì “Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc/ Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người/ Ta không biết ta là người hay ngựa/ Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi”… Đó là bốn câu đầu và cuối mà tôi đã viết trong bài Ngày sinh của ngựa. Bài thơ này mới nghe qua tưởng rất ngông cuồng, nhưng thật ra không phải vậy. Câu “Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông”, tôi vừa mượn ý bài Ngày sinh của rắn của Phạm Công Thiện, nhưng hình ảnh rắn cũng để nói về một cái gì đó hiểm độc. Sự rình rập, mai phục trong bụi của rắn đối lập với hình ảnh con ngựa tung vó chạy trên đồng cỏ, càn lướt trên thảo nguyên. Trong đời tôi, Nguyễn Huệ là vị anh hùng mà tôi cảm phục, thần tượng nhất. Không chỉ là người làm nên chiến công hiển hách, chưa hề thất trận mà về mặt nhân quyền, ông có nhiều cải cách cho dân.
Thời nào cũng vậy, cách cô độc của một kẻ sĩ cầm bút đi liền với sự kiêu hãnh. Cô độc vì cảm thấy “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” nên phải lùi lại. Nhưng trong biểu hiện sự cô độc phải có cá tính riêng. Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.
-Văn chương cũng là một sản phẩm của xã hội. Có ý kiến cho rằng người viết trẻ bây giờ có kỹ năng nhưng ít có vốn sống nên tác phẩm của họ cũng lơ lửng. Anh thấy nhận xét trên thế nào?
Phải nói rằng viết văn là một nghề cực nhọc, đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn sự dấn thân, bản lĩnh của người viết. Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Tức phải tải được đạo lý, nhân nghĩa, chính trực, chứ nếu viết văn để tải cái hả hê, cái tham vọng của cá nhân thì nên chọn công việc khác hơn là viết văn. Tôi tin những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.
Bây giờ văn chương rất hỗn độn. Văn chương thậm chí tải cái ác, cái lơ lửng, khích cái tà đạo nhưng lại được một bộ phận không nhỏ cổ vũ. Có lẽ do đời sống bây giờ thực dụng, người ta không còn lý tưởng nên văn chương biến thành minh họa cho xã hội. Hơn bao giờ hết, giữa xã hội hỗn độn, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn thì văn chương càng phải làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai của văn học trẻ bây giờ tôi không cảm nhận được điều đó. Hiện nay tuy có rất nhiều người viết trẻ, nhưng tôi lại thấy văn học trẻ rất bế tắc. Lý do họ bị khống chế quá nhiều. Trong bản thân mỗi người có sẵn một người tự kiểm duyệt những con chữ của mình. Thế nên nhiều tác phẩm ra đời kiểu “đầu voi đuôi chuột”, mở ra vấn đề lớn nhưng kết thúc không đâu vào đâu.
Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.
-Đời sống thực dụng, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn. Nghe thật đáng sợ, nhưng chẳng lẽ chúng ta phó mặc, không làm gì sao? Có lẽ nên bắt đầu từ giáo dục, anh có thấy như vậy không?
Thời của tôi, từ khi còn nhỏ, học tiểu học là đã được nhà trường dạy môn Đức dục. Đó là cách tập tu thân, cư xử có đạo đức, theo đạo lý, lẽ phải nhưng không giáo điều, lên gân mà hết sức đơn giản, gần gũi như thưa gởi, xin phép cha mẹ khi ra khỏi nhà, chào người lớn tuổi, gặp đám tang cúi đầu chào, nghe thấy quốc ca dù ở đâu cũng đứng nghiêm, không nhặt của rơi… Những điều rất cơ bản trong một xã hội văn minh mà một đứa trẻ cần phải biết cách ứng xử với bạn bè trang lứa, với cha mẹ, người lớn, hàng xóm, với cả người nước ngoài đến nước mình. Lên trung học, bước vào đệ thất (tức lớp 6) thì học thêm môn Công dân, mở rộng hơn dạy về cách sống yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, nghĩ đến đất nước trước khi nghĩ đến bản thân. Nhờ những bài học Đức dục, Công dân mà một đứa trẻ khi lớn lên bên cạnh kiến thức thì đã được trang bị nền tảng văn hóa để biết cách sống đẹp. Đất nước ta đã từng có những thế hệ được thừa hưởng nền giáo dục nhân văn như thế, từ đó mới có những người sống vì lý tưởng, dám dấn thân, dám hy sinh.
Có lần tôi tham gia biểu tình và bị cảnh sát rượt, tôi phải quăng chiếc xe đang chạy trên đường Pasteur để thoát thân. Hai ngày sau quay lại thấy chiếc xe máy vẫn còn nguyên chỗ cũ. Lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi không cảm động hay thấy việc đó có gì đặc biệt. Vì đó là điều bình thường trong xã hội mà con người được giáo dục không được tham lam, tước đoạt của cải của người khác, dù để trước mặt. Thời tao loạn mà còn như thế. Còn bây giờ, chúng ta đã qua thời nghèo đói để biện mình cho việc “bần cùng sinh đạo tặc”, vậy mà những tin “hôi của” xảy ra khắp nơi. Hơn cả buồn là sự xót xa.
-Anh từng làm “sếp” của những tay anh chị giang hồ mà vẫn cảm hóa được họ bằng thơ kia mà.
Bởi tôi tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”, và thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.
Sau 1975, tôi được phân công về công tác tại Trường Thanh niên Xây dựng cuộc sống mới ở Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tân Phú (Đồng Nai) giáo dục cho thanh niên loại 4. Có những người có học thức và cả những người thất học, họ phạm pháp nhưng chưa đến mức phải ở tù nên bị thử thách, trải qua môi trường cải tạo, xây dựng cuộc sống mới ở trường này. Tôi làm tuyên huấn, trực tiếp dạy học cho họ bằng vốn sống và kiến thức mình chứ không theo giáo trình nào cả. Ở đó, tôi thấy sự ngây thơ và hướng thiện của họ còn mạnh mẽ hơn chính những cán bộ thanh niên xung phong đang giáo dục, hướng dẫn họ.
Tôi còn nhớ, có lần một học viên là giang hồ anh chị nổi tiếng vùng Tân Định bị đưa vào trường, anh này bất phục và có ý định bỏ trốn bằng vũ lực. Thấy được thái độ của anh ta, tôi làm bài thơĐiều tôi chưa chuẩn bị – là lời suy niệm của một “đại ca” dân Sài Gòn có học thức, nhưng cũng là châm ngôn của những người giảng dạy là “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”. Liền sau đó tôi bị cấp trên nhắc nhở, cho rằng tôi đi lệch phương pháp của trường.
“Đời sống có gì hơn quả bóng/ Tay trơn không níu được bao giờ/ Hạnh phúc có hơn gì quả bóng/ Lủng mấy lần xì hết ước mơ… Quả bóng tròn như thể công danh/ Anh chụp suốt một đời không dính…”.
-Có khi nào anh nghĩ đời mình trắc trở do thơ anh vận vào đời không?
Nhờ làm thơ về bóng đá mà tôi sống được đó chứ. Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn “cấp trên cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo”, còn nếu phải đăng thì “chỉ đăng thơ tình và duy nhất thơ tình mà thôi”. Tuy chỉ cấm bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, nhưng không nơi nào dám làm trái. Tôi phải xoay xở và nghĩ ra đề tài làm thơ về bóng đá. Thuởấy nhà báo Hồ Nguyễn phụ trách tờLong An Bóng đá và tờLong An Cuối tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh thắt ngặt của tôi bèn đề nghị mỗi số báo tôi có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Những bài thơ như một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam đã giúp tôi sống được qua lúc khó khăn đó.
-Lý lịch của anh rất đỏ mà cũng phải khổ sở như vậy sao?
Gia đình tôi là gia đình cách mạng. Ba tôi từng là thành viên Ban tuyên truyền thi hành Hiệp định Geneve, là một nho sĩ Bắc Hà, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Mẹ tôi cũng hoạt động trong Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và cũng là đảng viên Đảng Lao động. Bà từng bị bắt ở bót Catinat và ở tù chung với bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… Ba tôi cũng muốn hướng tôi đi theo con đường của ông, nhưng tôi vốn cầm tinh con ngựa, có máu lang bạt, nổi loạn nên không muốn đi theo lối mòn. Nhà tôi ở xóm Lách dưới chân cầu Công Lý toàn là người lao động nghèo. Lớn lên tôi thấy hàng xóm tuy nghèo nhưng là những người tử tế, cư xử minh bạch, quân tử, ngay cả tiếng chửi thề cũng khí khái chứ không bừa phứa, vô lối. Vì vậy, tuy sống ở khu bùn lầy nước đọng nhưng chất hiệp sĩ cứ ngấm vào người từ lúc nào, khoái làm anh hùng nghĩa hiệp để bảo vệ người cô thế. Trong hoàn cảnh đó, những người có lý tưởng tham gia đấu tranh rất nhanh. Năm 15 tuổi tôi đã tham gia hoạt đồng cách mạng. Và cuộc đời đã quăng quật thằng tôi không thương tiếc để tôi phải thấm thía câu thế thái nhân tình.
-Nhưng có lẽ nhờ thấm đòn mà anh cũng khôn ngoan hơn?
Một con người có khi trộn lẫn nhiều yếu tố, nhưng dù thế nào cũng trên cơ sở Chân – Thiện – Mỹ. Khi tôi phân thân ra thì tôi vẫn là tôi, không giả dối, đánh lừa mình. Phân thân không phải là biến thành diễn viên mà là để linh hoạt tồn tại như câu nói nổi tiếng của Pele: “Tại sao tôi biến thành một cầu thủ thiên tài trong bóng đá? Bởi vì tôi biết linh hoạt như một giọt thủy ngân trên sân cỏ”.
-Những biến thiên của một cuộc đời rất vô cùng. Giờ đây, nhớ về cậu bé xóm Lách ngày nào, anh có thấy hài lòng với những gì mình đã làm được trong cuộc đời chưa?
Với một thằng bé xuất thân từ xóm Lách với đủ trò thả diều, câu lươn, bắt dế… và phải kiếm kế sinh nhai từ thuở nhỏ như dạy toán, luận văn cho những đứa cùng lớp, làm lồng đèn trung thu, nhiều trò thủ công khác để có tiền… thì tôi có chút hãnh diện, nhưng cũng chưa hài lòng, bởi với đất nước có bổn phận phải làm nhiều việc. Thời nào cũng vậy, bổng lộc là xương máu tạo anh hùng. Những câu thơ cũ tôi viết từ năm 1978 giờ vẫn “nóng”: “Biên giới như người đau mới mạnh/ Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng/ Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh/ Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương…”.
Xin được chia sẻ cùng anh những nỗi niềm của một người Việt Nam.
Vì da Việt chưa có Louis Armstrong, Michael Jordan, Muhammad Ali, Whitney Houston, Beyoncé, Denzel Washington, Will Smith, Morgan Freeman, Whoopi Goldberg, George Washington, Alice Ball, Mae C. Jemison, Maya Angelou, Toni Morrison, Langston Hughes, Barrack Obama…
Không thể hơn da Mễ,
Vì da Việt chưa có Octavio Paz, Carlos Fuentes, Anthony Quinn, Jennifer Lopez, Victor Celorio, Victor Ochoa, Pacho Villa, Alfonso Garcia Robles, Mario José Molina…
Chỉ có thể hơn da bản thân.
Khi người Việt ủng hộ da trắng kỳ thị da màu,
đã tự quên mình là ai,
có lẽ,
vì ngây thơ
vì ngu ngơ
vì giả vờ
hoặc nửa nghi nửa ngờ da mình thuộc hàng cao cấp.
PHƯƠNG XA
Thơ Vũ Hoàng Chương
Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,
Xô về đông hay giạt tới phương đoài,
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,
Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi.
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.
Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,
Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan.
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.
RU TÌNH
Hôm nào mở cửa mùa Thu, Nắng hanh mây tụ non mù quyện nhau, Lửa tình chớm trước duyên sau, Chiều nào mang sáo qua cầu thang mây.
Hôm nào mở cửa Hạ say, Sóng trùng dương dợn ngất ngây gió nồng, Sầu ve phượng vỹ nát lòng, Ngày nào biển gọi ru dòng tình thơ.
Hôm nào mở cửa Đông mơ, Trăng non buốt giá soi mờ bóng xiêu, Người đi lỗi tạ muôn chiều, Ru tình tạ lỗi cô liêu một thời.
Hôm nào mở cửa Xuân tươi, Ra đi là mất mộng đời xuân xanh, Gởi người ở lại an lành! Gởi người ở lại Mai lành nguyên hương !
Hôm nào người ghé bến thương, Người mang cả một thiên đường đê mê, Bên nhau rộn rã non thề, Thời gian ngừng bặt biển thề dưới trăng !
Tình em vằng vặc trăng rằm, Tình anh sầu rụng rơi nằm trong thơ, Bên nhau hò hẹn tận giờ, Tình ru thắm thiết cuối bờ yêu thương…!
NGUYỄN THIÊN LONG
Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài hoa
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Hơn nửa thế kỷ nhầm nơi sinh quê quán.
Thật lạ là hơn nửa thế kỷ người ta tin là nhạc sĩ Hoàng Nguyên sinh ở Quảng Trị. Tất cả tiểu sử giới thiệu tác giả, đều ghi quê quán Quàng Trị, đến nỗi từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi rõ: “Hoàng Nguyên (1932 – 1973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ… Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1–1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên có tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố”.
Các tư liệu ấy có 2 cái nhầm: Nơi sinh và năm sinh của ông.
Sự thực, ông sinh ra tại xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tên thật ông là Cao Cự Phúc, sinh ngày 3.1.1930 (sau này ông khai là sinh năm 1932), mất ngày 21.8.1973.
Tôi quen với Giáo sư Cao Cự Bội sinh năm 1936 tại Diễn Bình là chú của Cao Cự Phúc, nhưng cháu hơn chú 6 tuổi, lớn lên lại biết dạy võ cho chú. Tất nhiên tuổi thiếu thời của Phúc sống và học tập ở quê cùng chú Bội gần chục năm mới rời quê hương. Anh Phúc rời quê là vì mẹ đã mất sớm, cha đi làm sở điện, đến lúc anh 15-16 tuổi theo ông nội vào Vinh học và tham gia quân đội chống Pháp khi còn trẻ. Tổ chức thấy anh thông minh, giao ông nhiệm vụ vào tìm bố làm việc bưu điện ở Quảng Trị để hoạt động bí mật. Anh Phúc vào học xong ở Huế rồi bị bắt vì làm nhạc trong phong trào Hòa bình. Được thả, 1955 lên Đà Lạt dạy Anh văn và âm nhạc, hướng nghiệp cho Nguyễn Ánh 9 sau này trở thành nhạc sĩ. Năm 1957 bị bắt đày ra Côn Đảo vì thành phần Việt minh cũ và cất trữ bản nhạc Tiến quân ca và Trương Chi của nhạc sĩ Văn Cao. Ra tù, 1961 học thêm đại học Sư phạm Sài Gòn, dạy học, sáng tác âm nhạc. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi ra trường chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt và được giao phụ trách ban nhạc Hương Thời Gian.1973 mất vì tai nạn xe hơi ở Vũng Tàu.
Gần đây tôi có gặp ông Lương Tử Miên, người xã Diễn Bình kém anh mấy tuổi có biết anh Phúc. Ông kể: sau năm 1945, anh Cao Cự Phúc đang ở nhà ông bà nội anh ấy (ở cùng xóm với tôi cách nhà nhau chừng 100m). Hàng ngày tôi vẫn vào nhà học nhóm với chú ruột Cao cự Phúc là Cao Cự An và gặp anh Cao Cự Phúc. Có lần Cao Cự Phúc hướng dẫn cho chúng tôi về âm nhạc. Cao Cự Phúc cũng học Trường Nguyễn Xuân Ôn, trên chúng tôi 2 lớp. Quảng năm 1948 anh Cao Cự Phúc rời nhà ông bà nôi sang nhà bà Hàn Lương cháu nội cụ Nguyễn Xuân Ôn ở xã Diễn Thái vừa làm gia sư vừa đi học tiếp trung học. Từ đó cho đến khi tôi đi lính thì không gặp anh Cao Cự Phúc nữa. Khoảng năm 1949-1950 nghe tin anh Cao Cự Phúc tham gia đoàn tuyên truyền kháng chiên liên khu 4 cùng với nhà văn Bửu Tiến và anh Cao Xuân Hạo (sau này là giáo sư ngôn ngữ học) đi vào chiến khu Ba Lòng (Cam Lộ – Quảng Trị) hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Thông tin về Cao Cự Phúc sau đó không có nhiều ở quê nên ít người biết. Còn nói về gốc gác quê hương bản quán và tuổi trẻ thì phải nói anh Phúc quê ở Xóm Chợ xã Diễn Bình huyện Diễn Châu – Nghệ An bây giờ
Như vậy, Cao Cự Phúc xuất hiện ở Quảng Trị đi tìm bố, từ khoảng 19 tuổi, khi ấy anh đã học nhạc ở ban nhạc họ Cao Diễn Châu, học nhạc Nguyễn Văn Thương quen ông nội ở Vinh và sáng tác âm nhạc. Mẹ đẻ anh mất lúc 2 tuổi, mấy năm sau bố anh là ông Thông Bàng lấy vợ kế, sinh con ở Quảng Trị. Từ khi tìm bố ở Quảng Trị, Cao Cự Phúc vào học ở Huế khai tụt 2 tuổi và lấy bút danh Hoàng Nguyên. Sự kiện 1955 bị bắt và được thả đã thôi thúc ra đi, và thẳng Đà Lạt dạy Việt văn, Anh văn và âm nhạc, xuất hiện chùm ca khúc Đà Lạt nổi tiếng của Hoàng Nguyên: Ai lên xứ hoa đào, Bài thơ hoa đào, Đà Lạt mưa bay. Không ai ngờ rằng, Hoàng Nguyên là người nhạc sĩ tài hoa quê tận Diễn Châu, Nghệ An.
Âm nhạc cuộc sống và lãng mạn.
Nếu nói về sáng tác âm nhạc thì Cao Cự Phúc – Hoàng Nguyên là một nhạc sĩ rất nổi tiếng thập niên 50, 60 thế kỷ trước. Ông không chỉ sáng tác nhạc mà còn dạy nhạc, dàn dựng tác phẩm và phát hiện bồi dưỡng những nhạc sĩ trẻ. Nguyễn Ánh 9 là một nhân tố mà ông yêu quý, chăm sóc trở thành người nhạc sĩ tài hoa sau này. Người học trò thuở đấy đã nghĩ về Hoàng Nguyên là một con người có lý tưởng chống Pháp, và âm nhạc của anh đã hiện rõ lý tưởng đó: Có lẽ trong lòng những người yêu nhạc sẽ mãi mãi vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp… “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ…”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc Anh Đi Mai Về này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.
Có lúc Hoàng Nguyên đã sáng tác ca khúc khi làm tuyên truyền quân khu 4, cùng tinh thần sáng tác ca khúc với Cao Xuân Hạo đồng hương, nhưng rồi do nhiệm vụ khác nhau. Hoàng Nguyên học ở Huế, các hoạt động Việt Minh bị cách trở thấy xa xăm. Nhiều đêm anh nhớ cảnh hoạt động cùng đồng đội mà vẫn phải chịu đựng qua ngày tháng:
Quên đi những chiều nhìn mây vương sau đèo
Nắng vàng đùa thông reo bên bờ dòng suối lắng
Cùng nhau vỗ súng ca cho đời biên khu
Xa rồi ơi đàn
Đâu đêm trăng vàng cùng chung vui bên rừng
Tiếng trầm hùng vang vang, bóng từng đoàn chiến sĩ,
nguyền dâng sức sống cho quê nhà
Đêm nay xa rồi ơi đàn
Đàn ơi xa rồi,
Lòng vắng mơ chi ngày về, đàn ơi dứt đi đường tơ
Đàn ơi xa rồi, tơ lòng đừng vương vấn
Buồn chi khi non sông còn vương máu, và chiến chinh đang tràn lan
(Đàn Ơi, Xa Rồi)
Ngay cho đến khi đất nước chia đôi, tinh thần thống nhất đất nước vẫn luôn trỗi lên trong anh. Tất cả những mối liên lạc hoạt động như mất hết với anh, và niềm khắc khoải day dứt cùng lý tưởng chỉ lặng lẽ với anh. Anh nghĩ tới “cách chia”, “chia lìa” và vẫn “nhớ thương”, “mong chờ”. Chính vì vậy mà bài hát “Em chờ anh trở lại” đã ra đời sau hiệp thương 1954 như một khao khát nước nhà thống nhất:
Ngày anh ra đi, đường nắng chưa phai màu
Dòng sông chia ly, lờ lững chưa hoen sầu
Ngờ đâu chân anh, lạc bước khi qua cầu
Chiều nay bâng khuâng, chợt xót thương đời nhau.
Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh màu
Mà nay bên sông, liễu khuất bến giang đầu
Mười mấy năm qua rồi còn gì đâu? Còn gì đâu
Có chăng là đớn đau.
Em chờ anh trở lại chốn đây
Đường xưa còn đó sánh đôi vai gầy
Em chờ anh tìm về lối cũ
Có em còn đây bên sông này
Đợi chờ ai đến trong vòng tay.
Bài hát là bài tình khúc, khao khát và chia lìa, lãng mạn trên đau khổ. Những bài hát như vẫn phảng phất lý tưởng dân tộc trong đất nước chia đôi. Đó chính là lý tưởng của người nhạc sĩ Hoàng Nguyên trong một giai đoạn lịch sử hiện thực chi phối cả dân tộc.
***
Từ thời Hoàng Nguyên phiêu bạt vào Đà Lạt, anh tung một chùm bài hát trữ tình, lãng mạn rất tươi đẹp, như cảm xúc của du khách rất yêu đời. Những người du khách, nghệ sĩ nghe nhạc, nhập vào những âm thanh bên hồ, tiếng suối, tiên cảnh nên thơ. Có người nghe nhạc Đà Lạt của Hoàng Nguyên rồi gọi ông là “người đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”. Vâng, âm nhạc của anh xứng đáng vẻ đẹp và tươi sáng của xứ hoa như vẫy mọi con người. Và lời ca của Hoàng Nguyên rất giàu chất thơ, gây mê người thưởng thức:
“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi
Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi
Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ
Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ
Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa
Ai lên xứ hoa đào dừng chân bước lần theo đường hoa
Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai
Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa
Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương
Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên”
Những câu nhạc như dài ra hơn bình thường. Những nốt nhạc lên xuống như núi đồi nối nhau. Những hoa bướm, bướn hoa; những quên lãng, lãng quên như quấn quýt lấy nhau trong một khúc thức mở ra không cùng lấp lánh. Qua bài hát, ta thấy tài năng cả nhạc và lời của Hoàng Nguyên như được trời cho:
Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa
… Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má aị
Có thể nói Hoàng Nguyên đã mê say Đà Lạt trinh nguyên thuở ban đầu. Chỉ trong thời gian ngắn, 2 ca khúc về Đà Lạt được anh sáng tác, và trở thanh 2 ca khúc bất hủ cho vùng đất này. Bài thứ 2 là “Bài thơ Hoa Đào” anh viết trong một căn phòng đơn sơ của một thầy giáo, “trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt”. Nguyễn Ánh 9 đã nhớ lại như vậy, và đã nghe anh hát cho nghe giai điệu đầu tiên đầy quyến rũ:
Ngày nào dừng chân phiêu lãng
Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi
Màu hoa in dáng trời
Tình hoa lưu luyến người
Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi
…Ôi! Đà Lạt là mơ
Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần
Tóc mây buông lơi tha thướt bên hồ
Đợi tình quân đến trong giấc mơ…
Và vẫn còn “đợi tình quân đến trong giấc mơ” của anh lính Cao Cự Phúc ngày nào. Với âm nhạc say sưa da diết như vậy, người ta tin là anh đã gắn bó với đất này như thiên đường của tuổi trẻ. Nhưng anhthú nhận với người học trò yêu quý ngay sau khi anh viết xong bài hát này: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng…”. Vâng, sự “ghé chân” đã dâng lên trog bài hát:
Nhưng rồi mùa hoa tàn
Người hoa sao vắng mãi
Bao chiều lòng mong chờ
Đường hoa sao hững hờ
Để lòng lữ khách tê tái
Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai
Màu hoa in trên má
Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi!
Chính vì tâm sự ấy mà nỗi lòng bâng khuâng mãi với Đà Lạt, bâng khuâng mãi với lữ khách muôn thời.
Cũng với Đà Lạt, anh còn có những bài hát nữa như “Đường nào lên thiên thai”, “Đà Lạt mưa bay”… Bài hát nào cũng muốn cái đẹp của Đà Lạt như Thiên Đường, không bị phai tàn. Có thể đó là mơ mộng:
Cầm tay em anh hỏi
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai?
Nơi hoa xuân không hề tàn,
Nơi bướm xuân không hề nhạt,
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ
Và Hoàng Nguyên cứ tin cuộc đời là vậy, với đôi mắt trong đẹp ngây thơ:
Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.
Rồi một ngày anh chỉ “ghé chân” nơi Đà Lạt, phải rời xa nơi này bởi tù đày vì yêu đời yêu nhạc yêu ca. Âm nhạc của anh vẫn vang lên cũng cuộc sống:
Chừ anh đi rồi mình tôi còn ở lại
Dalat buồn mưa mãi mãi không thôi…
Rời Đà Lạt, Hoàng Nguyên tiếp tục một cuộc sống khác, nhưng chỉ mấy năm gắn bó bằng âm nhạc, bằng lời thơ, bằng trái tim yêu đời cùng thành phố hoa thơ mộng, anh đã trở thành “Người nhạc sĩ đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”.
***
Thời gian “sau Đà Lạt” thì cuộc đời rất phức tạp và éo le với Hoàng Nguyên. Năm 1956, anh bị chính quyền lùng bắt ở Đà Lạt do hoạt động tuyên tuyền Quân khu 4 kháng chiến chống Pháp từ lâu và lấy cớ trong nhà có bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, nên anh đã bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1957. Bị tù ở Côn Đảo, do tài giỏi, anh được Chủ đảo mời dạy nhạc cho con gái 19 tuổi, thầy trò đã yêu nhau bốc lửa và mang bầu, phải vận động cuộc tự do để thả Hoàng Nguyên ra tù về Sai Gòn theo ý Chủ đảo. Anh ra tù không lấy con Chủ đảo vì éo le, tiếp tục dạy học và theo học Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1961, anh quen ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết và bà Huỳnh Khanh là nữ diễn viên mến mộ tài năng nhận anh làm em nuôi, rồi trở thành con rể ông bà. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, lý ban nhạc Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đến khi bị tai nạn xe hơi kết thúc cuộc đời.
Thời kỳ này âm nhạc miền nam không chỉ nhạc vàng tình yêu, nhạc xanh, nhạc sến mà còn nhạc trẻ, nhạc tây. Hoàng Nguyên từ dòng tiền chiến lãng mạn đến tình yêu sang trọng, rồi nhập vào dòng tân nhạc hay hiện đại. Nhưng câu chuyện tình yêu trong ca nhạc muốn vượt lên, nhưng vẫn phảng phất nỗi niềm tủi đau. Trong khi chuyện gia đình người vợ làm anh u uất không vui, và âm nhạc cũng gieo vào tâm sự:
Những tưởng dài lâu
như trăng như sao cho đến bạc đầu.
Nào ngờ trời mưa
mưa rơi không thôi nát tan tình đầu
Nước mắt rơi mau
long lanh giọt sầu xót xa niềm đau.
(Đừng trách gì nhau)
Ai dám đợi chờ ai
Và người nay đi xa
Từ giã bến sông dài
Để đến hôm nay tôi ngồi đây
Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy
Người ơi! thơ ngây đã lỡ rồi
Tình xa rồi thì cho tôi chép lại vần thơ xưa.
(Thuở ấy yêu nhau)
Và bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,dù là một chuyện tình đã lỡ, nhưng cái con người nhân văn của nhạc sĩ luôn luôn trĩu nặng trong từng lời thơ nốt nhạc. Âm nhạc cũng mới mẻ lên, nhịp điệu cũng dào dạt hơn, để lại tâm tình càng sâu nặng sau bao yêu thương đau khổ. Bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,có gía trị, và được chọn thu vào đĩa 45 vòng do Hãng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất do Thanh Lan hát cùng bài “Không”của Nguyễn Ánh 9 được Khánh Ly hát. Và đây là đầy đủ lời ca của Hoàng Nguyên”:
Khóc mà chi, yêu thương qua rồi
Than mà chi, có ngăn được xót xa
Tiếc mà chi, những phút bên người
Thương mà chi, nhắc chi chuyện đã qua
Anh giờ đây như là chim
Rã rời cánh biết bay phương trời nào
Em giờ đây như cành hoa
Trót tả tơi đón đưa ngọn gió nào.
Mình nào ngờ, tình rơi như lá rơi.
Người tình đầy, vòng tay ôm quá lơi.
Để giờ này một người khóc đêm thâu,
Một người nén cơn đau nghe mưa mà cúi đầu.
Thế là hết, nước trôi qua cầu
Đã chìm sâu những thánh ngày đắm mê
Thôi đành quên, những tiếng yêu đầu
Những lời yêu ấy nay đã quá xa.
Nẻo đường cũ giăng đầy mưa
Khuất mù lối khiến nên tình đành lỡ
Ta giờ đây như rừng thu
Nắng liệm với chiếc lá vàng cuối mùa.
Có thể nói, từ “Ai lên xứ hoa đào”đến“Cho Người Tình Lỡ”,là 2 đỉnh cao của ca khúc đầu đời và cuối đời của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.
Hoàng Nguyên – Nhạc sĩ của công chúng.
Thường thì một đời, một sự nghiệp âm nhạc phụ thuộc vào tác phẩm được công chúng yêu thích. Có nhạc sĩ cả nghìn bài đươc 1 bài nổi tiếng, được công chúng ghi danh. Có nhạc sĩ trăm bài được vài bài, dăm bài nổi tiếng là để lại nhiều thế hệ yêu thích. Và có người qua đời, không để lại tác phẩm nào cả. Điều đó là công bằng, tác phẩm được sàng lọc qua thời gian.
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc mất sớm do tai nạn khi 43 tuổi, không còn từ năm 1973 đến nay đã 45 năm, nhiều bài hát của anh vẫn còn được công chúng yêu thích, được khắc trên đá, được vang trong cuộc sống. Đó là niềm vinh dự của người nhạc sĩ trong cuộc đời này. Có thể nói, các thế hệ không quên những tác phẩm nổi tiếng của anh, và biết ơn anh.
Và anh có quê, quê gốc nhiều đời, quê cha mẹ sinh ra xã Diễn Bình, Diễn Châu của anh; quê tuổi thanh niên Quảng Trị cùng cha đẻ, mẹ kế và các em của anh; và các miền quê phiêu bạt đã làm nên sự nghiệp của anh.
Là một người bắt đầu hoạt động chống Pháp từ khi còn trẻ, dù môi trường công tác khác nhau có thể mất cả đường dây hoạt động, bị khủng bố, tù đày nhưng anh vẫn trở về cuộc sống nhân văn làm gốc với con người, xã hội. Và cho dù làm với bên này bên kia bằng ngòi bút sáng tác, bằng người dạy học mang kiến thức cho mọi người. Thật đáng kính.
Vì vậy những người yêu anh đã khắc những bản nhạc của anh lên đá, những phù điêu hình ảnh của anh nơi công cộng, và cũng có những người đề nghị đặt tên đường cho anh trên đất Đà Lạt, con đường nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Và theo tôi, nên đặt cả tên đường của anh trên đất Diễn Châu, Nghệ An và trên đất Quảng Trị.
Vâng, sự nghiệp của anh bằng âm nhạc thật rõ ràng. Anh, Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc là người nhạc sĩ lãng mạn và tài hoa.
Hà Nội, 15.7.2018
Hoài niệm thu về
Hoài niệm thu về bao vấn vương
Cho lá vàng phai những cung đường
Gió sương, lá úa bay khắp ngõ
Xơ xác hoa vàng đã nhạt hương.
Sương khói mờ bay chiều nhớ nhung
Trời thu giá buốt đến lạnh lùng
Buồn nghiêng theo lá rơi về cội
Viết nốt bài thơ lòng nhẹ rung.
Mùa thu vàng úa nét tiêu sơ
Gió lạnh sương bay phủ bóng mờ
Thiếu nữ nhà bên buồn tựa cửa
Nhớ thương ai? mà đứng ngẩn ngơ.
Người ấy! có lẽ ở rất xa
Thương sao! Thiếu nữ nhớ quê nhà
Mấy thu mưa gió trời xa lạ
Tình cũ tàn phai nhuộm bóng tà.
Lê Tuấn
“Người nghệ sĩ lang thang hoài trong tâm tưởng để viết mãi những vần thơ tình cho mùa thu hoài niệm.
Thung lũng hoa vàng. San Jose tháng 9 mùa Covid 2020”
———————————————————————————
Còn một chiếc lá
Bỗng nhận ra mùi lá
Nhẹ bay theo gió về
Sương giăng mờ phố vắng
Mùa thu đứng bên lề.
Em được mùa xúng xính
Quần áo rất điệu đàng
Ai ngoài kia đứng đợi
Bước vào thu nhẹ nhàng.
Thu còn bao nhiêu gió
Cành vơi nhiều lá khô
Cổ thụ già lớn tuổi
Còn chiếc lá chơ vơ.
Lê Tuấn
Người nghệ sĩ lang thang
Tháng 9 mùa Covid 2020.
Hình minh hoa với kỹ thuật photoshop lê tuấn
Ảnh tự chụp, trong công viên quốc gia miền bắc California, nơi đây là vùng rừng núi tuyệt đẹp Yosemite National Park. Tháng 10 mùa thu năm 2018.
Under The Lover-Dưới Giàn Hoa Tím
BÔNG HỒNG MÙA XUÂN
BÔNG HỒNG MÙA XUÂN
Đây là bài thơ của tác giả Lý Thụy Ý, đăng trong Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Sài Gòn vào năm 1968.
… Lúc đó chiến tranh Miền Nam Việt Nam đang hồi khốc liệt. Bài thơ viết về chuyện tình của một người lính thời chiến và cô gái bán bông hồng ở hậu cứ …
Bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn đầy tính nhân văn đằm thắm thật đáng yêu trong tình yêu trai gái, tình đồng đội và sự nhớ ơn những người lính đã nằm xuống để bảo vệ Miền Nam Việt Nam thân yêu trước năm 1975.
BÔNG HỒNG MÙA XUÂN “Bán cho tôi một bông hồng đi, cô bé! Đóa nào tươi còn búp nụ mịn màng.” Tôi ngước lên: “Xin ông chờ tôi lựa. Một bông hồng vừa ý nghĩa, vừa sang!”
Khách mỉm cười: “Cô thật tài quảng cáo! Thế… hoa hồng mang ý nghĩa sao, cô?” Tôi bối rối: “Hình như người ta bảo Nó tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.”
“Cám ơn cô! Giá bao nhiêu đấy nhỉ?” Tôi lắc đầu: “Thôi, xin biếu không ông Một đóa hoa không đáng bao nhiêu cả Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”
Khách bỗng nhìn tôi, mắt như xoáy lốc “Cô bé lầm! Tôi không tặng người yêu Thằng bạn thân chiều qua vào nghĩa địa Một bông hồng cho nó bớt quạnh hiu.
“Nhưng cô bé phải nhận tiền tôi chứ! Hoa cho không, rồi mẹ mắng làm sao?” Tôi cúi mặt: “Xin gửi người xấu số Chuyện của ông làm tôi bỗng nghẹn ngào!”
Khách quay đi, áo hoa rừng đã bạc Dáng cao gầy khuất hẳn bóng chiều nghiêng Tôi bất chợt đưa tay làm dấu thánh Mẹ giữ gìn cho Người ấy bình yên!
Trời đầu xuân còn vương vương sắc lạnh Nắng vàng mơ, má con gái thêm hồng Tôi bâng khuâng nhớ đến người khách lạ Mình nhớ Người, Người có nhớ mình không?
Chiều hai chín phố phường sao tấp nập Người ta vui từng cặp đẹp bên nhau Mắt tôi lạc… rồi bỗng dưng bừng sáng “Phải anh không? Người khách của hôm nào?”
Tim đập mạnh sau áo hàng lụa mỏng Anh đến gần, lời nói cũng reo vui: “… Sao cô bé… hàng hôm nay đắt chứ? Còn nhớ tôi… hay cô đã quên rồi!
Hành quân xong, tôi vừa về hậu cứ Ghé ngang đây xin cô một bông hồng Và mong cô cho tôi xin lời chúc: “Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”
Tôi bỗng nghe như tim mình thắt lại Gượng tìm hoa, rồi trao tặng tay Người Khách nhìn tôi, mắt bỗng dưng dịu xuống Đầy đăm chiêu và nghiêm lại nụ cười:
“Xin lỗi cô, nếu lời tôi đường đột Nhưng thật tình tôi không thể nào quên Người con gái trong một lần gặp gỡ Nhớ thật nhiều… dù chưa được biết tên.
Một bông hồng – như hôm nào cô nói: “Là tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.” Tôi run tay, nhận hoa hồng Người tặng Sự thật rồi… mà cứ ngỡ đang mơ.
(Thơ: Lý Thụy Ý)
Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời
Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời
08/08/2020
Tác giả: Bùi Mạnh Nhị
1.
Từ khi xuất hiện trong phong trào Thơ mới cho đến nay, Nguyễn Bính đã và chắc chắn vẫn sẽ luôn thuộc các nhà thơ có lượng độc giả đông đảo nhất. “Người Việt Nam còn yêu thơ Nguyễn Bính mãi, càng văn minh hiện đại lại càng trân trọng” (Vũ Quần Phương)… Điều gì làm nên kỳ diệu ấy?
Có nhiều cách trả lời
Rằng, thơ Nguyễn Bính có “một điều quý vô ngần: hồn xưa của đất nước” (Hoài Thanh).
Rằng, “So với các nhà thơ lãng mạn trước đây, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi” (Lê Đình Kỵ) v.v…
Xin nói thêm: Thơ Nguyễn Bính không bao giờ cũ. Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời. Vì ông luôn là khác biệt. Khác biệt một cách gần gũi. Gần gũi một cách khác biệt. Tầng sâu nhất của thơ Nguyễn Bính không chỉ là hồn dân tộc, mà còn là “giọng nói của toàn nhân loại thức dậy” qua giọng nói của một con người, một cá nhân. Nói cách khác, thơ Nguyễn Bính “dường như nói bằng hàng nghìn giọng, mê đắm và thuyết phục, nó nâng cái mô tả từ chỗ ngắn ngủi một lần và tạm thời lên chỗ tồn tại muôn đời”.
2.
Nguyễn Bính luôn là như thế, trước hết, ngay từ cách nhà thơ đến với hiện đại.
Trong thời kỳ nảy sinh và phát triển của thơ mới (từ năm 1932 đến năm 1945), “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỉ”. Bấy giờ, vấn đề đặt ra cho quá trình tiếp biến văn hóa với phương Tây, chủ yếu là với Pháp, không còn là sự lựa chọn giữa canh tân và thủ cựu, mà là đổi mới như thế nào, theo chiều hướng nào. Trong lúc Âu hóa vừa là xu thế vừa là ưu thế của đổi mới theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với những nhà thơ rất tiêu biểu như Xuân Diệu “mới nhất trong các nhà Thơ mới”, Hàn Mặc Tử “lạ nhất trong các nhà Thơ mới”, Chế Lan Viên “không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được” (Hoài Thanh), thì “người nhà quê Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường”, thơ Nguyễn Bính vẫn là “tiếng nói vui buồn của tâm hồn dân gian muôn thuở”. Thơ ông bổ sung một minh chứng rất sâu sắc và lý thú, thuyết phục về quy luật của mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc. Trong mối quan hệ này, văn học dân gian, văn hóa dân gian luôn là nền tảng, cơ sở, là văn học “mẹ”, văn hóa “mẹ”. Trong thời kỳ của Thơ mới, chính văn học dân gian, văn hóa dân gian, đất quê, hồn quê, đã dẫn Nguyễn Bính đến với hiện đại một cách đầy thuyết phục… Cách Nguyễn Bính đến với hiện đại thêm một lần làm sáng tỏ luận đề triết học: “Truyền thống là người lính canh của tinh thần nhân loại… Không có tâm linh nằm ngoài truyền thống”.
Thơ Nguyễn Bính đặc rệt truyền thống, mà vẫn mới, vẫn riêng. Ông đã làm mới mê hồn thơ lục bát và thơ thất ngôn theo cách của ông. Nói về những nhà thơ tiêu biểu cho thơ lục bát, người ta sẽ, ngay lập tức, đi thẳng từ ca dao, Nguyễn Du đến Nguyễn Bính, như một mặc định. Đặc biệt, cùng với các nhà Thơ mới khác, Nguyễn Bính đã đưa cái tôi cá nhân, cũng là cái tôi của thời đại, cái tôi của nhân loại vào thơ, tự nhiên nhi nhiên, góp phần quan trọng đưa văn học Việt Nam “thực hiện một chuyển dịch quan trọng: vượt khỏi phạm vi khu vực để tiến vào thế giới”. Cái tôi ấy, vào những năm tháng đất nước dồn tất cả sức mạnh vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tất nhiên sẽ không phù hợp. Nhưng khi cuộc sống trở lại trạng thái bình thường, nó lại tìm được những đồng vọng để hiểu thêm một thời và con người. “Thơ Nguyễn Bính thuộc trường hợp hiếm hoi…, bởi vì trong cuộc cọ xát cũ mới ấy, đã bộc lộ những sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân, mà cả một dân tộc, không chỉ của một thời, mà, có lẽ, của nhiều thời…”. Cũng nhờ đó, Nguyễn Bính có các tập thơ hay (chẳng hạn, những tập thơ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), những bài thơ hay (Lỡ bước sang ngang, Tương tư, Lòng mẹ, Chân quê, Cô hái mơ, Mưa xuân, Hoa cỏ may, Qua nhà,Thư cho thầy mẹ, Chờ nhau, v.v…) và hàng trăm câu thơ tuyệt bút như thể trời đất, quỷ thần cho…
3.
Một trong những nguyên nhân chính để Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời là thơ ông thể hiện rất đặc sắc rất nhiều cổ mẫu kết tinh từ những mô thức tâm lý. Từ điển văn học giải thích: “Cổ mẫu là khái niệm dùng để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại”. Nói cách khác, cổ mẫu là “những kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần của loài người”, “Kho báu của nhân loại nằm trong tính đa dạng sáng tạo, nhưng nguồn gốc của tính sáng tạo lại nằm trong tính thống nhất sinh thành của nhân loại”. Người đọc văn học theo lý thuyết cổ mẫu thường dõi theo những biểu tượng, những motif lặp đi lặp lại nhiều lần, có ý nghĩa phổ quát trong các tác phẩm để thấy những ý nghĩa điển hình của nó trong văn hóa, văn chương nhân loại và dân tộc cũng như những ý nghĩa chuyển dịch, xung năng, tương tác của nó trong các tác phẩm, tác giả cụ thể.
Xin chỉ nói về một vài cổ mẫu.
Trước hết là cổ mẫu Hành trình, cụ thể thêm: cổ mẫu Đi và Lỡ bước.
Hành trình, theo cách nhìn của lý thuyết cổ mẫu, “là tìm kiếm, tìm chân lý, bất tử và phát hiện một trung tâm tinh thần”. Hành trình “trở thành dấu hiệu và biểu tượng của sự luôn luôn chối từ bản thân…, và cần kết luận rằng cuộc du hành duy nhất có giá trị là cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”. Nhân loại đã có bao nhiêu cuộc hành trình, đớn đau và vĩ đại: hành trình của Chúa, hành trình về đất Phật, hành trình về miền đất hứa, hành trình dời Ai Cập, hành trình của Don Quixote,vv… Nguyễn Bính đã đi đâu, về đâu? Trở lại với không khí xã hội thời Thơ mới, hành trình của Nguyễn Bính là hành trình của thi sỹ “giang hồ”, cô đơn, lỡ bước, khi dấu ấn cuối cùng “giấc mơ quan trạng”, “Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên” (Xóm Ngự Viên) – lý tưởng của nho sỹ bình dân một thời, đã vĩnh viễn khép lại: “Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng”, “Lỡ duyên búi tóc củ hanh/ Trường thi Nam Định biến thành trường bay” (Con nhà nho cũ). Anh đi đấy, anh về đâu/ Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm. (Không đề).
Câu hỏi không lời đáp. Nhịp thơ cũng theo cánh buồm, nhỏ dần, rồi mất hút. Đến nhịp thơ cuối, không còn thấy màu nâu của cánh buồm. Nhịp thơ điệp mà không trùng. Đi mà không biết đi đâu! Về không biết về đâu. Như thân phận trên dòng sông cuộc đời mênh mang, hoang vắng: “Giang hồ ai biết đi đâu mà tìm” (Giang hồ). Dễ hiểu vì sao thơ Nguyễn Bính hay nhắc nhiều đến con đò, bến đò, “chuyến đò thân thế”, và sân ga, con tàu: “Đò sang còn một chuyến này/ Khách sang còn một người đây hỡi đò!” (Người đi), “Đem thân đi với giang hồ/ Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh” (Quê tôi). Ấy là con đò quê, ga là ga xép. Cũng có khi là con sông trong tâm tưởng, chảy rất mạnh, rất mênh mang trong văn hóa phương Đông: sông Tương, sông Dịch. Thời gian chủ yếu là buổi chiều và trong đêm: “Càng chiều anh thấy con đường càng xa” (Định mệnh), “Tàu biết bây giờ chạy đến đâu/ Đêm sâu hoàn trả lại đêm sâu” (Chuyến tàu đêm). Con tàu, sân ga trong thơ Nguyễn Bính thật buồn…
Nguyễn Bính cũng là một bóng người giữa những bóng người đổ bóng xuống sân ga: “bóng lẻ”, “Hai bóng chung lưng thành một bóng”, “bóng liêu xiêu”, “bóng nhòa trong bóng tối”, “Một mình làm cả cuộc phân ly” (Những bóng người trên sân ga). Tường vàng, mái đỏ màu son/ Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga.
Cái “hiện đại” tường vàng, ngói đỏ bề ngoài của ga xép ai ngờ không dấu nổi linh hồn của cuộc đời, thân phận, chia lìa và nước mắt. Màu sắc ấy của tường, của ngói còn gợi cả những liên tưởng khác. Tường vàng, bề ngoài tưởng rực rỡ nhưng dường như đó cũng là màu của dáng hình, cuộc đời vàng vọt đang ngày càng phôi pha. Và màu đỏ như son của mái ngói, còn gợi ánh mắt đỏ hoe, trái tim đỏ máu trước những chia lìa buồn bã, tiễn đưa vô định, đã và dang diễn ra. Linh hồn nhà ga là linh hồn của những cuộc hành trình đi và đến, những cuộc chia ly không hẹn ngày gặp lại, hành trình và chia ly sâu thẳm ngay chính trong thân và phận mỗi con người. Nguyễn Bính chính là một hành trình cô đơn như vậy, một nhà ga cô đơn như vậy!
Chẳng ngẫu nhiên, “Lỡ bước sang ngang”, tên một bài thơ lại được đặt tên cho cả một tập thơ! Không chỉ người con gái “lỡ bước sang ngang”, mà chính Nguyễn Bính và cả thế hệ những người như ông “lỡ bước sang ngang” trong hành trình ấy, trên chuyến đò và sân sân ga ấy: Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò/ Đò đầy sóng lớn nước sông to/ Mười hai bến nước xa lăng lắc/ Lầm tự ngày xưa, lỡ đến giờ.
Trong hành trình “dan díu nợ giang hồ”, “Tự mình đắp núi khơi sông/ Tự mình đày ải tấm lòng mình đi” (Đêm nay khơi tỏ tim đèn), “tâm hồn tôi”, cái tôi đang tự đi tìm mình của Nguyễn Bính đến với rất nhiều nơi. Địa danh thực là Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, ga Kép, v.v… Địa danh thực mà ảo, ảo mà thực hoặc hoàn toàn ảo thì nhiều hơn rất nhiều: “Kinh thành”, “Xóm Ngự Viên”, “Mười hai bến nước”, “Mây Tần”, “Một nghìn cửa sổ”, “Lầu hoa”, “ Rừng Mơ”, “Rừng mai”, “Bến mơ”, “Vườn Tiên”, “Suối Thiên Thai”, v.v… Ông phân thân thành cặp đối lập: Tráng sĩ – Thi sĩ. Con người “Tráng sĩ” của ông, có lẽ, là “cái rớt”cuối cùng của kiểu nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung đại. Con người ấy vẫn có cái chất hào hoa, kiêu bạc nhưng xuất hiện đã rất lu mờ và đầy cô đơn – cái cô đơn của tráng sĩ không còn hợp thời, không bao giờ có “lúc khải hoàn thân gió bụi” (Lá thư về Bắc). Sông lạnh thấy đâu người gọi gió,/ Trăng tà tìm mãi kẻ mài gươm. (Xuân vẫn tha hương). Đem theo cát bụi đường xa lại/ Tráng sĩ dừng chân khẽ thở dài. (Quán lạnh).
Con người “Thi sĩ” mới thực sự thể hiện “cái tôi”của Nguyễn Bính. Cũng như nhiều nhà thơ khác thời Thơ mới, Nguyễn Bính đến với Tình yêu, nhưng khác với nhiều nhà thơ khác, tiếng vọng của “vô thức tập thể”, của cổ mẫu luôn tự nhiên dệt thành những vần thơ. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ đã cụ thể hóa được cuộc sống vô thức của toàn nhân loại trong nhiều bài thơ tình yêu. Ông lý tưởng hóa tình yêu trong những bồn chồn, nhớ thương, day dứt. Và, như Platon, nhà hiền triết vĩ đại của nhân loại, đã nói: “khi tình yêu được chuyển dịch từ một lý tưởng sang một con người bằng xương bằng thịt”, từ ý niệm vĩnh cửu đến con người cụ thể, thì thực tế này lại đưa tới sự “bất cân đối với những điều thiêng liêng”. Vì thế, thơ tình của Nguyễn Bình cũng là hành trình Đi – Lỡ bước.
Nguyễn Bính có những vần thơ tương tư nổi tiếng: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,/ Một người chín nhớ mười mong một người (Tương tư). Giếng thơi mưa ngập nước tràn/ Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều (Qua nhà).Cô hái mơ ơi! Cô gái ơi/ Chẳng trả lời nhau lấy một lời!/ Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng/ Rừng mơ hiu hắt, lá mơ rơi… (Cô hái mơ).
Ông vương quốc hóa, địa đàng hóa tình yêu: “Ví chăng có một nước Tình Ái/ Em làm hoàng hậu, anh làm vua” (Ái khanh hành), “Với người trong giấc mơ tiên/ Của chàng thi sĩ quê trên mây hồng” (Mười hai bến nước), “Hồ tiên đâu phải hồ trần/ Em không thả cá mà thuần thả thơ” (Xây hồ bán nguyệt). Nỗi nhớ, sự chờ mong tình yêu trong thơ ông được dệt bằng bao cảm xúc, bao biểu tượng, đi thẳng vào trái tim người: Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ/ Em thử quay xem được mấy vòng?/ Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ/ Em thử lào xem được mấy thưng? (Nhớ).
Nguyễn Bính đi vào chính mình, nhờ đó đã nói được và nói rất hay, rất sâu những biện chứng tâm hồn, những qui luật tình cảm, cái điều của muôn thuở, muôn người: “Mẹ cha thì nhớ thương mình/ Mình đi thương nhớ người tình xa xôi” (Thư cho thầy mẹ), “Trời xanh còn khóc nữa là/ Nhớ nhà ít, nhớ người ta thì nhiều” (Gặp nhau). Sống trong tâm lý tình yêu, cảm nhận về thời gian, không gian trong thơ ông rất đặc biệt, theo cách dân gian nhưng vẫn là duy nhất của riêng ông, độc bản: “Láng giềng đã đỏ đèn đâu/ Chờ em ăn dập miếng trầu, em sang” (Chờ nhau), “Chờ mong như suốt đêm qua/ Chàng ơi! Một tháng là ba mươi ngày”, “Cách một ngày ngựa với ba ngày đò” (Thư cho chị), “Nhà em cách bốn quả đồi/ Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng” (Xa cách), “Thương như thế, nhớ làm sao/ Kinh thành biết có mưa rào đêm nay” (Thương nhớ Kinh thành).
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính phần lớn là lỡ hẹn, ly biệt. Ông nhập thân, hóa thân thành cô gái trong “Mưa xuân”. Mưa ấy, từ những bông hoa bụi “phơi phới bay”, nhanh chóng chuyển thành “mưa nặng hạt”, những hạt mưa sầu tủi, tội nghiệp, bẽ bàng. Con đường đến với tình yêu tưởng gần, hóa ra là xa ngái: Mình em lầm lũi trên đường về/ Có ngắn gì đâu một dải đê/ Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt/ Lạnh lùng thêm tủi với đêm khuya.
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính cũng rất nhiều nước mắt biệt ly. Nỗi cô đơn của ông đủ lớn để vũ trụ hóa, vô tận hóa những nỗi đau và cô đơn của con người: “Nước mắt là cơm bữa/ Hợp tan như bèo trôi” (Đề tặng ảnh), “Đêm nay hai đứa chung tình ấy/ Khóc ướt trần gian để biệt nhau” (Bạc tình)… Nhưng, đau khổ, cô đơn nhất của ông, có lẽ vẫn là hành trình vô vọng đi tìm cái tôi của mình: “Tôi tìm đâu thấy mảnh trời Thần Tiên”, “Nhưng đau lòng biết bao nhiêu/ Người tôi yêu chỉ biết yêu như người” (Đào Nguyên), “Thương tôi mình hiểu cho tôi nhé/ Mà chỉ mình tôi mới hiểu tôi” (Mười hai bến nước). “Cái tôi là không thể chia sẻ được”. Và thực ra, chính ông cũng không hiểu bản thân mình, vì thế ông luôn luôn đi tìm mình. Rõ ràng, thơ Nguyễn Bính là “cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”. Hành trình ấy không bao giờ tới đích…
Nguyễn Bính là nhân vật điển hình của cặp phạm trù gia đình – không gia đình thời Thơ mới. Đây cũng là cổ mẫu rất tiêu biểu của văn hóa và văn học nhân loại. Trong thơ Nguyễn Bính, mẫu đề Không gia đình luôn song hành với mẫu đề Đi – Lỡ bước. Với Nguyễn Bính, mổ côi mẹ từ ba tháng tuổi, “Mẹ hiền mất sớm, giời đầy làm thơ”, sự bùng nổ của cảm xúc Không gia đình càng nhức buốt: Con đi mười mấy năm trời,/ Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương./ …/ Thầy ơi! Đừng bán vườn chè/ Mẹ ơi! Đừng chặt cây lê con trồng (Thư cho Thầy Mẹ).
Những câu thơ ấy như được viết bằng cô đơn, bằng nước mắt!
Yêu gia đình, nhưng Nguyễn Bính vẫn là, nói đúng hơn, vẫn phải là “con chim lìa đàn”: Lạy đôi mắt mẹ đừng buồn,/ Ngày mai con lại lên đường ra đi (Lại đi). Hỡi ôi! Những kẻ lên đường/ Đang tâm để cả cô đơn lại nhà (Chia tay).
Nguyễn Bính có gần mười bài thơ gửi chị Trúc, nhân vật có bóng dáng trong đời thật nhưng cũng là nhân vật văn học (Lỡ bước sang ngang, Một chiều say, Xây hồ bán nguyệt, Xây lại cuộc đời, Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hương, Xuân lại tha hương, Khăn hồng, Chị đã ghen). Phần vì chị Trúc đẹp, duyên dáng, gần gũi, phần nữa, và đây mới là căn nguyên chính, nhà thơ thấy từ đây hình bóng của người mẹ, của những người thân yêu, của điểm tựa tin cậy để gửi gắm, sẻ chia, tỏ bày những tâm sự, những nỗi niềm khó biết nói cùng ai: “Em đi non nước xa khơi quá/ Mỗi độ xuân về bao nhớ thương!” (Xuân vẫn tha hương), “Chiều ba mươi, hết năm rồi/ Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà” (Xuân về nhớ cố hương). Chính từ tầng sâu tâm thức của tiếng vọng Không gia đình, ông đã có những vần thơ tuyệt bút của thánh thần: Từ nay khi nhớ quê nhà/ Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân (Anh về quê cũ).
Các nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính phần lớn cũng trong trạng thái tinh thần Không gia đình, cô đơn. Đó là cô sư nữ trẻ đẹp “Có cô sư nữ người mong mỏng/ Buông thõng dây gầu xuống giếng thơi” (Chiều quê); cụ sư già ép thân xác đến với cô tịch, vô thường: “Sư già quét lá sau chùa/ Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông” (Chùa vắng). Đó là tráng sĩ: “Đêm nay tráng sĩ không nơi trọ/ Nằm tạm qua đêm quán dọc đường” (Quán lạnh). Đặc biệt, điển hình cho số phận, tâm trạng Không gia đình chính là người phụ nữ trong Lỡ bước sang ngang: “Mười năm gối hận bên giường/ Mười năm nước mắt bữa thường thay canh”. Tiếng pháo, dây pháo đỏ trong ngày cưới của các cô gái luôn gắn với tiếng thở dài của cả người trong cuộc và người ngoài cuộc. Cả đến người mẹ cũng sống trong bồn chồn, khắc khoải lo âu với trạng thái Không gia đình của người con gái khi đứa con bước chân về nhà chồng. Người mẹ gượng cứng cỏi, chủ động bao nhiêu trước mặt con, thì lại yếu mềm bấy nhiêu ngay khi bàn chân con bước khỏi nhà mình. Những câu thơ dưới đây cũng chính là “Huyền thoại mẹ”: Đưa con ra đến cửa buồng thôi,/ Mẹ phải xa con khổ mấy mươi./ Con ạ! Đêm nay mình mẹ khóc,/ Đêm đêm, mình mẹ lại đưa thoi (Lòng mẹ).
Chỉ dẫn một vài cổ mẫu trong thơ Nguyễn Bính, đủ thấy thơ ông có những tầng sâu, ma lực thế nào! Thơ Nguyễn Bính luôn là độc đáo, của riêng ông nhưng cũng là tâm trạng phổ quát, tiếng lòng của nhiều cá nhân không hề quen biết. Thơ Nguyễn Bính là thơ của nhiều người, nhiều nhà, nhiều thời. Những cổ mẫu thức dậy, đan dệt độc đáo trong thơ ông đã góp phần làm cho thơ Nguyễn Bính không chỉ ở tầm dân tộc mà còn thuộc tầm nhân loại.
4.
Khi chấm giải cho tập thơ Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính, nhà văn Thạch Lam thay mặt Hội đồng giám khảo “Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn, năm 1937”, đã nhận xét: “Ông Nguyễn Bính sẽ trở nên một văn sĩ có tương lai”. Còn nhà phê bình Phạm Mạnh Phan, người đương thời Thơ mới, đánh giá: “Nguyễn Bính đích thực là thi sĩ, có những câu thơ tuyệt diệu”. Một số nhà thơ, nhà phê bình sau này nhận thấy thơ Nguyễn Bính có những dấu hiệu, đặc điểm của thiên tài. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đặt câu hỏi và tự ông đã trả lời: “Cho đến tận hôm nay, có nhà thơ lục bát nào mà nhân dân thuộc nhiều như Nguyễn Bính chưa?!”
Bấy nhiêu cảm nhận, đánh giá, càng cho thấy Nguyễn Bính đã và sẽ là nhà thơ của nhiều thời.
Cali hỏa hoạn đến tung hoành Thời tiết bao ngày nắng nóng hanh Lửa bốc phừng phừng mùi khét lẹt Mây vần cuộn cuộn gió hôi tanh Chim kêu thảm thiết bay cuồng loạn Người rú bi thương chạy quýnh quanh Khói tỏa mịt mù trùm cảnh vật Khẩn cầu Thượng Đế cứu nàn nhanh.. . Phương Hoa Aug 21st 2020
Thơ Họa:
ÔI HỎA TAI
Cali Bà Hỏa lộng hoành hành Nổi lửa nhân mùa tiết nắng hanh Khói tỏa gió lùa bay tứ xứ Thú tìm lối thoát chạy loanh quanh Hãi rừng bão lửa thiêu mù mịt Lánh nạn cửa nhà bỏ vắng tanh Ngửa mặt khẩn Trời thương trút nước … Tràn ùa cứu nạn được qua nhanh…
CAO BỒI GIÀ 21-08-2020
LỬA ” RAP ” KHẨN CẦU
Lửa đỏ tung ra những bức hoành Ca Li rùng rợn dưới trời hanh Ba trăm ngọn đuốc luồn hơi nóng Một cõi thiên thu toả khí tanh Cứ mỗi mùa khô nghe nứt nẻ Lại thêm nước loạn ngó cuồng quanh Tiếng kêu cầu khẩn bàn tay Chúa Tưởng khúc van xin nhạc ” rap ” nhanh… Hawthorne 21 – 8 – 2020
CAO MỴ NHÂN
HỎA HOẠN BẮC CALI
Hỏa hoạn Cali phá lộng hoành Dân tình chịu nóng khí trời hanh Nằm nhà sợ hãi nghe mùi khét Đóng cửa lo buồn ngửi khói tanh Đỏ rực trời giăng người di tản Đen ngùm khói phủ vật rời quanh Vườn nho cháy rụi rừng thiêu đốt Cúi lạy ông trời cứu thoát nhanh
Minh Thuý Thành Nội Tháng 8/21/2020
HỎA HOẠN CALI
Cali thần hỏa đến hành hoành Giữa lúc trời khô ngập nắng hanh Cây lá lửa tràn gieo tiếng thảm Thú rừng thịt cháy bốc mùi tanh Người lo lắng vội tìm nơi ổn Lính cứu cấp liền áp sát quanh Trong hiểm họa từ dân đến nước Đồng lòng ứng phó thật là nhanh…
Lý Đức Quỳnh 22/8/2020
“Lên dốc sơn núi” – tập thơ
“Lên dốc sơn núi”
10/07/2020
Phạm Xuân Nguyên
Hôm nay tôi cùng bạn đọc tập thơ “Chút lời mênh mông” của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937 – 2020).
Ông sinh ở Ninh Thuận, quê gốc Thừa Thiên – Huế. Xuất hiện trên văn đàn miền Nam từ thập niên 1960 và nổi tiếng với bút danh Sao Trên Rừng, ông là một trong mấy gương mặt “kỳ dị” của văn chương Sài Gòn cùng với Bùi Giáng, Phạm Công Thiện.
Ông thường sống ở núi nên có biệt danh Sơn Núi để phân biệt với Sơn Biển là biệt danh của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn sống ở Phan Thiết (tác giả tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi” cũng nổi tiếng trước 1975). Sự nghiệp văn chương của ông đã xuất bản 8 tập thơ và 3 tập truyện ngắn từ 1965 đến 1973.
Tập “Chút lời mênh mông” là sự xuất hiện trở lại văn đàn của Nguyễn Đức Sơn sau gần nửa thế kỷ biệt tích gồm 110 bài thơ chưa in trong các tập trước của tác giả, được các con ông tập hợp lại. Các bài thơ ở đây có những bài tương đối mới, lại có những bài viết nửa thế kỷ trước, từ thời lao tù quân dịch của tác giả. Trong tập có lời tựa công phu của nhà sư Thích Không Hạnh, có bức vẽ và các thủ bút của tác giả, có các bức thư hoạ của nhà thư pháp Hồ Công Khanh.
Nhà thơ còn kịp thấy tập thơ xuất bản đầu năm nay trước khi qua đời ngày 11/6/2020 sau nhiều năm sống ở vùng rừng núi Bảo Lộc (Lâm Đồng). Một năm trước, tại Mỹ, ở Nhà xuất bản Văn học, cũng đã ra một tập thơ Nguyễn Đức Sơn nhan đề “Thơ và Đá” bằng ba ngữ Việt – Anh – Nhật với lời tựa của thầy Tuệ Sỹ.
Nói tới thơ Nguyễn Đức Sơn, người ta hay bảo đó là thơ dâm tục. Nhưng trước khi nói chuyện đó, bạn hãy cứ đọc vào tập thơ này của ông để thấy ông rất đời. Chỉ lấy riêng những bài ông viết về con cái đã đủ thấy. Ông nhìn con tập lẫy thấy “Co chân tròn trịa như hòn đá lăn” nên dặn con “Muốn cho đời sống không cằn / Tập cho quen mất thăng bằng từ đây” (tr. 26). Ông dỗ con ăn chén bột gạo không có đường vàng nên phải cho muối vào và động viên con “Mặn thì dương tính phải cao / Mai kia cứng cáp con lao vào đời” (tr. 31). Rồi đến một hôm ông lại dỗ con nữa:
“Hết đường cha trộn với trăng
Hình như sắc độ vàng bằng với nhau
Thôi thì con ráng ăn mau
Hôm nay lạt lẽo ngày sau ngọt ngào” (tr. 32)
Đi vào thơ Nguyễn Đức Sơn, trước hết hãy đọc những bài rất đời như thế đã. Giờ mà nói chuyện thơ ông dâm tục có khi còn bị mắng, bị phê, dù thơ ông đã lưu hành bao năm và nay đã được in như ở tập này.
Nhưng cái cần nói thì cũng phải nói. Về chuyện dâm tục trong thơ Nguyễn Đức Sơn, có hai câu thơ của ông hay được dẫn ra để nói, nhưng cũng là hai câu được nhớ nhiều nhắc nhiều, và cả khen nhiều. Đó là hai câu ở bài “Vũng nước thánh” in trong tập “Đêm nguyệt động” (1967): “Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người / Em chưa đái mà hồn anh đã ướt“. Bảo nó tục vì nói chuyện tiểu đái ướt hồn thì là tục theo cái lẽ xưa nay coi là tục tĩu những chuyện bài tiết cơ thể. Nhưng bảo đó là một câu thơ cực hay về tình yêu xưa nay chưa ai viết thì nó thực là hay. Cái dâm tục trong thơ Nguyễn Đức Sơn là thế đấy. Và trước nay đã có nhiều người luận giải, phân tích cái tục đó để nói đó không phải tục. Cũng như đã có nhiều bài viết mổ xẻ thơ ông nói chung với rất nhiều lẽ cao siêu thâm thuý.
Cho nên tôi mới nói, bạn nếu chưa đọc thơ Nguyễn Đức Sơn bao giờ thì hãy cứ đi thẳng vào thơ ông, đến trực tiếp với câu chữ lời thơ của ông, cứ trực cảm với ông bằng cảm xúc chính mình, cứ uyên nguyên trần trụi, bỏ qua mọi sự luận giải lý tính. Hãy đọc thơ, và không cứ thơ, bằng mắt bằng hồn bằng tâm của mình, bằng cái không trong mình, chớ để ai đổ lấp bất cứ cái gì vào đó. Đọc bằng mình sau đó mới đọc bằng người. Đọc hồn nhiên nhi nhiên tự nhiên.
Và đọc như thế thì bạn trước hết sẽ được thích khoái với thơ của ông Sơn Núi. Có ai ngộ được “Bát nhã” như ông thế này không:
“Một sớm sương giăng mờ núi sông
Ghé thăm tình cũ cảm mênh mông
Cầu tiêu em ỉa quên chưa dội
Bãi cứt nhìn qua hiện đoá hồng” (tr. 88)
Bạn choáng, tôi chắc thế, khi chạm phải cái từ vẫn bị coi là dơ bẩn, và sẽ càng choáng hơn khi thấy từ nó hiện ra một đoá hồng của tình yêu. (Tôi nhớ ông Sơn Biển cũng có câu thơ với cái từ tục này “Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt / Nhưng vì sao ta lại yêu em“. Sau này khi được in lại, câu thơ đã bị biên tập sửa thành “Ta vốn ghét đàn bà như ghét đất” thế thì còn gì là ý vị của tình yêu!). Bạn choáng vì chưa bao giờ gặp một sự kết hợp lạ lùng đến thế của những từ ngữ, hình ảnh, cảm xúc ngỡ như không bao giờ kết hợp được. Ấy vậy nhà thơ mới gọi tên bài thơ là “Bát nhã” như trao bạn một chìa khoá thơ.
CHÚT LỜI MÊNH MÔNG
Tác giả: Nguyễn Đức Sơn
Thư viện Huệ Quang & Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2020
Số trang: 150
Bởi vì thiên nhiên vũ trụ là vô hình vô tướng:
“Có bay cao chín tầng trời
Chỉ nghe thượng đế ngàn đời nín thinh
Có dòm sâu tận cửa mình
Cũng không thấy được cái hình thế gian” (tr. 54)
Giữa cõi vô đó hiện ra một Nguyễn Đức Sơn:
“Bởi quen ăn nói lùng khùng
Trăm năm xã hội không dùng được ta
Một đời vô lượng thơ ca
Ngàn năm trời đất bao la thở dài” (tr. 59)
Bài thơ này mang tên “Trăm năm, Ngàn năm”. Con người sinh ra đời là bị giãy dụa trong cõi nhân gian phàm tục. Mấy ai biết “một điều phải hiểu cho sâu / trăm năm hai chữ vô cầu mà thôi” (tr. 34). Những hệ luỵ trần gian ai cũng phải trải. Nhưng có ai trải rồi lại được như Nguyễn Đức Sơn:
“Sướng quá đời ta tuổi sắp già
Bao nhiêu học thuyết bước đều qua
Nay về dắt bóng chơi am vắng
Ấu trĩ vườn trăng một tiếng gà” (tr. 78)
Đó là sự vượt thoát cõi sống, siêu thoát nhân sinh của người thấu lẽ vô thường vũ trụ. Cái bãi cứt ở trên và trái ổi ở đây là cùng trong một quán tưởng của thi nhân.
“Trưa đứng một mình đợi ai lên
Đất trời đâu có dưới và trên
Đồi cao ổi sót rụng một trái
Dòi ăn một bên ta một bên” (tr. 77)
Và như thế với Nguyễn Đức Sơn cái gì cũng là thơ, bất luận là cái gì. Cho nên đọc thơ ông đừng bận tâm dâm tục xấu đẹp, đừng để cái trí biện biệt chi phối cái cảm thức toàn thể. Tôi đã nói đến cái thích khoái giật mình choáng váng của người lần đầu đọc thơ Nguyễn Đức Sơn. Vì mọi cái bình thường tầm thường dung tục vào thơ ông một cách tự nhiên bất ngờ mà cũng đơn sơ giản tiện như hàng ngày chúng vẫn có đó, trong ta và ngoài ta, ai cũng nhìn cũng biết nhưng không ai thơ chúng được như ông.
Thơ ông rất trong đời và cũng rất ngoài đời. Ông cuốc đất và thấy đất cười “bốc hơi nức nở như người đang vui“, chừng đó đủ để ông gửi con trọn một niềm tin “dù cha cuốc phải trái mìn nổ tung” (tr. 30). Người đời nhìn núi chỉ là núi. Còn Nguyễn Đức Sơn bồng con ngắm núi “thấy trong bóng núi trùng trùng bóng ta” (tr. 66), ra suối nhìn hoa trôi chợt trong một sát na “thấy trong nước cuốn có tôi và người” (tr. 97). Ông đau đớn một kiếp người, cả trùng trùng kiếp người, khi “Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh” (tr. 144), một bài thơ thật khủng khiếp Nguyễn Đức Sơn.
Có thể hình dung đường vào thơ Nguyễn Đức Sơn là đường dốc núi. Người đọc phải lên dốc ngược với những gì mình quen đọc, quen coi là thơ. Đường dốc nhiều gai góc trơn trượt nhưng mỗi bước lên là một bước mở cao sáng trời. Nhà thơ đã có bài thơ mang tên “Lên dốc sơn núi” hiểu tả thực thì như chỉ chỗ ông ở mà hiểu theo cách thơ thì là “bày đường” vào thơ ông:
“Lên dốc
Sơn núi
Bên thơm
Bên thúi
Tỉnh thức
Khỏi cần
Đầu ngẩng
Đầu cúi” (tr. 146).
Và đây “Chút lời mênh mông” ông viết dịp sinh nhật tuổi 33 (1970), nửa thế kỷ sau đến với bạn đọc như lời di chúc của ông ở tuổi 83, giã từ một cuộc chơi trong cõi trời cõi người.
“Một mai cha chết đừng chôn
Ngại chưa xuất kịp chút hồn thiết tha
Cái gì cha nói chưa ra
Biết đâu còn sót trong da máu này
Tuy nhiên đừng để lâu ngày
Đốt ngay lập tức là hay nhất đời
Con mang tro bụi xa vời
Gửi cho thiên địa chút lời mênh mông” (tr. 147)
Bạn đọc thơ Nguyễn Đức Sơn cách gì cũng sẽ gặp chút lời của ông gửi vào mênh mông đó. Từ đọc thơ theo cách đời đến đọc thơ theo cách triết, cách thiền, bạn sẽ dần leo được dốc Sơn Núi và gặp được một nhà thơ đã tự họa mình “Xem tôi chánh hậu thằng điên / Tim pha chút máu thánh hiền cho vui” (tr. 135). Và rồi những lời thơ khác lạ, “điên khùng” của ông sẽ giúp bạn thấm trải đời hơn trong tất cả những xấu xa tốt đẹp tục lụy của nó.
… Hôm nay cuốn sách tôi mang đến cho bạn có tên là “Ta đã làm chi đời ta” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916 – 1976).
Bạn hẳn đã nghe đến tên nhà thơ họ Vũ này. Ông sinh ở Nam Định, vào đời ở Hà Nội, là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới (1932 – 1945) với các tập thơ “Say” 1940), “Mây” (1943). Sự nghiệp của ông còn tiếp tục sau năm 1954 khi vào Nam với nhiều tập thơ khác. Thời kỳ này ông từng làm Chủ tịch Hội Văn Bút và được vinh danh là Thi bá của miền Nam Việt Nam.
Cuốn “Ta đã làm chi đời ta” được in lần đầu năm 1974 ở Sài Gòn tại cơ sở xuất bản Trương Vĩnh Ký. Đây là một cuốn hồi ký (hai chữ “bút ký” ghi trên bìa sách lần tái bản này chỉ nói đúng phần nào thể loại) của Vũ Hoàng Chương viết về cuộc sống văn nghệ ở miền Bắc từ đầu thập niên 1940 cho đến giữa thập niên 1950 mà ông là một người tham dự, một người chơi hết mình.
Gọi họ Vũ là một người chơi quả không ngoa khi trong toàn bộ cuốn sách ông kể về những chuyến đi chơi, những cuộc rong chơi cùng các bạn hữu văn nghệ khắp mấy tỉnh đồng bằng Bắc Bộ – Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang. Từ đó người đọc được theo bước chân của Hoàng (như ông tự gọi mình trong sách) gặp gỡ các văn nhân tài tử như Nguyễn Bính, Ngân Giang, Tô Hoài, Thế Lữ, Chu Ngọc, Đỗ Đức Thu, Đoàn Phú Tứ, Đinh Hùng, Huy Cận, Phan Khắc Khoan, Bàng Bá Lân, Lê Văn Trương, Ngọc Giao, Hoàng Cầm…, được cùng ông và các văn hữu xướng họa thơ văn, được biết sự tích một số bài thơ của ông và những thi nhân khác, biết ông còn giỏi làm kịch thơ, ngâm thơ, và có tài dịch thơ Hán, được nghe ông kể những chuyện tình cảm cùng là những thú vui chơi của mình.
Cuộc chơi của Vũ Hoàng Chương là cuộc chơi văn thơ nghệ thuật tuyệt đích tuyệt thú. Ông ý thức rõ về mình và cuộc chơi này. “Lại được Trời Đất kia cho vay tạm cái hồn văn trong một kiếp Người, đâu lẽ mình để cho khối ngọc bị hoen mờ nơi bùn bụi trên các nẻo lợi danh! Có ngọc quý – dầu chỉ vay tạm trong thời hạn một trăm năm – tất phải đưa nó lên những đỉnh cao nhất của tình cảm để nó có dịp hội tụ được tối đa những tia sáng vạn năng từ đó bùng cháy lên ngọn lửa Sáng Tạo” (tr. 172). Ông tự tin vào hồn Thơ của Hoàng và khi một nữ sĩ người đẹp muốn được ông truyền cho hồn ấy ông đã viết: “Trước tiên phải coi nhẹ hết mọi thành kiến, dư luận, mọi hậu quả, bất cứ hậu quả này ra sao” (tr. 116). Và trong các cuộc chơi đó ông đều chứng tỏ được cái tài cái tình của mình với bạn hữu.
Đọc ông ta thấy tình văn nhân thật tri âm tri kỷ mà cũng nhiều cung bậc, sắc thái hỉ nộ ái ố. Cuốn sách như cuốn phim giữ lại cho văn học sử nước nhà một thời đoạn văn nghệ không còn có lại, mãi mãi gắn liền với một thời ly tao của đất nước. Đúng như tiến sĩ văn học Võ Văn Nhơn đã viết trong lời giới thiệu đầu sách: “Nghiền ngẫm hồi ký của Vũ Hoàng Chương và các nhà văn cùng thời, ta thấy đó không chỉ là tiếng nói của những cá nhân, tiếng nói của một thời đã qua, mà còn từ những bài học cụ thể đó, chúng ta có thể suy nghĩ về nhiều vấn đề cho hôm nay” (tr. 11).
Vũ Hoàng Chương thường được gọi là “nhà thơ Say” theo tên một tập thơ của ông. Nhưng nhà thơ tưởng như chỉ say trong khói phù dung thả hồn bay bổng trên cánh tiên cánh mộng về những cõi trời Đông phương nghìn xưa ấy lại là người đã viết nên những dòng thơ hào hùng, lẫm liệt về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Câu chuyện ông kể về bài thơ “Trả ta sông núi” trong tập sách cho người đọc biết thêm một khía cạnh hồn thơ và một phương diện con người ông. Bài thơ dài hơn trăm câu Vũ Hoàng Chương viết làm khai từ cho vở kịch “Nguyễn Thái Học” của Ban kịch Thế Lữ đã vang lên trên sân khấu một rạp hát ở Hà Nội năm 1945 gây xúc động ghê gớm như chính lời ông nói: “Tiếng vỗ tay vang dội tưởng đến vỡ rạp; mà không biết ai ngâm bài khai từ hôm đó, giọng thê thiết như tức tưởi, lại hùng tráng như lệnh xuất quân!” (tr. 100). Bạn có thể đọc toàn bộ bài thơ trong sách này.
Đến nay đọc lại bài thơ đó của Vũ Hoàng Chương chúng ta vẫn thấy như ông viết cho bây giờ.
TA ĐÃ LÀM CHI ĐỜI TA
Tác giả: Vũ Hoàng Chương
Domino & Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ TPHCM, 2018
Số trang: 214
“Trải bốn nghìn năm dựng nước nhà
Sông khoe hùng dũng núi nguy nga
“Trả ta sông núi!” bao người trước
Gào thét đòi cho bọn chúng ta…
“Trả ta sông núi!” từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha.
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
“Không đòi, ai trả núi sông ta!”…
*
Ngày nay muốn sông bền núi vững
Phải làm sao cho xứng người xưa.
Yêu nòi giống, hiểu thời cơ
Bốn phương một ý phụng thờ Giang Sơn.
Đừng lo yếu, hãy chung hờn
Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài!
*
“Trả núi sông ta!” lời dĩ vãng
Thiên thu còn vọng đến tương lai.
“Trả ta sông núi!” câu hùng tráng
Là súng là gươm giữ đất đai…
Trông lên cao ngất phương trời
Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc Cờ.”
Được viết ra từ khoảng cách ba mươi năm khi những cuộc vui cuộc chơi này đã lùi vào dĩ vãng, đã trở thành kỷ niệm và là kỷ niệm trong cả xa cách không gian không còn cơ hội được gặp lại những cảnh cũ người xưa, giọng văn kể của Vũ Hoàng Chương vừa vẫn đầy thích khoái lại vừa có chút ngậm ngùi, thương cảm. Nhất là ở những bài cuối trong tập khi ông không chỉ hoài niệm mà còn vọng tưởng và nghĩ suy về thế sự, nhân tình trong cảnh chia cắt Bắc Nam. Như câu hỏi sao lại thế được “tai mắt như không phải của mình” khi ông nhắc lại bài thơ xướng họa với cụ Phan Khôi hồi đầu cuộc kháng Pháp khi hai người cách biệt hai nơi (tr. 201-206). Hay như tâm tư thời đại của ông với Thăng Long, Thuận Hoá, Bến Nghé khi giữa Sài Gòn buổi loạn ly nhớ lại bài thơ xướng họa với nữ sĩ Mộng Thiên khóc Huế năm 1947 hồi đang chạy tản cư (tr.213-214).
Tôi đọc “Ta đã làm chi đời ta” từ bản in đầu đến bản in này, (hai bản in đầy đủ), vẫn nguyên xúc động và cảm khái. Vũ Hoàng Chương đã đặt cho thiên hồi ký văn nghệ đất Bắc của mình một cái tên thật hay, thật thâm thuý. Tôi rất thích cái tên đó, một trong ít những cái tên hồi ký, tự truyện, sâu sắc, vì thế bài viết đọc sách này tôi không đặt một cái tên riêng như mọi lần mà quyết định dùng lại luôn tên sách của ông. Đó là một câu hỏi nhưng cũng là một câu trả lời. Hơn thế, đó là một câu khẳng định. Nhà thơ tự trào và tự hào về mình đã sống được một đời (một đoạn đời) thích chí. Cái đời mình đó Vũ Hoàng Chương đã được sống trong phóng túng hình hài và phóng cuồng tâm trí, ít nhất là ở đoạn đời ông đã sống và kể lại trong sách này, để làm tỏa sáng viên ngọc quý hồn văn Trời Đất đã đặt vào ông. Nhờ đó, đọc sách này tôi còn học được ông cách thẩm thơ, bình thơ, nhất là dịch thơ. Nói không quá, Vũ Hoàng Chương là một người dịch thơ Hán tài hoa rất mực thời hiện đại dù ông không chuyên dịch.
Hẹn bạn lần tới với một cuốn sách mới khác.
Đà Lạt 5.7.2020
Quan niệm về văn học – đóng góp của Bùi Giáng với lý luận văn học dân tộc
Quan niệm về văn học – đóng góp của Bùi Giáng với lý luận văn học dân tộc
ĐOÀN THỊ MINH TRÀ
Thứ tư, 08 Tháng 7 2020 21:58
1. Thế kỉ XX, thi đàn Việt sau nhiều thập niên được thắp sáng bởi ánh hào quang của chòm sao chổi thơca Hàn Mặc Tử, lại được bừng lên với một hiện tượng thi ca mới: Bùi Giáng, một “thiên tài không định nghĩa được”(1). Từ buổi xuất hiện, thiên tài kì lạ ấy đã định vị mình trên lược đồ văn học dân tộc như “ngôi tinh văn kì dị có bóng dáng lồng lộng nhất hậu bán thế kỉ XX” (Hoàng Phủ Ngọc Tường)(2). Lúc sinh tiền người đời ngưỡng vọng dành cho ông nhiều danh xưng cao quý: “Người hóa thân cho thi ca“, “Người Thơ,“… Tự bản thân, Bùi Giáng nhận mình là Trung Niên Thi Sĩ. Bên cạnh thành tựu thơ văn đã và đang ngày càng thu hút sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, ông còn để lại những di sản phê bình triết học, dịch thuật, phê bình văn học, hội họa. Và trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, ít ai biết rằng, Bùi Giáng cũng có những đóng góp đáng ghi nhận về lí luận sáng tạo nghệ thuật văn chương.
2. QUAN NIỆM VĂN HỌC
2.1. Quan niệm về thơ ca
Thơ ca là hình thái văn học đầu tiên nảy sinh từ khi con người bắt đầu cảm thấy mối liên hệ giữa mình và thực tại và sâu sắc hơn là khi con người có những nhu cầu tự biểu hiện trong đời sống. Ý thức cao về lập trường sáng tạothơ ca, Bùi Giáng đã xây dựng quan niệm sáng tác riêng – những quan điểm thường được ông phát biểu gián tiếp, thông qua cách nói hình tượng: “Thơ là một cái gì không thể bàn tới,không thể diễn gì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện sự đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép nào khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài khác. Người xưa am hiểu sự đó, nên chỉ vịnh thơ chứ không điên rồ mà bàn luận về thơ. Người đời nay trái lại. Họ buộc phải luận thơ có mạch lạc luận lý không được “ bốc đồng” vịnh lăng nhăng cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghì vậy” [1,tr149]. Thi sĩ nói thêm về cách ông làm thơ: “Thơ tôi làm chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm giông bão một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức…Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi(…) Tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình giữa thơ dại chiêm bao.Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. [2, tr.33].
Bùi Giáng không định nghĩa thơ bằng lối nói mang màu sắc luận lý. Chiêm nghiệm thực tế sáng tác, thi sĩ nhận ra thơ là “cõi phiêu bồng” (Lời phiêu dựng lại một điệu chào dị sai– Lá Hoa Cồn). Thơ là vô ngôn. Ông lý giải:“Cái nói của tư tưởng chỉ đạt tới chỗ bình hòa thanh tịnh thuần thanh và tìm thấy lại tinh thể của mình là chính lúc nó không nói được điều gì, nó phải được tồn tại trong vô ngôn, một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như”[3,tr36].
Quan niệm về thơ của Bùi Giáng khá gần gũi với mỹ học về cái nhạt của Trung Hoa mà nhà triết học hiện đại F. Julien đã bình giải: “Cái nhạt chỉ hiện ra để người ta cảm nhận được khi nó hướng người ta đến cái hài hòa đã qua, cái đã được định đoạt trong im lặng” [4,tr20]. Như thế với Bùi Giáng, thơ mang một hàm nghĩa rất rộng; là một thế giới nhiệm màu, tế vi và tự nhiên, nhi nhiên như cuộc sống muôn vẻ đa chiều kích; là nghệ thuật tinh túy của ngôn từ chảy tràn ra từ những siêu thăng trong tâm hồn, tiềm thức và vô thức (Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao). Thơ với Bùi Giáng, là cái gì vượt thoát (Lời phiêu), “là lô hỏa thuần thanh -ngọn lửa đã xanh – lửa đã xanh thì tươi mát như ngọn lá đa mới nở. Nhưng sức nóng mãnh liệt của nó có thể thiêu rụi bất cứ thứ cứng rắn nào” [5,tr.104] và thơ cốtphải trở về được với nguồn cội đời sống tại-thể- người (một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như). Chính lúc đó thơ ca làm cuộc đời hiện lên trong vẻ đẹp vừa siêu thoát vừa chân thật như vốn có. Bùi Giáng đã đưa thể tính của thi ca về đúng chỗcủa nó,là hệ quả của phép làm thơ, một quá trình sáng tạo kì diệu như ông nói: “…hãy quên đi rồi hãy viết.Hãy viết như viết trong chiêm bao: nơi đó mọi thứ đã trộn lẫn. Một thứ trộn lẫn đầy cảm động và mãnh liệt. Đừng có chằm hăm vào một cái gì, một chỗ nào.Hãy nên chằm hăm vào chỗ rạt rào”. [5,tr.10]. Thơ ông đã đạt được đến độ dạt dào nhựa sống, lay động hồn người chính từ quan niệm như thế:
Một hôm nào em mở cửa đầu khe
Và bữa đó đến bây giờ cỏ rạ
Thi nhau mọc mặt trời lên lả tả
Bông lúa chín trong rừng kêu tiếng lá
Chim chóc xanh đòi đẻ trứng bây giờ.
(Làm thân con gái)
Bùi Giáng mặc khải về sự khai hạ, sự sinh nở nơi người Mẹ cuộc sống huyền nhiệm như hoạt cảnh chúa trời giáng thế; hạt mầm sự sống tí tách trở động trong nguồn ánh sáng nguyên sơ dựng dậy một suối nguồn sự sống tràn trề, xanh ngát.Có thể thấy, ông chủ trương đưa thơ ca thành tiếng nói gần gũi với đời sống con người nhất nhưng phải là thứ tiếng nói về cuộc sống ở trình độ tinh tuyển, để cuộc sống hiện lên trên một giác độ mới, một trần gian lộng lẫy hơn, mê đắm hơn nhưng không xa lạ. Quan niệm thơ là cõi phiêu bồng, là vô ngôn, Bùi Giáng dùng ngôn ngữ thần ngôn, chi ngôn, trùng ngôn, phản ngữ, nhằm đạt đến chỗ im lặng nổi sóng như tinh thần Thiền Tông Phương Đông và tinh thần của triết học Heidegger phương Tây về ngôn ngữ: “Trong cõi ngôn ngữ nghiêm hàn ấy có sự trì ngự huyền hỏa bão giông và tại trung tâm huyền hỏa bão giông đó có cõi viên dung thanh tịnh” [6,tr.24]. Thử nghiệm hai câu trong bài “Chào Nguyên xuân” của ông:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau.
Hai câu thơ lâu nay vẫn được xem là tuyệt bút, bởi đứng trước nó người đọc được dẫn vào một cõi miền đầy bãng lãng. Ta thấy cái vẫy tay lấp lánh niềm hân hoan của thi nhân để dấn bước vào dòng chảy cuộc sống đang mời gọi. Nhưng, để định vị được tọa độ nào là điểm đứng của thi nhân quả thật vô cùng mờ ảo. Có thể hiểu mùa Xuân phía trước là tương lai và miên trường phía sau thuộc về quá khứ. Hay ngược lại, thời khắc mùa Xuân cuộc đời nhà thơ chỉ còn là quá khứ và tương lai phía trước chỉ là giấc miên trường – giấc ngủ dài.Câu thơ ảo diệu, uyên bác nhưng cứ tự nhiên, thơ thới tuôn chảy như không hề có dấu vết của bàn tay của người sáng tạo. Bằng cách đó, thế giới thơ ca Bùi Giáng mở ra phiêu bồng, bát ngát – cái thế giới của bóng vang.
Từ quan niệm về thơ, Bùi Giáng cũng manh nha suy nghĩ về cách đọc thơ và nâng lên thành cách đọc văn chương:
Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
Dịu dàng cuối lá đầu hoa
Mười về châu lệ chín sa dòng dòng
(Bé con ơi)
Cách đọc thơ theo ông là vừa là một sự tri âm: mở óc trong đầu ra, mở máu trong tim ra, phải có hùng tâm đừng nghi tâm, biết đau khắp tâm can: Mười về châu lệ chín sa dòng dòng, biết trân trọng nâng niu: Dịu dàng cuối lá đầu hoa. Nhà Đông phương học Nhật Bản Toshiko Izutsu có bàn về hai cấp độ đọc: “Ý thức cấp một là ý thức thông thường bằng thao tác, bằng cảm xúc bằng tri giác, bằng tư duy duy lý, chủ yếu nhận thức sự vật trong thời gian và ở bình diện hiện tượng luận.Ý thức cấp hai là chiều sâu của ý thức, nó có năng lực đọc được sự vật trong trạng thái “sự thống nhất nguyên thủy ở trạng thái tuyệt đối chưa phân hóa của chúngvà ở phía sau, phía bên kia của sự vật đã đa dạng hóa thành những hiện tượng”, nó đọc được “cơ sở văn bản phi hiện tượng, siêu hình và chưa đa dạng hóa của chúng”(3) Cách mà Bùi Giáng khuyên người đọc đến với văn bản ở đây thuộc về trường hợp thứ hai, đến bằng vô thức và ý thức. Khi đó tiếp nhận văn học như một hoạt động đối thoại “muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài khác”. Thông qua sự va chạm với vô thức và ý thức tác giả thể hiện nơi văn bản, người đọc nắm bắt được những lóe sáng của trực giác, cảm thức về ý nghĩa văn bản. Đó là: văn bản khác trong sự chiếm lĩnh của người đọc, có giá trị thanh lọc tinh thần, tâm hồn.
Không thể có lối chiếm đoạt hoàn toàn văn bản một cách chủ định như lối nghĩ truyền thống khi đến với tác phẩm văn chương,ông nói: “Đi vào cõi thơ. Thế nghiã là? Có một cõi và một cuộc đi, cuộc đi có nhiều thể thái. Có thể theo lối chu du của ông Khổng Tử.
Có thể đi theo lối ngồi yên không rục rịch suốt bao diên trường tuế nguyệt dưới một gốc cây bồ đề theo lối Như Lai. Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín(4). “Đi như vậy dù sao thì dù, cũng là trong ý hướng mở cõi ra chơi. Không ai buộc ai phải theo ý của riêng độc đoán của ai… đã gọi là mở cõi thì chẳng nên khép miền. Nghĩa là …tránh cái lối bưng bít (…). Đó là điều kiện cần và đủ, không buộc ai phải đi qua miên bạc bình sinh.” [7, tr.482].
Vẫn bằng lối nói hình tượng, nhìn nhận trên của Bùi Giáng tỏ ra khá gần với lý luận văn học hiện đại và hậu hiện đại với những khám phá về yếu tố người đọc tích cực và văn bản văn học. Thông diễn học hiện đại với các quan điểm của M.Heidegger, G. H.Gadamer, Mỹ học tiếp nhận với các nhà lý luận W.Iser, H. Robert Jauss thừa tiếp thành tựu triết học về ngôn ngữ và triết học Hiện tượng học của chủ nghĩa hiện sinh đi đến hình thành lí thuyết tiếp nhận hiện đại. Các nhà lý luận hiện đại, hậu hiện đại quan niệm tác phẩm văn học như là quá trình(5), luôn chờ đón người đọc đến đối thoại để hiện thể chính nó. Người đọc ở mỗi trường hợp đến với tác phẩm là thực hiện một cuộc giao tiếp giữa toàn thể cái thế giới vô thức và ý thức của bản thân với văn bản, nơi hiện thể toàn bộ cái vô thức và ý thức của tác giả. Mỗi người đọc có một trình độ tiếp nhận nhất định, trường phái Mỹ học tiếp nhận Konstanz(6) gọi là tầm đón nhận. Ở mỗi thời đại khác nhau, người đọc có những quan điểm, thiên kiến khác nhau.Vì vậy quá trình tiếp nhận tác phẩm ở mỗi người đọc cũng khác nhau.Như thế, kết quả giải mã và hiển thị giá trị của tác phẩm trong lịch sử tiếp nhận trên trục thời gian đồng đại và lịch đại mới làm nên giá trị thực tại của nó.
Đối sánh với quan điểm của lý luận văn học hiện đại phương Tây về hai trong các yếu tố then chốt của hệ thống văn học, dễ nhận thấy quan niệm văn học của Bùi Giáng có những điểm rất mới mẻ, độc đáo đồng thời gần gũi và thích hợp về các yếu tố cơ bản của văn học (Nhà văn- Tác phẩm -Người đọc) với lý luận văn học thế giới đương đại. Ông cho rằng tiếp nhận tác phẩm văn học là hoạt động chủ động của mỗi người đọc (cuộc đi có nhiều thể thái). Mỗi người đọc khác nhau (có thể hiểu là: khác tầm hiểu biết về thể loại, hình thức, ngôn ngữ của tác phẩm, sở thích, sở trường, kinh nghiệm…) sẽ có cách và sự chiếm lĩnh khác nhau đối với tác phẩm. Theo đó, tác phẩm văn học (cõi thơ) được nhìn nhận như là một hệ thống mở (không bưng bít, khép miền), chứa đầy ẩn số. Nó kích thích sự đào sâu suy nghĩ, cảm nhận, tìm cách giải mã, lấp đầy chỗ “bất khả giải” tức thời của tác phẩm (thơ ca) và nó kéo dài ra đến vô hạn tùy theo sự nội cảm, trạng thái nhận thức và trình độ của chủ thể tiếp nhận. Người đọc ở những tầng bậc thẩm mỹ khác nhau sẽ lĩnh giải tác phẩm ở những điểm khả thủ khác nhau.
Lâu nay, đứng trước thế giới thi ca Bùi Giáng, người ta vẫn thường có tâm thế “kính nhi viễn chi”,cảm thấy như đứng trước một thế giới thơ ca luôn ở thế tràn bờ, không biên giới; thế giới được xây cất bởi thứ ngôn ngữ đầy khả biến như đời sống,chẳng hạn: Thử một lần đối diện thơ Bùi Giáng (Trương Vũ Thiên An), Một thử nghiệm đọc thơ Bùi Giáng (Khế Iêm), hoặc một sự ghi nhận khoáng đạt: Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp Bùi Giáng (Nguyễn Hưng Quốc),…có lẽ điều đó xuất phát từ hiệu ứng của quan niệm thơ, cách làm thơ như đã thấy ở ông. Bùi Giáng có một quá trình tiếp xúc với hệ thống tư tưởng triết học hiện sinh phương Tây mà nền tảng của nó là hiện tượng học Husserl; ông đặc biệt yêu thích tư tưởng triết học của M.Heidegger và hệ thống tư tưởng phương Đông xưa cổ…Sự tiếp thông suối nguồn tư tưởng đó có thể nói đã dẫn đạo cho những suy tư văn học sâu sắc nói trên. Đây có thể xem là những đóng góp không nhỏ và độc lập của Bùi Giáng trong lĩnh vực lý luận văn học dân tộc. Ông thường nói: “Chúng ta quen thói ngong ngóng chạy đuổi theo mọi thứ trào lưu chủ nghĩa, chúng ta tuyệt nhiên không còn giữ một chút tinh tế cỏn con nào để thể hội rằng lục bát Việt Nam là một cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba sông bảy hồ và(….) Cái thói học đòi vá víu thông thái đã âm thầm giết chết máu me thân thể chúng ta.”(7) Bùi Giáng luôn muốn giữ sự tôn quý và đề cao bản lĩnh dân tộc.
“Vui thôi mà” là câu ông thường nói khi được hỏi về việc làm thơ. Nói như đại thi hào Nguyễn Du, sáng tạo Truyện Kiều cũng chỉ để Mua vui cũng được một vài trống canh. Song, như đã biết, Bùi Giáng đã có khoảng 60 tác phẩm ở các thể loại thơ, tạp văn, bàn luận về văn học và triết học; chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn chương thế giới (bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Đức) sang Việt ngữ. Tất cả đều theo một thể điệu riêng biệt của ông. Riêng thơ, ông có trên ngàn bài. Văn nghiệp Bùi Giáng đồ sộ vô cùng. Một mặt, ông nghĩ về thơ như một cõi vô ngôn. Mặt khác, nói về chức năng của thi ca, Bùi Giáng cũng nhìn nhận một cách nhẹ nhàng, kín đáo: Thơ tôi làm là để tặng chuồn chuồn châu chấu.(8) Như vậy phải chăng với thơ, ông không đặt nặng vấn đề vị nghệ thuật hay vị nhân sinh của thi ca – văn học? Thực tế, người làm thơ muôn thuở đều khao khát được người đời chia sẻ, vì đó là mục đích tự thân để thơ ca được thành tựu. Và sứ điệp của thơ ca bao giờ cũng hướng đến một cứu cánh nào đó cho cuộc đời.
Khi cho rằng làm thơ để tặng chuồn châu chấu thiết nghĩ là Bùi Giáng cần ở con người một thái độ vô cầu, vô ưu trước thế giới thi ca ông. Buông mặc cho tâm tưởng tan chảy vào thế giới vi diệu đó, người đọc sẽ bắt gặp được nhiều ý vị, tìm thấy không phải là những điều vĩ đại thì ít nhất cũng là một thoáng chốc bình yên giữa cõi phù sinh, tìm được niềm vui nho nhỏ để yêu, sống. Bùi Giáng đã nói đến chức năng của thơ(văn học) như một nhịp cầu để đồng điệu, tri âm giữa người với người, là nơi con người được giải trí và bồi bổ nhựa sống.
2.2. Quan niệm về thi nhân
Bắt chước ông Khổng Tử
Con chim thì ta biết nó biết bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ
Nhưng thơ là gì thì đó là điều ta không biết
( Sa Mạc Trường Ca )
Bùi Giáng quan niệm về thi nhân – thi sĩ giản dị, tự nhiên như bản mệnh đời sống vốn có: thi sĩ là người làm thơ. Bản thân ông sinh ra là để sống cho thơ và làm thơ. Nhiều thi sĩ xem ông là hóa thân của thi ca. Và cũng bằng một giọng điệu dị thường cố hữu, ông nhận định thêm về người làm thơ: Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ và chết đi giữa ly kỳ gay cấn(9). Vượt qua những định danh quen thuộc về sứ mệnh cao cả, lớn lao của người nghệ sĩ – chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, hay cách nhìn trên tinh thần lãng tử của các nhà Thơ mới: thi sĩ “là con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi” (Xuân Diệu), “Thi sĩ không phải là người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, Là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói ra những điều vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý (Chế Lan Viên).
Với Bùi Giáng, người làm thơ trước hết là một con người đến với mảnh đất trần gian nhiều quyến rũ và gay cấn này để sống trọn, uống trọn những mật ngọt lẫn đắng cay của cuộc đời và bằng một tinh thần vô ưu,vô cầu:Tôi lớn lên giữa linh hồn cỏ mọc để cháy hết mình, tận quyết–chết – với thiên chức làm thơ của nó đến trọn đời. Cái chết ở đây được hiểu trên tinh thần của câu nói: Nếu người không chết trong cuộc tại thế thì người sẽ mất tích sau khi qua đời. Thi sĩ Bùi Giáng, kẻ đã chết trong cuộc tại thế này như chính thi sĩ nói: Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống đã đặt yêu cầu rất thiêng liêng, cao cả đối với con người mang hai tiếng: thi nhân. Nhà thơ Holderlin từng kì vọng và tôn xưng: Con người sống trên mặt đất này, như một thi sĩ. Thi sĩ là người vinh hạnh đại diện trên hết cho vẻ đẹp rực rỡ của loài hoa đất trên hành tinh xanh. Với Bùi thi sĩ, có thể nói ông là bảo chứng trọn vẹn cho chính định nghĩa đó. Và nói như nhà thơ Huy Tưởng: Ông là người… Tận hiến hết cả đời mình cho Duy-nhất Thơ-ca(10). Nguyễn Hữu Hồng Minh thì gọi Bùi Giáng là “Người Thơ” bởi: Thơ với cuộc đời tiên sinh như đã được quán luận, được thực hành như một Đạo.Đạo Thơ.[8,tr.432,433].
3. Qua hai tác phẩm lý luận chính: “Thi ca tư tưởng” và “Đi vào cõi thơ”, các quan điểm văn học của Bùi Giáng được nêu lên khá hệ thống, mang nhiều hạt nhân mới mẻ, hiện đại, có tính đột phá và độc lập trong quan niệm về thi ca (tác phẩm), về thi nhân (tác giả), về cách tiếp nhận tác phẩm văn chương (cách đọc), về ngôn ngữ thơ so với quan niêm văn học truyền thống; có những gợi mở đáng chú ý về người đọc và tác phẩm gầngũi với quan niệm của các nhà lý luận văn học thế giới đương đại(11). Đi qua bao vùng trời tư tưởng Đông-Tây, kim-cổ, với sự tham chiếu, soi rọi nhau giữa những tư tưởng triết – mỹ Đông Tây từ cổ điển đến hiện đại đó, Bùi Giáng đã tìm thấy được những điểm khả thủ về bản chất của thơ ca, nghệ thuật; thấy được bản chất sự sáng tạo và tiếp nhận văn học tương ứng với quan niệm thơ ca, nghệ thuật đó. Sự nghiệp sáng tạo thơ ca Bùi Giáng dựa trên nền tảng quan điểm văn học đích thực cũng đã thu được những thành tựu rực rỡ, góp phần đưa thi ca dân tộc bước vào lộ trình hiện đại hóa và nhập cuộc cùng thế giới trên cả bình diện lí luận và sáng tác. Hiện tại, từ hiệu năng của lí luận sáng tạo văn chương mới mẻ, thế giới thi ca Bùi Giáng đã trở thành một hệ thống mở đã, đang được cộng thông và lan tỏa nhiều trong đời sống Việt trong nước(12)và ngoài nước và vẫn còn sức vẫy gọi những người đọc đồng sáng tạo ở phía trước.
1. Chữ dùng của nhà nghiên cứu triết học, dịch giả Bùi Văn Sơn Nam.
2. Vị trí dẫn đầu về kiểu nhà thơ “kì dị” nửa
đầu thế kỉ XX được Chế Lan Viên ghi nhận thuộc về thi sĩ Hàn Mặc Tử.
3. Dẫn theo Hoàng Ngọc Hiến, Lời giới thiệu Minhtriết phương Đông và triết học phương Tây,NXB Đà Nẵng,tr49.
4. Tên một bài thơ trong tập Mưa Nguồn của Bùi Giáng.
5. Tên một tác phẩm lí luận văn học của GS- TS Trương Đăng Dung.
6. Trường phái lí luận văn học Konstanz (Đức) xuất hiện vào cuối những năm 60 đầu những năm 70 thế kỉ XX với đại diện: Hans Robert Jauss.
7. Đoàn Tử Huyến, tài liệu đã dẫn, tr 479;
8. Bùi Giáng, tài liệu đã dẫn, tr 34.
9. Dẫn theo Đoàn Vị Thượng,Thể thao & Văn hóa, Bùi Giáng: Người tiên lạc bước hồng trần, Thứ bảy, 30 Tháng 10 2010 09:00
10. Lời nhà thơ Huy Tưởng đọc trước mộ Bùi Giáng.
11. Bùi Giáng viết độc lập các tác phẩm Thi ca tư tưởng, Đi vào cõi thơ…vào thời điểm những năm của thập niên 60-70 thế kỉ XX, cùng thời điểm các trường phái lí luận Thông diễn học hiện đại, Mỹ học tiếp nhận ra đời ở châu Âu.
12. Hiện nay, thơ Bùi Giáng đang được quan tâm nghiên cứu rộng rãi, liên tục trong môi trường học thuật ở các trường đại học và trong đời sống.
Tài liệu tham khảo
[1] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Đi vào cõi thơ, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây.
[2] Bùi Giáng (1969),Thi ca tư tưởng, NXB Ca Dao, Sài Gòn.
[3],[6] Bùi Công Khanh (2005), Bùi Giáng trong tôi, NXB Văn Nghệ,T.p HCM.
[4] Hồ Thế Hà (2007), Những khoảnh khắc đồng hiện, Khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của cái nhạt trong thi ca,NXB Văn học.
[5] Nhiều tác giả (1999),Tưởng Nhớ Thi Sĩ Bùi Giáng, NXB Trẻ.
[7] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Bùi giáng – hồn thơ bị vây khổn, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
[8] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Bùi Giáng – “Người thơ” cuối cùng của thế kỉ 20, NXB Lao động – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
Đêm nay trời lặng im Cho ta đến bên mình Thì thầm theo hơi thở Tay trong tay đắm chìm
Anh muốn ôm cả chiều Hôn lên vầng mây đỏ Trời hoàng hôn chợt tím Hai bóng đổ liêu xiêu
Em muốn nói điều gì Khi đêm về thao thức Lời thì thầm ru ngủ Hoài niệm tuổi xuân thì
Lê Tuấn
Trở về với vần điệu (thơ 7 chữ). sau lời thì thầm, thường để lại chút vấn vương, đi vào tâm hồn, chìm theo giấc ngủ, mà đôi khi vẫn “còn nghe tiếng nấc” trong đêm.
Còn nghe tiếng nấc
Không chút men nào vẫn thấy say Môi tình đỏ thắm má hây hây Hương đồng gió nội bay thơm ngát Ý nhạc thay lời, vẫn ngất ngây.
Nơi chốn hồn hoang nhớ bóng đêm Tình ai ảo tưởng, bóng bên thềm Lung linh ngọn nến mờ nhân ảnh Có xót thương người, nhớ bóng em.
Gối mộng đừng quên nhớ đến nhau Chiều buông bóng xế lạnh cơn đau Còn nghe tiếng nấc buồn trăn trở Hãy gọi tên người, dẫu ở đâu.
Lê Tuấn
(Người nghệ sĩ lãng mạn, vẫn lang thang hoài trong tâm tưởng)
Khi em cất tiếng khóc chào đời Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười BS Đỗ Hồng Ngọc
Tôi bắt đầu thích, và rất thích những bài viết của BS Đỗ Hồng Ngọc, từ khi đọc bài viết này: … Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hiện nay đang sống tại Sài Gòn VN. Ông cũng là nhà văn và nhà thơ kỳ cựu trước năm 1975 cho đến nay với bút hiệu là Đỗ Nghê. Ông viết rất dí dỏm, trong sáng, từ ái, và đầy tính nhân bản.
“ (ĐHN) …Bài thơ Thư cho bé sơ sinh tôi viết năm 1965, trong một đêm trực ở Bệnh viện Từ Dũ, sau một ca đỡ đẻ đầu tiên trong đời của một sinh viên y khoa thực tập. Hồi đó, phải học đến năm thứ ba y khoa chúng tôi mới được phép đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 “ca” sanh thường, không bệnh lý. Tối tối, chúng tôi túc trực ở phòng nhận bệnh để “bắt ca”.
Một hôm, tôi bắt được ca “4 cm”, nghĩa là ca mà cổ tử cung đã nở gần trọn, sắp sanh. Tôi đưa sản phụ lên phòng sanh, thăm khám, làm vệ sinh các thứ, theo dõi cơn co tử cung, ghi chép cẩn thận vào hồ sơ bệnh án rồi ngồi bên trò chuyện cho sản phụ quên đau. Tôi nghĩ đến mẹ mình, đến những giọt mồ hôi của biết bao bà mẹ chờ sanh khác. Đến gần sáng thì cơn đau đã rột. “Lúng túng” một cách lành nghề, tôi cũng đã đỡ được ca đầu tiên mẹ tròn con vuông! Lòng lâng lâng tôi đẩy xe cho hai mẹ con về phòng, rồi viết bản “phúc trình”. Trời đã hửng sáng. Bên ngoài khung kính cửa phòng sanh, Sài Gòn tấp nập và hừng hực không khí ngột ngạt những ngày tháng này của năm 1965. Đột nhiên, một cảm xúc trào dâng, tôi viết liền một mạch ngay sau phần bệnh án một bài thơ nhỏ:
Thư cho bé sơ sinh
Khi em cất tiếng khóc chào đời Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc Trong cùng một cảnh ngộ nghe em Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu Nói là để ngừa đau mắt Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen Khi anh cắt rún cho em Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé Vì từ nay em đã phải cô đơn Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ Em là gái là trai anh chẳng quan tâm Nhưng khi em biết thẹn thùng Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm Khi tình yêu tìm đến Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em Em được dán nhãn hiệu từ giây phút đó Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa Một ngày đã thức giấc với vội vàng, với hoang mang, Với những danh từ đao to búa lớn Để bịp lừa để đổ máu đó em Thôi trân trọng chào em Mời em nhập cuộc Chúng mình cùng chung Số phận Con người… Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc, Bv Từ Dũ, 1965)
Khóc Chị
Bà A.V. — Đà-Nẵng
Hôm nay: ngày, tháng, năm nào ?
Từ ngày Chị mất: đã bao lâu rồi ?
Mà em tưởng mới đây thôi!
Niềm đau tử-biệt khôn nguôi trong lòng!
Nỗi buồn biết lấy gì đong?
Chỉ còn nước mắt hai dòng, Chị ơi!
Nhớ ngày em mới tới nơi:
Cấp cao, chức lớn, mà vơi túi tiền!
Chị cho em một phép tiên:
Nuôi em ăn, để em yên một bề.
Mỗi ngày hai bữa đi, về:
Chị săn-sóc, Chị không nề nhọc thân.
Mẹ em thì đã từ-trần;
Chị: em không có; em cần Chị thương.
Con trai Chị: cách trùng dương;
Rể và em Chị: mỗi phương một người .
Tới lui: chỉ mình em thôi:
Mối tình Mẹ+Chị: Chị bồi cho em…
“Chú cần tẩm-bổ nhiều thêm;
Việc nhiều, đi sớm, thức đêm tổn người!
“Chú cần có lúc nghỉ-ngơi,
Thong-dong thân-xác, thảnh-thơi tâm-hồn!
“Chú cần tâm-sự trào tuôn,
Một mình kín tiếng: mười muôn hiểu lầm!
“Chú: người thiện-tính, thuần-tâm
Mà đời sao cứ… dập bầm, nổi trôi!
“Người ta “lên” đến đâu rồi
Vợ+con cũng hưởng những hồi sướng-sung!
“Thà rằng dốt-nát, điên-khùng…
Mà thôi! Nói mấy cho cùng, chú ơi!…”
Từ ngày em sinh ra đời,
Thương em, chỉ Chị là người hiểu em!
Lần đầu em mới được xem
Nỗi lòng em, được Chị đem họa hình!
Được người hiểu thấu lòng mình,
Tưởng như ẩn-ức tâm-tình nhẹ vơi …
Nhưng, môi em chưa kịp cười
Thì… thân em… đã… vội rơi … vào tù!
Ân Chị, em chưa đáp bù,
Thì Chị cũng đã nghìn thu viễn-hành!
Em viết mấy chữ chân-thành,
Chưa kịp gửi Chị, đã… đành… đốt đi!
Đời em cứ chậm như rì:
Đến thì trễ-trớt, mà đi: muộn-màng!
Dịp may như chuyến đò ngang:
Em ôm mộng lớn, kềnh-càng khó qua!
Đón mình: có mấy người ta ?
Đến đó có là… giờ thứ hăm lăm?…
Bây giờ Chị đã xa-xăm,
Em ôm mộng lớn mà nằm trong lao!
Mộng hồn gửi tới trăng sao,
Vẳng nghe lời Chị hôm nao, nhủ thầm:
Em: người thiện-tính, thuần-tâm!
Ai: người ngậm ngải, tìm trầm? — Chị ơi!