Tạ Quang Khôi : Chết Oan

CHẾT OAN

                                                    Tạ Quang Khôi

 

Cảnh sát viên David Ruthfield đến hiện trường cùng một lúc với xe cứu thương. Một cảnh tượng thê thảm hiện ra trước mắt anh. Một người đàn bà Á đông nằm úp mặt trên một vũng máu. Các nhân viên cứu thương xác nhận nạn nhân đã chết tức thì ngay khi gặp tai nạn. Chỉ có một nhân chứng trong vụ đụng xe này. Ông ta khai rằng đây là một vụ “đụng rồi bỏ chạy”. Nhân chứng là một người đàn ông da trắng. Ông cho biết ông rất bất mãn về các tai nạn kiểu này, vì thế ông cố gắng chờ đợi gặp nhà chức trách khai một vài chi tiết quan trọng, với hy vọng giúp điều tra viên tìm được kẻ gây ra tai nạn càng sớm càng tốt. Nhân chứng cũng cho biết khi xảy ra tai nạn cả bãi đậu xe trong khu thương mại này chỉ có mình ông và nạn nhân. Nếu ông bỏ đi, nhà chức trách sẽ vô cùng khó khăn khi điều tra. Lúc đó, trời đã nhá nhem tối, xe gây tai nạn là một xe SUV, màu nâu hay đỏ xẫm. Tai nạn xảy ra quá nhanh mà người lái xe lại phóng đi ngay nên ông không kịp nhìn thấy bảng số xe.

                David ghi lại mọi chi tiết cần thiết kể cả số thẻ căn cước của nhân chứng, rồi để ông ta ra đi thong thả. Lúc đó đã có một số người hiếu kỳ đứng xa xa nhìn tới. David gọi điện thoại về trạm cảnh sát để báo cáo. Tức thì có hai xe cảnh sát khác tới ngay. Các nhân viên cứu thương đặt xác nạn nhân lên một chiếc băng-ca, rồi phủ kín từ đầu đến chân bằng một tấm vải trắng, đẩy băng-ca tới sau xe cứu thương. Khi cửa xe cứu thương vừa mở ra, David bỗng thấy xác chết ngồi nhỏm dậy. Anh thốt kêu :

                “Ồ, còn sống !”

                Một cảnh sát viên đứng cạnh hỏi lại :

                “Mày nói gi ? Ai còn sống ?”

                David chỉ tay về phía xe cứu thương, đáp :

                “Nạn nhân chưa chết !”

                Cả hai cảnh sát viên mới tới cùng nhìn về phía xe cứu thương, rồi lại nhìn David với vẻ mặt ngơ ngác, hỏi :

                “Mày nói gì lạ vậy ? Nạn nhân nào chưa chết ?”

                Vừa lúc đó, các nhân viên cứu thương đóng cửa xe, rồi sửa soạn cho xe chạy. David  chớp mắt mấy cái, nhìn kỹ lại, chỉ thấy xe cứu thương chớp đèn đỏ, từ từ rời khỏi bãi đậu xe. Một cảnh sát viên mới tới nhìn David đăm đăm hỏi :

                “Bộ mày mới uống rượu hả ?”

                David lắc đầu :

                “Không, tao chưa uống một giọt rượu nào. Rõ ràng tao thấy nạn nhân ngồi dậy…”

                Người bạn cảnh sát nói đùa :

                “Tao cũng rõ ràng thấy mày say. Cô ta chết thật rồi, đâu có sống lại được nữa. Mày say nên hoa mắt tưởng cô ta sống lại. Này, say rượu thì phải lái xe cẩn thận đấy.”

David cãi :

“Tao không say…Nhất đinh tao không say vì từ đêm qua tới bây giờ tao không uống một giọt rượu nào, kể cả bia”

David có một cuộc sống rất điều độ, chừng mực. Anh chỉ uống một lon bia

sau giờ làm việc, trong bữa ăn tối, rồi đi ngủ ngay. Chắc chắn anh không hoa mắt khi nhìn thấy nạn nhân ngồi nhỏm dậy, bước khỏi băng-ca. Bây giơ thì không thấy gì nữa. Chính anh cũng bắt đầu nghi ngờ đôi mắt mình. Hay tại anh mệt mỏi quá sau một ngày làm việc vât vả ? Anh đã từng phải đuổi theo kẻ gian len lỏi trong các con đường đông xe. Anh cũng đã phải đáp ứng lời kêu gọi của các bạn đồng nghiệp đến giúp họ bắt một tên cướp xe có súng…Nhưng so với nhiều ngày khác cũng có gì mệt nhọc hơn đâu. Anh vẫn cảm thấy khỏe mạnh và bình tĩnh.

                Khi xe cứu thương và hai cảnh sát bạn bỏ đi rồi, David còn phải đợi thêm một lát nữa mới thấy xe của sở vệ sinh đến quét dọn nơi vừa xảy ra tai nạn. Sau hết, anh vừa định lên xe về trạm cảnh sát làm báo cáo thì lại trông thấy nạn nhân lảng vảng trước mũi xe của anh. ..

                “Thế là thế nào ?” David lẩm bẩm tự hỏi. “Cô ta còn sống hay đã chết ?”

                Bỗng anh nghĩ đến chuyện ma quỷ hiện hình. Anh cũng thấy hơi rờn rợn. Bất giác, anh để tay vào báng súng. Nhưng anh lại thấy ngay sự vô lý của mình. Anh chưa thấy ai dùng súng bắn ma bao giờ. Thật ra, bóng ma chỉ lởn vởn xa xa, không hề có ý tấn công anh mà cũng không trêu chọc anh. Vì thế, anh lấy lại bình tĩnh ngay. Anh lên xe, sửa soạn rời khỏi bãi đậu xe. Anh mở đèn trước mũi xe sáng hơn, không thấy bóng ma đâu nữa.  Nhưng khi anh đã ra khỏi bãi đậu xe, định quẹo trái để về trạm cảnh sát, bóng ma lại xuất hiện. Nó ra hiệu cho anh đi về phía tay mặt. Anh ngạc nhiên và phân vân. Anh tự hỏi có nên đi theo bóng ma hay về trạm cảnh sát vì anh cũng sắp hết giờ làm việc, đã thấm mệt sau một ngày vất vả, muốn được nghỉ ngơi. Nhưng anh lại tò mò muốn biết bóng ma sẽ dẫn anh đi đâu ? Có một điều anh tin chắc rằng bóng ma không có ý hại anh. Nó chỉ có vẻ khẩn khoản muốn anh đi theo nó.

Suy nghĩ thêm một vài giây, David quyết định quẹo tay mặt vì một phần tò mò, một phần không muốn làm ma thất vọng. Con đường vắng vẻ, không có đèn, anh liền mở đèn pha để trông rõ bóng ma hơn. Nhưng trong vùng cực sáng của hai ngọn đèn, anh không còn trông rõ bóng ma nữa, chỉ thấp thoáng như ẩn như hiện. Anh nhấn ga cho xe chạy nhanh hơn xem có đụng phải nó không. Nhưng lúc nào nó cũng giữ một khoảng cách nhất định.

Bóng ma đưa David chạy quanh co qua mấy con đường vắng và tối om, rồi rẽ vào một khu có đèn hai bên đường. Anh giảm tốc độ và tắt bớt đèn.xe. Bóng ma vẫn ở phía trước. Anh nhìn nó chăm chú để xem nó chạy hay bay hay đi thong thả. Nhưng anh không xác định được. Nó không có một cử động nào, chỉ lơ lủng, cao hơn mặt đất một chút. Ðã nhiều lần anh tự hỏi anh có ảo giác không ? Rõ ràng có một cái bóng trước mặt, xa không xa mà gần cũng không gần. Anh đã thử chớp mắt nhiều lần mà không xóa nhòa cái bóng lờ mờ đó.

Rồi David rẽ vào một khu nhà cho thuê, bãi đậu xe có đèn sáng. Bóng ma ngừng lại bên cạnh một chiếc xe SUV đã cũ.màu đỏ xẫm, nước sơn đã bị tróc nhiều chỗ. Anh nhớ lại lời mô tả của nhân chứng duy nhất: “Ðó là một chiếc xe SUV màu nâu hay đỏ xẫm…” Bây giờ thì David hiểu rõ ý định của bóng ma. Anh ngừng xe và mở cửa, đi về phía bóng ma. Khi anh đến sát xe SUV thì không thấy bóng ma đâu nữa. Anh nhìn quanh, nhưng không tìm ra bóng dáng người đàn bà Á Ðông xấu số. Anh đi vòng quanh chiếc xe và nhận ra ngay cái cản phía trước, bên tay mặt, bị móp khá nặng. Anh chiếu đèn bấm để xem xét kỹ chỗ bị móp. Anh thấy có vết máu chưa khô. Rõ ràng xe mới gây tai nạn. Anh ghi bảng số xe, rồi gọi về trạm cảnh sát để hõi lý lịch của chiếc xe, đồng thời xin thêm người hỗ trợ. Chỉ trong vòng một phút, anh nhận được trả lời, cả tên chủ xe và sơ lược những chuyện xảy từ khi hắn có bằng lái xe. Hắn đã có thành tích hai lần chạy quá tốc độ và một lần lái xe trong khi say rượu. Nhà của hắn ở tầng lầu 3 trong khu nhà cho thuê này. Hắn mới ngoài 30 tuổi và làm công nhân cho một hãng thầu xây cất.

David vừa định đi vào khu nhà cho thuê, một cảnh sát viên khác đã đến hỗ trợ cho anh. Người bạn đồng nghiệp chưa kịp hỏi han gì, anh đã kể sơ qua tai nạn mới xảy ra trong bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán cách đây mấy dặm. Anh cũng cho biết anh nghi người chủ xe SUV này là thủ phạm gây ra tai nạn ấy. Người bạn đồng nghiệp liền hỏi :

“Làm sao mày tìm ra cái xe này và nghi chủ nó là người vừa gây ra tai nạn chết người ? Những dấu vết này chưa đủ chứng cớ để buộc tội nó.”

David hơi lúng túng vì anh biết rằng chẳng ai có thể tin anh đã được bóng ma hay chính  hồn ma của nạn nhân hướng dẫn đến đây. Anh đáp lững lờ :

“Tình cờ đến đây, cũng tình cờ thấy xe này. Mới chỉ nghi ngờ thôi…Mình cứ lên gặp chủ xe xem sao.”

Người bạn gật đầu :

“Lắm khi nghi mà lại đúng. Cũng nhờ may mắn.”

Trong thâm tâm, David đã tin chắc chủ xe là người vừa gây ra tai nạn rồi bỏ chạy. Không lẽ bóng ma lại chỉ bậy, oan cho người khác.

David gõ cửa nhà số 317. Anh và người bạn đồng nghiệp không phải đợi lâu. Cửa hé mở và một khuôn mặt đàn bà ló ra hỏi :”Muốn gì ?” David ôn tồn đáp :               “Chúng tôi là cảnh sát, muốn gặp ông Michael Wright để hỏi ông ấy mấy điều.”

Người đàn bà liền trả lời xẵng :“Ðang ngủ !”, rồi định đóng xập cửa lại ngay, nhưng David đã kịp thời để một chân vào bên trong ngưỡng cửa. Lần này anh ra lệnh :

“Mở cửa rồi đánh thức Mike dậy.”

Nghe giọng đanh thép và nghiêm nghị của David, người đàn bà lưỡng lự một vài giây, rồi đành mở rộng cửa. Hai cảnh sát viên bước vào nhà trước vẻ mặt cau có, bực mình của nữ chủ nhân. David giải thích :

“Chúng tôi đang điều tra một tai nạn “đụng rồi bỏ chạy” làm chết một người cách đây hơn một tiếng trong bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán.”

David thoáng thấy vẻ hoảng sợ trong đôi mắt của người đàn bà. Nhưng mụ lấy lại được bình tĩnh ngay, cãi :

“Chồng tôi đi làm về sớm, ăn uống xong là đi ngủ ngay.”

Người bạn của David lên tiếng :

“Chúng tôi cũng chỉ muốn hỏi chồng bà mấy câu thôi. Không có gì quan trọng hết.”

Người đàn bà rụt rè :

“Nhưng anh ấy ngủ say lắm….”

David nghiêm nghị :

“Ngủ say cũng phải gọi dậy bằng được. Ðây là một chuyện rất cần, không thể trì hoãn được.”   .  

Trước khi bước vào nhà trong, người đàn bà nhìn David bằng đôi mắt tức giận, hậm hực. David theo bén gót mụ. Khi cửa phòng ngủ vừa mở, anh ngửi thấy ngay mùi rượu nồng nặc trước khi nhìn thấy một người đàn ông nằm ngủ trên giường với cả quần áo đi làm. Trong bụng, anh càng tin Mike là người vừa gây tai nạn. Người đàn bà nhìn chồng bằng đôi mắt nửa bực bội nửa lo lắng, giữ im lặng. David ra lệnh :

“Kêu nó dậy !”

Mụ đàn bà tỏ vẻ phân vân, vẫn đứng yên.

David chợt nghe tiếng nói lớn của người bạn đồng nghiệp ngay sau lưng  :            “Ðánh thức nó dậy !”

Có lẽ vì lệnh ra với một giọng hách dịch, nghiêm nghị, người đàn bà vội tuân theo. Mụ lay chân chồng :

“Dậy đi ! Dậy đi ! Có cảnh sát tới kìa.”

Người chồng chỉ ú ớ mấy tiếng, vẫn nhắm nghiền hai mắt, rồi trở mình ngủ tiếp. Người bạn của David bước ngay vào phòng, đến bên người đàn ông, đập thật mạnh lên vai hắn, quát lớn :

“Dậy ! Cảnh sát !”

Người đàn ông giật mình, tỉnh ngủ ngay, ngơ ngác nhìn quanh. Người vợ liền giải thích :

“Cảnh sát đến hỏi anh về một tai nạn xe hơi.”

Người đàn ông ngơ ngác hỏi :

“Tai nạn nào ? Tôi đâu có biết.”

David bước đến bên cạnh giường, ôn tồn đáp :

“Ông Wright, đó là một vụ đụng rồi bỏ chạy trong bãi đậu xe của một khu thương xá.”

Hắn lắc đầu :

“Tôi có đụng ai đâu.”

Cảnh sát viên thứ hai đề nghị với David :

“Mình nên thử nghiệm xem độ rượu trong máu hắn ngay lập tức….Tốt hơn hết là mình tạm thời đưa hắn về trạm cảnh sát.”

David đồng ý ngay nên ra lệnh cho Michael Wright sửa soạn đi theo anh. Lúc này, Michael đã tỉnh ngủ hẳn và bắt đầu hiểu ra sự rắc rối của cơn say rượu. Nhưng hắn vẫn nghĩ hắn không đụng ai hết.

David gọi về trạm cảnh sát để báo cáo sơ qua cuộc điều tra đang được anh và người bạn tiến hành. Cuối cùng, anh xin cho xe đến kéo chiếc xe SUV của Michael về đồn làm tang chứng.

Sau đó, mọi chuyện xảy ra êm thắm trước đôi mắt lo sợ và buồn bã của vợ Michael Wright. Mụ đi theo chồng xuống bãi đậu xe, nhìn thấy cái cản của xe chồng bị móp và có vết máu, mụ giật mình hoảng sợ, trố mắt nhìn chồng, không thốt nên lời. Người bạn của David đưa Michael về trạm cảnh sát trước, còn David phải đợi xe trục đến kéo chiếc xe SUV đi.

Khi còn lại một mình, anh vào xe ngồi. Bỗng anh lại thấy bóng người đàn bà Á Ðông thấp thoáng trước mũi xe. Anh liền bật đèn phía trước để nhìn cho rõ. Nhưng cái bóng vẫn chỉ lờ mờ, thấp thoáng. Trong vòng nửa phút bóng ma lại biến mất. Anh tắt đèn để xem nó có trở lại không, nhưng anh chờ hoài cho đến lúc xe trục tới cũng không thấy bóng ma hiện ra nữa.

 

                                                                X X

                                             X

 

David chọn một bộ quần áo thật đẹp và chiếc cà vạt màu xẫm để đến nhà quàn. Lâu lắm anh mới có dịp “đóng bộ” như thế này. Có lẽ một năm chỉ có vài ba lần thôi. Hôm nay, anh đến nhà quàn để đưa tiễn nạn nhân của vụ đụng xe rồi bỏ chạy. Ðúng ra, anh đến cảm ơn cô ta đã giúp anh bắt ngay được thủ phạm. Chỉ trong vòng có mấy tiếng đồng hồ, nội vụ được giải quyết xong xuôi. Michael Wright thú nhận đã uống rượu trong một quán ăn của khu thương xá trước khi về nhà. Lượng rượu trong máu hắn quá gấp hai lần lượng rượu cho phép một người được lái xe. Vì say quá hắn không biết mình đã gây tai nạn chết người nên cứ chạy thẳng về nhà. Mới chiều hôm qua người ta đã có kết quả thử nghiệm vết máu trên cản xe của hắn. Ðúng là máu của nạn nhân, một người đàn bà Á Ðông. Mọi người đều tỏ vẻ ngạc nhiên không hiểu tại sao David lại đến đúng  khu nhà cho thuê, tìm đúng chiếc xe gây tai nạn. Anh nói thật là chính bóng ma của nạn nhân đã hướng dẫn anh tới đó. Nhưng đa số không tin lời anh, cho là anh nói giỡn, chỉ có mấy nữ đồng nghiệp tò mò hỏi thêm chi tiết. Anh không giấu diếm, kể lại mọi chuyện, từ đầu đến cuối.

Nhờ thành tích này, David được cấp trên khen ngợi. Anh dò hỏi nhân viên nhà xác của bệnh viện đã đưa nạn nhân vào xét nghiệm, nên được biết hôm nay là ngày cho thân nhân nhìn mặt người chết lần cuối cùng ở nhà quàn. Người ta cũng cho anh địa chỉ nhà quàn đó.

Những người trong gia đình nạn nhân tỏ vẻ rất ngạc nhiên khi David ngỏ ý muốn nhìn mặt người chết. Họ là những người Á Ðông, nhưng anh không biết họ là người Tàu, người Nhật hay người Triều Tiên…Họ mời anh ghi tên và ký vào một cuốn sổ. Có lẽ thấy tên anh lạ hoắc, họ tỏ vẻ phân vân như muốn hỏi một điều gì, nhưng lại rụt rè không dám. Họ lịch sự đưa anh đến bên quan tài. Ðó là một cô gái còn trẻ và khá xinh đẹp. Cô nằm nhắm mắt như đang ngủ, mặt có một lớp phấn hồng và đôi môi được tô son. David đặt một bông hồng lên ngực người chết, nói thật nhỏ như nói thầm với người chết:

“Cảm ơn cô. Nhờ cô, tôi đã bắt được thủ phạm gây tai nạn.”

Bỗng anh thấy người chết mỉm cười, nhưng nụ cười chỉ thoáng trong mấy  giây rồi biến đi ngay. Anh liếc nhìn người đàn ông đứng cạnh, nhưng dường như ông ta không nhìn thấy gì.

Khi anh cáo từ, người đàn ông đưa anh ra tận cửa, rồi rụt rè hỏi :

“Ông với cô ấy quen nhau như thế nào ?’

David đáp ngay :

“Tôi chỉ biết cô ấy sau tai nạn.”

Người đàn ông mở to đôi mắt nhìn anh, tỏ vẻ không hiểu anh nói gì,  đùa hay thật ? Không muốn mất thì giờ giải thích dông dài, anh lịch sự bắt tay ông ta, rồi thong thả bước đi.

Khi đứng giữa bãi đậu xe vắng vẻ, David nhớ lại nụ cười rất mơ hồ trên đôi môi đỏ thắm của nạn nhân nằm trong quan tài, rồi phân vân tự hỏI :”Cô ấy cườI thật hay mình trông lầm ? Hay chỉ là ảo giác? NgườI Á Ðông vẫn có cái thần bí riêng của họ, mình không sao hiểu nổi.”                                                                                                      

                                                                                                     TQK

                                                                                             4 tháng 9, 2005 




NHÀ THƠ NHẠC SĨ AKHUÊ KHÔNG CÒN NỮA

NHÀ THƠ NHẠC SĨ AKHUÊ KHÔNG CÒN NỮA

AKhuê là bút danh của một ngươi có tên họ khai sinh ba chữ Hòang Văn Phúc sinh năm 1948 tại Tứ Kỳ Hải Dương Băc Viêt Xuât thân A,Khuê là dân Băc Kỳ di cư cha chàng ta vốn la cây vĩ cầm danh tiếng một thủa tên Hòang Liêu anh chàng ta là nhạc sĩ Hòang Lương nhưng AKhuê lại không mặn mà với âm nhạc dù chơi vĩ cầm vào loai không kém gì cha và đã soan tới ba trăm bản nhạc với ca từ đươc nhiều ngươi thích hát và từng sống bằng nghề kéo vĩ cầm kiếm cơm nhưng AKhuê vẫn cứ mải miết với thơ  nhiều hơn với nhạc.Trước ngày ba mươi tháng tư năm 1975 A.Khuê đã xuât bản tập thơ Lùa Bò Trong Sương và nổi tiếng liền với tập thơ đầu tay có giọng điệu ái tình lãng đãng trong sương khói bảng lảng của cuộc đời lắm nỗi buồn phiền lắm nỗi chuân chuyên và nhiều điều phiền tóai

Sau 1975 AKhuê xuất bản thêm tậpVàng bay vẫn giữ nguyên giọng điêu cũ không có gì thay đổi dù cuộc đời thì quá nhiều đổi thay đến mêt nhòai

Akhuê tiêt lộ rằng cái tên Akhuê của Hòang Ngọc Phúc chính là tên cô gái mà Phúc yêu lúc chàng 17 nàng 15 và vì nàng Phúc đã làm những bài thơ lãng đãng những bản nhạc trữ tình để tưởng nhớ lai tình yêu đầu đời không đi tới đâu của mình

Về đây nghe em

Về đây mặc áo the đi guốc mộc

Kể chuyện tình bằng lời ca dao…

Về đây nghe em

Về đây hát ttên sông nươc này

…và nhặt hoa xin tạ chút ơn…

Hạnh phúc khi đã gặp nhau

…đồi trăng không ngớt vi vu

Bữa nay tôi ngậm sương mù thở than

Đồi trăng mỏng diêu diệu vàng

Hồn bay bay giữa hai hàng hoa lê

AKhuê đã làm hơn ba trăm bản nhạc và sáng tác hơn môt ngàn bài thơ luôn sống  giang hồ ơ xư Đồng Xòai hoang dã  ngày tháng rong chơi như một lãng tử thế rồi một cơn tai biến mạch máu não cấp tính đã cướp Akhuê khỏi cuộc đới vào lúc 20 giờ 30 phút tối 13 tháng 8 năm 2009

Từ đó cõi nhân gian vắng môt giọng điêu thơ lãng đảng va môt giọng điêu nhạc không giống ai nhưng lại đươc rất nhiều ngươi thích rât nhiêu ngươi mê rât nhiều ngươinhớ

Nhà thơ Bùi Đức Dung ngồi uống cà phê với nhà thơ Tô Duy Khiêm và nha thơ Kha Thùy Châu ở đương Trương Sơn cư xá Băc Hải cứ lắc đầu than ngươi như A.Khuê sao mà chêt sớm quá mới có sáu mươi mấy tuổi đã rới cõi thê trong lúc thơ đang hay nhạc đang nổi thât  tiếc quá

Đúng tiếc thật cõi thơ ở xứ ta ngày càng vắng những giọng điêu thơ như giọng điêu A,Khuê một giọng điêu không giống ai không lạc vào đâu được mà rât lạ rât dễ thương như tiếng hót của một lòai chim lạ giữa thành phố khói bụi mịt mờ

Hồ Nam

TRÍCH THƠ AKHUÊ

ĐỐT KINH

Nàng ngồi bên rừng trúc

Đơi mùa trăng rầm lên

Lụa bay lồ lộ nguyệt

Ta đốt kinh bên đèn

AKHUÊ

 




Phạm Thiên Thư và ‘Ngày xưa Hoàng thị…

Phạm Thiên Thư và ‘Ngày xưa Hoàng thị…

Với nhiều người thì "Ngày xưa Hoàng thị" (kể cả thơ lẫn nhạc) từng là một tuyệt tác. Nhưng với chính nhà thơ Phạm Thiên Thư thì “đó chỉ là những kỷ niệm dĩ vãng, mối tình thoảng nhẹ vu vơ của thời trai trẻ” 
Quê ông ở Kiến Xương- Thái Bình nhưng ông sinh ra ở Lạc Viên- Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, ngụ tại căn nhà gần khu Tân Định- Sài Gòn.
“Tôi vẫn nhớ tới căn nhà những ngày ấy, đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định. Cha tôi xin cho tôi học tại trường Trung học Văn Lang cách nhà chừng non một cây số. Tôi đã học hết tú tài ở đó”.
Ông nhớ lại: Cũng trong những năm học tú tài này, ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương, ở gần nhà ông. Nhưng chỉ là để ý thôi chứ không dám ngỏ lời.
Ngày xưa Hoàng thị
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng
Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuốn vở
Thương ơi! Vạn thuở
Biết nói chi nguôi
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ
Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ơi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng hòa mau…
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng dáng đỏ Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu
Chân theo tìm nhau
Còn là vang vọng
Đời như biển động
Xóa dấu ngày qua

Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ

Phố ơi! Muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng ai nho nhỏ
Trong cõi xa vời.
Tình ơi!… Tình ơi!…

Hàng ngày, khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn. Rồi khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo đẽo theo sau.
"Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”.
Sau khi học xong tú tài, khác với nhiều người, Phạm Thiên Thư chọn cửa Phật làm chốn dừng chân. Ông theo học trường Phật học Vạn Hạnh, gửi hồn trong lời Kinh tiếng Kệ.
Thế nhưng mỗi khi đi ngang con đường một thủa, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông. Và trong một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ Ngày xưa Hoàng thị: “Em tan trường về- Đường mưa nho nhỏ – Chim non giấu mỏ – Dưới cội hoa vàng…”.
Ông tâm sự: “Đây không phải là bài thơ đầu tay của tôi. Cha tôi tuy làm nghề thuốc nhưng ông có làm thơ, tôi còn nhớ ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội trao tặng.
Khi còn nhỏ tuổi tôi cũng đã làm vài bài thơ và được cha tôi khen. Nhưng tôi làm thơ chủ yếu để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp.
Vì vậy mãi đến năm 1968, tôi mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên. In ít thôi, chủ yếu để mình đọc và tặng một số bạn bè thân. Tôi chẳng muốn nhiều người biết về mình”.
“Thế khi nào mọi người mới biết tới những bài thơ của bác?”- Tôi hỏi.
Phạm Thiên Thư trả lời: “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc được tập thơ của tôi.
Tôi cũng không nghĩ nhạc sỹ lại thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng.
Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sỹ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng”.
Vào những năm 70, bài Ngày xưa Hoàng thị đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam Việt Nam. Ca sỹ Thanh Thúy là người đầu tiên thể hiện bài hát này và sau đó nhiều ca sỹ khác cũng chọn bài Ngày xưa Hoàng thị để hát, tạo thành trào lưu.
Thậm chí báo chí Sài Gòn cũng vào cuộc, nêu câu hỏi “Nhân vật chính trong Ngày xưa Hoàng thị là ai?”. Một số người tự nhận mình là nhân vật của bài thơ, số  khác thì phân tích bài thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong bài thơ là cô A, cô B nào đó…
“Ngày đó báo chí cũng gặp tôi hỏi chuyện tôi nói rằng đó là cô Hoàng Thị Ngọ nhưng không biết tại sao nhiều người vẫn không tin”. Ông bảo.
Nhạc sỹ Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu, Em lễ chùa này…
Căn nhà của ông giờ là một quán cà phê nhỏ mang tên “Hoa vàng”, có lẽ ông lấy từ bài “Đưa em tìm động hoa vàng” để đặt tên.
Quán nhỏ nhưng bài trí khá đẹp nên khá đông khách. Có lẽ ít ai vào quán lại để ý tới một ông già có dáng như một lão nông hay ngồi lặng lẽ trong góc nhà lại chính là nhà thơ Phạm Thiên Thư.
Ông cười: “Thì tôi đâu dám nhận mình là nhà thơ”. Biết chúng tôi đang tìm hiểu về bài Ngày xưa Hoàng thị, cô con gái của ông tinh ý mở lại bản nhạc. Giọng ca của Thanh Thúy cất lên: “Em tan trường về- Đường mưa nho nhỏ…”
Ông buông bút, nhắm mắt. Có lẽ ông đang hồi tưởng về những ngày xa xưa, những ngày trên con đường trải nắng vàng, một chàng trai trẻ lẽo đẽo theo chân cô gái tên Ngọ có mái tóc dài xoã ngang vai… để rồi làm nên những vần thơ lung linh và xót xa đến thế.
  •  Trọng Thịnh




Đông Anh: Viết Cho Con

Ngày của Cha 2008


Viết Cho Con

                                                Ðông Anh

 

Ngày 4 tháng 6 năm 2008, tiễn đưa thân sinh một người bạn đến nghĩa trang Los Gatos Memorial Park, tôi đã có dịp trở lại nơi mà 18 tháng trước, đưa con tôi đến đây hỏa táng. Ngồi dưới tàng cây lỗ trỗ nắng chiều, hướng về lò thiêu đang chuẩn bị. Tiếng kinh kệ của nhà sư đều đều tiễn đưa linh hồn người chết về bên kia thế giới, nghe như gió thoảng đâu đây. Nghe mà không cảm nhận vì thần trí đang nghĩ đến con. Tôi nhớ con tôi lạ lùng. Nhớ giây phút cuối cùng của Nguyễn Huy Tường…

 

Lễ nghi tiễn đưa con tôi giản dị hơn nhiều, vì tất cả thủ tục về tôn giáo đã được cử hành tại nhà thờ cạnh nhà quàn, nên khi đến nghĩa trang Los Gatos chỉ còn chuẩn bị cho việc hỏa táng mà thôi. Trên khoảng đất hẹp dưới bóng cây, tất cả gia đình vây quanh chiếc quan tài, trên có vòng hoa trắng và hình của người quá cố. Mọi người đều muốn níu lại giây phút chia lìa, nhưng hai nhân viên nhà đòn lặng lẽ đẩy quan tài về phía nhà thiêu. Khung cửa sổ nhỏ hẹp chia đôi hai thế giới. Thế giới của người sống và thế giới của người chết. Từ không gian hiện hữu, chúng tôi trao những cánh hoa cho người ra đi vào cõi hư vô. Những bông hoa đủ màu, đủ sắc, ai cũng nhẹ nhàng đặt trên chiếc quan tài và cầu mong cho hồn người chết được thăng hoa trên chốn bình yên. Vợ con và anh chị em cởi chiếc khăn tang trên đầu đặt lên nắp áo quan. Tất cả lui ra, quan tài mang xác Tường được đẩy vào lò hỏa táng. Chiếc cửa sổ bằng sắt đóng lại. Tất cả tiếng nấc bỗng phát ra cùng một lượt. Tôi bàng hoàng hướng dẫn cháu Anh Khoa, con của Tường đến contact để bật lửa lò thiêu. Từ giây phút này, Anh Khoa, đứa con trai 13 tuổi duy nhất sẽ chuẩn bị thay bố cáng đáng việc nhà. Cháu nhận trách nhiệm bằng cách đặt tay lên và xoay nhẹ contact. Lửa lò thiêu phựt lên. Bảng chỉ dẫn bên ngoài từ không độ chạy mau lên 100 rồi 200 rồi 1000 rồi 2000, rồi 5000. Ðiện cao thế đốt cháy tất cả trong khoảnh khắc. Chưa thấy nóng mà đã thành tro bụi. Linh hồn còn vương vấn đâu đây mà thân xác đã tiêu rồi. Ai biết linh hồn khi không còn thân xác nữa thì sẽ đi về đâu? Bay xa, bay cao về chốn bình yên hay là đà theo ngọn cỏ mà lẩn quẩn nuối tiếc chốn trần gian. Trần gian nhiều tục lụy.

Trong phút giây cuối cùng này con ra sao, hạnh phúc hay khổ đau, bay trong ánh sáng chói lòa hay âm thầm trong bóng tối. Không ai biết và không ai giúp con được. Chỉ có mình con và riêng một mình con phải chiến đấu, như đã từng chiến đấu với bệnh tật lúc sinh tiền. Bất cứ hoàn cảnh nào ba biết con cũng chiến đấu kiên cường và dũng mãnh. Như con đã chiến đấu bền bỉ từ hơn bốn chục năm trên cõi trần ai.

 

Trước ngày Tường mất, năm nào cứ đến ngày Father Day tháng sáu, tôi cũng nhận được bó hoa từ tay con. Năm vừa qua tôi không còn được niềm vui đó nữa. Thông thường khi đến ngày Father’s Day thì con viết về cha, kể ra những công ơn dưỡng dục, những kỷ niệm cha con để mọi người cùng biết, cùng chia xẻ niềm vui. Niềm vui của ngày Father’s Day là những lời cảm ơn qua những bó hoa rực rỡ, những ly rượu màu hồng tươi, những tách trà vàng óng nồng nàn tình nghĩa.

Năm nay, những đứa con của Tường đã không có dịp để thổ lộ lòng biết ơn với người cha đã khuất. Năm nay, con tôi không còn để viết cho ba thì ba viết cho con. Tôi cũng xin chia xẻ cùng những người cha mất con và những em nhỏ bỗng dưng mất cha bằng bài thơ viết trước cửa lò thiêu ngày 4 tháng sáu vừa qua.

 

 

 

Linh Hồn Giao Hưởng

 

Trở lại nơi, ngày ba đưa con đến

Gần hai năm mà tưởng mới hôm qua

Gió hiu hắt, nắng nhuộm vàng trên mộ

Hàng bia buồn nghiêng ngả bóng phôi pha

 

Bên gốc cây ánh chiều rơi lỗ trỗ

Con nằm im, an phận chiếc quan tài

Nghe thổn thức tiếng nấc ngưng ngang cổ

Nuốt vào tim giọt nước mắt ngắn dài

 

Cửa lò thiêu đưa con vào vĩnh cửu

Chặng đường cùng thánh giá vác trên vai

Ba theo sau thân người như lá rũ

Vợ con con, tan tác mảnh hình hài

 

Ðây là chỗ ba đưa tay tiễn biệt

Nơi cuối cùng con nhận mấy bông hoa

Hoa nhiều sắc nhưng riêng ba màu tím

Tím trong lòng và tím cả ngoài da

 

Ðây lò thiêu với tầng cao điện thế

Năm ngàn volt, ngọn lửa trắng lập lòa

Nóng như thế mà con đành chấp nhận

Tro bụi rồi, ôi giọt máu của ba!

 

Nay đứng đây gọi hồn con vất vưởng

Theo gió mây hãy về đậu vai này

Hai cha con, hai linh hồn giao hưởng

Ðể ba tìm hạnh phúc một vài giây…

 

Ðông Anh

4 tháng 6 năm 2008

 

Mưa Tháng Tư

 

Tháng Tư buồn trời mưa rả rích
Quạnh nỗi niềm đất trích xa xăm

Gió giông héo úa ruột tằm

Lưu vong sũng nước quanh năm nỗi buồn

Hạ câu thơ mưa tuôn thấm đất

Lại gieo vần gió giật mây trôi

Nghe như bão cuốn lưng trời

Nghe như bão nổi trong người lưu vong

Mưa nát đất cho lòng tan nát

Gió vật vờ tiếng hát chơi vơi

Trăm năm một cuộc đổi đời

Mười năm mê hoặc đám người tỉnh say

Xa quê hương nhớ cây thương cội

Nhớ giòng sông vũng lội làng quê

Nhớ em cặp sách tóc thề

Bay bay tà áo si mê gió chiều

Mưa tháng Tư trôi theo nước mắt

Nhớ quê nhà héo hắt tâm can

Dưới trăng mài kiếm đêm tàn

Tóc sương như nhuộm lầm than trắng trời

 

Đông Anh



 

Nửa

 

Mời nhau nửa hớp men cay

Trao nhau nửa cuộc tình say lạc loài

Nửa trăng e ấp hôn trời

Ngập ngừng đón nửa đường môi son nồng

Đêm dài nửa đợi nửa mong

Nửa lời thủ thỉ nửa vòng tay lơi

Nửa khuya thổn thức sao mai

Nửa thân trôi dạt, nửa đời lênh đênh

 

Đông Anh

Vượt Thoát

 

Suốt chín năm qua miệt mài trong bể dâu

Buổi sáng mùa xuân tỉnh giấc

Quanh mình cuồn cuộn thương đau

Mười năm đất nước pha hồng máu

Một sớm trời sương nhuốm bạc đầu

 

Nghe em ra đi

dắt díu đàn con khờ dại

Như đàn gà bé bỏng chắt chiu

Con trẻ hãi hùng nép bên áo mẹ

Thân gầy chập chững bước xiêu xiêu

Sông núi đìu hiu Khung trời cô lieu

 Mái chèo khua sóng vỗ

Lìa xa non nước tiêu điều

Quê hương em hôm nay

Là đồng khô cỏ cháy

Là thê lương quằn quại

Là rướm máu chân tay

Tràn ngập khổ đau

Khắp chốn đoạ đày

Quê hương đó: một nhà tù mở rộng

Thượng Đế ban cho mỗi người cuộc sống

Người với người lại cướp mất tự do

Cơn giông gào bốn cõi

Đường phủ trắng mưa sa

Điều nhân nghĩa đã xé ra ngàn mảnh

Đầu bạc, đầu xanh

chìm trong máu lệ nhoà

Hận thù cao cao vời vợi

Oán hờn chất ngất bao la

Chim hãi hùng im bặt

Trẻ em không giám khóc

Mẹ già ngăn tiếng nấc

Sông núi lạnh màu tang

Hãy mau thoát nỗi kinh hoàng

Đưa con đi mở một trang sử đời

 

Anh ở lại đất này giữa quỉ

Đầy rẫy âm binh

Bàn tay nhuốn máu kinh hồn

Giữa đêm khuya tiếng kẻng đổ dập dồn

Ma hiện nguyên hình

Súng gươm khua rộn rã

Trên trời cao, dưới đất lạ

Pháp trường hoang dã âm u

Trong đêm đen im lặng như tờ

Tiếng loa bỗng vang vang

gọi từ đáy huyệt

 Âm ba của thần chết

Vọng về từ ngục tối âm ty

Chín tầng cửa ngục lê thê

Cũng chưa bằng cảnh lao tù hiện tại

Đắm chìm trong đầy ải

Ôm tròn mọi nỗi đắng cay

Với niềm ước ao duy nhất

Mong em sớm thoát nơi này

Tìm ra chân trời sáng lạng

Có Tự Do ăm ắp đầy

Em nên đi đi

Đừng vì anh lưu luyến

Đừng vì anh nặng tình

Thà chịu khổ đau xa lìa cốt nhục

Còn hơn

Cùng chết chìm trong hoả ngục đêm đen

 

Hãy đi đi em

Thoát khỏi bàn tay vấy máu

của lũ người không óc không tim

Nơi xa đó

mang theo hồn Tổ Quốc

Dạy con mình giữ vững niềm tin

 

Đông Anh




Quang Thiện: BÓNG MÂY HẠNH PHÚC

BÓNG MÂY HẠNH PHÚC

 

B

ằng thái độ quả quyết, Phượng nói với chồng:

– Giữa anh và em không thể sống tâm đầu ý hợp, thôi, hãy ly dị đi, mỗi người một ngã cho yên phận!

Cả hai đang uống trà trong lúc Phượng nói thẳng ý định của nàng. Bất ngờ nghe những lời phũ phàng thốt ra từ miệng người vợ bao nhiêu năm chung sống, Thông thấy đầu óc quay cuồng, khó chịu như người bị trúng gió độc.

Anh đặt nhẹ tách trà lên dĩa, xong vói tay bưng để trên chiếc bàn thấp bên cạnh Phượng và lặng lẽ rời khỏi ghế. Không vội trả lời câu nói của vợ, Thông bước tới khung cửa sổ sau lưng ở phía tây gian phòng và đứng nhìn bâng quơ xuống bãi cỏ xanh khá rộng đang nhuộm ánh nắng chiều, bên dưới lầu. Sau đó, mắt anh định thần, hướng dần theo lối đi ngoằn ngoèo tráng xi-măng trắng, chia đôi khoảng sân cỏ dẫn tới đám cây bạch dương trồng rải rác quanh một vòi nước phun cao, xây giữa mặt ao nhỏ phẳng lặng. Thông liên tưởng tới lúc thức dậy trong giấc ngủ trưa hôm qua, anh cũng đã đứng ở vị trí này nhìn xuống và bắt gặp Phượng cùng Đông từ trong khu rừng bạch dương bước ra, dạo trên chính lối đi đó. Anh thấy rõ hai người âu yếm dắt tay nhau tiến tới chiếc ghế đá đặt bên cạnh hồ nước phun. Thông tận mắt thấy quả tang những gì đã nghi ngờ từ lâu về vợ mình và biết rõ sẽ mất Phượng vĩnh viễn vì nàng đã đam mê Đông, người tình mới.

Càng nghĩ, Thông càng cảm nhận nhiều nỗi buồn khổ tràn ngập trong lòng. Anh liên tưởng tới những mất mát và chán chường bất chợt tuôn đến và cảm thấy cô đơn vô cùng. Sự thật trở nên quá buồn phiền đối với Thông, khi anh bắt gặp những cử chỉ khêu gợi thầm lén và ánh mắt phản bội cùng những dấu hiệu ngoại tình xuất hiện ở Phượng chỉ trong thời gian ngắn sau khi Đông dọn tới căn chung cư ở cuối dãy hành lang. Từ đó, Thông không thể giữ tâm hồn mình thanh thản, nhưng chỉ biết câm lặng để che giấu nỗi đau khổ chất chứa sâu trong tâm khảm, chỉ vì muốn níu kéo hạnh phúc với Phượng càng lâu càng hay, dù tình cảm đã bị sứt mẻ. Dĩ nhiên Thông tự biết không thể nào ngăn nổi dục vọng của người vợ tràn đầy sức sống và ham vui như Phượng khỏi bị cám dỗ vì vẻ hào hoa của Đông. Với dáng vóc cao ráo điển trai và nụ cười duyên dáng, Đông rất dễ cuốn hút phụ nữ chú ý tới hắn, Do đó, chẳng bao lâu sau khi Đông đến ở trong khu chung cư này, Thông thấy ngay nỗi lo âu của mình hiển hiện, vì tình yêu của Phượng đối với anh đã vỗ cánh bay đi.

Bây giờ nàng chính thức lên tiếng bày tỏ ý muốn ly dị, Thông thấy không còn phương cách nào để cứu vản hạnh phúc bắt đầu vuột khỏi tầm tay. Anh liên tưởng tới những người đàn bà ngoại tình một đi không trở lại, chẳng bao giờ còn nghĩ tới chồng. Từ cửa sổ trên lầu cao, Thông nhìn ngọn nước phun rơi xuống mặt hồ không một tiếng động. Đôi mắt chán nản, thất vọng của anh bỗng chú ý tới những chiếc lá vàng từ đám cây bạch dương ở cuối lối đi tráng xi-măng, đang lìa cành theo từng cơn gió, lấp lánh bay trong ánh nắng chiều đã ngã màu vàng ối. Anh tự nhủ phải dằn lòng, phải điềm tĩnh, tiếp tục giấu kín nỗi khổ của mình trước ánh mắt dò xét của Phượng. Mặc cho vợ chờ đợi, Thông vẫn chưa trả lời dứt khoát ý muốn của nàng. Nhìn chiếc đồng hồ nhỏ đeo ở tay, anh thấy đã ba giờ kém mười, như vậy vẫn còn lâu mới đến bữa ăn tối, chấm dứt hai ngày nghỉ cuối tuần.

Rời khỏi cửa sổ, trở lại ghế, Thông lầm lì bưng tách trà, ngồi xuống chỗ cũ và nói chậm rãi:

– Anh biết em vì Đông!

– Như vậy anh đã đoán được! Sự thể rõ ràng rồi, em chẳng cần giải thích dài dòng phải không?

– Em không tế nhị trong phương cách lừa đảo của mình. Em quá liều lĩnh khi cho anh biết rõ lòng dạ của em.

– Em nhận lỗi! Có lẽ đây là lần đầu và cũng là lần cuối em làm anh thất vọng. Thực lòng, em không muốn anh bị tổn thương tình cảm.

– Tin em hay không, bây giờ đâu phải là vấn đề thiết thực nữa.

– Em nhận thấy cuộc sống giữa anh và em bây giờ chẳng còn thích hợp. Hơn nữa, không muốn kéo dài tình trạng giả tạo nên em buộc phải nói thực lòng mình.

Thông cảm thấy tức giận khó tả trước những lời bộc bạch đơn giản và quá thản nhiên của Phượng, nhưng tự biết tình cảm mình yếu đuối, nên dù tự ái bị động chạm đến nổi muốn bật khóc cho vơi cơn tức, anh vẫn cố giấu tâm tư bối rối trong lòng. Một tay nâng tách trà, tay kia nắm chiếc dĩa, Thông hớp một ngụm nước đắng đã nguội, xong hỏi vợ:

– Em thật sự đam mê với cuộc tình của Đông?

– Đúng vậy!

– Thế thì giữa anh và em chẳng còn gì để nói.

– Anh bằng lòng ly dị hay sao?

– Em sẽ được mãn nguyện.

– Cám ơn lòng quảng đại của anh!

Thông thở dài trước những lời của Phượng. Đối với anh, cuộc sống lứa đôi trải bao nhiêu năm đã kết thúc thật bất ngờ như một mối tình hờ. Phượng không còn nghĩ tới giá trị đạo đức, nên Thông thấy chẳng còn lời nào đủ hiệu nghiệm để lôi kéo nàng tiếp tục sống chung với mình. Anh biết Phượng cũng như bao nhiêu người đàn bà khác, một khi dục vọng đã trổi dậy thì lương tri không còn phân biệt được gì nữa. Đầu óc anh mơ hồ với ý nghĩ… tình tan như mộng. Đặt tách trà trở lại trên chiếc dĩa, Thông đứng dậy, nói với vợ:

– Anh phải ra ngoài đi dạo một lát và hút hết điếu thuốc trước khi về ăn cơm tối.

Như thói quen thường nhật, Thông lấy nón đội lên đầu và bước ra khỏi cửa. Anh xuống tầng cuối bằng ngã thang máy dẫn ra khu đất trống ở phía sau tòa nhà, nơi có sân cỏ rộng mà anh đã đứng trên cửa sổ lầu bốn nhìn xuống mấy phút trước đó. Bước theo mấy bậc cấp cạn, Thông tiến vào lối đi rộng tráng xi-măng, tới chỗ vòi nước phun ở cuối con đường, nhưng chỉ được nửa đoạn, anh đổi ý, dừng lại, ngồi xuống ghế đá bên bãi cỏ, xong cho tay vào túi áo ở ngực, móc điếu xì-gà và thong thả lột lớp giấy kiếng bọc, bỏ trong túi quần. Thông bấm một đầu điếu thuốc đứt tiện, bằng dụng cụ nhỏ Phượng đã mua tặng anh trước kia. Sau khi châm lửa, rít vài hơi khói, anh gác tréo chân vào nhau và dựa lưng ra sau, sải rộng đôi cánh tay dài theo thành tựa ở băng ghế. Mặt trời chiều đang tỏa ánh nắng ấm áp trên vạn vật, khiến Thông nghĩ đã mặc theo chiếc áo ấm thừa thãi. Bất chợt, anh để ý vòi phun bây giờ không còn thinh lặng nữa mà có thể nghe rõ tiếng rơi lách tách đều đều trên mặt nước hồ gợn lăn tăn theo từng cơn gió nhẹ từ xa thoảng đến và Thông ngửi được mùi thơm từ điếu thuốc đang hút lẫn với hương ngọt ngào ở bãi cỏ xanh mới cắt. Ngước mắt nhìn cao trên ngọn bạch dương, anh thấy rõ bóng đôi chim đang rỉa lông nổi bật giữa nền trời xanh thẩm.

Thông chợt liên tưởng tới hạnh phúc đã mất và ý tưởng buồn phiền bỗng kéo đến, làm xáo động sự thanh tịnh anh đã tìm được trước cảnh trí thiên nhiên. Anh băn khoăn, không rõ Phượng đã mê Đông đến mức độ nào và thầm oán hận hắn đã xâm phạm hạnh phúc riêng tư của mình. Tưởng tượng hình ảnh người vợ yêu nằm với tình địch, Thông cảm giác mặt nóng bừng khó chịu và thấy không thể bỏ qua êm thắm nên có ý nghĩ phải cho kẻ đã mê hoặc vợ mình, một bài học tình cảm thích đáng.

 Đứng bật dậy, Thông tới gần vòi phun, chăm chú nhìn từng cột nước mỏng, trong như thủy tinh, vọt lên cao rồi rơi liên tục trên mặt hồ cạn bên dưới. Được chốc lát, anh chậm rãi bước vòng quanh hồ, tiến tới chiếc ghế đá khuất trong đám cây bạch dương ở cuối lối đi tráng xi-măng. Tìm chỗ ngồi xuống, anh hút hết điếu xì-gà đang nắm trên tay, nhả khói bay lan trong gió và nhìn bâng quơ bóng hàng cây ngã dài về hướng đông.

Thông trở về đúng giờ ăn tối, nhưng không ngồi vào bàn. Phượng đã vắng nhà trong lúc anh thơ thẩn dưới đám cây bạch dương, cũng vừa về tới. Nỗi chán dường đã quá nặng khiến cả hai không ai còn muốn ăn, cũng như không thể nói với nhau những ý nghĩ trong đầu. Ngồi ở chiếc ghế bên cửa sổ, Thông mang kính vào mắt, cố đọc vài trang sách để khỏa lấp khoảng tâm hồn trống vắng, nhưng những dòng chữ lúc này hầu như chẳng còn khả năng tác động tâm trí nên anh có cảm tưởng mình đọc thứ ngôn ngữ xa lạ, không thể hiểu. Cùng lúc, Phượng đang nhìn những hình ảnh mấp máy miệng trên ti-vi. Nàng không muốn vặn lớn tiếng, sợ làm xáo động Thông . Thực ra, trí óc Phượng cũng không đủ bình tĩnh để theo dõi các nhân vật trên máy truyền hình nói gì. Tâm tư nàng đang rối bời vì mặc cảm tội lỗi, vì quyết định phụ bạc chồng để được tự do theo đuổi tình yêu của Đông.

Bên ngoài căn phòng, cảnh vật cũng đã thay đổi. Giữa muôn vàn tinh tú, ánh trăng đã thay thế vầng dương từ lúc nào. Thông để cuốn sách nằm im lìm trên đùi trong lúc đầu óc nghĩ ngợi mông lung. Phượng cũng đã tắt ti-vi, ngồi thẩn thờ như kẻ mất hồn. Được chốc lát, nàng quay nhìn chồng, đưa tay như muốn mời gọi, nhưng không thốt thành tiếng, trong lúc Thông ngồi im như pho tượng, hầu như chẳng màng chú ý tới cử chỉ của vợ. Cuối cùng, Phượng lặng lẽ bước vào phòng ngủ một mình.

Một lúc lâu, Thông mới bắt đầu cử động và thình lình đứng bật dậy, làm cuốn sách để quên trên đùi tự nhiên rơi xuống mặt thảm lót. Anh nhận biết, nhưng không màng nhặt lên vì cảm giác đầu đau như bị búa bổ và đôi chân tê rần, cần phải được duổi thẳng. Nhìn đồng hồ đeo ở tay thấy chưa tới mười giờ đêm, Thông tính phải hút hết điếu xì-gà thứ hai trước khi lên giường ngủ. Chợt nhớ khung cửa sắt ở lan can cuối lầu sau mười giờ mới khóa, anh thấy còn đủ thì giờ để vận động đôi chân, hít thở chút khí thông khoáng và hút điếu thuốc. Anh im lặng rời khỏi gian phòng khách, quẹo phải chỗ hành lang, tới phía khung cửa kính đôi ở đàng cuối.

Thoạt đầu, Thông tưởng chỉ có mình hiện diện ở bên ngoài, nhưng từ xa, chợt nhận ra đóm lửa bùng sáng trên điếu thuốc của ai đang ngồi trên mặt bờ thành lan can, anh thầm nghĩ mình có bạn. Tới lúc khoảng cách không gian thu hẹp dần để có thể trông thấy nhau, anh mới nhận ra Đông. Cả hai đều căng thẳng, ngượng ngùng và tuy chưa nói lời nào, vẫn có thể hiểu thấu đáo ý nghĩ của nhau. Tự dưng, Thông cảm giác mặt nóng bừng, đồng thời nỗi tức bất giác tuôn đến. Liên tưởng tới Phượng, anh càng thấy khổ tâm. Tuy vậy, cố dằn lòng, Thông ngỏ lời trước với tình địch:

– Chào anh Đông!

– Chào anh!

– Hút điếu thuốc trước khi ngủ?

– Vâng, phải!

– Nếu không có gì phiền, tôi ở đây cùng hút thuốc với anh cho vui.

Vừa nói, Thông vừa lột lớp giấy kiếng bao quanh điếu xì-gà đang cầm ở tay, xong nhét vào túi như lúc chiều. Kế tiếp, anh lần trong úi áo lấy dụng cụ để bấm đầu điếu thuốc, nhưng vật cắt nhỏ bé bỗng rơi trên mặt sàn. Cúi xuống nhặt, Thông chợt để ý đôi chân tên tình địch ngồi ở lan can, đang đong đưa từng lúc trước mắt mình. Tư tưởng hắc ám thình lình xuất hiện trong thâm tâm, réo gọi anh phải trả thù cho hạnh phúc đã mất. Trong bóng tối, ánh mắt Thông long lên một cách nham hiểm và từ khối óc, anh nghe tiếng nói âm thầm: “Chẳng giữ được nàng, tôi cũng không để ai chiếm đoạt!”

Ý nghĩ vừa dứt, Thông chồm lên thật nhanh, vận sức vào đôi cánh tay, nắm chặt đôi cườm chân của Đông, giở mạnh và hất ngược ra sau. Anh biết trước, bên dưới lầu là phần lối đi dẫn vào hầm chứa xe. Thông nghe rõ thân thể Đông rơi nặng nề trên thềm xi-măng cứng. Lòng ghen tức đã giúp anh hành động như chớp đến độ nạn nhân không thể phản ứng và cũng không kịp thốt lời kêu cứu. Thông biết dù hắn có la hoảng, thiên hạ đang ở trong những gian phòng khằn kín để giữ hơi ấm, khó thể nghe được và chắc chắn không ai trông thấy hành động tuyệt vọng, căm thù, tàn nhẫn của anh. Họa chăng có con chim cú mèo lạc lỏng nào đó đã chứng kiến, đang cất những tiếng kêu đêm buồn bã. Một cơn gió lạnh bỗng từ đâu thoảng đến làm đám lá nằm trên lối đi bỗng dưng trổi dậy, đuổi nhau chạy về một phía. Thông nhìn qua lan can xuống khoảng khuất tối bên dưới, nơi ánh trăng không thể soi thấu với ý nghĩ tên tình địch của anh đang nằm ở đó, bất động trên vũng máu vì sọ bị vỡ và phải tới sáng thiên hạ mới phác giác thấy thi thể lạnh cứng của hắn. Bỏ điếu xì-gà chưa kịp đốt và chiếc dao bấm vào túi áo, Thông tiến dọc dãy hành lang trở về phòng với Phượng.

Đang ngồi ở giường với vẻ chờ đợi, vừa trông thấy Thông, nàng lên tiếng ngay:

– Em thức giấc thình lình, không thấy anh, nên có hơi lo.

– Đừng nghĩ quẩn. Anh không đi xa.

– Anh đi đâu?

Nhìn vẻ mặt xinh đẹp thoáng chút lo âu của vợ, Thông biết thái độ của mình có thể khiến nàng ngờ vực. Nhưng anh lại thấy yên tâm đối với cái chết của Đông vì nghĩ nếu sáng mai có ai phác giác, người ta sẽ kết luận hắn đã bị té lầu vì vô ý. Riêng Phượng, Thông tự tin có thể thuyết phục nàng tin những gì mình biện minh và cho dù có thắc mắc, ít ra nàng cũng không đến nổi quá xúc động vì tai nạn đem đến cái chết bất ngờ cho người yêu. Tuy nhiên, bản tính Thông không thích nói dối, nhất là dối với Phượng. Anh từng tạo thói quen nói thật tất cả với nàng dù ở bất cứ tình huống nào. Hơn nữa anh muốn nói thật để Phượng thấy rõ anh đã hành động như vậy chỉ vỉ yêu nàng, vì ghen tức. Thông nhận thấy càng chần chờ trả lời câu hỏi của vợ, anh càng làm tăng thêm nét sợ hãi trên khuôn mặt khả ái của nàng. Cuối cùng, bước tới ngồi xuống mép giường, bên cạnh vợ, Thông chậm rãi giải thích:

– Anh vừa gặp Đông ở cuối dãy hành lang ngoài kia.

– Anh gặp Đông?

– Phải! Anh đã dàn xếp xong mọi chuyện với hắn.

– Em rất mừng! Em vẫn mong hai người làm bạn với nhau.

– Rất tiếc là ước muốn của em không được toại nguyện. Đông chết rồi! Anh đã giết hắn!

Trước câu nói của Thông, đôi mắt đẹp trên khuôn mặt Phượng như mở lớn hết cở, rồi đôi chân mày nhíu lại, nàng nhìn chồng một cách man dại như không muốn tin những lời anh vừa tiết lộ là thật. Tuy vậy, nàng vẫn hỏi dồn dập:

– Đông đã chết? Anh giết Đông?

– Thực ra anh đã hành động vì tức giận. Đông đang ngồi trên lan can và anh đã bất ngờ xô hắn rơi xuống bốn từng lầu. Tuy nhiên, anh chẳng thấy hối hận đối với việc làm của mình, chỉ vì anh không muốn hắn chiếm đoạt em. Anh thật không chịu nổi khi tưởng nghĩ tới hình ảnh em nằm trong vòng tay hắn.

Phượng vẫn ngồi bất động trên giường, chăm chú nghe chồng giải thích. Mắt nàng mở lớn ngỡ ngàng, nhưng đôi con ngươi thu nhỏ lại như của loài mèo, biểu lộ ý nghĩ không thể ngờ đối với hành động Thông trả thù thật ghê rợn. Miệng nàng há hốc vì kinh ngạc, pha lẫn giận dữ. Thông thấy lo khi nét mặt Phượng bỗng đanh lại, đầy vẻ căm thù đối với kẻ đã giết chết tình nhân của nàng. Nhưng bất ngờ thay đổi thái độ, Phượng trườn người tới bên cạnh, ôm chặt đầu chồng sát vào bộ ngực căn phồng của mình, vừa nói thì thào trong hơi thở dồn dập:

– Anh cưng! Em không ngờ anh lại yêu em đến thế. Không sao cả, mọi sự sẽ êm xuôi!

Thông để yên chốc lát cho đôi tay Phượng vò nhẹ trên mái tóc mình. Anh cảm nhận được nhịp tim đang đập vội vã trong lồng ngực nàng và hơi ấm từ thân thể người vợ thân thương toát ra lẫn với hương nước hoa lavendeur thoảng nhẹ. Bất giác nghĩ đến cử chỉ âu yếm của vợ có thể giả dối, anh đẩy Phượng dang xa, xong nhìn nàng nói:

– Bây giờ em đối xử với anh cách nào cũng được.

– Có ai trông thấy hoặc nghi ngờ hành động của anh không?

– Chắc không! Người ta sẽ cho là Đông chết vì tai nạn.

– Anh yên tâm! Mọi sự sẽ không sao cả!

Thông bỗng đứng phắt dậy, nhưng ánh mắt vẫn theo dõi thái độ của vợ. Một lúc lâu, anh lên tiếng:

– Em hãy ngủ lại đi, mai nói tiếp.

– Không thể nào ngủ nổi. Em thấy lo quá!

– Uống thuốc an thần chưa?

– Rồi! Nhưng chưa đủ, chắc phải uống thêm!

– Hãy uống luôn phần thuốc của anh. Anh không muốn cả hai người cùng thức.

Đưa mắt nhìn viên thuốc ngủ màu xanh đã để sẵn từ trước trên chiếc bàn đêm nhỏ đối diện ở bên kia, Thông đứng dậy, đi vòng quanh giường vợ đến chỗ khoảng trống ngăn cách hai chiếc giường của anh với Phượng. Bốc viên thuốc, Thông rót thêm chút nước lọc vào ly xong trao cho nàng, vừa nói:

– Em hãy uống rồi ngủ đi.

Sau khi nhanh tay bỏ viên thuốc vào miệng, giọng Phượng run run:

– Em sợ không thể ngủ nổi!

Tuy vậy, chỉ được chốc lát, thuốc ngấm vào huyết quản, nàng nằm im lìm bất động với nhịp thở đều đều.

Thông nhón gót bước nhẹ tắt chiếc đèn đêm bên cạnh giường. Gian phòng bây giờ tràn ngập thứ ánh sáng mờ nhạt từ bóng trăng xuyên vào. Thông ngồi im lặng nhìn mông lung qua khung cửa, suy nghĩ hàng giờ. Cảnh đêm thanh vắng đến đổi có thể nghe tiếng Phượng thở từ chiếc giường gần bên thoảng đến. Anh ngồi thẩn thờ thêm một lúc lâu nữa, trí óc toan tính trăm điều. Thình lình Thông ngoái đầu, lắng nghe tiếng Phượng trở mình trong giấc ngủ say.

Cuối cùng, anh đứng dậy, rời khỏi ghế, tiến tới bên giường vợ, bật đèn ngắm nhìn nét mặt nàng đang yên giấc nồng. Anh để ý, đôi chân mày thỉnh thoảng cau lại như thể Phượng đang đắm chìm trong cơn mộng dữ. Đôi bàn tay nàng kết lại, để ngay ngắn trên ngực, khiến anh liên tưởng tới xác người đang chờ tẩm liệm. Được giây lát, Thông lặng lẽ bước sang bên giường của mình, nắm lấy chiếc gối, đem đến úp trên mặt vợ, xong vận sức đè xuống thật chặt. Phượng vùng vẫy dữ dội, nhưng nàng không thể thoát khỏi đôi tay của tử thần.

Trở lại chiếc ghế chỗ cửa sổ có ánh trăng sáng, Thông ngồi bất động nhìn ra ngoài xa, ở khoảng chân trời bắt đầu hừng sáng. Anh cảm thấy tâm tư thật trống rỗng, lòng đã nguội lạnh, chẳng còn chút tình cảm nào vương vất, cho dù đối với Phượng. Thông không thể chấp nhận có người vợ sống bên cạnh cuộc đời mình như một kẻ lạ. Nhìn hình bóng phản chiếu trong khung kính cửa sổ, Thông thấy rõ nét mặt mãn nguyện một cách kỳ dị của anh biến dần thành lạnh lùng khủng khiếp. ª

QUANG THIỆN




Phạm Thị Cúc Vàng: Mượn tiếng thơ xưa chở ngậm ngùi

Thứ Tư, 21/03/2007, 22:48 (GMT+7)

Mượn tiếng thơ xưa chở ngậm ngùi

 

Cúc Vàng (thứ hai từ trái sang) trong ngày hội thơ Đường Việt Nam – Ảnh: T.C.N.

TTO – Tôi gặp Cúc Vàng tại Cung Văn hóa Lao động TP.HCM trong ngày hội thơ Đường Việt Nam. Nhanh nhẹn với nụ cười rất tươi, Cúc Vàng trao tôi mấy bài Đường luật, thỏ thẻ: “Gởi anh đọc và cho em cảm nghĩ”…  

 

Đường luật là một thể thơ gò bó, chỉ vỏn vẹn 56 chữ, lại phải tuân thủ đề, thực, luận, kết, lại phải có những vế ối… nên thể thơ này đến hôm nay gần như đã mai một.

Vậy mà Cúc Vàng trao cho tôi một lúc chín bài Đường luật. Một thoáng ngỡ ngàng, phải chăng cô gái này thuộc týp người hoài cổ? Không, Cúc Vàng đã thổi một làn gió mới vào thể thơ cổ bằng những ngôn từ nhè nhẹ:

Ơi xưa phố núi đượm tơ chiều
Thuở ấy trăng mơ chưa nói yêu
Mười tám lên đồi nghe gió hát
Đôi mươi ôm mộng giữ lòng kiêu
                                                                        (Trăng mơ phố núi)

Với Cúc Vàng, thiên nhiên và tình yêu có một sự gắn kết bền chặt. Tình và cảnh, cảnh và tình hòa quyện với nhau thành một kỷ niệm để rồi:

Nơi ấy đậm hình xưa – tóc ngắn
Em về buổi sáng khói mù giăng
Hàng dương lặng rũ lòng thơ dại
Dốc núi nghiêng đùa sương giá băng

Và sau đó, một chút xót xa:

Thời gian sóng sánh sầu chưa cạn
Tình hỏi tình sao nỡ cách ngăn?
                                                                      (Hỏi tình)

Đối với quê hương, dễ tìm thấy nơi Cúc Vàng một hình ảnh thân quen của làng quê Viêt Nam. Khóm trúc, vòm tre, bờ kênh, nhánh nước, Cúc Vàng sử dụng những từ ngữ tượng hình rất mộc mạc:

Khóm trúc vòm tre hương lúa ngát
Bờ đê nhánh nước dải kênh xanh
Vừa mưa rơi ướt con đường vắng
Chợt nắng chan hòa ngõ phố hanh
                                                                              (Đậm nhạt tình quê)

Cúc Vàng rất vui tính gần như hồn nhiên. Nụ cười luôn nở trên môi và ở giữa đám đông Cúc Vàng rực rỡ như một đoá hoa. Tiếp xúc với Cúc Vàng tôi cảm nhận được nơi người thơ một sự lạc quan và đầy sức sống. Thế nhưng, đằng sau những rạng rỡ thường nhật, tâm sự của Cúc Vàng cũng không kém phần thổn thức:

Chạm ngõ đau nhoài chan vết cũ
Vá tim sầu chở nặng hồn hoang
Cùng song bước chẳng nhìn chung hướng
Không kết thành đôi vỡ nhịp đàn
                                                                                  (Tiếng đàn)

hoặc:

Tình cạn – cạn dần mơ nước lớn
Bờ xa – xa tít đợi năm ròng
Tấm thân thấm đủ mùi cay đắng
Vị ngọt là điều ta vẫn mong
                                                                             (Vị ngọt ta mong)

Chín bài Đường luật của Cúc Vàng tuy chưa đạt được độ chín nhưng lại thể hiện sự dũng cảm khi làm bạn với thể thơ đầy những qui luật ngặt nghèo. Như một khẳng định với đời, với thơ, Cúc Vàng đã không ngần ngại chọn Đường luật để chuyển tải những tâm sự vơi đầy:

Mật ngọt len hồn sao ánh mới
Tình tròn căng mộng giấc mơ vui
Trách vòng nhật nguyệt xoay dời mãi
Mượn tiếng thơ xưa chở ngậm ngùi.
                          (Bóng thời gian)

TRẦN CHÁNH NGHĨA

 

Chế Biến đêm


Ước gì ta xắt được đêm ra từng mảnh
biến chúng thành những chiếc bánh con con
không còn nữa khối đêm đặc quánh
ta ăn bằng hết ngần ấy bánh thơm ngon

này bánh nhớ mang màu của mặt trời
màu đỏ chót nung chảy phiến óc , vườn tim
ta bỏ vào hàm thời gian nghiền nát
nhớ rả tan tiêu hủy hết nỗi niềm

này là bánh sực mùi hoàng hôn tím
hắt thêm lên mặt bánh vệt nắng loang
lại cho vào hàm thời gian nghiền nát
đừng để ai chứng kiến vệt chiều tàn

còn biết bao bánh chất chứa niềm ta
bội thực mất thôi, ta đành lựa chọn
một chiếc bánh mơ từ thời mới lớn
có dáng trái tim ngồn ngộn yêu đầy

trong cơn khát thèm , ta ngấu nghiến bánh tình yêu
vị ngọt ngon thấm dần đầu lưỡi
mùi béo ngậy sộc vào nóc mũi
chiếc bánh này
ta nhấm nháp thâu đêm.

phamthicucvang

Ngọt ngào chia xa

Đã có lúc, tôi tưởng rằng, tất cả đã nằm thỏm trong bàn tay bé nhỏ của tôi , tròn vẹn, ấm nồng.
Thế nhưng , mấy ai ngờ đươc, chuyện gì xảy ra giữa kẽ hở những ngón tay ?


Ngọt môi                                        

ngọt mắt
ngọt anh và em

Ngọt nỗi nhớ
ngọt câu thề
ngọt tình anh và em

Ngọt ngày tới
ngọt đêm về
ngọt lịm anh và em

Ngọt giấc mơ
ngọt đợi chờ
ngọt ngào dứt bỏ
anh và em !

Xin click vào tựa bản nhạc để thưởng thức giọng ca của chính tác giả:



Hương Mẹ trong thơ

Nước Mắt

Tóc Mây

Tôi muốn Cười La

             
phamthicucvang

Kẽ hở của mười ngón tay khép kín, đã không giữ lại được những giọt đắng đời nhau tựa những giọt cà phê nhỏ qua phin (filter).
Tôi cố pha chút đường cho ngọt, nhưng gịot đắng vẫn tự nó làm đắng môi, và kỷ niệm …!   

Giọt đắng đời nhau

Đắng lời
đắng miệng
đắng mình gọi tên…

Đắng ngày

đắng cả đêm thâu
đắng qua nối nhớ
đắng câu hẹn thề

Đắng ôi
chết cả cơn mơ
Đắng lòng
uá cả nỗi chờ đợi nhau
Đắng đời
trắng dã mắt sâu
Đắng duyên
đành lỡ gọi tình anh, em.

Đắng môi
chẳng dứt cơn thèm…

 

Sài Gòn 2:30 AM,
Jan.31, 2010

Chinh Nguyên L19

Xuân xanh

Màu xanh nhuộm ướt mây trời
màu xanh tưới tràn cây cỏ
màu xanh nhỏ đầy trang mơ
màu xanh kín góc tim chờ
xuân ,
em tần ngần nơi đâu ?

Sợi nồng nàn giăng mắc thiên nhiên
cúc, mai, đào nghiêng nghiêng hé nụ
sương sớm lăn tăn đùa hoa lá
hoàng hôn thư thả giọt vào thơ
xuân,
em tha thẩn phương nào  ?

Có đôi lứa yêu nhau
chờ xuân nói câu thề ước
em
chờ xuân
điệu đà gắn lên tóc mượt
chiếc hôn đời .

phamthicucvang



Hãy nhìn em bằng con mắt thấu rõ

Đừng nghĩ em, người đàn bà chỉ biết cười
giữa chốn xa hoa luôn khoe sắc niềm vui
dù tận lòng luôn phình to héo hắt
vẫn xinh tươi , ca hát dưới mắt bao người

em không nghĩ rằng em , người đàn bà hai mặt
sáng trưa chiều hớn hở.Tối dằn vặt lòng đau
đêm nức nở rọi bóng gối chiếu muôn màu
ké một tụ hưởng canh đời thiên hạ

có đích thực em, người đàn bà giả trá?
phỉnh dụ mình đùa nghịch với thương đau
bới lên câu thơ, vùi xuống tình sầu
muôn thuở em đổi thay
tươi
héo
.

Tứ tuyệt ngày mùng một

Xa quê

Hoa mai giấy mà xuân lại thật
tết xa quê vẫn đậm tình quê
thắp nén hương cầu bình an đến
người xa ơi , giữ vẹn ước thề .

Viết thay anh

Đủ bánh chưng xanh , câu đối đỏ
nghe lòng rưng rức thiếu hương quê
khói giao mùa nức lòng nỗi nhớ
tóc xuân phai mơ mãi lối về

PTCV 2010

Mầu Đen

Sáng
đối diện ly caphe đen
soi em
không thấy được nét mặt
không thấy được ánh mắt
chỉ có vị đắng hắt vào mỏi mệt
chìm vào đáy ly sệt đen – niềm.

Sáng
chăm bẳm nhìn ly caphe đen
ai vứt trái tim trong đó
ngã màu đen nhẽm

Sáng
hớp ngụm caphe đen
vị giác vô cảm
nghẹn
thắt lồng ngực
thì ra
em đang nuốt khối đen – tình.

phamthicucvang