GIỌT BUỒN (Chinh Nguyên)

GIỌT  BUỒN

      Sau khi tới Hà Nội ngày 15 tháng 11năm 2006 và trọ tại Hotel Khải Hoàn phố Cửa Đông, buổi chiều cùng ngày tôi gọi điện thoại thăm Bác Hải, người đồng chí với cha tôi trong VNQĐD chống Việt Minh, và Thực Dân Pháp vào những năm 1940-1950.
Bác rất ngạc nhiên khi nghe giọng nói của tôi Bắc, Nam không rõ ràng của miền nào.
–     Chào ông, Tôi Hải đây! Xin lỗi ai đấy giọng nói củ anh tôi chưa nghe bao giờ ?
Tôi yên lặng vài giây, xúc động khi nghe được tiếng bác Hải, và sực nhớ tới những ngày còn bé tôi luôn được cha sai canh cổng mỗi lần bác tới nhà, để bác và cha tôi họp trong buồng ngủ của cha mẹ tôi. Sau khi họp bác và cha tôi ra phòng khách ăn cơm và nói những chuyện không đầu đuôi hầu chờ đêm xuống lẻn bác ra cổng lẫn vào bóng tối thoát đi về hướngnào tôi không hay.
      Tôi chưa nhìn thấy bác nhưng qua giọng nói, tôi biết bác đã như con ngựa già đứng bên máng cỏ trong sự chán nản bức chế của chế độ Cộng Sản, mà bác đã sống một đời như tù lỏng.
      Bác đang chờ thời gian ra đi vĩnh viễn bỏ lại chuỗi ngày tuổi trẻ đầy nhiệt huyết năm xưa. Cái tuổi mà cha tôi và bác thời 25, 30 tuổi với nhiều mộng ước đầy ắp trong lòng như mọi người dân Việt yêu nước mong cho quê hương được an bình thịng vượng, và trở thành con rồng kinh tế muốn vượt mây bay vào trời Đông, nhưng thế thời đổi thay và lòng người oan nghiệt, cha tôi đã ra đi nơi xứ lạ để lại lời trối trăn cuối cùng vẫn là quê hương nghìn trùng muốn quay đầu lại.
      Bác Hải còn đó với những năm dài sống dưới chế độ khủng bố hà khắc nhà tù cả nước nhưng vẫn giữ lòng như tre trúc, một mai bác cũng héo tàn với ước mong tiêc nuối đã vượt khỏi tầm tay.
      Tôi chắc rồi cũng vậy…! Lại bước theo chân cha, và bác Hải, nửa đời son trẻ mang ước vọng tay súng chinh nhân, góp sức an bình đất nước, nhưng nửa đời còn lại mang thân tầm gởi sống nhờ xứ ngoại với nghiệp chướng oan khiên…!   
      Đời tôi cũng sẽ tàn phai theo ngày tháng, cái trí dũng cũng bạc nhược theo đôi chân mỏi lưng còng.
      Cha tôi, và tôi sẽ chẳng còn gì để níu kéo, họa chăng chỉ còn nỗi niềm nhớ kỷ niệm xưa vàng son một thời, nhưng trí không thành đành buông suôi ra đi, nhưng bác Hải đã phải sống dưới chế độ Cộng Sản cả đời như con hổ trong cũi của Thế Lữ, nhìn cuộc sống của những người chung quanh, cũng như chính bác bị kềm kẹp dưới chế độ tàn ác độc tài mà nhắm mắt không nguôi cơn hận thù.
Tiếng bác bên kia đầu giây có vẻ vội vàng:
–     Vâng, tôi Hải đây. Có nghe được không?
–     Dạ, cháu nghe được. Chào bác Hải.
      Bác Hải ngạc nhiên, khi nghe tiếng người lạ gọi tên ông trong những ngày tuổi trẻ hoạt động.
–     Ai đấy? Sao tiếng nói lạ quá…! Sao biết tên củ của tôi vậy ? Cháu nào vậy ?
      Tôi nhỏ nhẹ nói chậm để bác nghe rõ, vì tôi nghĩ bác đã lãng tai như cha tôi khi còn sinh thời:
–     Dạ cháu là con ông Ký Tình. Cháu tên Trống
      Vừa nghe tới hai chữ Ký Tình, bác dường như mừng với những câu hỏi liên tục :
–     Thằng Trống… lạy trời ? Cháu ở đâu vậy? cha cháu ra sao ? khoẻ không ? Sao cháu biết số phone của bác ? Chắc cháu lớn lắm rồi nhỉ ? Ta đang ngồi chờ cha của cháu về…!
      Tôi bùi ngùi xúc động nghe bác nói chờ cha tôi về. Tôi nghẹn ngào rơi nước mắt trả lời bác Hải:
–     Cha cháu mất ba năm nay rồi..!
      Bên đầu giây bác Hải bỗng yên lặng và dường như máy điện thoại bị rơi xuống sàn nhà vì có tiếng động mạnh. Tôi nghe tiếng thở dài của bác, và sau đó là tiếng nói trĩu buồn buông suôi…! 
–     Chết trong Nam à ? Vậy mà ta cứ ngồi chờ mãi..! Ta chờ bố của cháu về..!
–     Không, cha con mất tại Mỹ.
–     Ồ…! Bố con cháu bỏ làng đi ngày đó, ai ngờ đi xa quá nhỉ…! Xa quê hương, làng nước chắc buồn lắm cháu nghỉ…! Mấy chục năm rồi…!
–     Dạ, bố cháu nhắc bác hoài…!
–     Mẹ cháu còn không?
–     Dạ, mẹ cháu hiện nay đang sống tại BMT, với các em của cháu.
–     Không sống ở Mỹ à?
–     Dạ, mẹ cháu sống ở Mỹ hơn hai mươi năm, sau khi cha cháu mất mẹ cháu đòi về Việt Nam.
–     Ồ…! Quê hương mình vẫn hơn…! Quê người lạc lõng mẹ cháu về là phải. Thế cha cháu nằm bên đó thì sao?
–     Cháu đang nghĩ tới mang xác cha cháu về quê như lời trối lại của cha cháu…!
–     Cháu làm được như vậy thì cũng tốt đó. Ta sẽ đi nay mai chẳng biết chừng…! Ta hết kẻ để chờ rồi…! Bạn bè đồng chí không còn ai…!
Tôi nghe tiếng thở dài bên kia đầu giây, sau sự im lặng vài phút bác tiếp:
–     Bác với bố cháu thương nhau lắm. Thời hoạt động kháng chiến bố cháu làm thư ký nên bố cháu có cái tên là Ký Tình, nhưng bố cháu tên thật không phải là Tình đâu.
–     Dạ, cháu có nghe bố cháu kể lại.
–     Bố cháu nhắc tới ta cho cháu nghe là phải, ta cũng nhắc tới bố cháu luôn, đồng chí liên tâm mà…! Ta chỉ mong thấy bố cháu một lần, ai ngờ bố cháu đi trước ta rồi. Chắc chết chúng ta sẽ gặp nhau…!
–     Dạ.
–     Thôi nhé…! Nói điện thoại bác phải nói lớn mệt lắm, cháu tới nhà bác, rồi bác cháu mình nói chuyện nhé.
–     Dạ.
–     Cháu có biết địa chỉ không ?
–     Đạ cháu có địa chỉ của bác  
–     Ai cho cháu vậy?
–     Anh Lương.
–     Lại thằng Lương, con thằng Nhẫn…! Bốn anh em chúng nó là Cộng Sản, có quân hàm lớn đó cháu biết không ?
–     Dạ, mẹ cháu nói.
–     Ừ… Thôi, ta già rồi, nhìn thấy chúng nó lớn lên từ nhỏ, nên không đành từ chúng nó, hơn nữa chúng là con cháu cả, cũng như cháu vậy đó.
     Chúng không làm gì bác, vì bác gìa rồi, nhưng cháu thì phải coi chưng đó nghe. Nếu cháu theo chân cha cháu mà chúng biết được thì nguy.
Tôi nghĩ tới mấy người anh họ, mấy mươi năm mới gặp qua lời giới thiệu của mẹ khi vừa gặp họ ở BMT, vì khi tôi bỏ làng họ chưa sinh ra. Anh em gặp nhau, kể cho nhau nghe vài chuyện bâng quơ thiên hạ sự xã giao không dính líu gì tới chính trị. Tôi tiếp họ bằng những ly trà đàm đạo thân mật chuyện gia đình trong Nam, ngoài Bắc và nước Mỹ. Sau khi họ về nhà mẹ vẫy tôi lại gần, bà ôm đầu tôi và ghé tai thi thầm :
–     Con phải cẩn thận nghe. Tụi nó quỉ lắm đó, chớ có tin cái thứ Cộng Sản bất nhân ! Cha con còn bị thằng quỉ Nhẫn muốn giết thì con tụi nó nể nang gì con…! Tụi nó là con của thằng Nhẫn đấy…!
      Tôi không muốn bác Hải phải lo lắng nên gỉa bộ cười qua ống nghe và nói: 
–     Bốn người anh Khuông, Lương, Kho, Nhạn là anh em họ phía bên mẹ của cháu, chắc không có chuyện gì đâu. Giọt máu đào hơn ao nước lã mà bác..
–     Đúng, tụi nó là anh họ của cháu đó, tuy nhỏ tuổi hơn cháu, nhưng chớ tin nghe cháu, Khác nhau chính kiến khó nói chuyện lắm, nhất là những thằng Cộng Sản không gia đình tổ quốc như bốn anh em nó. Cha chúng nó đòi xử tử cha cháu ngày đó, nên cha cháu mới đành bỏ làng, cháu biết không ? Thôi bác gác máy, cháu tới bác nói cho nghe, nói qua điện thoại ở Hà nội này không tiện đâu. Chúng nghe lén tất cả…! À quên thằng Khuông có biết cháu về VN và đang ở Hà nội không?
–     Cháu vừa gợi điện thoại cho anh Khuông.
–     Cháu bảo nó chở tới ta nhé, nhớ đó.
      Tôi gấp lại cell phone trong khi lòng trùng xuống với những kỷ niệm như một phiến buồn đè nặng trên lưng mà tôi không thể hất ra để đứng dậy..!
      Lời nhắn nhủ của mẹ, câu dặn dò của bác Hải cho tôi để làm kinh nghiệm sống đối với những người con của bác Nhẫn cuốn xoáy trong trí, và hầu như đã bắt buộc tôi phải có sự lựa trọn :Tình thân anh em hay thù hận nối dòng giữa hai chính kiến Quốc Cộng…!
      Tôi sực nhớ câu ông nội dặn khi tôi vừa tám tuổi : “Cháu phải nhớ, chớ coi con cháu thằng Nhẫn là anh em, dù ông đã mất đi…!”
      Tôi thở dài tự nói thầm : Ông à, chắc con không thể giữ lời hứa với ông ngày đó rồi…! Mỗi thế hệ mỗi đổi thay… Con không thể mất đi tình người, anh em như thủ túc mà…! Cha con cũng nói rằng : Chú, Bác của con có thể giét cha, nhưng cha không thể làm những gì chúng có thể làm, vì cha còn tình người…!
      Tài xế của anh Khuông mặc bộ đồ bộ đội xanh rêu phân ngựa, đầu đội mũ “cát kết” cùng màu có ngôi sao đỏ chói gắn phía trước trên cái lưới chai, anh ta có vẻ cố tình giữ khoảng cánh giữa tôi và anh ta từ khi mới gặp. Tôi hỏi điều gì anh ta trả lời, nếu tôi không hỏi, anh ta yên lặng làm bổn phận như người máy. Suốt quãng đường từ Hotel Khải Hoàn tới Phố Huế anh ta chỉ nói có hai chữ dạ, vâng và lái xe đưa tôi tới nhà bác hai Hải vào buổi chiều sau ngày tôi điện cho bác. Tôi tặng người tài xế của anh Khuông năm đô la để nhìn hành động của anh trước khi tôi bước xuống xe để vào nhà bác Hải, và để tìm hiểu người Cộng Sản có bị tẩy não vì đồng đô la hay không.
      Tôi thấy mắt anh ta sáng lên, miệng anh ta lúc này mới mỉm cười thân thiện và cúi đầu nói được câu ngắn gọn:
–     Cám ơn ông, Nhưng ông đừng cho ai biết chuyện này. 
      Tôi ngạc nhiên nhìn anh ta, và lập lại hai chữ của anh Khuông thường nói với tôi để nói với anh tài xế tên Thụ .
      Ai mà nói chuyện này với ai..! Chú cứ “vô tư” đi. Tôi mỉm cười nhìn anh Thụ và chợt nghĩ : “Thì ra đồng đô la đã làm người Cộng Sản thay đổi tư duy…” trong ki anh Thụ gật đầu :
–     Dạ.
      Tôi dặn anh Thụ :
–     Anh lái xe về nhà đừng đi đâu nghe, kẻo anh Khuông cứ tưởng tôi lấy xe của anh đi chơi phố.
–     Dạ, cháu không dám lái xe này đi phố đâu. Ông biết được thì chết cháu ngay.
      Bác Hải đã đứng ở cửa nhìn tôi mừng rỡ, bác vừa chậm chạp bước tới bên tôi vừa nói :
–     Nó không dám mang xe đi chơi đâu, cho kẹo nó cũng không dám ăn huống chi mang xe đi chơi.
      Bác với tay vẫy anh Thụ, nói tiếp:
–   Thôi Thụ à, cháu mang xe về trả cho thằng Khuông nghe, thằng Trống ở đây nói chuyện cà kê với ta lúc nào về sẽ gọi xe taxi, khỏi đón.
      Tôi bước vội tới ôm lấy bác Hải như ôm cha tôi với vài giọt lệ xúc động lăn dài trên má. Bác thấy vậy vỗ lưng tôi an ủi:
–     Tủi thân làm gì con…! Bác cháu mình có duyên gặp lại nhau ngày hôm nay là quí rồi, chỉ tiếc vắng cha cháu. Ngày đó cháu nhỏ tí, đen đủi, nhanh như cắt, nay tóc con đã hai màu rồi…! Con giống cha quá, ta nhìn là nhận ra ngay.
      Tôi quay nhìn xung quanh, và thấy có vài người gọi bác bằng cha. Tôi ngạc nhiên hỏi.
–     Ủa, Bác gái có mấy anh sao ? Con nhớ ngày đó bác gái muốn nhận con là dưỡng tử mà…!
      Bác Hải nét mặt bỗng trùng xuống, thở dài:
–     Bà ấy qua đời lâu rồi, sau khi gia đình cháu suôi Nam. Ta trốn Cộng Sản bặt tin trong khi muốn tìm tin tức về cha cháu, thì nghe cha cháu đã dẫn gia đình suôi Nam rồi. Bác thất trí, buồn đi lung tung không về nhà trong khi bà ấy lanh thang khắp nơi kiếm ta rồi mang bệnh mất giữa đường. Ta quay về tìm bà ta thì đã trễ rồi.! Các em sau này là con của người vợ kế của bác.
–     Bác à, anh Khuông bận nên anh xin lỗi bác, để bữa khác anh tới thăm bác.
 Bác hán khoa tay nói:
–     Nó không tới càng hay. Bận cái gì…! Bận việc kéo bè kéo đảng với nhau để bàn chuyện ăn cướp của dân chứ có gì đâu, ta sống cả đời với chế độ này, chúng nó làm gì ta cũng hiểu…!. Ngày mai là ngày ông Bush qua họp APEC, nên nó bận là phải rồi, bận đi lạy lục Mỹ xin ăn đó mà…!
      Sau khi ngồi xuống ghế trong phòng khách tôi hỏi thăm bác vài câu về sức khoẻ và gia đình, tôi chợt nhớ tới chuyện hôm qua bác Hải nói bác Nhẫn muốn xử tử cha tôi nên tôi tò mò:
–     Hôm qua nghe Bác nói anh Khuông là con bác Nhẫn. Nhà bác Nhẫn ở gần cổng nhà bà ngoại cháu phải không ?
–     Đúng rồi, cháu nhớ dai thật.
–     Lúc cháu bỏ làng đã chín mười tuổi rồi, cháu còn nhớ nhiều lắm đó bác.
–     Quê mình nghèo, làng lại nhỏ có bao nhiêu người đâu mà không nhớ…!
–     Bác Nhẫn là anh họ mẹ của cháu. Như bác nói hôm qua, tại sao bác Nhẫn lại muốn xử tử cha cháu vậy ? Cùng gia tộc mà…!
      Bác Hải nhìn ra ngoài trời qua khung cửa sổ, nắng chiều nhạt nhòa, có hơi ẩm của gió thu Hà Nội lùa nhẹ vào phòng, trong khi Phố Huế ồn ào tiếng động cơ của xe gắn máy, và dường như thành phố lớn nhỏ gì của VN sau thời 1975 cũng đều bị tra tấn bằng những tiếng động cơ này liên tục suốt ngày qua đêm. Bác quay lại nhìn tôi với đôi mắt buồn vời vợi, lắc đầu bác nói:
–     Trong làng chỉ có 5 người chắc cháu đã biết là bố cháu, bác, anh Nga là anh ruột của mẹ cháu, anh Quắc đã đổi họ Nguyễn ra họ Đặng sau khi phản tỉnh trốn khỏi khu kháng chiến, và anh Mông. Mấy anh em theo cha cháu vào QDĐ chống Việt Minh, và thực dân Pháp, vì chúng ta và cha cháu được ông bà cho ăn học ở Hà-Nội, trong khi cả làng trai tráng đều học ở làng hoặc huyện tới lớp nhất là hết về làm ruộng nên họ nghe Việt Minh tuyên truyền đi làm du kích chống Pháp, trong đó có chú Quân của cháu và thằng Nhẫn là chủ chốt đầu đàn cả huyện. Như cháu đã biết thằng Quân đã chỉ súng lục vào đầu bố cháu trong khi anh em cãi vã nhau vì khác chính kiến, có điều thằng Quân không bóp cò súng thôi…! Nhưng như vậy là cũng hết tình an hem rồi…!
–     Chuyện này cháu biết, vì lúc đó cháu ở bên bố cháu mà.
–     Còn thằng Nhẫn, lúc đó nó là tiểu đội trưởng du kích huyện Phú Xuyên, nó ra lệnh cho thằng Quân bắn bố cháu, thằng Quân nghĩ sao không bắn, và bỏ đi mất tích sau 1954 nó mới về, trong khi cha cháu bỏ Pháp về làng, rồi khi thấy thằng Quân nhà, cha cháu lại mang gia đình trốn vào Nam.
–     Ngày đó cha cháu dẫn cháu đi suốt đêm qua những cánh đồng lạ, đôi khi đói quá hai cha con phải ăn cắp khoai ngoài đồng hoặc xu hào mang nướng nên ăn. Mà xu hào non nướng ăn ngọt đáo để nghe bác…!
–     Cái kinh nghiêm ăn xu hào nướng ta và cha cháu ăn hoài trong khi trốn Cộng Sản nằm ngoài bờ ngoài ruộng..! Cái thời cha cháu và bác bỏ làng vào thành kể ra thì dài lắm, nhưng đại khái là thằng Nhẫn cho kẻ dưới quyền theo dõi bác và bố cháu sau khi thằng Quân không bắn anh ruột của nó. Bác và bố cháu biết nên chẳng ngủ nơi nào một đêm thẳng giấc. Một đêm bác và bố cháu bất ngờ bỏ làng nửa đêm trốn lên Hà-Nội. Thằng Nhẫn biết thì đã trễ mặc dù nó đã cho tiểu đội dưới quyền nằm nấp sẵn tại ngã ba của ba làng Bái Vàng, làng Vân và làng Hoàng Nguyên.
–     Vậy tại sao bác và cha cháu thoát khỏi chỗ ngã ba đó ? Tôi buột miệng hỏi.
Bác hai Hải gật gật đầu có ve thú vị khi nghĩ về cuộc chạy đua với tử thần đầy nguy hiểm bởi chính anh em mình gây nên.
–     Cũng may bác và bố cháu đã không đi lối đó, bác và cha cháu đi qua lối làng Trằm lên đê Yên Phụ, nhẩy xuống thuyền trực sẵn vào Gia Lâm, rồi đi bộ qua cầu “Đuy-Me” vào Hà Nội.
–     Bác và cha cháu gan thật.
      Bác Hải bật cười, sau đó nói tiếp trong khi bác lên cơn ho
–     Cha cháu gan hơn ta…! Nếu không có cha cháu thì ta đâu có bỏ làng Thành Lập mà đi…. Cha cháu rủ ta bỏ làng đấy chứ…! Thằng Nhẫn biết bác và bố cháu đã đi, nhưng nó không biết bác và cha cháu đi lối nào, nên nó vội vã chẳng nói gì với toán du kích huyện, cứ thế đuổi theo lối ngã ba làng nhưng không ngờ khi nó tới ngã ba thì chính toán du kích của nó bắn nó tử thuơng trong lúc sương mù không nhìn thấy chính xác là ai. Nhờ đó mấy thằng con của nó lên tướng, lên tá gớm thật…!
Tôi ngạc nhiên hỏi:
–     Tại sao, bác Nhẫn chết vì du kích bắn lầm mà các anh con bác lại lên cấp bậc mau lẹ trong chế độ Cộng Sản.
–     Cháu không biết là phải. Tụi CS siêu tra ba đời làm cách mạng theo đảng. Mấy đứa nó khai là bố nó bị giết trong khi thi hành nhiệm vụ bắt Việt Gian. Đảng CS tin đó là thật nên tụi nó được nâng đỡ từ 1954 tới nay. Tài cán gì…!
–     Anh Khuông nói với cháu anh có qua Liên Sô và Tiệp Khắc học Đạo Diễn quay phim. Chắc anh phải khá lắm chứ.
Bác Hải Lắc đầu.
–     Học mà có hành hay không chứ. Nó về VN sau khi du học có làm đuợc cuốn phim nào đâu. Toàn là nghe cấp trên mang phim tài liệu bán rẻ cho Hòa Lan rồi chia nhau tiền, bây giờ nếu cần tới là lại phải trả tiền mướm đắt gấp mấy lần đem bán…! Ngu ơi là ngu…!        
–     Cháu đã nghe anh nói bỏ nghề đạo diễn rồi mà…!
–     Đúng..! Mà phim CS quay ai mà coi, toàn chuyện bịa đặt để tuyên truyền không à..! Ta kiên nhẫn coi phim CS làm mấy chục năm rồi, chẳng có gì mới mẻ cả, chỉ những tung hô bác Hồ, chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bám hào quang của Điên Biên Phủ. Nếu có hô hào và bắt buộc dân đi coi phim chiếu ngoài trời để tâm lý chiến thì dân mới đi coi, bình thường đâu có thì giờ mà coi. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc coi cái gì chứ.
–     Dạ
      Bỗng bác Hải hỏi tôi, sau khi tôi đứng dậy chào bác ra về.
–     Bao giờ con về lại bên Mỹ.
–     Dạ, có lẽ sau khi hết ngày khế ước du lịch này là con về Sài Gòn sửa sọan về Mỹ.
      Giọng bác Hải bất ngờ trùng xuống.
–     Thôi, lần này là lần cuối bác cháu mình gặp nhau, đó là cái phước của bác cháu minh rồi. Con luôn giữ lòng nhất tâm nghe… Bác có thể ra đi bất cứ lúc nào. Con về lần sau có thể không gặp bác nữa đâu…!
 
–     Dạ, con nhớ những gì bác đã nói với con hôm nay…!
      Tôi quay người bước vội qua cửa phòng khách, bước khỏi hiên nhà và rẽ phải để đi bộ về bờ hồ Hoàn Kiếm. Tôi biết bác Hải đứng nhìn theo bước chân tôi chạy trốn bác, chạy trốn sự thật của dòng họ tôi, tôi biết rằng, tôi không thể ôm hận thù cả cuộc đời được như bác, và mẹ, một thế hệ đã dần đi vào quá khứ nhưng cố ôm lấy dĩ vãng oan nghiệt đau thương…!
       Tất cả rồi cũng tàn, tham vọng bá vương rồi cũng bị hủy diệt theo thời gian để thay vào lòng yêu chuộng nhân bản, an bình. Tất cả những gì con người nắm chắc trong tay làm của riêng rồi cũng mất đi và vấn nạn của con người là sinh, lão, bệnh, tử..!
      Cát bụi vẫn là cát bụi phù du..! Tôi chỉ là người lữ khách có lòng về lại quê hương làng cũ muốn xây lại êm ấm tình anh em dòng họ, một ước vọng nhỏ nhoi tình người mà tôi không muốn mất đi …!
      Xin lỗi cha mẹ, xin lỗi bác Hải, đường con đi sự thật quá dài, và khó khăn trong khi oan nghiệt chính kiến trùng trùng nghiệt ngã trong dòng họ, và người cùng giống. Ai sẽ chĩa mũi súng vào đầu ai đây, và ai sẽ bóp cò súng đẻ giết lẫn nhau…! 
      Anh em là thủ túc, dân tộc là phương tiên đựa vào để sống còn, và cá nhân là cứu cánh thực hành những điều nhân bản phải có để con người vươn lên trong tự do toàn thiện mỹ.
      Con muốn xoay lại tư thế và tư duy trong lòng các anh em con để xây dựng một thế hệ trong sáng hơn…!
      Bất ngờ trước mặt tôi là bờ hồ Hoàn Kiếm đông người qua lại, nhưng sắc diện của họ chợp chờn trong bóng tối loang lổ của đèn phố, và dường như có một sự sợ hãi, buồn phiền đè nén trong long mà không ai muốn nói ra..!
      Những ánh đèn màu muôn sắc từ vài cao ốc bên đường quanh hồ soi xuống dòng nước lung linh huyền diệu, và thấp thoáng giữa hồ trong sương thu, với ánh đèn lấp lánh trong sóng nước lăn tăn giữa hồ là đền thờ Lê-Lai yên lặng soi hình đã bao năm…!
 
Hànội, Phố Huề Nov. 25, 2006



Quỳnh Hương: Vĩnh Biệt Anh Hoàng Ngọc Thái.

          Hương Kỷ Niệm

TƯỞNG NHỚ

Kinh dâng  hương linh HOÀNG  NGỌC THÁI

 

Anh đã trả xong nợ thế rồi

Trở về cát bụi giữa ngàn khơi

Non bồng nước nhược anh yên giấc

Đau xót lòng em… vắng bóng người!

 

Di ảnh còn đây, anh ở đâu?!

Trời cao vời vợi mấy tinh cầu

Nhìn vầng mây xám lòng đau thắt

Thương nhớ về anh dạ thảm sầu

 

Anh đã ngàn thu giữa cõi trời

Tình thương con, vợ hẳn chưa nguôi

Đã từng tận tụy thân bao quản 

Anh sống vị tha suốt cuộc đời

 

Yên giấc ngàn thu biệt bạn vàng

Đau lòng em lắm… quấn vành tang

Còn đâu năm tháng cùng anh bước

Qua khúc gian truân, nỗi đoạn trường

 

Tâm Kinh, em tụng  tiễn đưa anh

Phật chứng lòng  em sự chí thành

Nâng nhẹ hồn anh về cõi Tịnh

Niết bàn Cực Lạc chốn siêu sinh.

 

Hoàng Ánh Nguyệt

(Tháng 09/12/2009)

 

 

NGỦ ĐI ANH

Lìa quê trôi dạt phương trời
Ra đi đành đoạn nửa đời, xót xa
Mây quầng Tần Lĩnh mưa sa
Thân chưa về kịp hồn đà lãng du

Ngủ đi ANH, đời phù du
Được thua hơn thiệt mịt mù vó câu
Đẹp chăng cái thuở ban đầu
HƯƠNG cau ngõ trúc nhịp cầu lối xưa

Ngủ đi ANH kẻo trời mưa
Sợi buồn giăng mắc dường chưa phai mờ
Phải chăng tàn một giấc mơ
Người đi kẻ ở thẫn thờ nhớ thương

Phải chăng đời, cõi vô thường
Hợp tan còn mất khó lường phong ba
Cầm như quy luật đó mà
Hoàng hôn sụp xuống Trời xa Đất gần

Nặng lòng trong buổi tiễn chân
Anh về vĩnh cửu nhẹ thân tang bồng…


KÍNH DÂNG HƯƠNG LINH ANH HOÀNG NGỌC THÁI  

Út Quỳnh Mai

 

Em qua phố thị ngày xưa

Con đường gợi nhớ nắng mưa hẹn hò

Âm thầm… chiếc bóng bơ vơ

Trong lòng cảm thấy ngẩn ngơ lạ kỳ

Thời gian thấm thoát trôi đi

Những mơ ước đẹp còn gì nữa đâu

Vụng về đánh mất tình đầu

Cùng bao ước hẹn  có nhau trong đời.

Mong hoài hình bóng người ơi !

Nhớ nhung hơn nữa cuộc đời cách chia

Vì sao tình phải chia lìa

Em buồn duyên số… tủi ơi phận mình

Ngậm ngùi thương nhớ về anh

Đi trong phố vắng  cảm mình bơ vơ …

Hoàng  Ánh Nguyệt

    (Ngày 15/05/08)

 

 

XIN HỌA BÀI THƠ ANH CHINH NGUYÊN

Người đi người ở niềm u uất buồn

 

 

 

 

 

MÙA HÈ GỢI NHỚ 



 

 

Hương Kỷ Niệm

 

Em nhớ anh nên em làm thơ
Sắc màu kỷ niệm tuổi mộng mơ
Trong thơ em gói niềm nhung nhớ
Em nghĩ rằng anh mãi đợi chờ

Xa cách bao năm mơ hội ngộ
Mong cùng sánh bước dệt vần thơ
Đơm hoa kết mộng duyên tình thắm
Chờ mãi vần thơ rụng lá thu

Chẳng biết rồi đây đến bao hiờ
Duyên tình tươi thắm tựa trong mơ
Trời xanh hoa bướm tình xuân mộng
Hai kẻ tâm đầu dệt ý thơ

Yêu nhau tha thiết giữ gìn nhau
Tình ngát hương trinh tự thủa nào
Cố giữ trong lòng hương kỷ niệm
Cho tình đẹp mãi tới ngàn sau.

 

 


 

 




Phan Tưởng Niệm: Chỉ Còn Là Kỷ Niệm

                                Chỉ Còn Là Kỷ Niệm

                       

                                                      

 

Hình ảnh một buổi sáng nào – khi Gã vừa mới lên sáu : " mẹ Gã âu yếm nắm lấy tay Gã, dẫn Gã đi trên con đường làng dài và hẹp " qua chiếc cầu tre Bến Ghành của làng Bình Thành đến lớp – lòng Gã nao nao lo sợ . Dù rằng bây giờ đã hơn năm mươi năm trôi qua , nhưng kỷ niệm của ngày xa xưa ấy như khắc ghi vào tâm khảm của Gã . Hình ảnh của mẹ Gã ngày ấy vẫn còn sâu đậm trong tâm hồn Gã .

 

Trên con đường đi đến trường mẹ Gã ghé vào một hàng bán bánh mì bên vệ đường mua cho Gã một ổ, rồi nhỏ nhẹ nói với Gã : " con hãy cố gắng học hành để sau này giúp ích cho gia đình và xã hội " – lời nói ấy đã đi suốt hành trình trong quãng đời Gã – cứ mỗi lần có điều gì khó khăn sắp xảy đến là Gã luôn nhớ lời mẹ Gã dặn : " hãy cố gắng…”

 

 Rồi tuổi ấu thơ đi qua, tuổi thiếu niên lại đến . Năm mười một tuổi , Gã bước chân vào ngưỡng cửa của bật trung học . Đối với Gã khi ấy như cảm thấy mình đã lớn hẵn ra – đã là người lớn.

Những buổi tối , Gã cùng năm bảy đứa bạn cùng trang lứa tụ tập trước sân chùa Tàu Quảng Đông chia phe đánh giặc- nào Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Ngô Quyền, Quang Trung – Gã và chúng bạn tự đặt tên cho mình, rồi tiến lên đình Cẫm Thượng đánh nhau với nhóm " phe Tàu" . " Phe ta " chỉ có năm , bảy đứa nhưng " Phe Tàu" có mấy chục tên , vì vậy nhiều lần bọn Gã bị " địch" rượt đuổi và bắt trói dưới gốc cây cổ thụ của sân đình và bảo bọn Gã – " đầu hàng, đầu hàng ". Nhưng , đã học theo sách vở và noi gương bất khuất của anh hùng Trần Bình Trọng , nên bọn Gã đều hô to : " thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vua đất Bắc", vậy là bọn Gã bị bọn " Phe Tàu" cho ngồi làm "qủy phương Nam" suốt cả đêm , khi chúng bỏ đi về nhà ngủ, bọn Gã mới nhờ người đi đường mở trói

 

Tuổi đời học sinh cứ lớn dần và dòng thời gian cũng lần lượt trôi qua – với tuổi mười tám, hai mươi –  Gã đã bắt đầu khôn lớn . Tuổi tình yêu cũng bắt đầu chớm nở – đêm về Gã cũng bắt đầu có những phút suy tư mơ mộng . Những lá thư xanh – Gã bắt đầu trao gửi và những bài thơ tình – Gã cũng bắt đầu tập tễnh làm quen .

 

              Ta còn lại đêm nay

               Bầy sao hôm thơm ngát

               Ta còn một tiếng em

               Xin đừng làm rơi mất

               

               Hoặc :

 

Trong ánh nắng dịu hiền

Anh thấy em hiện diện

Vươn vòng tay ôm trọn

Chỉ là khoảng hư không

 

Hay :

 

Trong sương đêm cuộc đời

Anh thấy mình lạc lõng

đứng chơi vơi giữa trời

trong cơn lốc cuồng quay.

 

 

Dòng thời gian cứ lặng lẽ trôi – cuộc đời cũng được sắp bày theo định số mà di chuyển – Từ giã trường học , đi vào trường đời với cuộc sống thăng trầm – sáu năm lăn mình vào lửa đạn – ngày nằm rừng , đêm vượt suối – tuổi trẻ không còn ước vọng tương lai – nhìn phía trước mặt là những đám mây mù che phũ – Gã chỉ còn biết xuôi theo mệnh số .

 

Rồi cuộc đời cũng theo vận nước nổi trôi – Gã từ nhà tù này qua nhà tù khác – từ vùng kinh tế mới này đến vùng kinh tế mới khác – và cuối cùng mười ba năm lăn lóc bụi đời nơi chốn Sài Gòn xa lạ – và bây giờ – mười hai năm sống nơi phương trời buồn , tuổi đời mỗi ngày mỗi trôi qua – Gã còn gì để mà hy vọng , để mà ước mơ !?

 

Hiện tạị! tương lai ! tất cả chỉ là hư ảo, có còn chăng là quá khứ chất đầy những kỷ niệm . Gần hết cuộc đời rồi , Gã còn lại gì cho Gã đây ? – chỉ là hai bàn tay trắng – Gã đưa lên mắt nhìn chẳng thấy được màu da – nét mặt khô cằn in hằn những vết nhăn – Gã chán ngán cho hiện tại và không còn nghĩ gì về tương lai – chỉ còn nhớ thương một thời của dĩ vãng .

 

Sau bao nhiêu năm xa quê hương, hôm nay,Gã trở lại thành phố biển Quy Nhơn vào ngày mồng một tết. Thành phố bây giờ quá đổi  thay. Gã đi giữa thành phố thân quen mà ngỡ như  đi giữa phố người xa lạ. Con đường Gia Long ngày xưa, mỗi lần về phép Gã thường đưa Ngọc Yến đi dạo phố khuya – mỏi chân, đói bụng ghé vào tiệm mì Trường Đề ăn một tô mì vịt tiềm tuyệt hảo, hoặc vào quán kem Thanh Ký, Tuyết Trắng  – vào mỗi sáng chủ nhật Gã thường rũ bạn bè ra ngồi ăn kem đấu láo. Hôm nay  đâu còn nữa

Loanh quanh một vòng qua những con đường của thành phố, Gã chạy xe thẳng vô nghĩa trang Phật giáo thăm mộ mẹ, cậu, mợ Gã – Nỗi buồn xâm chiếm.

                                                                       *  *  * 

Bước qua vài dãy mộ, Gã đứng trước ngôi mộ của cố trung tá Phan Đình Thành – người anh cả của tiểu đoàn. Qua tấm hình, nét mặt anh vẫn đăm chiêu, uy nghi, hào hùng trong bộ đồ lính trận. Từng dòng nước mắt Gã rơi xuống … rới xuống … và những dòng ký ức hiện về trong tâm hồn Gã. Hình ảnh anh chết giãy dụa khi Gã để đầu anh gối trên chân Gã. Những dòng máu cứ tuông chảy …tuông chảy bởi một loạt đạn của địch quân xuyên qua thái dương. Trong phút

cuối của cuộc đời, Gã vẫn nghe anh thều thào gọi tên vợ, con anh : Ngọc Lan, Martel .

                                                  

                                                                       *   *   *

Rồi buổi chiều khi thành phố lên đèn là Gã lại phải ra đi, con tàu gầm vút lên cao đưa Gã về một miền đất lạ , miền đất đầy gấm, đầy hoa mà bao nhiêu người  đang mong ước, nhưng sao lòng Gã vẫn thấy ngậm ngùi, nhớ nhớ, thương thương vùng đất đã sinh ra Gã  và nuôi Gã lớn lên với những tháng ngày ấp yêu kỷ niệm và Gã tự nhũ thầm : – Tất cả chỉ còn Là Kỷ Niệm .

 

 Phan tưởng Niệm

 

                                                                                     

Nhiều người thường nói với Gã – dĩ vãng đã qua hãy để nó qua, đừng nhắc nhở, nuối tiếc làm gì . Điều đó, theo Gã thì không nghĩ vậy . Dĩ vãng chính là một kho tàng kỷ niệm , dù rằng trong những kỷ niệm ấy có lắm điều vui và buồn . Nhưng đối với Gã – đã là kỷ niệm thì dù thế nào Gã cũng luôn ghi nhớ và trân quý.




SƠN NAM NHÀ VĂN KHÔNG VƯỢT ĐƯỢC CÁI BÓNG CỦA MÌNH

SƠN NAM NHÀ VĂN KHÔNG VƯỢT ĐƯỢC CÁI BÓNG CỦA MÌNH

Năm 1956 thế kỷ hai mươi trong một buổi mạn đàm về văn chương chữ nghĩa nhà văn Nguyễn Đức Qùynh nói với tôi rằng trong đám nhà văn Việt Cộng không đi tập kết ở lại miền  Nam có Sơn Nam là đáng kể .Theo nhà văn Nguyễn Đức Qùynh thì Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam là một tác phẩm tầm cỡ cả về văn phong lẫn ngôn ngữ nhất làøa à cá tính những nhân vật trong truyện.

Theo nhà văn Ngọc Linh thì Sơn Nam viết từ trong  kháng chiến ch?ng Pháp vào đầu thập niên 50 của thế kỷ 20 và ký tên thật Phạm Minh Tày nhưng đúng như Sơn Nam kể lại sau này thì mãi 1955 ông mới viết truyện ngắn S?n Nam t? thu?t”Tôi sinh ra ở vùng đất  U Minh,nơi đó là những cánh rừng tràm bạt ngàn kéo dài từ Rạch Gía qua Sóc Trăng,Bạc Liêu và đến tận Cà Mâu.Tôi bắt đầu sự nghiệp viết lách bằng những truyện ngắn năm 1955 trên văn đàn Saigon để từ đó có Mùa Len Trâu,Hương Rừng Cà Mau đựoc viết ra từ  ký ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt”

Cũng theo tiết lộ của Sơn Nam thi cái tên này được đặt ra với họ Sơn là để nhớ bà ”nhũ mẫu” người Miên cho ông bú”tháp” và mớm cơm cho ông ăn thủa ấu thời họ Sơn là một họ lớn của người Miên

Năm 1964 làm tờ báo Quyết Tiến phụ trách phần văn học của tờ báo  hàng ngày

này tôi thường phải tiếp xúc với Sơn Nam nhận bài anh viết cho trang trong tờ báo tôi thấy anh có vẻ  hơi lừ đừ nhà văn Đỗ Bá Thế giám đốc chánh trị của tờ báo nói với tôi rằng Sơn Nam là một trường hợp khá đặc biệt là ”cộng sản nằm vùng nhưng lại mê nàng tiên nâu và  bồ nhíù..”

Năm 1968 tôi phụ trách tòa sọan báo Hòa Bình Ngọc Linh phu trách trang trong tôi hỏi Ngọc Linh nghĩ thế nào về trường hợp Sơn Nam,Ngọc Linh cười rồi nói với tôi rằng”ông” biết tôi ”nằm vùng ” Sơn Nam cũng” nằm vùng ”không tố cáo tôi cảm ơn nhưng  tôi” nằm vùng” khác Sơn Nam tôi không trai gái hút sách còn Sơn Nam thì”đủ món” nói thì  ”ổng” bảo phải làm ravẻ trụy lạc để đánh lừa ”địch” nhưng mình không tin vì ”bản lĩnh” đàn ông của Sơn Nam yếu lắm

Sau Hương Rừng Cà Mau Sơn Nam viết nhiều có khi một ngày Sơn Nam viết tới ba truyện dài đăng báo hàng ngày nhưng càng viết càng xuống sức càng viết càng phơi bầy sự hạn chế của ngòi bút cũng như chữ nghĩa chứng tỏ nội lực không có bao nhiêu mà S?n Nam l?i sài quá tr?n nên hêt v?n

Trước ngày 30 tháng tư năm 1975 xẩy ra. Sơn Nam nhiều lần bị cơ quan an ninh của VNCH bắt vì tội họat động Cộng Sản trong khi người chỉ huy Sơn Nam”nằm vùng” thì lại chẳng một ai đụng tới cả

Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 Sơn Nam được kết nạp vô Hội Nhà Văn nhưng không làm quan văn nghệ mà đi lang thang viết báo”chầu” kiếm tiền nuôi mấy cô bồ nhí khiến bà vợ nổi nóng đăng bố cáo Sơn Nam mất tích trên đài truyền hình tới lúc này thiên hạ mới khám phá ra nhà văn của chúng ta thích đi lang thang trong thành phố Saigon là để sưu tầm ”bố nhí”  chứ không hề đi thực tế gì ráo trọi,hẻm này ông có một cô ”bồ nhí” hẻm kia ông bao một cô gái bán nước mía Sơn Nam bị xe đụng không có tiền chạy chữa báo chí phải lên tiếng quyên góp tiền chạy chữa cho ôngSơn Nam được ”hóa giá” nhà nhưng vợ cái con cột của ông ở ông vẫn phải ở nhà thuê nay với cô bồ nhí này mai ở nhà thuê với cô bồ nhí khác

Sơn Nam bán được tòan bộ tác phẩm cho nhà xuất bản nọ ai cũng tưởng túi Sơn Nam rủng rỉnh tiền bạc nhưng có ai ngờ vừa nghe tin ông bán bản quyền sách có tiền vợ cái con cột đã lại xâu xé khiến Sơn Nam lúc nào cũng rách bươm cái chân bi tai nạn xe cộ các bác sĩ” nhà thương thí” chữa chạy sao đó lành nhưng” dị dạng” đi lại khó khăn cần giải phẫu”chỉnh hình ”thêm m?t l?n n?a,nhưng túi Sơn Nam rỗng ông đành”chịu trận” đi ”cà nhắc” cho qua ngày, báo chí lại can thiệp lại kêu gọi lòng hảo tâm của bạn đọc

Sơn Nam là anh nhà văn khá ly kỳ làm khá nhiều nghề nào cố vấn về phong tục vùng đồng bằng sông Cửu Long cho đạo diễn phim Người Tình nào làm trợ lý cho quan chức tổ chức kỷ niệm Saigon 300 năm, nào  tham gia các cuộc tế lễ các danh nhân kiếm chút cháo

Tâm hồn Sơn Nam là tâm hồn một thisĩ những vần thơ mở đầu cho Hương Rừng CàMau thật bay bổng

”Muỗi vắt nhiều  hơn cỏ

chướng khí mù  như sương

thân không là lính thú

sao chưa về cố hương

chiều chiều nghe vượn hú

hoalá rụng buồn buồn

tiễn đưa về cửa biển

những giọt nước lìa nguồn

đôi tâm hồn cô tịch

nghe lắng sầu cô thôn”

Sơn Nam đã viết xong bộ hồi ký đồ sộ tuổi đã trên tuổi ”xưa nay hiếm ”khá nhiều nhưng vẫn phải ”cày” liên tục,viết đủ thứ theo đơn đăt hàng của báo chí viết báo tết từ lúc mới bắt đầu mùa hè

Theo lời tâm sự của Sơn Nam thì ông viết nhiều nhưng càng viết càng thấy những gì mình viết ra sau này thua xa Hương Rừng Cà Mau tác phẩm đầu đời

Sơn Nam đã nhìn lại mình khá chính sác cả đời văn của Sơn Nam chỉ có Hương Rừng Cà Mau và Mùa Len Trâu là đáng kể còn lại chỉ là những thứ ..mua vui, cho thiên hạ kiếm bạc sài chơi. Không hơn không kém

Giữa năm 2008 Sơn Nam bị vợ con bỏ rơi phải tá túc nơi thư viện quận Gò Vấp rồi suy tim suy thận viêm phổi phải vào cấp cứu ở bệnh viện Gia Định chỉ mấy ngày thì rời cõi thế.Thế là thiên hạ như lũ kên kên khai thác sác chết Sơn Nam tại nhà tang lễ nhưng không dám làm trái nguyện vọng người chết là xin miễn chôn ở nghĩa trang thành phố và chôn ở nghĩa trang tỉnh Bình Dương

Hồ Nam

 




Hồ Nam : NGÂN GIANG NHÀ THƠ VẬT VÃ VỚI SỐ PHẬN THI SĨ

NGÂN GIANG NHÀ THƠ VẬT VÃ VỚI SỐ PHẬN THI SĨ

Ngân Giang là bút danh của Đỗ Thị Quế sinh ngày 20 tháng 3 năm 1916 tại phố Hàng Trống Hanội nguyên quán thôn Hướng Dương huyện Thương Tín Hà Đông. Ngân Giangsinh ra trong môt gia đình Nho Học nên sáu tuổi đã biêt làm thơ Đương

Ngân Giang là loại con gái thông minh và xông sáo, trươc năm 1945 Ngân Giang không chỉ làm thơ viêt báo mà con  lao vào con đường hành động làm chánh trị tuy mới 19 tưổi Ngân Ging đã làm ‘’giao liên’’ cho xứ bộ đoàn Thanh Niên Dân Chủ bị bắt ở tù vẫn không ngán còn tham gia Việt Minh và 29 tuổi bị hiến binh Nhật nhốt một tháng trong nhà tù ‘’khét tiếng’’ là man rợ’’nhà tù “”nhà dầu’’ ở Khâm Thiên Hànoi một tháng trời.Ra tù  Ngân Giang còn tham gia ‘’cướp’’chánh quyền ở Hà nội và trở thành trưởng đoàn Phụ nữ Cứu Quốc Hànoi

Con ngươi Ngân Giang bản chất là con ngươi đam mê văn nghệ nên  với Ngân Giang sang tácthơ là quan trọng hơn cả Ngân Giang đã viêt nên nhựng vần thơ bât hủ ca ngơi Trưng Nữ Vương, chính những vần thơ này làm nên tên tuổi Ngân Giang và cũng chính những vần thơ này đã khiến nhà thơ Đông Hồ khi diễn giảng nó trên giảng đương trừong Đai Học Văn Khoa Saigon sáng ngày 25 tháng 3 năm 1969  cảm hứng trào dâng sung sướng quá đến đứt mạch máu não về bên kia thế giới vì bài thơ này

Sau đây là trích đoạn bài thơ bất hủ của Ngân Giang

Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận

Non Hồng quét sạch bụi  trần ai

Cờ tang điểm tướng nghiêm trang trận

Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa

Giáp  vàng khăn trở lạnh đầu voi

Chàng ơi điện ngọc trơ vơ quá

Trăng chếch Ngôi trời bóng lẻ loi

Con ngươi Ngân Giang là con ngươi tài hoa đa tình và  bay bươm công danh nàng thích thật những nàng cũng ham sống và thế là nhiều chuyện xẩy ra với ngươi tài hoa nhưng Ngân Giang dám sống trên dư luận dám sống vì mình. Dù Ngân Giang là hội viên sáng lập Hội Nhà Văn nhưng bà  vẫn giao du với những Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Văn Cao, Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm những nhà văn nhà thơ cứng đầu và bị ghép vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Ngân Giang phải sống bằng nghề quét la nấu nước trà bán dộ nhật tới chết nhưng con ngươi tài hoa Ngân Giang vẫn cười nửa miệng sống hiên ngang không một lời than vãn và bà đã qua đời trong cảnh bần hàn ngày 17 tháng 8 năm 2002 mà không một lời than trách

HỒNAM

TRÍCH THƠ NGÂN GIANG

TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh

Một trời loáng thoáng bóng sao rơi

Dồn sương vó ngựa xa non thẳm

Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

Ngang dọc non sông đương kiếm mã

Huy hoàng cung điện nếp cân đai

Bốn phương gió bụi lùa chân ngựa

Tám ngả mưa ngàn táp gió mai

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ

Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai

Hồn người chin suối cười an ủi

Lệ nến năm canh nhỏ ngậm ngùi

Lạc tướng quên đau lời tuyết hận

Non Hồng quét sạch nợ trần ai

Cờ tang điểm tướng nghiêm trang trận

Gót ngọc gieo  hoa ngát mấy trời

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa

Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi

Chàng ơi điện ngọc trơ vơ quá

Trăng chếch ngôi trời bong lẻ soi

NGÂN GIANG

GỬI NGÂN GIANG

Đã đẹp lại có tài

Dám yêu và dám sống

Sẵn sàng cuộc dấn thân

Dù ngục tù vào trận

 

Ngồi trên đỉnh quang vinh

Tặc lưỡi rồi tung hê

Chấp nhận quăng đi hêt

Chêt sống chẳng hề chi

Thi sĩ là như vậy

Có gì đâu thắc mắc

Chuyện tào lao cả thôi

Sống chết cái nhếch mép

Đã sống thì phải chêt

Trăm năm cuộc vuông tròn

Có gì đâu thắc mắc

Mà phải tính thiệt hơn

 Có thơ có tât cả

Ta và thơ không rời

Thơ không thể đồng lõa

Với những  lời dối trá

Thơ không thể  đồng tình

Với n hững kẻ sát nhân

Làm, thi sĩ khổ lắm

Nhưng vinh quang vô ngần

VƯƠNGTAN

 




Phan Tưởng Niệm : Qua Phố Chiều Xưa

Qua Phố Chiều Xưa

 

anh  về qua phố chiều tắt nắng

thành phố buồn tênh – thiếu vắng  em .

anh qua trường cũ – chiều xưa đợi

tìm lại dư hương – kỷ niệm xưa .

 

thời gian thắm thoát sao mau quá !

mới đó mà nay đã nửa đời

thành phố vẫn là thành phố cũ

người xưa giờ đã khuất – xa khơi

 

trường cũ – vẫn còn cây phượng vĩ

đứng nhìn ghế đá rũ rêu phong

lá rơi – từng chiếc vàng – lá rụng

gợi lại trong anh – phút chạnh lòng .

 

tuổi đời giờ đã – màu tóc bạc

còn lại gì đây !- kỷ niệm buồn

ước gì – trời đất xoay vòng lại

anh sẽ cùng em ngắm trăng rơi .

 

Phan Tưởng Niệm

Vĩnh Biệt Phương Triều

đã hết rồi những đêm thâu hội ngộ
ly rượu nồng tìm giấc ngủ chiêm bao
Phương Triều hỡi !- mới đây – thành quá cố
dòng thơ buồn – còn đâu để xôn xao !

xưa bút mực một đời vui ngạo nghễ
nay thi nhân ngồi tính chuyện Nam Tào
ngày từng ngày điểm danh bạn bè cũ
xem anh em còn, mất những người nào !

còn đâu nữa những đêm vui sum họp
rượu cạn ly trò chuyện tuổi về chiều
bè bạn cũ từng người đi ngủ vội
vừa Sĩ Trung giờ lại đến Phương Triều !

trang sách vở viết đầy tình thi bút
đời thi nhân tràn ngập nỗi niềm đau
xưa quê cũ từng đêm nghe tử khí
nay xứ người bè bạn tiếp xa nhau .

cuộc đời sao thoáng qua như giấc mộng
mới đêm về giờ đã sắp tàn canh
thôi chào nhé ! lần cuối lời vĩnh biệt
Phương Triều ơi ! dòng thơ mãi theo anh !

 

PHAN TƯỞNG NIỆM

 

 

Chuyện Tình Hư Ảo

chiều nay từ chỗ em ngồi
ta ôm nỗi nhớ nhìn đời đi qua
chiều nay nhìn mặt trời già
ta ôm chút nắng xót xa nỗi buồn

chiều nay qua lại con đường
nhìn cây đa cũ nhớ thương trăm bề
chiều xưa núp nắng đường quê
dưới cây râm mát – lời thề trăm năm

đêm nay từ chỗ em nằm
ta ôm gối lẻ gọi thầm tên em
đêm nay nhìn ánh trăng lên
ta ôm nỗi nhớ mông mênh tình sầu .

đêm nay ôm mảnh tình đau
gió thu se lạnh bên cầu trăng mơ
ta ngồi tìm chút nguồn thơ .
chút tình kỷ niệm – bên bờ lau xưa

Phan Tưởng Niệm

 

 

Đêm Chờ Sáng

Ta mở mắt _trừng nhìn đêm chờ sáng
Nghe niềm đau rả rích chảy về tim
Nếu mai mốt em về vòng tay lạ
Đời thênh thang _ cút bắt biết đâu tìm?!

Trời sắp sáng mà ta còn chưa ngủ
Nhớ về em qua giữa khoãng trời đêm
Nghe bên trái ngực đau _ tim vụn vỡ
Nghĩ mai này: em, kẻ lạ tình quen.

Trời sắp sáng mà ta còn chưa ngủ
Cứ nhớ hoài dòng sông nhỏ đêm mưa
Cơn gió thoảng ngút ngàn tình thánh thiện
Thức trắng đêm mà tình vẫn chưa vừa.

Tình đã hết còn gì thôi em nhé!
Đời hết vui _ dòng thơ nhỏ dư thừa
Ta viết vội bài thơ tình vĩnh biệt
Để em về bên bến lạ sông mê!

Phan Tưởng Niệm

 

Quê Hương Đâu Hỡi !

 
mai tôi về lại quê hương
xin nhen nhúm ngọn lửa hương tình người
chào nhau buổi sáng – nụ cười
em – môi má đỏ hồng tươi nắng vàng .

quê hương tôi ấy – đẹp sao
biển đêm sóng vỗ rì rào thông reo
trăng xuyên qua ngọn hải đăng
lung linh đáy nước bóng Hằng Nga soi .

mai tôi về lại quê tôi
qua vùng  Mỹ Thọ , lên đồi Đại Sơn
tìm xem bè bạn – Sư Đoàn
đứa về đất lạnh – đứa còn ra sao !

quê hương – đâu hỡi quê hương !
bao năm chinh chiến – nửa đời lưu vong
đất trời ngăn cách nửa vòng
mai xin về nhóm lửa hồng bên em .

Phan Tưởng Niệm

 

Chiều Phố Núi

chiều lên phố núi tìm em
đường qua Diệp Kính phố quen đợi chờ
xưa em nón lá bài thơ
dài tay lụa trắng , tóc thề ngang vai .

chiều xưa tay nắm trong tay
bên em phố núi – tình xây lâu đài
những ngày nằm đỉnh Chu Pao
màn sương đêm lạnh đếm sao nhớ người .

phố cao trời lạnh tháng giêng
nhớ cà phê quán Dinh Điền xưa quen
những ngày nghỉ phép chờ em
mòn con mắt đợi phố đêm lặng thầm .

xa quê cách biệt bao năm
ta về lên phố núi thăm – tìm người
tìm đâu ! nhìn lại nụ cười
cô em gái nhỏ một thời xưa yêu !

Phan Tưởng Niệm

 

 

Người Nhớ Người

 

ngập lòng buồn tím trên môi
ôi! sao nhớ quá cái thời xa xưa
cổng trường từng bước ta đưa
ngày em mới lớn tuổi vừa mười lăm .

mùa thu vàng lá đầy sân
hồn ta đầy nỗi bâng khuâng đợi chờ
áo em trước gió bay đưa
tim ta chín rụng mấy mùa buồn trông .

bổng chiều con sáo sang sông
bay qua xứ lạ bỏ lồng quạnh hiu .
sân trường từng bước mỗi chiều
mình ta với nỗi buồn hiu nhớ người .

Phan Tưởng Niệm

 

Cảm Ơn

cảm ơn con phố Qui Nhơn
cho tôi tuổi nhỏ và cơn mưa chiều
cho tôi ngày tháng thơ yêu
bên dòng Thị Nại – cánh diều thả bay .

cảm ơn đường nhỏ Duy Tân
dẫn tôi đến lớp vào sân trường đời
chiều hè nhặt cánh phượng rơi
ép trang sách vở – một thời thư sinh

cảm ơn con nước hữu tình
biển Ghềnh Ráng lặng đẹp xinh nắng chiều
mộ Hàn Mạc Tử buồn hiu
vầng trăng khuya lạnh mang nhiều xót thương .

cảm ơn trường nữ Trưng Vương
cho tôi níu áo người thương lớp mười
bây giờ tuổi quá năm mươi
chung chăn ấm lạnh khóc cười xẻ chia .

Phan Tưởng Niệm

 

Áo Lụa Trắng Em Qua

xưa lụa trắng – em về – phơ phới gió
tà áo bay – ngang cửa ngỏ nhà tôi
em e thẹn – cúi đầu che sách vở
tôi thẫn thờ – rồi tập tễnh làm thơ.

bài thơ tình – sáng ngẩn rồi chiều ngơ
dòng mực tím – từng canh khuya thức trọn
lời thi bút – nửa đêm dài nắn nót .
trao về em – sao tình quá hững hờ !

rồi một chiều – áo lụa trắng thôi qua
cây phượng đỏ – qua bao mùa rụng lá
tôi chờ đợi – mỗi sáng trưa chiều hạ
bao năm rồi – tình vẫn mãi bay xa .

biết bao chiều – hết hạ đến đông qua
tôi vẫn đợi – bên này trời thương nhớ
tôi vẫn đợi – dù bao muôn vạn thuở
chờ áo bay – áo lụa trắng em qua !

Phan Tưởng Niệm

 

Khẻ Gọi tên Em

Ghế đá lạnh . Chiều tan trường . Rộn rã
tuổi học trò thơ ngây . Ôi ! đẹp quá
ngôi trường xưa – sao chừ như xa lạ
thoáng chút buồn – nhìn mái tóc sương pha !

Mới hôm nào !chừ như thấy thật xa
dòng chữ nhỏ mỗi ngày in trang giấy
lá tình thư ta trao em ngày ấy
bút mực nào còn đậm nét tình say ?

Tiếng cười đùa – em cô bé thơ ngây
áo dài trắng tung bay giờ tan học
ta hôn khẻ không gian theo suối tóc
và ru hồn trong giấc ngủ mơ say .

Mới hôm nào giọng thỏ thẻ còn đây
em – cô bé nữ sinh tròn mười tám
đôi ánh mắt là nguồn sao trong sáng
ta lặng thầm nghe tim đập cuồng quay .

Ghế đá cũ trong sân trường còn đấy
dấu hình em soi bóng nắng lung linh
ta khẻ gọi tên em trong trống vắng
dù bên ngoài con nắng cứ lặng thinh !

Phan Tưởng Niệm