Hư Vô : Truyện ngắn = Đường Vào Bể Dâu
Hư Vô
Vì thích phiêu lưu, Đoàn Đình Thông tình nguyện sang Luân Đôn làm thông tín viên viết bài tường trình từ Âu Châu cho đài truyền hình CBC ở Montréal, Canada. Đến Anh quốc, Thông mãn nguyện phần nào với cuộc sống tự do, không còn bị gò bó trong bốn bức tường văn phòng như trước. Anh thầm tự hào với sự hiểu biết bốn thứ sinh ngữ của mình. Tuổi đời đã ba mươi, đẹp trai, nhưng Thông vẫn còn độc thân. Trong năm đầu làm việc ở Luân Đôn, anh tự nhủ nên sống độc lập để có thể đi đâu tuỳ thích và được làm việc theo sở nguyện. Tuy vậy, chẳng bao lâu Thông bắt đầu si mê Vũ Ngọc Thuý, người thiếu nữ anh gặp tại nhà hát thành phố trong buổi ra mắt vở kịch nổi tiếng. Thông có mặt vì nhiệm vụ ký giả, còn Thuý đến đấy để yểm trợ diễn viên nhà hợp tác tại hí viện Richmond, nơi nàng làm quản trị viên sân khấu. Chàng và nàng cùng uống rượu vang tại quầy tiếp tân. Đến mười giờ, vở kịch chấm dứt, Thông đề nghị lái xe đưa Thuý về vùng ngoại ô ở Surrey. Hôm ấy đang tiết tháng Sáu, bầu trời đêm trong xanh như mộng. Thông nghĩ Thượng Đế đã tạo Thuý riêng cho mình, vì anh vốn hạp nhãn với mẫu phụ nữ có thân thể cao lớn, rắn chắc như nàng. Anh thích mái tóc đen tuyền, phủ dài chấm vai và mùi hương thoang thoảng của bất cứ loại dầu gì nàng xức cho tóc óng mượt. Nhìn toàn diện, mặc dù đôi chân mày trên khuôn mặt Thuý khá rậm, mắt nàng sắc sảo, vành môi trên hơi lấn, lưỡng quyền cao, nhưng đối với Thông đấy là kiểu tướng cách của người phụ nữ kiêu hãnh, tính tình cương quả. Mỗi lần nàng cười thành tiếng, anh nghe âm thanh như có từ tính cuốn hút mình. Thông vẫn biết, loại đàn ông thích phụ nữ ẻo lã, sẽ cho Thuý là ”thô kệch”, nhưng đối với anh nàng lại rất ”văm”. Thông thích có đàn bà bên mình để ân ái trên giường chứ không phải để trình diễn với bạn bè ngoài đường phố hay trong phòng tiếp tân, và anh vẫn có thành kiến với loại phụ nữ đẹp ”mình hạc xương mai” vì họ thường yếu kém về sinh lý. Trong đêm đưa nhau về, chàng và nàng đã thấy phát sinh ngay tình cảm hổ tương. Dưới bầu trời đêm trong vắt, đứng trước cửa vào căn chung cư một phòng nàng thuê ở Richmond Hill, Thuý tuy nói lời tạm biệt nhưng vẫn chần chờ, nhìn Thông mê mẫn và bất chợt lên tiếng hỏi: – Anh đoan chắc là không vừa ở tù ra chứ? Bằng giọng nói hạnh phúc, chàng đáp: – Đã gặp em, có lẽ anh sẽ không bao giờ còn là người tự do nữa. Dứt lời, anh ra dấu hôn nàng, xong quay lưng, bước dọc dãy phố Royal Terrace đến chỗ đậu xe. Trên đầu dốc, Thông có thể trông thấy giòng sông Thames từ xa đang phản chiếu ánh sáng đèn thành phố trông như giải nước bạc đang uốn khúc dưới hàng cây đen ven bờ. Để thuận tiện gặp Thuý hàng ngày, Thông bỏ căn chung cư độc thân chật hẹp, dọn tới gian phòng anh thuê tại ngôi nhà trắng khang trang, rộng lớn nhìn xuống đồi cỏ Richmond Green thoai thoải dốc, có con đường mòn lượn quanh dưới những tàng lá xanh. Anh thấy có cảm tình ngay với Hoàng Thúc Trường, mà hàng xóm thường gọi thân mật là “ông Hoàng’, người chủ nhà rất thân thiện là giám đốc công ty buôn xe Ford lớn nhất trong vùng Surrey. Ông ta đã mua lại cơ sở này từ mấy năm trước nhờ tiền trúng số độc đắc nhằm lúc cao giá, một pound tiền tệ của Anh quốc bằng ba Mỹ kim. Có thể nói, ông Hoàng thuộc thành phần người Việt tỵ nạn giàu có ở thành phố Luân Đôn. Lần đầu tiên gặp mặt, ông đã niềm nở mời Thông: – Cậu vào nhà, uống chút gì giải khát. Lẽ đương nhiên anh không thể khước từ. Thông bước theo chủ nhà từ vườn sau đi xuyên gian bếp đến một căn phòng rộng, trên có những cây đà đen mun gác ngang trông thật chắc chắn, dưới sàn trải thảm Ả Rập đắt giá, và trang trí mấy bộ bàn ghế kiểu Jacobean sang trọng. Từ trên một tủ chè bằng gỗ quí, anh trông thấy ảnh gia đình lộng trong mấy khung bạc hình trái xoan. Chủ nhà rót whisky vào hai cái ly, vui sướng nhìn bọt rượu đang nhẹ nhàng sủi tăm và nháy mắt mời mọc. Thông lặng lẽ gật đầu hưởng ứng, mũi thoáng ngửi hơi men thơm phức đang tỏa rộng. Anh nhấp một chút cho mềm môi, chứ không vội, nghĩ thầm để gia chủ thưởng thức trước. Tự dưng Thông liên tưởng tới nét mặt Thuý, người tình mới quen. Thực ra, trong tứ đổ tường, anh thích đàn bà hơn rượu. Cả khách lẫn chủ cùng đứng uống rượu đúng kiểu ở Anh quốc. Được giây lát, bà Hồng, nữ gia chủ bước vào phòng. Bà liếc mắt vào chai rượu với vẻ không ưa, nhưng tươi cười nhìn Thông làm quen. Ông Hoàng hỏi vợ: – Chuyện bếp núc xong rồi hả? Người đàn bà đáp:- Chưa, hãy còn sớm! Xong, quay sang Thông, bà ta nói: – Anh dùng cơm tối với chúng tôi nhé, khỏi mắc công nấu nướng. Độc thân làm bếp chắc cực lắm! – Cám ơn ông bà! Xin khất lần khác. Tôi có hẹn với cô bạn làm việc tại nhà hát ở cuối phố. – Mới đến Anh quốc mà kiếm được đào ngay, giỏi đấy! Vừa nói, gia chủ vừa quay về phía bà vợ nháy mắt ra dấu. Ông Hoàng đã đến tuổi trung niên, nhưng mái tóc vẫn còn đen sậm. Thân hình to lớn, đôi cánh tay lúc nào cũng muốn mở rộng, choàng lên vai người đồng hành, bạn bè, thân nhân trong gia đình hay khách hàng, và mọi người hầu như không thể cưỡng lại nụ cười và đôi tay thân thiện của ông ta. Thông được biết bà vợ tên Đào Tuý Hồng, vì anh vẫn thấy tấm nhãn giấy nhỏ dán trên tờ báo giao tận nhà mỗi sáng. Bà Hồng thuộc loại phụ nữ năng động, mỗi ngày đều chịu khó lái xe xuống phố, xăng xái ra vào các cửa tiệm, mua đồ đạc, hoặc đi chợ. Tuy cũng đã xấp xỉ tuổi với ông chồng, bà vẫn thích mặc váy ngắn đến đầu gối, để lộ đôi chân trắng muốt có vài sợi gân xanh lan xuống tới đôi giày gót thấp. Quan sát đến đấy, Thông quay mặt chỗ khác vì không muốn nhìn tiếp, vừa lúc ông Hoàng lên tiếng: – Hãy tự nhiên, mời bạn anh đến chơi tuỳ thích, đừng ngại. Luật lệ nhà này là muốn mọi người vui vẻ. Bà Hồng hỏi bất chợt: – Bạn gái anh là nữ diễn viên chắc? Tính ra cuộc tình của Thông với Thuý đã được mấy tuần êm ả. Buổi sáng thứ bảy, cả hai thong thả dắt tay nhau dạo chơi trong công viên Richmond, ngắm nhìn bầy nai đang dẫm lúp xúp trong đám cỏ cao. Trông thấy bầy ruồi đen bay cách khoảng trên lưng chúng, Thông tưởng tượng mình như đang giữa vùng đất Phi Châu hoang dã. Ngày Chúa Nhật mưa, chàng lái xe đưa nàng đến Teddington thưởng thức trà kem tại ngôi quán tình tự Peg Woffington, mang tên người nữ tài tử nổi tiếng, một thời từng ở đấy. Một buổi tối tháng bảy, chàng đưa nàng bước vào ngôi nhà trọ ở ngoại ô vùng Twickenham vừa lúc gặp gia chủ, ông Hoàng đang ngồi ở chiếc bàn gần cửa sau với một người đàn bà có mái tóc đen tuyền. Cả hai đang đối ẩm tương đắc và ông ta âu yếm vuốt đôi bàn tay trắng muốt của nữ khách. – Chúng mình đi đâu vậy anh? Thuý hỏi khi Thông bất chợt kéo vội người tình vào một gian phòng khác và nói nhỏ: – Ông chủ nhà của anh đang ngồi với một người đàn bà lạ, không phải vợ ông ta. Đến lúc ông Hoàng đưa khách ra ngoài, từ khung cửa sổ Thông có thể nhìn thấy rõ vóc dáng hơi mập và mái tóc đen bóng, dắt bín rất kỹ. Anh tưởng tượng bà ta sẽ đẹp hơn nếu thả tóc xỏa tự nhiên. Thông để ý ánh mắt người đàn bà đen nháy, và biểu lộ sự thông minh. Sau đó, ông Hoàng thân ái dìu khách lên xe và rồ máy vụt đi. Nhìn cử chỉ của họ, Thông đoán hai người chắc đã biết nhau từ lâu. V ào một ngày, nghe Thông than bị ong đốt hành đau ở cổ và làm nhức cánh tay, ông Hoàng nói với vẻ thành thạo: – Chắc anh bị dị ứng với nọc của loài ong, để tôi gọi bác sĩ Lâm Thuý Trâm khám thử. Trong lúc nghe ông Hoàng gọi điện thoại lấy hẹn, Thông để ý, ông ta đang choàng tay trên vai mình. Văn phòng bác sĩ chẳng xa ngôi nhà cư trú nên Thông chỉ đi vài bước đã tới. Anh trố mắt ngạc nhiên khi thấy bác sĩ Trâm ra đón ở cửa. Thì ra đây là khách lạ hôm nọ đã ngồi trong nhà với ông Hoàng. Người nữ bác sĩ có vẻ chăm sóc anh đặc biệt. Trong câu chuyện xã giao, Thông được biết bà ta là bác sĩ riêng của gia đình nhà họ Hoàng từ lâu. Bác sĩ Trâm nói: – Ông Hoàng rất tốt bụng. Thông phụ hoạ: – Vâng, tôi cũng thích ông ấy. – Ông Hoàng chẳng nghĩ tới bản thân và thường giấu chuyện mình rất kỹ, có ai gợi chuyện, ông ấy cũng không hé môi. Nghe người nữ bác sĩ nói, Thông nghĩ bà ta muốn đề cập đến chuyện dan díu với lão Hoàng, nhưng anh thấy mình sai khi Bác Sĩ Trâm trao mảnh giấy kê toa thuốc, vừa tiếp lời: – Tôi đã khuyên ông Hoàng, ít nhất cũng nên nói thật với cậu con trai của mình những gì đã giữ kín bây lâu, giống như xưng tội, nhưng ông ấy không chịu. – Cậu con trai nào? – Người con trai duy nhất tên Hoàng Đình Thất, của hai ông bà chủ nhà anh thuê phòng ở trọ. Hình của cậu ấy để ngay ở bệ trên lò sưởi đấy. – Ủa! Tôi thấy trong ảnh người ấy mặc áo linh mục. – Phải, nhà họ Hoàng theo đạo Thiên Chúa, cậu Thất chọn con đường vào chủng viện và hiện nay đang làm quản nhiệm một họ đạo có đông giáo hữu người Việt ở Yorkshire. Thông cáo từ ra về, đầu óc nghĩ vẩn vơ về việc hai vợ chồng ông Hoàng có người con thuộc Giáo Hội Vatican và băn khoăn với ý nghĩ ông ta dấu biệt niềm bí ẩn riêng đối với người trong gia đình nhưng lại thố lộ với bà y sĩ, anh nhận thấy có gì bí ẩn trong cuộc sống của lão chủ nhà. M ột buổi tối, sau khi hưởng lạc vui sướng với Thuý tại gian phòng nhỏ bé của nàng trên đồi, Thông mệt mỏi giả từ người yêu trở về ngôi nhà trọ ở Richmond Green lúc trời đã khuya, anh ngạc nhiên thấy đèn vẫn còn thắp sáng và cửa trước vẫn chưa đóng. Nghe tiếng chân Thông rón rén bước vào, lão chủ nhà bất ngờ xuất hiện, cho biết gia đình đang có cuộc họp mặt quan trọng và ngỏ ý mới vào anh tham dự. Ông ta giới thiệu chủ, khách: – Đây là Thất, con trai chúng tôi. Còn đây, anh Thông, thông tín viên đài truyền hình CBC ở Canada, làm việc tại chi nhánh Luân Đôn và đang ở trọ nhà mình. Thông liếc mắt thấy có cả Bác sĩ Trâm. Anh để ý người linh mục trẻ có dáng vẻ rất trầm tĩnh. Trông thấy khách, ông đứng dậy niềm nỡ bắt tay. Bác sĩ Trâm ngồi riêng một phía trong chiếc ghế bành, hai tay nắm ly whisky với vẻ hồi hộp đợi chờ, môi mím và mắt mở lớn theo dõi mọi người hiện diện. Lão Hoàng cũng có ly rượu trước mặt. Bà Hồng và cậu con linh mục đang trong tư thế tình cảm có vẻ căng thẳng. Thình lình, nữ chủ nhân với giọng càu nhàu, lên tiếng giải thích: – Chúng tôi đang họp gia đình để giải quyết một số vấn đề bất lợi, xem phải đối phó như thế nào. Lão Hoàng tiếp lời vợ: – Tôi đã có quyết định. Đây không hẳn là vấn đề bất lợi vì đã có nhiều người mặc cả mua lại cơ sở thương mại của tôi với giá rất hời. Tuy nhiên tôi vẫn có thể tiếp tục sinh hoạt làm ăn khấm khá như bấy lâu nay, nhưng… Gia chủ dứt tiếng không nói hết câu, ngập ngừng với vẻ chờ đợi. Khung cảnh buổi họp đang chìm trong thinh lặng, bỗng bác sĩ Trâm góp tiếng: – Tôi đã làm mấy cuộc thử nghiệm và khám phá thấy triệu chứng bệnh tim sẽ không cho phép ông Hoàng hoạt động nữa… Bà Hồng quay nhìn cậu con trai, nói: – Tại rượu hành đấy! Lão Hoàng bàu chữa: – Uống rượu là thú vui của tôi, làm sao bỏ được. Quay sang Thông, ông ta giải thích, cố cho mọi người nghe: – Kế hoạch như thế này. Tôi đã thoả thuận giá cả người ta muốn mua lại cơ sở làm ăn của tôi, tuy không quá lớn lao nhưng cũng đủ để hài lòng. Sau khi thu xếp xong xuôi, tôi sẽ làm một chuyến du lịch sang Canada thăm các chiến hữu cũ và những nơi đã từng sinh hoạt trong thời tôi định cư ở đó. Đây là uớc nguyện cuối cùng của tôi trong những ngày còn lại. Thông để ý ông linh mục trẻ nhìn cha mình với ánh mắt thán phục và lên tiếng tán đồng ý muốn của lão Hoàng, cùng lúc như muốn giải thích cho những ai chưa biết quá khứ của ông ta: – Bố tôi trước kia là Chủ Tịch Cộng Đồng và Phòng Thương Mại Người Việt, trụ sở ở Trenton, Ontario. Chờ cậu con linh mục dứt lời, lão Hoàng nói tiếp: – Tôi chẳng hy vọng gặp lại đám bạn già đông đủ, nhưng ít ra cũng được vài người và đi thăm một số địa điểm quen thuộc. Dứt lời, ông ta nâng cao ly rượu, hướng về phía Bác sĩ Trâm như cố ý tìm sự thoả thuận. Bà bác sĩ chỉ khẻ gật đầu tán thành. Mấy tuần sau, lão Hoàng mua vé máy bay khứ hồi đi Canada. Tuy nhiên, cuối cùng, hãng hàng không phải trả lại tiền một lượt vé vì ông ta đã trở thành nắm tro tàn nằm trong lọ do bác sĩ Trâm mang về Luân Đôn. T hông giải thích hoàn cảnh nhà họ Hoàng cho Thuý nghe trong lúc cả hai đến xem vở kịch Dr. Faustus của Marlowe tại nhà hát Aldwych. Ngồi ở quầy giải khát nhâm nhi rượu gin hâm nóng, Thông nói: – Ông Hoàng thật tốt bụng, lần đầu tiên gặp mặt, tính thân thiện của ông ta khiến anh tưởng như quen nhau từ lâu. – Ông ấy chết thật tội nghiệp! Thông thở dài, tiếp lời: – Chắc tại cuộc sống cô đơn ở Canada, nhưng ông ta lại muốn thế. Bác sĩ Trâm cho anh biết lão mang bệnh từ lâu nhưng vẫn giấu gia đình cho đến giây phút cuối mới tiết lộ. Sau đó, mặc dù Thuý không muốn nghe chuyện buồn, Thông vẫn kể chi tiết cái chết đột ngột của lão Hoàng ở Trenton mà anh được biết. Một đồng nghiệp của Bác sĩ Trâm tại đó đã theo lời dặn trong tấm thẻ nhỏ lão Hoàng mang theo mình phòng khi bất trắc, điện cho bác sĩ riêng của gia đình nhà họ Hoàng về tin cái chết của ông ta. Cuối cùng, người nữ y sĩ tình nguyện đáp máy bay sang Canada nhận xác mang về cho gia đình. Bà Hồng đồng ý vì tin tưởng bác sĩ Trâm rành về vấn đề này. Tuy nhiên, sau cùng, do sự hiểu lầm từ phía những người trách nhiệm ở Trenton nên khi bà bác sĩ đến nơi thì xác ông Hoàng đã hỏa táng. Tuy ngỡ ngàng, nhưng bác sĩ Trâm thấy cũng tiện, bà gọi điện thoại viễn liên thông báo cho vợ goá của người quá cố biết, xong hôm sau mang nắm tro tàn thân xác của lão Hoàng đựng trong chiếc lọ sứ xinh đẹp màu da trời, trở về Luân Đôn. Đến nhà ở Richmond, hộp tro được bà Hồng đặt ở bệ gạch lò sưởi, bên cạnh tấm hình của người con linh mục, tức Hoàng Đình Thất. Câu chuyện chết chóc buồn thảm Thông kể làm Thuý mất vui suốt buổi tối. Tuy vậy về phòng Thông đêm đó, sau cuộc ái ân, tâm tính nàng trở lại bình thường và thủ thỉ yêu cầu chàng đừng kể chuyện lão Hoàng nữa. Sau đó, sự việc đã có nhiều biến đổi. Thuý băn khoăn vì Thông không còn đến gặp nàng nhiều như trước. Nàng không rõ chuyện giám đốc đài truyền hình CBC Canada đã yêu cầu Thông trở về văn phòng ở Montreal để thảo luận việc làm tương lai. Vì vậy, tâm trí Thông cảm thấy bất an khi được biết lý do anh bị triệu hồi về Canada là vì tình trạng ”thiếu hụt ngân sách”. Thông từ giả Thuý và hứa hẹn chỉ vắng mặt một thời gian ngắn rồi sẽ trở lại với nàng. Trước khi rời Luân Đôn, anh cũng ghé thăm bác sĩ Trâm nhưng bà không còn hành nghề. Người đồng nghiệp kể lại, vì chán lề lối kiểm soát hành chánh của Cơ Quan Y Tế nên bà không muốn mở phòng mạch tư nữa, mà chỉ làm việc lưu động với một số khách bệnh nhân đặc biệt cần đến bà mà thôi. Cuối cùng, vì hoàn cảnh thay đổi sau cái chết của ông Hoàng, bà đã di dân sang Canada, cư ngụ ở Montreal. Trong tuần lễ chuẩn bị rời Anh Quốc, mặc dù anh cố tránh né, Thông vẫn phải tiếp chuyện với bà Hồng mấy lần. Anh nhận thấy trong thời gian lão Hoàng còn sống, bà chỉ là chiếc bóng mờ trong gia đình vì ông ta có nhiều thế lực và tiền bạc, chỉ huy hết mọi việc. Bây giờ lão đã qua đời, bà Hồng bỗng nổi bật trước mắt Thông trong lúc anh vẫn còn tiếp tục trọ trong nhà. Từ đó, Thông mơ hồ nhận thấy người đàn bà cô đơn này có vẻ nguy hiểm và muốn đòi hỏi thứ gì anh không thể rõ. Tuy nhiên Thông không bận tâm mấy khi nghĩ mình sắp rời khỏi ngôi nhà trọ đã ở bấy lâu. Có một hôm, bà Hồng chận đường, mời cho được Thông vào ngồi ở phòng khách đã rót sẵn hai ly whisky. Ly rượu dành cho Thông không đầy, và ly của nữ chủ nhà chỉ có một lớp mỏng ở đáy. Bà Hồng mơ màng nhìn Thông nói: – Anh sẽ trở lại đây chứ? Tôi muốn biết anh tính sao về gian phòng đang thuê. Tuần trước, vì lo âu về việc chủ gọi trở về Montreal, Thông đã nói chuyện với bà chủ nhà là mình có thể bị mất việc làm, nên trả lời: – Tôi hy vọng vậy. Nhưng nếu gặp hoàn cảnh bất lợi, tôi sẽ thông báo bà biết ngay để cho người khác mướn. – Không phải tôi nghĩ về việc cho mướn gian phòng đó để kiếm lợi. Ông nhà tôi chết đi để lại ngôi nhà này và phần lớn số tiền bán cơ sở làm ăn, cả cậu con linh mục của chúng tôi cũng được thừa hưởng đầy đủ, nên tôi chẳng băn khoăn vì chuyện kiếm sống. Ngưng giây lát, để hớp một ngụm rượu, người góa phụ nói tiếp: – Sự kiện chính tôi muốn nhấn mạnh là sẽ nhớ anh. Đối với tôi anh đã trở thành gương mặt quen thuộc trong ngôi nhà này. Đối với những lời tâm tình của người góa phụ, Thông chỉ biết gượng gạo mĩm cười. Anh nhận thấy bà Hồng có vẻ già thêm sau khi chồng chết, mái tóc như cứng hơn và anh để ý làn da láng bóng như tráng sáp mỏng trên lưng đôi bàn tay người đàn bà đang vân vê ly rượu. Thông cảm thấy khó chịu vì hơi thở dồn dập và đôi mắt thèm muốn dục tình hiển hiện trên khuôn mặt chớm đỏ vì men rượu. Anh vội vả cáo từ và như loài hưu trốn chạy sư tử, Thông phóng nhanh ra lộ đi tìm Thuý. V ề đến Montreal, Thông được biết sự việc xảy ra đúng như nỗi lo của mình. Lão giám đốc, Huỳnh Đình Phát, mặc dù nói rất xã giao và xin lỗi đôi ba lần trong câu chuyện nhưng quyết định rút Thông khỏi Anh quốc như đã được lão ký trên giấy tờ. Đài truyền hình bây giờ chỉ mua bản tin Âu Châu khi cần thiết chứ không mướn người làm việc thường trực nữa. Do đó, Thông về đến Canada lần này chỉ để chờ đợi công ty tìm cho mình việc làm khác. Kết thúc buổi tiếp xúc, lão Phát an ủi Thông bằng câu tiếng Pháp địa phương: – Bien, c’est pas mal. Dù sao cậu cũng đã được một thời gian mãn nguyện phải không? Mừng cậu trở lại Montréal. Thông đáp bất đắc dĩ: – Ông giám đốc đã tính như thế, tôi phải nghe theo thôi! Tuy nói vậy, nhưng trong thâm tâm, anh quyết định phải trở lại với Thuý, không màng chờ đợi việc làm khác, vì tự thấy không thể xa nàng. Tuy nhiên vấn đề khiến anh nghĩ ngợi không ngớt là làm cách nào để có tiền tiếp tục sinh sống ở Luân Đôn. Không đoán được ý nghĩ của Thông, lão giám đốc, kéo hộc bàn lấy một tấm vé, trao cho anh và nói: – Bây giờ, tạm thời cậu hãy vui chơi đã! Vé đấu dã cầu giải Expos đây, đến xem giải khuây đi. Rời khỏi văn phòng đài truyền hình, Thông đến quán Rainbow ăn lót lòng và uống vài ly bourbon cho đã thèm vì loại rượu này hiếm thấy ở Anh quốc. Sau đó, anh đáp xe điện đến thao trường Olympic. Quang cảnh thật náo nhiệt, thiên hạ chen nhau chật ních xem trận đấu dã cầu hi hửu.Thông tạm thời quên mọi nỗi lo nghĩ, tính toán, để theo dõi. Trong một lần hai đội tạm nghỉ giải lao, anh bất chợt đứng dậy nhìn quanh đám khán giả đông đảo trong thao trường. Thình lình, Thông trông thấy lão Hoàng bằng xương bằng thịt đang cầm lon bia, ngồi ở sau lưng anh chỉ cách bốn hàng ghế và bác sĩ Trâm nói năng cười đùa bên cạnh lão ta. Thông chợt hiểu hai người đã lập mưu kế tinh vi, giả tạo cái chết để sang Canada chung sống. Từ đó, anh vừa theo dõi trận đấu, vừa nhìn chừng đôi nhân tình trung niên ở sau lưng mình. Đến lúc trận đấu Expos chấm dứt, thiên hạ kéo nhau về phía lối ra ở cổng thao trường, anh cố ý theo sau, và đối đầu với hai người ở bãi đậu xe. Thông lên tiếng trước: – Chào ông Hoàng! Tôi không ngờ mình còn gặp lại nhau! – À, Thông, mừng được gặp cậu ở xứ này. Trận đấu hào hứng hả? Từ khi sang làm ăn ở Luân Đôn tới giờ, tôi mới được xem lại môn dã cầu. Lão Hoàng nói chuyện tự nhiên như không có gì xảy ra. Cánh tay nặng nề của lão quàng trên vai Thông lúc cả hai đang ngồi ở băng ghế sau xe. Ông ta không tỏ vẽ lúng túng khi gặp lại anh, trong lúc Bác sĩ Trâm lái xe rẻ xuống phố, thỉnh thoảng liếc nhìn kính chiếu hậu, nét mặt lo âu. Thông không nói gì nhiều cho đến lúc xe về đến nhà hai người ở Westmount, gần khu công viên. Ngôi nhà mới của lão Hoàng không rộng lớn như ở Richmond, nơi anh từng thuê ở trọ tại Anh quốc, nhưng bên trong bày biện khang trang, ấm cúng, đúng mẫu lý tưởng cho đôi tình nhân yêu nhau ở. Thông chú ý tủ rượu của ông ta trong ngôi nhà mới này, cao, rộng hơn. Sau khi cả ba đã ngồi yên vị với ly rượu đầy trong tay, anh vào đề ngay: – Tôi mừng thấy ông còn sống mạnh khoẻ, nhưng dù không hay đả động đến việc riêng tư của người khác, tôi vẫn muốn biết câu chuyện ra sao? – Bây giờ cậu đã rõ rồi! Lẽ tất nhiên là mọi sự đều đã được nguỵ tạo để tôi có thể rời xa vợ tôi, sống với Trâm ở xứ này.” – Chỉ vì thế mà ông phải tính toán mọi việc một cách mưu mô như vậy? Đang ngồi rúc người vào mình lão Hoàng như đôi thú tìm hơi ấm nhau trong hang đất, Bác sĩ Trâm lên tiếng phụ họa: – Đúng thế! Nhìn cảnh hai người âu yếm, Thông chợt liên tưởng đến Thuý, người yêu đang cô đơn ở bên trời Âu. Ngưng giây lát, bà Trâm nói tiếp: – Ngay cả triệu chứng bệnh tim của ông Hoàng cũng do tôi phịa ra. Hai chúng tôi đồng lòng lập mưu như vậy, chứ thực ra ông ấy chẳng bệnh hoạn gì cả. Chúng tôi đã lừa bà Hồng và cậu con linh mục là ông Hoàng đã giữ kín bệnh tim của mình trong bao nhiêu năm vì không muốn gia đình lo âu. Sau đó, tuyên bố đã tới lúc trầm trọng, ông cần phải ngưng công việc làm ăn để du ngoạn thăm viếng những nơi chốn có kỷ niệm xưa, kể cả quê hương Việt Nam, trước khi chết, thực hiện ước vọng của ông, nếu không, chẳng bao giờ còn cơ hội, và cả hai tin ngay, không hề thắc mắc như anh đã biết trong đêm hôm đó. – Nhưng làm sao bà có thể móc nối với một bác sĩ ở Canada để chứng nhận cái chết của ông ta? – Chẳng có ai cả, ông Hoàng chỉ cần gởi tin thông báo cái chết bằng chữ ký giả mạo. Sau đó, tôi đưa bà Hồng xem và thuyết phục để tôi lo toan mọi việc. Đáp máy bay tới Montreal, tôi mua một bình đựng di cốt xong trở về Luân Đôn. Còn nắm tro bên trong tôi lấy tại lò sưởi ở nhà. Thông nói với vẻ phản đối: – Hai người tính thì hay đấy, nhưng tôi nghĩ chẳng có gì kín nhẹm được mãi dưới ánh mặt trời. Châm thêm rượu vào ly, lão Hoàng điềm nhiên hỏi: – Tại sao không chứ? Tôi biết chẳng ai có lý do gì để tìm hiểu sự thật, vì bác sĩ gia đình đã xác nhận tôi chết và chính bà ấy mang tro tàn về. Trong khi vợ con tôi, mỗi người đã được hưởng một phần gia tài và sản vật đáng kể thì còn gì để thắc mắc? Chỉ có những người cần phải điều tra về cái chết của tôi là bọn bảo hiểm, nhưng may mắn là tôi không hề bảo hiểm sinh mạng mà đã tự tích trữ tiền bạc trong bao nhiêm năm để thực hiện mưu toan này… Bác sĩ Trâm ngắt ngang lời lão, góp tiếng: – Anh ấy đâu có lấy của cải đi hết. Trong mấy năm sau này, ảnh chỉ rút bớt tiền trong các vụ làm ăn, mua kim cương để về sau, mang theo lúc rời khỏi Anh quốc. Hiện nay chúng tôi sống với tài sản đem được ra xứ ngoài và số tiền riêng tôi dành dụm được. – Nhưng vì sao hai người phải toan tính rắc rối làm gì? Ông có thể ly dị bà vợ để cưới người khác ngay ở Anh, có sao đâu? – Làm sao đơn giản như vậy được? Anh quên mất cậu con của tôi là linh mục đạo Thiên Chúa sao? – Tôi vẫn thấy ông phải tính toán quá rắc rối để loại trừ một bà vợ mà ông đã chán. – Không hẳn vậy. Tôi lại thấy khoái với những toan tính của mình. Anh phải nhìn nhận là sự nhàm chán thường làm khổ con người. Dứt lời, lão Hoàng choàng tay qua vai bác sĩ Trâm, kéo người yêu vào lòng và cả hai cùng cười mãn nguyện. Xong, quay sang Thông, ông tiếp tục: – Ngoài ra, bà Hồng hay ngăn cấm tôi uống rượu. Điều này thật vô lý. Bà ấy đã đoạt mất niềm vui của chồng. Đối với tôi, rượu rất cần thiết cho cuộc sống. Trâm trái lại, biết chìu chuộng ý thích của tôi. Chúng tôi đã du lịch nhiều nơi, hưởng thụ cuộc sống và bây giờ dừng chân nơi đây. Bầu không khí trong ngôi nhà này thật ấm cúng với tiếng nhạc, với những câu chuyện kể về kỷ niệm, về thương yêu về ước vọng. Nâng ly rượu lên cao, lão lớn tiếng: – Anh phải biết, đây là hạnh phúc tôi hằng trông mong. Bây giờ tôi có thể nhóm lên bất cứ lúc nào như nhóm ngọn lửa ấm trong lò sưởi mùa đông. Nét mặt lão Hoàng bỗng sa sầm thoáng buồn lúc kết thúc câu nói: – Ở nhà bên Anh quốc, bà Hồng đâu chịu cho tôi được như thế này. Tôi cứ phải trộm thì giờ để vui chơi đây đó với Trâm. Bà vợ tôi thật khó tính, và ích kỷ, chỉ nghĩ riêng đến bản thân mình nên không thể thông cảm với tâm tình của chồng. T rở về khách sạn tạm trú, Thông băn khoăn mãi vì câu chuyện của đôi uyên ương trung niên Hoàng và Trâm. Anh không trách vấn đề lương tâm trong mưu toan của hai người, trái lại Thông cảm nhận hoàn cảnh của cả hai đã tạo trong anh một ý tưởng hay. Sáng hôm sau, thức dậy, Thông đã biết phải làm gì. Ăn điểm tâm xong, anh gọi điện thoại cho lão Hoàng:- Tối qua mãi nghe chuyện ông kể nên tôi không thể trình bày hoàn cảnh của tôi. Trong câu chuyện Thông cho lão chủ nhà cũ biết anh đã bị mất việc làm ở Luân Đôn, và sẽ rất khổ sở nếu không còn được sống với người yêu ở đó. Cuối cùng Thông kết luận: – Thú thật với ông Hoàng, bây giờ tôi chẳng biết xoay sở ở đâu cho có tiền để trở lại Richmond sinh sống đến lúc tìm được việc làm khác… Nói đến đây, Thông ngưng bặt chờ đợi. Bên kia đầu dây, lão Hoàng cũng im lặng dường như để suy tính. Cuối cùng, ông ta lên tiếng với giọng thoáng chút bực dọc: – Tôi hiểu ra rồi! Anh muốn được ở gần người yêu bên Anh quốc, chúng mình có điểm giống nhau là cùng vì tình yêu. Thôi được, để tôi giúp anh một số tiền, năm ngàn đô la được không? – Cũng được. Tiền mặt nhé, ông Hoàng.! Thông nhận tiền vào ngày hôm sau để trang trải một ít chi phí khách sạn, xong gói hành lý và bỏ vé máy bay vào túi, lên đường. Thông để ý trong lần tiếp xúc này, lão Hoàng và Trâm không hề mời anh ngồi hoặc mời nán lại dùng ly rượu. Thông chỉ biết chụp vội bao thư đựng tiền, đỏ mặt bước nhanh ra khỏi nhà, tự biết hai người đã trả tiền để mong anh đi cho rảnh mắt, và có ý muốn bịt miệng khi anh trở lại Richmond. Tuy nhiên Thông dịu ngay cơn ngượng khi nghĩ đến sự kiện lão Hoàng cũng như Trâm đã gian dối để chung sống với nhau và anh may mắn được biết rõ mưu mô của hai người, dại gì không lợi dụng cơ hội để nhờ cậy? Đến Anh quốc, Thông mới thấy năm ngàn Mỹ kim đổi ra đồng pound cũng chẳng giúp anh kéo dài cuộc sống thất nghiệp được bao lâu. Trọ một mình ở gian phòng trong ngôi nhà to lớn của bà vợ cũ lão Hoàng, anh có cảm tưởng người đàn bà vẫn lặng lẽ theo dõi, dòm ngó mình. Bà ta thường kiếm cớ nhờ cậy để được gần Thông, lúc thì chỉnh TiVi, khi thì phụ dời cái bàn, và trong lúc tiếp xúc, bà Hồng hay biểu lộ nhiều cử chỉ khêu gợi, mời mọc. Để tránh né hoàn cảnh cám dỗ, Thông thường phải vắng mặt ở nhà trọ, đi ăn tối lang thang với Thuý tại các hàng quán. Một hôm, nàng bất chợt hỏi người yêu: – Anh thất nghiệp, tiền đâu có mà xài vậy? – Đừng lo, tiền anh dành dụm. Và cũng như mọi lần, Thông cố thuyết phục Thuý di chuyển sang Canada để anh có thể tiếp tục việc làm với đài truyền hình CBC. Tuy nhiên mỗi lần như vậy, Thông đều thất bại vì người yêu nhất quyết ở lại Anh theo đuổi nghề nghiệp. Thuý chỉ muốn tiến thân từ Richmond đến nhà hát thành phố tại West End ở Luân Đôn mà anh không thể nào lay chuyển được quyết tâm của nàng. Chẳng bao lâu, Thông lâm tình trạng tài chánh sa sút. Mặc dù thỉnh thoảng anh viết bài cho tờ The Listener kiếm chút tiền nhưng chẳng đủ thiếu vào đâu. Nếu vẫn còn tiếp tục ở bên này bờ đại dương, Thông sẽ không được công ty trả lương. Anh thấy giai đoạn bế tắc đã gần kề khi tiền trong túi cạn dần. Thông cố gạt bỏ ý tưởng làm tiền lão Hoàng. Nhưng cuối cùng, trở về phòng trọ lúc trời hãy còn mờ sương, sau một đêm ân ái mặn nồng với Thuý, anh tự thấy không thể nào xa người yêu trở về Canada để tránh cảnh bế tắc tiền bạc, trái lại anh thấy cần thiết phải ở bên nàng hơn bao giờ hết. Ngày hôm sau, anh gọi điện thoại đến Montreal. Bên kia đầu dây, không tỏ chút ngạc nhiên nào khi nghe tiếng Thông, lão Hoàng nói: – Tôi không ngờ với số tiền đó, cậu lại có thể ở Luân Đôn lâu như vậy. – Xin lỗi, tôi cần thêm tiền để ổn định cuộc sống… – Vì sao cậu lại nghĩ tôi phải trả tiền cho cậu nữa chứ? – Nếu ông không chấp nhận, tôi có thể gây rắc rối cho ông. – Rắc rối như thế nào? – Ông đã chuyển tiền lậu ra khỏi nước Anh, vi phạm luật tiền tệ của xứ này. – Cậu sẽ chẳng làm gì được tôi vì không có bằng cớ. Tôi đã lo toan chu đáo lắm. Sợ cậu không chứng minh được đấy! – Ông cũng đã nguỵ tạo cái chết của mình. Đấy cũng là việc làm phạm pháp. – Trâm đã lo giấy khai tử giả để bà Hồng có thể hưởng gia tài của tôi. Anh chỉ có thể dựa vào đấy mà thôi. Anh thực sự muốn Trâm bị rắc rối hay sao? – Tôi sẽ nói hết cho vợ ông biết. Bà ta trước sau gì cũng sẽ thưa hai người ra toà. – Được anh cứ thực hiện ý định của mình. Dù sao tôi cũng hứa sẽ trả tiền cú điện thoại viễn liên này cho anh. Dứt lời, lão cúp phone. Thấy không thể làm gì hơn, hôm sau, Thông lại thuyết phục Thuý theo anh về Canada sinh sống. Tại đó, anh mới có thể xoay sở việc làm đủ cho hai người chi dụng và anh được ở bên người yêu. Tuy nhiên, nàng quả quyết: – Em nói lần cuối cho biết, em đã được nuôi dưỡng lớn lên ở đất nước này nên không muốn thay đổi gì cả. Anh nghe ra chưa? Sau hết, hy vọng chót để Thông có thể mỏi tiền cũng không còn trên cõi đời, thật bất ngờ, đó là cái chết của linh mục Hoàng Đình Thất ở Yorshire. Ông ta tử nạn vì bị xe đụng đang lúc trên đường về sau khi thăm viếng gia đình một tín hữu có đứa con gái đi hoang. Niềm an ủi cuối cùng của bà Hồng đã tiêu tan trong lần lên miền Bắc nước Anh để tiển đưa cậu con linh mục qua đời đến nghĩa trang trong khu đất thánh của họ đạo. Bốn ngày sau, bà trở về ngôi nhà rộng lớn ở Richmond, lòng buồn vô hạn. Bây giờ Thông suy nghĩ có nên kể cho bà Hồng nghe việc chồng bà đã lập mưu bỏ vợ để đi xây tổ uyên ương với người khác hay không. Trước khi ông linh mục qua đời, Thông đã có ý định nói với bà Hồng: ”Bà phải giúp tôi phương tiện để tiếp tục sống ở Anh, nếu không tôi sẽ nói cho con bà biết, ông ta có một người cha tội lỗi đã lừa dối vợ để sống với Bác sĩ Trâm ở Montreal.” B à Hồng đứng ở chiếc bàn cũ đặt bên hè nhà, đang trồng hoa vào chậu kiểng lúc Thông sắc mặt chẳng được vui, rời khỏi phòng. Nhận ra ngay thái độ bất an của người đàn ông trẻ thuê nhà, bà hỏi ngay: – Anh có chuyện gì vậy? – Chẳng có gì quan trọng… Vừa nói, anh vừa chú ý quan sát người đàn bà trung niên có nét mặt tròn trịa mập mạp với mấy sợi tóc bạc trong mớ tóc đen bó gọn bằng chiếc khăn cột túm sau ót, và thâm tâm nghĩ nên cho lão Hoàng một bài học.Tự dưng Thông thấy lòng oán hận nổi dậy vì ý tưởng, nếu không tiền, bắt buộc trở về Canada, bỏ Thuý lại thì anh cũng phải làm sao để lão Hoàng phải trở về đây đương đầu với trách nhiệm cho bỏ ghét… Thông tiếp lời: – Sự thực thì cũng có chuyện để nói. Trong thời gian trở về Montreal, tôi đã khám phá được một câu chuyện gian dối kinh khủng.. Nhận thấy vẻ khác thường trong thái độ của Thông, bà Hồng thân mật nắm tay anh dắt đi dưới bóng mát của giàn hoa hồng, vừa nói: – Anh vào trong nhà đã, tôi pha trà uống rồi hãy nói tiếp. Trong lúc ấm nước sôi rít thành tiếng và bà Hồng cho trà vào ly, Thông kể nhanh câu chuyện đã được biết về lão Hoàng với người yêu Lâm Thuý Trâm của lão ở Canada. Nghe anh nói, từ đầu đến cuối, bà Hồng vẫn giữ thái độ im lặng. Chờ Thông hớp ngụm trà, bà nhìn vào mắt anh nói: – Tôi biết hết mưu toan của họ, nhưng vẫn bằng lòng để cho hai người đó ra đi. Thông há hốc miệng, ngạc nhiên không thể tưởng: – Bà đã biết, nhưng.. – Tôi với ông chồng đã thỏa thuận không để cho cậu con linh mục biết gì cả. Ông ta có thể ra đi, miễn là những ngày còn lại của tôi được sống bảo đảm sung túc và ông ấy phải làm cái chết giả tạo để tránh con tôi, Linh mục Thất, có thể phản đối mạnh vì cha mình đã bỏ mẹ đi xây tổ uyên ương với người đàn bà khác. Do đó, tôi đâu bận tâm chuyện riêng tư của ông ta. Tội nghiệp anh quá, nếu con trai tôi còn sống, anh có thể dọa lão Hoàng để moi tiền được, vì lúc nào ông ta cũng cố tỏ cho cậu con tu hành thấy bố là người đạo đức. – Bà Hồng đừng chế nhạo nữa. Thú thật, tôi si mê Thuý nên muốn ở lại Richmond, khổ nỗi không thể kiếm được việc làm ở đây. – Nói thật, tôi cảm thấy thích vì lần đầu tiên được nghe anh gọi đích danh tên tôi. Dứt lời, nữ chủ nhà đứng dậy, có lẽ định bưng hai chiếc tách tới chỗ rửa, nhưng trước khi bước đi, bà dừng lại sau lưng Thông và nói ngập ngừng: – Tôi có ý nghĩ muốn đề nghị với anh… Thông lắng nghe, cố chờ xem bà Hồng nói gì. Bà ta thong thả tiếp lời: – Tôi có khá tiền, dư sức để tôi và anh chung sống. Chắc anh cũng đã biết, từ ngày Linh mục Thất qua đời, tôi rất cô đơn. Anh có thể dọn khỏi căn phòng trọ chật hẹp đó, để ở chung trong ngôi nhà lớn này với tôi. Đang nói, người đàn bà trung niên bỗng ngưng giây lát như để dò phản ứng của Thông, xong tiếp: – Tôi sẽ không phản đối việc anh tới lui với Thuý vì nghĩ anh hãy còn thanh niên, tràn đầy sinh lực, nếu anh chịu chia xẻ tình yêu với tôi thì anh vẫn có thể tiếp tục sống lâu dài ở đây mà không phải lo tới chuyện tiền bạc… Thúy thoáng ngạc nhiên khi thấy Thông đến với nàng đêm nay, chưa làm gì đã vội vào phòng tắm. Và trong cơn mây mưa, nàng nhận thấy anh không còn mạnh bạo hùng hổ như trước. Thuý không thể rõ vì tình và vì tiền, Thông đã phải cung phụng sinh lý đều đều cho hai người đàn bà cùng mạnh về tình dục. QUANG THIỆNQuang Thiện : Ngôi Nhà Trọ

Làm Sao Anh Biết,
|
Quang Thiện : Tuyệt Vọng
TUYỆT VỌNG
|
|
Một người chẳng thể nào không tin có ma khi chính họ trở thành ma. Tôi tự treo cổ chỉ vì một chuyện buồn ghê gớm, nhưng nghĩ kỹ thì sự kiện cũng không đến nỗi phải tuyệt vọng, nên tôi thấy hối hận ngay lúc vừa thực hiện xong ý định của mình. Sau khi đạp ngã chiếc ghế, tôi muốn nó đứng lại chỗ cũ, nhưng trọng lực đã khiến ý muốn của tôi trước đó phải tuân theo tình huống xảy ra. Chiếc ghế nằm trên sàn nhà không thể tự đứng lên được và sức nặng chín mươi lăm ký-lô từ thân xác tôi không ngớt trì xuống, làm chiếc thòng lọng tự động siết chặt chung quanh cổ.
Tôi cảm giác cơn đau ghê gớm vừa phát xuất từ cuống họng, và nhận ra sự kiện lạ khi đôi gò má bỗng phình to đến đổi có thể thấy hai đỉnh tròn đỏ nhô cao. Tôi chỉ biết giương đôi mắt thống khổ nhìn về hướng cửa phòng, mong có người vào để cứu mình, mặc dù biết trong nhà chẳng còn ai khác và cửa chính đã được khoá cẩn thận. Chân tự dưng vùng vẫy dữ dội làm thân xác tôi đong đưa, xoay tròn ở cuối sợi dây, khiến có lúc tôi nhìn thấy cửa chính, lúc thấy cửa sổ. Ðôi tay tôi run rẩy bấu sát ở cổ, cố sức tháo gỡ chiếc thòng lọng đang siết vào da thịt, nhưng chẳng thể nào nới lỏng nổi.
Có điều lạ là dù thân xác đang trong hoàn cảnh hốt hoảng vì chuyện sinh tử, trí óc tôi lại tĩnh táo để có thể quan sát toàn cảnh từ xa, tạo cho tôi cảm tưởng mình có mặt ở khắp nơi trong gian phòng cùng một lúc, ngay cả trong thể xác oằn oại vì đau đớn, đồng thời ở bên ngoài không gian để thấy thi thể mình đang co giật từng chặp, thấy sợi dây thòng lọng chắc chắn, cây xà nhà cứng cáp và thấy cả đôi chân đèn điện không cùng kiểu đang tỏa sáng, soi hai bóng đen cựa quậy trên tường. Tôi thấy được cả cánh cửa phòng khóa kỹ, bức màn trắng ở cửa sổ có tấm mành kéo xuống che kín. Tôi nghĩ mình đã chết thật sự và lúc này dù ước muốn cách mấy, sự sống cũng chẳng thể nào trở lại vì tôi vĩnh viễn không còn cơ hội để chọn lựa.
Tôi tên Hùng, Trần Xuân Hùng, với niên kỷ sinh, tử bây giờ là 1938-1977, đã tự kết liễu đời mình lúc chỉ còn một tháng nữa thì đến tuổi đời bốn mươi ba, dù nghĩ những buồn khổ bấy lâu nay chẳng quan trọng lắm để đến đổi phải chọn cái chết. Tuy nhiên, tôi tự đổ lỗi cho hành động của mình vì nhiều lý do như tôi từng qui trách hầu hết những sai lầm và thất bại trong đời, cũng như vì tình trạng bất lực sinh lý và hiếm muộn của mình. Nếu tôi có thể tạo ra con thì hôn nhân của tôi chắc đã vững vàng, Vân không ngoại tình và tôi chẳng đến nỗi phải quyên sinh vì buồn phiền.
Mùa này ở miền duyên hải mặt trời lặn sớm và biến cố xảy ra vào lúc bảy giờ chiều, trong gian phòng dành cho khách tại nhà tôi ở Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa. Tôi là nhà thầu kiến trúc và buôn bán địa ốc có chút tiếng tăm tại thành phố miền biển này. Tuy nhiên, mấy năm trở lại đây vì tình hình chiến tranh và cũng vì nền kinh tế quốc gia xuống dốc nên vấn đề thu nhập lợi nhuận của tôi có phần giảm sút. Từ văn phòng về tới nhà chưa tới sáu giờ, tôi thấy ngay mảnh giấy nhỏ vợ tôi đặt trên bàn dưới phòng ăn, với mấy chữ viết vội: "Em có chuyện gấp cần phải gặp Tuấn, anh tự lo liệu bữa ăn tối. Xin lỗi anh nhen. Vân."
Có thể nói, Tuấn là tình nhân của vợ tôi. Anh ta làm chủ một cửa hiệu bán bàn ghế và hàng kỷ niệm ở cuối con phố chính từ Nha Trang đi Sàigòn. Ðể tiêu khiển thì giờ nhàn rỗi, Vân tình nguyện làm thư ký coi sóc và thu ngân với đồng lương chẳng đáng bao nhiêu tại cửa hàng của hắn. Tôi biết nàng và Tuấn thường hú hí với nhau ở gian phòng nhỏ đàng sau tiệm vào những buổi chiều cửa hàng ế ẩm, chẳng có mấy du khách ra vào. Tuy rành chuyện cả hai tư tình với nhau suốt hơn ba năm qua, tôi vẫn chưa có quyết định dứt khoát đối với khám phá của mình về chuyện vợ nhà ngoại tình. Thực ra, tôi tự nhận lỗi về phần mình nên hầu như chẳng có ý định gì cả cho dù nàng và Tuấn công khai ăn nằm với nhau. Vì vậy, tôi vẫn giữ im lặng dù không hài lòng với tệ trạng của vợ nhà như vậy. Có thể nói, tôi rất bất mãn, và phẫn uất vì ý nghĩ mình là người chồng bạc phúc.
Trước đây, tôi đã cố tình tự tử mấy lần. Lần đầu tiên, tôi tính húc vào xe tải chạy ngược chiều để chết cho mau, nhưng tới giây phút chót, lại bẻ tay lái né tránh trong tiếng còi của thiên hạ chửi rủa. Lần thứ hai, tôi lái xe lên đỉnh đồi cao ở Cầu Ðá định lao xuống biển sâu mất hút, nhưng cuối cùng đã đạp thắng dừng lại, xong ngồi lặng lẽ cả giờ đồng hồ, trán ướt đẫm mồ hôi vì sợ hãi, rồi sau đó, de xe ra về. Trong lần thứ ba, tôi ngừng ngang đường rầy ở ngoại ô thành phố chờ suốt hai mười phút vẫn chẳng thấy xe lửa đến, rốt cục, cơn buồn tức nguôi ngoai, tôi lái xe về.
Sau đó, tôi có ý định quyên sinh bằng cách cắt cườm tay cho máu ra hết, nhưng chẳng đủ cam đảm để tự cứa mảnh kim loại sắc bén vào da mình. Hình ảnh miếng thép sáng chạm vào cườm tay trần đã khiến cơn uất ức trong tôi tự dưng tan biến. Mãi cho tới lần kế tiếp tôi mới thành công với sợi dây thòng lọng oan nghiệt.
Ðôi chân tôi tiếp tục vùng vằng trong không khí và móng tay cào điên cuồng ở cổ họng. Ðôi mắt tôi như muốn lồi ra khỏi hốc sọ, trợn dọc một cách ghê rợn, nhìn đôi gò má phồng cao tím bầm. Tôi có cảm tưởng lưỡi đang nở lớn, trám kín khuôn miệng, làm nghẹt thở. Thân xác tôi chao động, lòng thòng như món đồ chơi buộc ở đầu dây. Cơn đau thể chất thật khủng khiếp, khiến tôi hầu như chẳng thể nào chịu nổi lâu dài. Sự đau đớn tưởng còn tệ hơn dao bén lóc da xẻ thịt. Chiếc vòng ở cuối sợi dây càng lúc càng siết chặt làm cổ họng nhức buốt tận cùng xương tủy và tôi có cảm giác đầu phình lớn vì áp suất bên trong muốn phá vỡ để thoát ra ngoài. Khuôn mặt tôi bây giờ tím đen, phình to, chẳng còn hình dạng người, tạo cho tôi cảm tưởng áp suất trong đầu đã lên đến cực điểm như nồi súp de đầy hơi sắp nổ tung. Tôi phải chịu đựng cơn đau khủng khiếp tiếp diễn tưởng chừng bất tận.
Ðôi chân tôi co giật càng lúc càng dữ tợn hơn. Hai cánh tay như dãn ra và đôi bàn tay buông thỏng sang hai bên hông ở ngang đùi, mấy ngón tay co giật cố tìm cách bấu víu vào vải quần. Sợi dây treo căng thẳng đứng nhưng đầu tôi ngoẹo hẳn sang bên. Trong chốc lát, thân xác tôi quay chậm lại tựa như chùm đá mỏng phong linh tạo âm thanh, treo trước hàng hiên, lắc lư nhè nhẹ dù vào ngày không có gió thoảng.
Ðến lúc này, cơn đau ở cổ họng và trong đầu tuy có giảm bớt nhưng chưa dứt hẳn. Ðôi mắt mất thần nở to bắt đầu đổi xám và tròng khô hẳn, không còn ướt át bóng láng mà trở thành như hai viên sạn sỏi, tuy nhiên, tôi vẫn có thể nhìn thấy bằng tầm mắt mở rộng, thân xác bị treo của mình đang quay chầm chậm. Tôi bất chợt kinh hãi khi nhận ra tôi đã thật sự lìa bỏ cõi đời.
Dù đã chết, tôi vẫn thấy mình hiện diện trong phòng với cơn đau vật vã còn âm ỉ ở cổ họng, với cảm tưởng sức ép phồng to trong đầu dù tôi không còn ở trong nhục thể bằng xương bằng thịt đã chết treo lủng lẳng. Tôi thấy mình có thể hiện diện ở khắp nơi trong phòng, gián tiếp tựa như luồn ánh sáng, chẳng xuất phát từ nguồn cội nào cả. Trong trạng thái như sương như khói bay, tôi băn khoăn chờ đợi bất cứ chuyện gì xảy ra và ngây dại vì nỗi sợ kỳ lạ và cơn đau liên tục.
Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra, tôi lại chờ. Thân xác tôi bây giờ đã dừng yên, đôi chiếc bóng in trên tường ngưng chao động. Hai ngọn đèn đặt bên giường vẫn tiếp tục tỏa sáng, cửa chính vẫn khóa và màn cửa sổ vẫn che kín. Làm gì bây giờ? Tôi muốn hét thật lớn tiếng câu hỏi của mình, nhưng không thể được. Dù những phần thực thể chẳng còn, tôi vẫn cảm giác đau ở cổ, miệng khô khốc. Mọi ý tưởng và hành động phấn đấu của tôi lúc nảy bây giờ nằm im trong tiềm thức, dù tôi chẳng còn thân xác, chẳng còn não bộ. Thể chất tôi không còn thì nói gì tới bản ngã của mình. Tôi chẳng còn sức để có thể nói thành tiếng, để di chuyển khỏi gian phòng này hoặc rời khỏi sợi thòng lọng cột ở xà nhà. Bây giờ tôi chỉ có thể hiện diện tại chỗ, băn khoăn, khắc khoải vì chờ đợi.
Qua chiếc đồng hồ treo trên tủ áo kê đối diện giường ngủ, tôi nhìn thấy con số 7 giờ 21 phút lúc biến cố bắt đầu, như vậy, đã hai mươi phút kể từ lúc tôi đạp ngã chiếc ghế và có lẽ tôi tắt thở lìa đời đã mười lăm phút, mà chẳng có gì thay đổi.
Ðến lúc đồng hồ chỉ 9 giờ 11 phút tối, tôi mới nghe chiếc xe Volkswagen của Vân chạy vòng ra sân sau nhà. Tôi không viết giấy để lại vì tin tưởng xác chết của chính mình đã đủ nói lên nhiều thứ, tôi có ý nghĩ là sẽ không hiện diện nơi đây khi Vân tìm thấy tôi. Thực ra, tôi đã ngụy biện cho hành động của mình, để bây giờ thấy hối hận vô cùng vì đã làm chuyện điên rồ. Tôi cũng đã ngụy biện khi cho rằng không muốn thấy mặt Vân bước vào dù nàng đã bất công với tôi và là nguyên nhân cho hành động tự sát của tôi, nàng phải biết điều đó. Thực lòng tôi chẳng muốn giáp mặt Vân.
Cơn đau bỗng dưng gia tăng ở chỗ từng là cổ họng, là đầu của tôi. Nghe tiếng cửa sau dập ở xa xa dưới cầu thang, tôi di chuyển nhanh trong phòng tựa như làn khí mỏng bị nhốt trong lọ kín. Tiếng Vân vọng lên thình lình:
– Hùng ơi? Anh Hùng? Em về nè!
Nghe nàng gọi, tôi nghĩ nên rời đi chỗ khác ngay, nhưng không thể được. Bây giờ tôi như một linh hồn hay một hình bóng chỉ có thể vờn lượn chung quanh. Bực tức, tôi nghĩ được xuống địa ngục vẫn còn hơn ở đây đối mặt với nàng.
Vân lên lầu, qua ngang trước cánh cửa gian phòng dành cho khách khoá kín và tiếp tục lên tiếng gọi lúc vào phòng ngủ, giọng có chút lo âu. Nàng lại qua ngang ở bên ngoài hành lang, xuống thang lầu rồi mọi sự trở lại yên tĩnh như cũ.
Vợ tôi đang làm gì? Chắc là tìm mảnh giấy chồng có thể để lại. Nhìn qua cửa sổ thấy chiếc
Ðàn bà ai cũng thích có con, Vân cũng vậy. Do đó, tôi không bao giờ đổ lỗi tuyệt tự cho nàng mà chỉ thầm qui trách chính mình. Ngay từ thời gian đầu mới cưới nhau, Vân đã thổ lộ điều mong ước, và sống với nhau, tôi nghĩ nàng đã thấy rõ ảnh hưởng ở chồng nên qua một thời gian khá dài, Vân chẳng nhắc đến nữa, nhưng tôi hiểu rõ tâm trạng của nàng.
Khúc gỗ xà nhà tôi dùng giăng dây treo cổ, phần gỗ nguyên thủy cứng chắc của ngôi nhà vẫn còn dấu búa rõ ràng do thợ mộc thời xưa đẽo gọt từ một thân cây già cỗi, có thể chịu đựng sức nặng thân xác tôi vĩnh viễn hoặc ít nhất cũng cho tới lúc người ta khám phá và cắt dây hạ xác xuống.
Ðồng hồ chỉ đã 9 giờ 23 phút, như vậy Vân lẩn quẩn trong nhà đã mười hai phút. Nàng lại lên lầu, tiếng bước chân nghe vội vã và nhẹ nhàng trên những bậc gỗ cứng, tiến tới gần, dừng giây lát, chần chờ, rồi nàng lại gọi tên tôi: – "Hùng ơi? Anh Hùng?" Tôi thấy tay nắm lay động, nhưng cửa phòng đang khóa với chìa còn để nguyên bên trong. Muốn vào nàng phải gọi người mở hay phá cửa. Như vậy, Vân không thể là người duy nhất tìm thấy tôi. Ý nghĩ làm tôi tự dưng tràn đầy hy vọng khiến cơn đau giảm bớt.
Vân lại gọi: – "Hùng? Anh ở trong đó hả?" Chẳng nghe tiếng đáp, nàng lại gỏ cửa và lay động tay nắm, gọi thêm mấy lần nữa rồi thình lình vụt chạy xuống thang lầu. Chốc lát sau đó, tiếng nàng từ xa vọng đến, nghe không rõ. À, vợ tôi đang gọi ai qua điện thoại. Tuấn, tôi tin chắc là nàng gọi hắn. Tự dưng tôi thấy khản ở cổ họng, mong cho mọi sự chóng kết thúc. Tôi muốn thân xác đã chết và linh hồn còn sống của tôi được mang đi, xin tất cả hãy chấm dứt sớm.
Vân vẫn còn ở dưới lầu, đợi tình nhân nàng đến trong lúc tôi ở trên lầu chờ bọn họ. Chắc Vân đã biết nàng sẽ thấy gì trong gian phòng khóa cửa ở trên lầu, nên tiếp tục ở dưới nhà.
Tôi chẳng bận tâm nếu Tuấn vào đây, vì đối với tôi, hắn chẳng là gì cả. Tôi chỉ quan tâm tới Vân. Ðồng hồ chỉ 9 giờ 44 phút, thì có tiếng bánh xe nghiến trên sân sỏi ở bên hông nhà. Kế đến, tôi nghe hai người nói với nhau ở dưới lầu, giọng đàn ông trầm, chậm, trấn an, lẫn với giọng đàn bà trong trẻo, mau, đầy vẻ hoảng hốt, rồi cả hai tiến lên lầu, không nói với nhau lời nào nữa.
– Hùng ơi! Mở cửa coi!
Sau khoảnh khắc im lặng, giọng Vân nghẹn ngào:
– Chắc anh ấy không làm gì bậy chứ?
Có lẻ bực dọc vì câu hỏi của nàng, Tuấn gặng hỏi:
– Làm bậy? Ý em nói gì chớ? Làm bậy gì?
– Dạo sau này anh Hùng bị khủng hoảng tinh thần dữ lắm!
Cánh cửa thình lình rung động mạnh. Chắc Tuấn dùng sức tông vào. Cùng lúc, hắn nói: – Em đừng hoảng hốt. Bình tĩnh đi.
Tiếng Vân đáp: – Ðáng lẽ em không nên gọi anh tới đây. Hùng ơi! Anh Hùng! Trả lời em đi!
Tuấn thắc mắc: – Tại sao chớ? Tại sao anh không nên tới đây?
Mặc hắn hỏi, Vân không trả lời, nàng tiếp tục gọi:
– Hùng ơi! Mở cửa đi, đừng làm em sợ!
Tuấn hạch xách: – Tại sao em nói không nên gọi anh tới?
– Hùng đâu có ngu. Anh ấy…
Hai người bỗng ngưng bặt giây lát, rồi có tiếng thì thầm. Chắc nàng và Tuấn nghĩ tôi còn sống trong này nên không muốn tôi nghe nàng nói:
– Tuấn à! Anh Hùng biết hết chuyện tụi mình.
Tiếng xì xào nhỏ dần, rồi tiếng Tuấn bỗng nhiên bật lớn:
– Ðáng buồn cười quá! Hùng, ra đây đi, tụi mình sẽ nói dứt khoát!
– Anh không mở cửa, tụi này sẽ vào đấy. Vân, còn chìa khóa nào khác không?
– Chờ em chút, hình như các khóa cửa trên lầu đều trùng nhau.
Vân nói đúng, chỉ cần chiếc chìa khoá mỏng chính là có thể mở hết các cửa phòng ở trong nhà. Tôi chờ đợi, lắng nghe nàng đi tìm chiếc chìa khóa và biết cả hai sẽ sớm trở lại. Tôi bất giác lo âu với ý nghĩ Vân sẽ bước vào gian phòng này trong lúc tôi chỉ là chiếc bóng mờ như ảnh phản chiếu từ một tấm gương lõm. Nếu không muốn nhìn nàng, tôi phải làm sao? Lúc còn sống, tôi có mí mắt để nhắm lại tùy ý, nhưng bây giờ tuy vẫn hiện diện, tôi lại không thể nào làm được như vậy.
Tiếng chìa xoáy trong ổ khóa rít nghe bén ngót như cạnh mảnh sắt bén chạm vào cổ, trí nhớ của tôi về cổ họng thì đúng hơn. Cơn đau bỗng dưng tái hiện, lan tỏa trong tôi. Vân chợt lên tiếng hỏi có chuyện gì. Tuấn đáp: – Chìa khóa chính còn kẹt ở bên trong.
Vân than van: – Tuấn, anh Hùng làm gì trong đó?
Hắn đáp cộc lốc: – Ai biết được! Chắc phải tháo cửa ra thôi. Em gọi thằng Hải đi, bảo nó đem đồ nghề tới luôn.
– Anh đẩy chìa khóa vào không được hay sao?
Tôi biết Tuấn làm được, nhưng hắn nói, giọng quyết định:
– Ði, làm theo lời anh đi!
Tôi chắc hắn biết sẽ mở được nên muốn Vân tránh chỗ khác để chỉ mình hắn bước vào. Tôi thầm phục Tuấn có cao kiến.
Giọng Vân ngờ vực: – Ðược! Em sẽ gọi thằng Hải.
Tôi nghe nàng điện thoại gọi Hải. Hắn có mái tóc bồm xồm, nước da sậm và hiện đang ở chung với Tuấn. Hải là người khéo tay, đa tài, có thể làm bất cứ gì. Vân từng kể tôi nghe hắn có thể sửa mọi thứ máy móc và làm mọi việc từ thợ sơn, đến thợ nề, thợ mộc.
Thình lình tôi nghe tiếng chuyển động ở ổ khóa. Dường như Tuấn muốn mở nhanh cửa gian phòng này trước khi Vân trở lại. Ý tưởng khiến tôi tự dưng cảm kích sự tế nhị của hắn. Như vậy, chứng tỏ Tuấn cũng chẳng đến nỗi bất hảo. Dù có ăn nằm với vợ tôi, trên tòan diện hắn không hẳn là người có tâm địa xấu. Tôi chết rồi chẳng biết Tuấn có thành hôn với Vân hay không? Hai người có thể sống trong ngôi nhà này và với tư cách là chủ tiệm bán bàn ghế, hắn có phương tiện trang trí hơn tôi. Nhưng nghĩ lại, có thể vì gian phòng này đã xảy ra tai họa ghê gớm nên Vân chắc phải bán để tìm chỗ ở khác? Nếu bán nàng sẽ chẳng được giá, vì từng sống trong lĩnh vực kiến trúc và buôn bán địa ốc, tôi biết một ngôi nhà đã có người tự tử sẽ rất khó bán. Cho dù có quảng cáo thế nào chăng nữa, thiên hạ với bản tính vốn sợ những chuyện siêu nhiên, vẫn tin căn phòng này bị ma ám. Ý tưởng khiến tôi sực nhớ chính mình đã là hồn ma ám gian phòng này. Tôi là ma! Lần đầu tiên nghĩ tới mấy chữ này tôi hết sức ngỡ ngàng. Thật khốn khổ, tôi đã là ma bay bổng ở đây, một thứ không xương không thịt mà vẫn biết mình đang hiện diện trong gian phòng này. Bây giờ tôi đã trở thành loại ngoại chất tựa như sương mai phảng phất đêm ngày, vĩnh viễn cô đơn, thành tên ngốc khốn khổ chứng kiến mọi người tới lui mà không thể nói, không thể tiếp xúc. Chắc chắn vợ tôi sẽ bán ngôi nhà này. Nàng ở trong thế bắt buộc phải làm vậy. Phải chăng tôi đang bị trừng phạt, bị đày đoạ trong địa ngục thanh vắng dành cho kẻ tự kết liễu đời mình để mãi mãi là thứ vô tri giác bị một lực mạnh hơn trọng lực khống chế ở nơi chỉ có những người một đời không đạt thành gì cả.
Những ý tưởng thống khổ trong tôi chợt tắt khi chiếc chìa gắn ở bên trong ổ khóa thình lình chuyển động, cựa quậy như một sinh vật, rồi rơi xuống như thể tự nhảy ra, đối với tôi chẳng khác gì một người lao xuống vực thẳm quyên sinh. Sau tiếng chìa khóa rớt khô khan trên sàn phòng thì cánh cửa bỗng bật mở và Tuấn ngước khuôn mặt xám nhìn sắc diện tím ngắt trên thi thể tôi. Hắn mở to mắt ra vẻ kinh hoảng hoặc ngỡ ngàng giây lát, khiến tôi chẳng biết hắn có cảm tưởng gớm ghiếc hay khinh bỉ? Xong hắn lui ra, đóng ập cửa lại. Tiếp theo là tiếng khóa và tôi nghe Tuấn chạy vội xuống lầu.
Ðồng hồ chỉ đã 9 giờ 58 phút. Như vậy hắn đã nói hết với Vân, lấy thức gì cho nàng uống để trấn an. Bây giờ có thể hắn sẽ thông báo cảnh sát và bàn với Vân có nên nói thật mối tình vụng trộm giữa hắn với nàng cho nhà chức trách biết? Hai người sẽ quyết định như thế nào?
Kim đồng hồ lại chỉ 10 giờ 7 phút tối. Tôi băn khoăn vì sao đã lâu chẳng thấy động tĩnh? Tuấn chưa gọi cảnh sát chăng? Thình lình có tiếng Vân chạy vội trên mấy bậc cấp thang lầu, vấp váp, té ngã, rồi những nắm tay yếu ớt đập mạnh ở cửa. Nàng không ngớt gọi tên chồng. Tôi co rút ẩn trốn ở góc phòng, thầm mong nàng đừng vào, vì không muốn Vân thấy tôi trong tình huống ghê rợn như thế này.
Chắc Tuấn đang ở bên cạnh, nên nàng la hét thì hắn thuyết phục, nàng nổi giận, hắn cãi, nàng yêu cầu, hắn từ khước:
– Anh đưa chìa khóa đây! Ðưa chìa khóa cho em!
Tôi nghĩ chắc hắn sẽ giữ chặt, sẽ đưa nàng đi chỗ khác vì hắn mạnh, nhiều sức lực hơn. Nhưng không, rốt cuộc, hắn phải trao chìa khóa cho nàng. Ý nghĩ khiến tôi kinh hãi thật sự. Vân bước vào phòng, nhìn thân xác tôi treo lủng lẳng một lúc rồi hét lớng tiếng, giọng thật khủng khiếp. Tiếng thét dường như chẳng phải của người mà là của bất cứ sinh vật nào đang lâm cảnh tuyệt vọng tột cùng, khiến tôi chẳng thể nào quên. Bây giờ tôi mới hiểu rõ thế nào là tuyệt vọng nên tự cho hành động của mình thật tàn nhẫn.
Bây giờ thì đã quá muộn. Tuấn cố gắng trấn an Vân, ôm vai dìu nàng ra khỏi phòng, nhưng nàng gạt hắn ra rồi băng qua gian phòng rộng tiến tới… trong lúc tôi đang hiện diện khắp nơi, bị cơn đau cùng chịu sự hối hận dằn vặt… thì Vân tiến thẳng về phía xác chết và đứng nhìn với vẻ đầy tiếc thương. Nàng nhớm chân sờ vào gò má sưng phồng ở thi thể đã tắt thở và nghẹn ngào nói, giọng rên rỉ: "Anh Hùng! Em thật không ngờ anh lại tự đối xử với chính mình như vậy!"
Tự dưng tôi cảm nhận một cơn đau khủng khiếp lan khắp như từng xảy ra trước khi lìa đời. Cơn đau khó tả ở cổ, sự căn phồng khó chịu ở đầu; hai thứ này làm tôi oằn oại vì bị đau đớn cùng khắp một lần nữa, tuy nhiên, tôi chẳng cảm giác được bàn tay người vợ yêu dấu đang đặt trên mặt mình.
Tuấn theo sát bên, ôm vai, gọi tên nàng. Lập tức Vân dịu lại, nhưng chỉ được chốc lát, nàng bật khóc, nhào tới ôm choàng và giữ chặt đôi chân thi thể chết treo, rồi khóc than nức nở, lẩm bẩm những lời đứt quãng, không thể nghe rõ.
Cuối cùng, Tuấn dùng sức mạnh tháo gỡ tay Vân khỏi xác chết, dìu nàng ra khỏi phòng rồi đóng ập cửa. Trong chốc lát, thi thể tôi lại lắc lư, quay tròn một lúc mới dừng hẳn. Thật tệ, tôi phải trải một đêm dài dằng dặc ở đây, trở thành hồn ma ngu đần, ám chính nơi mình chết và phải chờ bao lâu mới được giải thoát? Thật khủng khiếp, tôi nghĩ không có hoàn cảnh nào tệ hại hơn. Vân sẽ tiếp tục cuộc sống, sẽ bán ngôi nhà và theo thời gian nàng cũng như tôi sẽ quên dần biến cố này. Tuấn sẽ cưới nàng. Vân chỉ mới ba mươi sáu tuổi đời, vẫn còn có thể làm mẹ.
Suốt khoảng đêm còn lại, tôi nghe nàng khóc than rấm rứt ở đâu đó trong nhà. Cuối cùng, đại diện nhà chức trách đến. Hai nhân viên nhà xác vẻ mặt lầm lì, tiến vào phòng, cắt dây hạ thi thể tôi xuống. Họ quấn xác chết như món đồ chơi dập nát trong tấm vải trắng, xong đặt lên cáng, khiêng ra ngoài.
Tôi vẫn nghĩ mình chắc bị bắt buộc phải theo thân xác đã lìa đời ra đi và lo sợ linh hồn có thể bị chôn theo với xác để chịu giam hãm trong bóng tối của chiếc hòm đến thiên thu, như một vật vô giá trị, nhưng cuối cùng mới biết xác chết ra đi mà tôi vẫn ở yên tại chỗ.
Khi người ta khiêng xác chết đi, để hở cửa phòng, tôi có thể nghe trong những giọng nói có tiếng thằng Hải đơn điệu với cá tính càu nhàu, đôi lúc ồn ào, từ dưới lầu vọng lên. Tuy nhiên, vấn đề chính trong chốc lát này đáng để tôi chú ý là ông y sĩ vừa được gọi tới. Ông ta cho Vân uống thuốc an thần trong lúc nàng tiếp tục khóc than vật vã và nói nhanh những lời tự trách oán như sợ không đủ thì giờ:
– Anh Hùng chết là vì tôi! Lỗi ở tôi tất cả! Hùng ơi! Anh Hùng ơi! Lỗi tại em hết!
Nàng lập đi lập lại câu nói nhiều lần trong tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi hằng mong mỏi bấy lâu nay thái độ của nàng như lúc này, bây giờ mới thấy. Những gì tôi ước muốn phải tới giờ phút cuối trong đời mới được ban phát. Tất cả mọi diễn biến hiện tại, đối với tôi, thật ngoài sức tưởng tượng. Thực ra, tôi không muốn chết và cũng không cố ý hành hạ vợ mình phải khổ tâm như vậy! Hơn nữa tôi cũng không thích hiện diện tại đây để chứng kiến và nghe Vân kêu van than thở.
Cuối cùng, mọi người thuyết phục được nàng nín lặng. Một nhân viên cảnh sát, trong bộ y phục chẳng mấy tươm tất, cùng với Tuấn tiến vào phòng và lắng nghe hắn thuật lại những gì xảy ra. Người cảnh sát với vẻ mặt nhăn nhó, có vẻ nhìn chăm chú đoạn dây treo cổ còn cột quanh cây xà nhà hơn là nghe Tuấn nói. Tới lúc hắn ngưng tiếng, ông ta hỏi bất chợt:- Anh là bạn thân của người chết?
– Vợ hắn làm việc cho tôi tại cửa hàng Thanh Hải ở đại lộ Thống Nhất, bán bàn ghế và các mặt hàng trang trí .
Ngần ngừ giây lát, người cảnh sát lại hỏi:
– Anh để bà Vân vào chỗ này thấy hình ảnh ông Hùng chết làm chi?
Tuấn cười giả lả, đáp: – Cá tính bà ấy mạnh hơn tôi. Chắc ông cũng biết rồi, các bà muốn là được mà.
Tôi ngạc nhiên nhận thấy hắn nói đúng. Có điểm hắn phải yếu hơn Vân. So với nàng và hắn thì chính tôi là người yếu nhất.
Người cảnh sát tiếp tục: – Anh biết vì sao ông Hùng làm vậy không?
Tôi để ý Tuấn do dự giây lát, khoanh tay, mắt nháy không ngớt như người đang đứng trước ánh đèn pha chói lọi, một lúc lâu hắn mới nói:
– Tôi nghĩ anh ta nghi ngờ bà vợ ngoại tình, dan díu với tôi.
Người cảnh sát nhìn hắn bằng ánh mắt khó chịu, hỏi:
– Mối nghi ngờ này đúng chứ?
– Chắc đúng!
– Bà ấy đã ly dị chồng chưa?
– Không, không có chuyện ly dị vì Vân rất yêu thương chồng, còn tôi đâu ăn thua gì.
– Vậy sao bà ấy ăn nằm lang chạ với người khác?
Tuấn lắc đầu trước câu hỏi của người nhân viên công lực và nhấn mạnh:
– Bà ấy có lang chạ với ai khác đâu. Họa hoằng lắm mới ăn nằm với tôi thôi.
– Chi vậy?
– Chắc là để tìm an ủi.
Ðang nói hắn bỗng ngưng giây lát, ngước mắt nhìn sợi dây, tựa như xác tôi vẫn còn ở đấy, rồi thận trọng tiếp lời, nhưng giọng úng túng:
– Thực ra Hùng là người tính khí rất khó khăn và bất thường nên tình trạng gia đình ngày càng đen tối.
Người cảnh sát phụ họa: – Phải rồi! Người vui đâu có quyên sinh!
– Tôi cũng nghĩ vậy. Hùng lâm tinh trạng khủng hoảng hoài, lúc nào cũng tiềm tàng sự giận hờn. Có lẽ vì vậy mà công việc làm ăn bị ảnh hưởng, mất khách hàng, đồng thời anh ta làm Vân khốn khổ. Nhưng nàng vẫn không bỏ chồng vì yêu thương hắn. Tôi chẳng biết, khi hắn chết rồi, nàng sẽ làm gì và sống như thế nào.
– Bộ hai người không tính chuyện cưới nhau hay sao?
Trước câu hỏi của người cảnh sát, Tuấn cười gượng gạo, vừa nói:
– Không đâu. Bộ ông nghĩ chúng tôi giết hắn rồi sắp đặt làm như hắn tự tử chết để sau đó ăn ở nhau hay sao?
– Tôi không có ý nghi ngờ anh, nhưng vấn đề gì đã ngăn cản anh với bà Vân chung sống với nhau luôn, bộ anh có vợ rồi hả?
– Tôi chẳng có vợ con gì cả. Chỉ có điều bất thường là tôi thuộc loại đàn ông thích đời sống đồng tính luyến ái.
Người cảnh sát tỏ vẻ rất ngạc nhiên đối với sự thú nhận của Tuấn còn hơn là tôi. Ông ta hỏi gặng: – Anh nói gì? Tôi chưa hiểu rõ lắm.
– Tôi sống cặp đôi với chàng trai trẻ tên Hải đang ở dưới nhà kia. Vì chẳng thích bị đàn bà khống chế nên tôi không muốn lập gia đình với người khác phái. Riêng Vân, tôi rất mến và thấy tội nghiệp cho cuộc sống của nàng với Hùng. Tôi đã nói là thỉnh thoảng tôi mới có liên hệ xác thịt với nàng, nhưng thực ra chẳng bao giờ tôi được ưng ý để phải bỏ lối sống trái thiên nhiên của mình.
Người cảnh sát hỏi, giọng thắc mắc:
– Ông Hùng có biết sự thật như anh nói hay không?
– Tôi cũng chẳng rõ, vì ông hỏi tôi mới trình bày, chứ đâu thể tự dưng nói cho ai nghe.
Người nhân viên công lực nhăn mặt nhìn quanh gian phòng một lúc, xong lên tiếng:
– Ðược, thôi đừng đứng đây nữa.
Hai người quay lưng bỏ đi, không đóng cửa phòng, nên lúc họ xuống lầu, tôi nghe ông cảnh sát hỏi: – Tối nay có ai ở lại đây không? Tôi thấy chẳng nên để bà Vân ở nhà một mình lúc này.
– Bà ấy có họ hàng ở ngoài Thành. Tôi đã gọi điện thoại báo rồi, ở đó vào đây không xa chắc trong vòng một giờ họ sẽ đến.
– Anh cũng ở lại chứ? Bác sĩ bảo thuốc sẽ giúp bà ấy ngủ, nhưng lỡ…
– Lẽ dĩ nhiên là tôi tạm ở lại để chờ thân nhân bà ấy đến.
Tôi chỉ nghe được chừng ấy. nhưng có tiếng đàn ông thì thầm lâu hơn ở dưới nhà, rồi ngưng bặt. Kế đến là tiếng xe rời đi.
Tôi nghĩ đàn ông và đàn bà thật phức tạp và thường có những hành động đôi khi đơn giản nhưng nhiều lúc thật ngu xuẩn. Tự xét, tôi chưa bao giờ hiểu ai thấu đáo, ngay cả chính bản ngả của mình tôi cũng chỉ có thể biết được phần nào.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi người cảnh sát rời đi, ngay trong đêm, Tuấn trở lại căn phòng tôi đã tự tử. Bước vào với bộ dạng có vẻ gay cấn, khinh bỉ, xem xác chết như vẫn còn ở đó, hắn dựng ghế dậy, leo lên và tháo sợi dây dừa khỏi xà nhà một cách khó khăn, xong cuộn tròn, lơ đểnh nhét vào túi, để ló ra ngoài một khoảng lòng thòng. Xong việc, hắn kéo ghế để vào chỗ góc, vô tình đúng vào vị trí cũ. Sau khi nhặt chìa khóa khỏi sàn đút vào ổ khóa, hắn tắt hai ngọn đèn ở bên giường rồi rời khỏi phòng, đóng ập cửa lại sau lưng.
Bây giờ tôi ở trong bóng tối mịt mù, chỉ còn chút ánh sáng lờ mờ từ dưới khe cửa chính hắt vào và ánh lân tinh từ mấy con số trên mặt chiếc đồng hồ treo. Tôi có cảm tưởng mỗi phút trôi qua dài dằng dặc. Vô tình, chiếc đồng hồ đã trở thành kẻ thù của tôi vì sự chậm rãi, cố kéo lê từng phút, từng giờ, khiến tôi không thể chịu đựng nỗi. Phải đợi thật lâu tôi mới thấy kim chỉ con số kế tiếp. Sáu mươi lần như vậy mới được một giờ. Tự vấn không thể chờ đêm dài bất tận như đêm nay thì làm sao tôi có thể đợi mãi tới thiên thu? Và làm sao tôi có thể chịu được tâm trạng bứt rứt vì sự hối hận hành hạ trí óc? Tôi tự thấy nổi khổ sở này còn ghê gớm hơn là cơn đau thể xác, vì dường như chẳng bao giờ nguôi ngoai. Tôi đã nghĩ đúng về chuyện của Vân với Tuấn nhưng cùng lúc tôi là người bất trí, tuyệt vọng chẳng đáng, nên đã có hành động sai lầm tai hại. Có thể tôi đúng với cuộc sống của mình, nhưng nghĩ lại vẫn sai và cái chết của tôi tưởng là phải nhưng rốt cuộc chỉ là ngu xuẩn. Bây giờ có muốn sửa đổi cách mấy tôi cũng không thể làm gì được. Mọi khuynh hướng hành vi tối ám của tôi đã kết thúc bằng sự ăn năn thống hối, bằng niềm đau ghê gớm hơn tất cả mọi sự.
Tôi có cả đêm dài để suy tư, để cảm nhận nỗi khổ và chờ đợi mà chẳng biết mình chờ gì, chỉ biết là phải chờ đợi mãi mãi. Tôi thoáng nghe tiếng người anh rể và chị của Vân tới, rồi những câu chuyện thì thầm. Kế đến, Tuấn và Hải ra về. Chẳng bao lâu sau đó, cửa gian phòng dành cho khách, nơi tôi đã quyên sinh bỗng bật mở rồi đóng ập lại ngay, chẳng ai dám bước vào. Ðược chốc lát thì đèn ở hành lang trong nhà tắt ngấm và bây giờ chỉ còn ánh sáng lờ mờ lân tinh ở mặt đồng hồ tỏa ra trong đêm đen.
Tôi băn khoăn tự hỏi chừng nào sẽ lại được gặp Vân. Nàng có còn bước vào gian phòng này nữa hay không? Nếu có, chắc nàng không còn kinh hãi như lần đầu, nhưng tôi biết, dù sao Vân vẫn sợ.
– oOo –
Hừng đông làm tấm che cửa tối đen trở thành mờ xám, và bây giờ có thể thấy mờ mờ mọi thứ trong gian phòng tịch mịch buồn nản. Tôi nghĩ bên ngoài chắc bầu trời đang âm u, chẳng bao giờ sáng nỗi. Ngày tiếp tục trôi qua từng phút kéo dài trên chiếc đồng hồ, đối với tôi chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Ðã có lúc tôi kinh sợ vì người bước vào gian phòng này, nhưng bây giờ tôi lại cầu nguyện cho ai đó hoặc bất cứ thứ gì cũng được, và nhất là sự hiện diện của Vân để phá tan sự vắng vẻ buồn chán bất tận. Nhưng dù tôi ước mong thế nào, ngày vẫn chầm chậm trôi mà chẳng có gì xảy ra, không động tĩnh, không có dấu hiệu sinh hoạt ở đâu cả. Có lẽ người ta đã cho nàng xử dụng thuốc an thần để ngủ mê man suốt ngày đầu tiên biến cố xảy ra.
Mãi đến lúc chạng vạng, đồng hồ chỉ 6 giờ 52 phút tôi thấy có người bước vào. Thoạt đầu tôi chẳng nhận ra hắn. Một người có nét mặt đăm chiêu giận dữ, nhưng quả quyết. Hắn nhanh nhẹn tiến vào phòng bằng những bước rời rạc vô hồn. Sau khi bật sáng đèn ở hai bên giường, hắn đóng cửa bằng sức mạnh bất bình thường, xong vặn khóa, để nguyên chìa trong ổ. Thái độ hắn có vẻ uất ức tột cùng. Ðến lúc hắn từ chỗ cửa quay mặt vào, tôi không tin ở mắt mình khi nhận ra hắn chính là tôi. Tôi đã chết rồi mà! Nếu như vậy tôi còn sống chăng? Làm sao được?
Hắn tiến tới góc lấy chiếc ghế mang ra để giữa phòng rồi bước lên. Trời đất, không thể nào như thế được!
Ngay sau khi chiếc ghế rời khỏi chân đứng, tôi muốn nó trở lại chỗ cũ, nhưng trọng lực đã khiến ước muốn ban đầu của tôi phải tuân theo sự việc đang xảy ra hiện tại. Chiếc ghế đang nằm trên sàn không thể tự đứng lên được và sức nặng 95 ký lô từ thân xác tôi không ngớt trì xuống từ chỗ đầu sợi dây thòng lọng ở quanh cổ….♣
Quang Thiện
Thế Phong : NỮ NHÂN NGƯ, H.C. ANDERSEN…
NỮ NHÂN NGƯ, H.C. ANDERSEN… THẾ PHONG dịch , Nxb Thanh Niên 2003….
hay là :
“ THẾ PHONG ( S. 1932 – ) KHÔNG PHẢI LÀ” THẾ PHONG” DỊCH VẬT” TRÊN BÌA SÁCH TRUYỆN DỊCH H.C. ANDERSEN”- NỮ NHÂN NGƯ ”, Nxb Thanh niên 2003 ….”
Thế Phong
————————-
Lời dẫn:.- ….vào < google / search / nhà văn thế phong > ( Images, web trang 2) , đọc” Mỹ nhân ngư, H.C. Andersen.. .Thế Phong dịch, Nxb Thanh niên, 2003, sách mới cóng. Giá 40 k.
…bữa anh Vũ Hà Tuệ đến thăm, trao lại tác giả cuốn” Virgil Gheorghiu / Thế Phong / Bút Nghiên, Mỹ Tho xb 1961- quá vui , gặp lại đứa con tinh thần lưu lạc đã 48 năm– và quên phứt chuyện nhắc anh < google /search / nhà văn thế phong> ( Images) trích đăng theo “ < sachxua.net / forum /index >”:
<sachxua.net / forum / index >
in bìa 1 “ Nữ Nhân Ngư”
H.C. Andersen, Thế Phong dịch
500 x 375 – 118k- jpg
sachxua net”
và< sach xua. net > đã sưu tập được nhiều tác phẩm xuất bản trước 1975 ở Saigon- và tôi đã xem được trên <Google / search/ nhà văn thế phong > ( Images), như :
– “ Lược sử văn nghệ Việtnam / Tổng luận 60 năm , 1900-1956”( Đại
– Hàn Mặc Tử – Quách Thoại, nhà thơ siêu thoát ( ĐNVH,
– “ Thủy và T6 ( tập truyện ngắn, ĐNVH ,aigon 1967)
– – Thế Phong, nhà văn tác phẩm cuộc đời ( bản in typo, ĐNVH tái bản năm 1966 – tác phẩm này đã chuyển dịch anh ngữ’ Thephong by Thephong, the Writer, The Work & The Life” translated from Vietnamese by Đàm Xuân Cận ( DVVH Books 1970, 1974)
– < www.Amazon.com/Thephong- writer-work-life-autobiography/dp/BOOƠJUSLA- 150k – >
–
Tuy vậy, lần này “Nữ nhân ngư / Thế Phong dịch”… truyện H.C. Andersen – mà Forum sachxua. net loan tin
( Google/ Images trich đăng lại)- với tư cách một ” dịch giả-bất- đắc- dĩ -“ không dịch chữ nào lại có tên in trên bìa sách”. Không biết thì thôi, biết rồi, lờ đi là ‘ phạm tội”; hiển nhiên Forum sachxua.net không có lỗi – mà chính tôi có lỗi- nếu không có đôi lời ” đính chính “ :
“THẾPHONG ( S.1932- ) KHÔNG PHẢI LÀ” THẾPHONG.” DỊCH VẬT’TRÊN BÌA SÁCH TRUYỆN DỊCH ” NỮ NHÂN NGƯ”…, Nxb Thanh niên, 2003…”.
Trở lại năm 2003- Nxb Thanh niên (Chi nhánh tại tp.HCM) in cuốn “Nữ nhân ngư “, truyện dịch H.C. Andersen” tên người dich” Thế Phong” – chỉ vì Trưởng chi nhánh Nxb Thanh niên – ông Thái Thăng Long xin phép miệng:” .. anh ơi A.N. văn hóa làm dữ quá, họ chưa đồng ý cho Đặng Văn Nhâm việt kiều đề tên dịch giả trên sách – nên đành tạm để tên anh, để kịp phát hành….”
Nữ văn sĩ Trần Thị Bông Giấy viết trong tác phẩm”Điệu múa cưối cùng của con thiên nga “ ( tập 2 – Văn Uyển, San Jose ( U.S.A.) xb 2005) như thế này :
“….THẾPHONG VỚI NHỮNG TIẾNG CƯỜI CHUA CAY MÀ NGẠO NGHỄ” –( Bài 4)
Một lần trong năm 2003, từ San Diego, Phan Diên điện thoại lên tôi ( T.T.B.G.), báo cho hay, rằng anh đọc trên tạp chí” Khởi Hành” ở nam Cali, có vài bài lên án Thế Phong “ đạo sách, đao văn “ của Đặng Văn Nhâm trong vụ” Nữ Nhân Ngư” đang ồn ào khi ấy. Giọng Phan Diên tức tối:
“ Tôi không tin Thế Phong làm như vậy. Nó có thể” cà chớn” gì cũng được chứ không bao giờ thèm đạo văn ai. Đặng Văn Nhâm so với tên tuổi Thế Phong thì có ra gì mà Thế Phong cần phải làm thế với anh chàng ấy? Người ta đạo văn nó thì có.
Và Phan Diên đề nghị:
“ Tôi đã gọi nói cho Thế Phong biết sự việc mà thấy nó vẫn tỉnh như” pha”. BGiấy nên e-mail về hỏi nó cho ra lẽ. Với BGiấy, chắc là nó sẽ nói thật tất cả.”
Cái sự” muốn nghe Thế Phong nói thật” này, tôi nhiều lần gặp anh trong hai mùa hè kế tiếp về thăm quê hương, nhưng thấy anh không chút nào tỏ ra quan tâm đến ba lọai chuyện ruồi bu như vậy, nên tôi không hề hỏi. Phải đợi đến tháng 7 năm 2005,” rảnh rang” nên vui miệng, tôi hỏi, và được anh cho biết chi tiết sự việc bằng một lá thư dài gửi tới tôi như sau:
***
Sàigon, ngày 30 / 7/ 2005
BGiấy ơi,
Vụ NỮ NHÂN NGƯ của tác giả Andersen do Đặng Văn Nhâm dịch là cái tựa do Chi nhánh NXB Thanh Niên in
( 2003). Còn MỸ NHÂN NGƯ là tựa sách ghi trên bản thảo của Đặng Văn Nhâm.
Năm 2002, Huy Sơn từ Mỹ viết thư gửi tôi, báo cho hay rằng Đặng Văn Nhâm sắp từ Đan Mạch về Việtnam và muốn xin gặp tôi. Vì là chỗ quen biết cũ từ thập niên 50, nên tôi đồng ý cho gặp.
Một buổi, có “ cú” điện thoại đến nhà tôi, hõi
-Đây có phải nhà ông Thế Phong, 25 / 39 A Trần khắc Chân, Tân Định?”
Trả lời:
”- Đúng, xin lỗi, người đang nói chuyện với tôi là ai? “
Đầu giây kia không thấy tiếng trả lời, cúp máy cái rụp.
Khoảng 10 phút sau, có khách bấm chuông, vợ tôi ra mở cửa. Tôi từ trên gác xuống, thấy một vị khách mặc quần áo rất tề chỉnh, đeo kính đen, đang ngồi ở sa-lông.
“Mày có nhớ tao không? “( hỏi)
“ Nhớ. Mày là Từ Quyên-Đặng Văn Nhâm? Nhìn mày giống nhân viên F.B.I.” ( mật vụ liên bang Mỹ)
Sau đó bạn rủ tôi đi uống café và nhớ đưa đi tìm gặp đôi người bạn cũ, như nhà văn Thẩm Thệ Hà ở mãi bên quận Tư. Những ngày kế tiếp, lại thường xuyên đi tìm gặp tôi, luôn luôn đi tắc xi, chứ không chịu để tôi chở phía sau xe gắn máy Honda. Lần đi uống cà phê ở Givral với nhiếp ảnh gia Nguyễn mạnh Đan, bạn cho biết có một số bản thảo dịch và từ điển muốn nhờ tôi giới thiệu với một NXB ở Việtnam in, và bạn sẽ không nhận tiền bản quyền. Nguyễn mạnh Đan cũng giục tôi giúp đỡ bạn, như tôi từng giới thiệu Chi nhánh NXB Thanh Niên cấp giấy phép xuất bản một cuốn sách ảnh của Nguyễn mạnh Đan.
Nhận lời xong, tôi bèn đưa bạn đến gặp thi sĩ Thái Thăng Long, giám đốc Chi nhánh NXB Thanh Niên để giới thiệu. Bạn Đ.V.Nhâm đề nghị được in MỸ NHÂN NGƯ trước. Rồi bạn mời toàn thể nhân viên NXb đi ăn sáng ở Đồng khởi (có cả nhà báo Vu Gia , báo” Người lao động” cùng đi) , buổi tối lại mời gia đình Thái Thăng Long đi ăn tối ở Bình Qưới II khá tốn tiền.
Tiếp đó, Chi nhánh NXB Thanh Niên nhận in MỸ NHÂN NGƯ. Trong lúc đang in bìa, một trục trặc đưa tới: P.A 25
( Phòng An ninh văn hóa tp. HCM ) gọi điện thoại cho Thái Thăng Long yêu cầu sao đó, nên ông Long tức tốc điện thoại cho tôi nhờ’ chữa cháy”. Có nghĩa rằng ông Thái Thăng Long đưa ra cái đề nghị” nên in “THẾ PHONG dịch”, chứ không phải tên Đặng văn Nhâm”. .
Tôi trả lời Thái Thăng Long:
“.. hãy đợi tôi gửi điện thư hỏi ý kiến Đặng Văn Nhâm ở Đan Mạch đã, hoặc là đề tên TỪ QUYÊN dịch (một bút danh viết báo của Đặng Văn Nhâm có từ trước 1975).
Nhưng trong khi đang chờ sự trả lời của Đ.V. Nhâm thì ông giám đốc chi nhánh NXB Thanh Niên lại điện thoại cho tôi hay là”phải in ngay không thể chờ sự trả lời của Đặng Văn Nhâm được !” Ông T.T.Long cón nói;” lần sau tái bản sẽ đề tên Từ Quyên”.
Sau đó, bới vì Đ.V,Nhâm yêu cầu tôi, nếu có tiền, thì xuất trả cước phí bằng máy bay, gửi cho bạn ấy vài quyển; rồi bạn sẽ trả lại sau. Tôi gửi cho bạn 5 cuốn, dán lên trang 3 hàng chữ “ Từ Quyên dịch”.
Tôi nhận được điện thư trả lời của bạn, hỏi:
“ Vậy ai là người nhận tiền nhuận bút ? Ai là người gạch bỏ nhiều đọan trong sách ?”
Tôi trả lời qua e-mail:
“ Ở Việtnam, việc biên tập in ấn, phát hành nằm trong 2 kế hoạch:
1)Kế hoạch A : NXB bỏ tiền ra in, trả tiền bản quyền cho dịch giả.
2) Kế hoạch B : người liên doanh xin cấp giấy phép, trả quản lý phí cho NXB; rồi tự lo chi phí ấn loát, trả bản quyền, tự phát hành. (tôi viết cho Đ.V.Nhâm) Bạn hã y liên hệ trựic tiếp với NXB Thanh Niên thì hơn !.
Cũng rất may là khi sách MỸ NHÂN NGƯ phát hành, tôi biết được chỗ in, nên đến Xí Nghiệp In của Bộ Thương mại, xin được mẫu bìa đã in bìa “ Mỹ nhân ngư” đề tên Đặng Văn Nhâm dịch, rồi gửi sang Đan Mạch cho bạn ấy. Đồng thời, tôi cũng gửi một lá thư cho giám đốc TháiThăng Long, phản đối việc NXB đề tên tôi là dịch giả- kèm theo cả mẫu bìa NỮ NHÂN NGƯ in lần đầu có đề tên Đặng văn Nhâm + với lá thư viết tay của Đặng văn Nhâm ( qua tôi) gửi giám đốc NXB như sau:
“ Thân gửi anh Thái Thăng Long và Thế Phong,
Tôi nghĩ nếu sách này in được, chắc anh phải viết cho lời giới thiệu của NXB. Nếu có NXB nào lo việc ấn loát và phát hành luon thì tiên cho tôi lắm. Tôi không quan tâm đến tiền bản quyền đâu. Mong được ý kiến sớm của các anh. Nếu không có gì trở ngại, cuối năm nay tôi sẽ về thăm các bạn. Thân quí chúc các anh Long, Bính, Thế Phong… đều bình an và thịnh đạt.
ĐV.Nhâm.
.( Mấy trang sách đầu tôi bỏ,. Có sẵn “ đĩa” chứa”)
***
Từ Los Angelès, Phan Diên gọi về báo tin cho biết môt tờ báo ở nam Cali có bài dả kích, tôi chiếm đoạt bản dịch của ông Đặng Văn Nhâm. Và lập tức Phan Diên scan gửi về cho tôi bài báo ấy , kèm theo lới thúc giục tôi viết một bài cải chính gửi cho báo” Người Việt” (nam
Tôi ( Thế Phong) giữ im lặng
Năm kế tiếp, 2004, lai có một” cú” điện thoại gọi đến, giọng quen quen:
“ Tao và thằng Huy Sơn về Saigon rồi, muốn gặp mày .”
Tôi trả lời:
“ Rấtt iếc tao không có thời giờ đi chơi với mày nữa. “
Và cúp máy.
Bông Giấy ơi, tôi sẽ gửi cho B.Giấy phóng ảnh bìa NỮ NHÂN NGƯ có in tên Đặng văn Nhâm , và cả lá thư viết tay của Đ.V. Nhâm gửi NXb Thanh Niên nhé.
Sau đây, chép lại cho B Giấy môt đoạn trong lá thư tôi gửi gáim đốc NXb Thanh Niên tại tp Hồ Chí Minh :
30 / 7/ 2003
Thân gửi ông Thái Thăng Long,
Giám đốc Chi nhánh NXb Thanh Niên tại tp. H.C.M.
Thưa Ông,
Xin đính kèm đây:
a)Thư viết tay của ông Đặng Văn Nhâm, dịch giả” Nữ Nhân Ngư” do NXB/ TN ấn hành 2003. mang tên dịch giả Thế Phong.
b) Thư điện tử của bạn ấy phê phán tôi là” kẻ chiếm đoạt tác phẩm NỮ NHÂN NGƯ” của Đ.V.Nhâm
Do tôi đã xin lại được mẫu bìa “ Nữ Nhân Ngư” nguyên thủy ( trước khi ra phim – thu thập được tại Xí nghiệp In MACHINO, Bộ Thương Mại) gửi ông, để ông c ó cơ sở biện giải giùm , tôi chỉ là “dịch- giả- bất -đắc- dĩ”. Do chính ông yêu cầu thay tên dịch giả, và tôi trở thành” hình-nhân-thế-mạng”. Trong ít phút chuyện trò qua điện thoại, khi nghe ông cho biết là sách đã in xong; nhưng P.A 25 yêu cầu không được để tên Đặng Văn Nhâm( nơi trang bìa 1); và khi tôi đã yêu cầu ông đổi lại” dịch giả TỪ QUYÊN” cũng được. ( điều ấy tôi đã báo ngay cho ông Đặng văn Nhâm).
Nhưng vẫn chính lời của ông cho tôi biết:”… sách và bìa đã in xong nên quá muộn để thay tên dịch giả khác. Vậy hãy chờ khi tái bản sẽ đề tên Từ Quyên dịch vậy”.
***
Năm 2004, Chi nhánh NXB Thanh Niên có in lại 400 cuốn” Nữ Nhân Ngư”, nơi trang 3 ghi tên Từ Quyên dịch , và đó đúng ngay lúc Đ.V. Nhâm về lại Việtnam, có gọi điện thoại mời ông giám đốc chi nhánh đến cho gặp. Ông Thái Thăng Long trả lời:
“ Vì bận nên không thể gặp ông ĐV.Nhâm ở ngoài cơ quan; vậy xin mời dịch giả” Nữ Nhân Ngư” đến cơ quan nhận- sách mới in lại và tiền bản quyền là 1.800.000 Vnđ. “
Vẫn theo lời ông Thái Thăng Long, chớ khá lâu không thấy ông Đ.V.Nhâm đến cơ quan nhận tiền nhuận bút.
***
Còn anh chàng chủ nhiệm, chủ nhiếc Viên Linh của báo” Khởi hành” ở Mỹ- sở dĩ có bài đả kích kia, là do yêu cầu của Đặng Văn Nhâm, vì bọn này chung giuộc “ Văn bút, văn biếc” , phủ bênh phủ, huyện bênh huyện.”. Thằng Lùn Nhà Thớ Đức Bà” ( xưa kia ám chi Vũ Hạnh, nay tôi phát lại cho anh ta) mang ý nghĩa” tài chỉ như anh lùn mà huênh hoang cao ngất ngưởng đến nóc nhà thờ” ấy mà !
Cũng vui thôi, chẳng có gì phải bận tâm, vì BGiấy biết sao không? Tới tuổi này, cái gì vui thì cười cho hả hệ, cái gì không vui thì bỏ qua; hơi đâu mà bực dọc, phải không B Giấy?
Trở lại với” Thư viết ở Saigon” ( NXB Văn Uyển, San Jose 2000)- đã được” chàng thi sĩ tài chỉ bằng anh gù lại tưởng cao hơn nóc nhà thờ ấy” đã có` ít dòng trong bài: “ Thế Phong bị tác giả Đặng văn Nhâm Tố Cáo Đánh Cắp Bản Quyền” đăng trên báo Khởi hành ( tháng 9/ 2003) như sau:
“…Tác phẩm Thế Phong cũng là lời bịa đặt, chửi bới tàn tệ các nhà văn khác ( ngay trong năm nay, nhà văn Văn Quang phải lên tiếng cảnh cáo anh ta trên báo chí, mà tờ” Kịch Ảnh” ở
B.Giấy ơi, ngay cái” tít” bài viết trên đã không chỉnh rồi. Nếu gọi Đặng Văn Nhâm là TÁC GIẢ thì hoàn toàn không chính xác . Bằng như nếu có, thì phải gọi Đặng Văn Nhâm là TỐI TÁC thì đúng hơn. Lý do giản dị, bạn ấy có sáng tác được một tác phẩm văn học nào đâu, có chăng chỉ là biên soạn. Ở đây, dùng chữ TÁC DỊCH, vì chắc gì trình độ bạn ấy có thể lột tả được nguyên bản của Andersen, chứ chưa nói đến , có khi “.. traduire,c’est trahir? không chừng ?!”
Thôi, bỏ qua chuyện tào lao này đi, nghe B.Giấy? Coi như” chấm dứt chương trình tạp-pín-lù Tùng Lâm”- thành ngữ thường dùng trước 1975 ở
[]
THẾPHONG
( trang 60- 65 “ Điệu múa cuối cùng của con thiên nga “ / Trần Thị Bông Giấy / Văn Uyển,
————-
Lê Ngọc Huyền : Giáng Sinh Trên Miền Đất Trọ. (Giải nhì VTLV 2012)

Một vài hình ảnh kỷ niệm của nhả văn Lê Ngọc Huyền giải nhì "Giáng Sinh Trên Miền Đất trọ" trong ngày lễ lớn 20 năm thành lập và phát giài Văn Thơ Lạc Việt.
http://secure.smilebox.com/ecom/openTheBox?sendevent=4d7a49324e7a6b304e7a56384e544d324e5441304d54453d0d0a&sb=1&playAgain=true
Giáng Sinh trên miền đất trọ…
Lê Ngọc-Huyền (Montreal Oct 11)
Tôi vội vã băng qua đường khi thấy tiệm bánh Félix&Norton hiện ra trước mắt. Đã lâu lắm rồi tôi chưa nếm lại cái mùi vị ngọt ngọt, bùi bùi, béo thơm của miếng bánh chỉ có bán ở các miền tuyết lạnh lẽo nửa Âu nửa Mỹ như ở Montréal mà thôi. Tuyết bắt đầu rơi nhẹ, cái lạnh buôn buốt làm người ta thèm ăn ngọt, nên dân Montréal ai cũng tròn, hiếm lắm mới thấy được 1 cô gái tóc vàng thanh mảnh.
Bước vào tiệm, đèn đuốc trang hoàng đủ màu, chuẩn bị cho cái Giáng Sinh sắp tới; bánh biscuit cũng được nặn thành ông già Noel ngồi trên xe trượt tuyết với những gói quà muôn màu sắc đủ hình dạng làm từ chocolat đen, trắng, vừa đẹp, vừa bắt mắt. Tôi tần ngần đứng trước quầy kiếng, bánh nào cũng ngon, cũng muốn thử cả, thơm phức mùi bơ và hạnh nhân, làm tôi cứ phải nuốt nước miếng!! Đặc biệt ở tiệm này là bánh được làm ngay tại chỗ, nên vừa ăn vừa thổi dưới cơn tuyết thì thật thú vị biết chừng nào!
Ngồi xuống 1 góc nhỏ trong tiệm, trên tay cầm quyển sách, trước mặt ly café đen, bên cạnh gói bánh mới mua để mở, vừa nhâm nhi, đọc sách, lại vừa nhìn ra bên ngoài, tuyết ngày càng dày đặc….tôi miên man thả hồn về kỷ niệm cách đây trên 13 năm:
Năm ấy là năm cuối đại học ở bên quê hương Việt Nam dấu yêu của tôi, đang sắp chuẩn bị thi ra trường, thì tình hình đất nước nguy kịch. Tất cả như đảo lộn, chấm dứt ngay phút ấy. Mẹ vội vàng tìm cách gởi gấm tôi cho các bác bên gia đình ngoại để ra đi. Mẹ tôi là người phụ nữ rất tháo vát, can đảm, việc trong ngoài đều được bà chu toàn. Ba tôi chọn giải pháp hy sinh khi đất nước lâm nguy. Mẹ tôi nhất định ở lại chăm lo mồ mả ông bà, và hương khói cho ba ….Mẹ chỉ mong tôi đi sang nước ngoài để học thành tài cho tương lại và bản thân tôi sau này không bị khổ! Mẹ cứ nhắc đi nhắc lại:
– Con cứ qua được tới đảo, khai có thân nhân bên Canada là mọi chuyện sẽ được giải quyết êm đẹp. Mẹ sẽ báo cho chú Tôn đón con….Đừng bận tâm đến mẹ, mẹ còn hàng xóm…và bạn bè đông lắm….
Đứa con gái 18 tuổi, chưa bao giờ ra đời, tôi chỉ biết ăn rồi đi học. Bỗng nhiên phải đương đầu 1 mình nơi xứ lạ quê người! Tiếng nói cũng chưa thành thạo, làm sao có thể nuôi được bản thân mình?? Bao ý nghĩ ngổn ngang, lo sợ làm tôi chỉ muốn khóc, nhưng nghĩ lại nếu tôi không hy sinh, liều mạng thì làm sao có thể sống còn và trả hiếu cho mẹ!!! Nghĩ đến đó, tôi cố gắng can đảm, gồng mình!!
May mắn, thuyền chúng tôi được an toàn tới đảo Mã Lai.
Ngày đầu tiên đứng xếp hàng lấy cơm, tôi nghe gọi:
– Hoàng Vĩnh Khanh….
Tôi vội vàng tiến đến lấy phần cơm của mình. Bỗng nhiên người lo phần ẩm thực đưa thêm một phần cơm nữa, nhét vào lòng tôi, mà không chờ cho tôi có một ý kiến nào và đẩy ra:
– Lấy luôn phần cơm cho Hoàng Viễn Phúc nhé…..hai anh em phải không? Vậy được rồi, tôi xóa sổ tên Hoàng Viễn Phúc rồi đó, ra đi!!
Tôi cầm hai phần cơm trê
n tay, ra khỏi hàng, lớ ngớ đứng giữa đường, chẳng biết ai là Hoàng Viễn Phúc mà đưa! Tôi đành phải rảo bước về căn lều mới được chỉ định, rồi từ từ sẽ lùng ra tên Hoàng Viễn Phúc để đưa cơm….
Vừa tới căn lều, tôi đã thấy ….một người thanh niên, dáng cao, khuôn mặt điển trai, mái tóc dài che gáy, hơi quăn, đôi mắt thân thiện nhìn tôi, hỏi:
– Cô ….cô là….Hoàng Vĩnh Khanh?
– Vâng! Còn anh là ….
– Tôi là Hoàng Viễn Phúc!!!….chúng ta là ….anh em!!!
– Anh em??? Tôi làm gì có anh!!! Anh có lộn không??
– Xuỵt!! đừng nói to! Coi chừng có người nghe được là không hay đâu! Bây giờ ngồi xuống đây, mình ăn cơm đã, rồi từ từ tôi sẽ nói chuyện cho cô nghe sau….
Tôi bỡ ngỡ, riu ríu ngồi xuống 1 góc phòng, anh ta cũng theo tôi ngồi bên cạnh, làm như ….hai anh em thật!! Vừa ngạc nhiên lẫn lo lắng, chẳng hiểu chuyện gì, mà cũng không dám nói to, như lời nói của ông anh “bất đắc dĩ” vừa bảo “coi chừng người ta phát hiện”….
Bụng bỗng no ngang, mặc dù chẳng ăn gì đã từ cả ngày hôm qua. Tôi nhìn khuôn mặt anh “hai”, anh cũng không vẻ gì là người xảo trá lừa đảo, cũng không vẻ gì đang lợi dụng tôi! Mà tại sao phải nhận tôi làm ….em gái?? Lại còn ở chung lều với tôi nữa?? Tối nay ….làm sao đây? Ai ngủ trên giường, và ai nằm dưới đất?? Tôi lo lắng đến nỗi không nuốt nổi hạt cơm vào bụng! Anh hai thì tỉnh bơ:
– Em cứ… tự nhiên ăn cơm đi nhé, cho có sức chịu đựng! đừng… nhìn anh với cặp mắt như thế!! Em… ăn bánh không?
Anh đưa ra trước mắt tôi gói bánh hạnh nhân. Ở đây làm gì có bánh thơm ngon thế? Mùi hạnh nhân quyện với mùi bơ bay lên làm tôi thèm rỏ rãi, anh còn bảo:
– Anh để đây, anh đi tắm….em cứ ăn đi, đừng sợ!!
Anh bỏ đi ra ngoài lều, xếp hàng đi tắm. Tôi một mình trong cái lều trống vắng, lo sợ, ngạc nhiên, bất an….đến muốn khóc. Tôi nhắm mắt lại, lấy bình tĩnh, khấn linh hồn ba:
– Ba ơi, ba chắc chưa xa con gái đâu phải không? nếu ba linh thiêng hãy cho con sự can đảm, hãy cho con đủ trí khôn để vượt qua mọi thử thách. Con gái ba chưa nếm mùi đời bao giờ. Hãy giúp sức cho con, ba nhé!!
Tôi hít thở 1 hơi dài, đặt niềm tin vào đấng tối cao, vào người đã khuất. Có vẻ nhẹ nhõm hơn rồi. Bụng hơi cồn cào, tôi với tay lấy gói bánh. Bẻ một góc bánh bỏ vào miệng. Mẩu chocolat đen quyện với nước miếng, tan chảy ra, thật ngon, thật bùi! Hạt hạnh nhân vỡ giòn tan dưới hai hàm răng mà đã lâu ngày chưa được dùng tới. Tay cứ bốc, hết cái bánh này đến cái bánh khác, vừa ăn vừa suy nghĩ, vừa thưởng thức, đến khi nhìn lại, dốc từ đáy túi ra, không còn mẩu bánh nào còn lại phần cho anh hai nữa!!!
Tiếng chân anh vui vẻ bước vào lều, reo lên:
– Tắm đã, mát thiệt! Em …đi tắm đi!!….sao…nhìn anh dữ vậy?
– Xin lỗi anh!! Em quên mất! Đã ăn hết gói bánh ….
Anh nhìn tôi. Rồi nhìn lại cái túi giấy không, vứt trên bàn:
– Sao ….đói mà không ăn cơm, lại ăn bánh?? Bánh đó hiếm lắm mới nhờ người mua được từ bên ngoài vào đó! …thôi! Không sao! Em còn đói nữa không?
Tôi nhè nhẹ lắc đầu:
– Hết đói rồi!! Nhưng …muốn nghe anh kể chuyện, tai sao lại vào đây làm anh của em??
Anh nhìn quanh quất một hồi, như sợ ai nghe, rồi ghé tai tôi kể:
– Anh và em chẳng có quan hệ máu mủ gì hết, mà lại có cái họ Hoàng y chang nhau!! Hồi mới lên tàu, họ đã đinh ninh mình là anh em ruột…Em thì chắc mới ra đường hay sao mà lớ ngớ như trên cung trăng rớt xuống. Anh nghĩ em dễ bị ăn hiếp ở đây lắm, nên lúc khai về quan hệ, anh đã nói đại là… anh của em!! Xin lỗi em, em đừng giận, vì đây là sự đổi trác mà thôi; ngược lại anh biết em có gia đình bên họ ngoại ở Canada nên hãy cho anh cùng tháp tùng sang bên đó….sau này anh sẽ trả ơn!!
– Làm sao anh biết được em có gia đình họ hàng bên Canada??
– Khi muốn làm việc gì, mình phải điều tra thân thế người đó chứ! Em còn quá ngây thơ, dễ bị lừa đảo trên cuộc đời này lắm, anh…vì em… sẽ là người bảo vệ cho em, nhưng em hứa cho anh làm… anh hai để cùng qua nước thứ ba với em!! Em nghĩ sao??
Tôi căng mắt thật to nhìn anh. Anh cũng ….xảo trá lắm! Nhưng trong cái xảo trá lừa lọc của anh còn có tí tình người! Anh không lợi dụng, không làm việc thất đức với tôi là được rồi! Cũng may, anh chỉ muốn làm anh hai của tôi thôi!!! Anh muốn có 1 sự trao đổi với tôi rõ ràng rành mạch như vậy, tiền trao cháo múc như thế cũng tốt! Tôi không ngờ trên cái đảo nhỏ bé này lại có thể xảy ra được cái chuyện không thể tưởng tượng như thế! Không họ hàng thân thích, bỗng nhiên trở thành như người cùng dòng máu, thân cận! Chắc còn nhiều chuyện kinh hoàng động trời trên cái đảo này nữa mà tôi còn quá vụng dại để biết hết!
Tôi lúc nào cũng đề phòng anh! Sợ anh còn giở trò gì nữa, n
hưng anh tỏ ra người rất thành thật và khá chu đáo trong vai trò làm anh…hai!
Bất kỳ chuyện gì anh cũng đứng ra can ngăn, bênh vực tôi. Mấy tên côn đồ xỏ lá muốn làm hại tôi, anh ngấm ngầm theo dõi chúng và xử sự như một anh hùng hảo hán, làm cả đảo ai cũng biết tiếng không dám đụng đến cọng lông của em gái của Viễn Phúc nữa!!
Anh không du côn như những tên ma cô nhưng anh cũng rất mánh khoé để đối chọi được với đời…Anh rất thích tìm tòi, thám hiểm, và có óc khôi hài!!
Một buổi tối trên đảo, chúng tôi được cùng đi xem phim tình cảm xã hội, phim cảm động đến không cầm được nước mắt, nhất là cảnh người mẹ tiễn con đi một tỉnh khác để học, tôi nhớ lại thân phận mình, nên đã khóc như mưa!! Tôi thấy anh đưa cho tôi cái khăn giấy:
– Thôi đừng khóc nữa, lớn rồi! Không có mẹ ở bên cạnh….thì còn anh đây!!
Mắt tôi đỏ hoe ngước lên nhìn anh, nụ cười hiền hòa của anh làm trấn an tôi, tôi gục đầu vào vai áo anh. Lần đầu tiên tôi cảm thấy một tình thân, một sợi dây liên kết nào đó giữa tôi và anh, hai kẻ xa lạ gặp nhau giữa chốn chông gai của cuộc đời!
Chúng tôi được bảo lãnh qua Montréal khoảng 2 năm sau đó. Anh đã không ngớt cám ơn tôi. Lần đầu tiên từ hơn hai năm nay, anh nắm lấy tay tôi:
– Hoàng Vĩnh Khanh! Anh sẽ không bao giờ quên em…gái!! Ở lại, bảo trọng! Anh đi và hứa sẽ trở lại! Em là người con gái ….rất quan trọng …trong cuộc đời anh!!
Tôi vẫn đứng yên, một chút xao xuyến, bối rối. Hơn hai năm trên đảo, sống bên anh, anh bảo vệ tôi, một người anh trai, một người thân cận của tôi!!
Anh tạm xa tôi để đi làm ở một tỉnh khác, nơi ấy anh cũng có người quen họ xa. Còn tôi ở lại nơi đây để đi học và sau đó cũng đi làm ở nhiều tỉnh khác nhau được 10 năm. Trong mười năm ấy tôi vẫn không tìm được mảnh đất giữ chân tôi….
Hôm nay trở lại Montreal, tôi định sẽ ở lại nơi đây lập nghiệp cho đến cuối đời!
Cơn tuyết nhẹ bên ngoài vẫn thổi lạnh, gói bánh Félix&Norton trong tay làm tôi nhớ lại kỷ niệm xa xưa với người anh “bất đắc dĩ”. Mỗi con người có duyên gặp nhau ở một đoạn đường đời, để giúp nhau, trả ơn cho nhau, hay để thanh toán món nợ cho nhau, rồi lại chia tay!! Bất giác tôi mỉm cười khi nghĩ đến gói bánh thơm ngon đã được tôi “thanh toán” hết mà không chừa lại một mảnh vụn nào cả!!
Mẹ tôi vẫn vò võ bên nhà, bà lúc nào cũng mong sự hiện diện của tôi. Bà và tôi thường liên lạc với nhau bằng điện thư:
– Con gái thương nhớ! Mẹ định qua con vào mùa Giáng Sinh này, có người quen sẽ từ Việt Nam dắt mẹ qua bên đó! Mẹ sẽ ở chơi với con 2 tuần rồi về lại. Có làm trở ngại gì con không? Mẹ vẫn khỏe, con đừng lo nhé, chỉ nhức đầu cảm cúm nhỏ nhặt mà thôi….
– Mẹ! có thật là mẹ sẽ qua con ở chơi với con? Lẽ ra con nên về với mẹ mới phải, mẹ có muốn sang đây ở luôn không? chỉ có hai mẹ con mà thôi, mẹ ở một nơi, con ở một đầu, cách xa bằng nửa vòng trái đất! Sống như thế này thật vô vị mẹ ạ! Con mong được ăn bát canh gà như mỗi lần đi học về vậy! Nhớ mẹ nhiều lắm!
Nhà nhà treo đèn, kết hoa, khắp nơi tiếng nhạc reo ca mừng Giáng Sinh, tôi cũng vui lây mỗi khi xuống phố nhìn dãy đèn đường đỏ vàng! Hôm nay tôi sẽ đi đón mẹ ở phi trường, tung tăng chân sáo, nghe lòng tràn ngập hạnh phúc như mỗi lần từ trường về gần tới nhà. Mẹ chắc cũng vẫn trẻ, vẫn đẹp như xưa, tôi giống mẹ ở đôi mắt, dài và long lanh, giống mẹ ở chiếc miệng cười có lũm cái đồng điếu! Bao nhiêu kỷ niệm xưa bỗng tràn về, làm tôi náo nức, thấp thỏm mỗi khi cánh cửa mở ra, nhả ra 1 đoàn người xuống từ máy bay ở mọi nước.
Tôi vẫn cứ chờ mãi, đứng lên, lại ngồi xuống, không phải mẹ! Bà già búi tóc, mái tóc điểm sương ngồi chờ ai bên ghế bên kia…không phải mẹ! Còn bà già tóc quăn, kẹp cái ví mắc tiền ngồi kia…cũng không phải mẹ! Rồi còn bà già đội nón lá, gầy nheo, da rám nắng, đôi mắt buồn xa xăm, ngồi đối diện với tôi…cũng chẳng phải mẹ!! Nhưng sao ….bà nhìn tôi mãi không chớp mắt! Bỗng nhiên bà đứng lên đi về phía tôi:
– Cô có phải là Hoàng Vĩnh Khanh?….
– Vâng! …Bác muốn tìm ai???….
– Mẹ đây! mẹ đây con à!!
– …Mẹ! mẹ sao? mẹ đấy ư…sao mẹ không gọi con…từ sớm…
Tôi ôm chầm lấy mẹ, mùi bồ kết quê hương thân quen của tóc quyện lấy tôi. Phải rồi! Mẹ của con, bao năm tảo tần, mùi nắng cháy khen khét của làn da nâu làm tôi không sao cầm được nước mắt! Mẹ cực quá nên mới thay đổi như thế này, đến nỗi con chẳng nhận ra! Chiếc áo bà ba hơi thùng thình như áo khín, mẹ ốm đi nhiều quá!! Hơn 13 năm qua, con vẫn mang hình ảnh trẻ đẹp ngày nào của mẹ. Thế mà bây giờ con không thể nào tưởng tượng được. Cử chỉ nhanh nhẹn của mẹ đã nhường lại cho sự chậm chạp, chịu đựng….
– Ai đưa mẹ đi qua đây hả mẹ? mẹ nói với con là có người đưa mẹ đi??
– Một người ….à đây này! Anh ấy đây rồi!!… con quen ch
ứ??
Tôi ngẩn người đứng nhìn người thanh niên đang đi tới trước mặt, miệng cười thật tươi:
– Vĩnh Khanh…anh tìm em từ nãy giờ! Đã hơn 10 năm rồi…ôi chao!!…em vẫn khỏe mạnh chứ?
Viễn Phú, anh hai « bất đắc dĩ » của tôi, trông anh rắn rỏi khoẻ mạnh hơn, nụ cười của anh như chứa bao thông điệp…Anh về Việt Nam thăm lại gia đình, và anh đã tới thăm mẹ tôi, thuyết phục bà sang đây du ngoạn. Anh kể với mẹ chúng tôi quen nhau như thế nào trên đảo. Anh đã lấy được niềm tin nơi mẹ ….
Buổi chiều hôm đó, phải nói chúng tôi thật hạnh phúc bên nhau, căn nhà như có tiếng đàn vọng lại. Chúng tôi quây quần bên mâm cơm với bát canh gà mà tôi hằng mơ ước trong giấc ngủ nay đã thành sự thật. Tôi có Mẹ, mà tôi không bao giờ nghĩ là sẽ được ngồi sát một bên, được nép vào ngực mẹ ấm áp gần gũi đến thế! Còn hơn thế nữa, được gặp lại một người anh, đã từng bảo vệ tôi, từng vào sinh ra tử với tôi một thời. Có phải tôi hạnh phúc quá không??
Mẹ đi nghỉ trước vì hơi mệt, chỉ còn hai chúng tôi bên bếp sưởi tí tách. Viễn Phú đẩy nốt cây củi thông vào lò :
– Vĩnh Khanh! Em có nhớ anh có nói với em rằng anh sẽ trở lại không? Em có nhớ anh còn nói em là người con gái quan trọng lắm trong anh không? ….phải! em vẫn rất quan trọng trong trái tim và sự suy nghĩ của anh, lúc nào anh cũng mong được ngày hôm nay, nhưng anh muốn để cho em thời gian và sự lựa chọn của riêng em….Anh có thể mãi mãi là người anh, là một người bạn đời bên em chứ??
Tôi không biết nói gì hơn, ánh mắt long lanh nhìn anh, giọt nước mắt cảm động như muốn trào ra. Anh trong lòng tôi như con suối nhỏ, hiền hòa, âm ỉ chảy từ bao lâu nay. Như dòng sông Mékong đã thấm nhuần vào lòng đất Việt. Con suối, tôi vẫn chờ vẫn đợi một cách thật kiên nhẫn vì tôi tin rằng mạch nước ấy sẽ đem nguồn nước ngọt ngào tưới suốt cả cuộc đời tôi…
Lê Ngọc-Huyền
Montreal, Oct 2011
