Thơ Chưởng Môn Hà Thượng Nhân : Hóa Là Ta

Câu Đối của Hà Thượng Nhân

1-

Hơn ba triệu đồng bào bỏ nước ra đi

Quang phục quê hương còn vất vả.

 

Hàng chục ngàn hào kiệt chung lưng ở lại

Tự do chống Cộng quyết hy sinh.

 

2-

Trong cõi Viễn Đông, văn hoá cao vời, bất chấp thời gian tồn tại mãi

Trên đường hưng quốc, báo chương thực dụng, tàì năng vô luận tốt tươi hoài

Chúc Tết

 

Chúc các cụ Khang Ninh vui vẻ

Tuổi tuy già lòng trẻ muôn năm

Thong dong lúc đứng lúc nằm

Lại thương cái lạnh căm căm nước nhà

Vì quốc nạn mà ta bỏ nước

Ngoảnh nhìn về trên bước lưu vong

Bao nhiêu con cháu thành công

Dẫu cho một chút thỏa lòng tổ tiên

Nghĩ đồng loại liên miên đói khổ

Ðảng độc tài kẹp cổ lầm than

Ðến nay chưa thoát cơ hàn

Mùa xuân nghĩ lại muôn vàn thương nhau

Tuy vẫn đau, nỗi đau mất nước

Chút tiệc vui mừng trước gọi là

Quý ông lại có quý bà

Nhìn vào là biết quốc gia vững bền

Bao cay đắng nhìn lên chẳng hổ

Dù bao nhiêu nỗi khổ rồi qua

Tết về ta lại chúc ta

Chúc cho con cháu một nhà đông vui

Chúc tuổi già ngọt bùi nếm đủ

Nước tự do là rủ nhau về

Ðẹp thay một mối tình quê

Vui thay tóc bạc ngồi kề tóc xanh

Ta có cả người Thanh, người Nghệ

Ta có thêm người Huế, Sài Gòn

Dặm dài một giải núi non

Mỗi khi nhớ đến cháu con càng mừng

Hà Thượng Nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

Mừng Thọ

 

Cứ Tết đến cầu mong các Cụ

Tuổi tuy già lụ khụ, lòng xanh

Gặp nhau tấc dạ chân thành

Bỏ nhà bỏ nước, đâu đành bỏ nhau

Ta vẫn cứ trước sau như nhất

Chữ tổ tiên là rất thiêng liêng

Mùa xuân gióng trống khua chiêng

Nhắc cho con cháu giữ riềng mối xưa

Trời dù nắng dù mưa vẫn thế

Có kế nào hơn kế chân tâm

Chúc cho đừng có mê lầm

Chúc cho Cộng Sản hồi tâm hồi đầu

Chúc cả nước một câu thành đạt

Chúc trẻ già rào rạt tình thương

Chúc nhau giữ mối cương thường

Cầu mong cờ rợp quê hương từ từ

Một đời mấy bận di cư

Lưu vong ta vẫn tưởng như quê nhà

Tuy sau trước sẽ là dân Mỹ

Vẫn không quên vốn dĩ Việt Nam

Lộc trời ai lại chẳng ham

Chẳng vì một miếng trân cam mà dành

Bọn con cháu lòng thành cúng Tổ

Mong ơn trên phù hộ các ngài

Cháu con học sẽ thành tài

Cầu mong chư vị thêm vài mươi xuân

Xin cùng rót vài tuần rượu ngọt

Trước dâng lên chung một lòng thành

Chúc cho muôn sự tốt lành

An Ninh Khang Kiện sáng danh tuổi già

Hà Thượng Nhân

 

 

 

 

 

 

Tuổi Già Nhớ Quê

 

Non nước đâu rồi? Mãi tận xa!

Mây bay lờ lững nhớ quê nhà

Bỗng như trở lại thời con trẻ

Chợt thấy giờ đây tuổi lão già

Nắng vãn đầu non vàng mới nhạt

Gió lùa cuối ngõ bóng vừa qua

Trăng treo bên núi trăng già trẻ?

Có chiếu tình quê sáng mặn mà?

Đông Anh

 

Hóa Là Ta

Quay lưng tổ quốc mịt mù xa

Nước mất còn đâu dám nói nhà

Mới đó đã qua rồi tuổi trẻ

Vừa đây lại thấy sắp về già

Lưng còng mắt kém tuy chưa tới

Gậy chống chân run chắc sẽ qua

Lấy kính ra soi ngày tuổi trẻ

Tưởng ai chẳng hóa chính ta mà

Hà Thượng Nhân

 




Đọc Bài Thơ Cũ : Mưa Chiều Hời

1. Ðọc Bài Thơ Cũ "Mưa Chiều Hời"

2008-10-09 15:35:50

 

Ðầu năm 2003, bỗng dưng tôi nhận được một tập thơ trong dĩa computer của Băng Ðình gửi tới. Mở ra đọc, tôi thấy ngay một bài thơ mà tôi rất thích từ 45 năm trước, bài Mưa Chiều Hời.

Vào năm 1959 Băng Ðình và tôi cùng chung một đơn vị, Tiểu đoàn 3/12 sư đoàn 4 dã chiến, chúng tôi cùng sống trong một dãy cư xá dành cho các sĩ quan độc thân tại trường Bộ Binh Thủ Ðức vì đơn vị chúng tôi được cử về làm tiểu đoàn thao diễn và an ninh cho trường sau kỳ thao dượt Ðông Phong ở Phan Thiết.

Cứ mỗi buổi chiều, sau khi nghỉ việc và cơm chiều tại câu lạc bộ, chúng tôi ngồi trên hành lang nhìn ra đường và vũ đình trường mà nói chuyện tào lao. Thôi thì đủ thứ chuyện, hết chuyện đời đến chuyện thơ. Ðọc cho nhau nghe những vần thơ mới hình thành, bình luận cùng nhau những vần thơ xướng họa. Rất tiếc là không có giọng ngâm nên chúng tôi cứ đọc “rống” lên gây rất nhiều phiền toái cho mấy anh hàng xóm độc thân khác.

Bài Mưa Chiều Hời đã được chúng tôi đọc đi đọc lại gần như thuộc lòng. Rất tiếc cho cây quế giữa rừng. Rất cảm phục mối tình của Trần Khắc Chung với nàng công chúa cùng họ. Miền Nam sớm nắng chiều mưa, khiến thi nhân như hòa nhịp với thời tiết lạ xứ Hời mà nhớ về quê Bắc xa xăm:

Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi

Bài thơ như một bài hành khi xung trận để mở rộng biên cương. Như bài hát tả nỗi lòng cô phụ bỏ hết lại đằng sau dấn thân vào nơi gió cát xứ người. Những mưa rơi chiều Hời. Những gió bay biên địa. Những sầu muộn mong manh. Những ánh tà dương ngăn ngắt. Tất cả đã khiến cho sự hy sinh của nàng công chúa thêm thê lương, mối tình của Huyền Trân thêm ray rứt. Nhân đó tôi cũng có đôi vần ca ngợi bài thơ của BÐ ghi ở phần sau.

Năm 1990, khi liên lạc với nhau tại Mỹ, tôi hỏi lại bài thơ xưa thì được BÐ trả lời tất cả đã mất hết rồi, mất theo hành trình đốt sách của kẻ thù. Chúng tôi rất buồn, rất tiếc.

Bỗng đầu năm 2003 anh gọi điện thoại cho tôi khoe rằng đã tìm thấy bài thơ. Bài thơ này tìm lại được cũng kỳ bí như huy hiệu con Phượng Hoàng(*), biểu tượng đầu tiên của Trung Tâm Quốc Gia Ðiện Ảnh Việt Nam mà BÐ làm giám đốc khi xưa.

Nhận được bài thơ, tôi muốn chia xẻ với các bạn yêu thơ, với bằng hữu. Nhưng nếu chỉ đăng lên không thôi, e rằng không hết ý. Do vậy mới có vài lời dông dài này.

 

Ðông Anh

Tháng Tư năm 2003

 * Băng Ðình đã viết về biểu tượng Phượng Hoàng qua chuyện Phượng trong Còn Một Chút Này sắp in.

 

MƯA CHIỀU HỜI

 

Huyền Trân một sớm lìa kinh khuyết
Rượu tiễn run môi lạnh tiếng đàn
Ô Lý hai châu còn chật hẹp
Một trời Chiêm Việt mấy quan san
Gió mưa ướt nẻo Ðồ Bàn
Rưng rưng lệ đổ hai hàng máu khô
Ðá tường chìm khuất cung vua
Biết đâu lá biếc mùa thu ngả mình
Quê xưa trời có đẹp
Năm mầu mây thanh bình
Người xưa giờ có chép
Những vần thơ xinh xinh
Một đi là mãi mãi
Mưa rơi vào tâm tình
Mong chi ngày trở lại
Còn chi mộng tuổi xanh
Ðêm đêm nhầu chăn gối
Trăng úa rụng bên mành
Tay Chiêm Vương vội vã
Tình Chiêm Vương mong manh
Thân gửi ngoài biên địa
Hồn mơ về Long Thành
Có mùa xuân minh mị
Có mùa hè nắng xanh
Có mùa thu sầu muộn
Có mùa đông buồn tênh
Mộng đẹp dài canh vắng
Tay ai chuốc chén quỳnh
Tin đâu về náo nức
Chiêm Việt dứt đao binh
Phụ Vương một hẹn sầu đôi trẻ
Ô Lý hoang vu lạt chữ tình
Lịch sử thêm tươi mầu má thắm
Riêng lòng ai chết những mầm xanh
Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi
Mưa bay buồn những chiều Hời
Nhỏ thưa tiếng địch não người biệt ly
Sắc chìm hương lạt thâm khuê
Âm u đá tháp dặm về mù sương
Heo may thổi lạnh đêm trường
Xiêm y sô lệch phấn hương nhạt nhoà
Mây vẫn trôi về Bắc
Sầu chưa thôi nở hoa
Mưa lụt trời Chiêm Quốc
Tơ run trên phím ngà
Ðiệu Nam Bình ai oán
Van mùa mưa mau qua
Gấm the nào ấm được
Những chiều mưa nhớ nhà
Vó câu mờ sắc áo
Chiều dâng tím nẻo xa
Khắc Chung còn ruổi ngựa
Hồn chìm đáy ly ca
Mưa vẫn dài thương nhớ
Ngăn ngắt ánh dương tà
Huyền Trân lệ đổ tràn vai áo
Giữa gấm hoa ngồi khóc tuổi hoa
Mắt lệ mỏi mòn trông hướng cũ
Những ngày qua tiếp những ngày qua
Rừng thu sơ xác lau già
Trong sương nghe vẳng tiếng gà sang canh
Hồn khuya nhẹ gót đầu cành
Lung linh nến cháy sử tình hắt hiu

 BĂNG ÐÌNH

 

Gửi Băng Ðình, người viết Mưa Chiều Hời

 Khắc Chung rong ruổi trên lưng ngựa
Theo bóng Huyền Trân nắng chập chờn
Một mối tình si muôn dặm thẳm
Ngàn trùng gió cát lạnh mưa tuôn
Người đi về phía hoàng hôn
Ðể vầng trăng khuyết mỏi mòn kinh đô
Qua Chiêm đem mối tình hờ
Lược trâm bỏ lại ngẩn ngơ hoàng thành

Lưu lạc xứ người thân lạc bóng
Giữa rừng cây quế nghẹn chua cay
Chiều thu chợt biến thành sương phụ
Ðợi lửa lên giàn hương phấn phai
Bỗng dập dồn vó ngựa
Từ biên địa qua đây
Ðưa nàng về cố quốc
Mưa Hời quyện khói bay
Thuyền chao tình sóng vơi đầy
Lướt đi trong cõi trời mây mịt mù
Ngàn sau tình sử, áng thơ
Lung linh ánh nến đọc Mưa Chiều Hời

 

Ðông Anh Nguyễn Ðình Tạo

 

Băng Ðình

huệ thu đăng ngày 10/12/09 – 1:44 AM

huệ thu họa :

THÂN GỬI ĐẤT HỜI

Thăng Long còn mãi vầng trăng khuyết
Con sáo sang sông lỗi nhịp đàn
Ô Lý có ai thương phận gái ?
Dù cho ngàn dặm nghĩa Giang San
Người sau nếu luận, nếu bàn
Chẳng qua cũng chỉ vài hàng lệ khô
Muôn ngàn giã biệt nhà vua
Còn đâu đất mẹ mùa Thu của mình ?

Môi son vì ai đẹp ?
Thiếp đi vì hòa bình
Sử xanh rồi sẽ chép
Khi gót hài xinh xinh
Lìa quê hương đi mãi
Thiếp đâu nỡ phụ tình ?
Đường xa quay nhìn lại
Cả những hàng cây xanh
Bẽ bàng chăn với gối
Trăng xưa vẫn trước mành
Người xưa sao vội vã
Chút lòng nàng mong manh
Thiếp ra ngoài biên địa
Chàng ở lại kinh thành
Có như là mộng mị
Mây mùa Thu vẫn xanh
Trăng khuya nay đã muộn
Son phấn thấy buồn tênh

Giữa đất trời thanh vắng
Hương thơm một đóa quỳnh
Hoa quỳnh sao thơm nức
Dù không còn lửa binh
Cầm bằng chẳng có thời son trẻ
Một đi, quên được chuyện ân tình ?
Quê hương đào nở mùa Xuân thắm
Lộc nhú cành tơ lặng lẽ xanh
Chao ôi ! Nhớ quá kinh thành
Từ nay thôi chỉ một mình mình thôi
Từ nay ở nước non Hời
Bỗng nhiên mà trở thành người phân ly
Từ nay khép cửa phòng khuê
Tóc kia đến lúc trở về tuyết sương
Từ nay trên quãng đường trường
Mỉa mai phấn lạt mà hương cũng nhòa
Ai giờ trên đất Bắc ?
Vườn ngự ngạt ngào hoa
Thiếp nhớ về Tổ Quốc
Đàn lạnh trên phím ngà
Cung lại cung sầu oán
Ngày lại ngày dần qua
Làm sao mà xóa được
Hình ai nơi quê nhà ?
Lệ đêm hoen ố áo !
Mịt mùng đất nước xa
Chàng ở trên mình ngựa
Có vui gì tiếng ca ?
Có buồn chăng nỗi nhớ
Khi đối bóng trăng tà
Lạnh lùng khép lại hương đầy áo
Trời ơi ! Mới biết lụy tài hoa
Xin gửi lòng này về chốn cũ
Sầu khổ rồi đây cũng sẽ qua
Bao nhiêu tuổi tác mới già ?
Đất Hời vẫn lại tiếng gà mỗi canh
Mưa hay lệ nhỏ trên cành
Giang sơn Lãi để riêng tình hiu hiu.

Huệ Thu




Phạm Thị Cúc Vàng :Tóc Mây 16

 

Hạnh Phúc cuối dòng sông

em tìm gì ở cuối dòng sông
con sóng buồn ký ức long lanh
có người xưa lời hứa trăm năm
hút vào xa kỉ niệm màu xanh

em tìm hoài bóng mát dấu anh
cánh chim trời bay mãi về đâu
dòng lệ sầu trút hết vào thơ
ướt trang đời mãi cứ bể dâu

em tìm về dấu lặng bờ sâu
nước mắt còn tung tóe giọt rơi
em nhặt về tụng niệm hồn đau
lần tràng buồn hạt nhớ đầy vơi

em tìm đâu cổ tích trần gian
tìm được đâu hạnh phúc mong manh
gom về đây mảnh vỡ bài thơ
ghép được sao trọn vẹn tình anh.

phamthicucvang

 

 

 

 

Moi cac Ban cung chia se video clip

"TOC MAY 16"

http://www.nnyvn. com/video/ phamthicucvang/ tocmay16. wmv

Tho Pham Thi Cuc Vang (Saigon – VN)

Nhac Pham Tung (Saigon – VN)

Video clip vua duoc phat tren song HTV9 – TPHCM

1. Tiet muc doc tho do Pham Thi Cuc Vang the hien 

2, Ca si Thanh Huong trinh bay ca khuc,

voi phan minh hoa cua nhom Huynh Dao

Than men, CTT

 

     

NhungNguoiYeuVietnam

       

                http://nnyvn.net  info@nnyvn.net

   

     

 




Hồ Nam : HOÀNG NGỌC BIÊN TỪ DICH GIẢ HỌA SĨ TỚI NHÀ THƠ

HOÀNG NGỌC BIÊN TỪ DICH GIẢ  HỌA SĨ TỚI NHÀ THƠ

Hoàng Ngọc Biên là bút danh và cũng là tên khai sinh của một ngươi sinh năm 1938  tại Quảng Trị trong một gia đình danh tiếng cha là công chưc thời Pháp [ theo lời kể của Hoàng Ngoc Biên trong truyện Ngươi kháng chiến thì cha Hoàng Ngọc Biên làm thông phán tòa sứ tại Quảng Trị nhưng  năm hai mươi lăm tuổi cha Hoàng Ngọc Biên đánh viên công sứ ngươi Pháp đến chẩy máu đầu nên bị   chuyển  qua ngành thuê Thời Viêt Minh cha Hoàng Ngọc Biên  đứng đầu ngành thuế  ở Đà nẵng thời quôc gia đứng đầu ngành thuế vụ ở Chợ lớn đang hốt bạc bỗng môt một ngày ông  chán Chợ lớn xin đổi lên Đà lạt để hưởng nhàn nhưng môt buổi bốc lên ông chửi xéo viên đai biểu chính phủ nhờ chỗ trong  họ chỉ bị mât việc rồi về Saigon .Tuy nhiên nhờ thế mà năm anh em Biên  đươc học hành đến nơi đến chốn]mẹ Biên là ngươi đẹp nhưng chỉ sống đời nội trợ .Mươi chin tuổi Hoàng Ngoc Biên tham gia nhóm Trình Bày của Nguyễn Văn Trung và Thế Nguyên[một nhóm nhà văn nhà báo Thiên Chúa Giáo thiên tả mê văn chương Mác xít] thời gian này Biên đã dich Marcel Proust chứng tỏ Biên có đầu óc văn chương

Hoàng Ngọc Biên không chỉ dich Marcel Proust mà còn dịch Pasternak rồi dịch Samuel Backette rồi Alain Robbe Grillet chứng tỏ Biên giỏi ngoai ngữ và có đầu óc thưởng  ngoan văn chương khá tốt

Hoàng Ngọc Biên là thây giáo rồi họa sĩ rồi viêt báo viêt văn  và làm thơ và đã tạo đươc một phiên bản là Đỗ Trung Quân một phiên bản  ăn măc đi dứng điệu bộ y chang Hoàng Ngọc Biên nhưng vẽ và viêt thì kém xa Biên

Hoàng Ngọc Biên giống cha ảo tưởng về kháng chiến Mác xít nên sau ngày 30 tháng tư 1975 đã ở lại Saigon nhưng sau đó tìm mọi cách thoát ra khỏi Saigon sang Mỹ

Hoàng  Ngọc Biên vẽ trình bầy sách viêt lãnh vưc nào cũng có đât đứng nhưng vị trí không cao tuy nhiên làm thơ thì lại rât đươc

Thế là trên bẩy mươi

Ta vẫn phải cứ đi

Phải cư đi

Vì đã lỡ đi-đã lỡ ôm túi vải

Thời trẻ tuổi lên đương

Trên bẩy mươi

Đât dưới chân lạnh đến nỗi

Nhà cửa cây cối  phải ngưng mặt

Nhìn trời phát ra những âm thanh

Kinh hoàng

Trên bẩy mươi

Nhiều người thích

Đươc có người dắt dẫn

Ôm vai quàng cổ khen nhau

Trẻ già ai nấy

Hớn hở đồng chí  anh em

Mệt nghỉ

Tôi vẫn phải cứ đi

Đi riêt vẫn không biêt mình đi đâu

Đi riêt-một mình

Cho tới khi

Gặp một bến sông

Bờ bên này là đồng khô

Bờ bên kia là cây xanh

Bóng đổ dài mặt nươc

A ta về đến chỗ ngày xưa

Tiếng nói rớt trên chỗ giáp tiếp đât và nươc

Ngày trần truồng tay ta ôm chặt

Một thân chuối thả trên sông

Nói song phẳng

Đạp bằng hai chân ta thấy thú hơn

Đap bằng đầu

Đi tới mà chẳng cần biêt

Phải đi tới đâu….

Thơ Hoàng Ngọc Biên như thế đó, không giống ai nhưng nó là của Hoàng Ngoc Biên và nó rât thơ nghĩa là có nét riêng rât Hoàng Ngọc Biên .Có thể Hoàng Ngoc Biên làm dáng và điệu đàng một chút nhưng sư làm dáng điệu đàng đó cũng rât Hoàng Ngọc Biên [ sư làm dáng điệu đàng của môt ngươi lãng đãng đoc sách vẽ viêt rong chơi cho mình và không giống ai]

Hoàng Ngọc Biên thoát khỏi Viêt Nam nhưng không thoát khỏi cái bóng nhómTrình Bày Ra khỏi Viêt Nam Hoàng Ngọc Biên làm sống lại nhómTrình Bày dù Thế Nguyên đã chêt vì ma túy va Nguyễn Văn Trung sang Canada loay hoay với con đương’’văn chương hòa giải hòa hợp không lối thoát

HỒ NAM

TRÍCH THƠ HOÀNG NGỌC BIÊN

TRỤ TRÊN NỖI ĐAU

Hai chân trụ trên nỗi đau

Ta hat bài hát riêng ta

Hơn sau thập kỷ đi về

Chiều nghiêng nghiêng mầu đục

Đương hai bên

Cỏ dại

Đẵm thời gian

Đem theo gì

Con người vô định

Đem theo gì đêm lên tiếng hỏi

Đêm trả lời

Lời kinh mẹ

Tiếng mõ cha

Hoàng Ngọc Biên

GỬI HOÀNG NGỌC BIÊN

Đi không phải để đến

Đến để làm gì nhỉ

Có đi thì cò đến

Đời thật là buồn tẻ

Thơ cũng như vậy sao

Ngâm nga hoài chán chêt

Nhưng vẫn phải ngâm nga

Cũng như sống và chêt

Qua đêm rối tới ngày

Ta ngủ vẫn muốn mơ

Những giấc mơ giật mình

Sao ta vẫn cư chờ

Mổi ngày mặt trời mọc

Ta lai phải lên đương

Trươc mặt là sa mạc

Sau lưng là đai dương

Ta lên đương mệt mỏi

Nơi nào là quê hương

Nhưng ta vẫn bươc đi

Dù chỉ đi quanh quẩn

Những miền quê chật hẹp

Hay vượt biển phiêu liêu

Ta tìm mình muốn chêt

Chỉ thây đời tẻ nhạt

Và chửi rủa bản thân

Ôi cái tên vô loài

Chỉ thích chuyện quái đản

VƯƠNG TÂN

 




Quang Thiện : Trũng Sương Mù


TRŨNG SƯƠNG MÙ 

Hoàng vừa đào xong lỗ huyệt ở vùng trũng lầy đầy bụi rậm, bên cạnh giòng suối đổ ra biển Thái Bình Dương, thì chợt thấy từ xa, một nhân dạng xuất hiện, bước ra khỏi màn sương mỏng.

Thoáng hốt hoảng, anh nâng chiếc xuổng đang nắm trong tay lên vai, chuẩn bị như vũ khí tùy thân. Từ đám sương mù ở hướng bờ biển, dáng vóc người lạ trông rõ dần cho tới lúc đến gần trong tầm hai mươi thước. Thấy Hoàng đang chăm chú nhìn mình, người lạ khựng lại chốc lát. Ánh sáng từ chiếc đèn lồng Hoàng đang xách ở tay chưa thể soi rõ khuôn mặt người đàn ông có vóc dáng cắt thành bóng đen trước làn sương đang chuyển động. Sau lưng người lạ, Hoàng có thể trông thấy đường viền đen đứt quảng do gò nổng và núi đá thấp tạo thành ở dọc bãi biển từ xa. Anh chợt hỏi:

– Ông là ai?

Người đàn ông lạ, không trả lời, đứng im nhìn cuộn vải bố nặng nề đặt trên mặt đất, bên cạnh đống cát đá vừa được đào lên dưới chân Hoàng, xong đổi thế đứng và quay người nhẹ như thể sắp phóng tới thình lình, vừa lên tiếng, giọng căng thẳng:

– Tôi cũng muốn nêu câu hỏi tương tự.

Nắm xuổng trên tay, chỉ về phía trái tới hướng ánh đèn tỏa mờ mờ ở ngôi nhà trên cao, Hoàng giải thích:

– Vùng đất ở ven biển này là của gia đình tôi.”

– Khu nghĩa địa này cũng riêng của ông chắc?

Hoàng cải chính ngay: – Con chó chết lúc chạng vạng tối, vì không muốn chôn gần hè nhà nên tôi đem xuống đây.

– Chà, con chó lớn xác dữ.

– Giống chó Danois ở xứ Ðan Mạch mà, rất to con.

Ngưng giây lát đưa tay lau mồ hôi rịn ướt trên mặt, ông Hoàng nói tiếp:

– Anh cần gì, hay chỉ đi dạo trong sương đêm?

Người lạ thận trọng tiến tới thêm vài bước. Qua ánh sáng tái nhợt tỏa ra từ chiếc đèn lồng, Hoàng trông thấy rõ anh ta ăn vận y phục đơn sơ với chiếc áo ngoài đi rừng, quần nâu, ra vẻ là dân sống cuộc đời bình dị, lang thang. Vóc dáng người lạ cao lớn với đôi vai rộng. Mái tóc ướt anh ta biếng chải, phủ lòa xòa trước trán.

Người lạ lên tiếng hỏi:

– Tôi có thể gọi nhờ điện thoại nhà ông được chứ?

– Ðiều này thì tùy. Tôi phải biết anh dùng phone với mục đích gì mới được.

– Nếu tôi nói xe bị hỏng xe chắc ông ngạc nhiên vì sao tôi không đứng ở xa lộ trên cao kia mà lại xuống dưới này.

– Ðúng như anh nói, tôi đang muốn biết tại sao.

– Tôi nghĩ dưới này an toàn hơn.

Hoàng tỏ ý thắc mắc: – Tôi không hiểu anh muốn nói gì.

– Bộ ông không nghe radio hoặc xem Tivi hay sao?

– Có, nhưng không thường lắm.

– Chắc vì vậy nên ông không để ý tin một tên điên vừa trốn khỏi viện dưỡng trí ở Tescadero hồi chiều này. Hắn đánh cắp dao bếp, đâm trí mạng một bạn đồng viện và sau khi trốn ra ngoài hắn đã giết chết thêm ba người khác nữa cũng với con dao đó.

Ngưng giây lát, nhìn như dò xét thái độ của Hoàng, người lạ có vóc dáng cao lớn, nói tiếp: – Nhà chức trách cho biết tên điên đang tiến về hướng Bắc, vì hắn đã trốn đi từ thành phố ở biên giới phía nam bang Oregon. Tuy nhiên, nguồn tin của nhà chức trách sợ không chắc đúng vì hắn có thể xuống hướng Nam và từ Tescadero tới đây chỉ chách mười hai dặm đường.

Bóp chặt cán xuổng, Hoàng hỏi vặn:

– Anh vẫn chưa nói cho tôi biết anh xuống làm gì dưới trũng sương mù này.

Người lạ giải thích: – Cuối tuần, một người bạn gái rủ tôi rời San Francisco. Chồng cô ta có việc kinh doanh ở Los Angeles, nhưng chắc anh ta trở về sớm hơn dự định, không thấy vợ ở nhà, hắn đoán chắc cô nàng lên vùng nắng ấm hai người thường tới nghỉ, nên không gọi điện thoại mà tự ý lái xe đến nơi. Kết quả là, cô nàng chỉ kịp tống tôi ra khỏi cửa đúng lúc.

– Anh chịu để cô ta làm vậy?

– Phải rồi! Chồng cô ta triệu phú lại tốt bụng, ông hiểu chưa?

Hoàng gật đầu ra vẻ đồng ý:

– Ðúng, tên cô ta là gì vậy?

– Chuyện riêng, ông muốn biết để làm chi?

– Nếu không, làm sao tôi biết anh nói thực?

– Vì sao ông nghĩ là tôi thiếu thành thật chứ?

– Anh có thể có lý do để nói dối.

– Ông muốn hàm ý tôi có thể là tên điên giết người?

– Có thể như vậy lắm.

Người lạ chuyển động bước chân, vừa nói:

– Ông nghi ngờ tôi, nhưng tôi lại có ý nghi ngờ ông.

Nghe nói, Hoàng lặng thinh, không phản ứng, trong lúc người lạ tiếp tục:

– Theo tôi đoán, ông có thể là tên điên trốn khỏi dưỡng trí viện, bởi vì ông có hành động khá lạ lùng là giữa đêm khuya lại đi đào huyệt như thế này.

– Tôi đã nói con chó của tôi chết. Hơn nữa, anh nghĩ một tên điên giết người lại chịu khó đào huyệt chôn người bị hắn giết hay sao? Theo kiểu anh lý luận thì hắn đã tử tế chôn người bạn đồng viện bị đâm chết?

Người đàn ông lạ, đứng lặng yên, đưa mấy ngón tay vuốt mép áo, vừa nói:

– Ðược, như vậy ông và tôi đều không phải là kẻ điên. Ðám sương mù này làm tôi ẩm ướt và lạnh quá rồi. Ông có chịu cho tôi nhờ điện thoại hay không?

– Nhưng, anh muốn gọi ai?

– Một người bạn mắc nợ ơn nghĩa với tôi ở San Francisco, để hắn lái xe tới đón. Sự thật chỉ có vậy thôi. Do đó, tôi sẽ quanh quẩn ở đây cho tới khi hắn đến…

Nghe người lạ giải thích thỏa đáng, Hoàng đã có quyết định nên nói:

– Ðược rồi! Anh tạm đứng yên ở đó đi, chờ tôi chôn xác con chó xong chúng ta lên trên nhà.

Người lạ gật đầu, xong lặng linh chờ đợi, không nói gì nữa. Hoàng, vẫn chống tay trên chiếc xuổng, khom người, xử dụng tay còn lại cẩn thận đẩy gói bao bố nặng nề lăn xuống lỗ huyệt. Cuối cùng, anh đứng dậy, bắt đầu xúc đống đất lẫn cát trút xuống. Hoàng chăm chú làm việc đến độ không hề ngước mắt nhìn người lạ đang đứng gần đó.

Xong việc, anh xách chiếc đèn lồng và nắm xuổng ra dấu bảo người lạ theo mình. Ông ta bước vòng ngôi mộ và theo sau Hoàng. Hai người đi dọc bờ suối hẹp, Hoàng ở bên trái, cách xa mấy bước. Người lạ khoanh tay trước ngực, bước chậm rãi một cách thận trọng, như loài thú dữ sắp tấn công con mồi hoặc như sẵn sàng phóng chạy nếu gặp nguy hiểm. Thỉnh thoảng anh ta chăm chú quan sát nét mặt Hoàng.

Ðang đi, anh hỏi bất chợt: – Anh có tên chứ?

– Bộ ai cũng phải có tên hay sao?

– Ông đừng giỡn. Tôi hỏi tên ông mà.

– Art Vickery, nghe được chứ?

– Ông phải hiểu, tôi cần biết tên người lạ mình cho vào nhà.

– Vậy, tôi cũng muốn biết là tôi sắp được vào nhà ai.

Sau khi Hoàng cho người lạ biết tên, cả hai chẳng ai nói thêm lời nào. Ðược chốc lát, giòng suối nhỏ đã ở cách hai người khoảng 50 thước về phía bên phải, khuất trong khu lùm bụi um tùm và đám cỏ hoang rậm rạp. Ở bên trái và thẳng trước mặt hai người là những đụn cát thấp. Khách, chủ đang tiến dần vào vùng đất cứng ít cát biển và lên cao dần tới con dốc đứng có ngôi nhà xây ở trên. Hoàng hướng dẫn người lạ men theo con đường mòn giữa hai dãy gò cát. Sương mù ướt át bao phủ hai người như khói quyện, dạt ra rồi khép lại theo từng chuyển động. Tuy có ánh sáng đèn nhưng cả hai vẫn không thể thấy rõ cảnh vật chung quanh ở trong tầm ba mươi thước, mặc dù đã lên tới gần đỉnh dốc, nơi có ánh đèn sáng trưng từ trong nhà rọi qua màn sương.

Người lạ theo Hoàng tiến lên được nửa con đường mòn uốn khúc mới có thể thấy rõ kiến trúc của ngôi nhà đồ sộ gồm gỗ và kính có sân thượng trông ra hướng biển. Con đường mòn chấm dứt tại một mái hiên dài dẫn tới những bậc cấp gỗ ở đầu cuối để lên ngôi nhà trên cao.

Tới chỗ bậc thang, Hoàng ra dấu bảo Vickery lên trước. Ông ta không nói lời nào, nhưng đi né sang bên, hai tay không vịn lan can cầu thang và thỉnh thoảng quay lui nhìn chừng, trong lúc Hoàng theo sau khách lạ cách khoảng bốn bậc thang.

Ở bên trên, trước nhà có quãng đất rộng làm sân đậu xe và một vườn hoa nhỏ. Dù trời sương mù, qua bóng đêm mờ mờ vẫn có thể thấy được con đường nhựa dẫn từ xa lộ chính vào ngôi biệt thự của Hoàng. Vickery tiến tới và dừng lại trước cửa chính vào nhà, chỗ có ngọn đèn sáng, quay nhìn gia chủ đi sau, đang vặn tắt ngọn đèn lồng xách trên tay, xong để chung với chiếc xuổng dựa vách.

Hoàng định bảo khách tự tiện vào vì cửa không khóa thì chợt thấy một người lạ khác xuất hiện ở màn sương, trên con đường nhựa ngắn dẫn vào sân nhà. Anh khựng lại, ngẩng cổ nhìn, nhận thấy kẻ mới đến cũng có dáng vóc cao lớn như mình và Vickery, nhưng mập và vậm vỡ hơn. Ông ta mặc bộ y phục nhàu nát, đầu tóc bù xù và mặt cau có ra vẻ khó chịu. Ðang lầm lũi tiến bước, người lạ bỗng dừng lại giây lát khi chợt trông thấy Hoàng và Vickery, xong bước tới, bàn tay phải hờm ở hông, chỗ chiếc áo ấm mặc ngoài đang che khuất.

Trông thấy khách lạ,Vickery có vẻ thủ thế và chăm chú quan sát. Ông ta dừng lại cách hai người một khoảng, xong quay nhìn Hoàng rồi nhìn Vickery bằng đôi mắt tò mò, quan sát, giây lát mới lên tiếng hỏi:

– Trong hai ông, ai là chủ nhà?

Hoàng lên tiếng: – Tôi đây!

Sau khi tự xưng tên, Hoàng lại hỏi: – Ông là ai?

– Trung úy McLain, cảnh sát xa lộ. Cả buổi tối, ông ở đây?

– Phải.

– Không có gì rắc rối chứ?

– Không, chuyện gì xảy ra?

– Chúng tôi đang truy tìm một người vừa trốn khỏi bệnh viện ở Tescadero hồi chiều. Chắc ông đã biết tin rồi?

Hoàng gật đầu. Người cảnh sát nói tiếp:

– Tôi không muốn làm ông lo ngại, nhưng phải báo cho cư dân quanh đây biết hắn có thể đang ở lẩn quẩn trong vùng này.

Nghe nói, Hoàng liếm môi, xong nhìn Vickery đứng ở chỗ cửa. Như hiểu ý anh lên tiếng: – Ông là cảnh sát sao không mặc sắc phục?

– Tôi là cảnh sát điều tra nên chỉ mặc đồ dân sự.

– Sao lại đi bộ một mình? Tôi thấy cảnh sát thường đi hai người.

McLain không trả lời ngay. Ông nhìn chăm chú, quan sát Vickery một lúc, mắt mở lớn hầu như không nháy. Ðược giây lát, ông ta nói như giải thích:

– Chúng tôi phải rải mỏng để bao hết khu vực này. Tôi đi bộ vì xe bị hỏng nằm ngoài kia. Tôi đã gọi máy kêu người tới, nhưng trong lúc chờ đợi, không thể ngồi yên một chỗ trên xe, chẳng làm được gì hết nên xuống đi bộ, xem thử quanh đây có gì lạ.

Nghe người cảnh sát nói, Hoàng chợt nhớ lúc ở dưới bãi biển, Vickery cũng đã cho rằng xe bị hỏng máy. Tự dưng anh đưa tay vuốt lớp sương đọng ướt trên mặt, trong lúc Vickery ngỏ ý:

– Ðể tỏ là cảnh sát thật, ông có thể cho chúng tôi xem bằng chứng?

McLain, rời bàn tay chống ở hông, lục trong túi áo ngoài lấy chiếc huy hiệu cảnh sát đưa ra trước mặt Hoàng và Vickery vừa hỏi:

– Các ông tin chưa?

Chiếc huy hiệu chẳng có hình, nhưng Vickery không nói gì thêm. Tới phiên Hoàng hỏi: – Ông có ảnh của tên điên giết người chứ?

– Có, nhưng chẳng được công dụng gì cả vì hắn đã huỷ hết một số giấy tờ, kể cả hồ sơ của chính hắn trước khi trốn khỏi dưỡng trí viện, nơi hắn đã ở suốt mười sáu năm. Hình chúng tôi hiện có đã quá cũ trong khi dáng nét hắn đã thay đổi rất nhiều, nên ban quản trị bệnh viện Tescadero cho biết không giống với người thực chút nào cả.

– Ông có thể mô tả được chứ?

– Hắn lớn xác, tóc đen, vẻ mặt bình thường và không có vết tích gì đáng chú ý nên có thể giống bất cứ ai trong số hàng ngàn người đàn ông tại vùng Bắc California này.

Vickery phụ họa:

– Như vậy hắn có thể giống một ba người đang hiện diện ở đây.

McLain lại nhìn chầm chập vào anh ta, vừa đáp: – Có thể lắm!

Hoàng lại thắc mắc:

– Hắn ta phải có gì khác nữa chứ? Tôi muốn nói là hắn điên hay tỉnh?

– Nhân viên bệnh viện cho biết trông bề ngoài hắn có vẻ rất tỉnh táo.

– Thiệt hả? Vậy mới đáng sợ.

McLain xoa hay tay, đáp:

– Ðúng thế! À, sao chúng ta không vào trong nhà nói chuyện? Ngoài này lạnh quá!

Nghe nói, Hoàng có vẻ do dự vì nghĩ McLain chắc phải có lý do mới đòi vào trong nhà. Anh quay nhìn Vickery và nhận thấy anh ta cũng tỏ vẻ nghi ngờ tương tự. Cuối cùng, tự thấy không có cách nào khước từ cho khỏi mích lòng, Hoàng tự dưng buộc miệng nói:

– Cửa không khoá, cứ vào.

Cả ba đứng im lặng chốc lát trong lúc McLain vẫn chú ý Vickery đặc biệt, làm anh ta thấy khó chịu. Ðể phá tan bầu không khí nghi ngại, Vickery xoay người mở cửa, xong nép sát sang một bên, vừa bước vào trong, như lúc cùng Hoàng ở dưới trũng lên mấy bậc thang. McLain vẫn đứng yên chờ đợi, khiến Hoàng phải theo sau Vickery. Ðợi cả hai vào hẳn bên trong, người cảnh sát mới đi sau cùng và đóng cửa lại.

Băng ngang gian phòng khách khá rộng, trần nhà cao với những cây kèo to lớn gác ngang, cả ba tiến vào phòng sinh hoạt gia đình ở bên trong. McLain nhìn quanh quan sát khung lò sưởi xây đá cẩm thạch, xem mấy bức vách trang trí những thứ đắt tiền và rờ rẫm bàn ghế thời trang, đánh vẹc-ni bóng láng, vừa khen:

– Nhà đẹp và sang quá! Ông Hoàng ở một mình hả?

– Không, còn vợ tôi nữa.

– Bà có ở nhà chứ?

– Ðang ở Las vegas. Bả thích cờ bạc, tôi thì không.

– À, tôi hiểu rồi.

Hoàng mời xã giao: – Ông uống thứ gì chứ, chút rượu nhé?

– Không, cám ơn. Trong lúc làm việc, tôi không dám uống.

Tuy vẫn thấy khó chịu vì bị McLain tiếp tục nhìn chừng theo dõi trong lúc tiếp chuyện với Hoàng, Vickery nói:

– Tôi không chê. Gia chủ cho xin một ly đi.

Hoàng bước tới quầy rượu, bên ngoài bọc da láng mướt, ở gần chỗ khung cửa sổ rộng choáng gần hết bức tường, nhìn ra phong cảnh biển. Vì màn không kéo nên khách có thể thấy cảnh trí ở bên ngoài. Sương đêm đang cuồn cuộn áp sát mặt kính từng làn mỏng, trông như những ngón tay ma xương xẩu. Hoàng như không lưu ý, quay lưng nhấc chai rượu mạnh trên kệ rót vào hai chiếc ly.

Nhìn Vickery một lúc, McLain bất chợt lên tiếng hỏi:

– Tôi chưa được biết tên anh.

– Art Vickery. Tôi có gì khả nghi mà ông nhìn hoài vậy?

Không trả lời, McLain hỏi tiếp: – Ông là bạn với ông Hoàng?

Ðang ở quầy rượu, gia chủ đáp:

– Không, tôi mới gặp tối nay thôi. Anh ta muốn nhờ điện thoại.

Nghe nói, ánh mắt McLain như ngời sáng, hỏi tiếp:

– Ðúng thế chứ? Như vậy ông không phải là dân vùng này.

– Phải, tôi từ xa tới.

– Xe ông bị hỏng may chắc?

– Không đúng hẳn.

– Vậy, thế nào mới đúng?

– Tôi đi hẹn với một người đàn bà, nhưng ông chồng xuất hiện bất ngờ nên lỡ cuộc. Ông hiểu rồi chứ?

McLain đáp, vẻ tò mò:  – Tôi chưa hiểu. Người đàn bà tên gì vậy?

– Ông đã cho biết là cảnh sát xa lộ, tôi không tiện nói tên người ta.

– Tại sao chứ ? Tôi đã cho ông thấy đầy đủ bằng chứng rồi mà.

– Dù ông có mang huy hiệu cảnh sát cũng chưa chắc là thật.

Nghe nói, McLain mím chặt môi, nhìn Vickery không nháy mắt, một lúc mới nói:

– Ông có ý gì, nói thẳng ra đi.

Vickery đáp, giọng cương quyết:

– Chẳng có ý gì cả. Ông đã biết hiện có một tên điên giết người chẳng rõ lý lịch đang lẩn quẩn đâu đó trong đám sương mù ngoài kia.

– Nói như vậy, tức là anh không tin tưởng cảnh sát?

– Tôi chỉ thận trọng thôi.

– Thế là tốt. Tôi cũng vậy. Anh cư trú ở đâu, Vickery?

– San Francisco.

– Ðêm nay anh định về nhà bằng cách nào?

– Tôi tính gọi bạn tới đón về.

– Một người bạn gái khác?

– Không phải.

– Thôi bây giờ như vầy. Anh theo tới chỗ xe tôi đang đậu. Chờ thợ sửa chữa đến thay dây kéo máy xong, tôi đưa anh tới Bodega, ở đó, anh sẽ dùng điện thoại của cảnh sát để gọi bạn.

Vickery nghiến răng, cố nhìn sâu vào ánh mắt McLain, nhưng chỉ được vài giây, anh quay chỗ khác. Thấy vậy, McLain lại hỏi:

– Sao? Anh có vẻ không thích lời đề nghị của tôi?

– Tôi có thể gọi bạn ngay tại đây cũng được mà.

– Ðương nhiên là được, nhưng sẽ gây bất tiện cho ông Hoàng. Chắc anh cũng biết, tạo phiền phức cho người hoàn toàn xa lạ là điều nên tránh?

Vickery đáp, giọng khó chịu: – Chính ông mới hoàn toàn xa lạ. Tôi không đến đổi điên để chấp nhận đi bộ một mình ngoài sương mù với ông.

– Tôi nghĩ là anh nên đi.

– Không khi nào. Tôi không thích lối ông trắng trợn dò xét tôi.

McLain trả đủa Vickery, giọng nghe nhẹ nhàng nhưng ẩn tàng sự hằn học:

– Tôi cũng không thích cử chỉ và câu chuyện cùng cách nhìn của anh.

Ðang đứng bất động ở quầy rượu và nhận thấy cuộc đối thoại giữa hai người lạ đã tới mức căng thẳng, Hoàng tự dưng thấy lạnh mình, vội lên tiếng:

– Không sao đâu Vickery, tôi sẽ cùng đi với anh.

Hoàng dứt lời, Vickery nhớm chân bước mạnh tới trước, khiến ông ta không rõ anh phản ứng tự nhiên hay muốn đe dọa mình. Nhưng McLain nhanh tay vén áo ngoài, rút súng chỉa vào ngực Vickery, nói cứng cỏi:

– Anh hãy ra ngoài với tôi.

Nhìn cảnh tượng trước mắt Hoàng càng lo âu hơn, ngực tự dưng nghẹn, như muốn nghẹt thở.

Mặt Vickery biến sắc, mồi hôi rịn ướt trên trán. Anh vừa thối lui vừa lắc đầu, trong lúc McLain sấn tới. Vừa nhìn khẩu súng đang đe dọa ở ngực mình, Vickery vừa nói với Hoàng, giọng nài nỉ:

– Ðừng để ông ta bắt buộc tôi đi!

Hoàng khoác tay đáp: – Tôi đâu làm gì được.

Tỏ vẻ đắc thắng, McLain nói:

– Ðúng! Hãy để tôi lo vụ này và sẽ cho ông biết tin sau.

Hoàng thoáng sửng sốt nhìn McLain dùng súng uy hiếp buộc Vickery bước ra phòng khách. Ông nghe tiếng anh ta la hét phản đối, tiếp đến là tiếng cửa trước đóng mạnh. Hoàng rút khăn tay lau nhẹ vầng trán, xong bưng ly rượu đã rót, ngửa mặt uống một mình, rồi nốc cạn ly thứ hai trước khi bước nhanh ra cửa trước.

Bên ngoài, cảnh đêm thật im vắng, chỉ nghe tiếng sóng biển vỗ đều đều vào bờ, từ xa vọng đến. Nhìn tứ phía chẳng thấy bóng dáng McLain và Vickery đâu cả, Hoàng tiến tới bức vách, chỗ gần cửa chính, thắp ngọn đèn lồng và nắm lấy xuổng, xong nhanh chân bước mấy bậc cấp gỗ xuống dưới khu mái hiên, đến con dốc mòn phủ đầy sương mù để tới vùng trũng đầy bụi rậm dưới bãi biển.

Lửng thửng bước đi, anh liên tưởng tới hai người lạ lúc nãy, băn khoăn chẳng biết Vickery hay McLain, ai là kẻ điên giết người? Suy tư chốc lát, anh nhận thấy không cần chú tâm tới vấn đề này nữa, mà lo ngại Vickery có thể khai với cảnh sát, thấy ông đào huyệt giữa đêm khuya. Ý nghĩ khiến Hoàng suy tính nên moi xác chết lên, đem chôn chỗ khác.

Hoàng không muốn để chiếc xác nằm vĩnh viễn trong vùng trũng đầy lùm bụi nữa mà dự trù tìm phương cách toàn hảo và kín đáo hơn để thủ tiêu. Anh chợt thấy sung sướng với ý tưởng sớm hoàn tất việc chôn cất, để nghỉ ngơi và phát họa một số kế hoạch lâu dài cho tương lai sắp tới. Hoàng chủ trương tiền bạc làm ra được nhiều phải tiêu xài thỏa chí. Nhưng suốt cuộc đời, anh không thể thuyết phục được Trang, vợ mình về vấn đề này.

Tới chỗ huyệt mộ, Hoàng đặt chiếc đèn lồng xuống mặt cát và thận trọng đào chiếc xác vợ gói trong lớp vải bố lên. Mãi mê suy nghĩ và lo xúc đất đổ sang bên, anh không chú ý một người lạ từ trong lớp sương mù bước ra, đang rón rén, lặng lẽ tới gần sau lưng, tay lăm lăm con dao làm bếp bén ngót…♥

                                                                    QUANG THIỆN     




Phan Tưởng Niệm: Mưa Tháng Tư

                      Mưa Tháng Tư

 

 

tháng tư mưa đổ xuống
trên con đường tôi đi
làm mờ bao ước vọng
xóa nhòa những tương lai . 

tháng tư mưa đổ xuống 
ướt đẫm bộ treillis

tôi cởi ra vứt bỏ 
xuống dòng – Bến Chương Dương .

tháng tư mưa đổ xuống
lầy lội cả cuộc đời
tôi nổi trôi cuộc sống
phiêu bạt khắp bốn phương. 

tháng tư mưa đổ xuống 
ngập lụt khắp thôn làng 
em thơ không sự sống 

lạc loài – đói – lang thang

tháng tư mưa đổ xuống
làm đổ nóc giáo đường
con chiên lìa xóm đạo
Chúa nhìn – mắt lệ rơi . 

tháng tư mưa đổ xuống

làm sụp mái chùa cong 
tín đồ úp mặt khóc 
Di Đà niệm – Nam Mô

tháng tư mưa đổ xuống
phủ ướt khắp dân tình
tôi lấy tay vuốt mặt
nhìn rõ sự nhục vinh .

Phan Tưởng Niệm