Phạm Thị Cúc Vàng: Mượn tiếng thơ xưa chở ngậm ngùi

Thứ Tư, 21/03/2007, 22:48 (GMT+7)

Mượn tiếng thơ xưa chở ngậm ngùi

 

Cúc Vàng (thứ hai từ trái sang) trong ngày hội thơ Đường Việt Nam – Ảnh: T.C.N.

TTO – Tôi gặp Cúc Vàng tại Cung Văn hóa Lao động TP.HCM trong ngày hội thơ Đường Việt Nam. Nhanh nhẹn với nụ cười rất tươi, Cúc Vàng trao tôi mấy bài Đường luật, thỏ thẻ: “Gởi anh đọc và cho em cảm nghĩ”…  

 

Đường luật là một thể thơ gò bó, chỉ vỏn vẹn 56 chữ, lại phải tuân thủ đề, thực, luận, kết, lại phải có những vế ối… nên thể thơ này đến hôm nay gần như đã mai một.

Vậy mà Cúc Vàng trao cho tôi một lúc chín bài Đường luật. Một thoáng ngỡ ngàng, phải chăng cô gái này thuộc týp người hoài cổ? Không, Cúc Vàng đã thổi một làn gió mới vào thể thơ cổ bằng những ngôn từ nhè nhẹ:

Ơi xưa phố núi đượm tơ chiều
Thuở ấy trăng mơ chưa nói yêu
Mười tám lên đồi nghe gió hát
Đôi mươi ôm mộng giữ lòng kiêu
                                                                        (Trăng mơ phố núi)

Với Cúc Vàng, thiên nhiên và tình yêu có một sự gắn kết bền chặt. Tình và cảnh, cảnh và tình hòa quyện với nhau thành một kỷ niệm để rồi:

Nơi ấy đậm hình xưa – tóc ngắn
Em về buổi sáng khói mù giăng
Hàng dương lặng rũ lòng thơ dại
Dốc núi nghiêng đùa sương giá băng

Và sau đó, một chút xót xa:

Thời gian sóng sánh sầu chưa cạn
Tình hỏi tình sao nỡ cách ngăn?
                                                                      (Hỏi tình)

Đối với quê hương, dễ tìm thấy nơi Cúc Vàng một hình ảnh thân quen của làng quê Viêt Nam. Khóm trúc, vòm tre, bờ kênh, nhánh nước, Cúc Vàng sử dụng những từ ngữ tượng hình rất mộc mạc:

Khóm trúc vòm tre hương lúa ngát
Bờ đê nhánh nước dải kênh xanh
Vừa mưa rơi ướt con đường vắng
Chợt nắng chan hòa ngõ phố hanh
                                                                              (Đậm nhạt tình quê)

Cúc Vàng rất vui tính gần như hồn nhiên. Nụ cười luôn nở trên môi và ở giữa đám đông Cúc Vàng rực rỡ như một đoá hoa. Tiếp xúc với Cúc Vàng tôi cảm nhận được nơi người thơ một sự lạc quan và đầy sức sống. Thế nhưng, đằng sau những rạng rỡ thường nhật, tâm sự của Cúc Vàng cũng không kém phần thổn thức:

Chạm ngõ đau nhoài chan vết cũ
Vá tim sầu chở nặng hồn hoang
Cùng song bước chẳng nhìn chung hướng
Không kết thành đôi vỡ nhịp đàn
                                                                                  (Tiếng đàn)

hoặc:

Tình cạn – cạn dần mơ nước lớn
Bờ xa – xa tít đợi năm ròng
Tấm thân thấm đủ mùi cay đắng
Vị ngọt là điều ta vẫn mong
                                                                             (Vị ngọt ta mong)

Chín bài Đường luật của Cúc Vàng tuy chưa đạt được độ chín nhưng lại thể hiện sự dũng cảm khi làm bạn với thể thơ đầy những qui luật ngặt nghèo. Như một khẳng định với đời, với thơ, Cúc Vàng đã không ngần ngại chọn Đường luật để chuyển tải những tâm sự vơi đầy:

Mật ngọt len hồn sao ánh mới
Tình tròn căng mộng giấc mơ vui
Trách vòng nhật nguyệt xoay dời mãi
Mượn tiếng thơ xưa chở ngậm ngùi.
                          (Bóng thời gian)

TRẦN CHÁNH NGHĨA

 

Chế Biến đêm


Ước gì ta xắt được đêm ra từng mảnh
biến chúng thành những chiếc bánh con con
không còn nữa khối đêm đặc quánh
ta ăn bằng hết ngần ấy bánh thơm ngon

này bánh nhớ mang màu của mặt trời
màu đỏ chót nung chảy phiến óc , vườn tim
ta bỏ vào hàm thời gian nghiền nát
nhớ rả tan tiêu hủy hết nỗi niềm

này là bánh sực mùi hoàng hôn tím
hắt thêm lên mặt bánh vệt nắng loang
lại cho vào hàm thời gian nghiền nát
đừng để ai chứng kiến vệt chiều tàn

còn biết bao bánh chất chứa niềm ta
bội thực mất thôi, ta đành lựa chọn
một chiếc bánh mơ từ thời mới lớn
có dáng trái tim ngồn ngộn yêu đầy

trong cơn khát thèm , ta ngấu nghiến bánh tình yêu
vị ngọt ngon thấm dần đầu lưỡi
mùi béo ngậy sộc vào nóc mũi
chiếc bánh này
ta nhấm nháp thâu đêm.

phamthicucvang

Ngọt ngào chia xa

Đã có lúc, tôi tưởng rằng, tất cả đã nằm thỏm trong bàn tay bé nhỏ của tôi , tròn vẹn, ấm nồng.
Thế nhưng , mấy ai ngờ đươc, chuyện gì xảy ra giữa kẽ hở những ngón tay ?


Ngọt môi                                        

ngọt mắt
ngọt anh và em

Ngọt nỗi nhớ
ngọt câu thề
ngọt tình anh và em

Ngọt ngày tới
ngọt đêm về
ngọt lịm anh và em

Ngọt giấc mơ
ngọt đợi chờ
ngọt ngào dứt bỏ
anh và em !

Xin click vào tựa bản nhạc để thưởng thức giọng ca của chính tác giả:



Hương Mẹ trong thơ

Nước Mắt

Tóc Mây

Tôi muốn Cười La

             
phamthicucvang

Kẽ hở của mười ngón tay khép kín, đã không giữ lại được những giọt đắng đời nhau tựa những giọt cà phê nhỏ qua phin (filter).
Tôi cố pha chút đường cho ngọt, nhưng gịot đắng vẫn tự nó làm đắng môi, và kỷ niệm …!   

Giọt đắng đời nhau

Đắng lời
đắng miệng
đắng mình gọi tên…

Đắng ngày

đắng cả đêm thâu
đắng qua nối nhớ
đắng câu hẹn thề

Đắng ôi
chết cả cơn mơ
Đắng lòng
uá cả nỗi chờ đợi nhau
Đắng đời
trắng dã mắt sâu
Đắng duyên
đành lỡ gọi tình anh, em.

Đắng môi
chẳng dứt cơn thèm…

 

Sài Gòn 2:30 AM,
Jan.31, 2010

Chinh Nguyên L19

Xuân xanh

Màu xanh nhuộm ướt mây trời
màu xanh tưới tràn cây cỏ
màu xanh nhỏ đầy trang mơ
màu xanh kín góc tim chờ
xuân ,
em tần ngần nơi đâu ?

Sợi nồng nàn giăng mắc thiên nhiên
cúc, mai, đào nghiêng nghiêng hé nụ
sương sớm lăn tăn đùa hoa lá
hoàng hôn thư thả giọt vào thơ
xuân,
em tha thẩn phương nào  ?

Có đôi lứa yêu nhau
chờ xuân nói câu thề ước
em
chờ xuân
điệu đà gắn lên tóc mượt
chiếc hôn đời .

phamthicucvang



Hãy nhìn em bằng con mắt thấu rõ

Đừng nghĩ em, người đàn bà chỉ biết cười
giữa chốn xa hoa luôn khoe sắc niềm vui
dù tận lòng luôn phình to héo hắt
vẫn xinh tươi , ca hát dưới mắt bao người

em không nghĩ rằng em , người đàn bà hai mặt
sáng trưa chiều hớn hở.Tối dằn vặt lòng đau
đêm nức nở rọi bóng gối chiếu muôn màu
ké một tụ hưởng canh đời thiên hạ

có đích thực em, người đàn bà giả trá?
phỉnh dụ mình đùa nghịch với thương đau
bới lên câu thơ, vùi xuống tình sầu
muôn thuở em đổi thay
tươi
héo
.

Tứ tuyệt ngày mùng một

Xa quê

Hoa mai giấy mà xuân lại thật
tết xa quê vẫn đậm tình quê
thắp nén hương cầu bình an đến
người xa ơi , giữ vẹn ước thề .

Viết thay anh

Đủ bánh chưng xanh , câu đối đỏ
nghe lòng rưng rức thiếu hương quê
khói giao mùa nức lòng nỗi nhớ
tóc xuân phai mơ mãi lối về

PTCV 2010

Mầu Đen

Sáng
đối diện ly caphe đen
soi em
không thấy được nét mặt
không thấy được ánh mắt
chỉ có vị đắng hắt vào mỏi mệt
chìm vào đáy ly sệt đen – niềm.

Sáng
chăm bẳm nhìn ly caphe đen
ai vứt trái tim trong đó
ngã màu đen nhẽm

Sáng
hớp ngụm caphe đen
vị giác vô cảm
nghẹn
thắt lồng ngực
thì ra
em đang nuốt khối đen – tình.

phamthicucvang

 




Chinh Nguyên : Những Vết Chân Di

Ghi Chú: Link dưới có rất nhiều sách Việt, Hoa, Anh, Pháp… Bấm vào link và các tabs để tìm theo tác giả, thể lọai ,…

 
                                            http://vietmessenge r.com/books/ ?author=list

———————————————————————————————–

Những Vết Chân Di

Buổi sáng sớm có nắng thu luồn qua song cửa sổ, cành rung nhẹ theo gío, và vài chiếc lá vàng lơ lửng trên không. Tôi chợt gõ trên keyboard bài thơ ngẫu cảm thu hoài:

Thu về sao để tình rơi rụng
Sắc úa vàng bay đổ xuống đồi
Nắng sớm còn hong duyên cỏ biếc
Lòng thu.. tuổi hạc nhớ xa xôi.

Thu mấy độ đau sầu viễn xứ…?
Sợi tóc bay trơ trụi nỗi buồn
Trời xanh thẳm vắng mây xao động
Ai nhớ đây…! Sao có lệ tuôn….?

Tôi đang định viết tiếp, bỗng có tiếng báo động của PC nhắc nhở có điện thư, lòng tôi tự nhiên bồi hồi, và quyết định bỏ ngang bài thơ dang dở viết để mở e-mail đọc:

Thân chào các bạn.
Chiều nay CHS Mai Thu Tung là em gái bạn Mai Tiến Thành phone cho vợ chồng chúng tôi, báo tin MAI TIẾN THÀNH ĐÃ VĨNH VIỄN RA ĐI sau thời gian lâm trọng bệnh.
Xin thông báo đến toàn thể gia đình TH BMT tin thật buồn này.
Mai Thu Tung cho biết các bạn có thể đến viếng Thành tại nhà quàn #3 Peek Family Home Funeral Bolsa st. Wesminster, CA vào ngày Chúa nhật 12/10/08 (cuối tuần này).

THIỆP-MAI

Lòng tôi tự nhiên chùng lại và nhớ lại những kỷ niệm mấy chục năm qua từ thời đệ thất Trung Học Nguyễn Trường Tộ, ngôi trường trung học đầu tiên của tỉnh Ban Mê Thuột lấy dẫy nhà Micola hai lầu, và ngăn ra làm lớp học bên cạnh công viên trước cửa biệt dinh Bảo Đại. Chính vì thế mỗi lần giờ ra chơi là chúng tôi quây quần bên gốc phượng già trên thảm cỏ xanh, và nhường cho nữ sinh ngồi chật ghế công viên. Cũng vì những cây phượng già trổ bông khi hè về đã làm tôi thốt ra hai câu thơ khi còn đệ ngũ trên con đường tôi gọi là đường Phượng Mơ có hai dẫy phượng trồng hai bên đường bên cạnh Công Viên ở giữa hai vườn cà phê của Ông Huấn, lối đi xuống suối Buri (Mourier) :

Ô kìa hoa phượng tan thành máu
Nhỏ xuống hồn tôi chết một đời…!

Đời có những đổi thay, nên chúng tôi đã phải chuyển trường sau khi trường mới đã xây dựng xong trên đường Hùng Vương và đổi tên thành Trung Học Ban Mê Thuột, bên suối nhà đèn và cách con suối có đồi bắp xanh mỗi mùa mưa lũ.

Ven suối phía bên trường có con đường mòn vào buôn (làng) Ale B của người thiểu số Radê, dọc theo đường mòn có nhưng dây leo của hoa trinh nữ .

Những lúc hai đứa tôi thơ thẩn trên đường mòn, dong chơi trước giờ học bên cạnh những bờ lau sậy bên suối, Thành thường nói với tôi :
– Loài hoa này nhìn thật đẹp với màu tím buồn, tròn tròn dễ thương như viên bi. Nhưng nếu thò tay hái, gai sẽ đâm vào bàn tay, lá tự nhiên cụp lại như cô gái trong lớp mình hay mắc cỡ thẹn thùng. Khi mày cẩn thật nhẹ nhàng luồn tay qua những dây gai của nó để hái được bông, và cũng cẩn thận rút tay ra thì nó đã nát trong tay mày rồi, vì hoa quá mềm và yếu ớt. chỉ ngắm mà mà không hái được….!

– Mày cũng có tâm hồn thơ thẩn..!
– Thơ cái quái gì, tao thấy sao nói vậy, mà chính tao đã bị gai của nó cắn rồi !

Mai Tiến Thành bạo dạn, ngổ ngáo hơn tôi trong những lần bên những bạn gái cùng lớp, hơn nữa Thành có dáng đẹp trai, trắng trẻo ăn nói có duyên, nên được nhiều bạn gái cùng lớp thich truyện trò, cho nên bên cạnh Thành lúc nào cũng vang tiếng cười con gái, họ cười quên cả dáng dấp e lệ thẹn thùng bản tánh nữ sinh. Xong lớp đệ Tứ, có lần tôi hỏi Thành :

– Mày có yêu cô bé nào trong nhóm bạn bè không vậy ?
– Yêu cái con khỉ gì…! Nhiều quá, tụi nó vây quanh tao là vì vui thôi, tao chẳng để ý ai cả. Tụi mình lớn lên là sẽ vào quân đội… chiến tranh mày hiểu không …!

Thành nhìn tôi :

– Còn mày ? Mày phải nói… Nếu không tao cướp mất đào của mày ráng chịu đó nghe…

Tôi yên lặng mở cuốn sách việt văn, trong đó đầy thơ tôi viết trong các phần bỏ trống , và có ép một cành nhỏ hoa bằng lăng Diễm Diễm đã hái bên bờ suối Buri (Mourier), nhưng không nói cho Thành Biết chủ của cành hoa bằng lăng ép là ai. Vi` tôi cũng chẳng biết ý nghĩa của sự cho tặng , và tình nàng Diễm Diễm ra sao, tôi chỉ nhận với tuổi học trò mơ mộng thế thôi. Dưới cành hoa bằng lăng ép khô có bài thơ mà tôi chỉ còn nhớ hai câu :

Bằng lăng tím em tặng anh bên suối
Phải tình em hay là nỗi khổ dau…!

Sau mùa hè đệ tam, tôi bỏ trường vào dòng tu, Thành ở lại Ban Mê và chúng tôi không gặp nhau cho tới khi gặp lại nhau, là khi tôi và Thành đã trở thành hai chàng lính chiến tuổi đời hơn 25 với bộ đồ đầy bụi đường. Tôi được biết Thành là phóng viên chiến trường của quân đo&a
grave;n hai, còn tôi đời lính thành phố của Sư Đoàn Hai Không Quân tại Nha Trang.

Ngày đó tôi hỏi Thành :

– Tao gặp chị Điệp của mày, và thấy con mày mang về cho chị Điệp nuôi. Bộ mày và cô giáo nhà văn của mày yêu nhau thật sao? Mày là học trò còn bà ta là cô giáo của mày!

Thành ôm chiếc máy quay phim, chúng tôi đi bên nhau vào cổng Phi Long Nha Trang. Thành dừng lại nhìn tôi :

– Sao mày biết chuyện này?
– Mẹ khỉ, Chị Điệp nói và chị đưa cho tao cuốn sách mày viết giải oan cho người yêu của mày.

Thành dừng lại nhìn tôi thêm lần nữa, hỏi :

– Bà Điệp đưa cuốn gì cho mày, tao viết hai cuốn lận. Mà mày cũng tò mò chuyện của tao!
– Chị Điệp đưa cho tao cuốn Tiếng Nói Học Trò.
– Hồi mày học đệ nhất trên Đà Lạt, mà cũng yêu thương kinh khủng quá xá,
Tình yêu mà viết thành sách nổi tiếng là tuyệt rồi. Đến nỗi nàng viết ra Cuốn Vòng Tay Học Trò, ghê gớm thật…!
– Ồ… Chúng tao yêu nhau … Đâu có tội gì phải không mày! Tình mà! Tụi đạo đức rởm, bàn tán xôn xao, nên tao phải viết thôi…!

Sau lần gặp đó tôi không còn gặp lại Thành. Năm 1975 tôi cứ tưởng mất người bạn này, tuy nhiên chúng tôi lại có dịp may gặp nhau tại miền Nam Cali. Trong dịp Hội đồng hương Ban Mê Thuột, anh Nguyễn Văn Như chủ tịch tổ chức năm 2003. Vừa gặp mặt Thành đã ôm lấy tôi hỏi dồn dập:

– Tao nghe tụi bạn nói mày còn sống ở Bắc Cali. Không có số điện thoại nên chịu thua. Tao cứ tưởng mày đi đoong rồi ? Nghe đâu mày về Kiểm Báo Ban Mê Thuột tại phi trường L19? Phi trường L19 bị nặng lắm, tụi nó pháo liên miên cả nửa tháng, mà mày con nguyên vẹn lại qua Mỹ là phép lạ !

Tôi dẫn nó tới bàn ngồi :
– Đúng , đó là phép lạ… Nhưng tao đâu có đụng CS trong năm 1975 …!
Ông Hoàng Bá Mỹ gởi tao về Bộ Tư Lệnh KQ Sài Gòn học tháng 2/1975 thì đầu thánh 3/1975 nó đánh Ban Mê Thuọt. Tao ở Sài Gòn và chạy qua đây có một cái quần xà lỏn…!
– Ông Mỹ chồng của Bích, Tiệm may Thông Đạt?
– Đúng.
– Ấy mày cũng lại nhờ vía đàn bà. Bích học lớp với tụi mình ngày xưa.
– Tao cũng chẳng biết Bích có nói gì với chồng hay không…! Tuy nhiên tao đi học là bắt buộc, vì tao không muốn đi học lúc đó..! Số phận…!

Năm 2006. Tôi đến nhà quàn tại Nam Cali. tiễn đưa cha của Thành lần cuối . Tôi gặp lại chị Điệp vẫn mang dáng dấp của nét đẹp ngày xưa,. Trong khi tôi và chị Điệp đang nói chuyện về việc gia đình và các con chị. Thành tới kéo tôi ra chỗ ít người . Hai đứa tôi nói chuyện đời người ngắn ngủi, nói về tình trạng bệnh của cha Thành và cuộc sống của ông trước vào sau 1975.

Thành bỗng nói :
– Hêy… Mày hồi này viết lại rồi sao? Tao bỏ luôn rồi… mệt lắm…! Mày để cái hình trong cuốn truyện ngắn Mẹ Tôi của mày coi “bụi” lắm…!
Tôi tâm sự :
– Tao nghỉ việc rồi,..! Thời giờ dư không biết làm gì, sẵn có tí máu văn nghệ nên viết lại cho vui. Bạn bè chúng mình đâu còn mấy đứa. Mẹ kiếp tụi mình sẽ rụng dần…!

Tháng 04/2008, tôi gọi phone cho Thành, hai đứa tôi ôm phone cả tiếng với đủ mọi chuyện trên trời dưới đất. Thành than mệt và có bệnh, có thể đi sớm hơn tôi. Tôi hỏi Thành Bệnh gì… nhưng Thành không nói, tôi chỉ nghe đầu giây bên kia tiếng thở dài…!

Tôi không ngờ cuộc điện đàm hôm đó đã là lần cuối hai đứa gặp nhau trên đường giây điện thoại. Tôi súc động nhận tin buồn từ người bạn thân báo một người bạn thân ra đi vĩnh viễn bất ngờ, tôi viết cho Ngọc Thiệp :

Cám ơn Thiệp và chị Bảo Trân đã cho tin buồn này.

Thiệp ơi : Mày cho tao chung với các bạn bè về mọi sự chi phí tiễn thằng bạn vàng Mai Tiến Thành vào cõi hư vô.
Mày làm ơn chuyển lời tao chia buồn cùng gia đình Thành, Mai Thu Tùng và chị Điệp,chị của Thành.

Đời nó thế là yên thân mày nhỉ
Còn chúng mình toan tính nữa mà chi…!
Vung tay lém viên cuội vào hồ nước
Mặt nước loang sóng nhẹ tiếc xuân thì..

KHÓC BẠN MAI TIẾN THÀNH

Mày đã ra đi không trở lại
Tao buồn dứng ngó là thu rơi
Lá nào nương gió bay lên mãi
Còn lá nào đây giữa cuộc đời

Thấm thoát tuổi xuân+ giữa lọan trời
Bút nghiên bỏ lại để dong chơi
Mang vào tay súng, đùa bom dạn
Nửa kiếp tàn phai như lá rơi…

Chợt thoáng không ngờ đã biệt ly
Quê hương bỏ lại mày ra đi
Tháng Tư phone gọi, hôm nay mất…!
Bạn đếm đốt tay khóc phân kỳ.

Xứ lạ quê hương mày ngủ yên
Còn tao mang nặng nỗi buồn phiền
Lặng thinh nhìn lá bay trong nắng
Nắng tím chiều phai, tủi mộng điên

Thôi nhé tình yêu và tất cả
Hồn thiêng nợ sạch , nhớ quay về
Việt Nam một cõi trong mê loạn
Tao, mày sẽ gặp chốn ch&ac
irc;n quê…!

Viết khóc bạn Mai Tiến Thành,

Để nhớ lại Ban Mê thời Trung học Nguyễn Trường Tộ

Chinh Nguyên
San Jose Oct. 12/2008




Kiều Oanh : Bầu Sữa Mẹ

BẦU  SỮA MẸ

Bầu sữa mẹ, nuôi con khôn lớn

Tháng năm dài, chồng chất ngất cao

Vòng tay Mẹ bao la biển rộng

Đưa con vào tuổi mộng trăng sao

 

Bầu sữa Mẹ, ngọt ngào tinh khiết

Thật ngọt bùi, thơm ngát mẹ ơi!

Mẹ ôm con, trao lời tha thiết

Hé môi cười, con trẻ mừng vui

 

Bầu sữa Mẹ, tuôn trào mấy độ

Mẹ dầm mưa, dãi nắng một thời

Ôi quằn quại, đôi vai nặng chĩu

Buổi cơm chiều, chăm chút đàn con

 

Bầu sữa Mẹ, gió mưa thay đổi

Con lớn khôn, sữa mẹ cạn rồi

Chiều nắng Hạ, phong sương mấy độ

Mẹ bây giờ khoảnh khắc xa xôi

 

Gió mưa tuôn đôi dòng thương cảm

Nhìn Mẹ yêu, đau xót ngậm ngùi

Ôi dáng xưa, nay còn đâu nữa?

Biết đâu tìm dáng Mẹ xa vời

 

Con chẳng biết nói sao cho hết

Biết cùng ai chia sẻ nỗi niềm?

Nơi đất khách, mùa Xuân trên bến

Nắng Xuân tươi, mắt Mẹ muộn phiền

 

Xuân đi qua, rồi Xuân lại đến

Đếm tuổi Xuân thương xót Mẹ hiền…..

 

 

 

Cho Ngày Từ Mẫu May 9

Kiều Oanh Trịnh, VA 2010

 




Wilbert Rideau : KẺ TỬ TỘI THẤT HỌC TRỞ THÀNH MỘT CÂY BÚT LỪNG DANH

 

 

◘ PHAN BÁ THỤY DƯƠNG 

Wilbert Rideau : KẺ TỬ TỘI THẤT HỌC
TRỞ THÀNH MỘT CÂY BÚT LỪNG DANH

 

“Tương lai mỗi tội nhân là một vị thánh.

Quá khứ mỗi vị thánh là một tội nhân.”

Saint Augustine

 

 

Không phải kẻ nào mang án tử hình cũng hoàn toàn tuyệt vọng, mất đi niềm tin về sự sống còn của mình. Thảm trạng cùng nhục cảnh tù đày nhiều lúc lại là môi trường, cơ hội tốt để con người có thể phát huy, ghi lại những suy tư, những khổ ải, gian truân mà họ đã kinh qua, chiêm nghiệm… Tác phẩm của những kẻ khổ nạn này thường được người đọc ưu ái đón nhận và nhiều khi được xem, liệt vào hàng kiệt tác trong các lãnh vực báo chí, văn học, chính trị… 

Chỉ mới vài ba thập niên trở lại đây thôi, người ta lại có dịp được hiểu biết thêm những danh tài mới. Chẳng hạn như Jack Henry Abbott – tác giả mấy cuốn sách đắc giá: My Return và In The Belly Of The Beast: Letters From Prison thuộc loại best-seller toàn cầu. Theo tin của các giới báo chí, truyền thông và viên chức cải huấn trại Wende Correctional Faculty thuộc New York loan báo thì nhà văn da đen này đã treo cổ tự vận trong phòng giam cấm cố, biệt lập của mình vào buổi sáng chủ nhật ngày 10 tháng 2 năm 2002 khi vừa 58 tuổi. Chẳng hạn một nhân vật lừng lẫy khác là Eldridge Cleaver nguyên chủ bút tạp chí Remparts, tác giả tập Soul on Fire [Linh Hồn Lửa] và nhất là tác phẩm thời danh Soul on Ice [Linh Hồn Băng Giá]. EC là một tay hùng biện giỏi và đã từng gây nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, ồn ào trong giới ủng hộ và phản đối. Đã có thời ông làm ủy viên Thông Tin cho đảng Black

◘ ảnh Wilbert Rideau

 

Panther và năm 1968 EC cũng đã từng đứng ra tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ dưới màu cờ của đảng Peace and  
Freedom. Ông ta còn là một nhà tranh đấu chủ trương bạo động và đã làm nhiều giới lảnh đạo hành pháp, tư pháp nhức đầu. Khi cố Tổng Thống Reagan còn là Thống Đốc tiểu bang California, có lần ông đã tuyên bố một cách giận dữ – khi được biết vài trường đại học và nhất là University of California tại Berkeley mời Cleaver giảng thuyết cho sinh viên của họ: “Nếu để cho EC dạy dỗ con em chúng ta, coi chừng có ngày bọn chúng trở về nhà cắt cổ chúng ta vào ban đêm.”  

Nghe nói vào cuối thập niên 60 Eldrige còn ngang nhiên thách đố ông Ronald Reagan cùng chơi trò sanh tử tay đôi theo kiểu cao bồi miền Tây và dành cho thống đốc quyền tự ý chọn vũ khí giao đấu. Liều lĩnh, chơi bạo như thế có lẽ vì EC biết rõ Reagan, trước khi bước chân vào lãnh vực chính trị ông ta đã từng là tài tử đóng phim Western. 

Eldrige đã mất đi vào ngày 1 tháng 5 năm 1998 tại Pomona Valley Hospital ở ngoại ô Los Angeles, chấm dứt một cuộc sống đầy sôi nổi, sóng gió, vì chứng ung thư nhiếp hộ tuyến, hưởng thọ 62 tuổi. Ông còn được nhiều người truyền tụng xem như là hậu thân, hiện thân của Malcom X.

Ngoài ra, chỉ kể riêng từ trại Louisina State Penetentiary [khu cải huấn Angola] trong nhiều năm qua người ta đã có cơ hội biết thêm về những người-tử-tội-trở-thành-nhà-báo như Billy W. Sinclear, Ron Wikberg, Tommy Mason… Ba người này đều do WR đưa về tờ Angolite. Đặc biệt là trường hợp Wilbert Rideau kẻ được rất nhiều người ủng hộ và tên tuổi lừng danh nhất.  

Cuộc đời của WR mang nhiều sắc thái đặc thù, đầy hấp lực và là một tấm gương trong sáng cho nhân loại trên hoàn vũ. Nhờ những nỗ lực vươn mình hướng thiện không ngừng mà ông, từ một kẻ sát nhân, mang án tử hình, bị thất học, trong thời gian chờ ngày lên đoạn đầu đài đã chịu khó tự học, đọc sách để trở thành một nhà báo, nhà văn được vô số giải thưởng cao quý và sự nể trọng, ưu ái của mọi giới, mọi người. 

Vào tháng 3 năm 1993 tạp chí Life đã vinh danh WR là: “tù nhân hoàn lương được phục hồi danh dự nhất nước Mỹ”. Đó cũng là câu nói mà những người gần gũi Wilbert, các bạn tù, nhân viên giám sát, cũng như viên chức cải huấn thường miêu tả, phát biểu khi đề cập về ông. 

Chính Edwin Edwards vị Thống đốc tiểu bang Louisiana cũng tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 17-6-1986 rằng: “Nếu có quyền hành xử riêng theo niềm tin của mình, tôi đã ký lệnh phóng thích WR. Tôi đồng ý với những người nói rằng ông ta đã được phục hồi danh dự.”


● NHỮNG NGÀY CÙNG KHỔ.

 

WR sanh ngày 13 tháng 2 năm 1942 trong một gia đình nghèo, bất ổn tại xóm Lawtell thuộc tiểu bang Louisiana – nơi năm vừa qua đã bị cơn bão Katrina tàn phá dữ dội. Tháng trước lại bị thêm nạn hạn hán và nhà chức trách ở đây hiện đang cố gắng phục hồi, lôi kéo cư dân trở lại. Mới đây, người ta lại vừa tổ chức tại New Orleans Fairgrounds Race Course một chương trình đại nhạc hội quan trọng về nhạc Jazz, Blues, Rap, Zydeco… liên tục trong 2 cuối tuần, gồm 6 ngày. Cuộc trình diễn đã bắt đầu vào ngày thứ sáu 28-04-06 và vừa chấm dứt vào đêm chúa nhật 07-05-06, với những ca nhạc sĩ thượng thặng như Bob Dylan, Dr. John, Bruce Springsteen, Ani DiFranco, Peter Seeger, Keith Urban, Paul Simon, Irma Thomas, Pete Fountain, Lionel Richie… 

Khi ông lên 6 thì theo cha mẹ di chuyển về khu Lake Charles – Jim Crow South ở miền Tây Nam Louisiana, chỗ tiếp cận với ranh giới miền Đông tiểu bang Texas. Đó là một thị trấn phát triển và khai thác dầu khí với nhiều sòng bài, nằm trong khu vực được gọi là vùng “Deep South”. Nơi đây vấn đề kỳ thị chủng tộc, màu da đã được định hình, đậm nét cố hữu. Tính chất phân biệt này đã hoàn toàn chia cách cuộc sống xã hội và nếp sinh hoạt văn hóa, dân sinh… của người da trắng và da màu. 

Ký giả Ray I. Broussarf của tờ News Banner tại Covington – Louisina, trước đây trong một bài báo lên tiếng yêu cầu trả tự do cho WR đã viết: “Nếu quí vị chưa từng sống trong vùng Cực Nam vào thời kỳ quyền bình đẳng, chưa được thực thi thì quý vị không thể nào hiểu rỏ miền Nam và chắc chắn là quí vị không biết gì về Louisiana trong giai đoạn đó… Tôi đã từng nhìn kỹ vào mắt của những người da đen khi thấy bọn thanh niên da trắng to con ra lệnh cho họ đi xuống xếp hàng đằng sau, ngồi vào phía chót xe bus, hay đuổi họ ra khỏi cửa các quán cà phê, các quày hàng tiệm ăn chỉ dành riêng cho người da trắng. Quý vị có thể nhận thấy rõ ràng được những ánh mắt của người bị hạ nhục kia chứa đầy sự phẫn uất, thù ghét.”   

Nhà báo Broussart là một trong những người da trắng luôn ủng hộ việc xin phóng thích WR sau khi nhận ra các nỗ lực hoàn thiện, hướng thiện đáng khen qua những hoạt động xây dựng tích cực của người tử tội này.  

Khi còn thơ ấu Wilbert đã theo học tại Second Ward Elementary School một trường tiểu học dành riêng cho người da đen và là một học sinh giỏi, thông minh, linh hoạt, yêu thích khoa học. Có lúc cậu bé nhút nhát này đã mơ ước mai sau sẽ trở thành một nhà du hành vũ trụ, giống như nhân vật anh hùng Flash Gordon luôn luôn bay bổng, ngao du trên không, được miêu tả trong các tập sách truyện vẽ bằng tranh. 

Gia đình WR vốn nghèo khó – nghèo khó hơn cả mức độ thiếu kém của những người khác trong cộng đồng người cùng màu da. Đời sống gia đình lại càng tụt dốc, tồi tệ hơn sau khi cha mẹ ông ly dị. Wilbert sống với mẹ và thức ăn trưa mỗi ngày đi học của cậu học trò ốm yếu, cơ hàn này chỉ là một củ khoai lang lạnh ngắt. Nhiều khi Wilbert phải vất ném đi vì cảm thấy ngán ngẩm, xấu hổ. Mặc cảm thua thiệt cùng bản chất rụt rè, vụng về khi giao tiếp, thân cận, đã làm WR càng ngày càng xa lánh, mất đi các bạn cùng trường.  

Sau khi lên lớp 8 thì WR được chuyển về trường W.O Boston Colored HS. Từ đó ông bắt đầu biết trốn học để đi chơi xúc xắc với bọn trẻ lêu lổng bên những ngôi mộ bị phá hoại, cỏ mọc um tùm trong khu nghĩa trang trước mặt nhà ông. Cuối cùng ông bỏ học. Khi ấy ông vừa mới 13 tuổi. Nhờ khai gian là đã 16 nên Wilberg xin được việc dọn dẹp, lau chùi cho một tiệm tạp hoá của người da trắng với tiền lương dưới mức tối thiểu. Sau đó xin được những công việc bán thời gian khác, thông thường một ngày làm 2, 3 nơi, nhưng cũng chỉ là công việc thấp kém như ban ngày thì cầm chổi quét dọn, ban đêm thì đẩy xe cút kít. Bị hắt hủi và kỳ thị nhiều lần khiến WR cảm thấy chán đời và tự ghét thân phận thân mình hơn. 

Năm 1990 ông đã kể lại với cô Anne Butler một cây bút tại Louisiana: “Sau khi nhìn qua sự phân biệt giữa chúng tôi và họ, có lúc tôi đã phát hiện và khẳng định rằng cuộc đời chỉ mang ý nghĩa hễ là người da trắng là có tất cả và đó là phương thức mà người ta đang áp dụng, hành xử. Tôi không chấp nhận sự việc này. Sự việc đó phi lý, không thể dung dưỡng được. Tôi cần sự thay đổi, tôi muốn có điều kiện tốt đẹp hơn… và thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng, mất niềm tin
mà tôi đã gánh chịu.”
 Đó hẳn là cảm nghĩ mà ông và đã thừa hưởng từ những người lớn tuổi trong cộng đồng da đen. 

Tuy những công việc bấp bênh, bị khinh bạc kia chẳng cải thiện được cuộc sống bao nhiêu nhưng với số tiền kiếm được $35 mổi tuần cũng giúp WR phần nào trên lộ trình kết giao bằng hữu mới, qua các cuộc uống rượu “gin” hay trong hội trường bài bạc, cá độ… Môi trường xấu này đã vô hình chung dẫn dắt WR vào ngõ cụt. Cho đến ngày 16-2-1961 lúc vừa 19 tuổi Rideau đã liều lĩnh dùng súng lục cướp chi nhánh ngân hàng Gulf National tại thị trấn Lake Charles.  

Khi bị phát hiện, để thoát thân WR đã bắt cóc ông giám đốc và 2 nữ nhân viên ngân hàng làm con tin. Cả 3 đều là người da trắng. Trên đường đào tẩu, khi ra tới vùng ngoại ô thì cô Julia Ferguson cho xe chạy chậm lại và họ tìm cách trốn thoát. Kêu dừng lại không được, Wilbert đã nã hết 6 viên đạn và làm 3 người bị thương. Khi Julia gượng đứng dậy thì WR dùng dao đâm vào ngực cô.  

Theo lời tường thuật của cảnh sát thì cô này gượng dậy để xin tha mạng. Còn theo lời khai của Wilbert thì ông dự tính sau khi đến nơi có thể thoát thân ông sẽ thả họ về an toàn. Việc giết cô Julia chỉ là hành động thiếu suy nghĩ trong lúc lo sợ, bối rối. 


● BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG SÁNG TRONG BÓNG TỐI LAO LUNG.
 

Bị buộc tội cố sát và kết án tử hình 3 lần vào các năm 1961, 1964, 1970, với các bồi thẩm đoàn toàn người da trắng. Nhưng các phán quyết trên đều lần lượt bị các Toà Thượng Thẩm, Toà Phá Án liên bang tiêu hủy bởi vì các tiến trình xử án này đều bị xem là bất hợp lệ, sai lầm, thiếu vô tư. Sau đó không lâu, vào năm 1972 Toà Thượng Thẩm lại tuyên bố hình phạt tử hình là vi hiến. Nhờ vậy WR thoát chết, trở thành tù nhân chung thân khổ sai và năm 1973 ông được đưa ra khỏi khu biệt lập dành cho những người chờ ngày ra pháp trường thọ lệnh hành quyết.

Theo lời nhận định của ông qua bài Why Prisons Don’t Work thì năm 1962 ông cùng với 30 kẻ sát nhân khác bị chuyển sang trại Louisina State Penitentiary để chờ bị xử tử hoặc thọ án chung thân cấm cố. Tuy gương mặt của những người phạm tội này có sự khác biệt nhưng họ đều có chung nhiều điểm tương đồng: thiếu tay nghề, thất học, bốc đồng và đã từng làm những việc nông nổi, hồ đồ, thậm chí ngu xuẩn. Họ là những người đã từng thất bại, từ chối hay không thích ứng, hội nhập được với xã hội bên ngoài.

Cảm thấy ân hận về tội lỗi của mình, Wilberg bắt đầu miệt mài tự học và đọc sách. Ông đọc một cách say mê các sách về tôn giáo, thánh kinh mà luật lệ nhà giam cho phép cũng như những thể loại, đề mục khác bị cấm. Qua sách vở cũng như sự thân cận, trợ giúp của những người trong trại tù, ông thấy xã hội, đời sống quanh ông đầy dẫy những nhân vật anh hùng và người tốt bụng. Trường hợp kề cận bên ông nhất là những nhân viên cải huấn – những người có nhiệm vụ canh chừng ông, cải tạo ông, lại là người thường lén lút cung cấp sách vở bị cấm đoán cho ông trau dồi kinh sử và mở mang kiến thức. Tưởng cũng cần nói thêm là những người tạo dựng con đường thăng tiến cho Wilbert ở đây đều là người da trắng. Điều này đã giúp Wilbert thay đổi hẳn nhãn quan của mình. Có lẽ đối với ông, đó là một dấu mốc quan trọng, mới mẻ. Ông nhìn cuộc đời và con người bằng một lăng kính trong sáng hơn. Những ý niệm vẩn đục, mơ hồ cũ đã hoàn toàn tan tác theo sương khói.

Sau một thời gian tự học hỏi, ông thấy hứng thú trong việc sáng tác và bắt đầu viết. Khởi đầu bằng cách viết thư giúp các bạn tù, rồi những bài nhận định, phân tích về tội phạm, hình luật thành một cuốn sách dày và bản thảo một tập truyện dài mà ông hy vọng người ta có thể tìm thấy, lưu truyền sau khi ông bị xử giảo.

Dần dần nhờ được giao dịch thư từ với thế giới bên ngoài và sự hướng dẫn thường xuyên của Clover Swann – một biên tập viên trẻ của một nhà xuất bản ở New York, ông trở nên hăng say sáng tác, cống hiến những nhận xét, suy luận của mình về thế giới tội phạm trong những bức tường, trong những hàng rào kiên cố. Tiếng nói của ông càng ngày càng được người ta quan tâm, tiếp nhận. Nhờ vậy Wilbert cũng tìm thấy cho riêng mình một niềm hứng khởi, hy vọng mới.

Nhiều nguồn tin cho biết trong suốt 44 năm trong trại giam ông luôn giúp đỡ các bạn tù khác và tuân thủ luật lệ, qui điều nghiêm ngặt và cũng chưa bao giờ bị sai phạm. Công việc nào ban quản huấn trao cho, nhờ cậy, cho dù khó khăn, gian nan Wilbert Rideau đều hoàn thành mỹ mãn, xuất sắc, chẳng hề so đo, từ chối.

Năm 1973 ông xin cộng tác với tờ Angolite nhưng bị khước từ vì Ban Biên Tập và nhân viên của báo này đều là người da trắng và chỉ dành cho người da trắng. Không nản chí ông đứng ra qui tụ nhiếu người da đen khác để tự thành lập tờ The Lifer với chủ trương phục vụ giới mang án tù chung thân. Năm sau đó ông bắt đầu viết hàng tuần mục The Jungle.

Năm 1975 Toà án liên bang ra lệnh cải cách, cải thiện toàn bộ thể chế nhà tù tại trại cải tạo Angola và mở rộng quyền bình đẳng cho tất cả tội phạm. Vị quản thủ trại – ông Paul Murray Henderson, trước khi đi đã vội vả ủy nhiệm tờ Angolite cho Wilbert Rideau. Ông Paul Phelps – người kế thừa chức vụ, bèn hợp thức hoá việc bổ nhiệm ấy, đồng thời còn thoả thuận để WR được toàn quyền điều hành tờ báo đúng theo tiêu chuẩn áp dụng cho giới báo chí của thế giới tự do bên ngoài. WR có thể viết, cho đăng bất cứ chuyện gì, ngay cả tố giác các sai trái, lạm quyền, bất công… trong trại, miễn là ông có chứng cớ trung thực.

Sau khi nắm tờ Angolite, Wilbert đã đưa Billy W. Sinclair, Tommy Mason – người cùng chủ trương tờ Lifer về với ông. Họ đã nhanh chóng biến bản tin tức quay bằng ronéo thành một tạp chí có giá trị và khá hoàn mỹ. Ngay năm sau, tờ Angolite đã đoạt nhiều giải thưởng toàn quốc. WR đã chính tay tuyển chọn các biên tập viên, văn nghệ sĩ cho tờ báo… Nhiều người khác trong bộ biên tập cũng đã thu hoạch được những giải thưởng quan trọng. Đồng thời tờ Angolite còn được giới truyền thông trên thế giới tự do ca ngợi, đánh giá cao. Bỉnh bút của ông là Ron Wikberg – người cùng viết cuốn Rage and Survival Behind Bars với ông, được xem là người có công trong việc khiến nhà tù hủy bỏ việc xử giảo tử tội bằng ghế điện để thay thế bằng phương pháp tiêm độc dược để giảm trừ sự đau đớn, kinh hoàng, qua bài The Horror Show.

Tiếng nói của ông càng ngày càng được thế giới bên ngoài tán thưởng. Cho đến cuối thập niên 70 WR đã trở thành một diễn giả xuất sắc về lãnh vực tội phạm và báo chí. Ông thường được mời thuyết trình, nói chuyện tại các trường đại học, trên các đài truyền thanh, truyền hình khắp nơi. Trong nhiều lần xuất hiện trên chương trình Nightline ABC-TV, có lần ông đã cùng ngồi bàn luận với vị chánh thẩm Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ là Warren Burger về những vấn đề lịch sử. Liên tục 2 năm 1989 và 1990 ông đã bay về Washington DC để thuyết trình trước cuộc họp thường niên của American Society of Newspapers Editors. Ông và Ron cũng đã từng cộng tác với giáo sư Burk Foster của University of Louisiana năm 1991 để viết cuốn sách giáo khoa về tài phán tội phạm và quyển này được áp dụng cho đến ngày nay. Kể từ 1974 về sau ông thường xuyên công tác với tiểu bang, với giới tư pháp, các trường học, các cơ sở, đoàn thể công, tư… về việc cải tiến chế độ lao tù, tạo công ích cho xã hội, những chương trình ngăn chặn việc học sinh bỏ học… Để có thể dành nhiều thời gian hơn cho công cuộc nghiên cứu và những hoạt động xây dựng, năm 1995 WR đã từ chức, nhường tờ Angolite cho các trợ thủ của mình.

Với những hoạt động, đóng góp tích cực, không ngừng như vậy ông đã được trao tặng vô số giải thưởng và tuyên dương danh dự của các giới chức hành pháp, tư pháp, hiệp hội báo chí, luật gia, truyền thông, truyền hình…Trong số đó đáng kể nhất là:

– Giải Silver Gavel của Hội Luật gia Mỹ năm 1980. WR là tù nhân đầu tiên được vinh dự cao quí này trong suốt lịch sử hơn 100 năm của A.B.A.        

– Giải George Polk 1980 của trường đại học Long Island. WR cũng là tù nhân đầu tiên được L.I.U trao tặng. 14 năm sau ông lại được trường đại học này trao giải một lần nữa qua truyện In For Life – ABC New’s Day One.

– Merit for Oustanding Service to the City of New Orleans 1989 do Thị trưởng N.O trao tặng. Thêm một lần nữa, WR lại là tù nhân duy nhất từ trước đến nay được vinh dự nhân lảnh bằng tưởng lục này.

– Giải Golden Eagle của CINE 1996 và giải Thurgood Marshall Justice về truyện Final Judgement: The Execution of Antonio James, sản xuất bởi Gabriel Films, Ltd – NY, chiếu trên đài Discovery…

Trong thời kỳ sửa soạn việc tuyển chọn giải Oscar năm 1999 cho cuốn Life Sentences ông là chủ đề trong các bài tường thuật, phỏng vấn trên các đài Good Morning America, CBS, Fox, CNN… trên các báo nội địa Hoa kỳ và các quốc gia khác như Anh, Pháp, Đức, Úc, Hoà Lan, Bỉ… Trong hơn 30 năm qua ông luôn là đề tài chính cho vô số bài viết được quảng bá, lưu truyền khắp nơi.

Ngoài 2 cuốn Life Sentences, ông còn thực hiện nhiều phim tài liệu, tranh ảnh, videotape cho các lớp học… Riêng cuốn phim tài liệu The Farm chẳng những trúng giải trong kỳ đại hội Sundance 1998 mà còn được đề bạt giải Oscar.


● XÂY DỰNG CUỘC ĐỜI MỚI TRONG LỨA TUỔI VỀ CHIỀU

 

Nhờ sự tranh đấu của nhiều lực lượng, hội đoàn hỗ trợ để xin cải danh tội trạng, đặc biệt là sự can thiệp, tiếp tay của NAACP và Educational Fund cùng sự bào chữa của luật sư đắc giá Johnnie Cohran, ông được giảm án và tức khắc được trả tự do ngày 15 tháng 01 năm ngoái vì thời gian ông ở tù đã gấp đôi hình phạt dành cho tội ngộ sát.. Nhiều người cho rằng ông phải nằm khám 44 năm có thể vì ông là một tù nhân đặc biệt và quá nổi tiếng, trong đó có ký giả Mathew W. Jacobs của nhật báo Shreveport, James Gill của tờ Times Picayune, Ray I. Broussard của New Banner…

Trong lúc mọi người cùng tuổi đang hay sắp an hưởng cảnh nhàn hạ trong tuổi hưu trí thì Wilbert mới khởi đầu xây dựng lại cuộc đời. Một tuần lễ sau ngày được phóng thích ông đã phải đi xin thẻ căn cước vì trước đó, khi ông đến phi trường để bay đi Washington xuất hiện trên chương trình Nightline theo lời mời, thì ông bị từ chối vì chưa có thẻ nhận dạng và giấy an sinh xã hội… Tại Nha Lộ Vận ông đã phải trưng dẫn các trang đầu của 3 tờ báo đã đăng hình ông trong các bài tường thuật sau khi WR được phóng thích, ông mới được cấp thẻ nhận dạng đặc biệt [unusual ID] để xử dụng. Ông cũng hy vọng sẽ lấy được bằng lái xe đầu tiên vào mùa Xuân năm nay.

WR cho biết: “Việc trước mắt là tôi cần phải làm ra tiền. Đó là một ưu tiên, kiếm tiền để lo an định tương lai, bỏi vì tôi chỉ còn được vài năm để làm việc.” Vấn đề hội nhập lại với xã hội mới, rộng lớn sau hơn 4 thập niên sống trong những bức tường kiên cố, ở lứa tuổi về chiều như ông hiển nhiên không tránh khỏi nhiều khó khăn, bất tiện. Từ việc phải mua bảo hiểm sức khoẻ, tập lái xe, học cách xử dụng cellphone, thẻ rút tiền… cho đến cả việc học thắt cà vạt đối với ông có khi vẫn còn lúng túng, bỡ ngỡ. Linda LaBranche một chuyên viên nghiên cứu về pháp luật cho Rideau Project tại Đại học Loyola và cũng là bạn thân của ông đã nói: “Việc học lái xe không phải là điều dễ dàng gì đối với một người đã 63 tuổi. Việc ấy sẽ tiến hình một cách chậm chạp.”
Sau khi gặp lại gia đình ông cho biết: “…tôi phải tập làm quen với ý nghĩ được tự do. Tôi phải tập thích ứng với một thế giới tương đối khác biệt với thế giới trước ngày tôi vào tù….”

Kể từ 1997 đến nay Rideau là chủ tịch Angola Human Relations Club – một cơ quan chuyên trợ giúp những người tù già, đau yếu và gia đình họ. Từ việc sắp xếp các cuộc thăm viếng, ủy lạo, cung ứng hoa quả tươi… cho đến việc tẩm liệm, chôn cất những người quá vãng.

WR đang trù định viết sách và muốn chuộc lại lỗi lầm, cũng như làm những việc hữu ích cho đời, cho những người đã bênh vực, đặt kỳ vọng, niềm tin nơi ông bao nhiêu năm qua có thể nhìn thấy. Có nguồn tin cho rằng ngay sau khi ra tù Rideau đã được mời ký một hợp đồng đầu tiên trị giá năm trăm ngàn mỹ kim. Bây giờ, với trình độ cao và nhiều kinh nghiệm, mỗi ngày được tư do đi lại, có nhiều thời giờ nghỉ ngơi, làm những điều mình tâm nguyện hoặc ưa thích,, chắc hẳn là một niềm vui vô bờ cho riêng ông: một-người-về-từ-cõi-chết.

 

Qua những hoạt động liên tục, đóng góp tích cực của mình trong thời gian chờ lên đoạn đầu đài, mà WR đã gíúp việc cải thiện trại cải tạo Louisiana từ một nơi hắc ám nhất, trở thành một nhà tù an toàn nhất.

 

Từ ngày được trả tự do đến nay WR đã nhận thêm nhiều giải thưởng cao quí về tư pháp và nhân quyền. Đồng thời ông đã trở thành một chuyên viên tư vấn đắc giá về tội phạm và về pháp luật. Ông cũng là diển giả thường xuyên cho các cuộc hội nghị và chương trình giáo dục về luật pháp, phạm tội học. Cuốn sách mới nhất của WR là: “In the Place of Justice: A Story of Punishment and Deliverance” do Knogf Pub. Group thuộc nhà xuất bản Random House ấn hành từ 27 tháng 4 năm 2010 vừa rồi. Sách dày 368 trang, bìa cứng với giá US$26.95. 

 

Đây là một cuốn tự truyện được sắp xếp, trình bày theo niên biểu nói về 44 năm ông ngồi tù. Ông đã đưa độc giả từ các dữ kiện khiến ông quyết định cướp ngân hàng Gulf South National bị bắt, bị kết án tử hình 3 lần cho đến những sự đố kỵ, ghanh ghét, rồi giết người rồi được giải án, thoát chết và về các cuộc phỏng vấn… Năm 2007 khi được khuyến khích viết tác phẩm này, ông đã nhận được tài trợ từ G. Sogos Foundation với số tiền là 75 ngàn mỹ kim

 

Sách được nhiều cơ quan truyền thông, báo chí và người đọc ủng hộ, nhiệt tình khen ngợi, nhưng lại bị chính Billy W. Sinclair – hiện là một luật sư, người bạn tù đã cộng sự lâu dài với ông trong thời kỳ khổ ải và được ông đưa về tờ Angolite.  Billy đã phê bình, chê trách, cho rằng Wilbert đã dựng nhiều chuyện không thật để tự ca tụng, đánh bóng mình. Giới ủng hộ WR thì cho rằng đây chỉ là hành vi của một thứ “trâu cột ghét trâu ăn”.

 

PHAN BÁ THỤY DƯƠNG – bổ túc 6/10




Kiều Oanh : Phượng Hồng, Phượng Tím

Phượng Hồng, Phượng Tím

 

Mùa Hạ đang về trên khắp nơi

Bên nầy phượng tim tím cả trời

Bên kia phượng đỏ rơi đầy lối

Xao xuyến bồi hồi giọt lệ rơi

 

Phượng hồng ngày ấy đã sang sông

Bay về bên Hạ một chiều Đông

Nhớ mùa phượng cũ tà áo trắng

Dưới mái hiên trường buồn mênh mông

 

Lần tay đem lại tháng ngày qua

Tóc mai giờ đã hai màu hoa

Nhớ mùa Phượng đỏ phương trời ấy

Lời yêu trao vội, rồi nhạt nhòa

 

Hai màu phượng nở ở hai nơi

Nỗi nhớ miên man giọt buồn rơi

Trùng dương cách trở hai sắc phượng

Phượng hồng, Phượng tim thật xa vời….

 

Kieu Oanh Trinh–June 2010

 

Phượng Tím

 

Ngoài hiên vắng, trên cành phượng tím

Tím Trời chiều, tím cả ngàn mây

Áo em bay đôi tà quấn quít

Chân ngập ngừng, má đỏ hây hây

 

Anh đứng đó, cổng trường thêu nắng

Em thẹn thùng, sợ bạn thấy ngay

Vành nón nghiêng, rụt rè, e thẹn

Bước ngập ngừng, mắt chợt cay cay

 

Anh hỏi nhỏ? Bé làm sao vậy?

Em lắc đầu. Chỉ sợ Mẹ hay

Anh mỉm cười, vỗ về rất nhỏ

Bé đừng lo, anh sẽ tỏ bày

 

Ngày thi tới, hai ta cùng học

Anh dạy em, bài toán phương trình

Em làm bài, anh cứ lặng thinh

Ngồi bất động cứ nhìn em mãi

 

Em phụng phịu, không thèm học tiếp

Bắt đền anh, ngó Bé chi hoài?

Bé nghỉ chơi, không chịu làm bài

Anh phải hứa, không nhìn em nữa…

 

Ngày em thi, anh chờ ngoài cửa

Đợi thi xong, anh vội hỏi ngay

Thấy nụ cười em nở trên môi

Anh sung sướng: "Mừng hơn em đó!"

 

Đã qua rồi, ngày xưa bé nhỏ

Anh và em, đôi ngả đôi đường

Chuyện học trò, còn mãi vấn vương

Ta đã mất: Con đường phượng tím

 

Anh bây giờ, nghìn trùng thăm thẳm

Đã bao năm vật đổi sao dời

Chuyện chúng mình, chỉ có thể thôi

Bao nhung nhớ, mỗi mùa hoa Phượng…

 

Kiều Oanh Trinh, Hè 2010

June 17, 2010

 

Trời Mưa

 

Hôm nay buồn quá ngắm mưa rơi

Giọt mưa tí tách rớt hiên ngoài

Biết gió có hờn, mưa có giận

Trời biết buồn vui, có giống người?

 

Giọt ngắn giọt dài mưa tỉ tê

Sũng ướt đường đi lẫn lối về

Mưa gom bao nỗi buồn nhân thế

Mưa khóc cho đời lắm tái tê

 

Gió có buồn không, có khóc không

Sao gió than van buốt cả lòng

Ai dắt gió về cho mưa lạnh

Phả hồn một nỗi nhớ mênh mông

 

Gom hết gió mưa gửi lại trời

Gửi dòng lệ chảy giọt đầy vơi

Hỏi trời có biết buồn không nhỉ?

Chiều đã xuống rồi , mưa vẫn rơi!

 

Nguyên Nhung

 

Cơn Mưa Buồn

 

Trời bảo, Trời mưa vì buồn thôi

Để người thơ thẩn, ngắm mưa rơi

Trời nào biết giận, biết hờn tủi

Trời chẳng buồn vui, chẳng giống người

 

Cứ để mưa rơi tí tách hoài

Mưa qua phố nhỏ, ướt chân ai

Mưa khóc thương người, sầu vạn cổ

Mưa chẳng hận đời, chỉ ngậm ngùi

 

Mây bay, theo gió thoảng vào mưa

Gió rít bên hiên mái đong đưa

Cơn bão thổi vào mang mưa tới

Ngồi buồn, lặng ngắm gió tơi bời

 

Xin Trời gom hết gió mưa bay

Mang cơn buốt lạnh khỏi nơi này

Để người thôi khóc, thôi buồn tủi

Chiều đã xuống rồi, gió mưa ơi!

 

Kiều Oanh trịnh (họa thơ Trời Mưa của Nguyên Nhung)




Chúc Anh : XUÂN TRỜI ÂU

                                                Thơ Ơi

                                                             Dẫu

                                                             đời

                                                             mưa

                                                             nắng

                                                             khóc

                                                             cuời

 

                                                             ta và thơ

                                                             vẫn

                                                             là

                                                             người

                                                             tình

                                                             thân

                                                             Chúc Anh
                                                          Jan. 07, 2011
                                                              3:00pm

Anh …

 

 

Ngày lẻ 13 !

biet viet gì?

 

Nguời đời

xa tránh ,

khắc truyền ghi

 

Gian truân ?

khong sợ .

lời đồn nhảm

 

Cột gót

chân mây

gửi chữ " Si " .

 

 

chúc anh

Jan. 13, 2011

                                                                                         12: 03am

XUÂN ĐỢI CHỜ

 

Yêu thơ
ta trải giấy hoa
Đón Mừng Xuân Mới
gửi ba bốn vần
Về Người
vóc dáng phong trần
Tâm hồn cao trọng :
Chữ ÂN , Chữ TÌNH

Mai , Đào
hương nụ xinh xinh
Giữa rừng hoa thắm
nép mình chờ ai
Đâu đây
vọng khúc Thiên Thai
Khơi lòng
chuỗi ngọc
ai cài xa xưa

Nhớ nhung
nói mấy cho vừa
Dòng thơ nhắn nhủ :
sao chưa trùng phùng ? (Chúc Anh)

 

Thơ em

trỗi nhạc vang lừng

Nghe như

ngàn tiếng suối trong mát đồi

Bình minh

 ửng giọt nắng rơi

Rót lòng độc giả

 bao lời pháo bông

 

Viết giùm ai

chữ mặn nồng

Ru xanh ánh mắt

tình hong mơ màng

Xuân về

lộng tiếng chim vang

Đón mừng Năm Mới

đôi hàng thơ nghiêng

Nôn nao 

    gió lượn bên thềm

Thắt lòng khăn ấm

dải duyên tơ hồng ( Trầm Vân)





Không

Không bao giờ phôi phai
Anh mãi là thần tượng
Là Ông Hoàng, thiên tướng
Là bóng mát che đời

Giữa không trung lưng trời
Theo cánh mây phiêu lãng
Đôi chim "nghèo" lang bạt
Hẹn cõi vắng bay về

Xứ người buồn lê thê
Nhớ ai, ai có thấu
Lòng sục sôi..nung nấu
Phút trùng phùng tâm giao

Bên vần thơ ngọt ngào
Hồn say ánh trăng bạc
Dập dồn dòng suối nhạc
Quên thế giới sầu miên.

chúc anh
1/25/11
9:30pm


XUÂN HỘI NGỘ

Thân gửi Quí Soeurs bạn,
Quí bạn Thiên Phước
Nhân dịp Xuân về
Trước thềm Năm Mới
Chúc Mừng quí bạn
Tình nghĩa phu thê
Tràn đầy hạnh phúc
Đẹp như Mai, Cúc
Dưới ánh Xuân nồng
Đời mãi tươi hồng
Như Đào, Lan, Cúc
Cuộc sống sung túc
Tiền của tuôn vào
Sức khỏe dồi dào
Như hoa Vạn Thọ…

Riêng Dòng Saint Paul
Quí Soeurs Cường Để
Bà Nhất , Bà Nhì
Soeur Vân, Soeur Chi,
Soeur Thu, Soeur Thương
Đầy ơn Chúa Mẹ
Thánh Cả Giuse
Saint Pierre, Saint Paul
Trọn đời tận hiến.

Chúc Anh

 

 

XUÂN NHỚ

Phố đỏ ! Xuân tàn..bước viễn phương
Chập chùng đồi núi giải phong sương
Chuông ngân tiếng vọng..hoài u uất
Thành quách ngập sầu nước nhiễu nhương

Man mác lòng ta thương nhớ ai
Chiều hôm xa vắng ngóng thôn đoài
Tà dương khuất bóng chìm phai sắc
Cung kiếm gẫy tàn lấp chí trai

Tang bồng tung cánh thỏa đam mê
Ta nguyện cùng vang một tiếng thề
Quyết chiến xua tan loài bạc nhược
Buôn dân, bán nước, bán tình quê

Ôi Ngọc Viễn Đông ! Mẹ dấu yêu
Ngàn Xuân chinh chiến dáng tiêu điều
Xứ người, con ước nguyền tô điểm
Mảnh đất quê hương nét diễm kiều.

chúc anh
(viết thay anh L.H.S.T.)

 

 

TÌNH SẦU BAO LÂU ?

Chỉ vài tiếng nữa
Sẽ qua ngày mai
Bao nhiêu sóng gió
Buồn khổ..đắng cay
Trôi vùng dĩ vãng
Như nắng chiều phai

Ta muốn hỏi ai :

Vì sao tình lỡ ?
Vì sao giận lâu
Vì sao hờ hững
Vì sao duyên đầu
     vướng vào
          ngõ tối ..

Tình sầu bao lâu ?

chúc anh
1/26/11
9:15pm



 

 

XUÂN TRỜI ÂU

(Viết tặng Hoàng , Thu

 France – Switzerland)

Xuân sắp về ! trong hoa tuyết bay
Ngập tràn khắp ngõ cõi trời tây
Mùa đông buốt giá hồn hiu quạnh
Lạc lõng, bước chùng..tay trắng tay

Chợt bỗng anh về kết dấu yêu
Họa con đường gấm ngát hương chiều
Vòng tay âu yếm mềm môi ấm
Anh khẽ thì thầm : say nét. xiêu.

Xa xứ, khó nghèo theo gót ta
Nhưng tình nồng thắm bóng đậm đà
Có anh, Xuân tuyết thành Xuân Mộng
Những cánh tim buồn bỗng nở hoa.

chúc anh
1/27/11

SẼ VỀ ĐÂU ?


 

Tặng Cẩm Thu – Suisse

Trao gửi Người dòng nhớ đậm sâu
Dù tình duyên thắm chẳng về đâu
Người âu người á..trời mây phủ
Vạn dặm, trùng dương nửa địa cầu

Thơ họa bóng chiều quyện nhớ thương
Bên kia trông ngóng lá thư hương
Bên này hong đợi ngàn cung điệu
Dòng nhạc du dương dạo phố phường

Người có nhớ đêm vạn ánh sao
Trên giòng nước bạc, sóng lao chao
Thuyền nan hai đứa cùng chèo chống
Kỷ niệm xưa..Người cất chỗ nào ?

Ta sợ nghiệt cay lắng đọng môi
Người vì chữ hiếu cách chia phôi
Se duyên tri kỷ cành hương lạ
Xóa dấu tình xưa hứa chẳng rời.

chúc anh
1/28/11

 

LƯU NIỆM
THỨ BẢY CUỐI NĂM

Thứ Bảy cuối cùng năm cũ xưa
Mừng Xuân !..tuần tới Lễ Giao Thừa
Dâng Trời Ngũ Quả muôn hương sắc
Tưởng nhớ Tổ Tiên Cúng Bánh, Dưa

Ba sáu (36) năm qua ta mất quê
Mẹ Cha khuất núi, lạc đường về
Dòng thơ gửi nhớ thương non nước
Nhớ biển-sông-hồ, nhớ chiếc ghe

Tân Mão – Xuân về dân khắp nơi
Sầu vương, gian khổ đến bao đời ?
Việt Nam nghèo đói, lòng đau buốt
Sóng đỏ tràn bờ, giọt đắng rơi

Dân Việt triền miên lắm đoạn trường
Xin Trời ban phát trọn tình thương
Việt Nam mau thoát giòng sông đỏ
Rừng Lá Cờ Vàng rợp bốn phương. 

chúc anh
1/29/11

 


 

CHỦ NHẬT CUỐI CÙNG NĂM



Cơn mưa bụi đưa ta về quá khứ
Lưu dấu ngày Chủ nhật Cuối Cùng Năm
Chú Cọp con khua tiếng chót "gầm gầm"
Ba hôm nữa : Lễ Mừng Xuân Tân Mão

Sinh năm " Khỉ " nên Canh Dần chao đảo
Ta mất đi bao dấu ái người thân
Nào Ông Cậu, Bà Bác, những ân nhân
Cả Người Mẹ ta hằng yêu thương quí

Đời mất Mẹ không còn chi thú vị
Lời thơ buồn Chủ Nhật cuối cùng năm
Ta đơn côi trong kiếp sống âm thầm
Gom tất cả gửi mây dòng tâm thức

Dù vẫn biết đời hư hư thực thực
Là vui buồn pha trộn chất đắng cay
Ta mong tìm ai hỡi chốn cung mây
Để gửi trọn giòng tâm tình lưu niệm

Chợt tiếng nhạc từ đâu như xâm chiếm
Thấm cõi hồn như khuyên nhủ – vấn an
Làn gió hương như quấn quyện cung đàn
Ôi Chủ Nhật Cuối Cùng Năm..Lưu Luyến !

Chúc Anh
Chủ nhật 30.01.2011
11:30am