MẠC LY CHÂU VĂN THI SĨ NHÀ BÁO CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG

MẠC LY CHÂU  VĂN  THI SĨ NHÀ BÁO CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG SĨ QUAN QUÂN LỰC VNCH NGƯỜI TUẪN TIẾT VÌ CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA

Mạc Ly Châu tên khai sinh là Phạm Đức Lợi sinh năm 1932 tại làng Hiếu Thiện huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình là trưởng nam của lãnh tu đảng Duy Dân  Thái Lĩnh Phạm Đình Liệu Ngay từ thủa còn cắp sách đến trường những năm đầu của thập niên 50 Mạc Ly Châu đã làm thơ viết văn và nổi tiếng  liền. Từ đó cho tới ngày tuẫn tiết lúc 43 tuổi Mạc Ly Châu không rời cây viêt

Năm 1954 mới 22 tuổi Mạc Ly Châu bị gọi nhập ngũ khóa 5 trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức  và lên đường nhập ngũ một cách  ung dung thanh thản

Mặc dầu gia nhập quân đội rồi nhưng Mac Ly Châu vẫn không rời cây viết, anh được nhà thơ Trần Việt Hòai[trưởng nam của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải] tổng thư tòa soan nhật báo Dân Chủ đăng môt lọat  ba truyện dài Lộng Gío , Diễm,Nắng Tắt Trên Làng Mai tạo ra một hiện tượng văn nghệ gây sôn sao dư luận một thời

Cùng với việc viết văn Mac Ly Châu còn  hợp tác với Phan Lạc Tuyên,Hồ Nam, Kiêm Đat sáng lập ra nhóm Văn Hóa Lac Việt phát động phong trào’’phuc họat văn hóa dân tộc để nước nòi Việt mau  hôi nhập với thời đai’’ cùng năm châu bốn biển  tồn tại và phát triển.Nhóm Văn Hóa Lạc Việt đã xuất bản một lọat sách và cuốnTìm Hiểu Thơ Tự Do gây được  khá nhiều ấn tượng nơi người đọc

Là sĩ quan quân đội quốc gia rồi quân lực VNCH  Mac Ly Châu đã chọn chuyên ngành tình báo và được cử đi Mỹ học ngành này đẻ về dạy trường Cây Mai[trường chuyên đào tạo sĩ quan tình báo cũa quân đội VNCH] không nhữngMạc Ly Châu dạy  ngành tình báo mà còn dạy luôn tiếng Anh nữa

Mạc Ly Châu là con người chịu khó học anh không chỉ giỏi tiếng Anh mà còn giỏi tiếngPháp tiếng Nhật tiếng Hoa anh đã viết những thiên khảo luận nổi tiếng ký các bút danhPhạm Việt Châu, Phạm Chi Lăng như thiên khảo luận Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đăng liên tiếp nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa từ năm 1969 tới năm 1974   gây sôn sao trong giới văn hóa vì có nhiều khám phá mới về các dân tộc Việt và nguồn gốc đáng tự hào của dân tộc Việt Nam xưa

Cùng với Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh ,Mac Ly Châu còn xuất bản tập khảo luận Tìm Hiểu Thi Ca Miền Núi cũng rất được văn giới chú ý

Ngòai viết văn làm thơ ra Mạc Ly Châu còn là một kịch tác gia anh đã sáng tác nhiều vở kịch và đã xuất bản hai vở kịch Lọan và Máu,Giông Tố Đêm Giao Thừa những vở này đều được  dàn dựng công diễn  nhiều lần,rất đựơc người xem tán thưởng vì nó không những đầy kịch tính mà còn mang nhiều trăn trở của con người thời đại

Mặc dầu đam mê viết văn làm thơ viết báo[có lúc Mạc Ly Châu là cây bút bình luận trụ cột của nhật báo Chính Luận]nhưng nhà văn nhà thơ nhà báo của chúng ta vẫn không quên nhiệm vụ của một sĩ quan tình báo có hạng trong quân lực VNCH nên có lúc là trưởng một phái đòan quân lực VNCH  trong ban Liên Hợp bốn  bên thi hành hiệp định Paris ra Hànội nhiều ngày để thi hành hiệp định Paris

Trong ngành quân báo quân đội VNCH tuy Mạc Ly Châu chỉ mang quân hàm trung tá nhưng từng làm Trưởng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược-Khối Quân Báo-Phòng Nhì  Bộ Tổng Tham Mưu quân lực VNCH rồi biệt đòan trưởng biệt đòan quân báo 101 của quân đòan 3 quân lực VNCH

Dù là một sĩ quan tình báo biết rõ tình hình quân lực VNCH nhu thế nào lại có chân trong ban Liên Hợp 4 bên dư điều kiện để di tản nhưng Mạc Ly Châu còn là một chiến sĩ cách mạng anh không bỏ chạy và với tinh thần’’ còn nước còn tát’’ quyết sống chết một phen với cộng sản cho đến ngày 5 tháng 5 năm 1975 Mạc Ly Châu thấy tình thế quá tuyệt vọng và không chấp nhận đi tù Cộng Sản anh đã tuẫn tiết tại tư gia để trọn nghĩa với quân lực VNCH

Con người Mạc Ly Châu  tuy chỉ sống trên cõi đời này có 43 năm nhưng đã không ngừng nghỉ sáng tác  viết văn làm thơ viết báo liên miên họat động không  mệt mỏi cho sự phát triển  của  Chủ Nghĩa Duy Dân và đường lối cách mạng dân tộc của  lãnh tu Ly ĐôngA  anh chết đi để lại hai di cảo quan trọng là tập thơ Dạ Lan Hương và tập biên khảo Quân Lực Cộng Sản Việt Nam[tập biên khảo này Mạc Ly Châu viết  với sự trợ giúp của những chuyên viên  Ban Nghiên Cứu Chíến Lược Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa]

Mạc Ly Châu không chỉ viết bằng tiếng Việt mà còn viết bằng tiếng Anh, tác phẩm Giai Đọan Không  Ảnh do Mạc Ly Châu sọan bằng tiếng Anh đã khiến anh đươc quân lưc Hoa Kỳ tưởng thưởng Lục Quân Bội Tinh

Cái chết ‘’tuẫn tiết’’ của Mac Ly Châu là tấm gương sáng của một nhà thơ nhà văn nhà báo chiến sĩ cách mạng và sĩ quân quân lực VNCH  thà chết chứ không chịu nhục

HỒ NAM

KHÓC MẠC LY CHÂU

Khóc bạn lòng tự hào

Thơ văn như cuộc đời

Dám sống và dám chết

Cho tương lai giống nòi

Nòi Việt luôn bất khuất

Trăm Việt một gốc thôi

Sử Việt luôn sáng chói

Những hi sinh  nước nòi

 

Chúng ta không lạc ngũ

Sống hiên ngang giữa đời

Rửa nỗi nhục  nước nhỏ

Đứng vững để làm người

Những con người Nhân chủ

Người mãi sáng danh người

Hoa sẽ nở trên máu

Dù thảm kịch liên hồi

Con người phải tồn tại

Giữa thế giới ác ma

Con người phải thăng hoa

Với thơ ca nghệ thuật

 

Anh mãi còn sống đời

Trong linh hồn bất khuất

Anh chẳng hề lẻ loi

Nghìn năm sử còn chép

VƯƠNG TÂN

TRÍCH THƠ MẠC LY CHÂU

THU VỀ

Tháng ngày trôi trên lối mòn giá rét

Nắng lên tơ,đêm biếc lá cuồng mê

Em hiểu rồi trăng lọt lòng đã khuyết

Gió run run thoi thóp chuyển lời đi

 

Câm lặng đấy mà buồn đây mải miết

Đường trần gian  ôi tàn bạo thu về

Em ngỡ ngàng dẫm trên ngàn lá chết

Lòng mang mang tâm sự  trĩu tim thề

Đừng có nói chàng ơi lời vĩnh biệt

Đi là di thôi má ấp môi kề

Đi là đi,duyên lành xưa đã hết

Cười cho tan niềm u uất sầu ly

 

Rượu đưa nhau men xuân đời bất diệt

Thấm vô lòng,say khướt có cần chi

Gươm thần đấy,hãy khơi dòng suối huyết

Dưới trăng tà tin thép óng như mi

 

Hố mắt đọng một nguồn thương da diết

Khoan khoan lời…e ấp dáng xiêm y

Chàng ,chàng ôi!

Nhưng muôn ngàn lá chết

Đã tơi bời rơi ngập lối người đi

GIƯƠNG HƯƠNG

Thơ xanh như lá

Trải xuống giuờng hương

Nằm vô mát mát lạ thường

Với lòng bốn biển

Nguôi sầu ngàn phương

 

Dịu dàng nhị cổ lên cung bậc

Thánh thót lời ca xưa

Ai ngỡ nguồn cũ  thức dậy

Gói gầm,sóng vượt bờ

 

Thơ dù xanh như lá

Rũ áo đứng lên tìm biển cả

Ngàn thông vi vút tiếng nhị hồ

Ta về nghe rộn hồn gỗ đá

Nhịp bước người xưa còn thóang trong mơ

Ai hay máu thắm bóng cờ

 

Giừng hương bỏ đó

Đứng dậy đi theo nhịp đời

Gió Xuân Thu bừng thổi

Máu đỏ dãi lên lời

Thơ chẳng xanh hơn lá

Thơ bạo cuồng hồng tươi

 

Bao giờ sóng lặng

Dừng chân mái nhỏ bên đường

Hái thơ trên chòm vây biếc

Trải xuống giường hương

Nằm vô mát mát lạ thường

MẠC LY CHÂU

 




ĐÀO MỘNG NAM NHÀ NHO CUỐI MÙA CHẾT BẤT ĐẮC KỲ TỬ

ĐÀO MỘNG NAM NHÀ NHO CUỐI MÙA CHẾT  BẤT ĐẮC KỲ TỬ



Tôi gặp Đào Mộng Nam lần đầu tại trụ sở Đàm Trường Văn Nghệ Chủ Quan Viễn Kiến của nhà văn Nguyễn Đức Qùynh ở đường Phan Thanh Gỉản gần chùa Từ Quang của hòa thượng Thích Tâm Châu vào những năm cuối của thập niên 50.Anh Qùynh nói với tôi rằng cái chàng trai hai mươi tuổi người nhỏ thó tên Đào Mộng Nam Bắc Kỳ di cư này mới sáng tạo ra một phương pháp học chữ Hán tốn rất ít thời gian người theo học   không cần thông minh lắm chỉ cần chăm học một chút thì không tới một năm có thể đọc thông viết thạo chữ Hán

Luật sư Nghiêm xuân Hồng con rể cụ Hồng Lô Tự Khanh Nguyễn Trác một một bậc đại khoa Nho học  cũng là người khá giỏi chữ Hán nghe anh Nguyễn Đức Qùynh giới thiệu Đào Mộng Nam như vậy đã tò mò hỏi Đào Mộng Nam học chữ Hán ở đâu mà sáng tạo ra phương pháp học chữ Hán chỉ mất thời gian một năm mà đọc thông viết thạo.đượcChàng trai hai mươi tuổi Đào Mộng Nam thú thật là mê chữ Hán từ nhỏ tìm nhiều thầy để học chữ Hán ngòai thời gian  làm gia sư kiếm ăn để có tiền mua sách tự học luyện thi tú tài là học chữ Hán.Người thầy cuối cùng Đào Mộng Nam theo đuổi ‘’dùi mài’’ chữ Hán là nhà nhoLâm TuyềnDã Phu Phan Vọng Húc[thân phụ nhà thơ Phan Lạc Tuyên]nhà ở gần Ngã Ba Ông Tạ nhưng Nam thấy cứ học  theo phương pháp Tam Thiên Tự học thuộc từng mặt chữ một thì đúng là phải mười năm mới đọc thông viết thạo đượcchữ Hán nên Nam đã học thuộc 140 bộ chữ Hán và từ 140 bộ này triển khai ra tra tự điển và đọc và viết chữ Hán thật không ngờ đã đọc được cả văn ngôn lẫn bạch thọai chỉ trong vòng sáu tháng và sung sướng hơn nữa đọc lầu lầu truyện Tam Quốc chí bản chữ Hán cũng chỉ sáu thang mà thôi

Nghe Đào Mộng Nam nói luật sư Nghiêm xuân Hồng gật gù có vẻ thích thú lắm ông nói với Nam rằng’’Thế hệ trẻ Việt Nam sắp tới cần phải có căn bản Hán Nôm mới tiếp nối được truyền thống văn hóa dân tộc để hội nhập vô thời đại thỏai mái,mất truyền thống văn hóa dân tộc mà hội nhập vô thời đại coi như mất gốc ,mình ủng hộ việc đưa chữ Hán  trở lại với giáo dục như một sinh ngữ nhưng phải với phương pháp học đơn giản và giúp người học dễ tiếp thu’’

Giữa năm 1964 sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ chế độ Dương văn Minh bị ‘’chỉnh lý’’ Nghiêm xuân Hồng làm bộ trưởng phủ thủ tướng của chính phủ NguyễnKhánh ông có nhờ tham chánh văn phòng Lê Linh đi kiếm Đào Mộng Nam để triển khai chương trình dạy chữ Hán cho lớp trẻ .Khi Lê Linh gặp Đào Mộng Nam thì  Đào Mộng Nam đã  hòan thành giáo trình Tự Hoc Chữ Hán mà Đào Mộng Nam gọi là chữ Nho gồm ba cuốn in ronéo và Đào Mộng Nam đã được nhà chùa dành cho một gian phòng làm chỗ dạy thực nghiệm chữ Nho theo phương pháp Đào Mộng Nam,Không những nhà chùa cho Đào Mộng Nam địa điểm mở lớp dạy chữ Hán mà còn mời Đào Mộng Nam vô dạy chữ Hán ở Phật Học Đường Huệ Nghiêm rồi Phật Học Đường Qủang Đức nữa

Bẵng đi một thời gian không gặp Đào Mộng Nam đầu năm 1970 tôi gặp lại Đào Mộng Nam trên đường Lê Lợi Nam cho biết lúc này dạy chữ Hán ở hai trường đại học Huế và Vạn Hạnh  đồng thời cho ra đời nhà xuất bản Nguồn Sáng  tặng tôi một lô sách Nguồn Sáng  mới xuất  bản trong đó có bộ’’Nho Văn Gíao Khoa Tòan Thư và bộ Tự Hoc Chữ Nho [5 cuốn] của Đào Mộng Nam và ba cuốn sách của Linh Mục Kim Định gồm Kinh Dịch Linh Khảo,Triết Lý Cái Đình,Lạc Thư Minh Triết.Hỏi ra  mới biết lúc này Đào Mộng Nam đang  làm công việc văn hóa mà chàng ta hằng theo đuổi với linh mục Kim Định và có vẻ hứng thú lắm vì đã  được hai Viện Đại Học Huế và Vạn Hạnh mời dạy chữ Nho

Thế rồi ngày 30 tháng tư xẩy ra VNCH tan  rã ,tôi không được tin tức gì về Đào Mộng Nam nhưng một bữa  vào năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi tôi gặp lại Nam trên hè phố Saigon Nam đang đi với một người bạn Mỹ thấy tôi liền rủ đi ăn bánh tráng phơi  sương  cuốn thịt chấm mắm nêm và bánh canh Trảng Bàng. Trong bữa nhậu Nam tiết lộ với tôi lúc này Nam làm thơ và dịch thơ Cao Bá Qúat đồng thời dạy môn Việt Nam học ở một số trường Đại Học tại Mỹ

Khi  men rượu bia ngà ngà Đào Mộng Nam có ngâm cho tôi nghe bài thơ’’Nguyên Tiêu Khóc Cao Bá Qúat’’ mà tôi thích nhất hai câu

Van thủa  văn chương còn chẳng nát

Muôn đời thần khí lẽ nào tan

Tôi hỏi Nam về nước làm gì Nam không dấu diếm gì cả là Nam về nước chỉ có một mục đích duy nhất là đi ‘’điền dã’’ sưu tầm thơ chữ Hán’’di cảo’’ của  Chu Thần Cao Bá Qúat và đã tới Phú Thị [Gia Lâm Hà nội] quê hương Chu Thần Cao Bá Qúat sưu tầm được nhiều ngàn bài thơ chữ Hán của Cao Bá Qúat và dịch ra thơ lục bát song thất lục bát thất ngôn hơn một ngàn bài

Từ đó mỗi lần về nước Nam thường tới tìm tôi khoe những khám phá mới của Nam về Cao Bá Qúat và nói về  bộ Cao Chu Thần tòan tập Nam đang sọan thảo sẽ xuất bản khi hòan thành thình lình cuối tháng tám đầu tháng 9 dương lịch năm 2006 đọc các báo điện tử Người Việt và Việt Báo xuất bản ở Mỹ tôi thấy tin  Đào Mộng Nam qua đời chính sác vào thời gian nào không ai biết chỉ biết Đào Mộng Nam sống một mình trong một căn hộ chung cư ở cuối đường Mc Fadden thành phố Tustin[bang California] một ngày cuối tháng tám năm 2006 cảnh sát được hàng xóm của Đào Mộng Nam thông báo từ căn hộ của Đào Mộng Nam đang khóa cửa  bên trong mùi tử thi    phân hủy đang tỏa ra cảnh sát đã phá cửa vào căn hộ và tìm thấy sác Đào Mộng Nam nằm gục dưới sàn nhà một phần đã bị phân hủy

Theo báo điện tử Người Việt thì sau khi lo tang lễ cho Đào Mộng Nam xong thân nhân của Đào Mộng Nam  sẽ cho ấn hành ‘’Cao Chu Thần tòan tập’’  trong đó có bản dịch hơn ba ngàn bài thơ chữ Hán của Đào Mộng Nam.Trong Cao Chu Thần tòan tập ngòai phần dịch thơ Cao Bá Qúat ra Đào Mộng Nam còn viết về thơ Cao Bá Qúat con người Cao Bá Qúat và cuộc cách mạng nông dân do Cao Bá Qúat phát động tư tưởng Cao Bá Qúat và những tập dại thành của Cao Bá Qúat về văn hóa Việt Nam

Cái chết ‘’đột tử’’ của Đào Mộng Nam làm tôi sao xuyến trong lòng mất mấy ngày và luôn nghĩ về những điều Đào Mộng Nam nói trong một lần gặp gỡ’’Văn hóa Việt là nền văn hóa dung hóa và chuyển hóa chúng ta đã dung hóa được văn hóa Nho Lão của Trung Hoa Phật giáo của Ấn  Độ thành Văn Hóa Tam Gíao Đồng Nguyên ngày nay học gỉa Hồ Hữu Tường đã gợi ý tổng hợp ba nền văn minh chính ủy ,kỹ sư và tu sĩ của thời đại thành nền văn minh Việt Nam hiện đại…’’



HN

KHÓC ĐÀO MỘNG NAM



Trăm năm đã lỗi hẹn

Đời còn mấy trang sách

Chỉ có thơ đáng kể

Ôi những vần tịch mịch

 

Nỗi cô đơn đêm dài

Mênh mông trăng viễn xứ

Ly rượu khuya bầu bạn

Giấc mơ nào có em

 

Tàn canh nhìn trời sáng

Bâng khuâng trời lưu vong

Ôi !mệnh đời ‘’bèo giạt’’

Ôi! Thân phận long đong

 

Thơ vẫn còn trôi nổi

Trước đao kiếm cuộc đời

Thơ vẫn còn lận đận

Qua bao kiếp luân hồi

 

Khóc nhau hết nước mắt

Uống cạn chén rượu suông

Nhìn lại vầng trăng cũ

Nhớ bạn bè không cùng



VƯƠNG TÂN




Hồ Nam : NGUYỄN VỸ NHÀ THƠ BÂT HỦ NHÀ VĂN HÓA LẪY LỪNG

NGUYỄN VỸ NHÀ THƠ BÂT HỦ NHÀ VĂN HÓA LẪY LỪNG

Nguyễn Vỹ sinh năm 1910 tại làng Tân Hội huyện Đưc Phổ con một vị quan Nam Triều vào loai tầm cỡ nhưng vì ông chống Pháp đã từ quan.Nguyễn Vỹ học xong tú tài ra đời viêt báo làm văn làm thơ.Hai mươi bốn tuổi xuât bản tập thơ đầu tiên bằng hai thư chư quốc ngữ và Pháp rồi làm chính trị chống Pháp bi Tây bỏ tù sau qua chống Nhật bị Nhật bắt nhốtVề văn chương Nguyễn Vỹ là bạn đồng hành với Trương Tửu và sáng lập ra trương thơ Bach Nga một trương thơ ảnh hương thơ Pháp do ông làm chủ soái

Với kiến thưc rộng và bách khoa Nguyễn Vỹ đã nổi đình đám khi chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông và và nổi danh với những mục Mình ơi và Tuấn chàng trai nươc Việt

Nguyễn Vỹ viêt tiểu thuyêt không thành công lắm nhưng viêt hồi ký nhât la tập hồi ký về những nhà văn nhà thơ tiền chiến thì lai rât thành công vì trung thực và dám viết những điều thiên hạ né tránh

Nguyễn Vỹ là ngươi đa tình có nhiêu vơ và một chuyến từ Saigon đi thăm vợ nhỏ ở Mỹ Tho ông đã tử nạn trong môt tai nạn xe hơi ở Cầu Voi Long An  vào năm1971

Tổng kêt cuộc đời thơ văn của Nguyễn Vỹ chúng ta thấy rõ ràng qua tác phẩm Tuấn chàng trai nươc Viêt Nguyễn Vỹ là một nhà văn hóa dân tộc có trình độ và về thơ Nguyễn Vỹ là nhà thơ tiền chiến có hạng dù ông thất bại trong khi làm chủ soái trường thơ Bach Nga một trương thơ nhập tư thơ của văn chương Pháp

Nguyễn Vỹ là nhà báo có tài nhà thơ có tầm cỡ nhưng nhà văn thì chỉ thành công trong đia hat hồi ký còn tiểu thuyêt thì ông chỉ làng nhàng thua cả Hồ Biểu Chánh

Để rộng đương dư luận chúng tôi xin trích bài thơ Bạch Nga hai chân của Nguyễn Vỹ đó là bài Sương rơi

Sương rơi

Nặng trĩu

Trên cành

Dương liễu

Những hơi

Gió bấc

Lạnh lung

Hắt hiu

Thấm vào

 Em ơi

Trong long

Hat sương

Thành một

Vêt thương

Rồi hat

Sương trong

Tan tác

Trong long

Tả tơi

Em ơi

Trong giọt

Thánh thót

Từng giọt

Điêu tàn

Trìu mến

Mồ hoang

Rơi sang

Cành dương

Liễu ngã

Gió mưa

Tơi tả

T ừng giọt

Từng giọt

Tơi bời

Mưa rơi

Gió rơi

Lá rơi

Em ơi

Thơ Bạch nga của Nguyễn Vỹ là như thế đó nhưng thơ tám chữ thì lai rât đươc như bài thơ Gửi Trương Tửu thì lai tuyêt vời

Hồ Nam


TRÍCH THƠ NGUYỄN VỸ

GỬI  TRƯƠNG TỬU

Nay ta thèm rươu nhớ mong ai

Một mình nhấp nhem chẳng buồn say

T rươc kia hai ta hết một nậm

Trò chuyện dông dài mặt đỏ sẫm

Nay một mình ta một be con

Cạn rượu rồi thơ mới véo von

Dạo ấy chúng mình nghèo sơ sác

Mà vẫn coi tiền như cỏ rác

Kiếm đươc đồng nào đem tiêu hoang

Rủ nhau chè chén nói huyênh hoang

Xáo lộn văn chương với chả cá

Chửi Đông chửi Tây chửi tât cả

Rồi ngủ một đêm mộng với mê

Sang dậy nhìn nhau cười hê hê

Bây giờ thời thế vẫn thây khó

Nhà văn Annam khổ như chò

Mỗi lần cầm bút viêt văn chương

Nhìn đàn chó đói gậm trơ xương

Rồi nhìn chúng mình hì hục viêt

Xuốt mấy năm trời viết vẫn kiêt

Mà thương cho tôi thương cho anh

Đã rụng bao nhiêu mái tóc xanh

Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng?

Tôi làm trạng nguyên anh tể tướng

Rồi anh bên võ tôi bên văn

Múa bút tung gươm hả một phen?

Cho bõ căm hờn cái xã hội

Mà anh thường kêu mục nát thối

Cho người làm ruộng kẻ làm công

Đều được an vui hớn hở long?
bây giơ chúng mình gạch một chữ

Làm cho đảo điên pho lịch sử

Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa

Hât mồ chồm dậy cươi say sưa

Để xem hai chàng trai quắc thước

Quét sạch quân thù trên đât nươc

Để cho toàn thể dân Việt Nam

Đều được Tư Do muôn muôn năm?

Để cho muôn muôn đời dân tộc

Hêt đói hêt lầm than tang toi1c?

Chứ như bây giờ là trò chơi

Làm báo làm bung chán mớ đời

Aqnh đi che tàn một lũ ngốc

Triêt lý con cừu văn chương cóc

Còn tôi bưng thúng theo đàn bà

Ra chợ bán văn ngày tháng qua

Cho nên tôi buồn không biêt mấy

Đời còn nhố nhăng ta chịu vậy

Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa

Bực chí thành say mấy cũng vừa

Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ

Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ

Rồi đâm ra điên đâm vẩn vơ

Rút cục chỉ còn mộng và mơ

NGUYỄN VỸ

GỬI NGUYỄN VỸ

Văn chương thời nào cũng thế thôi

Làm văn làm thơ tù khổ sai

Càng viêt càng thêm nhiêu lệ rơi

Càng viêt càng thêm nhửng ách tai

Trời sinh cầm bút biêt làm sao

Thiên hạ bao nhiêu chuyện khổ đau

Trăm năm trươc rồi trăm năm sau

Cái nghiệp cầm bút đi buôn sâu

Ta khóc cho anh ta khóc ta

Hỡi ơi trơi đất thật bao la

Cái thân cầm bút là như thế

Cái nghiệp làm thơ ta với ta

Hãy chửi một câu cho nhẹ lòng

Rượu còn đâu nữa thế là xong

Mai ta ngủ dậy ta mở mắt

Sẽ thây đất trời không trống không

Ta đã làm thơ ta viết văn

Đem chuyện người ra để dấn thân

Nỗi đau nhân thế bao giờ dứt

Để chúng ta được nhẹ cõi lòng

Thiên hạ quẩn quanh chuyện áo cơm

Còn ta khóc mươn cứ âm thầm

Rươu một ly thôi nhưng vẫn thiêu

Đêm nằm trằn trọc mãi mưa rầm

Anh đã chêt môt đời trăn trở

Tôi còn sống mãi tháng ngày  im

Hãy ngâm cho lơn câu thơ cổ

Để cuối đương kia có nắng xuân

VƯƠNG TÂN




Chưởng Môn Hà Thượng Nhân : ĐỌC THƠ HOÀNG SONG LIÊM

Những Tuyệt Phẩm của nhà thơ Hoàng Song Liêm

http://www.giadinhkinhchi.org/Music/TacPhamHoangSongLiem/


ĐỌC THƠ HOÀNG SONG LIÊM

Hoàng Song Liêm là một trong những con người di tản tương đối thành công. . Sang đến Hoa Kỳ, anh làm ăn khá giả, con cái tương đối thành công nhưng lời thơ anh vẫn u uất buồn nhu noi buon cac ban anh dong cam:


Ta vẫn làm dân xứ lạ,
 Ngẩn ngơ đất khách quê người.
Ôm trái tim sầu hóa đá,
Bao giờ, biết thuở nào nguôi ?

       Không bao giờ nguôi cả. Mới biết tấm lòng thương quê nhớ nước mãnh liệt đến chừng nào.  nhưng còn một cái gì đó anh không có. Đó là quê hương. Quê hương không phải chỉ là sông, là núi, là mồ mả ông cha, là họ hàng, làng mạc. Quê hương lại còn là những làn gió, những ánh trăng, những cơn mưa gió thất thường, những con đường lầy lội, những mái rơm, mái rạ, những con người lầm than, đói khổ. Nó là cuộc đời, là tuổi trẻ của chúng ta. Là tiếng mẹ ru, là mùi thơm hoa cau, hoa bưởi, là đêm khuya tiếng chiếc mo cau rụng ở vườn sau. Ôi quê hương ! Là thứ chúng ta không thể diễn tả bằng lời nhưng nỗi mất mát quê hương vẫn hiện hữu trong chúng ta từng giây, từng phút.
      
        Toàn thể tập thơ không bài nào là không đề cập đến quê hương. Quê hương và tuổi trẻ. Quê hương và thời gian. Càng về già, chúng ta càng quý tuổi trẻ, càng ngậm ngùi vì thời gian qua mau.

Dài tay năm ngón canh xao,
Sầu mây tóc trắng chiêm bao nửa vời.
Dài tay mười ngón tay xuôi,
Sâu đôi hộc mắt, môi cười ngẩn ngơ.
Quẩn quanh năm tháng thừa dư,
Gai chông nhọn hoắt, chân dò dẫm đi.

 

“Sâu đôi hộc mắt” hai con mắt lõm xuống vì đêm không ngủ được vì sống ở đây không thực sự là sống. Sống ở đây đối với người chỉ còn có nghĩa là tồn tại…

 

Năm cửa ô xưa băm sáu phố
 Xa quê hương, nhất là quê hương ấy lại là Hà Nội thanh lịch thì làm sao những người con của Hà Nội có thể quên được 5 cửa ô, quên được Hà Nội băm sáu phố phường.

 Năm 1954, Mai Thảo bỏ Miền Bắc đã viết một cuốn truyện thật hay : Đêm giã từ Hà Nội”. Hay vì thực, vì chân thành. Nghệ thuật chỉ làm nên những bài thơ, chỉ tâm hồn mới là thi sĩ. Câu nói đó của một thi nhân Pháp viết cách đây hàng thế kỷ mà muôn đời vẫn đúng.

          Tôi nhớ mãi đến Hoàng Song Liêm những ngày mới chập chững bước vào đời. Khi ấy, chúng tôi còn là quân nhân trong ngành Tâm Lý Chiến. Liêm thì ngoài 20, còn tôi ngoài 3 chục. Liêm còn độc thân, tôi đã có ba, bốn con. Chúng tôi gặp nhau và tự nhiên thấy rất gần gũi, thân thiết với nhau, vì chúng tôi cùng làm thơ và cùng yêu thơ.

 Phương Nam mù mịt trời phương Bắc,
Mây trắng giang hồ, mây viễn phương..

      Tôi biết tại sao Liêm lại giao cho tôi viết mấy lời đầu của cuốn sách. Vì Liêm cũng như tôi, chúng tôi thích sự chân thành. Nếu như lối viết của Vũ Hoàng Chương, của Huy Cận cổ rồi thì làm sao chúng ta còn thưởng thức được Tản Đà, còn thưởng thức được ca dao. Hóa ra cuộc sống của thi ca còn ngắn ngủi hơn cả cuộc sống của con người nữa hay sao ? Mới không phải là tìm ra lối diễn tả kỳ cục. Mới là cách nhìn sự vật. Nhiều người nhìn mà có thấy gì đâu ? Hàng nghìn năm trước, Lý Bạch nhìn trăng và nói thế này :

Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,
Nguyệt hành khước dữ nhân tương tùy.
 (Người với lên trăng thì không được,
(Nhưng) người đi đâu thì trăng theo đó.

Hoặc :
 Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.
(Người ngày nay không thấy trăng ngày xưa,
(nhưng) trăng ngày xưa vẫn thấy trăng ngày nay)

        Kiếp sống của con người thật là phù du so với cảnh vật. Lý Bạch chỉ nhìn và diễn tả. Ông không cần biện luận. Cần gì phải biện luận. Chúng ta chỉ đọc cũng đủ thấm thía cho cuộc sống ngắn ngủi của kiếp nhân sinh.

         Hoàng Song Liêm năm mươi năm rồi anh mới lại cho tôi đọc thơ. Thơ anh vẫn trẻ như ngày nào. Hình dáng chúng ta không còn như xưa nữa nhưng tinh thần chúng ta nào có gì đổi khác. Tôi mừng cuộc đời chưa làm tôi mất một người bạn, một người thơ.

Hà Thượng Nhân

 

 

 

 

 

                                                                

 

 

 

 

 

 

Giới Thiệu sách mới.

                                            Tác phẩm : Thơ Tình

                                            Tác giả : Hoàng Song Liêm

                                                            Nguyễn Mạnh Trinh

Thơ tình  ? Có phải là những vần thơ của đôi lứa yêu  nhau ? hay của nỗi niềm hoài niệm của người đã trải qua nhiều cuộc phong trần ? Hoặc là niềm yêu  mến và thương nhớ  quê hương ? Hay những tấm chân tình dành cho người thân mến ? Tất cả , đã có trong tập " Thơ Tình" của nhà thơ Hoàng Song Liêm.Tập thơ in đẹp , bìa cứng , trang nhã, trang trọng về hình thức và phong phú về nội  dung.

    Tách bạch từng bài thơ , vẫn là bàng bạc mối sầu thương nhà nhớ nước . Nỗi buồn   của một người , đứng trên bờ nhìn dòng nước mải miết trôi , thấy quá khứ chập chờn và hiện tại chông chênh.  Có một tiếng thở dài , trầm và sâu.Nhưng, trong kiếp người và trong cuộc đời, có điều gì  vượt qua được cái hữu hạn của cuộc nhân sinh. Đọc bài thơ " Rồi một ngày qua đi", để thấy cái chạnh lòng của một người thơ nhiều suy tưởng :

   " Rồi ngày và tháng cũng qua đi như chưa bao giờ có thật

Anh còn gì trong nắm tay xuôi?

Tuổi và năm cũng trôi về nẻo khuất

Nỗi nhớ trong Em rồi cũng phai phôi

       Mặt trời chiều nay vẫn đấy

Hỏi thầm bóng cũ ta đâu

Vầng nguyệt đêm nay vẫn vậy

Còn không hai bóng chung đầu?

      Ngày và tháng củng qua đi như chưa bao giờ có thật

Hăm bốn giờ qua có nghĩa gì chăng?

Giây và phút cũng theo nhau đuổi bắt

Đông sẽ tàn và Xuân lại sang Xuân

     Mùa Thu chết trên lưng chừng núi

Nắng Hạ vàng dưới lũng sâu kia

Biển thét sóng, nghìn năm tiếng dội

Đá trơ gan tuế nguyệt xanh rì

 Tình cũng vậy cũng đi vào quá khứ

Ngày lênh đênh và tháng cũng lênh đênh

Kỷ niệm cũ sẽ chôn vùi đáy mộ.

Em chưa về cỏ dại vẫn vây quanh

   ôm hữu hạn ta xuôi miền ảo tưởng

Ngẩn ngơ tìm, tìm mãi , ngẩn ngơ thôi

Ta hiện diện nào hay vô sắc tướng

Mây chiều bay , chìm nổi cuối chân trới"

  Hình như, thơ ngân vang những rung cảm , những sợi dây căng lên từ miền cảm xúc . Tôi muốn hỏi tự mình: Đây có phải bài thơ hay? Và , hình như  nhạc sĩ Quý Denver  cũng cảm được từ ngôn ngữ và vần điệu ấy  để mượn những cung bậc âm thanh   phổ nhạc bài thơ

     Có những bài thơ sống mãi với quê hương , những bài thơ  của Tế Hanh , Bàng bá Lân , Anh Thơ , Thanh Tinh,Tôi nhớ đã đọc những bài thơ ấy cách nay mấy chục năm đến bây giờ vẫn còn in trong óc  từng câu từng chữ   và cả nỗi nao nao trong tâm,  trong trí. Những bài  học thuộc lòng của tuổi thơ ấu nào thật xa mà cũng thật gần gũi.  Bây  giờ , đọc bài thơ " Về Làng Cũ " của Hoàng Song Liêm  , tôi lại còn nguyên cảm xúc cũ :

  " ôi nhớ quá bừng lên từng tuổi dại

như gã tiều phu tìm trầm ngậm ngải

Tôi trở về như một khách hành hương

Tôi  chắt  chiu từng mảnh vỡ thiên đường

Thành chuỗi ngọc tuổi hồn nhiên sắc biếc

Tiếng cu gáy vườn xưa ngày tiễn biệt

Lời chim sâu ríu rít ngọn tre già

Bên ao đình còn đó gốc đa xưa

Chùm khế ngọt giậu mướp vàng xóm giếng

Mảnh sân cuông qua mấy mùa dâu biển

Gót chân về mòn vẹt gót phiêu du

Cội soan già, hàng cau biếc non tơ

Oâi nhớ quá hắt hiu chiều ngõ trúc

Trái sấu xanh thuở đầu đời đi học

 vị trên môi còn chát chát chua chua

con chuồn chuồn còn đậu đó ngu ngơ

đàn bướm lượn vóng quanh ngoài cửa lờp

mái ngói đỏ au nhà ai mới lợp?

 Con đường nghiêng gõ móng bước trâu về

Một chân trời tím ngắt dưới chân đê.."

 Đọc bài thơ , tôi thấy lại tôi là cậu học trò tiểu học , đang cầm cuốn sách " Tân Quốc Văn " ngày nào để qua lời thơ yêu tha thiết quê hương đất nước hơn . Những hình ảnh làng quê ấy , bây giờ với  lớp trẻ khó lòng mà tưởng tượng nổi . Thế thì , tại sao , những Trung Tâm dạy Việt ngữ lại không chọn những bài thơ giống như bài này , để cho các em  hiểu biết thêm được nét đẹp của quê hương?

     " Thơ Tình " có phải là tình luyến ái  của một hồn lãng mạn , của một người đã thuộc " nòi tình"

" mỗi một từ là một tiếng thơ say

Anh muốn viết cho Em tuyệt vời nỗi nhớ

Nỗi nhớ ấy từ vầng trăng thái cổ

Từ sao trời khoảng cách những quang niên

Những câu âm  thầm chấp cánh những đêm đen

Lũ hồng hạc theo mây về quá khứ

Màu áo lụa còn mùi hương trong tủ

Sợi tóc xưa còn rối lược răng cài

Giọt lệ nào ướt đẫm chiếc khăn tay

Chăn gối lẻ sầu thơm nồng phấn bướm

Gửi cho Em kim la bàn định hướng

Đóa hoa quỳ hư ảo lệch chiều xoay

Nửa địa cầu trông gốc biển chân mây

Lòng bão tố nổi vân rừng gỗ quý"

  Bài thơ khác , thơ là hoài niệm , tình là thiên thu , một bài lục bát có nhiều âm hưởng  của những nét mơ hồ  phân hai  giữa ngày đã qua và phút giây hiện tại:

" dài tay năm ngón xanh xao

sầu mây tóc trắng chiêm bao nửa vời

dài tay mười ngón tay xuôi

sâu đôi hộc mắt môi cười ngẩn ngơ

quẩn quanh năm tháng thừa dư

gai chông nhọn hoắt chân dò dẫm đi

em về nỗi nhớ ngồi chia

kéo cao cổ áo hồn nghe lạnh đầy

dài thêm hai nhánh tay gầy

nỗi đau tưởng tiếc cuối ngày mộng du."

Thơ, có khi là một thoáng bâng khuâng

"Về qua lối cũ đường trưa .

Mòn con mắt đợi người xưa chẳng còn ..".

    Cũng có thể là của một ngày Hà Nội nào,  tuy đã lâu nhưng vẫn còn  nỗi nhớ

 " anh trỡ lại con đường thuở nọ.

( ve xôn xao phượng đỏ sân trường)

dìu nhau giửa mưa phùn phó cũ.

Tóc phai màu thương quá là thương.."

Đọc tập " Thơ Tình " của Hoàng Song Liêm , tự nhiên thấy thời gian hình như  chẳng còn là những dặm đường thăm thẳm nữa. Mà , ở đó , gần gũi biết bao những kỷ niệm. Sống ở xứ người, có bao giờ, nhìn  vào mặt thủy  phản chiếu  để tìm lại một thoáng cười . Như ngày xưa có người đập gương soi  để tìm nhân dáng cũ

            

           
         
        

          H Ộ I     H O A    Đ Ă N G

 

            Đêm  vũ  hội  cả  vầng  trăng  chợt  tối

            Hội  Hoa  Đăng  mở  lối  Em  vào

            Ngập  hồn  anh  bát  ngát  những  vì sao

            Em,nữ  chúa  đã  lên  ngôi  hoàng  hậu

            Cả  trần  gian  chập  chờn  hư  ảo

            Cả  trần  gian  giông  bão  đã  quay  cuồng

            Giữa  cung  đình  hoàng  hậu  gặp  quân  vương

            Bốn  mùa  chuyển  vang  lừng  nhã  nhạc

            Ngọc  nữ,kim  đồng  ngẩn  ngơ  tiếng  hát

            Khúc  ca  thiều  dìu  dặt  năm  cung

            Lòng  ta  rung  vời  vợi  điệu  tơ  chùng

            Đêm  bất  tuyệt  ngợi  ca  thiên  tình  sử

            Mời  Em  vào  thăm  Uyển  ngự  đêm  nay

            Vi  vút  sáo  thần  mầu  nhiệm  thơ  say

            Ta  mở  ngỏ  thuở  xuân  tình  phơi  phới

            Hoa  lá  vườn  khuya  thì  thầm  tiếng  gọi

            Tắt  trăng  đi, đèn  rọi  dấu  chân  son

            Mỗi  đóa  hôn  ngọt  lịm  vị  môi  hồng

            Thân  quấn  quýt  dây  leo  ngoài  vũ  trụ

            Hãy  tắt  đi  cả  muôn  ngàn  tinh  tú

            Thắp  lên  nào  mờ  tỏ  hội  Hoa  Đăng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                 N Ư Ơ N G      T H Â N

 

                 Đành  nương  thân  nơi  đất  khách

                 Chân  trời  góc  biển  xa

                 Tình  đời  nghe  ấm  lạnh

                 Vời  khuất  bóng  quê  nhà.

                 Tuổi  cao  chiều  bóng  xế

                 Xuân  mòn  ngày  tháng  qua

                 Bốn  khung  tường  lặng  lẽ

                 Ngơ  ngẩn  bước  vào,ra

                 Những  đêm  thầm  nhỏ  lệ

                 Thao  thức  mấy  canh  gà

                 Mùa  đông  hoa  tuyết  phủ

                 Gió  buốt  chùng  thịt  da

                 Quẩn  quanh  hè  phố  cũ

                 Mộng  ước  dần  phôi  pha.

                 Ngó  từng  khuôn  mặt  lạ

                 Lẩn  thẩn  chiếc  thân  già.

                 Lời  ngu  ngơ  tượng  đá

                 Hát  giữa  chợ  phù  hoa.

                 Sóng  xô  mù  biển  cả.

                 Hồn  lênh  đênh  quê  nhà !

 

                 Hoàng  Song  Liêm




Hồ Nam : NHÀ THƠ NGUYỄN XUÂN SANH VÀ NHÓM XUÂN THU NHÃ TẬP

NHÀ THƠ NGUYỄN XUÂN SANH VÀ NHÓM XUÂN THU NHÃ TẬP

Nguyễn xuân Sanh nguyên quán tại tỉnh Quảng Bình nhưng sinh tại Đà lạt năm 1920 ông làngươi đã cùng những Đoàn Phú Tứ Phạm Văn Hanh[Thê Húc] Nguyễn Lương Ngọc,Nguyễn Đỗ Cung  và Nguyễn Xuân Khoát sáng lập ra nhóm Xuân  Thu Nhã Tập.Theo Nguyễn Xuân Sanh thì cái tên Xuân Thu Nhã Tập là sáng tác của tập thể,nhóm này nhóm hình thành cuối năm 1939 nhưng mãi tới giữa năm 1942  mới in và phát hành đươc tập đầu Xuân Thu Nhã tập và chỉ ra đươc duy nhất có một tập mà thôi dù rât đươc độc giả hoan nghênh và trông đợiTheo Nguyễn Xuân Sanh thì ông là ngươi trẻ nhất trong nhóm và là ngươi theo đuổi tinh thần Xuân Thu Nhã tập cũng lâu nhât trong nhóm

Thơ Nguyễn Xuân Sanh xuất hiện làm giới thưỡng ngoạn chới với vì những hình ảnh chữ nghĩa trong thơ Nguyễn xuân Sanh không giống ai,Chữ  thì đa nghĩa  đa tầng khiến cho ngươi đọc tha hồ tưởng tương để tiếp cận âm thanh thì Nguyễn Xuân Sanh dùng nhiều bình thanh hình ảnh thì lại đa chiều như ‘’đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà ‘’’ chẳng hạn ngươi đọc mặc sức mà khám phá mà tìm hiểu

Quỳnh hoa chiều  đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

Bờ giữ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà

Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm

Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

Buồn hưởng vườn người vai suối tươi

Ngàn mày  tràng giang buồn muôn đời

Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu

Duyên vàng  da lộng trái du ngươi

Ngọc quế buồn nào gợi tóc xưa

Hồn sa trĩu sách nhánh say sưa

Hiến dâng

Hiến dâng quả  bông hường

Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa

Đương tàn xây trái buổi du dương

Thời gian ơi tươi hận chìm tương

Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi

Ngọt ngào nhớ chẩy từ trăm phương

Thơ Nguyễn Xuân Sanh đòi hỏi một lớp độc giả mới một lớp độc giả phải động não khi đọc thơ như sang tạo thơ ,đọc thơ như khám phá thơ càng đọc thơ càng mở mang đầu óc thơ trong con ngươi mình

Nguyễn Xuân Sanh và Xuân Thu Nhã Tập đã  giúp cho ngươi đọc họ mở toang kiến thưc mở toang tâm hồn hội nhập với thơ đích thực.Con đương đi của Xuân Thu Nhã Tập đang thênh thang thì thời cuộc thay đổi cái khuynh hướng nghệ thuật thưc dụng cái khuynh hương nghê thuật thô thiển bỗng đươc đề cao và con đương nghệ thuật tinh tế bị coi là làm dáng bị lên án là điệu đàng và Xuân Thu Nhã Tập bị coi là khuynh hương nghệ thuật tháp ngà  khuynh hướng nghệ thuật xa rời quần chúng

Nguyễn Xuận Sanh trăn trở từ thế kỷ hai mươi   sang thế kỷ hai mươi mốt với bao nhiêu dằn vặt bao nhiêu đớn đau nhưng nào lột đươc sác thay đươc hồn dù ông rất cố gắng cho vừa lòng thiên hạ nhưng những cố gắng đó chỉ là những cố gắng vô tích sư mà thôi cuối cùng thì nghệ thuât đích thưc vẫn tồn tại và mãi tồn tại

TRÍCH THƠ NGUYỄN XUÂN SANH

NHẠC RỪNG VIỆT BẮC

Chim xuân khép cửa trầm tư lại

Đẩy gió về đây mấy dặm ngàn

Nhạc rừng nhớ buổi đi theo nắng

Lên ngát mây chiều hoa phượng reo

Bốn bề núi dựng tương tư ngọc

Lá đổ còn lay bạt mái chèo

Thử hỏi xuân cười hay đất sống

Xanh xanh trăm nẻo một hương rừng

Khi bụi nở vàng lên bước chậm

Nhớ chào con bướm đậu nghiêng lưng

Săc hồng tuy nhớ đôi thành quạnh

Rửa sạch buồn đèo trên suối xuân

Song song đá ngủ bên người lạ

Thao thức cùng trông đã mấy tuần

Gặp gỡ trời xanh trên núi cũ

Hoa cười Hà nội sáng duyên mây

Hoàng hôn ngựa uốn cầu vòng lụa

Cùng hẹn về đây những phố đầy

Thái Nguyên tháng 6 năm 1947

NGUYỄN XUÂN SANH

GỬI NGUYỄN XUÂN SANH

Thơ như trăng đáy nước

Lý bạch cũng còn thua

Thơ như mây trên trời

Lang thang từ muôn kiếp

Thơ như cánh cửa khép

Mở ra nào thây gì

Ta luôn đi tìm mộng

Mộng nào không tiếc nuối

Giấc mơ nào không thôi

Cuộc đời nào không lỡ

Tháng ngày nào không buồn

Nhưng nhà thơ vẫn thế

Cư mơ và cứ mộng

Cứ tìm những  vẩn vơ

Và rồi buồn tiếc nuối

Và rồi khóc rồi than

Khi trời không có nắng

VƯƠNG TÂN

 




Phạm Thị Cúc Vàng : Buổi sáng và nỗi buồn lơ lửng treo

Một Buổi Sáng.

em biết
nước mắt không làm anh mềm lòng
chỉ thêm mềm đau nỗi nhớ trong em
khiến thơ phải loãng theo từng giọt .

em biết
ngọt ngào qua họng yêu
vương vị chua a xit bào mòn chiếc lưỡi vừa nếm mùi tình
loang lổ đỉnh bình yên .

em biết
nước mắt không làm trắng anh trong em
không kỳ cọ sạch lòng nhớ
nước mắt, chà xát trầy trụa tim em
đau.

 vậy em, sao cứ khóc ?

Mảnh Tim

chút duyên dành để tặng người
chẳng may giông bão cuốn trôi đành lòng
sót lại đây mảnh tim nồng
Lả lơi (lơi phơi) theo gió long đong chốn tình
ai về giở mộng linh đình
mơ ta khép lại hóa mình , ngơ ngơ

mảnh tim sót ủ vào thơ
cất chưa thành rượu men hờ, ai say ?
cầm bằng tự uống, tự hay
nơi thân sấp ngửa tạm vay mượn đời
tình ư ? đâu phải của hời
mà mong chiết tính lãi lời ta ơi !

mảnh tim sót mệt rã rời
quay về lồng ngực tả tơi phiến buồn (mất rồi) .

phamthicucvang

Buổi sáng và nỗi buồn lơ lửng treo

Tôi giữ ngàn năm bao luyến thương
dẫu cho tình ấy có đôi đường
khi đã ở 2 đầu nỗi nhớ
tình lấp tràn cả nước sông Tương

có tiếng hát, tiếng nấc lẫn vào nhau
và cả trong tôi tiếng sóng trào
chỉ tôi nghe lấy tim tôi đập
nhịp giã con tim cho nát đau

chênh vênh cho lắm một tình si
giữ sao cho vẹn hỡi người đi
có còn quay lại còn mong gặp
màu mắt tím dần buổi chia ly ?

giữ mãi trong tôi tím đợi chờ
tím bóng người tím cả trời mơ
tím bước ai qua in dấu nhớ
dòng lệ tình tôi đổi thành thơ.
phamthicucvang


Biển chiều Hồng

Hoàng hôn đang nghiêng ngả
Nắng tàn bên cúc vàng
Biển tình vương sóng sánh
Tiếng ai gọi vang vang… CN

Sóng tắm bước chân anh
cát em – chiều hối hả
dấu tình nào vội vã
vui cát vàng, biển xanh ? CV

Ánh chiều mềm mê muội
Mộng đời tựa biển sâu
Cát sầu đang vào tối
Tình ơi em ở đâu ?? CN

Có tiếng sóng ngân nga
trái tim bên bờ vực
giữa chiều hồng chợt thức
mơ về phía trời xa . CV

Chân trời mơ hồng thắm
Tình yêu như nước mây
Có bao giờ em gọi
Có bao giờ anh say….CN