Xuân Nhớ Mong


Xuân Nhớ Mong

 

Bánh chưng xanh, rộn ràng câu đối đỏ

Ông đồ ngồi, khoa bút chúc mừng Xuân

Trẻ tung tăng, áo quần vui chợ Tết

Lòng bồi hồi, chợt nhớ rồi bâng khuâng

 

Xuân tha hương, lại thêm mùa Xuân nữa

Đếm thời gian, ba mươi mấy năm trường

Ngày xưa đó, gợi bao niềm tưởng nhớ

Dòng đời trôi, lòng còn mãi vấn vương?

 

Bữa cơm chiều, mẹ già mong ngóng đợi

Mắt nhạt nhòa, giọt lệ nhớ thương con

Nơi xứ xa, con mang đời lữ khách

Kiếp tha hương, buồn nhớ bóng mẹ hiền

 

Nhớ Xuân xưa, mẹ lom khom gói bánh

Lá dong xanh, gói gọn nếp đậu vàng

Bên bếp hồng, đàn con ngồi sưởi ấm

Nghe nhạc Xuân, rộn rã tiếng cười vang

 

Lửa bập bùng, reo vui mừng Xuân mới

Đón Giao Thừa ngồi nấu bánh chờ Xuân

Xóm làng xưa, bây giờ đà thay đổi

Mẹ già nua, biền biệt cõi xa xăm

 

Mái tranh nghèo khói lam tuyền vương tỏa

Quê hương tôi mờ xa tít mịt mùng

Đợi khi nao thanh bình vui trở lại?

Ta cùng nhau về ngắm ánh mai vàng…

 

Kiều Oanh Trịnh, VA 01/20/2011




Phan Ni Tấn: MỘT CHÚT VỚI NGUYỄN ĐỨC QUANG

MỘT CHÚT VỚI NGUYỄN ĐỨC QUANG

Biết nói thế nào về người bạn của tôi đây? Có lẽ bắt đầu bằng một bữa tiệc ở Sài Gòn năm 1968, trong đó có NBX, một người bạn rất ái mộ nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã ví anh thế này: "Nguyễn Đức Quang, một mảnh Quê Hương Ngạo Nghễ". Cách nói đó là một dụng ý nhằm ám chỉ bản hùng ca Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang sáng tác năm 1966. Lúc đó, với tôi, cách xưng tụng dù có chân thành nhưng đầy hoa mỹ này thật tình quá đáng. Nhưng rồi ngày nay,  mới ngày hôm qua thôi, ngay cái ngày 27-03-2011 Nguyễn Đức Quang lìa đời, anh được Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam trao tặng "Bắc Đẩu Bội Tinh", huy chương cao quý nhất của Hướng Đạo Việt Nam. Chưa kể cộng đồng người Việt trên thế giới dường như muốn nói rằng: Nguyễn Đức Quang, anh là một người hữu ích. Thế thì, đối với tài năng của người nghệ sĩ Nguyễn Đức Quang dù lúc đó anh không hề nghĩ mình nổi tiếng hay tài năng, thì sự xưng tụng đầy hoa mỹ như gió thổi qua tai, nghĩ lại không có gì quá đáng. Nguyễn Đức Quang, đó là Quê Hương; là con người của Quê Hương; là văn hóa, là tâm hồn của Quê Hương. Có thể chỉ là một cách gọi tên nhưng thực tế không phải là điều để khước từ.

Sinh năm 1944 tại Sơn Tây, một địa danh có nhiều cây bút nỏi tiếng, Nguyễn Đức Quang theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, sống tại Đà Lạt. Tốt nghiệp Đại Học  Chính Trị Kinh Doanh Đà lạt năm 1968. Thập niên 60- 70, ở khắp các nẻo đường thành phố hầu như bị chìm đắm trong những dòng nhạc ru ngủ ủ ê thì nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lại đi tiên phong theo một hướng khác, con đường khác bằng những bài ca khai phá. Lúc đó có đứng trước một Nguyễn Đức Quang ôm đàn hát mới thấy tất cả nỗi đam mê của người nghệ sĩ này. Anh vốn là một người chừng mực và điềm đạm nhưng trở nên linh động, hoạt bát mỗi khi đề cập đến những đề tài tuổi trẻ, xã hội, đất nước và thân phận con người.

Nổi tiếng với những sáng tác ngợi ca quê hương, kêu gọi tuổi trẻ dấn thân và khuyến khích lòng yêu nước, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là linh hồn của  Ban Trầm Ca được sáng lập năm 1965 tại Đà Lạt. Ngoài Nguyễn Đức Quang còn có các anh Đinh Gia Lập, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Quốc Văn, Hoàng Kim Châu, Trần Trọng Thảo và chị Đỗ Phương Oanh. Ban Trầm Ca chuyên sinh hoạt trong tinh thần thanh niên, hướng đạo với các loại nhạc cộng đồng trong sáng, hùng mạnh, tràn trề tình yêu quê hương và niềm hy vọng nhằm khích lệ lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ tham gia những công tác lành mạnh, hữu ích, phụng sự xã hội, đất nước  và dân tộc.

Sau những lần lưu diễn khắp mọi miền đất nước, Ban Trầm Ca quyết định thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam, đặt trụ sở tại 114 Sương Nguyệt Ánh Sài Gòn. Chủ tịch là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ, Trưởng Xưởng Du Ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành.

Thời kỳ này, Phong Trào Du Ca qui tụ hàng ngàn đoàn viên sinh hoạt thành Nhóm, Toán trên khắp  miền đất nước khởi từ miền Trung đến miền đồng bằng sông Cửu Long như những Toán Du Ca Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Đà Lạt, Tây Ninh, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang v.v… Đi đâu, ở đâu người ta cũng nghe nói đến Phong Trào Du Ca Việt Nam của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.

 (Xin được nói thêm ở đây là có lần Ban Trầm Ca trình diễn tại trụ sở CPS với đông đảo đồng bào, nhất là giới trẻ tham dự,  những bài du ca thắp lửa, hùng mạnh và vạm vỡ đã được tán thưởng bằng những tràng vỗ tay trong suốt buổi trình diễn. Trong dịp này Ban Trầm Ca đã cho trình làng một tập nhạc Trầm Ca, đặc biệt trang ruột, vẽ một cội cây đầy sức sống vươn lên, tỏa ra nhiều nhánh mang ý nghĩa nói về sự vươn lên, lan rộng của Phong Trào Du Ca Việt Nam, như Nguyễn Đức Quang cho biết).

Nhưng rồi cuộc nội chiến ngày càng lan rộng trên một đất nước lầm than, chia cắt. Theo chân nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang đã trở thành quân nhân QLVNCH, tôi cũng vào quân trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ngừng sinh hoạt trong một thời gian dài, sau ngày tốt nghiệp ra trường tôi mới có dịp trở lại với Phong Trào Du Ca. Đời lính rầy đây mai đó, đi tới đâu nghe tiếng hát của đoàn viên Du Ca tôi đều tìm đến tham gia sinh hoạt. Hồi đóng quân ở Ban Mê Thuột mỗi cuối tuần rãnh rỗi tôi đều đến trụ sở Du Ca Lòng Mẹ ca hát hoặc theo chân đoàn trưởng Nguyễn Quyết Thắng và đoàn viên đi tác động ở các thôn xóm, làng mạc xa xăm. Sau  đổi về Nha Trang tôi cũng có dịp sinh hoạt với đoàn Du Ca Thùy Dương do anh Châu Đình Quang làm trưởng đoàn. Suốt 5 năm ở lính, tôi không có cơ hội trở lại Sài Gòn nên không gặp lại nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lần nào.

Rồi nước mất nhà tan, tôi bị bắt đi tù cải tạo đến cuối năm 1978 mới trốn thoát về Sài Gòn sống như phường trôi sông lạc chợ. Nhiều lần tôi lặng lẽ đi qua trụ sở Du Ca trên đường Sương Nguyệt Ánh mà nhớ những ngày xưa ca hát. Lúc đó tôi không biết con chim đầu đàn Nguyễn Đức Quang ở đâu, sống chết ra sao, có thể cũng đi tù như tôi hay đã lưu vong nơi xứ người. Vào thời kỳ này, hầu như người ta sợ hãi mỗi khi gặp nhau, dù là tình cờ; người sợ người, cúi mặt xa nhau, nhà thơ Kim Tuấn có lần đã nói như thế. Cuối năm 1979 tôi vưọt biên đến được bến bờ tự do. Và gặp lại bạn tôi, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.

Nhìn lại một quảng thời gian 37 năm ròng rã, khởi từ năm 1966 đến mùa hè 2003 Nguyễn Đức Quang và tôi mới gặp lại nhau lần thứ nhất nơi đất khách quê người. Hóa ra con đường của những người du ca đến với nhau, ngoài những con đường đất, những còn đường biển, còn đến với nhau bằng… những khúc hát du ca. Thế là say sưa anh hát, tôi hát, chúng tôi và cây đàn cùng hát, hào hứng hát, mê man hát, "thèm" hát những bản du ca thắp lửa ngày xưa.  

Nhưng mà cuộc đời có rất nhiều khoảng cách, có lúc tưởng gần mà thật xa xăm diệu vợi. Cái ngày Nguyễn Đức Quang và tôi mừng rỡ gặp lại nhau, cơn mừng chưa kịp lắng xuống đã vội vã chia tay. Ngày 3 tháng 9, 2006 tại Toronto, Nguyễn Đức Quang và tôi cùng tất cả đồng bào trong hội trường cùng hát những bài hát cộng đồng của anh mà không ai biết đó là buổi sinh hoạt du ca, cũng là lần chia tay cuối cùng giữa hai anh em chúng tôi.

4 giờ sáng ngày 27-03-2011, lúc thành phố Nam California còn ngái ngủ, Nguyễn Đức Quang đã bước ra khỏi cuộc đời này. Anh ngậm ngùi bỏ chúng tôi ở lại, bỏ những bài du ca của anh ở lại. Nhưng tôi vui và tôi biết tất cả chúng ta đều vui, là mừng cho anh được gặp lại chị Minh Thông, người vợ thân yêu của anh, đã đi trước anh gần hai năm trước, đang mở rộng vòng tay đón anh ở bên kia cuộc đời.

PHAN NI TẤN

04/04/2011

 

 




Quốc Nam, nửa thế kỷ cầm bút liên tục.

Quốc Nam, nửa thế kỷ cầm bút liên tục.

* Kẻ sống sót sau 2 lần bị thương trận và 2 lần bị ám sát trong cuộc chiến VN.

 

Có thể tôi là một trong những người Việt gặp nhiều may mắn nhất nhì trên hành tinh này. Tôi mưu sinh được bằng một nghề yêu thích (cầm bút) liên tục nửa thế kỷ (1961-2011), kể cả 2 thời điểm khó khăn nhất: Cầm súng gìn giữ đất nước tự do (1965-1971), và biến cố 30 tháng tư đen. Trong thời gian là một Sĩ Quan Hiện Dịch trong QLVNCH tôi vẫn viết văn được trả nhuận bút cho một vài tờ báo hoặc tạp chí. Ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi được chuyến tàu định mệnh Trường Xuân đưa tới tị nạn ở Hongkong. Ngay tháng 5 năm đó, tôi đã là Chủ Bút bán tuần san Tre Xanh của trại tị nạn Harcourt Road (Hongkong), với người hợp tác rất nổi tiếng là bác sĩ/tác giả Trần Đại Sỹ hiện ở Paris, Pháp.

Không may mắn sao được khi quyển sách thứ 13 tức tập thơ thứ nhất của tôi nhan đề “Tình Ca Lính Alpha Đỏ” đã tìm lại được sau hơn 4 thập niên mất tích. Khi “Người Tình Alpha Đỏ” của tôi vẫn “dấu trong tim bóng một người” dành cho tôi hơn 45 năm trời (1966-2011).

Trong 19 quyển sách đã xuất bản của tôi, tập thơ  “Quê Hương Nước Mắt” may mắn được độc giả ủng hộ bất ngờ, ấn hành lần đầu năm 1987 và tái bản 4 lần nữa (mỗi lần 1 ngàn ấn bản).

Cuối năm 2009, tôi tình cờ tìm lại được con gái của tôi đã thất lạc suốt 41 năm qua (1968-2009). Tên cháu là Nguyễn Xuân Tuyết Hương.

Tôi là người Việt đầu tiên được 10 Tổ Chức VN uy tín ở hải ngoại tuyên dương trước cộng đồng là “Chiến Sĩ Văn Hóa Việt Nam”.

[Tiến sĩ/ bình luận gia Phạm Lễ trong ngày 30 tháng tư đen năm 2008 đã định nghĩa rằng: Nếu danh xưng “CHIẾN SĨ VĂN HÓA VIỆT NAM” để gọi một người Việt Nam chỉ biết cầm súng và cầm bút mưu sinh trong quãng đời 47 năm, thì nhà thơ nhà báo Quốc-Nam quả đúng là mẫu người mà chúng ta thương mến gọi tên ông một cách đúng nghĩa như vậy].

Tôi đã được vinh danh 2 lần cùng trong một năm 2009: Ngày 16/5 vinh danh “Tác Giả 30 năm Thung Lũng Hoa Vàng” tại San Jose CA & ngày 31/10 vinh danh “50 năm thi ca Quốc-Nam” tại Houston TX.

Cũng trong năm 2009, tôi bỗng trở thành Chủ Nhân Global SRBS-HD Radio (một đài Việt Ngữ đầu tiên trên thế giới phát thanh suốt ngày đêm qua làn sóng hiện đại HD-FM Digital), với website: www.saigonhdradio.com. Tại trụ sở Đài này, đồng bào đã gởi tặng 50 ngàn (50000) bóng đèn nhỏ, để thắp sáng rực khuôn viên Đài trong buổi lễ “Tạ Ơn Trời & Cuộc Đời” nhân Thanksgiving’s Day năm 2009.

Ngoài ra, tôi đã đóng góp cho cộng đồng VN 3 mỹ danh: Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose, CA 1979), Cao Nguyên Tình Xanh (Seattle, WA 1988) & Hồng Hoa Phố (Portland, OR 2006)

Trước đó, vào đầu đệ tam thiên niên kỷ, tôi đại diện Đông-Phương Foundation đứng ra tổ chức thành công “Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa Việt Nam Mừng Thế Kỷ XXI” tại Tacoma Dome (cầu trường mái bằng gỗ lớn nhất địa cầu) ngày 27 tháng 5 năm 2000, với Pho Tượng Vàng cao 17 feet quay tròn trên sân khấu lớn.

Theo dõi sự kiện văn hóa này, cố tác giả Duy Năng (cựu SVSQ Khóa 14 Dalat) đã kinh ngạc viết lên giấy ngày 5/6/2000 rằng: “10 năm ở Mỹ, có lẽ chưa lần nào tôi biết được một đại hội văn hóa lớn như thế và đã thành công lớn. Tôi tưởng trong đời người, chỉ 1 lần làm vậy là đã thành danh”.

Tại Việt Nam, trước năm 1975 tôi may mắn là kẻ sống sót sau 2 lần bị thương nặng ngoài mặt trận, và 2 lần bị ám sát vì đấu tranh bênh vực những đồng bào bị áp bức.

Tôi còn được Ơn Trên ban cho 3 nghề chuyên nghiệp:

1) Cầm bút mưu sinh liên tục suốt 50 năm qua (không một ngày nào đứt quãng, kể cả biến cố tháng tư oan nghiệt năm 1975).

2) Cầm súng chuyên nghiệp. Tôi đã trực tiếp góp máu xương bảo vệ đất nước, bởi tôi là Sĩ Quan Hiện Dịch xuất thân Khóa 22 Trường Võ Bị Quốc Gia VN (Dalat).

3) Cầm “micro” chuyên nghiệp, bởi tôi hành nghề phát thanh 18 năm, và đã đứng trên sân khấu hơn 300 chương trình nhạc hội hoặc thơ nhạc lớn nhỏ suốt 36 năm qua.

***

Tháng 9 là tháng sinh nhật của tôi. Tôi chào đời năm 1944 tại Làng Thủy Nhai, quận Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Bình Luận Gia Phạm Trần (Voice Of America) là người cùng làng xã với tôi. Tại hội trường Đại Học Luật Khoa George Mason (Virginia) ngày 7/6/2003, ông Phạm Trần đã nói trước cử tọa rằng: Quê chúng tôi là một làng kháng chiến chống Cộng nổi tiếng trước năm 1954, giữa khu vực đầy dẫy quân thù, gần làng Hành Thiện của tên đồ tể VC Trường Chinh Đặng Xuân Khu.

Ghi dấu ngày sinh nhật thứ 67, tôi viết bài tạp ghi này gởi tới quý đồng nghiệp, thân hữu và đồng bào khắp nơi:

Ngược dòng dĩ vãng, tôi tình cờ vào nghề cầm bút mưu sinh từ năm 1961, nhờ ông Giám Đốc nhà xuất bản Thành Phương gặp tôi ở quán café Thăng Long (gần Ngã Ba Ông Tạ, đô thành Sài-Gòn) yêu cầu viết truyện thiếu nhi cho ông. Năm 1964, ông Thành Phương giới thiệu tôi với văn thi sĩ Nguyễn Thạch Kiên (Chủ Nhiệm tuần san giáo dục Tinh Hoa), và tôi trở thành người Thư Ký Toà Soạn Tuần Báo có lẽ trẻ tuổi nhất của làng báo Việt Nam vào thời điểm đó (hơn 19 tuổi). Trong khoảng thời gian từ năm 1961 tới 1965, tôi đã viết cho Nhà xuất bản Thành Phương 12 quyển truyện thiếu nhi.

Tháng 12/1965, tôi giã từ đời làm báo và sinh viên Đại Học để lên Cao Nguyên Lâm-Viên, nhập học Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Dalat, khóa 22. Ngay từ 8 tuần lễ sơ khởi, trong trái tim tôi đã say mê màu Alpha Đỏ rực rỡ trời mây. Tôi đã dùng bút chì nghệch ngoạc 4 câu thơ như sau:

“Ta bỏ lại đời sinh viên mộng mị,

Nhìn đỉnh Lâm Viên nghiêng bóng quân trường.

Alpha ơi! Màu Đỏ đẹp vô cùng,

Chiều doanh trại nhớ về em bất tận” (12/1965)

Thi sĩ Đông Anh tức cựu Trung Tá Nguyễn Đình Tạo (dạo đó là Cán Bộ Đại Đội Trưởng ĐĐ-H Liên Đoàn SVSQ Khóa 22) nhận xét rằng: “Phải có nỗi đam mê ghê gớm, người SV Quốc Nam mới có những câu thơ đầu đời Võ Bị như vậy”.

Sau 4 câu thơ nêu trên, tôi tiếp tục lén lút làm thơ rồi bỏ vào ba-lô, trong các buổi tác xạ, thực tập chiến thuật bên hồ Than Thở hoặc trong rừng núi Lâm-Viên.

Tháng 12/1967, tôi mang lon Thiếu Úy trở lại Sài-Gòn. Trong thời gian ở đơn vị tác chiến, tôi sắp xếp lại các bài thơ sáng tác trong thời gian 2 năm thụ huấn tại quân trường Dalat, để được nhà xuất bản Hương Việt xuất bản tập thơ thứ nhất của mình. Đó là thi tập “Tình Ca Lính Alpha Đỏ” ấn hành năm 1968. 

Tập thơ này vừa xuất bản, tôi được thi sĩ thời danh Kiên Giang Hà Huy Hà (tác giả bài thơ bất tử “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”) khen ngợi và tận tình giới thiệu trong chương trình thi ca Mây Tần của đài phát thanh Saigon. Sau đó, tập thơ còn được thi nhạc sĩ Thục Vũ giới thiệu trong chương trình Thơ Nhạc Giao Duyên trên đài Saigon. Rồi một số văn nghệ sĩ giúp tôi tổ chức nhiều “Đêm Alpha Đỏ” tại một số quán café văn nghệ như Quán Thơ của gia đình Nam-Lộc, Quán Ly Tao của danh ca Ngọc Long v.v… Những văn nghệ sĩ thân hữu của tôi đã chứng kiến sự kiện này, như: Nam Lộc, Trường Kỳ, Ngọc Long, Quốc Tuấn, Đoàn Chính, Triều Hoa Đại, Phạm Quang Ngọc v.v… Báo chí Saigon năm 1968 cũng đã đề cập khá nhiều tới tập thơ “Tình Ca Lính Alpha Đỏ”. Có lẽ nhờ vậy, nhóm chữ “Alpha Đỏ” kể từ đó được quần chúng biết tới nhiều hơn (đặc biệt là quý nữ SVHS khắp miền đất nước Nam VN). Từ ngày lưu vong nơi hải ngoại, tôi nhận được rất nhiều lời yêu cầu của một số Cựu SVSQ Dalat và quý bà/cô yêu cầu tôi tái bản thi tập “Tình Ca Lính Alpha Đỏ”. Đặc biệt là một nữ sinh Trung Học Nha Trang hiện ở Úc Châu bày tỏ lòng yêu mến những dòng thơ Alpha Đỏ nhất trong đời chị, và tuy chưa từng gặp mặt Tác Giả nhưng chị đã ủng hộ tôi hơn một ngàn Mỹ-kim để xuất bản sách. Cũng ở Úc, hiền thê của một cựu SVSQ Võ Bị Khóa 29 cũng mến mộ dòng thơ Alpha Đỏ từ dạo còn là nữ sinh lớp đệ tam Trung Học Trưng Vương (nay chị là Bác Sĩ Nha Khoa)…

Thực ra, tôi yêu thơ từ thuở nhỏ, sáng tác được bài thơ đầu tiên năm 1956 tựa đề “Quê Em” và đăng trên bích báo trên tường của trung học Hồ Ngọc Cẩn. Tuy nhiên, vì làm thơ đăng báo không được trả nhuận bút, nên tôi viết văn để kiếm tiền từ năm 1961. Tôi làm thơ không nhiều, hơn 5 thập niên qua tôi chỉ sáng tác được khoảng 500 bài; nhưng bị tản lạc tứ tung. Hiện nay tôi chỉ còn lưu lại được hơn 300 bài thơ mà thôi, trong số này có khoảng 30 bài đã được phổ nhạc bởi một số nhạc sĩ tên tuổi. 

***

Với thi tập Tình Ca Lính Alpha Đỏ tìm lại được một ấn bản đã chuyền tay qua 2 cựu SVSQ Võ Bị từ cuối năm 1969. Ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi hốt hoảng nhảy xuống chuyến tàu định mệnh Trường Xuân vào giờ thứ 25 của Chế Độ VNCH, bỏ lại tất cả sách vở và tài liệu quý giá của mình. Chỉ mang theo được 2 tập thơ Tình Ca Lính Alpha Đỏ & Người Vào Cuộc Chiến, cùng một vài tấm hình quý. Trong số này, tôi có 1 tấm hình chụp dịp ủy lạo các thương bệnh binh tại bệnh xá Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến ở Thủ Đức năm 1972 mà tôi là Trưởng Phái Đoàn. Trong hình là một số nữ sinh Saigòn, 3 Đại Diện Phế Binh Quân Khu 3, Bác Sĩ Thiếu Tá Trương Minh Cường (Y Sĩ Trưởng bệnh xá Lê Hữu Sanh), cùng 2 bà quả phụ cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí & cố Chuẩn Tướng Ngô Hán Đồng (Pháo Binh). Tuy nhiên, khi dọn nhà ở Mỹ tôi bị mất hết 2 tập thơ và tấm hình ủy lạo tại bệnh xá TQLC LHS.

Trong thời gian hơn 3 thập niên lưu vong ở hải ngoại, tôi đã nhắn tin trên mọi phương tiện truyền thông và internet để tìm bản sao (copy) của 2 thi tập Tình Ca Lính Alpha Đỏ và Người Vào Cuộc Chiến, và xin hậu tạ thật cao. Nhưng các nhắn tin đều vô vọng.

Ngày 16 tháng 5/2009, tôi đến San Jose để được vinh danh là Tác Giả “30 năm Thung Lũng Hoa Vàng”, thì được gặp cựu SVSQ Vũ Đình Vịnh (Khóa 23 Võ Bị, mà tôi là Cán Bộ Tân Khóa Sinh) cho biết vợ chồng anh đã mang tập thơ TCLAĐ qua Mỹ. Nhưng lại bị thất lạc đâu đó trong nhà. Bốn tháng sau, tôi được Niên Đệ Vịnh cho biết nhân dịp dọn nhà mới, anh đã tìm lại được tập TCLAĐ, và nói sẽ gởi ngay lên cho tôi bằng đường Bưu Điện. Tôi mừng rỡ quá sức, và nói với anh không nên gởi tập sách đó qua Bưu Điện, lỡ thất lạc 1 lần nữa thì khổ đau lắm lắm. Tôi sẽ “bay” xuống San Jose để nhận nó. Dù mua vé máy bay gấp khá đắt tiền, tôi cũng đã đến San Jose bằng chuyến bay Alaska Airlines ngày 17 tháng 10 năm 2009.

Đúng 12:15G trưa Chủ Nhật ngày 18/10, tôi đã nhận lại được tập thơ “Tình Ca Lính Alpha Đỏ” đã bị mối mọt đục khoét, và sách được đóng lại bìa khác (bìa nguyên thủy đã bị rách mất). Qua câu chuyện trao đổi giữa vợ chồng Vũ Đình Vịnh và tôi. Được biết tập thơ này tôi đã tặng cho cựu SVSQ Khóa 23 Tô Văn Hưng tháng 12 năm 1969, khi tôi trong vai trò Nhà Báo lên Trường Mẹ để tham dự Lễ Mãn Khóa 22B. Rồi Hưng tặng tập TCLAĐ cho Vịnh, vì biết anh rất yêu thơ, nhất là dòng thơ Alpha Đỏ. Sau ngày Miền Nam VN thất thủ vào tay CSVN, anh Vũ Đình Vịnh bị bọn VC bỏ tù 6 năm rưỡi. Khi qua Mỹ theo diện H.O., vợ chồng anh đã mang theo tập thơ TCLAĐ trong gói hành trang sang Mỹ tị nạn chính trị. Như vậy là thi tập TCLAĐ đã qua một hành trình dài 40 năm. Từ năm 1969 tôi tặng sách cho Niên Đệ Tô Văn Hưng, qua tay Niên Đệ Vũ Đình Vịnh. Sau tháng tư 1975, gia đình Vịnh vẫn lưu giữ thi tập TCLAĐ trong nhà, khi mà hầu hết các gia đình Miền Nam VN khác đã hủy bỏ tất cả những sách báo & tài liệu có dính dáng tới chế độ VNCH. Anh Vịnh lại đi tù VC (cải tạo) khoảng 78 tháng. Và cuối cùng thi tập TCLAĐ đã trở về với Tác Giả QN sau 4 thập niên lưu lạc. Tôi cho đây là sự may mắn và kỳ diệu chưa từng thấy, như sự kiện khó xảy ra trên cuộc đời quá nhiều biến động này, nhất là nó diễn ra giữa cuộc chiến Quốc-Cộng khốc liệt 7 thập niên qua.

Tối hôm đó, tôi mời vợ chồng Vũ Đình Vịnh dùng bữa cơm gia đình. Tôi cố gắng mời một nhân vật họ Vũ rất nổi tiếng để cùng tôi đón tiếp anh chị Vịnh. Đó là nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm (cựu Sĩ Quan Cao Cấp xuất thân Khóa 1 Trừ Bị Nam Định, tác giả nhạc phẩm bất hủ “Gọi Người Yêu Dấu” ).

Trong câu chuyện trao đổi, tôi được biết Vũ Đình Vịnh là một tay kèn “clarinet” nổi tiếng của miền Bắc California. Anh từng là Trưởng Ban Kèn Đồng của giáo xứ Saint Patrick (San Jose, CA) với khoảng 40 tay kèn đủ loại. Tôi phải cám ơn vợ chồng Vũ Đình Vịnh đã mang đến cho tôi một niềm vui to lớn bất ngờ: Tình Ca Lính Alpha Đỏ.

Nhờ vậy, tôi đã quyết định tái bản thi tập TCLAĐ vào năm 2011, sau lần thứ nhất xuất bản 43 năm về trước.

***

Tôi bước chân đến Hoa Kỳ vào đúng tháng 9 năm 1975. Đầu tiên là thành phố Springfield, tiểu bang Missouri. Bắt được liên lạc với người bạn thân là Họa sĩ kiêm Điêu khắc gia Phạm Thông đang định cư ở Kansas City MO, khoảng giữa năm 1976, tôi di chuyển về nơi này. Thế là Phạm Thông và tôi bắt tay vào việc làm Tạp chí Hoài Hương phát hành khắp hải ngoại, sau một thời gian ngắn đã đổi tên là báo Đông Phương. Đồng thời chúng tôi sáng lập Cơ Sở Văn Hóa Đông-Phương từ tháng 8 năm 1976. Trong mấy năm đầu tị nạn, tôi và họa sĩ Phạm Thông (người tạc pho tượng Đức Trần Hưng Đạo chỉ tay xuống dòng sông Saigon, hiện vẫn sừng sững tại Bến Bạch Đằng) đều có nghề mọn để kiếm tiền được ngay. Bạn Phạm Thông vẽ chân dung cho dân bản xứ tại Crown Center (một trung tâm thương mại lớn tại Kansas City), nên tiền bạc kiếm được hàng ngày rất thoải mái. Tôi thì  liên lạc với Ông Chủ Hãng Phim Mỹ-Vân để mướn một số Phim VN, trình chiếu trên màn ảnh của Rạp Chiếu Bóng Mỹ, ở các thành phố thuộc 4 tiểu bang Missouri, Kansas, Nebraska & Iowa. Khoảng đầu năm 1977, hơn 1 ngàn đồng bào ngồi đầy King Cinéma ở khu Downtown Kansas City để thưởng thức phim “5 Vua Hề Về Làng”, tôi đưa Việt Dzũng lên hát lần đầu tiên trên sân khấu của Rạp này, trước khi trình chiếu phim. Đồng bào thích thú vỗ tay và cười ầm suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, như muốn vỡ rạp.

Năm 1979, nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc và nhiếp ảnh gia/nhà thơ Uyên Ngữ Võ Thạnh Văn đã tổ chức cho nguyệt san Đông-Phương giới thiệu tại thành phố San Jose (miền Bắc California). Dạo đó, vùng này chưa hề có tờ báo định kỳ nào xuất bản. Dịp này, tờ báo chúng tôi thêm được ngót 600 độc giả dài hạn. Khi trở lại Seattle, tôi viết bản tin về buổi giới thiệu báo Đông Phương thành công rực rỡ tại Thung Lũng Hoa Vàng San Jose. Năm 1993, gia đình tôi tái định cư ở San Jose, và tôi đăng trên báo Đông Phương bài thơ “Mùa Xuân trên Thung Lũng Hoa Vàng” số đầu năm 1994. Bài thơ này được nhiều đồng bào yêu thích, nên mỹ danh Thung Lũng Hoa Vàng được phổ biến rộng rãi khắp nơi, và quen thuộc với dư luận trong và ngoài nước VN. Nhưng ít người biết tôi là Tác Giả của mỹ danh này.

Mãi đến ngày 16 tháng  5 năm 2009, Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và một số Hội Đoàn tổ chức buổi thơ nhạc “30 năm Thung Lũng Hoa Vàng” tại San Jose vinh danh Quốc Nam là Tác Giả, thì người ta mới biết rõ tôi là người đã sáng tác mỹ danh TLHV.

Trong thập niên 1980, Hòa Thượng/thi sĩ Tuệ Đàm Tử (Pháp Duyên Tịnh Xá) và tôi đã cùng một số chủ báo tại Bắc California khởi xướng Chiến Dịch Tình Thương Dưới Ánh Mặt Trời quyên góp tài chánh cứu giúp đồng bào vượt biển. Chỉ trong 2 tháng đầu của Chiến Dịch, chúng tôi đã thu được hơn 100 ngàn Mỹ-Kim. Nhờ vậy, San Jose được gọi là “Thủ Phủ Tình Thương” của Người Việt Hải Ngoại.

Năm 1987 ngày 2 tháng 7, tập thơ thứ ba “Quê Hương Nước Mắt” tức quyển sách thứ 17 của tôi được ra mắt tại ca vũ trường Maxim’s (San Jose). Người tham dự đứng ngồi chật cứng nhà hàng/vũ trường 450 ghế ngồi. Trong số này có 2 nhân vật uy tín cộng đồng là cựu Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm (Chủ Tịch sáng lập Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia VN) và nhạc sĩ lão thành Anh Việt tức cựu Đại Tá Trần Văn Trọng (Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội VNCH). Trong bài phát biểu, cựu Tướng Lãnh họ Bùi sau khi khen ngợi nỗ lực đóng góp cho nền Văn Hóa VN của Quốc Nam, ông đã nhấn mạnh rằng: “Tác giả là một cựu sĩ quan hiện dịch QLVNCH, từng được tuyên dương công trạng 3 lần và bị thương trận 2 lần trong cuộc chiến chống bọn CS Bắc Việt. Tập thể Võ Bị đã hãnh diện có một chiến sĩ vẫn tiếp tục cầm bút thề trở về giải phóng quê hương như Quốc Nam”. Trong ngày này và sau đó khoảng 5 tuần lễ, 1 ngàn quyển thơ “Quê Hương Nước Mắt” được bán hết sạch. Lý do là QHNM vừa phát hành đã được quý vị lãnh đạo Phật Giáo & Công Giáo mua mỗi nơi 10 quyển. Riêng một vị Hòa Thượng ở Nam Cali đã bán giúp 100 quyển. Tháng 8 năm 1987, nhà xuất bản in lần thứ hai, rồi trong vòng 16 năm, tập thơ QHNM in đi in lại tới 5 lần.

Cũng trong năm 1987, sau khi được sự cố vấn tích cực của nhị vị nhạc sĩ lão thành Phạm Duy và Anh Việt, tôi đã sáng lập Giải Quốc  Tế Tượng Vàng Việt Nam. Đại Hội Tuyển Lựa Ca Sĩ Tượng Vàng VN kỳ đầu tiên đã thành công vượt bực. Trong vòng 2 thập niên qua, Giải này đã thực hiện 14 Đại Hội đều thành công tốt đẹp cùng gần 100 buổi tuyển lựa ca sĩ sơ khảo/bán kết ở một số địa phương thuộc Canada & một số tiểu bang Hoa Kỳ. Điều đáng nói là không một thí sinh nào khiếu nại mọi công bố kết quả các buổi thi tuyển. Bởi Ban Sáng Lập Giải là một cơ sở văn hóa bất vụ lợi, không phải là Đài Truyền Hình, Ca Vũ Trường, Trung Tâm Nhạc v.v… nên không hề có sự thiên vị khi công bố kết quả do Ban Giám Khảo quyết định. Quý Vị Giám Khảo hầu hết là những ca nhạc sĩ / văn nghệ sĩ tên tuổi, hoặc nhà tổng phát hành băng nhạc uy tín. Ban Giám Khảo hùng hậu nhất là Đại Hội năm 1990, gồm: quý nhạc sĩ Anh Việt, Anh Bằng, Vũ Đức Nghiêm, Lam Phương, Đức Huy, nhạc sư Anh Mỹ, thi sĩ/đạo diễn điện ảnh Hoàng Anh Tuấn, và nữ danh ca/bác sĩ Thu Hà. Đại Hội năm 2000 được tổ chức khá vĩ đại, nằm trong Chương Trình kéo dài 10 tiếng đồng hồ “Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa VN Mừng Thế Kỷ XXI” tại Tacoma Dome (the World’s Largest Wood Dome). Tính cho tới năm 2006, tổng số tiếng hát trẻ khắp năm châu ghi danh dự thi là 7153 thí sinh. Khá nhiều thi sinh đoạt Giải Tượng Vàng đã phát hành CDs trên thị trường. Trong số này có 2 nữ ca sĩ từng cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga Paris là Hương Giang & Angela Trâm Anh.

Giải Quốc Tế Tượng Vàng VN (The VN’s International Golden Awards) đã khởi xướng những chương trình tuyển lựa ca sĩ thật công bình suốt 2 thập niên. Vai trò của chúng tôi về “tuyển lựa ca sĩ” đã hoàn tất tốt đẹp. Ngày nay, nhiều Tổ Chức đã và đang thực hiện các chương trình tuyển lựa tài năng mới, nên Đông-Phương Foundation do tôi điều hành đang chuyển hướng qua các giải thưởng giá trị khác, như: Thi ca, văn chương, điện ảnh, tân & cổ nhạc, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh v.v…

Ngày 5 tháng 5 năm 1991, Đông-Phương Foundation và Hội Cao Niên Đông Dương Bắc Cali đã tổ chức “Ngày Thi Ca Việt Nam” đầu tiên hải ngoại, tại Hội trường Call Me Dragon (San Jose). Khoảng 500 quan khách và đồng bào đã mua vé dự chương trình thơ nhạc khá đặc sắc do tôi sắp xếp. Các nghệ sĩ trình diễn đều là người địa phương, chỉ có 2 nghệ sĩ nổi tiếng góp mặt là danh ca Hùng Cường và giọng ngâm vàng di tản Quỳnh Như. Hiện diện trong ngày này có 4 thi sĩ, gồm: Nguyên Sa Trần Bích Lan, Hà Thượng Nhân, Hoàng Anh Tuấn và Quốc Nam tôi. Chính tác giả “Áo Lụa Hà Đông” Nguyên Sa ngạc nhiên về sự thành công của chương trình thơ nhạc như vậy, khiến ông đã lên sân khấu gọi San Jose là “Thủ Đô Văn Hóa” của Người Việt Hải Ngoại.

Ngày 21 tháng 8 năm 1999, chúng tôi đã thực hiện một khu vườn nhỏ tại Seattle gọi là “Công Viên Tượng Vàng VN” để làm Căn Cứ Địa của Giải Quốc Tế Tượng Vàng. Tám vị lãnh đạo các Tôn Giáo (Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài) đã đến cắt băng khánh thành, và lễ tế cáo Trời Đất diễn ra rất long trọng.

Năm đầu của đệ tam thiên niên kỷ, Đông-Phương Foundation & SRBS Radio đã tổ chức một chương trình sinh hoạt quy mô nhằm chào mừng Thế Kỷ Mới, vào cuối tháng 5 năm 2000 tại Tacoma Dome. Tôi là Trưởng Ban Tổ Chức “Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa Việt Nam Mừng Thế Kỷ XXI”. Chúng tôi mất gần 3 năm trời để thực hiện dự án lớn lao này. Tacoma Dome là cầu trường mà Nhóm chúng tôi ao ước một show VN được tổ chức trong đó một lần trong đời. Cầu trường này tọa lạc cạnh xa lộ liên bang số 5 (I-5 Freeway), rộng 6.1 mẫu tây. Diện tích thực dụng trong cầu trường là 130 ngàn bộ vuông. Đường kính dài 530 feet, cao 152 feet (bằng chiều cao của một tòa nhà 15 tầng). Mái hình cong của Tacoma được kiến tạo với 1.6 triệu mét khối các loại gỗ quý. Hệ thống âm thanh trong cầu trường này được thiết kế qua dạng Reverbration of 2.5 seconds, nên âm thanh dội lại rất nhanh và ấm. Chúng tôi đặt cọc để giữ chỗ cho Show này trước ngày mở hội gần 3 năm. Quốc Tế Đại Hội diễn ra 10 tiếng đồng hồ tại Exhibition Hall 3500 ghế ngồi. Khách tham dự khi vào hội trường đã thích thú ngay khi nhìn thấy Pho Tượng Vàng cao 17 feet quay tròn trên sân khấu lớn. Chương Trình có 3 phần: 1. Đại Nhạc Hội Ca Sĩ Tượng Vàng năm thứ 13; 2. Triển lãm tranh nghệ thuật; 3. Dạ Vũ Tình Hè. Tổng số nghệ sĩ cũ và mới xuất hiện trình diễn trên sân khấu là 49 khuôn mặt,

Trong dịp đầu thế kỷ 21, nhân loại lo ngại về biến cố Y2K có thể làm đảo lộn mọi trật tự đời sống và xã hội. Tập thể người Việt trong và ngoài nước Việt Nam có lẽ cũng lo sợ như vậy, nên không thấy một cơ sở hoặc nhà cầm quyền VN nào tổ chức một đại-lễ-hội chào đón thế kỷ mới trong năm 2000. Đông-Phương Foundation & SRBS Radio đã gồng mình tổ chức Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa VN Mừng Thế Kỷ XXI trong lòng một cầu trường lừng danh thế giới: Tacoma Dome. Cơ Sở chúng tôi đã xử dụng 7 máy video của công ty NVideo quay bộ phim tài liệu về Quốc Tế Đại Hội độc nhất vô nhị nêu trên, để lưu lại cho mai sau.

Trước đó, tối 26 tháng 5 năm 2000, đông đảo quan khách Việt-Mỹ đã tham dự Dạ Tiệc Người Việt Thế Kỷ XXI, tại Hongkong Seafood Restaurant. Họ đến Seattle từ khắp phương trời hải ngoại (Âu Châu, Úc Châu, Canada và một số tiểu bang Hoa Kỳ). Trong số này có sự hiện diện của nhiều nhân vật tên tuổi, gồm: Hòa Thượng/Thi Sĩ Tuệ Đàm Tử, nhà báo Duy Sinh (Chủ Tịch Hiệp Hội Truyền Thông Báo Chí Việt Ngữ tại Hoa Kỳ), giáo sư Trần Văn Ân (cựu Dân Biểu VNCH), nhân sĩ Lê Quyền (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Virginia, Maryland & DC), nhà văn Thanh Quang (Đại Diện chương trình Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do); quý nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng (Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội VNCH), Lê Dinh, Nguyễn Đức Quang, Vũ Thành An, Nam Lộc, Nhật Trường Trần Thiện Thanh; nữ danh ca Giao Linh; nữ nghệ sĩ Như Hảo (Chủ Nhân Đài/Tạp Chí Mẹ Việt Nam) v.v…

Trong 2 ngày Quốc Tế Đại Hội, quan khách và đồng bào tham dự khoảng 3 ngàn 500 người. Tổng chi cho Đại Hội này là gần 101 ngàn Mỹ kim, nhưng số thu về chỉ có 75 ngàn MK.

Sau 1/4 thế kỷ liên tục hoạt động, Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương đã thực hiện một chương trình tri ân đồng bào đã hỗ trợ chúng tôi đạt khá nhiều thành quả tốt đẹp, ngay tại Thủ Đô Tị Nạn Little Saigon (Miền Nam California). Đó là “Đêm Ân Tình Việt Nam” tại ca vũ trường Majestic 650 ghế ngồi ngày 26 tháng 10 năm 2001. Ngày này, tôi bắt đầu nhận lãnh vai trò Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Cơ Sở Văn Hóa Đông-Phương, thay thế thi sĩ Lam Nguyên. Đa số nhân vật cộng đồng và văn hóa tên tuổi tại Nam & Bắc Cali đã hiện diện. Đồng bào tham dự cũng ngồi/đứng chật cứng ca vũ trường. Đặc biệt 2 Tổ Chức Truyền Thông quan trọng nhất hải ngoại đều có mặt: Hội Ký Giả VN Hải Ngọai và Hiệp Hội Truyền Thông Báo Chí Việt Ngữ tại Hoa Kỳ. Mọi người đã vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt bộ video “Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa VN Mừng Thế Kỷ XXI” khi trình chiếu trên màn ảnh lớn một phần bộ phim dài 3 tiếng đồng hồ đó. Dịp này, 2 Tổ Chức uy tín (Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia VN & Hội Ký Giả VN Hải Ngoại) đã tuyên dương trước cộng đồng Quốc Nam tôi là “Chiến Sĩ Văn Hóa Việt Nam”.

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, Saigon Radio chúng tôi được quý đồng hương yêu mến đặc biệt. Họ gọi Đài phát thanh chúng tôi là “Đài Quốc Nam”. Một số tổ chức cộng đồng, tôn giáo & quý thính giả đã tự nguyện đóng góp tài chánh để chúng tôi thực hiện được 3 sự việc khá ngoạn mục sau đây:

1.- Quý Mạnh Thượng Quân tặng Công Viên Tượng Vàng 16 ghế đá, trị giá mỗi ghế từ 200 Mỹ Kim đến 400 MK.

2.- Kỳ Đài Việt-Mỹ với 2 trụ cờ cao 36 feet được khánh thành ngày 25 tháng tư năm 2004, do sự ủng hộ tiền bạc từ quý đồng hương.

3.- Lễ Thanksgiving năm 2009, một số Hội Đoàn và quý đồng hương đã tặng 50 ngàn bóng đèn nhỏ thắp sáng rực trụ sở SRBS Radio.

Thượng tuần tháng 10 năm 2005, sau 10 năm vận động và chuẩn bị, chúng tôi đã tổ chức thành công 3 ngày Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam Toàn Cầu Kỳ I, nhằm tuyên dương giới phụ nữ tài năng Việt Nam Hải Ngoại. Trưởng Ban Sáng Lập & Tổ Chức Đại Hội này là Quốc Nam tôi.

Để nói lên vai trò quan trọng của phụ nữ VN ngày nay, tôi đã cố gắng thực hiện 3 điểm độc đáo trong Đại Hội này là: 1) Nhờ 1 vị Sĩ Quan Cao Cấp QLVNCH gióng lên 3 hồi chuông trên cỗ “Liberty Bell lịch sử” nặng 4500 lbs; 2) Diễn hành Cờ Vàng chào mừng giới Phụ Nữ Tài Năng trên đại lộ South Jackson xuyên qua International District của đô thị Seattle; 3) Một số Đại Diện Cộng Đồng & văn nghê sĩ cùng 18 phụ nữ tài năng đã giăng Cờ VNCH trên công viên của núi Rainier cao nhất Tây Bắc Mỹ Châu (14 ngàn 410 feet). Đồng thời, trong Đại Hội này chính tôi đã đề nghị “trao nhiệm vụ lịch sử cho nữ giới” trong thế kỷ XXI.

Ngày 15 tháng 8 năm 2010 tại Thủ đô Mỹ Quốc, Quốc Nam tôi và nữ văn sĩ Phong Thu (Trưởng Ban Tổ Chức Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN Toàn Cầu kỳ II) đã vinh danh 6 nhân vật nữ đóng góp khá lớn vào nền văn hóa Việt Nam, gồm: Vi Khuê, Như Hảo, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Thu Nga, Kiều Mộng Hà & Nguyễn Lê Mộng Tuyền.

Đầu tháng 10 năm 2006, chúng tôi đã thực hiện ở Thủ Đô Tị Nạn Little Saigon 2 ngày Hội Ngộ Văn Hóa đánh dấu “30 năm hoạt động của Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương”. Đây có thể coi là lần đầu tiên tại hải ngoại diễn ra cuộc hội ngộ giữa giới phụ nữ tài năng và một số ca sĩ trẻ Việt đến từ nhiều nơi trên thế giới. Tối thứ sáu ngày 6 tháng 10 là Quốc Tế Đại Hội Ca Sĩ Tượng Vàng VN năm thứ 19, tại ca vũ trường Majestic, Nam California. Chiều Thứ Bảy ngày 7 tháng 10 là Chương Trình thơ nhạc chủ đề “Áo Dài Quê Hương”, chào mừng quý phụ nữ tài năng đến từ khắp hải ngoại. Hai diễn giả chính là nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (Chủ Tịch Sáng Lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại) và văn sĩ Trường Sơn Lê Xuân Nhị (cây bút từng được xưng tụng là Nhà Văn của Thập Niên 90). Hai MCs giới thiệu toàn bộ chương trình là nữ văn sĩ Thu Nga (Giám Đốc Saigon Dallas Radio AM-890 & SBTN-TV Bắc Texas) và nữ chủ báo Nguyễn Lê Mộng Tuyền (Arizona).

Ngày 7 tháng 10 năm 2007, chúng tôi đã tổ chức Đại Hội Áo Dài Quê Hương tại Aki Kurose’s Auditorium, đô thị Seattle, nhằm vinh danh “Chiếc Áo Dài của Nam & Nữ”. Hội trường đã tràn ngập những tà áo dài của quý Ông và quý Bà/Cô. Phần chính là chương trình thơ nhạc chủ đề do nhà văn nhà báo Sao Biển và nữ nghệ sĩ Như Hảo thực hiện. Nội dung gồm một số nhạc phẩm trữ tình và dòng thơ quê hương của Quốc Nam (diễn ngâm bởi Hoàng Oanh, Hà Phương & Bích Ty), qua những lời giới thiệu óng mượt viết bởi cây bút gạo cội Sao Biển. Điểm nổi bật nhất là khoảng 200 tà áo dài quê hương dàn hàng chật ních sân khấu rộng lớn, để được Ban Tổ Chức vinh danh trước cộng đồng.

Ngày 31 tháng 10 năm 2009, một số Hội Đoàn và văn nghệ sĩ đã tổ chức “50 năm thi ca Quốc Nam” tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston (tiểu bang Texas), nhằm vinh danh nửa thế kỷ làm thơ của tôi. Trưởng Ban Tổ Chức là thi sĩ Cù Hòa Phong (nguyên Chủ Tịch Hội Tây Sơn Bình Định Houston). 4 diễn giả đã lên nói về sự nghiệp thi ca của Quốc Nam tôi. Đó là quý thi sĩ Lan Cao, Vô Tình; quý nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân, Nguyễn Thế Giác (Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Đông Nam Hoa Kỳ). MC giới thiệu chương trình là thi sĩ/võ sư Yên Sơn Trương Nguyên Thuận (Tổng Thư Ký Trung Ương Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại). Dịp này, Đại Diện Hội Phụ Nữ VN Houston đã choàng vòng hoa danh dự quanh cổ tôi.

Tháng 6 năm 2011, giữa lúc dư luận ồn ào vì một kẻ từng lãnh đạo Miền Nam VN đã nhận ông khai sinh Ngày Quân Lực VNCH 19/6. Lập tức tôi cùng một số cựu Sĩ Quan Hiện Dịch Dalat & Trừ Bị Thủ Đức tổ chức Ngày Vinh Danh QLVNCH 18/6 đầu tiên tại hội trường Cổ Lâm Pagoda (ngôi chùa VN đồ sộ nhất tiểu bang Washington). 4 diễn giả đã lên sân khấu vinh danh QLVNCH gồm: Linh Mục Trần Đức Phương (Sĩ Quan Tuyên Úy Công Giáo 3 quân trường hàng đầu Nam VN là Trường Võ Bị Quốc Gia VN, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị & Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp), cựu Thiếu Tá LLĐB Nguyễn Minh Đường (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Washington), cụu Đại Úy Nguyễn Công Ba (Chủ Tịch Hội Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Washington), và Quốc Nam tôi (cựu Trung Úy Chủ Tịch Hội Phế Binh Quân Khu 3). Đông đảo cựu quân nhân QLVNCH đã tham dự Ngày này. Trong khi đó, một nhóm khác tổ chức Ngày Quân Lực VNCH 19/6 ở trường Gatzert (Seattle) lại phạm lầm  lẫn nghiêm trọng khi giăng trước khán đài tấm biểu ngữ lớn ghi rõ “Honoring the RNV Armed Forces” (Sao lại vinh danh QĐ Miền Bắc?!)

***

Tôi cầm bút nuôi thân được suốt 50 năm, nên tôi biết rất rõ thực trạng trong làng văn làng báo Việt Nam trước và sau năm 1975. Nạn phe phái và áo thụng vái nhau diễn ra thường xuyên trong giới này. Tôi quen biết khá nhiều tên tuổi trong giới văn học nghệ thuật, nhưng chưa bao giờ tôi dựa hơi họ hoặc bợ đỡ họ để được “lăng xê” thơ văn của mình. Suốt nửa thế kỷ cầm bút, tôi không có đàn anh hoặc đàn em. Tôi đã tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, chỉ với sự ưu ái của một số đồng nghiệp thân hữu. Trong khi khá nhiều văn nghệ sĩ khác phải dựa vào tên tuổi này, Cơ Sở kia, Tổ Chức nọ, hoặc Báo/Đài Lớn, để kiếm sống và leo lên bậc thang danh lợi. Thế mà có 1 ông cầm bút xuất bản được 1 số tác phẩm và làm anh hề quảng cáo thương mại, giao tiếp được một số tai to mặt bự, thì cứ tưởng mình ghê gớm lắm, bèn viết sách “thập niên nhìn lại” khoe khoang về thành tích quen biết lớn của mình!

Cho đến giờ phút này, tôi ít thấy phê bình gia văn học VN nào công minh trong khi nhận xét về tác phẩm/tác giả đương thời. Phần lớn họ phê bình theo cảm tính. Tôi từng thấy có ông nhà văn được phe phái tung hô lên tận mây xanh, rồi lại bày trò viết tổng luận văn học. Ông này thấy cây bút nào cùng quê nhà với mình thì khen ngợi, trong khi chính ông viết văn thì mấy ai vạch ra những khiếm khuyết của ông! Tệ nạn phe đảng này đã làm hao hụt biết bao nhân tài văn chương của dân tộc ta!!! Đáng tiếc thay!

Thông cảm với nỗi bất công như vậy, tôi luôn luôn tìm cách giúp đỡ những người sáng tác mới (kể cả văn chương lẫn ca nhạc). Khi hỗ trợ các bạn văn nghệ mới, tôi dùng tất cả tấm lòng và mọi phương tiện khả thi để đưa họ lên…

Tại hải ngoại, chúng tôi đã khởi động phong trào “tuyển lựa ca sĩ” đầu tiên và lâu dài nhất, với sự cộng tác của đông đảo ca nhạc sĩ tên tuổi.

Trong lãnh vực văn chương, Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương do tôi điều hành đã xuất bản nhiều tác phẩm mới, và tận tình “lăng xê” một số nhà văn nhà thơ, trong số này 3 cây bút thành danh mau chóng nhất là Trường Sơn Lê Xuân Nhị, Nguyễn Ngọc Ngạn và Vũ Thị Dạ Thảo.

Trước tháng tư năm 1975, tôi cũng từng giúp đỡ một số bạn trẻ vào nghể cầm bút hoặc báo chí. Tôi nhớ lại vào cuối thập niên 1960, một cô bé nhờ tôi hướng dẫn vào nghề phóng viên. Tôi chở cô tới một vài cơ sở để lấy tin. Hồi đó, một vài đồng nghiệp tưởng cô bé là tình nhân của tôi. Nhưng thực ra cô và tôi hoàn toàn không có chút liên hệ tình cảm nào cả. Sau này, tôi rất thương cảm khi nghe tin cô nằm trong thảm kịch Kora với bọn hải tặc trên Biển Đông. Qua Hoa Kỳ, cô và người chồng cũng hành nghề truyền thông, nhưng mang tiếng là kẻ cướp giật một đài phát thanh mà ân nhân đã đặt để anh này làm Giám Đốc. Ngoài ra, có thể do ghen tương, anh chồng lên tiếng phủ nhận việc tôi hướng dẫn cô vợ anh ta vào nghề cầm bút. Nhưng có hề chi, vì họ đã từng phản bội ân nhân mình mà! Ngay như nam ca sĩ A.K. khi chân ướt chân ráo từ miền Trung vào Saigon hành nghề ca hát. Y năn nỉ tôi giúp đỡ, và tôi đã viết bài đầu tiên lăng xê y trên nhật báo Saigon Mới đầu thập niên 1970. Thế mà khi gặp tôi ở Nam Cali năm vừa qua, A.K. làm lơ, coi như không biết tôi là ai! 

Trong thời gian cầm bút ở Việt Nam, tôi từng là Thư Ký Tòa Soạn tuần san giáo dục Tinh Hoa (1964-1965), Chủ Biên kiêm Phó Giám Đốc hãng thông tấn Tin Miền Nam (1970-1975), Chủ Tịch Hội Phế Binh Quân Khu 3 (1971-1973), Phó Bí Thư Tỉnh Đảng Bộ Đại Việt Cách Mạng Hậu Nghĩa (1970-1975), và Cán Bộ Trung Ương Tổng Liên Đoàn Lao Công VN (1970-1975). Trong vị thế đó, tôi được dịp quen biết đông đảo nhân vật trong nhiều lãnh vực, như: Văn Nghệ Sĩ, Truyền Thông Báo Chí, Dân Cử, Tướng Tá Quân Đội Miền Nam VN, Ca Nhạc Sĩ; quý vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Chính Trị, Cách Mạng, Lao Động, Cộng Đồng v.v… Bài viết này, tôi chỉ nêu lên vài hoạt động đặc biệt trong quãng đời 50 năm cầm bút của tôi mà thôi. Các chi tiết về những diễn biến và hàng trăm nhân vật mà tôi được biết rành rẽ, sẽ được ghi lại đầy đủ trong tập hồi ký “Quốc Nam 70 năm cuộc đời” dự trù ấn hành vào năm 2014. Dĩ nhiên, tôi sẽ ghi đủ tên tuổi và cung cách của từng nhân vật (cả tốt lẫn xấu một cách trung thực).

Riêng sinh hoạt văn hóa, tôi chơi thân với giới văn nghệ sĩ Miền Nam nhiều hơn Miền Bắc Di Cư. Nhưng khi văn phòng Hãng Tin Miền Nam đặt trên lầu phòng trà Đêm Mầu Hồng trong Khách sạn Catinat năm 1970, thì tôi lại ở cùng dãy phòng với mấy ông Bắc Kỳ, gồm: thi sĩ/đạo diễn Hoàng Anh Tuấn, quý nhà báo Thanh Thương Hoàng & Ngọc Hoài Phương. Qua nhà thơ họ Hoàng, tôi quen thân với thi sĩ Nguyên Sa (giáo sư triết Trần Bích Lan). Tôi kém hai ông thi sĩ này đúng một giáp thời gian, nhưng nhị vị cứ coi tôi là “bạn vong niên”.

Trong hoạt động xã hội, tôi quen biết khá thân thiết với một số Nghị Sĩ và Dân Biểu tại Lưỡng Viện Quốc Hội VNCH. Tôi là phụ tá thân cận nhất của Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu (Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện VNCH). Tôi còn có người bạn thân là giáo sư Ngô Xuân Thọ (con trai của Cụ Chủ Tịch Giám Sát Viện Ngô Xuân Tích).

Năm 1971, Đại Hội Phế Binh VN Toàn Quốc tổ chức 3 ngày ở khách sạn Majestic. Ba Chủ Tịch Tỉnh Hội thuộc 12 Tỉnh/Thị Hội Miền Đông ứng cử chức vụ Chủ Tịch Hội Phế Binh Quân Khu 3 trong tổ chức Tổng Hội Phế Binh VN. Tôi trẻ tuổi nhất, nhưng lại được các Đại Biểu bầu phiếu cao nhất, và trở thành Chủ Tịch Hội PB/QK3, lãnh đạo trên 20 ngàn cựu chiến binh góp máu xương bảo vệ đất nước (họ là Hội Viên chính thức của Tổ Chức chúng tôi trong lãnh thổ QK3).

Qua Mỹ, tôi và anh bạn thân là họa sĩ kiêm điêu khắc gia Phạm Thông đã khai sinh một cơ sở văn hóa kỳ cựu nhất hải ngoại là Đông-Phương Foundation. Khi tái định cư tại Thung Lũng Hoa Vàng San Jose, tôi lại thân thiết với ông Nguyễn Kim Bảng (người khai sinh nhiều tờ báo nhất tại hải ngoại). Ông Bảng sáng lập Việt Nam Nhật Báo ở Bắc Cali, và nhờ tôi lên sân khấu Rosa II phong chức Chủ Nhiệm cho cô QT ngày 3 tháng 6 năm 1990. Chiều thứ hai ngày 19 tháng 11 năm 1990, ông Bảng đã tự thiêu trước trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, để lại 8 lá thư tuyệt mạng. Trong số này có 1 lá thư kêu gọi lương tâm nhân loại cứu giúp các thuyền nhân VN đang bị thanh lọc. Tối 23 tháng 11/1990, 13 ngàn thuyền nhân đã đốt đuốc rực sáng trại tị nạn Bidong (Mã Lai) để làm lễ truy điệu cố nhà báo Nguyễn Kim Bảng. Trước khi ông Bảng lên đường lên Thủ Đô Mỹ Quốc tự thiêu, ông đã dành riêng cho tôi một cuộc nói chuyện cuối cùng tại San Jose. Hiện tôi cất giữ cuốn băng bí ẩn này, và sẽ công bố một ngày gần đây.

Năm 1986, ông Nguyễn Kim Bảng đã góp công sức ấn hành nhật báo Báo Động, tờ báo khổ lớn hàng ngày đầu tiên ở hải ngoại. Chủ Nhiệm là nhà báo Vũ Xuân Vĩ và Chủ Bút là tiến sĩ Phạm Lễ, với sự cộng tác của nhà báo Vũ Bình Nghi. Một năm sau, ông Vĩ rút lui, thì ông Bảng chuyển thành Việt Nam Nhật Báo. Khi đề cập đến tình trạng báo chí ở hải ngoại, có người viết dám cả quyết rằng nhật báo Người Việt là tờ báo Việt Ngữ hàng ngày đầu tiên ở hải ngoại, là không đúng. Năm 1986, nhật báo Người Việt còn đang là tuần báo với chủ nhiệm là ông Đỗ Ngọc Yến.

Trong thời gian cầm bút và cầm micro trên Cao Nguyên Tình Xanh Washington 18 năm nay, tôi bị một ông triệu phú tìm mọi cách hại tôi. Ông ta mở Chương Trình phát thanh 2 tiếng đồng hồ hàng ngày đặt tên là QM (chùm gởi vào một Đài từ Hoa Thịnh Đốn), và tuyên bố xanh rờn rằng “Ra Đài để giết Đài thằng Quốc Nam”, nhưng Đài này chỉ chịu đựng được 2 năm là tắt lịm luôn! Hận đời, ông QM mướn một gia đình “kiểu Chí Phèo ăn vạ” xuống Nam Cali đầu tháng 10/2006 giăng biểu ngữ biểu tình phản đối Quốc Nam dùng truyền thông ăn hiếp thiên hạ. Sau đó, ông triệu phú bỏ tiền cho gia đình Chí Phèo xuất bản 1 quyển sách dày tới 214 trang để vu cáo Quốc Nam tôi và Hội Đồng Hương Quảng Nam-Đà Nẵng WA một số điều không thể có thực. Họ khoe là phát hành tới 1900 quyển. Một vài bạn đồng nghiệp khôi hài tôi rằng: “Ông chỉ là thằng cầm bút mà người ta coi trọng ông quá đáng. Ông vừa được biểu tình và còn được in thành sách nữa. Lãnh tụ chính trị cũng chưa ai được như vậy. Nhất ông đấy nhé!”

Trong hơn 3 thập niên hoạt động văn hóa và cộng đồng ở hải ngoại, tôi và Đông-Phương Foundation đã cố gắng đóng góp liên tục. Khoảng 150 nhân vật đã gởi lời khen ngợi đến cá nhân tôi. Trong số này, học giả Vũ Ký (người cầm bút VN từng được đề nghị dự tranh Giải Nobel Văn Chương) mà tôi rất ngưỡng mộ ông về tài năng, tư cách và tinh thần Quốc Gia Dân Tộc sáng chói, nhưng chưa hân hạnh được quen biết. Tôi chỉ gặp ông 1 lần trong đời. Không ngờ ông vẫn theo dõi những sinh hoạt văn hóa và thơ văn của tôi từ lâu. Trước khi tạ thế, học giả Vũ Ký đã dành cho tôi một tiểu luận công phu, và gọi Quốc Nam tôi là “nhà văn hóa Việt Nam nổi bật của thời đại ly hương”. Thực tình, tôi không dám nhận danh xưng lớn lao này. Tôi chỉ xin tiếp tục làm một người cầm bút hoạt động văn hóa suốt đời mà thôi.

***

Như đã nói ở phần trên, Tôi chào đời ở một làng quê nhỏ bé thuộc tỉnh Nam Định. Trong thập niên 1950, quê tôi là một  làng kháng chiến chống Cộng nổi tiếng. Tứ phía quanh làng này đều là vùng Cộng Sản hoạt động (hồi đó chúng xưng là Việt Minh). Năm 1954, tôi mới lên 10 tuổi, nhưng bản tính luôn luôn thích tìm tòi và học hỏi. Khi chơi trò dùng kính hội tụ thu ánh mặt trời để đốt cháy mảnh giấy. Tôi thắc mắc trong đầu là tại sao dùng kính này lại đốt cháy được giấy?

Từ Miền Bắc di cư vào Miền Nam VN, khi tôi lên học lớp Đệ Thất trung học Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) năm 1956, mới luận ra rằng: Bất cứ một mục tiêu nào, nếu mình cứ liên tục nhắm vào 1 điểm thì tất nhiên phải thành công (lửa phải bùng cháy). Đó là kim chỉ nam của tôi trong đời sống mỗi khi tôi làm một việc gì. Luôn luôn nhắm tới mục tiêu, bất chấp mọi trở ngại, và tôi tập tính kiên nhẫn từ thuở nhỏ. Có lẽ bởi vậy mà tôi gặp biết bao may mắn suốt từ thuở ấu thơ đến tận ngày hôm nay? Trên cõi đời này, tôi biết có nhiều người giỏi giang hoặc thông minh hơn tôi bội phần. Có lẽ họ không thích phục vụ đồng bào vất vả như tôi, nên họ không thèm hành động cho tha nhân…

Qua một số việc đóng góp ghi trên của Quốc Nam tôi trong nhiều việc làm trải dài suốt 50 năm, tôi đã được 4 nhân vật tên tuổi nhận định như sau (xin trích đoạn):

* Cố nhạc sĩ ANH VIỆT Trần Văn Trọng (Đại Tá Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội VNCH): Để thực hiện được những sinh hoạt văn hóa quy mô, người chủ trương phải có cái nhìn sáng tạo, thích ứng với nhu cầu của cộng đồng người Việt, hiểu biết sâu rộng vấn đề, có khả năng chuyên môn trong ngành truyền thông, uyển chuyển tùy tình thế, tinh thần bất vụ lợi, và nhất là sự can đảm vượt qua bao khó khăn trở ngại, hầu đạt được kết quả mong muốn. Thi sĩ Quốc Nam nguyên là một sĩ quan được đào tạo bởi quân trường Võ Bị Dalat, nơi trui luyện ý chí cương quyết và lòng hăng say quả cảm, nên anh đã thành công trong các sinh hoạt quần chúng. Anh đã góp phần xây dựng và bảo vệ tinh thần Quốc Gia, giúp phát triển nền văn hóa Dân Tộc trong các cộng đồng người Việt hải ngoại.

* Nữ sĩ/tác giả Vi Khuê (nguyên Hiệu Trưởng trung học đệ nhị cấp Văn Học, Dalat): Trên con đường gian nan khúc khuỷu của kiếp lưu vong -đường đi càng khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì đoạn trường vượt núi băng sông, đương đầu với cả đại dương ầm ầm sóng vỗ- ông bạn Quốc Nam của chúng ta đã có đủ can trường, tài năng và nhẫn nhục san bằng bao chướng ngại, để trở nên một người có tầm vóc, thành công về nhiều phương diện.

*  Thi nhạc sĩ/tác giả Huy Trâm (nguyên Thẩm Phán Công Tố VNCH): Từ xuất bản báo chí, đến in sách, mở đài phát thanh, tổ chức Giải Tượng Vàng để tuyển lựa các tài năng mới trong ngành âm nhạc, người bàng quan đã thấy rõ thiện chí và khả năng của Quốc Nam, trong chiều hướng dấn thân phục vụ Cộng Đồng VN. Điều đáng quý là những công trình do anh thực hiện đều vô vụ  lợi.

* Nữ sĩ/tác giả Cao Mỵ Nhân (ngưyên Sĩ Quan Cấp Tá QLVNCH): …Nhà thơ Quốc Nam lao vào sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, làm được nhiều công tác rộng lớn có tính cách của những tổ chức, cơ quan, hội đoàn, phải cần nhiều bàn tay chung sức, thì Quốc Nam chỉ một mình hô hoán, chủ trương.

Vâng, trong hơn 36 năm qua, nhóm chúng tôi đã làm công tác văn hóa để phục vụ đồng bào, hoàn toàn vô vụ lợi. Hầu hết những chương trình hoặc công tác truyền thông báo chí chúng tôi phục vụ, đều lỗ lã hay huề vốn là may lắm rồi. Nhóm chúng tôi chưa làm thương mại như nhiều cơ sở khác. Chúng tôi rất thiếu nhân sự và phương tiện tài chánh, nhưng nhóm chúng tôi vẫn thực hiện được một số công trình mà một số tổ chức lớn chưa làm được (kể cả 2 đảng VC & VT). Ai cũng biết Đảng VC rất nhiều phương tiện nhân sự và tiền bạc, nhưng bao lâu nữa họ mới cho dân chúng trong nước nghe được làn sóng hiện đại HD Radio (FM Digital)? Đầu thế kỷ XXI, vì sao 2 Đảng kia không biết tổ chức một chương trình vĩ đại chào mừng Thế Kỷ Mới như một số quốc gia khác?

***

Về lãnh vực tình cảm thì tôi cũng gặp may mắn khá nhiều. Chỉ có 2 lần xui xẻo là tôi lấy vợ được 20 năm thì nàng nộp đơn ra Tòa ly dị tôi. Lần nữa là tôi yêu một mỹ nhân thời áo trắng (nữ sinh) từ năm 1966, nhưng khi tôi lao mình vào cuộc chiến tàn khốc thì nàng bỏ tôi đi lấy chồng, rồi vào phút chót sau 45 năm xa cách nàng lại thú nhận vẫn yêu tôi suốt kiếp sống này. Vậy có phải tôi còn tí may mắn không, thưa quý độc giả?

Thuở trung niên, tôi cũng coi một số phim bộ Trung Hoa, và chỉ thích bộ phim “Cô Gái Đồ Long”. Tôi khoái đoạn anh chàng Trương Vô Kỵ (Giáo Chủ Minh Giáo) đã từ bỏ mọi quyền cao chức trọng để ở nhà kẻ lông mày cho Người Tình là Triệu Minh. Ngoài ra, tôi thích đoạn bi tráng trong phim, lúc Quang Minh Đỉnh (thánh địa của Minh Giáo) bị lục đại môn phái bao vây thì các giáo chúng đồng hát bản thánh ca của họ là “Hỏa Ca” để quyết sống chết bên nhau.

Riêng tôi đã mơ ước được kẻ lông mày cho mỹ nhân thời áo trắng, nhưng cho đến bây giờ vẫn chỉ là ảo mộng … Trong bài thơ “Tình Say” của tôi do nữ nhạc sĩ Nhật Hạnh đã phổ thành ca khúc, có 2 câu lục bát:

Mai qua phố cũ, tỉnh say,

Anh mơ tập vẽ chân mày mỹ nhân.

Vâng, tôi muốn được viết lên đây bài tạp ghi này, nhằm đánh dấu nửa thế kỷ cầm bút sống được, mà phục vụ xã hội và nền văn hóa Việt Tộc, cũng như để gởi lời cám ơn muộn màng đến những người nữ đã đi qua đời tôi.

Cuối cùng, may mắn nhất cuộc đời này chính là tôi còn sống sót đến ngày hôm nay, để được viết đôi dòng tâm sự nêu trên, trước khi linh hồn bay về cõi vĩnh hằng. 

Nguyện cầu Thượng Đế phò hộ chúng ta, và cho ngôn ngữ Việt bất diệt trong bất cứ nghịch cảnh nào.

Cao Nguyên Tình Xanh Mùa Thu 2011.

QUỐC NAM

 

Chú thích 5 tấm hình:

– 1964: QN, Thư Ký Tòa Soạn tuần san Tinh Hoa tại Saigon.

– 1987: Tại San Jose, QN ra mắt tập thơ "Quê Hương Nước Mắt", cạnh ông là nữ tác giả Vũ Triều Nghi. Sau đó, quyển sách này đã được ghi nhận là "best seller".Photo by Quang Lộc.

– 1991: 4 thi sĩ trong Ngày Thi Ca VN tại San Jose. Từ trái qua phải: Quốc Nam, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn & Hà Thượng Nhân. Photo by Quang Lộc.

– 2005: QN sáng lập Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam Toàn Cầu từ Seattle. Photo by Master Trịnh.

– 2009: Vinh Danh 50 Năm Thi Ca Quốc Nam tại Houston. Photo by Phạm Thông.




Summer Dreams

Summer Dreams.
Vài hình ảnh Summer Dreams "The Tale of Cuội" do thiếu nhi "Sân Khấu Việt Cali" trình diễn chiều ngày 8 tháng 9 năm 2013 tại Thư VIện Tully, 880 Tully Road, San Jose CA 95111 .
Xây dựng mần non Việt bằng những truyện cổ tích Việt. Trồng hạt giống văn hoá Việt vào hồn mần non Việt.
Được tổ chức tại Thư Viện Tully. Ngày 08 tháng 9 năm 2013
Sô 880 Tylly Road San Jose CA 95111

Xin quí vị tham dự để hổ trợ tinh thần thiếu nhi Việt.

Thanks

Photo

Photo

PhotoPhoto

 

 




DIỄM DIỄM (Chinh Nguyên)

DIỄM  DIỄM
 
San Jose tháng bẩy vào giữa hạ, nắng và nắng chan hoà , xa lộ 101 như con rắn khổng lồ hun hút với những xe hơi tấp nập chạy đua với thời gian hai chiều ngược suôi trong nắng bốc hơi lửa.
Những dẫy núi bao quanh San Jose và hai bên xa lộ cỏ đã úa lá, Cây có vẻ khô cằn không còn sức sống, và chỉ chờ một cơ hội va chạm mạnh bất ngờ nào đó của cỏ gai là sẽ tạo lên thành ngọn lửa trong nắng cháy bùng lên dũng mãnh nghiệt ngã.
Bầu trời không mây trắng, trong xanh lặng lẽ và thỉnh thoảng có những cách chim vụt ngang qua.
Tôi lái xe chạy ra khỏi xa lộ 101 về nhà phía hướng tây trên đường Tuly trong buổi chiều 100 độ F. Ngồi trong xe có máy lạnh nhìn qua hai hàng cây bên đường Tuly yên lặng trong nắng chạnh lòng chợt nhớ tới Ban Mê Thuột lạ lùng. Ban Mê của tuổi dại, Ban Mê của thời chớm yêu 16, và Ban Mê của lòng xuân ôm mộng rồi bất chợt tan hoang.
San Jose bây giờ là mùa hạ, nhưng tôi nhớ Ban Mê bây giờ đã vào thu, phuợng hai bên đường Thống Nhất cành đã không còn đong đưa theo gió nhẹ để những cánh hoa đỏ rung rinh, cánh bay hoa rơi rơi tựa giọt máu trong không gian đã biến mất, cho lá cành bắt đầu một mùa chia ly trong tiết thu lành lạnh buổi sáng dưới bầu trời xanh có mây trắng lặng trôi. Tôi thủa ấy đã đành đoạn đưa tay cầm bì thư của Diễm Diễm trao tặng không nói và quay đi.
Tôi biết Diễm Diễm chỉ chờ tôi mở lời sau khi tôi cầm thư của nàng, và nàng sẽ nở cụ cười răng khểnh chúm chím e thẹn ửng hồng đôi má, nhưng tôi không nói, quay đi trưóc sự ngạc nhiên của nàng, để rồi nàng đã đạp chân xuống đất sau khi tôi đã đi được mấy bước, và rẽ lối bước thật mau như chạy trốn. Tôi mất Diễm Diễm từ đó…! Tuổi mười sáu mộng tràn chăn gối cũng chợt bay theo thời gian tan tành với ước vọng thanh xuân …!
Ngày đó, trong khi một mình thong thả trên lối phượng mơ của con đường nhỏ Thăng long hai bên là đồn điền cà phê của ông Huấn và cành phượng đan nhau trên không từ những gốc phượng trồng dọc theo lối đi, tôi đã ngồi đựa lưng vào một gốc phượng mở thư của Diễm Diễm ra đọc thơ của nàng trước khi về nhà dọn dẹp hành lý theo cha vào nhà tập dòng Lasan.
 
Thôi chẳng yêu thương và hứa hẹn,
Anh về đi đừng nhắc lại tên tôi
Chuyện thế gian tôi đã chán lắm rồi,
Chữ chung thủy bảo tôi làm gì nữa
Tôi không dám oán than đời ngang trái
Nhưng vẫn buồn không biết tại vì sao
Có lẽ vì bao chuyện đớn đau
Của bạn hữu đã làm tôi run sợ
Đừnh nhắc lại tên tôi thêm lần nữa
Đừng yêu tôi, và đừng trách tôi gàn
Cũng đừng cho rằng tôi quá khô khan
Bởi tôi đã thiết tha nên sợ hãi.
 
Diễm Diễm
 
Tôi đã ngạc nhiên khi đọc tới hai chữ Diễm Diễm, bởi vì tên nàng không phải là Diễm Diễm. Tôi dùng chữ D đầu tên của nàng để gọi nàng là Diễm Diễm vào những chiều hai đứa dong chơi trong rừng trâm, tôi là người luôn trèo lên hái những trái trâm chín màu tím mang từ cành cao xuống cho nàng, mà cũng chỉ có riêng tôi và nàng biết cái tên tôi gọi nàng và nàng đã chấp nhận cái tên Diễm Diễm như một tặng vật tôi gói ghém trao nàng.
Những lúc đó nàng chỉ mỉm cười nụ, rồi ngúng nguẩy lắc đầu làm làn tóc thề bung ra tung trong gió chiều:
–           Cái tên Nguyên gọi kỳ kỳ làm sao ấy. Diễm không chịu đâu nghe.
–           Nếu Diễm Diễm không chịu thì Nguyên sẽ tìm tên khác, nhưng Diễm Diễm hay hơn.
–           Tại sao Nguyên nói là hay? Đưa đôi mắt bồ câu Diễm Diễm nhìn tôi chớp chớp, và hỏi tôi trong nụ cười răng khểnh nở trên môi nàng.
Tôi nhìn nàng thản nhiên đưa những trái trâm tím chín mọng vào miệng cắn giữa đôi hàm răng trắng và đôi môi mọng đỏ 
–           Bởi vì nó lột tả được hết vẻ đẹp của Diễm Diễm.
–           Nguyên nịnh đầm hay thật! Ai dạy vậy nà?
Tôi dương mắt làm hề cho nàng cười, và bước chung quanh nhìn nàng, trong khi nàng đã nhắm mắt đứng im như pho tượng mặc tôi ngắm nàng để tả về sắc đẹp trên thân thể nàng.
–           Chẳng ai dạy cả, nhưng đó là sự thật mà, này nhé Diễm Diễm có mái tóc mây óng ả ôm ngang lưng, thân vóc như cành mai, nụ cười có chiếc răng khểnh, má lúm đồng tiền hồng hồng như trái đào tiên trên khuôn mặt trái soan và làn da trắng trẻo dễ làm nhiều người chết lắm đó nghe. Hai thằng trời đánh Trịnh Viết Bốn, và Hứa Ngọc Ẩn khen hoài đó nghe.
–           Nguyên còn gì nói nữa không? Nếu không người ta mở mắt đó !
–           Ồ còn nhiều thứ phải nói lắm…! Này nhé dáng đi nhẹ nhàng như Tây Thi, mỗi bước là có hoa phượng rơi, khi cười lớn thì như tiếng cười Bao Tự, và làm thơ thì tựa Tiết Đào
Ôi thôi nhiều quá kể không hết đâu..! Nói chung ra Diễm Diễm cũng tựa như 15 tuyệt đại mỹ nhân của Trung Hoa thời cổ..
Diễm Diễm mở mắt lớn nhẩy tới túm lấy tôi, nàng nói.
–           Thôi cho Diễm xin đi, Nguyên khéo nói quá đi thôi. Ở nhà mẹ nói Diễm là con gái lười và xấu nhất nhà đó.
Tôi vừa cười, nói vừa chạy để nàng đuổi bắt tôi trong rừng trâm.
–           Bà nói yêu đấy thôi. Tác phẩm của bà thì bà đâu có biết được xấu đẹp ra sao…! Chỉ có người ngoài ngắm mới thấy được thôi. Dao sắc đâu có gọt được chuôi…!
–           Thôi Diễm chịu thua Nguyên. Mình về đi … Chiều nay trốn học đi hái trâm.. Nguyên chớ nói với ai chuyện này đó nghe.
–           Ừ…! Chỉ có suối Mourier (Bu-ri) biết hai đứa xuống đây thôi.
Trang kỷ niệm của tôi và Diễm Diễm không chỉ có thế, nó còn kéo theo những chiều tan học sau giờ việt văn của Thày Nguyễn Duy Trại, nhà văn Thái Anh Duy, chúng tôi đạp xe song song nhau trước sự nhìn ngó, xầm xì của lũ bạn cùng lớp để bàn về luật thơ song thất lục bát hay niêm của đường thi và thỉnh thoảng ghé nhà thờ chính tòa đứng bên hang đá cầu nguyện bâng quơ.
Sau những phút yên lặng cầu nguyện mỗi lần của hai đứa, tôi thường hỏi Diễm Diễm. Những câu hỏi và trả lời của chúng tôi gần như đã thuộc lòng hầu như giống nhau:
–           Diễm Diễm à..! Diễm cầu nguyện gì vậy?
Diễm liếc nhanh nhìn tôi.
–           Bí mật, không nói được. Thế Nguyên cầu nguyện gì ?
–           Nguyên cầu nguyện Đức Mẹ cho Diễm Diễm luôn vui, đẹp, học giỏi, an bình và hạnh phúc trong tương lai.
–           Có thế thôi sao?
–           Ừ, thật đấy..!
Giọng Diễm có vẻ buồn, nàng hỏi.
–           Không có gì khác hơn sao? 
–           Không. Tụi mình là bạn thân mà.. Thật đó. Tôi thật thà trả lời.
Diễm Diễm nhìn tôi trong yên lặng vài giây như muốn nói với tôi một điều gì, nhưng nàng đã dấu kín, và tôi biết thế nào nàng cũng nhanh chân bước ra chỗ dựng xe và cũng sẽ nói với tôi một câu – You are bad boy… trước khi bỏ tôi lại trong sự suy tư về hành động của nàng.
Những lúc nàng giận dỗi bỏ đi, tôi chỉ còn đành đưa mắt theo nàng bước mau tới chỗ dựng xe, lắc dầu nhìn nàng đạp xe vội vàng trên lối xi măng trước săn nhà thờ để băng qua đường Phan Chu Trinh xuống đường Quang Trung và mất hút sau rạp hát Tương Hiệp.
Hơn hai mươi năm tôi bỏ dòng Lasan và canh cách bên lòng bài thơ Diễm Diễm viết tặng tôi với câu cuối cùng đã làm tôi tìm về lối cũ đường xưa. Nhưng ghế đá bên cạnh hang đá đã quỵ xuống theo thời gian, rừng trâm bên suối Mourier (Bu-ri) đã tan hoang, lối cũ Thăng Long xưa cũng hoang phế phượng mơ với cây cành đổ vì trận chiến Mậu Thân, và bóng dáng Diễm Diễm với tà áo xanh học trò cũng xa bay biền biệt ..!
Ban Mê thật buồn với tiếng động giày lính thành phố của tôi cô đơn trên hè vắng, và lạc lõng chỗ đông người. Tôi đi tìm lại dấu yêu xưa trong góc tối của nhà thờ ngày Chúa nhật, trong sân chùa Khải Đoan của ngày rằm mỗi tháng, và nơi nào tôi cũng quay quắt kiếm tìm với niềm hy vọng gặp lại Diễm Diễm, dù chỉ gặp lại để nhìn lén nàng hoặc nếu có thể không may trực điện tôi cũng sẽ cố nói lên lời chúc mừng nàng hạnh phúc trăm năm trong hôn nhân thần thánh. 
Nhưng không…! Nàng vẫn biền biệt mây trời, cá lặn sâu đáy nước, và tôi vẫn thỉnh thoảng buồn bâng quơ, giật thót lòng khi chợt nhìn một tà áo xanh nào đó có dáng người giống nàng, nhưng khi tới gần người lạ nỗi thất vọng bỗng tự đâu tràn về ngập hồn, tôi lại lầm lũi quay đi và giải sầu bằng những lon bia lạnh ở những quán cóc trên góc phố.
Diễm Diễm đã thật sự xa tôi theo cường độ chiến tranh ngày một thêm tàn khốc trên quê hương, những người bạn ngày một thưa dần bởi những trận chiến của khe Sanh, Darto, Quảng Trị, An Lộc, Asao, Hạ Lào, Mậu Thân 1968…Tuy nhiên những dòng thơ nàng viết ngày cũ còn đó đong đưa trong hồn tôi như một trách móc giận hờn, nên mỗi lần bước qua sân Nhà Thờ Chính Toà Ban Mê Thuột là tôi lại thoáng hình Duyên bóng nàng dắt xe đạp vội vã với ánh mắt buồn len lén nhìn lại và bỏ tôi cô đơn một mình trên ghế đá với lòng xôn xao nỗi nhớ vụt về.
Mười mấy năm làm thân lính, tôi dường như đã quên nàng vì chiến tranh lửa đạn, tôi đã gói bóng dáng nàng thật kỹ trong đáy tim để nghe tiếng gọi của sông núi và mang vào lòng lửa hận thù với người cùng giống nhưng khác chiến tuyến Quốc, Cộng, trong khi mỗi trận địa dường như là mỗi hố sâu chôn thây những người lính hai bên.
Hình ảnh của những xác chết, và bị thương không toàn thây được chở về trên những chuyến trực thăng tải thương vội vã đáp xuống bãi đậu bên cạnh cổng phi trường L-19, làm tôi buốt lòng thương những người bạn đã nằm xuống, và cầu nguyện cho những thằng bạn đang đi vào lửa đạn chiến tranh được bình an trở lại với thân thương.
Quê hương, hai chữ thân yêu mê muội là thế! Tuổi trẻ luôn mãi hiến thân với ước vọng an bình cho tương lai đất nước từ ngày đầu lập quốc, nhưng mãi mãi vẫn chưa yên và thế hệ trước nối tiếp thế hệ sau để bảo vệ vẫn là lời chối trăn tiền nhân lưu lại : Tự do, tự cường dân tộc Việt.
Những đêm hoang trăng lạnh đơn côi ngồi trên lô cốt khi đơn vị cấm trại nhìn vào bóng tối rừng sâu, hoặc nằm thu mình trong xó hầm núp nhìn ánh hoả châu lọt qua khung cửa nhỏ chạy loang trên vách hầm trong sương khuya mờ ảo của rừng núi Ban Mê tôi chợt se lòng nghĩ thân phận và tình nước non mà lòng trùng xuống như khúc nhạc buồn. Lòng tôi rã rời rồi nhìn vào đời lính chiến với mộng ước cho quê hương chóng được thanh bình, và cũng chỉ có thế tôi mới quên được Diễm Diễm với nỗi nhớ xưa, và thầm mong nàng không bị một mất mát nào trong đời giữa cuộc sống vợ chồng trong chinh chiến dài và đầy hạnh phúc.
Chiến tranh đôi khi đã lan tràn vào thành phố, đời lính chợt quên hết mọi chuyện tình buồn để đối mặt với vận mệnh đong đưa trên sợi tơ của cuộc sống, thế mà tình Ban Mê tôi vẫn ôm vào lòng, vẫn hoài vọng những bước chân ai trên hè phố, ghì chặt thân súng trong tay mà đôi khi tôi tưởng đó là người tình..
Tháng ba năm 1975, mưa trọng pháo và hoả tiễn của Cộng Sản như mưa rừng Cao Nguyên đã cày nát đơn vị Kiểm Báo Pyramid trong phi trường L-19 Ban Mê Thuột, T-54 theo biển người đã tràn vào cán nát những thây đã chết của bạn tôi dưới đôi xích sắt, trong khi tôi đã may mắn ra khỏi vị trí chiến đấu trước tháng 2 để đi học và thoát khỏi tử thần hầu sống còn.
Từ Sài Gòn tôi quay quắt đôn đáo chạy vòng vòng tìm kiến tin tức Ban Mê, nhưng tất cả chỉ là thất vọng, chán chường với những tin địch đang tràn vào những thành phố mà quân đội đã bỏ lại theo lệnh rút quân, và Sài Gòn cũng mất sau khi chiếc T-54 ủi sập cổng Dinh Độc Lập, nơi biểu thị cho nền Cộng Hoà, và cũng là căn cứ cuối cùng của miền Nam Tự Do vỡ tan sau lời kêu gọi đầu hàng của người lãnh đạo đã làm đổ hai chế độ Cộng Hòa của Miền Nam, tướng Dương Văn Minh…!
Tôi thất thểu bước lên tàu Trường Xuân trong lúc Sài Gòn nghiệt ngã nấc nghẹn, trong khi đường Sài Gòn có những chỗ loang máu, và xác chết nằm bên rãnh mương. Tôi rơi lệ giã từ Sài Gòn, biệt ly thành phố nhỏ bé Ban Mê có nhiều kỷ niệm yêu thương, đã nuôi nấng tôi lớn lên với niềm chắt chiu của mẹ, để từ đây sẽ lạc loài trên xứ người như một cây tầm gởi.
Lòng tôi nhói đau nhìn dân bản xứ và đêm về quằn quại lệ nến với bình rượu cạn để tìm quên. Tôi tìm quên quê hương đau khổ trong cuộc sống nô lệ mới mà chủ nhân lại là người cùng giống trong đó có Diễm Diễm và những người thân yêu…!
Những năm trên bến lạ mang nặng ưu tư khắc khoải nhớ quê và gia đình bên kia đại đương, nhưng không biết sao lòng tôi lại thoáng một hy vọng sẽ gặp Diễm Diễm trên mảnh đất lạ xa xăm cội nguồn ngàn dặm.
Một hôm, tôi nhận phone reo giữa đêm trong khi tôi đang ngủ gà ngủ gật trên ghế salon và đầu giây bên kia gọi qua từ San Jose :
–           Hello, anh Nguyên phải không ?
–           P… Phải.. Tôi ngạc nhiên trả lời.
Giọng nói đàn bà trẻ reo vui bên kia đầu giây.
–           Gặp anh rồi…! Em là Kim đây..! Anh ở Tucson Arizona phải không ?
Tôi chau mày suy nghĩ trong khi miệng buột câu hỏi .
–           Phải, tôi ở Tucson. Kim nào vậy nà..?
Có giọng cười lớn trong ống nghe kèm theo tiếng giải thích của người đàn bà trẻ.
–           Kim con ông Toàn đó…! Ở gần nhà thầy mẹ anh trên Ban Mê Thuột. Anh quên mất bé Kim rồi sao?
Tôi chợt mừng, hỏi lại.
–           Có phải cô là bé Kim làm cho DAO ở Ban Mê Thuột phải không ?
–           Phải .. Phải.. anh nhớ rồi đấy…! Anh sang năm nào vậy ?
–           75. Ai cho em biết số phone của anh?
–           Thày anh trên Ban Mê Thuột chứ ai. Thày anh qua nhà thày mẹ của em chơi, sau đó thày anh nghe được em ở Mỹ nên thày anh cho số điện thoại của anh để em liên lạc với anh.
–           Ồ, thì ra là thế. Gia đình em ra sao?
Có tiếng thở dài bên đầu phone bên kia.
–           Em ly dị rồi…!
–           Sao vậy ?
Kim phân bua :
–           Thì anh biết rồi… Em lấy chồng Mỹ khi làm ở DAO nên qua Mỹ trước năm 75, nhưng khi qua đây nó bỏ bê em, và nó đòi ly dị, em chán quá, nên ký đại ly di cho xong…! Anh thế nào ?
Tôi chợt se lòng nghĩ tới người vợ không yêu mà mẹ tôi
cưới đem về, và tôi chấp nhận như một sự trả hiếu cho mẹ yên lòng, nhưng tôi dấu Kim không nói thật cho nàng nghe.
–           Thì cũng vậy thôi..! Lang bang chẳng làm đươc chuyện gì cả…!
–           Chị có qua với anh không ?
Chợt xót xa dội vào lòng, tôi cố đè nén trả lời Kim.
–           Không, bà ấy đâu có yêu anh..! Bà bỏ anh từ lâu rồi..! Hiện bà ấy đang ở với ông chồng cán bộ Công An lớn của Việt Cộng và đã có con với hắn rồi.
–           Vậy anh có cháu nào không ?
–           Không…!
–           Thế thì may cho anh và cũng xong thôi..! Khỏi nợ nần nhau..! Mà cũng tại ngày ấy anh chê em xấu, nếu không thì anh đâu có như bây giờ…!
–           Thôi quên đi nghe Kim..! Anh đi ngủ đây, mai anh còn đi làm…!
Đầu phone bên kia có vẻ vội vàng.
–           Anh Nguyên, em xin lỗi nghe, em không nhắc chuyện xưa nữa. Nhưng em có gặp một người mà em biết rằng anh sẽ ngỡ ngàng khi nghe tin này.
Tôi bực mình, nên nổi quạu hỏi Kim. 
–           Tin gì..? Ai, người nào mà cô nói tầm bậy tầm bạ, tôi đi ngủ đây, tôi cúp máy đó nghe.
–           Không..! Anh đừng cúp…! Em nói thật đó..! Chị này thân với anh lắm..! Chị nói vậy mà…! Mà chắc anh không quên chị ấy đâu..! Chị còn độc thân đó nghe..!
–           Ai? thì em nói ra đi.. anh mệt quá rồi…!
–           Chị Duyên, em của chị Nga và anh Hùng đó…!
Tôi sững sờ vài giây và ngồi bật dậy.
–           Em nói đúng không đó? Đúng anh quen Duyên rất thân, nhưng mấy chục năm rồi anh không gặp mặt, mà nếu có gặp anh cũng chẳng nhớ nữa, vì lớn và già rồi nên thay đổi..! Nghe đâu Duyên đã có chồng con rồi..!
Có tiếng cười nhỏ bên kia đầu giây.
–           Em biết ngay mà…! Nhắc tới chị Duyên là anh sáng mắt ra liền. Thôi anh đi ngủ đi. Mai em gọi cho anh.
–           Em nhớ hỏi cho anh địa chỉ của Duyên nghe…!
–           Được rồi em sẽ tìm cho anh, bây giờ em không có địa chỉ của chị Duyên.
Tôi nghe được tiếng thở dài ở đầu giây sau khi Kim ngưng nói chuyện, và tôi gác máy nhưng đã không ngủ được với hình ảnh ngày xưa hiện về tràn đầy trí tưởng.
Thoáng mấy năm tôi đã không gặp Kim, và số điện thoại của nàng cũng đã đổi, tôi hết hy vọng tìm Diễm Diễm, mặc dù tôi biết nàng đã qua Mỹ năm 1985, và cũng từ đó chỗ nào có cuộc hội họp đông người là tôi tìm đến với hy vọng rất mong manh, nhưng có tới còn hơn không để hồn tôi khỏi chất vấn lòng mình.
Tôi gặp Châu người bạn cùng lớp thời trung học Ban Mê Thuột bất ngờ trong buổi tiệc nhóm họp Không Quân Kiểm Báo, hai đứa tôi ôm lấy nhau, ngồi cùng bàn và kể đủ mọi chuyện trước sau cho nhau nghe, sau đó hỏi thăm nhau về những người bạn xưa, bỗng đưng Châu nhìn tôi hỏi sau khi hắn nốc một ngụm rượu mạnh đầy:
–           Nguyên, mày đã có vợ chưa?
Tôi cười trả lời Châu.
–           Thì mày biết tao rồi, có vợ không con và bị vợ bỏ rơi nên tao lang thang…!
Châu nhìn tôi vẻ mặt dò hỏi.
–           Không. Tao hỏi mày trong hiện tại đời sống mày bây giờ.
Tôi không biết Châu sẽ nói gì sau câu trả lời của tôi, nhưng tôi biết rằng sẽ có chuyện lạ, tuy nhiên tôi nhìn Châu trả lời nước đôi.
–           Chắc Hà liên lạc với mày phải không? Hay mày biết tin những thằng bạn của chúng mình lìa bỏ thế giới này! Đời phù du mà! Hối tiếc cũng thế thôi…!
–           Không…! Tao kể như không liên lạc với bà vợ phản phúc của mày, nhưng tao muốn biết đời sống của mày bây giờ mà thôi.
Tôi ôm vai Châu lắc mạnh.
–           Mày có chuyện gì lạ vậy, hay mày muốn hỏi thăm thày mẹ của tao? Thày Mẹ tao đã qua Mỹ sum họp rồi, năm 1985, ông bà đã già và tao phải bên cạnh.
–           Tao mừng cho mày kéo đuợc ông bà qua, nhưng tao hỏi chuyện vợ con mày bây giờ.
–           Thì Hà đã bỏ tao mấy chục năm rồi..! Nàng đã có con với người ta, còn tao thì vẫn long đong, nhưng sự thực tao đã có người tình, và đã hứa đem nàng về làm vợ cho thày mẹ tao vui. Nàng rất hiền và yêu tao, tao biết nàng sẽ thiệt thòi, nhưng nàng chấp nhận chỉ vì yêu tao mà thôi.
Châu thở phào một hơi dài thoải mái, hắn vỗ vai tôi.
–           Ở Mỹ này mà mày được yêu là hiếm đó..! Thế là mày yên thân rồi..! Tao thương cho mày, nên hỏi vậy thôi…!
–           Mày nói chơi ? Ở đâu mà không có tình yêu. Nếu không đời sẽ hết vui đó mày…!
–           Tao hiểu mày nói gì, nhưng xứ này đô la đi trước rồi tình theo sau, trước khi lấy nhau và ký tờ hôn thú họ còn nghĩ ra tờ hợp đồng chia gia tài mày biết mà…!
–           Thì đúng như mày nói đối với đa số người bản xứ, nhưng người Việt tao chưa thấy chuyện này sảy ra, tuy nhiên cũng sẽ có vì sự học cái dở nhanh hơn học cái hay của bẩm tính con người.
Châu nhìn tôi cười, trong khi tôi nhìn vào mắt Châu và biết rằng hắn có cái gì đó muốn nói với tôi, nhưng khi tôi nói với hắn rằng tôi đã yên, thì giọng nói hắn có vẻ thay đổi và sóng mắt hắn dịu lại như không còn thắc mắc gi. Tôi hỏi Châu.
–           Mày có gì dấu tao ?
–           Mày tinh thật. Châu gật đầu trả lờì.
–           Chuyện gì vậy? Quan trọng không ?
Châu lắc đầu trong khi trả lời .
–           Cũng chẳng có gì quan trọng cả. Mày đã có người tình thì kể như xong, quên đi để có hạnh phúc với cái gì mày có là tốt nhất.
–           Mày nói gì lạ vậy, tao không hiểu ý của mày?
–           Tao nói tới Duyên của mày.
–           Duyên nào?
–           Duyên em chị Nga và thằng Hùng đó. Tụi mày thân với nhau từ hồi đệ ngũ mà…! Tao biết quá nhưng không nói đó thôi. Nó ở ngay đây mày biết không?
Tôi chới với nhìn Châu hỏi.
–           Duyên ở Santa Ana ?
–           Phải, Vài lần tao gặp Duyên bất ngờ trên phố Bolsa, chúng tao nói chuyện trời đất và kỷ niệm trường xưa. Nhưng cuối cùng nàng cũng nhắc tới mày có vẻ tha thiết lắm, lo cho mày lắm và lần đầu nàng hỏi tao anh Nguyên còn hay mất với hàng lệ rưng rưng. Tao biết nàng yêu mày ghê lắm, nhưng dường như bây giơ nàng đã có bồ Mỹ.
–           Sao mày biết? Bộ Duyên chưa có chồng khi ở Việt Nam sao ?
–           Gần 60 mươi rồi mà nàng còn độc thân, qua Mỹ mới có bồ, lại là bồ Mỹ…! Tao tới thăm mấy lần. Nó yêu mày, nhưng tao biết là nó sẽ không bỏ thằng Mỹ để theo mày?
–           Tại sao? Nhưng cũng muộn rồi…! Tao cũng tìm Duyên mấy năm trên đất Mỹ, khi tao nghe tin nằng đã qua 1985.
–           Đúng, Duyên vượt biển qua với mấy anh em…! Sao mày biết ?
–           Thì bé Kim ở gần nhà tao cho tao hay, nhưng sau đó tao không liên lạc được với bé Kim này nữa…! Nhưng tại sao Duyên chấp nhận có bồ Mỹ ?
Châu lắc đầu và trả lời.
–           Tao không đi sâu vào chi tiết gia đình Duyên, nhưng theo tao nghĩ có lẽ vì gia đình anh em nó..! Nó hy sinh..! Tao nghĩ vậy thôi…!
Tôi xót xa cho tình tôi, tình nàng mặc dù chúng tôi chẳng nói với nhau lời yêu thương và hứa hẹn nào, nhưng trong lòng chúng tôi đã tự có nhau, và tình yêu cứ thế âm thầm và len lén lớn lên trong hy vọng, nhưng hy vọng của nàng tựa như ánh sáng trên ngọn tre về chiều, và áng sáng đó đã vào đêm sau khi tôi dửng dưng bỏ nàng cắp quần áo vào nhà tập Lasan theo lời dạy của cha mẹ. Tình yêu của chúng tôi đến rồi đi như chiếc lá xuôi dòng nưóc đang chảy ra biển chẳng bao giờ quay lại cội nguồn, và mất hút trong giông bão đời người.
Tôi cúi đầu nghĩ tới những kỷ niện xưa và đọc cho Châu nghe bài thơ ngày cũ Diễm Diễm đã tặng tôi, trong khi Châu vỗ vai tôi.
–           Thôi Nguyên à! Tất cả đều là số mệnh, nên quên đi! Mày và tao chỉ còn nửa đời để sống thôi..Xứ lạ này đã làm chúng mình buồn nhiều rồi…! Mang vào lòng chuyện tình buồn làm chi nữa cho khổ thân.
–           Ừ, tao cố quên…! Và sẽ cưới Mỹ Thanh để gởi gấm thân già. May ra đời tao được yên và thầy mẹ tao vui ở cuối đời.
 
 ************************
 
Tiệc cưới của Tâm, người bạn già xưa đã ly dị vợ rồi lấy vợ cũng đông đảo làm tôi chật vật đi kiếm bàn số 5 như người tiếp viên đã nói, bỗng Châu đứng sau vỗ vai.
–           Nguyên mày cũng xuống à..?
Tôi quay lại nhìn Châu gật đầu.
–           Nó gởi Châu mời thì tao phải xuống thôi, bạn bè mà, bỏ nó thì thương, mà vương vào nó thì tội cho mình!
     Thằng quỉ này đào hoa từ thủa mới sinh…!
–           Mày đi một mình?
–           Ừ, tao đi một mình, Mỹ Thanh ở nhà, vì nàng không quen vào những chỗ đông nguời.
–           Mẹ kiếp, tao thấy mày có phươc đó..! Mỹ Thanh hiền và đảm đang quá …! Nàng lo cho mày nhiều hơn là mày lo cho nàng..
–           Phước hay họa tao đều không màng tới. Thân tao 12 bến nước trong nhờ đục chịu. Tình đầu hay tình cuối cũng thế thôi…! Đời tao lận đận về tình nhiều chứ không lận đận công danh..!
Châu nháy mắt và ra dấu cho tôi quay về hướng phải của hắn rồi nói.
–           Mày nhìn qua bàn bên phải của tao xem có ai ngồi đó hay không? Tao và mày sẽ vào bàn đó. Tao biết mày sẽ đi một mình nên bảo thằng Tâm xếp chỗ cho mày và tao.  
Tôi vừa đưa mắt nhìn vào bàn mà Châu chỉ, mắt tôi đã đập ngay vào sóng mắt của Diễm Diễm, nàng đã nhìn và quan sát tôi tự bao giờ tôi không hay. Tôi ngỡ ngàng ngó nàng, và biết nàng xúc động khi hai sóng mắt hai đứa vừa chạm nhau. Diễm Diễm của tôi bây giờ ngồi đó, nàng nhìn tôi bằng đôi mắt buồn vời vợi trong nỗi mừng cho tôi đã thoát khỏi Việt Nam và an bình cuộc sống nơi xứ lạ. Tuy nhiên ánh mắt buồn của nàng chợt thoáng nét vui trên gương mặt rồi mất hút sau đó trả lại sự yên lặng xa xăm. Nàng rất gần tôi vai sát vai trong tư thế ghế ngồi sát chật của buổi tiệc đông người, nhưng thật sự đã thật xa, và tôi cũng thật sự biết rằng sau sự bất ngờ gặp lại hôm nay tôi sẽ mất nàng vĩnh viễn, tôi cố giữ bình tĩnh gật đầu chào nàng, sau đó ghé tai Châu:
–           Sao Duyên ở đây? Tao tìm nàng mấy chục năm…!
–           Mày hay thật..! Mấy chục năm xa nhau mà tụi mày còn nhận ra nhau, tao phục tụi mày..!
–           Duyên nhận ra tao?
–           Duyên nhận ra mày vì nụ cười khi mày đang chào hỏi bạn bề từ xa và mày trong khi mày đang đi tìm bàn và chỉ mày cho tao hay. Tao giả vờ nói  Không phải mày, nhưng nàng nhất quyết là mày. Tao có nói với Duyên là mày từ San Jose xuống. Nàng ngạc nhiên và mừng rỡ nhưng sau đó yên lặng và tao hiểu được sự yên lặng đó.
–           Vì thằng Mỹ gồi bên cạnh đó phải không.
–           Tao không biết..! nhưng cũng có thể đúng… ! Châu trả lời.
 
Tối ngồi bên cạnh Duyên như Châu cố dàn cảnh, và bắt tay mọi người trong bàn như phép lich sự xã giao, khi bắt tay Duyên tôi thấy bàn tay nàng run run và dường như nàng muốn nắm chặt lấy tay tôi, nhưng đôi mắt nàng thì thực sự đã chạy trốn.Tôi biết tôi đã mất nàng và chính tôi cũng chẳng còn gì để nói với nàng. Tôi cúi đầu hỏi nhỏ :
–           Diễm Diễm, John là chồng em?
Mắt Diễm Diễm chợt ngước lên nhìn tôi với nét buồn vội hiện trên mi, nàng nói nhỏ.
–           Phải, Chồng em..! Nhưng nó ghen lắm..! Anh đừng nói gì về chuyện chúng mình nghe…! Em muốn yên thân lỡ rồi anh…!
Tôi cười và nói với nàng bằng tiếng anh, vì tôi có hậu ý cho John biết chúng tôi chỉ là bạn.
–           Tóc đã bạc rồi còn gì đâu mà nói…! Chúc mừng cho Diễm Diễm, như vậy là anh yên lòng rồi. Mong John và Diễm Diễm, hai người luôn hạnh phúc.
–           Ủa, tại sao mày gọi Duyên là Diêm Diễm? Châu ngạc nhiên hỏi tôi.
–           Thì anh Nguyên ngày xưa đặt cho Duyên cái tên là Diễm Diễm để anh gọi cho riêng anh, Duyên tưởng là anh Nguyên đã thật sự quên, nhưng anh vẫn còn nhớ.  Anh Nguyên à, – you are bad boy…!
 
Tôi nhìn Diễm Diễm yên lặng gật đầu với nàng như ngụ ý tôi hiểu nàng muốn nói gì qua câu nói bằng tiếng Anh, mà ngày xưa nàng đã nói với tôi như một ngầm ý nhớ lại yêu thương thời tuổi dại mà chỉ nàng và tôi hiểu. Tôi bật cười thành tiếng, nâng ly rượu và cụng ly với mọi người. Tôi uống một hơi cạn ly như nuốt cả nỗi cay đắng vào lòng, sau đó tôi nói bâng quơ cho mọi người trong bàn nghe, nhưng tôi biết Diễm Diễm hiểu ý tôi muốn nói gì với nàng:
–           Đúng, tôi vẫn nhớ những kỷ niệm tình nghĩa bạn bè
 suốt một đời, gói ghém những yêu thương dấu kín trong lòng, đau xót vận nước ngả nghiêng, và nửa đời vương vào phận lưu vong.
Những gì chúng mình tưởng rằng đã nắm trọn trong tay thì nó đã tự động mất đi bản thể và trở lại con số không to lớn.
Khi nhận thức được sự thiếu xót mất mát, chúng ta lại phải làm lại từ đầu.
Người tình và quê hương là hai nóm nợ phải trả, tuy nhiên tình có kẻ cố quên để làm lại từ đầu, nhưng quê hương chúng ta đã bỏ lại đang đau khổ bên kia bờ đại đương, và bây giờ nhìn lại với nỗi gậm nhấm tâm tư chưa hàn gắn không thể bỏ được.
Một ngày nào đó những người Việt nội, ngoại sẽ qui tụ lại lập một Diên Hồng mới, sẽ lật từng trang sách, bóc từng viên gạch cũ nát của thời cuộc đã bị mục vỡ, để thay vào bằng một sự bắt đầu cho nền móng tự do trong yêu thương tự cường, và tình tự dân tộc, mà chúng ta đã chẳng đặng đừng hay vô tình chợt nhận thấy tất cả đã vuột khỏi tầm tay.
Tình yêu đành dấu kín, quê hương nhất định phải ôm
lấy như ôm mẹ…!
 
XIN MỘT ĐỜI DẤU KÍN
N.S. Lynh Phương phổ nhạc : Hương Diễm Tình
 
Bốn mươi lăm năm gói tình kỷ niệm
Lòng giữ hoài mái tóc ủ mộng mơ
Tà áo xanh như bướm đùa với gió
Trên lối về theo gót nhỏ tặng thơ
 
Em có nhớ anh trao em cành phượng
Hoa đỏ tươi màu giọt máu rung rinh
Tặng em đó lời dấu yêu thầm kín
Chiều nắng hồng, giọt nắng ấm lung linh
 
Mang nghiệp lính gót giầy lê phố thị
Tìm em hoài trong biển nhớ đông người
Đã nhiều lần anh về con đường cũ
Mưa gọi sầu, tình bão nổi chơi vơi.
 
Sau chiến loạn anh phiêu bồng du tử
Đời xứ người nửa kiếp lạc biển khơi…!
Vẫn nhớ em tóc dài duyên răng khểnh
Cành phượng hồng ôm kỷ niệm không lời…
 
Chợt gặp em trong tiệc hồng bạn cũ
Thoáng tiếng lòng réo gọi buổi xa xưa
Tiếng hiên mưa như đêm sầu Ô Thước
Nhìn theo em gót lạnh bước trong mưa.
 
Em đã xa một đời không trở lại
Ôm dấu yêu anh đợi bến sông Tương
Mong dấu kín nhưng lòng chưa khép lại
Cuộc tình buồn đời len lén sầu vương…
 
Đời đã thế mong em tròn hạnh phúc
Chẳng còn gì hai đứa đã hai nơi..!
Tình còn đó nhớ tên xin đừng nhắc
Mưa đêm nay như tiễn biệt một đời.
 
Tặng Diễm Diễm  
 San Jose July 21, 2006             
 



Những dòng thơ Phổ nhạc của Thi sĩ Song Linh

 

Xin click vào hình để xem Video thơ nhạc của thi sĩ Song Linh
"Song Linh & Những Tình Khúc"

 

Xin quí vị click vào hình để nghe nhạc phổ thơ Song Linh

           
Click vào HỎI TÌNH TRĂM NĂM để nghe nhạc
phỏ thơ của Song Linh, Hồ Đắc Thiếu Anh,
Nguyên Phương và Nguyễn Thị Khánh Minh.

——————————————————————————————————————————————-

 

 

    "Tình" Trong thơ Song Linh. 

 

      Song Linh là một H.O. Song Linh bắt đầu làm thơ khi anh còn trẻ, năm 1959.
      Năm 1975, Anh cũng như mọi quân nhân khác, Phải đi tù Cộng Sản. Đến Mỹ, sau một thời gian không hoạt động, anh viết lại từ năm 1993 cho đến nay.

    Cuộc đời của anh có nhiều biến chuyển, Thế nên thơ "Tình" của anh rất đa dạng, mang tính chất chuyển biến của những cảm nhận nhạy bén của một tâm hồn nghệ sĩ, anh rất dễ súc động trước những đổi thay của hoàn cảnh đất nước, của gia đình, của người tình, cũng như rất dễ dàng rung động trước những khung cảnh nên thơ của tạo hoá.

   Chúng ta thấy bàng bạc trong thơ của anh tấm lòng người con đối với mẹ hiền :

Tôi lớn lên đạn thù, đêm trái sáng
Mắt mẹ mờ, căn dặn, tiễn con đi
Tôi ôm mẹ nước mắt chảy tràn mi
Hồn trĩu nặng… nghẹn ngào đau tiếng nấc.

   Anh, cùng như mọi người con của đất nước, bên nợ nước, bên tình nhà, xông pha trận mạc, nhưng nỗi thương nhớ mẹ hiền lúc nào cũng canh cách bên lòng :

Con sẽ về!
Hôn lên những đường nhăn vầng trán mẹ
Nói một lời: Con thương quá mẹ hiền ơi…
                                                                (Mẹ tôi)

   Có phải chăng lòng thương mẹ bao la đã len vào tiềm thức và đột nhiên anh cảm thấy tâm hồn hướng thượng, anh tìm đến của Phật để có cảm giác được gần mẹ hơn chăng ? :

Rồi từ đó áo vàng bay khắp ngả
Trên đất người, Đạo Pháp sáng niền tin
Trên cao Phật cũng đứng nhìn…
                                               (Tôi đã có thày)

     Tâm hồn Song Linh thật thà và chất phác giống như con người của anh. Anh luôn nhớ tới người vợ hiền đã tần tảo khổ cực đêm ngày, chịu khó chia xẻ những đớn dau cùng anh trong khi anh đang thụ hình ở những trại tập
trung như những nô lệ thời trung cổ…

Chỉ có em… một đời gương tiết hạnh
Tần tảo đêm ngày khổ cực không than…

Chỉ có em… một lời anh hỏi nhỏ
Kiếp luân hồi, em còn đợi anh không ???
                                                     (Chỉ có em)

     Song Linh yêu vợ cho đến kiếp sau, một tình yêu dường như tuyệt đối và thấm đượm triết thuyết luân hồi của nhà Phật.

     Thế nhưng tâm hồn nghệ sĩ thường có những mâu thuẫn không lý giải được, Anh yêu vợ vô cùng nhưng anh vẫn cứ yêu giai nhân :

Thơ của tôi, em cũng thường bắt gặp
Đốm lửa hồng in giếng mắt giai nhân
Ta đau thương nhưng vẫn rất ăn cần
Đẻ em hiểu tim ta còn tha thiết.

Lãnh vực tình yêu của anh thật phong phú, đa dạng :

Mùa thu sương mỏng bay vàng lá
Em bỏ ra đi chẳng một lời…

     Tình yêu của Song Linh mang tính nghệ sĩ phóng khoáng, phát xuất tự tâm hồn :

Xin em đừng suy tính phân vân
Cho mắt biếc trong xanh màu nước biển…

Có lẽ tình yêu trong thơ là phương thuốc nhiệm màu làm dịu đi những ray rứt của nhà thơ. Những đêm không ngủ với bao dằn vặt nội tâm qua thân phận của một kẻ lưu vong, của một chiến sĩ thất trận khi chưa được bắn viên đạn cuối cùng, và hơn nữa mang tâm sự của một tiình nhân cô đơn ngay trong cuộc đời:

Quê hương vó ngựa dập dồn
Đất chan lệ máu, môi hôngĩa từ
Quê hương mây trắng sương thu
Mẹ lên đỉnh núi thăm tù khổ sai…
        (Quê hương còn đó tâm hồn)

Hoặc :

Bàn chân mỏi xuối đời ôm bóng nắng
Quê hương cọi còm thân phận chia hai…

    Tình yêu đất nước. Quê hương, hiếu đạo, nghĩa vợ chồng đã được Song Linh đưa vào trong tác phẩm của anh, nhưng chỉ thoáng qua. Lãng vực tình yêu lứa đôi được anh đặt nặng hơn, nồng nàn hơn, âu đó cũng là tâm lý thường tình của người nghệ sĩ !

    Tình yêu là vô thường, biến thiên như một thiên hà bao la trong vũ trụ, tuy nhiên đọc thơ tình yêu thường làm người ta nhàm chán vì rất dễ trùng lắp. Tuy nhiên thơ Song Linh mang bản chất tự nhiên, không đến nỗi cầu kỳ lắm nên khiến thơ anh dễ đi vào lòng người đọc và giữ một chỗ đứng khiêm tốn nhưng vững vàng.

                                                                                                    Cao Thanh Tâm
                                                                                                    Mùa Xuân Kỷ Mão 99