Chúc Anh : Chấp nhận lẫn nhau trong cuộc sống

Chấp nhận lẫn nhau trong cuộc sống

   

            Chiến tranh lạnh giữa thế giới tư bản và thế giới cộng sản đã kéo dài hơn hai chục năm về trước, và rồi chỉ cần bốn con người ở địa vị khác nhau (ĐGH Gioan Phaolô II, Tổng Thống Ronald Reagan, Bà Thủ Tướng Thatcher, và Tổng Bí Thư Cộng Sản Gorbachov) chấp nhận cùng nhau trao đổi cái nhìn của mình về thế giới, cố gắng hiểu nhau, tha thứ cho nhau, như vậy đã đủ để làm cho khối cộng sản Đông Âu sụp đổ, và chiến tranh lạnh kết thúc.

Đây hẳn là một “kỳ công của con người, khi con người biết tìm đến nhau, thông cảm cho nhau, chấp nhận lẫn nhau để sống.

            Tuy nhiên, thật rất buồn khi còn thấy trong đời sống xã hội ngày nay, vẫn còn nhiều thứ “chiến tranh nóng…chiến tranh lạnh” ngay cả trong gia đình, đoàn thể.  Những chuyện bất đồng, tranh chấp, cằn nhằn, gấu ó, có khi đi đến chỗ làm sứt mẻ tình bạn, tổn thương tình gia đình giữa những người thân của mình.

            Hôm nay tôi xin chia sẻ một vài tư tưởng về mối tương giao của chúng ta trong xã hội, dưới khía cạnh tâm lý nhân bản.

 

Đa số con người trên trái đất, nếu không thuộc về tôn giáo này thì cũng thuộc tôn giáo khác.  Mà tất cả các tôn giáo đều răn dạy tín đồ của mình phải ăn ở làm sao cho thành người tốt, tốt với mình, tốt với người.  Chung chung, thì người ta luôn được dạy ba điều căn bản để có thể sống một cuộc đời an bình, thanh thản, hạnh phúc về tinh thần, vật  chất cũng như tình cảm.  Đó là:

 

1.  biết thương yêu nhau

                        2.  biết tha thứ cho nhau

                        3.  biết chấp nhận lẫn nhau

  

I.  BIẾT THƯƠNG YÊU NHAU

 

            Ngoài việc thương yêu chính mình (điều này khỏi cần phải nhắc), muốn được sống một cuộc đời có ý nghĩa, còn cần phải biết thương yêu những người xung quanh mình, là những người mà dù muốn dù không, mình cần phải tiếp xúc, quây quần trong cuộc sống hằng ngày.

            Có những người chỉ thích yêu thương người nào giống hệt như mình về cách sống, cách suy nghĩ, cách hành động.  Khi đã thương yêu kiểu này rồi thì nhìn thấy “trái ấu” của người ấy cũng tròn vo, mặc dù ở “hai đầu trái ấu có hai cái sừng nhọn dễ sợ!”

 

            Ai không giống mình thì cho là xấu, không ưa, chỉ trích không tiếc lời.  Thấy người ta xấu ở điểm nào đó, một  lần nào đó, thì  nhìn tất cả con người của kẻ đó chỉ  toàn thấy cái xấu thôi;  chê miết, chê trường kỳ, riết thành thói quen, nhìn mọi người xung quanh cũng thấy toàn là người xấu hết, chẳng có ai tốt lành cả, ngoại trừ mình ra.  Trong cuộc sống hằng ngày, nói ra câu nào, ở đâu, với ai, cũng chỉ thấy toàn là chê bai, ai cũng dở ẹt, cũng sai bét, chẳng ra thể thống gì cả, nhất là khi mình đã “có tuổi”, tóc đã trở thành muối tiêu, hoặc có chút ăn học, hay có chút tiền của…

Sự yêu thương kiểu đó rất nguy hiểm vì đôi khi nó dựa trên một mớ thành kiến mà ta ít khi lưu ý tới.  Vậy thành kiến là gì?

            Theo tâm lý học, thành kiến là một dạng thái hóa của sự phán đoán chủ quan đó thôi.  Khi ta nói:  “Anh Tùng khó thương quá” có nghĩa là gì?  Nếu suy nghĩ  cho kỹ, ta thấy câu này diễn tả một sự “xếp hạng”.  Chúng ta xếp chủ đề “Anh Tùng” vào hạng mà óc đã hiểu rõ là những “người khó thương”.  Vậy thì những người “khó thương” đó là như thế nào chứ?  Nguy hiểm là ở chỗ này:  Việc xếp hạng này có thể rất chủ quan, dựa trên những tiêu chuẩn cá nhân, những cảm giác không nền tảng, có khi từ bên ngoài đưa vào.  Do đó, cần phải cẩn thận, bằng không ta sẽ bị thành kiến ảnh hưởng trong những mối tương giao với người khác trong xã hội, vì ác cảm hay thiện cảm cuối cùng đều xuất thân từ thành kiến mà ra cả, do một cái nhìn rất là chủ quan, có khi độc đoán nữa là khác.

            Cũng không nên lầm lẫn “thương yêu” với “thương hại”.Khi ta thương hại một người nào đó, mặc nhiên ta đứng từ vị trí của người “có cái gì đó” đối xử với người “không có”.  Thông thường, người ta nói:  “Nhìn lên,  mình chẳng bằng ai,  mà nhìn xuống thì không ai bằng mình”.  Thật ra, nhiều khi đây chỉ là một cách để tự an ủi mình, để giúp chấp nhận số phận của mình đó thôi.

            Thế nhưng, có khi từ tư tưởng này, con người có thể đi đến thái độ “thương hại” đối với những người xấu số hơn mình.  Và nếu sự thương hại này lại được chan hòa bởi đức tin, lòng bác ái, nó sẽ dẫn đưa tới sự chia sẻ, hành động yêu thương thật sự.

            Một trong những cái “riêng tư”  mà chúng ta cảm thấy khó mà sẵn sàng chia sẻ với người khác, đó là thời giờ của chúng ta.  Nhiều người chỉ biết hát một điệp khúc trong suốt đời họ thôi: “Tôi bận việc lắm…Không thể đến được…Không thể giúp được…Tôi không có giờ…Tôi còn nhiều việc phải làm..”

 

 

II.   BIẾT THA THỨ CHO NHAU

 

            Không có lòng thương thì khó mà tha thứ cho ai được, bởi vì đã ghét người nào rồi thì có bao giờ thèm nhìn mặt nó nữa đâu?

Thấy “nó”,  nhìn cái mặt, nghe giọng nói của nó, nhìn cách đi, cách đứng là đã thấy ghét rồi.

            Như vậy làm sao mà chấp nhận cho kẻ ấy đứng chung trong cùng một tập thể với mình được?

Còn nói chi đến những người cùng sống chung dưới một mái nhà. Thoát khỏi những tổn thương do mất mát, chán nản, thất vọng, đau buồn vì tình, vì phản bội…Những khó khăn trong cuộc sống.

Làm người, ai mà chẳng có lúc lầm lỗi:  lầm lỗi mình gây nên cho kẻ khác, lầm lỗi kẻ khác gây ra cho mình, vô tình hay cố ý.  Lầm lỗi bao giờ cũng gây nên một vết thương.

Lầm lỗi cần được tha thứ, và vết thương cần được chữa lành.     Nhưng làm sao tha thứ, làm sao chữa lành? Đó là vấn đề.  Nhất là khi sự xúc phạm đến từ những người thân thương, những người mình tin tưởng, những người đáng ra phải đứng về phía mình…thì vết tương lại càng đau đớn, và sự tha thứ trở nên càng khó.

            Làm hòa quả thật không dễ chút nào:  mình có lỗi mà đi làm hòa vốn đã khó, huống chi khi người khác lỗi với mình mà mình lại phải đi bước trước!…Đây là giá rất đắt của tình thương.

            Trong cuộc sống hằng ngày, thái độ, hành động tha thứ mang tính cách quan trọng và bức thiết:  Chẳng ai thoát khỏi những tổn thương do mất mát, chán nản, thất vọng, đau buồn vì tình, vì phản bội…Những khó khăn trong cuộc sống chung đư ợc tìm thấy rất nhiều và ở khắp nơi:  những xung đột giữa vợ chồng, trong gia đình, giữa những người yêu phải chia tay, giữa chủ và thợ, giữa bạn bè, giữa láng giềng, giữa các tập thể.  Một ngày nào đó, tất cả đều cần đến sự tha thứ hầu tái lập hòa bình:  “Hãy trao ban tha thứ, bạn sẽ nhận lại hòa bình” (ĐTC Gioan Phaolo II)

           

            Trong ý niệm về tha thứ, có hai sai lầm lớn phải tránh:

            Sai lầm thứ nhất là sự tha thứ được tác động bởi sợ hãi hay thương hại.  Vladimir Jachelevich, một nhà tâm lý lỗi lạc Liên Xô, đồng hóa tha thứ với hình thức của thủ đoạn tự vệ.  Đới với ông, sự tha thứ giữa con người với nhau được điều khiển bởi sợ trả đũa và sợ bị hủy diệt lẫn nhau. Đang khi đó, triết gia Hy Lạp  Sénèque thấy trong sự “thương hại” động lực chính của tha thứ.  Ông tóm tắt tư tưởng của mình trong công thức này:  “Con hãy tha thứ cho người yếu hơn con vì thương hại nó, và con hãy tha thứ cho người mạnh hơn con vì thương hại con”.  Thật không cao thượng tí nào!

Sai lầm thứ nhì là coi tha thứ như là đặc quyền của Thượng Đế.  “Chỉ một mình Thượng Đế mới có thể tha thứ”.  Đó là công thức không để chỗ cho trách nhiệm của con người.  Người Thiên Chúa giáo thường cầu nguyện:  “Xin Cha tha tội cho chúng con như chúng con cũng thứ tha những lỗi lầm của người khác đối với chúng con.”

            Một nhà thần học trẻ tuổi, Jean Delumeau, khẳng định rằng “sự tha thứ thiết lập gạch nối giữa con người với nhau, và giữa con người với Thượng Đế”.

            Như vậy, tha thứ là một nổ lực vừa nhân bản vừa thiêng liêng, là một hợp tác không những giữa kẻ gây nên xúc phạm và người bị xúc phạm, và còn giữa con người với Thượng Đế.

            Trong lời mời gọi “hãy tha thứ”, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bàn về vài điều kiện cần được thực hiện, đó là “sự thành thật trong đối thoại, sự trưởng thành chấp nhận cá tính của mỗi người.”

 

 III.   BIẾT CHẤP NHẬN LẪN NHAU

 

            Nếu không biết thương yêu thì không bao giờ biết tha thứ. Và một khi đã không biết thương yêu, không biết tha thứ thì tất nhiên không thế nào biết chấp nhận lẫn nhau trong cuộc sống tập thể được.  

            Trong gia đình:  luôn luôn lục đục, xào xáo, cằn nhằn, gó ấu lẫn nhau, biến gia đình từ một “tổ ấm” để vợ chồng, con cái nương tựa, quây quần, sống vui vẻ, hạnh  phúc với nhau, để rồi một ngày nào đó, bùng nổ dữ dội, lắm khi lý do đưa ra chả đáng gì cả!

            Trong tổ chức đoàn thể:  chia bè, chia nhóm, nói hành, nói xấu, vu oan cho nhau, chỉ trích, bêu xấu nhau, tìm cách hạ nhục nhau, chà đạp kẻ khác xuống để mình tiến thân.  Cứ mở đài phát thanh, đọc báo chí, vào internet…thì rõ.  Như vậy làm sao tạo nên sự đoàn kết, tạo nên sức mạnh để phát triển tập thể được?  Trong tim, trong óc mình lúc nào cũng đầy tràn, chật cứng những ganh tị, hiềm khích…thì còn chỗ nào để cho tình thương, sự thông cảm, sự tha thứ, chấp nhận lẫn nhau trú ngụ được?

            Trong đời sống hằng ngày, tương quan giữa con người với con người, cần tôn trọng lẫn nhau, không nên đòi hỏi người khác phải giống y như mình, như vậy là thiếu thực tế, và ngay cả thiếu trưởng thành nữa!

            Vấn đề trọng yếu đối với cá nhân và tập thể là làm sao vừa giữ được chân tính của từng thành phần, đồng thời giúp từng cá nhân hòa nhịp với tập thể, để cá nhân có thể xem mình là “quà tặng” cho tập thể, cũng như tập thể là “quà tặng cho cá nhân”.

            Ngoài ra, sự khác biệt, tính đa dạng trong một tập thể sẽ phong phú hóa tập thể đó, và ngay cho bản thân mình, khi mình trưởng thành nhìn vào thực trạng.

            Có người cho rằng chấp nhận là một thái độ tiêu cực, ta chấp nhận vì không còn con đường nào khác.  Không hẳn như vậy.

            Trước hết, “chấp nhận chính mình” là nhận ra con người thật của mình, duy nhất, không ai thay thế được.  Một người đã được Tạo Hóa hết lòng yêu thương, và đã được tạo dựng trong yêu thương.  Một triết gia Ấn Độ, Rabbi Zusya, trước khi chết, nói với bạn bè mình rằng:  “Khi tôi chết rồi, Thượng Đế sẽ không hỏi tôi tại sao con không giống Napoléon, hoặc giống như Socrate, nhưng Ngài sẽ hỏi tôi:  “Tại sao con không giống hình ảnh con người mà ta đã tạo dựng?”  Ở đây, sự chấp nhận bản thân mình không có gì là tiêu cực cả.  Từ sự chấp nhận bản thân, ta sẽ dễ dàng chấp nhận kẻ khác hơn, vì chính họ cũng như ta là “công trình vĩ đại” của Tạo Hóa.

            Như vậy, chấp nhận hẳn là một hành động tích cực.

            Đối với gia đình, xã hội nhỏ bé gần nhất, cần chấp nhận lẫn nhau để sống.  Chúng ta luôn quan niệm rằng:  gia đình phải là tổ ấm hiệp thông, hiệp thông giữa người chồng và người vợ, giữa cha mẹ và con cái.

            Thế nhưng, trong thực tế, vì quá đề cao tự do cá nhân, nhiều lúc người ta tưởng rằng hai vợ chồng lai hai con người độc lập sống bên cạnh nhau.  Mỗi người có một công việc riêng, tài sản, xe cộ, trương mục riêng, giải trí riêng (chưa kể những cái riêng khác…)

Con cái cũng có cái thế giới và sinh hoạt riêng của chúng…Gia đình hình như bị phân mảnh.

Đây hẳn là ảnh hưởng của một xã hội mà sự riêng tư của cá nhân được xem như quan trọng hàng đầu.  Đối diện với một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt  như vậy, sự hội nhập và thích nghi (kết quả của sự chấp nhận lẫn nhau) rất cần thiết để lập “thế quân bình tâm lý”, hầu có một cái nhìn về xã hội, về gia đình tích cực hơn.

 

            Làm thế nào để lập thế quân bình vừa nói? Bằng cách thích nghi những giá trị truyền thống với hoàn cảnh mới.  Một trong những giá trị truyền thống Việt Nam, đó là tinh thần gia đình.  Gia đình có thể lập thế quân bình của mình qua những sinh hoạt chung cuối tuần, tạo bầu không khí trong những bữa cơm tối gia đình, những buổi cùng nhau mua sắm chung, những giải trí chung…Tất cả những “cái chung” này cũng như những “cái riêng” trên đây cần được tất cả thành phần trong gia đình ngồi lại, cùng nhau tìm cách thông cảm, chấp nhận thực trạng, và nhất là giúp nhau thích nghi với những cái có thể là những trở ngại nhất thời cho đời sống hiệp thông trong gia đình.

 

            Đời sống xã hội hôm nay và nơi đây rõ ràng đang thách thức chúng ta.  Trong chiều hướng đề cao “cá nhân chủ nghĩa”, xã hội này đang dạy con em chúng ta phải biết và tranh đấu cho quyền lợi của mình, dạy phải nghĩ  tới mình trước đã, nhừng nhịn là dại dột, tha thứ là hèn nhát, sống phải hưởng thụ…và dành một chỗ rất hạn hẹp cho Tình Người.

            Chúng ta nghĩ sao về sự thách thức này?                                               

 




Đông Anh : Alpha Đỏ

Alpha Ðỏ
 
(Viết cho người sinh viên sĩ quan khóa 22 TVBQGVN, Quốc Nam)
 
    Người ta thường coi Alpha là biểu tượng của khởi đầu, của tiên phong, của đứng trước. Các trường quân sự đào tạo sĩ quan cho quân lực cũng thường lấy alpha là dấu hiệu, là cấp bậc cho sinh viên sĩ quan. Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam cũng tổ chức Lễ Gắn Alpha trang trọng cho sinh viên sĩ quan đã qua kỳ sát hạch giai đoạn đầu rất gay go.
    Ca tụng đời quân ngu,ờ trong đó viết về Alpha cũng nhiều. Ðời sống quân trường là thời gian lãng mạn nhất cho những chàng trai mới xếp bút nghiên theo việc binh đao. Tuổi trẻ coi thường mọi sự cho nên tuổi trẻ rất dễ trở nên anh hùng, anh hùng cá nhân, anh hùng với đồng phái và nhất là anh hùng với người khác phái. Ðeo alpha trên vai, quần áo thẳng nếp, cử chỉ đường hoàng, đẹp trai, còn trẻ, thường dạo phố với giai nhân. Hình ảnh đó đã làm mê mệt những chàng trai chưa tốt nghiệp tú tài và làm bồn chồn bao nữ sinh trung học.
    Người ta ca tụng Alpha rất nhiều, nhưng chỉ mình Quốc Nam đã đưa Alpha lên hàng tôn giáo. Mới vào trường nhìn lên đỉnh Lâm Viên đã thấy ý chí của mình cao vời vợi. Suốt trong 8 tuần sơ khởi, mỗi khi nhìn ánh trăng lạnh lẽo nơi quân trường, nghe gió vi vu bên hồ than thở, người trai Võ Bị có những niềm mơ, mơ thấy Alpha chờn vờn trước mặt. Nhìn các khóa niên trưởng oai nghiêm trong bộ đồ dạo phố với alpha đỏ rực trên cầu vai mà náo nức lạ thường. Mai này cũng đến ta!
    Alpha của Quốc Nam là Alpha Ðỏ. Ngày xưa tôi vào trường mang Alpha Ðen. Trường lúc đó cũng có tên khác: Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt. Hai mẫu alpha để chỉ rõ sinh viên sĩ quan thuộc ngành hiện dịch hay trừ bị. Khóa 10 hiện dịch, sinh viên sĩ quan mang alpha trên nền đen có thêm huy hiêu con rồng. Khóa 4 phụ trừ bị đeo alpha trên nền đen không huy hiệu. Trống trơn. Các sinh viên sĩ quan thời ấy thường hay đùa rằng: người tình nguyện nên alpha rồng lộn, alpha trơ trụi với kẻ động viên. Alpha màu đồng vàng, thường thêu bằng chỉ kim tuyến.
    Sau này trường Ðà Lạt được đổi tên thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Alpha cũng đổi màu. Từ màu đen thành màu đỏ. Các quân trường khác vẫn giữ màu đen hoặc màu riêng quân chủng của mình.
Chương trình học của Trường Võ Bị Quốc Gia ấn định các sinh viên phải theo học 4 năm gồm cả quân sự và văn hóa để giúp cho người sĩ quan tốt nghiệp được toàn hảo về quân sự và có kiến thức. Alpha cũng theo thâm niên của sinh viên sĩ quan, Năm đầu tiên chỉ có alpha trên nền đỏ. Năm thứ hai thêm một vạch vàng nơi cuối alpha. Năm thứ ba thêm hai vạch và năm thứ tư cuối cùng thêm 3 vạch. Nhiều vạch trông nặng nề như trách nhiệm của người sinh viên chồng chất lên vai.
    Lễ gắn alpha thưởng tổ chức ban đêm nên alpha càng đượm màu huyền bí. Trong đời người sinh viên có hai lễ chính là đêm gắn alpha và ngày lễ mãn khóa. AÔnh đuốc lung linh quanh vũ đình trường, ngọn lửa hồng chập chờn trước đài tử sĩ. Hai trăm tân khóa sinh quỳ trước khán đài sẵn sàng nhận huy hiệu mới trên vai. Tiếng hô dõng dạc: “Ðứng dậy Sinh Viên Sĩ Quan”. Cầu vai mọi người đã lấp lánh alpha kim tuyến vàng trên nền đỏ. Tân khóa sinh đã trở thành sinh viên sĩ quan. Binh nghiệp mớiờ bắt đầu.
Quốc Nam thuộc khóa 22 trường Võ Bị vào cuối năm 1965. Phải có một nỗi đam mê ghê gớm, người sinh viên Quốc Nam mới có những câu thơ đầu đời Võ Bị về alpha như sau:
Ta bỏ lại đời sinh viên mộng mị
Nhìn đỉnh Lâm Viên nghiêng bóng quân trường
Alpha ơi! Màu Ðỏ đẹp vô cùng,
Chiều doanh trại nhớ về em bất tận…
    Quốc Nam yêu alpha, yêu màu đỏ cho nên qua alpha để nhớ về em bất tận. Những phút giây lãng mạn đó hình như theo bước chân chàng trai võ bị đi khắp mọi nẻo đường. Theo hết cả cuộc đời!
Ðến năm 1966 những câu thơ trong Tập Tình Ca Alpha Ðỏ nói về người yêu, về nỗi mong đợi và những cánh thư nàng gửi:
Một hồi âm một tim trần dấy động,
em về đây trang giấy trắng nguyên màu.
tháng năm dài anh vào mộng chiều sâu,
nghe tất cả chừng xuyên trời tuổi nhỏ.
Ồ! Thư em, chim sơn ca thành phố,
đến với người trai Võ Bị cô đơn.
vào từng khuya tưởng nũng nịu giận hờn
em đứng đó trăng sao nào rực rỡ,
 
    Chinh phục đỉnh Lâm Viên mà tưởng như chinh phục nàng trinh nữ. Có chế ngự Lâm Viên mới được mang alpha đỏ. Có alpha đỏ mới mong dạo phố với giai nhân.
Em sẽ mùa xuân đôi ta miên viễn.
Khi chạy vòng núi Lâm Viên một chuyến
Ta mang hình em lồng lộng gió sương.
Lời ca nào vang lên khung trời hồng,
Ta chinh phục đỉnh nữ-trinh Dalat.
    Quốc Nam viết về alpha, viết về thuở đầu đời Võ Bị, viết về đồng đội, viết cả tới quân trường. Lời thơ thiết tha mà hùng tráng, lãng mạn nhưng oai phong. Anh trải tình yêu từ thời niên thiếu, qua đời sinh viên sĩ quan đến người lính Việt Nam Cộng Hòa, từ thành phố thân yêu Ðà Lạt đến toàn đất nước quê hương. Lời thơ nào cũng mượt mà tình tứ.
 
    Năm 1988 gặp nhau ở San Jose. Quốc Nam khoe với tôi về bài thơ “Bản Thánh Ca Alpha Ðỏ” khiến tôi chợt nghĩ rằng chàng trai võ bị này đem alpha đi bốn phương trời. Thật vậy, bất cứ trong câu chuyện nào với ai thì alpha đỏ cũng được đề cập đến. Anh say mê kể về thời sinh viên sĩ quan, về quân trường, về alpha đỏ. Ra trường, anh đã ấn hành hai tập thơ liên tiếp trong hai năm: Tình Ca Lính Alpha Ðỏ (xuất bản năm 1968), Người Vào Cuộc Chiến (xuất bản năm 1969)…
    Nay tại hải ngoại, Quốc Nam hoạt động về văn hóa cũng rất thành công. Anh sáng lập ra Cơ Sở Văn Hóa Ðông Phương hay còn gọi là Dong Phuong Foundation. Năm 1987 sáng lập và tổ chức Giải Quốc Tế Tượng Vàng Việt Nam để khuyến khích và tuyển lựa ca sĩ trẻ tại hải ngoại. Năm 1991 Quốc Nam cùng ba thi sĩ Hà Thượng Nhân, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn tổ chức chương trình thơ nhạc với chủ đề Ngày Thi Ca Việt Nam tại hội trường Call Me Dragon ở San Jose. Người yêu thơ và nhạc tham dự rất đông. Nhà thơ Nguyên Sa cảm nhận sự yêu nhạc và thơ của quần chúng nên đã gọi San Jose là “Thủ Ðô Văn Hóa của Người Việt Tỵ Nạn”
Trong suốt hai mươi năm Dong Phuong Foundation đã thành công rất nhiều trên lãnh vực văn hóa. Khi di chuyển tới Seattle, tiểu bang Washington, Quốc Nam mở đài phát thanh lấy tên là Ðài Phát Thanh Sài Gòn (SRBS) nằm bên cạnh khu vườn văn hóa với tên “Công Viên Tượng Vàng Việt Nam”
    Từ Seattle mà anh đặt tên là “Cao Nguyên Tình Xanh” tiếng nói của Ðài Phát Thanh Sài Gòn véo von làm vui người tỵ nạn. Tạp chí Ðông Phương nối kết những tin tức từ bốn phương trời làm ấm kẻ lưu vong.
 
    Lại trở về Alpha Ðỏ. Alpha đỏ đã làm hãnh diện cho lớp người trẻ đầy lý tưởng, muốn đem máu xương đáp đền tổ quốc, lấy can trường trả nợ quê hương. Quốc Nam đã đưa huy hiệu sinh viên của anh trở thành bất tử. Anh thần thánh hóa biểu tượng này, từ những tầm thường trở nên thiêng liêng thần tượng. Anh đã đặt tên cho bài thơ của mình
là “Bản Thánh Ca Alpha Ðỏ”.
Ngày hội ngộ, ta thương về trường mẹ,
Cổng Nam Quan sừng sững đẹp lạ thường.
Những chàng trai Võ Bị vẫn hiên ngang,
Trong đồng phục Jaspé, Alpha Ðỏ.
Bên những tà áo màu xanh nở rộ,
Cuộc tình nào lãng mạn tới muôn năm.
Ta nhớ em, má môi hồng mỹ nhân,
Ðã cùng ta sớt chia bao kỷ niệm.
    Nhớ về trường, nhớ về em, nhớ về những lời tỏ tình từ ven đường góc phố của khung trời Ðà Lạt đầy hoa:
Phố Hòa Bình, tay đan tay mầu nhiệm,
Níu giấc thơm nồng vào cõi thiên thai.
Sáng Chủ Nhật, trời Dalat xuân phai,
Hoa mimosa mỉm cười đồng lõa.
    Gợi về kỷ niệm trong đời sống sinh viên sĩ quan, anh nhớ đến Ðồi Nam, đồi Bắc, đến hồ Than Thở, đến đỉnh Lâm Viên;
Khi trở lại quân trường rèn cung kiếm,
Súng ta ôm trên Ðồi Bắc
Nhớ em.‘ Công Chúa Mimosa’ thầm gọi tên,
    Chàng sinh viên sĩ quan quân phục Jaspé, dạo phố mùa đông, leo dốc nhà thờ để cầu nguyện cho mình sớm đẹp đôi:
Hồ Xuân Hương trải màu sương khói tỏa,
Ta dìu em lên dốc phố Giáo Ðường.
Qùy bên nhau, đôi ta khấn nguyện rằng:
“Xin Thiên Chúa cho duyên mình bền chặt”.
Lời thánh ca rót vào tình chân thật,
Ta yêu em bằng trái tim thanh tân.
Alpha Ðỏ là sính lễ chứng nhân,
Trăm năm vẫn không nhạt nhòa tận hiến.
    Tình em với tình alpha tận hiến. Nghe mà lãng mạn vô chừng. Nghe mà thấy cả trăm năm!
Vận nước đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Có những alpha xưa đang lầm lũi tại quê nhà. Có những alpha đang nổi trôi trên xứ lạ. Alpha trên nền đỏ tưởng rằng đi vào chốn lãng quên. Bốn chục năm sau, nàng vẫn không quên. Bài thánh ca alpha đỏ đi vào đoạn cuối:
Ta nhận tin em phía Ðại Tây Dương.
Hơn 40 năm xa cách muôn trùng,
Em email “vẫn yêu anh suốt kiếp”.
Trời Tây Bắc, ta lên cơn đồng thiếp,
Bản thánh ca Alpha Ðỏ rộn ràng,
Bỗng sống dậy trong tim ta mênh mang,
Những hò hẹn đêm Cao Nguyên huyền diệu.
Nhớ em đã cùng bên ta, vũ điệu,
Mối tình đầu nào ngờ chỉ mộng mơ.
Em thì thầm yêu màu Ðỏ Alpha,
Quỳ bên nhau giáo đường cao Thánh Giá.
    Bốn chục năm cuộc đời chia nhiều nhánh. Nhánh Nam, nhánh Bắc. Khi lạc lõng quê người cũng nhánh Ðông nhánh Tây. Nghĩ đến nhau mà khó sống gần nhau. Hãy an phận cho cuộc đời để giữ gìn tình cảm đến muôn năm:
Nhưng em ơi! Ðôi ta đâu còn nữa,
Tuổi trẻ xuân xanh đã bay mất rồi.
Hãy ngậm ngùi tưởng niệm cuộc chia phôi,
Là hành trang vào đời, cơn bão nổi.
Cuộc thế có đổi thay, tình ta có xa cách nhưng những kỷ niệm xưa vẫn còn đó, vẫn không hề thay đổi mà cũng chẳng cách xa. Alpha Ðỏ vẫn là bản thánh ca bất diệt:
Cho dù vậy, bản thánh ca bất diệt
‘Alpha Ðỏ’ vẫn vang vọng trong tâm.
 
    Người sinh viên sĩ quan khòa 22 trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Quốc Nam, vẫn đem chí hướng của mình đi quảng bá bốn phương. Ngày xưa nơi vũ đình trường trong ngày mãn khóa, bốn mũi tên bay bốn phương trời như chí tang bồng hồ thỉ. Người sĩ quan Võ Bị luôn nuôi chí hiên ngang, không nề nguy khốn, không màng hiển vinh. Trên mọi môi trường, trong mọi hoàn cảnh thì alpha vẫn là niềm tin và giữ vững niềm tin cho con người có lúc yếu mềm.
 
Ðông Anh



Võ Thị Tuyết : Tại Anh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                     Mùa Đông Buồn
 

Lại đến mùa Đông em nhớ anh
Thuở xưa anh thích áo màu xanh
Đã bao hò hẹn…bao nhung nhớ,
Hai đứa cùng mơ kết mộng lành.

Đông về buồn tựa áng mây bay,                                   
Mưa ướt đường xưa phủ dáng gầy.
Sao bỗng chia ly người mổi ngả?
Phương trời có nhớ cuộc tình say?

Ngày ấy anh đi chẳng thiết tha
Đã quên thề hẹn của ngày qua
Xa nhau biết có còn thương nhớ…
Em vẫn chờ anh…với xót xa.

Đông về nơi ấy có buồn không?
Có ép trong tim những cánh hồng?
Có giữ những trang tình nhạc cũ,

Trao về em cả khúc tình nồng

Tuyết trắng bay bay lạnh buốt đời.

Nhớ người năm cũ lệ buồn rơi
Tình thư còn đó người đâu nữa,
Người biết hay chăng đã một thời…
 
Võ thị Tuyết
(Cho một người ở Biên Hòa)
9/29/2009

 

 

 

 

 

Xuân nầy con chưa về

 
 

Mười năm xa xứ chưa về
Xe hoa một chuyến lìa quê bao ngày
Mẹ giờ ánh mắt hao gầy
Nuôi con mòn mỏi dạn dầy gió sương
 
Bàn tay mẹ dắt đến trường

Vẫn tràn hơi ấm tình thương nhớ hoài
Khó khăn một gánh lệch vai
Nuôi con khôn lớn hình hài ơn sâu
 
Gác tay thao thức đêm thâu
Nhớ về quê mẹ bạc đầu bóng đêm
Ru con tiếng hát êm đềm 
Ngọt ngào tiếng mẹ bên thềm chứa chan

 

Đông tàn mai nở xuân sang   

Đóa hoa muôn sắc kính dâng mẹ hiền

Xuân này xa xứ triền miên   

Con không về được trái tim lặng sầu
 
Võ thị Tuyết
Cây Chàm (Biên Hòa)
Thương nhớ về mẹ hiền 1974  

 
 

     

 

 

 

 

 

 

ANH ƠI 

  SAO EM NỠ VỘi LẤY CHỒNG 

 

   

Cho Người Tình Lỡ
 

Theo chồng chút phận đành mang
Anh về bên ấy cưới nàng đẹp duyên,
Nhớ chi để lụy để phiền cho nhau?
Tình đầu đành hẹn kiếp sau
Kiếp này chỉ để nhớ nhau trọn đời,
Tình mình dang dở nhớ hoài năm canh
Đêm đêm ôm giấc mộng tình
Giật mình trở giấc nhớ anh bồi hồi,
Nợ anh em nguyện trọn đời không quên
Tình mình nếu có nợ duyên
Em xin đền đáp trọn nguyền ước xưa,

Kiều Oanh Trịnh, tặng Võ thị Tuyết qua bài thơ   

"Sao em nỡ vội lấy chồng"VA, August 1, 2009

  

 

Nhung Nhớ

 

Ngập ngừng bước chân anh

Từ Bến Tre anh đến

Gặp em anh trìu mến

Anh lạc lối tìm vào

 

Gởi tình anh xôn xao

Như những trận mưa rào

Rộn ràng tìm bóng mát

Trao em nụ hôn yêu

 

Em ơi còn nhớ không?

Lời tình anh viết vội

Ép lá thư trong sách

Trao em cánh thư tình

 

Đón đưa em suốt buổi

Hò hẹn vạn lời thề

Gót hài thêu em bước

Nhè nhẹ bàn chân êm

 

Nhưng chinh chiến nổi lên

Đường tình chia đôi ngả

Em cố tìm lãng quên

Lại càng nhớ anh nhiều

 

Đồng Nai thật cô liêu

Sóng nhấp nhô buồn phiền

Tìm anh mà chẳng thấy

Chỉ thấy lòng triền miên

 

Biên Hòa em trở lại

Người xưa xa mất rồi

Giọt châu rơi lả tả

Bến cũ ngày xa xưa

 

Anh ơi đã bao mùa

Xuân, Hè, Thu Đông đến

Bốn mươi năm lỗi hẹn

Tình mịt mờ thiên thu…..

 

Tặng Võ thị Tuyết qua bài Bến Tre-Biên Hòa

Lê Kim Oanh–July 26, 2009

 

 

 

NHỚ VỀ BIÊN HÒA  (BIÊN HÒA NGÀY CŨ) 

 

Chiều nay về lại Tân Thành

Đường Nguyển Hửu Cảnh cây xanh thuở nào

Đồng Nai bến cũ còn đâu

Cây Chàm hẻm nhỏ lối vào nhà em

 

Bên Cầu Mát đếm sao đêm

Gió xao xuyến lượn công viên hữu tình

Bồng bềnh dòng nước lặng thinh

Mấy mươi năm vẫn đắm mình nhớ xưa 

 

Phượng nghiêng cành đỏ hương đưa

Tân Triều xóm bưởi, hàng dừa Cù Lao

Chợ Đồn vẫn mướt hàng cau

Nhớ về thăm lại Hãng Dầu ngày qua

 

Biên Hùng nhớ buổi hẹn hò

Tan trường đưa đón  bến đò  cầm tay

Cầu Gành sóng nước ngất ngây

Em nghiêng tà áo trắng ngày xa xưa

 

Bửu Long vẵng tiếng chuông chùa

Khói lam lơ lửng người chưa trở về

Hóa An vương vấn câu thề

Tân Uyên trở lại chim quê gọi tình

 

Tân Mai, Tam Hiệp, Long Thành

Chôm chôm, điều, khóm ngọt lành trái thơm 

Bình Hòa ghé lại một hôm

Thăm người bạn cũ mỏi mòn nhớ mong

 

Con đường phố nhỏ dòng sông

Biên Hòa tỉnh lẻ mãi trong tim mình

 

Võ thị Tuyết

7/7/2009

 

 

BIÊN-HÒA NGÀY THÁNG CŨ

 

 

Em về đây một buổi chiều

Gió hiền hoà thổi cánh diều tung bay

Qua khu phố chợ Đồng Nai

Bước qua xóm nhỏ, lối vào nhà em

 

Sông Đồng gió mát triền miên

Nhớ ngày hai đứa chúng mình sánh vai

Ngả đầu đôi mái tóc mây

Thì thầm anh bảo nhớ hoài nghe em?

 

Cổng trường giọt nắng êm đềm

Phượng hồng xác đỏ bên thềm tả tơi

Bềnh bồng tà áo khắp nơi

Đạp xe xuống phố ghé nơi Biên Hùng

 

Hàng cây trứng cá mênh mông

Qua đường Hưng Đạo, ngược dòng thời gian

Đi lên mãi tận phi trường

Cổng vào ghi lại chút hương tơ lòng

 

Em về tìm bóng cố nhân

Tìm anh khắp nẻo, phố phường Cù Lao

Bửu Long, Châu Thới non cao

Bóng anh biền biệt, trăng sao xa vời

 

Anh đi ngàn dặm xa xôi

Em về ôn lại một thời đón đưa

Xa xa vọng tiếng chuông chùa

Ngàn mây lơ lửng, gió lùa khe song

 

Nhớ anh, khép kín trong lòng

Tình riêng em gửi tiếng lòng yêu ai!

 

 Kiều Oanh Trịnh, (cựu nử sinh NQ)

tặng VTT vì bài thơ "NHỚ BIÊN HÒA”

July 16/2009

 

 Bốn mươi năm trôi qua

 
 
Anh đến từ Bến Tre
Gặp em cơn mưa hè
Tình yêu anh dành hết
Nồng cháy lẫn đam mê
 
Mỗi ngày anh đón đợi
Lòng xao xuyến một thời
Thư tình kẹp trong sách
Ngày xưa cũ xa vời
 
 
Chờ anh buổi hẹn hò
Yêu anh từ dạo đó
Gửi em bản nhạc tình
Hai đứa lạc vào mơ
 
Anh mong ngày chung lối
Sẽ có nhau trong đời
Nhưng ngờ đâu giông bảo
Không còn chiều mong đợi 
                                                 
Vì ai giọt lệ dài
Lăn đường tình chia đôi
Lời anh xưa nhớ mãi
Cuộc đời lắm chông gai
 
Bốn mươi năm trôi qua
Hương tình chưa phai nhòa
Biên Hòa em về lại
Hẻm cũ bóng người xa  
 
Bến hẹn xưa bơ vơ
Con sóng đau vật vờ
Một mình em đơn độc
Giọt lệ thấm vần thơ
 
 
Võ thị Tuyết
6/27/2009

NHỚ NHỮNG CHIỀU SAIGON HÒ HẸN

Saigon ơi, xa rồi ta vẫn nhớ

Những chiều xưa hai đứa lén hẹn hò!

Nhưng phút chốc đời chia ta đôi ngả
Kẻ đầu sông hoài vọng cuối sông mơ.

Nhớ xuân xưa hai đứa cùng bẻn lẻn,
Thật dại khờ đâu biết trước ngày mai
Em bỏ lại mối tình đầu ngây dại,
Đò sang sông, sóng lòng cũng dâng đầy!

 

Mấy mươi năm vẫn còn xanh nỗi nhớ
Đã tưởng mình quên hết chuyện ngày xưa!
Anh có biết? Thời gian chưa xóa hết,
Chín mùi thêm kỷ niệm của tình thơ!
     

Võ thị Tuyết (Biên Hòa) 

Sài Gòn , Xuân 2009  




PHẠM THÁI NGUYỄN NGỌC TÂN GIỮA NHÀ VĂN NHÀ BÁO VÀ NHÀ CÁCH MẠNG

 

Bảy Bốp Phạm Thái là bút danh của nhà cách mạng Nguyễn Ngọc Tân một lãnh tụ Đảng Tân Đai Việt. Theo tiết lô của Bảy Bốp Nguyễn Ngọc Tân thì ông vào đời với giấc mộng làm nhà văn và cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông có tên Chuyện Năm Chàng Thanh Niên đã từng được giải thưởng của Tự LựcVăn Đòan năm 1944.Với văn giới Nam Bộ trước năm 1945 thì Tự Lực Văn Đòan thời đó có một hào quang văn học lớn lắm được giải thưởng Tự LựcVăn Đòan là ghê gớm chư không phải chuyện thương

Năm 1944  truyện vừa Chuyện Năm Người Thanh Niên được giải thưởng an ủi của Tự LựcVăn Đòan theo lẽ thì cùng năm đó Chuyện Năm Người Thanh Niên được nhà xuất bản Đời Nay in và phát hành nhưng vì lúc đó chiến tranh thế giới lần thứ hai đã lan tới bán đảo Đông Dương phi cơ Mỹ đã oanh tạc quân đội Nhật làm giao thông Bắc Nam bị trở ngại nên nhà xuất bản Đời Nay tạm ngưng họat động do đó tới 10 năm sau năm 1954 cuốn truyện vừa Chuyện Năm Người Thanh Niên mới được nhà xuất bản Tụ Quyết cho ra đời

Sư xuất hiện của cuốn Chuyện Năm Người Thanh Niên với tên tác giả là Phạm Thái đã khiến cho văn giới sững sờ vì không ngờ Nguyễn Ngọc Tân tác giả Chuyện Năm Người Thanh Niên lại chính là nhà báo Phạm Thái chủ bút báo Tư Quyết vì ai cũng biết Nguyễn Ngọc Tân là anh em bà con với tướng Viêt Minh Nguyễn Văn Tây tức Nguyễn Thanh Sơn. Hai người cha của Nguyễn Ngọc Tân và Nguyễn Văn Tây cùng chung một người ông và có cô em là vợ bé cưng của bí thư xứ ủy Nam Kỳ Đảng Cộng Sản Đông Dương Lê Duẩn

Bảy Bốp Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân dây mơ rễ má như vậy nhưng khi làm chủ bút tuần báo Tư Quyết của một nhánh đảng Đại Viêt do bác sĩ Nguyễn Tôn Hòan cầm đầu với sự trợ lý của Ba Xạo Nguyễn Ngọc Huy ở lại Saigon năm 1964, tách rời với Nguyễn Tôn Hoàn và thành lập Tân Đại Việt cùng với Nguyễn Ngọc Tân. Thì ’’hạ’’ bọn Cộng Sản Đông Dương sát ván

Bảy Bốp viết báo móc lò thiên hạ dữ quá bị mật vụ của bác sĩ Trần Kim Tuyến rượt chịu không nổi phải lưu vong sang đất Chùa Tháp

Lên Nam Vang Bảy Bóp vừa viết báo tiếng Tây lẫn tiếng Viêt để mưu sinh, Bầy Bốp kiếm ăn bằng nghề viết báo ở quê người chính là nhờ ông có giọng văn chọc quê tức cười và giọng móc lò thiên hạ thâm thúy

Theo sự tiết lộ của Bảy Bốp thì ông mê viết văn nhưng lại cứ bị tổ chức phân công phải viết báo do đó trở thành nhà báo bất đắc dĩ

Khi mới lưu vong ở Nam Vang về Phạm Thái đang thai nghén một cuốn tiểu thuyết mới viết được mấy chương thì tổ chức lại phân công là Tổng Gíám Đốc Tổng Nha Bình Định Nông Thôn.Tới khi bác sĩ Nguyễn Tôn Hòan và Ba Xạo Nguyễn Ngọc Huy phải lưu vong. Phạm Thái tưởng có thì giờ viết tiểu thuyết nào ngờ Đảng phân công Phạm Thái phải thay mặt bác sĩ Nguyễn Tôn Hòan và tiến sĩ Nguyễn Ngọc Huy cùng anh em điều phối họat động của tổ chức

Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 Bảy Bốp Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân không trình diện đi học tập cải tạo rút vào bí mật hoạt động tưởng rằng có thì giờ viết nhưng cuôc sống bị rượt đuổi đã không cho phép Phạm Thái cầm bút.Thế rồi Bảy Bốp Phạm Thai Nguyễn Ngọc Tân bị bắt xuốt cả năm phải viết tư khai thành ra rất ngán cầm bút

Ra tù cải tạo đứng ngồi không yên gặp Viêt Huy Nguyễn Đình Huy và Đồng Tuy rủ làp Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc Xây Dựng Dân Chủ lại đi tù nữa

Hết tù về nhà định viết hồi ký nhưng viết chưa được bao nhiêu thì bệnh rồi qua đới thành ra Bảy Bốp Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân trở thành nhà văn chỉ có độc nhất một tác phẩm đó là cuốn truyện vừa Chuỵện Năm Người Thanh Niên

Hồi sinh thời nhà văn Nguyễn Đức Qùynh thường nói với tôi tác giả Chuyện Năm Người Thanh Niên là một tiểu thuyết gia tầm cỡ ông xây dựng nhân vật rất tài tình văn chương trên Lê Xuyên một bậc tiếc rằng người tài như vậy lại không tiếp tục viết tiểu thuyết thành ra văn chương của chúng ta chịu một sự thiệt thòi lớn

Mỗi lần đến chơi với Lê Xuyên  ở đường Ngô Quyền Chợ Lớn tôi thường rủ Lê Xuyên lại thăm Phạm Thái hỏi anh viết hồi ký tới đâu rồi anh thừong cười rồi trả lời đầu óc lúc này lộn xộn quá cứ cầm bút là lại nhức đầu nên có viêt được gì đâu

Thế rồi Phạm Thái chết tiếp theo là Lê Xuyên cũng qua đời

Hồ Nam

 




Thơ Chưởng Môn Hà Thượng Nhân : Hóa Là Ta

Câu Đối của Hà Thượng Nhân

1-

Hơn ba triệu đồng bào bỏ nước ra đi

Quang phục quê hương còn vất vả.

 

Hàng chục ngàn hào kiệt chung lưng ở lại

Tự do chống Cộng quyết hy sinh.

 

2-

Trong cõi Viễn Đông, văn hoá cao vời, bất chấp thời gian tồn tại mãi

Trên đường hưng quốc, báo chương thực dụng, tàì năng vô luận tốt tươi hoài

Chúc Tết

 

Chúc các cụ Khang Ninh vui vẻ

Tuổi tuy già lòng trẻ muôn năm

Thong dong lúc đứng lúc nằm

Lại thương cái lạnh căm căm nước nhà

Vì quốc nạn mà ta bỏ nước

Ngoảnh nhìn về trên bước lưu vong

Bao nhiêu con cháu thành công

Dẫu cho một chút thỏa lòng tổ tiên

Nghĩ đồng loại liên miên đói khổ

Ðảng độc tài kẹp cổ lầm than

Ðến nay chưa thoát cơ hàn

Mùa xuân nghĩ lại muôn vàn thương nhau

Tuy vẫn đau, nỗi đau mất nước

Chút tiệc vui mừng trước gọi là

Quý ông lại có quý bà

Nhìn vào là biết quốc gia vững bền

Bao cay đắng nhìn lên chẳng hổ

Dù bao nhiêu nỗi khổ rồi qua

Tết về ta lại chúc ta

Chúc cho con cháu một nhà đông vui

Chúc tuổi già ngọt bùi nếm đủ

Nước tự do là rủ nhau về

Ðẹp thay một mối tình quê

Vui thay tóc bạc ngồi kề tóc xanh

Ta có cả người Thanh, người Nghệ

Ta có thêm người Huế, Sài Gòn

Dặm dài một giải núi non

Mỗi khi nhớ đến cháu con càng mừng

Hà Thượng Nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

Mừng Thọ

 

Cứ Tết đến cầu mong các Cụ

Tuổi tuy già lụ khụ, lòng xanh

Gặp nhau tấc dạ chân thành

Bỏ nhà bỏ nước, đâu đành bỏ nhau

Ta vẫn cứ trước sau như nhất

Chữ tổ tiên là rất thiêng liêng

Mùa xuân gióng trống khua chiêng

Nhắc cho con cháu giữ riềng mối xưa

Trời dù nắng dù mưa vẫn thế

Có kế nào hơn kế chân tâm

Chúc cho đừng có mê lầm

Chúc cho Cộng Sản hồi tâm hồi đầu

Chúc cả nước một câu thành đạt

Chúc trẻ già rào rạt tình thương

Chúc nhau giữ mối cương thường

Cầu mong cờ rợp quê hương từ từ

Một đời mấy bận di cư

Lưu vong ta vẫn tưởng như quê nhà

Tuy sau trước sẽ là dân Mỹ

Vẫn không quên vốn dĩ Việt Nam

Lộc trời ai lại chẳng ham

Chẳng vì một miếng trân cam mà dành

Bọn con cháu lòng thành cúng Tổ

Mong ơn trên phù hộ các ngài

Cháu con học sẽ thành tài

Cầu mong chư vị thêm vài mươi xuân

Xin cùng rót vài tuần rượu ngọt

Trước dâng lên chung một lòng thành

Chúc cho muôn sự tốt lành

An Ninh Khang Kiện sáng danh tuổi già

Hà Thượng Nhân

 

 

 

 

 

 

Tuổi Già Nhớ Quê

 

Non nước đâu rồi? Mãi tận xa!

Mây bay lờ lững nhớ quê nhà

Bỗng như trở lại thời con trẻ

Chợt thấy giờ đây tuổi lão già

Nắng vãn đầu non vàng mới nhạt

Gió lùa cuối ngõ bóng vừa qua

Trăng treo bên núi trăng già trẻ?

Có chiếu tình quê sáng mặn mà?

Đông Anh

 

Hóa Là Ta

Quay lưng tổ quốc mịt mù xa

Nước mất còn đâu dám nói nhà

Mới đó đã qua rồi tuổi trẻ

Vừa đây lại thấy sắp về già

Lưng còng mắt kém tuy chưa tới

Gậy chống chân run chắc sẽ qua

Lấy kính ra soi ngày tuổi trẻ

Tưởng ai chẳng hóa chính ta mà

Hà Thượng Nhân

 




Đọc Bài Thơ Cũ : Mưa Chiều Hời

1. Ðọc Bài Thơ Cũ "Mưa Chiều Hời"

2008-10-09 15:35:50

 

Ðầu năm 2003, bỗng dưng tôi nhận được một tập thơ trong dĩa computer của Băng Ðình gửi tới. Mở ra đọc, tôi thấy ngay một bài thơ mà tôi rất thích từ 45 năm trước, bài Mưa Chiều Hời.

Vào năm 1959 Băng Ðình và tôi cùng chung một đơn vị, Tiểu đoàn 3/12 sư đoàn 4 dã chiến, chúng tôi cùng sống trong một dãy cư xá dành cho các sĩ quan độc thân tại trường Bộ Binh Thủ Ðức vì đơn vị chúng tôi được cử về làm tiểu đoàn thao diễn và an ninh cho trường sau kỳ thao dượt Ðông Phong ở Phan Thiết.

Cứ mỗi buổi chiều, sau khi nghỉ việc và cơm chiều tại câu lạc bộ, chúng tôi ngồi trên hành lang nhìn ra đường và vũ đình trường mà nói chuyện tào lao. Thôi thì đủ thứ chuyện, hết chuyện đời đến chuyện thơ. Ðọc cho nhau nghe những vần thơ mới hình thành, bình luận cùng nhau những vần thơ xướng họa. Rất tiếc là không có giọng ngâm nên chúng tôi cứ đọc “rống” lên gây rất nhiều phiền toái cho mấy anh hàng xóm độc thân khác.

Bài Mưa Chiều Hời đã được chúng tôi đọc đi đọc lại gần như thuộc lòng. Rất tiếc cho cây quế giữa rừng. Rất cảm phục mối tình của Trần Khắc Chung với nàng công chúa cùng họ. Miền Nam sớm nắng chiều mưa, khiến thi nhân như hòa nhịp với thời tiết lạ xứ Hời mà nhớ về quê Bắc xa xăm:

Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi

Bài thơ như một bài hành khi xung trận để mở rộng biên cương. Như bài hát tả nỗi lòng cô phụ bỏ hết lại đằng sau dấn thân vào nơi gió cát xứ người. Những mưa rơi chiều Hời. Những gió bay biên địa. Những sầu muộn mong manh. Những ánh tà dương ngăn ngắt. Tất cả đã khiến cho sự hy sinh của nàng công chúa thêm thê lương, mối tình của Huyền Trân thêm ray rứt. Nhân đó tôi cũng có đôi vần ca ngợi bài thơ của BÐ ghi ở phần sau.

Năm 1990, khi liên lạc với nhau tại Mỹ, tôi hỏi lại bài thơ xưa thì được BÐ trả lời tất cả đã mất hết rồi, mất theo hành trình đốt sách của kẻ thù. Chúng tôi rất buồn, rất tiếc.

Bỗng đầu năm 2003 anh gọi điện thoại cho tôi khoe rằng đã tìm thấy bài thơ. Bài thơ này tìm lại được cũng kỳ bí như huy hiệu con Phượng Hoàng(*), biểu tượng đầu tiên của Trung Tâm Quốc Gia Ðiện Ảnh Việt Nam mà BÐ làm giám đốc khi xưa.

Nhận được bài thơ, tôi muốn chia xẻ với các bạn yêu thơ, với bằng hữu. Nhưng nếu chỉ đăng lên không thôi, e rằng không hết ý. Do vậy mới có vài lời dông dài này.

 

Ðông Anh

Tháng Tư năm 2003

 * Băng Ðình đã viết về biểu tượng Phượng Hoàng qua chuyện Phượng trong Còn Một Chút Này sắp in.

 

MƯA CHIỀU HỜI

 

Huyền Trân một sớm lìa kinh khuyết
Rượu tiễn run môi lạnh tiếng đàn
Ô Lý hai châu còn chật hẹp
Một trời Chiêm Việt mấy quan san
Gió mưa ướt nẻo Ðồ Bàn
Rưng rưng lệ đổ hai hàng máu khô
Ðá tường chìm khuất cung vua
Biết đâu lá biếc mùa thu ngả mình
Quê xưa trời có đẹp
Năm mầu mây thanh bình
Người xưa giờ có chép
Những vần thơ xinh xinh
Một đi là mãi mãi
Mưa rơi vào tâm tình
Mong chi ngày trở lại
Còn chi mộng tuổi xanh
Ðêm đêm nhầu chăn gối
Trăng úa rụng bên mành
Tay Chiêm Vương vội vã
Tình Chiêm Vương mong manh
Thân gửi ngoài biên địa
Hồn mơ về Long Thành
Có mùa xuân minh mị
Có mùa hè nắng xanh
Có mùa thu sầu muộn
Có mùa đông buồn tênh
Mộng đẹp dài canh vắng
Tay ai chuốc chén quỳnh
Tin đâu về náo nức
Chiêm Việt dứt đao binh
Phụ Vương một hẹn sầu đôi trẻ
Ô Lý hoang vu lạt chữ tình
Lịch sử thêm tươi mầu má thắm
Riêng lòng ai chết những mầm xanh
Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi
Mưa bay buồn những chiều Hời
Nhỏ thưa tiếng địch não người biệt ly
Sắc chìm hương lạt thâm khuê
Âm u đá tháp dặm về mù sương
Heo may thổi lạnh đêm trường
Xiêm y sô lệch phấn hương nhạt nhoà
Mây vẫn trôi về Bắc
Sầu chưa thôi nở hoa
Mưa lụt trời Chiêm Quốc
Tơ run trên phím ngà
Ðiệu Nam Bình ai oán
Van mùa mưa mau qua
Gấm the nào ấm được
Những chiều mưa nhớ nhà
Vó câu mờ sắc áo
Chiều dâng tím nẻo xa
Khắc Chung còn ruổi ngựa
Hồn chìm đáy ly ca
Mưa vẫn dài thương nhớ
Ngăn ngắt ánh dương tà
Huyền Trân lệ đổ tràn vai áo
Giữa gấm hoa ngồi khóc tuổi hoa
Mắt lệ mỏi mòn trông hướng cũ
Những ngày qua tiếp những ngày qua
Rừng thu sơ xác lau già
Trong sương nghe vẳng tiếng gà sang canh
Hồn khuya nhẹ gót đầu cành
Lung linh nến cháy sử tình hắt hiu

 BĂNG ÐÌNH

 

Gửi Băng Ðình, người viết Mưa Chiều Hời

 Khắc Chung rong ruổi trên lưng ngựa
Theo bóng Huyền Trân nắng chập chờn
Một mối tình si muôn dặm thẳm
Ngàn trùng gió cát lạnh mưa tuôn
Người đi về phía hoàng hôn
Ðể vầng trăng khuyết mỏi mòn kinh đô
Qua Chiêm đem mối tình hờ
Lược trâm bỏ lại ngẩn ngơ hoàng thành

Lưu lạc xứ người thân lạc bóng
Giữa rừng cây quế nghẹn chua cay
Chiều thu chợt biến thành sương phụ
Ðợi lửa lên giàn hương phấn phai
Bỗng dập dồn vó ngựa
Từ biên địa qua đây
Ðưa nàng về cố quốc
Mưa Hời quyện khói bay
Thuyền chao tình sóng vơi đầy
Lướt đi trong cõi trời mây mịt mù
Ngàn sau tình sử, áng thơ
Lung linh ánh nến đọc Mưa Chiều Hời

 

Ðông Anh Nguyễn Ðình Tạo

 

Băng Ðình

huệ thu đăng ngày 10/12/09 – 1:44 AM

huệ thu họa :

THÂN GỬI ĐẤT HỜI

Thăng Long còn mãi vầng trăng khuyết
Con sáo sang sông lỗi nhịp đàn
Ô Lý có ai thương phận gái ?
Dù cho ngàn dặm nghĩa Giang San
Người sau nếu luận, nếu bàn
Chẳng qua cũng chỉ vài hàng lệ khô
Muôn ngàn giã biệt nhà vua
Còn đâu đất mẹ mùa Thu của mình ?

Môi son vì ai đẹp ?
Thiếp đi vì hòa bình
Sử xanh rồi sẽ chép
Khi gót hài xinh xinh
Lìa quê hương đi mãi
Thiếp đâu nỡ phụ tình ?
Đường xa quay nhìn lại
Cả những hàng cây xanh
Bẽ bàng chăn với gối
Trăng xưa vẫn trước mành
Người xưa sao vội vã
Chút lòng nàng mong manh
Thiếp ra ngoài biên địa
Chàng ở lại kinh thành
Có như là mộng mị
Mây mùa Thu vẫn xanh
Trăng khuya nay đã muộn
Son phấn thấy buồn tênh

Giữa đất trời thanh vắng
Hương thơm một đóa quỳnh
Hoa quỳnh sao thơm nức
Dù không còn lửa binh
Cầm bằng chẳng có thời son trẻ
Một đi, quên được chuyện ân tình ?
Quê hương đào nở mùa Xuân thắm
Lộc nhú cành tơ lặng lẽ xanh
Chao ôi ! Nhớ quá kinh thành
Từ nay thôi chỉ một mình mình thôi
Từ nay ở nước non Hời
Bỗng nhiên mà trở thành người phân ly
Từ nay khép cửa phòng khuê
Tóc kia đến lúc trở về tuyết sương
Từ nay trên quãng đường trường
Mỉa mai phấn lạt mà hương cũng nhòa
Ai giờ trên đất Bắc ?
Vườn ngự ngạt ngào hoa
Thiếp nhớ về Tổ Quốc
Đàn lạnh trên phím ngà
Cung lại cung sầu oán
Ngày lại ngày dần qua
Làm sao mà xóa được
Hình ai nơi quê nhà ?
Lệ đêm hoen ố áo !
Mịt mùng đất nước xa
Chàng ở trên mình ngựa
Có vui gì tiếng ca ?
Có buồn chăng nỗi nhớ
Khi đối bóng trăng tà
Lạnh lùng khép lại hương đầy áo
Trời ơi ! Mới biết lụy tài hoa
Xin gửi lòng này về chốn cũ
Sầu khổ rồi đây cũng sẽ qua
Bao nhiêu tuổi tác mới già ?
Đất Hời vẫn lại tiếng gà mỗi canh
Mưa hay lệ nhỏ trên cành
Giang sơn Lãi để riêng tình hiu hiu.

Huệ Thu