Chúc Anh : Bốn Mùa Phôi Pha

BỐN MÙA PHÔI PHA

 

Bốn mùa em gánh thơ sầu

Rải “Hồ Than Thở”, bên cầu tương tư

Xuân lồng mưa gió âm u

Hạ đan màu nhớ, mây mù giăng che

Thu vàng cách trở sơn khê

Đông cài sương tuyết, đường về héo hon

Thuyền trăng, bóng nước mỏi mòn

Dáng người tri kỷ mãi còn mờ xa

Tình đầu!  Tình cuối!  phôi pha

Theo dòng suối bạc, cành hoa úa tàn

Ngờ đâu duyên kiếp bẽ bàng

Ngờ đâu anh nỡ phũ phàng bỏ em

Ánh đèn hiu hắt phố đêm

Thương em gẫy gánh, bên rèm lạnh đơn

Bờ môi đăng đắng tủi hờn.

 

Chúc Anh

Mỏng Manh Lối về

 

 

Nhớ anh em viết đôi dòng

Ngổn ngang trăm mối tơ lòng anh ơi!

Đường khuya không một bóng người

Em đi, trốn chạy ngõ đời khổ đau

Bước thầm từng bước lún sâu

Làm sao thoát khỏi biển sầu chia ly?

 

Ngày xưa mỗi phút thầm thì

Ngày nay tiếng bấc tiếng chì chát chua

Em đành chọn khúc tình thua

Ôm duyên tình lỡ..cho vừa lòng anh

 

Buồn ơi!  tình vẫn quẩn quanh

Chập chờn lối hẹn..mỏng manh lối về.

 

Chúc Anh 

Tụ Hiền Đường

 

"Quán đông chỉ thấy chúng mình nhìn nhau"

                                     TV

 

Bên dòng suối mộng chờ anh

Xuân Thu Đông Hạ lá cành luyến thương

Bốn mùa rực rỡ yêu đương

Hữu duyên tương ngộ – thiên đường trần gian

 

Đêm đêm hứng ánh trăng vàng

Em hòa mây nước điểm trang thơ chồng

Chữ "Yêu" đậm dấu mặn nồng

Chữ "Mình" lả lướt như Rồng lượn bay

 

Thủy chung một dạ đắp xây

Ngày ngày tơ sợi kết đầy hương hoa

Cầu Trời ban phúc tình ta

"Bách Niên Giai Lão" chan hòa ấm êm

 

Hoàng hôn ngả bóng êm đềm

Con đường uốn khúc tóc mềm quyện trăng.

 

Chúc Anh 

Yêu Thương

Anh là tất cả tình yêu

Nguồn thơ mộng ước sớm chiều cho em

Vương vương sầu nhớ bên rèm

Nghe chiều lá rụng quanh thềm tương tư

 

Chúc Anh

 

 

Thủy Chung

 
 
Phút chia ly!  Ôi ngậm ngùi lưu luyến
Tiễn anh đi giữa phố vắng chiều thu
Nhìn đoàn xe lăn chuyển hướng thượng du
Lòng đau thắt không gian như động
 
Mầu xe buồn tím đen chiều gió lộng
Mang anh đi mang nỗi nhớ dạ trông
Mang trái tim chung thủy thắm hương nồng
Đang rỉ máu theo vết xe khuất núi
 
Vì em, con – nén bao sầu hận tủi
Đành lặng thinh…anh ngậm đắng nuốt cay
Đành hy sinh chuốc đau khổ, tù đầy 
Cho gia đình êm xuôi giòng giông bão
 
Chốn rừng sâu anh đọa đầy tâm não
Nơi quê nhà, em sầu ngất đắng cay
Hồn lang thang mòn mỏi dáng thân gầy
Ngày đoàn tụ còn viễn vông mờ tối
 
Bao dấu yêu kỷ niệm xưa, lời nói
Em khắc sâu trong tâm khảm, chờ anh 
Bao luyến thương, âu yếm thuở đầu xanh
Em chôn kín trong tim, lòng chung thủy. 
 
Chúc Anh

Đến Bao Giờ ?
 
Không bao giờ em giận
Chỉ vương chút dỗi hờn
Em buồn anh vô kể
Để em chĩu cô đơn
 
Không bao giờ anh hỏi
Vì đâu đôi mắt hiền
Chứa khung trời xa thẳm
Cùng vạn nỗi ưu phiền
 
Không bao giờ anh thấy
Một vì sao chơ vơ
Bên góc trời hiu quạnh
Lấp lánh vẻ bơ thờ
 
Đến bao giờ? anh hiểu
Nỗi khổ sầu lòng em
Như nửa vầng trăng khuyết
Chơi vơi giữa lặng im.
 
Chúc Anh

Anh Xin Em
 
Anh xin em đừng khóc
Duyên xưa dù lỗi thề
Đôi môi mềm hương tóc
Đừng khơi nỗi đam mê
 
Anh xin em đừng nhắc
Yêu thương lời ngọt ngào
Trong yếu lòng giây khắc
Đời ta đã vội trao
 
Anh xin em đừng nhớ
Con đường xưa lối mòn
Nụ hôn chiều nắng đổ
Xây mộng thắm vàng son
 
Anh xin em đừng đến
Đừng ngả nghiêng bên rèm
Đừng buông rơi trìu mến
Đừng lả lơi gió đêm
 
Anh xin em đừng hỏi
Vì sao tình úa tàn
Đôi ta đường hai lối
Ôm nỗi sầu ly tan
 
Anh xin em đừng tiếc
Mộng xưa tình tuyệt vời
Chiều buông ngời mắt biếc
Vang bóng thời xa xôi
 
Anh xin em lần cuối
Đừng nói chỉ một đời
Yêu anh tình đắm đuối
Không bao giờ phai phôi.
 
Chúc Anh

MẸ VIỆT NAM
 
 
Tiết trời Xuân se lạnh
Con tưởng nhớ mẹ hiền
Bao Xuân buồn hiu quạnh
Mẹ đau khổ triền miên
 
Con yêu Mẹ ngút ngàn
Mẹ Việt Nam khói sương
Đời Mẹ sầu chĩu nặng
Tràn nỗi sầu tang thương
 
Đời con sống ly hương
Dân con kiếp đoạn trường
Do bọn người hung bạo
Tàn ác ngấm tủy xương
 
Lòng quặn đau sầu nát
Dõi quê hương điêu tàn
Thân Mẹ gầy héo hắt
Muôn triệu người lầm than
 
Dù phận hèn sức yếu
Con quyết sẽ vuông tròn
Nối chí hùng Trưng, Triệu
Tự Do cho nước non
 
Theo sóng biển mênh mông
Con thả hồn hoang vắng
Vào đôi tay ấm cúng!
Tình Mẹ lấp gió đông.
 
Chúc Anh

TÂM TÌNH DÂNG CHÚA
 
 
Tình Cha như núi cao vời
Như trời biển rộng muôn đời yêu con
Hồn con khao khát mỏi mòn
Hồng ân Cha ngự tim con không rời
 
Chúc Anh

QUÁN TÌNH

 

Thân tặng Ông Chủ "Quán Bốn Mùa"

 

Lời mời tha thiết, ngọt ngào

Nghe chừng như lạc động đào-thiên thai

Hẹn anh giờ Tuất ngày mai

Em mang áo lụa, đôi hài anh mua

Tặng em sinh nhật năm xưa

Em tròn mười tám, tóc vừa chấm lưng

Thoạt nhìn, anh mến..anh cưng..

Trầu cau dạm hỏi, Mẹ mừng, em vui

Vu Quy!  Lễ Cưới bao người

Thi Văn chúc tụng ngát lời ngợi khen

"Quán Bốn Mùa"…chúng mình quen.

 

Chúc Anh 

Xuân Tình

 

 

Em biết không,

Trời vừa chớm Xuân

Ngàn đóa hoa mơ

Phơi hương tuyệt diệu

Thứ bảy cuối tuần

Mây giăng mầu nhớ

Anh ngồi vẽ mộng

Họa dáng hình em

Bên sợi nắng mềm

Lung linh trước gió

Buồng tim bỡ ngỡ

Suối tóc buông rèm

Đôi mắt dịu hiền

Nụ cười thắm duyên.

 

Chúc Anh 

(viết thay một người)



VÌ SAO ?

 

Mùa Xuân

sao nắng héo gầy

sao mưa rên rỉ

sao mây nhạt mờ

sao hoàng hôn bóng hững hờ

sao tình anh mãi lững lờ xa xôi

 

Chúc Anh

 




Chinh Nguyên : Mẹ Ơi…!

 

 

http://www.vantholacviet.com/FilesUpload/File/Tac%20pham/Me%20Toi/10%20MeToi.pdf

 Xin quí vi click vào link để đọc truyện ngắn về Mẹ của tôi. 


     

Mẹ ơi…!

 

Mẹ ơi…! Mẹ đã thật đi rồi

Con cháu buồn riêng lệ mặn môi

Trăm năm một kiếp đời dâu bể

Rũ sạch hai tay… nước chảy suôi

 

Mẹ ơi…! thoáng chốc bỗng lòng đau

Vạn thủa âm dương chẳng gặp nhau

Thôi nhé mẹ đi đừng ngoảnh lại

Thế gian còn đó gánh thương sầu.

 

Con về giữa buổi nắng mai

Than ôi trời đất bỗng u hoài

Mẹ đi bỏ lại đàn con dại

Để nắng u buồn nên nắng phai

Mẹ ơi…! Xóm cũ bóng mẹ đâu
Hàng giậu hai bên lá rũ sầu
Một sáng con đi đầy mắt lệ
Nhỏ dài theo bước nhịp tim đau.

………………………………………..

Ngày Mẹ  tôi qua đời.
BanmêThuột ngày 7/01/2010.

!

Ba mươi năm lẻ vẫn mang hận lụy

 




CHÚC ANH : DÒNG SÔNG YÊU THƯƠNG

CHÚC ANH : DÒNG SÔNG YÊU THƯƠNG

Nếu tình yêu vương quyện sầu vạn khổ
Vẵn ngàn đời em một dạ thủy chung.

Dòng thơ như thế, hồn thơ như thế quyện vào nhau với tình nước, tình nhà, tình yêu bàng bạc như một dòng sông “Yêu Thương” trải dài theo tập thơ. Có những lời thơ sầu muộn, có những lời thơ như uẩn khuất một chút gì đó của một cuộc tình đã qua trong tuổi trẻ mộng mơ .

Em không thể sống thiếu tình yêu
Không thể xa anh sớm lại chiều
KHÔng thể xoá mờ tan dĩ vãng
không rời ánh mắt buồn đăm chiêu.
“Yêu”

Tình yêu như cánh vạc bay để lời thơ vút cách đuổi theo trong đêm hoang lấp lánh ánh sao như giọt lệ ngàn năm vẵn đợi để anh là tất cả:

Anh là tất cả. Tình yêu. Mộng ước
Mà hồn em vương sầu nhơ. Tương tư.
“Anh là tất cả”

Và thêm một chút xót xa :

Bao giờ tinh tú là mây
Lòng em đọan tuyệt sợi dây tơ hông
“Giay Tơ Hồng”

Tình yêu có dỗi hờn, có những đêm dài đếm canh khuya :

Trăng mộng, lầu thơ bỗng hão huyền
Hương tàn, em khóc phận thuyền quyên
Trách ai? Tơ Nguyệt không se kết
Mắt lệ nhạt nhào… lỡ mối duyên
“Vi` Đâu”

Đối với quê hương nhà thơ Chú Anh dường như đã lấy tình mẹ, công cha  gắn liền với sông núi, để nhà thơ ôm ấp cả ba trong một vòng tay bé nhỏ hận buồn xa xứ.

 

Con thầm lặng thả hồn về quê cũ
Chốn quê nghèo nhưng dòng sữ ngọt thơm
Tiếngru con thoang thoảng vọng chiều hôm
Ôi diễm phúc! ngày nay con còn mẹ.
“Tình Mẹ”

Với một hồn thơ vụt phá bốc cao can trường nhà thơ nữ Chúc Anh đã không ngại muốn làm Trưng Triệu của một thời vang danh sử sách, học làm con dân Việt nối chí xưa:

Dù phận hèn sữ yếu
Con quyết sẽ vuông tròn
Nối chí hùng Trưng, Triệu
Tự Do cho nước non.
“Mẹ Việt Nam”

Đẹp như tình Mẹ suối ngàn
Trọn đời dâng Mẹ cung đàn Yêu Thương.
“Suối Ngàn”

Quê hương như một bức tranh buồn của sự tan tác đau thương vì chiến tranh, tình cha mẹ như sông núi biển sâu, tác giả cố ôm chặt vào lòng gìn giữ, và tình yêu như giọt đắng pha chút mật ngọt đã là những súc động trong “Yêu Thương”  trong một tâm linh hướng thượng tôn giáo :

Của phù văn con dốc tâm làm phươc
Đường lợi danh không tha thiết đam mê
Từng phút giây hồn khaop khát trời quê
Mẹ Yêu dấu ! Đời con cần Tình Me.

Dòng sông nào cũng chuyên chở đầy phù sa hầu nuôi sống những đồng bằng bao quanh nó cho cây nẩy mầm và lúa xanh, cho tình người hòa nhịp chung lòng trong yêu thương…
Dòng sông “Yêu Thương” của nhà thơ Chuc Anh chắc cũng sẽ có nhiều ảnh hưởng trong lòng người đọc bởi tiếng gọi chân thực của Yêu Thương trong cuộc đời có nhiều đổi thay dau bể.

Tập thơ “Yêu Thương” chỉ vỏn vẹn hơn 200 trang, nhưng trong sự thực của Yêu Thương là cả một trời  dấu yêu ngút ngàn không dứt… !

Chinh Nguyên
Tổng Thư Ký Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt

San Jose Jan. 4, 2008




Giao Chỉ : Nhà thơ không có tác phẩm


Ghi Chú của VTLV

Vào khoảng năm 1982 một số tù cải tạo từ trại Thanh Chương Nghệ Tĩnh được chuyển về Nam. Đêm hôm đó, tháng giêng, trời rất rét, đám tù chuyển trại ngủ tập trung ngoài trời ngay bãi cỏ bên hông đền thờ Vua An Dương Vương và Mỵ Châu. Nơi này gần ga Vinh và đèo Mộ Dạ, khi xưa vua và công chúa bị quân Triệu Đà, Trọng Thủy đuổi, chạy tới đây vua phát hiện công chúa rắc lông ngỗng chỉ đường cho Trọng Thủy tìm mình nên chém đầu . Ai ngờ lọt vào quỷ kế của giặc. Giống như đám tù nhân lọt vào bẩy của Cộng Sản.

Trời trong, sương lạnh, tù nhân cứ hai người còng lại với nhau. Hà Thượng Nhân và Đông Anh bị còng chung. Nhìn sao trời nói chuyện thơ văn trong đêm tối dưới họng súng AK. Nghĩ thương cho thân phận mình và thương cho vua An Dương Vương tin người mà lầm vào quỷ kế. Thương cho công chúa Mỵ Châu đặt hết tình yêu vào kẻ manh tâm lừa phản đến nỗi bị mất đầu.

Nay nghe Văn Thơ Lạc Việt tổ chức họp mặt tân niên, thi sĩ Hà Thượng Nhân viết bài thơ để nhớ lại chuyện xưa với ngày đi tù tại Thanh Chương để tặng cho quý vị quan khách trong ngày họp mặt tân niên hoa nở.

 

Nhân Đêm Rã Ngũ và Thành Lập Hội Thơ Lạc Việt.

Hà Thượng Nhân  viết cho ngày Văn Thơ Lạc Việt họp Xuân 2010

 

Lạc Việt dựng lên từ dạo ấy

Lạc Việt khi không lại góp lời

Bình thường họa lại văn thơ cũ

Thỉnh thoảng quay sang chuyện khóc cười

Câu chuyện có nhau thêm sắc cạnh

Mỗi phương thi hữu góp thêm lời

Ngày xưa Lạc Việt ai đem nhắc

Câu chuyện ngày xưa cũ lắm rồi

Ta mang hâm lại văn chương cũ

Câu chuyện ngày xưa lại sáng ngời

Đền cổ An Dương, đêm rã ngũ

Ngày sau lưu lại mấy cơn cười

Câu chuyện nỏ thần không có nữa

Thành ra ân oán lại đôi nơi

Nước non để lại năm cùng tháng

Năm tháng tàn theo chuyện khóc cười

Mối tình thuở  ấy tuy còn trẻ

Thành Cổ Loa kia sống với đời

Lông ngỗng rắc cho chàng nhớ thiếp

Trăm năm ân ái chuyện con người

Ái ân vả lại chàng bên thiếp

Hai chữ oan gia giữa cuộc đời

Câu chuyện tình yêu đêm gió lạnh

Đông Anh cảm hứng chép thành lời

Đến nay đã mấy mùa thương nhớ

Kỷ niệm xưa nay thấy ngậm ngùi

Đoàn quân bại trận nghe tình sử

Chẳng hiểu làm sao ngất ngưởng cười

Mới biết ngàn năm còn chữ nghĩa

Ngàn năm còn chuyện nỏ thần ơi

Đêm nay gió lạnh về qua đó

Ai có ngờ đâu chuyện vẫn dài

Một chuyện ái tình gây thắc mắc

Nỏ thần ai vẫn tiếc cho ai

Văn nghệ khởi duyên từ nghiệp đó

Muôn lòng thắc mắc những hôm mai

Nghĩ xót thương cho chàng Trọng Thủy

Mà thương cô gái Việt Nam ơi

Mỵ Châu, em chỉ vì chung thủy

Nước giếng thần kia chẳng đủ vơi

Ta lại có thêm câu chuyện lạ

Tình nào cho khác được tình ai

Tình kia thật quả thua quyền lợi

Gương sáng ngàn năm sống với đời

Gương ấy muôn sau đem xét lại

Người chê, kẻ hận rối tung hoài

Bạn ta phản bội quên tình bạn

Câu chuyện đồng minh: một cuộc đời

Oan nghiệt thương cho chàng Trọng Thủy

Lại thương số mệnh của con người

Nỏ thần bị mất vì tình nghĩa

Hai chữ oan gia luống ngậm ngùi

Chuyện ấy chúng ta ngồi nghĩ lại

Ghét yêu thôi cũng chuyện con người

Con người bởi lẽ không chung thủy

Lưu lại ngàn sau một tiếng cười

Ta muốn nói nhiều nhưng chẳng nói

Khi ông đại tướng bắt binh lui

Khi ông đại tướng còn ra lệnh

Bỏ thành, giữ lấy nước non thôi

Ta chịu thua vì không tiếp vận

Ta thua vì đã quá tin người

Lòng vẫn đêm ngày cùng nhớ rõ

Chuyện tình thuở  trước mịt mờ soi

Xưa nay có mấy người thua trận

Gom góp nhau về kể chuyện chơi

Thắng bại phải chăng là nỗi nhục?

Ta còn nhau đó cũng là vui

 

Hà Thượng Nhân

Nhà thơ không có tác phẩm

GIAO CHỈ – SAN JOSE

 

Có một chàng Thi sĩ miền quê … ( Phạm Duy)

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

 

Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu hơn 15 năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của văn bút Việt Nam hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca.

Chàng thi sĩ ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (39- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Vàng của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra ……..

Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình. Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

Các anh từ khu Tư nổi tiếng về nói chuyện tại đình làng Bình Hải. Năm đó, tuổi 15 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh tham dự hát bài chữ I chữ Tờ.

Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

 

            Một đời văn nghệ.

 

Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến Trung Tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú. Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

Buồn xưa náo động mấy vần thơ…….

Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thủa xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

Do nhu cầu của Tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang cấp đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại tổng cục chiến tranh chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc

1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobil, và nhà dưỡng lão.

Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là trung tá lực lượng đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

Sau đây là bài thơ cuộc đời bằng Anh Ngữ.

DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobil Home, Nursing Home.

Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn. Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Wilow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh hiện nay là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa… “Ta từ có bạn đến giờ, lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…..”

 

Những bài thơ…

 

Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bẩy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha chiến tranh Tâm lý xuất bản.

Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

Ông đã từng viết !

“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

                        Ta viết vào trang Thơ, Tình yêu ta không mất.”

Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

                        “Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

                        Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu giao.”

Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh. Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau :

 

“ Thắp sáng muôn vì sao”

Nếu như không đau khổ. Làm sao biết căm hờn. Càng muôn trùng sóng gió. Tay chèo càng vững hơn. Chúng ta cùng có nhau. Nhìn nhau vui hớn hở. Trên luống cày khổ đau. Hoa Tự do vẫn nở Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở

Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là :

“ Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

            Nhưng có 2 bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa buồn trong trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4-75. Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

Ở ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

MƯA BUỒN LONG GIAO,

Trời có điều chi buồn ? Mà trời mưa mãi thế !

Cây cỏ có chi buồn ? Mà cỏ cây ứa lệ !

Anh nhớ em từng phút, Anh thương con từng giây.

 Chim nào không có cánh, Cánh nào không thèm bay.

                        Người nào không có lòng, Lòng nào không ngất ngây.

Gửi làm sao nỗi nhớ, Trao làm sao niềm thương.

Nhớ thương như trời đất, Trời đất vốn vô thường.

Ngày xưa chim Hồng hộc, Vượt chín tầng mây cao,

Ngày xưa khắp năm Châu, Bước chân coi nhỏ hẹp,

Bây giờ giữa Long Giao, Ngồi nghe mưa sùi sụt,

Cuộc đời như chiêm bao. Có hay không nẻo cụt,

Anh châm điếu thuốc lào, Mình say, mình say sao !!

Trại tù cải tạo Long giao 1975 HTN

Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, miền khu 4 , Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa:

 

XIN LÀM CỎ BIẾC

 

Anh cầm tay em, Bàn tay khô héo. Anh nhìn mắt em, Gió lùa lạnh lẽo. Anh nhìn lòng mình, Mùa Đông mông mênh. Cỏ non mùa Xuân, Còn vương dấu chân. Trăng non mùa Hạ, Ướt đôi vai trần. Có xa không nhỉ? Ngày xưa thật gần. Thời gian ! Thời gian! Em vẫn là em…Nụ cười rạng rỡ, Ngày nào vừa quen, Mai đưa em về, Xin làm cỏ biếc, Vương chân em đi. Xin làm giọt mưa, Mưa giầm rưng rức. Trên vai người yêu, Sàigòn! Sài Gòn! Không là quê hương,  

Mà sao mình nhớ,  Mà sao mình thương…

Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh ChươngNGHỆ TĨNH 1978

 

Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Saigon. Nhưng có ai yêu Saigon hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

Saigon Saigon, không là quê hương.

Mà sao mình nhớ, mà sao mình thương.

 

            Gửi ông bạn già.

Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi 70 Saigon tôi cũng không quen bác. Bác HO về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bảng tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó. Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

“ Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

                        Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

Năm nay bác đã ngoài 90. Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê. Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác. Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

Bác phê bình Giao Chỉ viết văn như bổ củi. Hết bó này đến bó khác. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm.

Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi. Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.

Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp : “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng : “Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh. Bác sống say say.

Bác tự hỏi lòng : “ Mình say sao ? Bác say thật rồi.

            Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời. Bác thuộc về một số rất ít.

            Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

GIAO CHỈ, SAN JOSE.




Chúc Anh : XUÂN TRỜI ÂU

                                                Thơ Ơi

                                                             Dẫu

                                                             đời

                                                             mưa

                                                             nắng

                                                             khóc

                                                             cuời

 

                                                             ta và thơ

                                                             vẫn

                                                             là

                                                             người

                                                             tình

                                                             thân

                                                             Chúc Anh
                                                          Jan. 07, 2011
                                                              3:00pm

Anh …

 

 

Ngày lẻ 13 !

biet viet gì?

 

Nguời đời

xa tránh ,

khắc truyền ghi

 

Gian truân ?

khong sợ .

lời đồn nhảm

 

Cột gót

chân mây

gửi chữ " Si " .

 

 

chúc anh

Jan. 13, 2011

                                                                                         12: 03am

XUÂN ĐỢI CHỜ

 

Yêu thơ
ta trải giấy hoa
Đón Mừng Xuân Mới
gửi ba bốn vần
Về Người
vóc dáng phong trần
Tâm hồn cao trọng :
Chữ ÂN , Chữ TÌNH

Mai , Đào
hương nụ xinh xinh
Giữa rừng hoa thắm
nép mình chờ ai
Đâu đây
vọng khúc Thiên Thai
Khơi lòng
chuỗi ngọc
ai cài xa xưa

Nhớ nhung
nói mấy cho vừa
Dòng thơ nhắn nhủ :
sao chưa trùng phùng ? (Chúc Anh)

 

Thơ em

trỗi nhạc vang lừng

Nghe như

ngàn tiếng suối trong mát đồi

Bình minh

 ửng giọt nắng rơi

Rót lòng độc giả

 bao lời pháo bông

 

Viết giùm ai

chữ mặn nồng

Ru xanh ánh mắt

tình hong mơ màng

Xuân về

lộng tiếng chim vang

Đón mừng Năm Mới

đôi hàng thơ nghiêng

Nôn nao 

    gió lượn bên thềm

Thắt lòng khăn ấm

dải duyên tơ hồng ( Trầm Vân)





Không

Không bao giờ phôi phai
Anh mãi là thần tượng
Là Ông Hoàng, thiên tướng
Là bóng mát che đời

Giữa không trung lưng trời
Theo cánh mây phiêu lãng
Đôi chim "nghèo" lang bạt
Hẹn cõi vắng bay về

Xứ người buồn lê thê
Nhớ ai, ai có thấu
Lòng sục sôi..nung nấu
Phút trùng phùng tâm giao

Bên vần thơ ngọt ngào
Hồn say ánh trăng bạc
Dập dồn dòng suối nhạc
Quên thế giới sầu miên.

chúc anh
1/25/11
9:30pm


XUÂN HỘI NGỘ

Thân gửi Quí Soeurs bạn,
Quí bạn Thiên Phước
Nhân dịp Xuân về
Trước thềm Năm Mới
Chúc Mừng quí bạn
Tình nghĩa phu thê
Tràn đầy hạnh phúc
Đẹp như Mai, Cúc
Dưới ánh Xuân nồng
Đời mãi tươi hồng
Như Đào, Lan, Cúc
Cuộc sống sung túc
Tiền của tuôn vào
Sức khỏe dồi dào
Như hoa Vạn Thọ…

Riêng Dòng Saint Paul
Quí Soeurs Cường Để
Bà Nhất , Bà Nhì
Soeur Vân, Soeur Chi,
Soeur Thu, Soeur Thương
Đầy ơn Chúa Mẹ
Thánh Cả Giuse
Saint Pierre, Saint Paul
Trọn đời tận hiến.

Chúc Anh

 

 

XUÂN NHỚ

Phố đỏ ! Xuân tàn..bước viễn phương
Chập chùng đồi núi giải phong sương
Chuông ngân tiếng vọng..hoài u uất
Thành quách ngập sầu nước nhiễu nhương

Man mác lòng ta thương nhớ ai
Chiều hôm xa vắng ngóng thôn đoài
Tà dương khuất bóng chìm phai sắc
Cung kiếm gẫy tàn lấp chí trai

Tang bồng tung cánh thỏa đam mê
Ta nguyện cùng vang một tiếng thề
Quyết chiến xua tan loài bạc nhược
Buôn dân, bán nước, bán tình quê

Ôi Ngọc Viễn Đông ! Mẹ dấu yêu
Ngàn Xuân chinh chiến dáng tiêu điều
Xứ người, con ước nguyền tô điểm
Mảnh đất quê hương nét diễm kiều.

chúc anh
(viết thay anh L.H.S.T.)

 

 

TÌNH SẦU BAO LÂU ?

Chỉ vài tiếng nữa
Sẽ qua ngày mai
Bao nhiêu sóng gió
Buồn khổ..đắng cay
Trôi vùng dĩ vãng
Như nắng chiều phai

Ta muốn hỏi ai :

Vì sao tình lỡ ?
Vì sao giận lâu
Vì sao hờ hững
Vì sao duyên đầu
     vướng vào
          ngõ tối ..

Tình sầu bao lâu ?

chúc anh
1/26/11
9:15pm



 

 

XUÂN TRỜI ÂU

(Viết tặng Hoàng , Thu

 France – Switzerland)

Xuân sắp về ! trong hoa tuyết bay
Ngập tràn khắp ngõ cõi trời tây
Mùa đông buốt giá hồn hiu quạnh
Lạc lõng, bước chùng..tay trắng tay

Chợt bỗng anh về kết dấu yêu
Họa con đường gấm ngát hương chiều
Vòng tay âu yếm mềm môi ấm
Anh khẽ thì thầm : say nét. xiêu.

Xa xứ, khó nghèo theo gót ta
Nhưng tình nồng thắm bóng đậm đà
Có anh, Xuân tuyết thành Xuân Mộng
Những cánh tim buồn bỗng nở hoa.

chúc anh
1/27/11

SẼ VỀ ĐÂU ?


 

Tặng Cẩm Thu – Suisse

Trao gửi Người dòng nhớ đậm sâu
Dù tình duyên thắm chẳng về đâu
Người âu người á..trời mây phủ
Vạn dặm, trùng dương nửa địa cầu

Thơ họa bóng chiều quyện nhớ thương
Bên kia trông ngóng lá thư hương
Bên này hong đợi ngàn cung điệu
Dòng nhạc du dương dạo phố phường

Người có nhớ đêm vạn ánh sao
Trên giòng nước bạc, sóng lao chao
Thuyền nan hai đứa cùng chèo chống
Kỷ niệm xưa..Người cất chỗ nào ?

Ta sợ nghiệt cay lắng đọng môi
Người vì chữ hiếu cách chia phôi
Se duyên tri kỷ cành hương lạ
Xóa dấu tình xưa hứa chẳng rời.

chúc anh
1/28/11

 

LƯU NIỆM
THỨ BẢY CUỐI NĂM

Thứ Bảy cuối cùng năm cũ xưa
Mừng Xuân !..tuần tới Lễ Giao Thừa
Dâng Trời Ngũ Quả muôn hương sắc
Tưởng nhớ Tổ Tiên Cúng Bánh, Dưa

Ba sáu (36) năm qua ta mất quê
Mẹ Cha khuất núi, lạc đường về
Dòng thơ gửi nhớ thương non nước
Nhớ biển-sông-hồ, nhớ chiếc ghe

Tân Mão – Xuân về dân khắp nơi
Sầu vương, gian khổ đến bao đời ?
Việt Nam nghèo đói, lòng đau buốt
Sóng đỏ tràn bờ, giọt đắng rơi

Dân Việt triền miên lắm đoạn trường
Xin Trời ban phát trọn tình thương
Việt Nam mau thoát giòng sông đỏ
Rừng Lá Cờ Vàng rợp bốn phương. 

chúc anh
1/29/11

 


 

CHỦ NHẬT CUỐI CÙNG NĂM



Cơn mưa bụi đưa ta về quá khứ
Lưu dấu ngày Chủ nhật Cuối Cùng Năm
Chú Cọp con khua tiếng chót "gầm gầm"
Ba hôm nữa : Lễ Mừng Xuân Tân Mão

Sinh năm " Khỉ " nên Canh Dần chao đảo
Ta mất đi bao dấu ái người thân
Nào Ông Cậu, Bà Bác, những ân nhân
Cả Người Mẹ ta hằng yêu thương quí

Đời mất Mẹ không còn chi thú vị
Lời thơ buồn Chủ Nhật cuối cùng năm
Ta đơn côi trong kiếp sống âm thầm
Gom tất cả gửi mây dòng tâm thức

Dù vẫn biết đời hư hư thực thực
Là vui buồn pha trộn chất đắng cay
Ta mong tìm ai hỡi chốn cung mây
Để gửi trọn giòng tâm tình lưu niệm

Chợt tiếng nhạc từ đâu như xâm chiếm
Thấm cõi hồn như khuyên nhủ – vấn an
Làn gió hương như quấn quyện cung đàn
Ôi Chủ Nhật Cuối Cùng Năm..Lưu Luyến !

Chúc Anh
Chủ nhật 30.01.2011
11:30am


 






HÙYNH VĂN THÔI : LONG THÀNH NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI THÁNG

LONG THÀNH NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI THÁNG

30 Tháng 04, 1975

Với số tuổi chẵn chò bảy bó, tôi nghỉ rằng không còn sống bao lâu nữa, nếu không kể lại chiến tích của anh em Nghĩa quân, Địa phương quân, các đơn vị tăng cường như BCH/ Tiểu đoàn ĐPQ đóng tại đình Lộc-An do Đ/úy Giàu, Tiểu đoàn phó, chỉ huy và nhất là hai khẩu 105 đặt tại sân của trại gia binh Nguyễn-hửu-Ngộ , thì e rằng tôi sẽ mang theo xuống mồ không ai được biết.Viết lại chiến tích nầy không ngoài mục đích làm dày thêm chiến công của QLVNCH trong công cuộc chiến đấu với quân CS, bão vệ Tổ-quốc, đem lại sự an ninh thịnh vượng cho đồng bào. Vì thời gian quá dài nên tên của các đơn vị có thể bị lầm lẩn, mong các chư vị bỏ qua cho và xin được mách bảo để sửa sai.

Nói đến Long-Thành mọi người đều biết đây là một trong sáu quận lỵ trù phú thuộc tỉnh Biên-Hòa, nằm trên QL.15, giữa Saigòn và Vũng-Tàu, Long-Thành có nhiều đặc sản như soài-riêng, chôm-chôm, mít tố-nữ v.v.Người dân Long- Thành hiền hòa, cần cù và nhẫn nại, chịu khó làm ăn. Long-Thành tăng phần đẹp đẽ và tráng lệ sau khi con đường QL.15 được nới rộng vào cuối thập niên 60, với 3 ấp của người Công-giáo: Thái-Lạc, Liên-kiêm-Sơn và Văn-Hải, trong đó ấp Thái-Lạc là thành trì chống cộng kiên cường với hàng rào tre bao bọc kiên cố, con chó đi qua không lọt.

Sau khi mản khóa 3/68 SQTB Thủ-Đức, đi chiến dịch Diên-Hồng ở Tiểu-khu Hậu-Nghĩa, sau được chuyển về phường Chí-Hòa, Saigòn. Hết chiến dịch được đi học khóa CTCT tại trại Nguyễn-Trải, Biệt-khu Thủ-đô. Sau đó chọn Tiểu-khu Biên-Hòa cùng với 6 tân sĩ quan khác. Một cuộc rút thăm 6 sĩ quan đi sáu Chi-khu và một phục vụ tại phòng CTCT Tiểu-khu, thăm của tôi là Chi-khu Long-Thành, ban CTCT. Chắc tôi có duyên nợ với Long-Thành nên đề nghị anh em hoán đổi, không ai chịu đổi và thời gian phục vụ của tôi từ năm 69 cho đến 75 luôn.

Tin tức chiến sự từ miền Trung bay về làm lòng người Long-Thành bất ổn, nhất là hàng ngày nhìn thấy hàng đoàn xe đò hướng về Sàigòn, chở đầy ấp người từ trong xe cho đến trên mui dân di tản từ miền Trung. Tôi bàn với bà xã là mình sẽ tử thủ khi chiến sự lan đến đây, sau thời gian ngắn cầm cự, mọi việc sẽ đươc giải quyết trên bàn hội nghị, vợ tôi cũng đồng ý như vậy. Nhưng khi thấy Tiểu-khu Long-Khánh cùng Sư-đoàn 18 di tản một phần lực lượng hướng về Bà-Rịa,

Vùng-Tàu và một phần về tái phối trí tại Long-Thành, tôi nghỉ rằng chiến sự trước sau gì sẽ tới đây, nên ngày 25/04 tôi để vợ và ba đứa con nhỏ về quê Ngoại ở Cây Chàm, Biên-Hòa.

Sáng ngày 26/04, quân CS tràn ngập ấp Bà-Ký, quốc lộ 15 bị cắt đứt, mãi đến trưa, lực lượng giải tỏa gồm TD3/45ĐPQ và Chi-khu Long-Thành đánh bật quân CS ra khỏi ấp, tái lập lại giao thông QL.15.

Cũng ngày 26/04, vợ tôi cùng đứa cháu gọi tôi bằng cậu, đi chiếc mini Vespas Ducati xuống lại Long-Thành với mục đích mang ít đồ đạc giá trị về Biên-Hòa, nhưng đến chiều mợ cháu về lại Biên-Hòa với hai bàn tay không. Sau khi vợ và cháu ra về, Đ/úy Vũ-đình-San, Trưởng ban 5 Chi-khu, đến thăm, Đ/uý San nói hiện tại ở Saigòn các cao ốc được phát quang để trực thăng đáp xuống bốc họ ra biển, còn mình ở đây tử thủ. Long-Thành là cửa ngõ sau cùng bảo vệ Thủ đô Saigòn, nếu Long-Thành mất Biên-Hòa và Saigòn sẽ mất theo. Đồng quan điểm với Đ/úy San và vì hai chữ tử thủ đã ăn sâu vào tâm não rồi nên tôi không cãm thấy nao núng. Sau khi từ biệt Đ/uý San ra về, tôi bèn leo lên trần nhà lôi những bao cát và vỉ sắt xuống, vì là nhà ở của các cố vấn Mỹ ở nên trần nhà được trang bị như vậy để chống pháo kích, bao cát đem xuống được tấn trước cửa ra vào độ hai lớp, bổng tiếng nổ đùng.. đùng.. đùng liên hồi, NQ Long, phụ việc cho nhà Th/Tá Thọ, Chi-khu Phó, chạy ngang tôi hớt hải la VC pháo kích ông ơi!. Mình mẩy đầy bụi bậm và màng nhện, tôi xối đại vài gáo nước xong vào nhà mặc quần áo, trang bị gọn gàng, ngoài cây rouleau, thêm khẩu M16 và nón sắt hai lớp có lưới cùng áo giáp. Tiếng pháo vừa lơi thì tiếng ầm ầm của chiến xa T54 đã đến chợ từ hướng Bình-Sơn, một phát súng của T54 đã làm bể tháp nước của quận, hai T54 chạy huốt qua Chi-khu, hé cửa nhìn ra, tôi thấy Tr/Tá Hà-văn-Sáu, Quận Trưởng kiêm Chi-khu Trưởng bắn vói theo hai quả M79, hai T54 chạy thẳng về hướng làng Cô-nhi Long-Thành. Hai nhân viên trực ở ban ANQĐ quận bỏ văn phòng chạy ngã sau trước nhà tôi, một trong hai người làm rớt khẩu Colt 45, quay lại nhặt trước khi leo rào qua nhà của thương gia người Ấn, tôi nghe tiếng càm ràm lơ lớ tiếng Việt của chủ nhà. Lúc đó tôi nghe tiếng kêu gọi của Tr/Tá Sáu: “ anh em đâu rồi, ra gặp tôi”. Tôi cầm súng đi ra, nhìn quanh không thấy ai ngoài tôi, Tr/Tá bèn ra lệnh “ anh Thôi ra cổng sắp xếp dùm tôi”. Tuân lệnh và khi ra đến nơi chỉ thấy vài ba NQ có mặt, vì là buổi chiều nên anh em chạy về nhà cơm nước và bị pháo dồn dập nên không dám chạy về đơn vị. Sau đó, họ lác đác chạy vào, cuối cùng cũng được chục móng lại thêm hai quân nhân của hậu cứ TD316/ĐPQ (?), Trung sĩ nhất Ngộ và một HSQ cùng vài anh em áo đen và Quận đòan Trưởng Lê-bá-Bửu.

Sau khi ổn định nhân sự xong, tôi lệnh cho anh em NQ kéo concertina và ngựa gỗ làm chướng ngại vật trước cổng Chi-khu.

Độ 7 giờ, tiếng xích của chiếc PT76 nghiến mặt đường từ từ tiến lên từ hướng chợ, khi đến gần cổng của BCH/CSQG/Quận Long-Thành dừng lại vì lựu đạn và M79 bắn xối xả của anh em phòng thủ, tôi đang ở trong bunker, nằm ngay góc Chi-khu và văn phòng ban ANQĐ/Quận, xuyên qua lỗ châu mai nhìn thấy những bóng đen lốp ngốp phía trên mui xe, tôi liền nhả đạn hai băng cong M16, những bóng đen ngả xuống vệ đường, trong ánh chớp của những quả pháo và trong ánh mắt phải tôi thấy ba bóng đen dìu nhau chạy vào văn phòng ban ANQĐ/Quận Long-Thành. Chiếc PT76 lùi về phía chợ và ẩn núp đâu đấy. Pháo vẫn tiếp tục rơi khắp nơi từ hướng Binh-Sơn, An-Viển và trại Quyết-Thắng, tôi đi một vòng quan sát mặt trước của Chi-khu, thấy anh em phòng thủ lên tinh thần sau đợt dự định vượt tuyến của chiếc tăng lội nước PT76 địch.

Đến khoảng độ hơn 8 giờ tối, hai chiếc T54 chạy huốt về hướng làng Cô-nhi Long-Thàmh, bây giờ quay trở lại, tiếng xích sắt nghiến mặt đường nghe rợn người, khi đến ngã ba hai chiếc dừng lại quan sát vì buổi chiều chúng không thấy chướng ngại vật mà bây giờ thì đầy rẩy. Thình lình chiếc đi đầu rồ máy cố vượt qua, nhưng vừa đến ngay cổng trại gia binh Nguyễn-hửu-Ngộ, những quả đạn 105 trực xạ ngay pháo tháp, các tay cán binh tùng thiết bị những binh xăng quanh pháo tháp phựt cháy như cây đuốt, té nhào xuống đường như trong cảnh cinéma, bị trúng đạn xe lảo đảo đè bẹp các concertina, lướt qua cổng Chi-khu, lực lượng phòng thủ bồi thêm và chiếc T54 dừng lại trước cổng Cảnh sát Quận, trước mắt tôi, một cán binh mở nắp xe chui ra, có lẽ là tay lái tăng, bị trái lựu đạn của tên nằm chết cháy trên bửng che dây xích nổ kết liểu đồng đội sinh bắc tử nam. Nhờ Ông Bà hộ độ nên tôi vô sự.

Chiếc thứ hai thấy vậy bèn rẻ trái hướng về phía sau chợ. Ngọn lửa còn phựt cháy sáng một góc trời, tôi nghe tiếng reo hò phấn khích của anh em phòng thủ phía sau Chi-khu.

Rất tiếc là tôi không được biết danh hiệu của hai khẩu 105 đặt tại sân của trại gia binh Nguyễn-hửu-Ngộ, trước khi có ý định kể lại câu chuyện nầy, tôi đã liên lạc vài pháo thủ ở Georgia cũng như trong ban tổ chức buổi hội ngộ hàng năm của pháo binh, đều không có kết quả. Rất mong đón nhận một vài tin tức liên quan từ các chiến hữu nhà pháo để chiến tích của hai khẩu 105 nói trên không bị quên lãng, vì nếu không có hai quả 105 trực xạ đó thì tình thế sẽ thay đổi khác và chưa chắc gì Chi-khu giữ vửng cho đến chiều ngày hôm sau.

Độ hơn nửa tiếng đồng hồ, tiếng rên la của ai đó vang lên một cách đau đớn phát ra từ bên trại Nguyễn-hửu-Ngộ, một toán lục soát được phái đi, qua đến nơi, tiếng rên im lặng nên toán lục soát trở về. Độ mười phút sau, tiếng rên la lại tiếp tục một cách dữ dội hơn trước, kỳ nầy anh em dẫn về một cán binh CS bị phỏng vì xăng và cho hắn nằm trên bực thềm của ban quân y Chi-khu không canh giữ. Tôi vào bunker nằm ngã lưng trên phản của anh em NQ phòng thủ Chi-khu, tiếng pháo có lúc lai rai, có lúc dồn dập đì đùng đâu đó xung quanh chợ và Chi-khu, sau hơn một giờ nằm nghỉ, tôi lòm còm ngồi dậy, leo lên chòi gác, quan sát khắp nơi, dưới ánh trăng thượng tuần tôi thấy ai nằm ngay cổng ra vào, tôi lên tiếng hỏi, TS1 Ngộ trả lời: cái thằng bị phỏng lợi dụng tiếng pháo dồn dập bỏ chạy, em cho nó mấy phát nên nó nằm ngay đó. Tôi lại vào bunker nghỉ tiếp, hai tiếng sau lại lò mò leo lên vọng gác quan sát và la lên hỏi, ai lại nằm dọc theo đường mương của cổng nữa đây, có tiếng trả lời của TS1 Ngộ, em thấy một tên băng qua đường từ hướng văn phòng của QCTP/Quận, trên tay cầm hai quả lựu đạn nên em cho nó vài phát. Tôi cảm thấy an tâm hơn khi có TS1 Ngộ sát cánh bên cạnh. Dưới ánh trăng lờ mờ tôi thấy một vài cảnh vật di động trên sân thượng của một nhà lầu ở bến xe Long-Thành/ Biên-Hòa, tôi liền cho vài quả M79 lên đó, nhưng nhìn kỹ lại thì ra gió đẩy đưa ngọn của những chậu cây kiểng.

Khỏang độ 3-4 giờ sáng, chợ Long-thành đã bị phát hỏa mà nguyên nhân cũng dễ hiểu do ai gây nên, ngọn lửa làm sáng rực một góc trời.

Độ 7 giờ sáng ngày hôm sau, chiếc PT.76 lần nầy quyết tâm vượt qua cổng Chi-khu nên nó chạy hết tốc lực, nhưng hỏa lực của anh em phòng thủ buộc nó dừng lại ngay cổng trước mặt tôi. Thiết kế của PT.76 cũng giống như M.113 của ta, nên khi cửa hậu vừa hé mở, tôi liền cho vào xe hai băng cong M16, cánh cửa mở toang ra, hai xác ngã đè lên nhau nằm bất động. Một HSQ truyền tin xách súng leo lên chỗ tôi đang đứng, thấy hai xác đang nằm đó liền bắn mấy phát, tôi bảo người ta đã chết rồi đừng bắn nữa. Lúc nầy Chi-khu được tăng cường trung đội 57/NQ (?) và sau đó được tăng cường thêm một đại đội/ĐPQ cùng với BCH/TĐ/347(?) do Tiểu đoàn phó Đại úy Giàu chỉ huy.

Từ chiều hôm qua cho đến bây giờ, trong bụng trống rổng không có gì để bỏ vào, tôi bèn bảo một em NQ vào nhà tôi lấy gạo nấu cơm, vợ tôi, trước khi dẫn ba đứa con về Biên-Hòa, đã chuẩn bị cho tôi một nồi thịt kho tử thủ, do đó anh em chúng tôi vững bụng.

Khỏang 9 giờ, Trung đội 57 NQ lục soát bên nhà Đ/úy Trưởng Chi ANQĐ dẫn về Chi Khu trình diện Trung Tá Chi Khu Trưởng hai tên cán binh CS, mặt còn non choẹt, Trung Tá ra lệnh đem bắn bỏ. Anh em NQ dẫn hai tên cán binh ấy ra đến cổng và ra lệnh cho chúng chạy, xong anh em bắn vói theo, một tên trúng đạn còn một tên chạy thoát. Độ hơn nửa tiếng đồng hồ sau, Trung đội Trưởng báo cho tôi biết còn một người nữa bị thương ở chân và không đi được, tôi bèn đi qua coi xem sao. Khi đến nơi, tôi thấy một người trạc độ trên dưới 40, tướng có vẽ như cấp chỉ huy. Anh ta bảo: tôi là D trưởng; tôi có vẽ như không tin lắm, đoán được ý tưởng của tôi, anh ta bèn lết lại phuy nước của gia dình Đ/úy Trưởng Chi ANQĐ móc ra một khẩu K54 để chứng tỏ mính là cấp chỉ huy. Tôi giao khẩu k.54 cho Trung đội Trưởng NQ giữ, tôi không giữ khẩu K.54 đó là vì tôi đã có một khẩu rồi, nhưng tôi đã cho Đ/úy Quý, sở dĩ tôi có khẩu K.54 đó là: một hôm VC đặt súng cối và hỏa tiển bắn vào Chi-khu ở hướng ấp Bình-Lâm, xã Lộc-An, Đ/úy Quyền cho lệnh cây cối cơ hửu Chi-khu bắn vào hướng súng của VC, thay vì Đ/úy cho tọa độ của hướng súng Đ/úy Quyền cho tọa độ ngay mẫu mía 7 tháng tuổi của tôi và mía bị sạt hết một góc, tôi liền bảo tay giữ súng cối lần sau nếu có lệnh của Đ/úy Quyền phải tránh tọa độ hồi hôm. Trung-tá Hà-văn-Sáu biết được câu chuyện đã lệnh cho ban 3 thôi không chấm tọa độ vào đám mía của tôi và của những người chung quanh nũa. Trong lúc tôi đi vòng quanh đám mía để quan sát, chú bé làm cỏ mía cho tôi đã nhặt được một bịch nylon hơi nặng gói rất kỹ, mở ra mới biết là khẩu K.54.

Trung đội Trưởng hỏi tôi “tính sao đây Tr/úy?”. Tôi nghỉ cuộc chiến đang tiếp diễn nên bảo “y lệnh của Tr/tá”, thế là tên D trưởng được thả ra đường QL.15…

Tiếng pháo có vẽ lơi dần, anh em NQ đồn trú, tăng viện và một bộ phận của BCH TĐ 347/ĐPQ (?) đang lục soát và bố trí chung quanh Chi-khu. Nghe nói Tiểu-khu sẻ tăng viện một đơn vị thiện chiến bằng trực thăng vận cho Chi-khu.

Tr/Tá Thới, Tham mưu phó hành quân Tiểu-khu đang bay thị sát trên bầu trời Long-Thành, làm anh em vững tâm chiến đấu. Đây là cuộc điện đàm giữa hai vị Tr/Tá, Tham mưu phó hành quân và Chi-khu Trưởng mà Đ/uý Long, P2 /Quân Đoàn III kể lại khi cùng tôi bị tập trung cải tạo tại Trung Tâm YTTV/ Tiểu-khu Long-Khánh, vì Đ/úy có gia đình đang sinh sống tại xã Phú-Hội quận Nhơn-Trạch nên theo dỏi diển biến cuộc chiến tại Long-Thành trên làn sóng điện.

Tr/Tá TMP/HQ hỏi: “ ai đã diệt chiếc T.54 ở cổng Cảnh-sát và chiếc PT.76 ở ngay cổng Chi-khu vậy?”.

Tr/Tá Chi-khu Trưởng: “ chiếc T.54 do hai khẩu Pháo binh tăng phái trực xạ, còn chiếc PT.76 do công của sĩ quan ban 5 và anh em đồn trú Chi-khu.

Tr/Tá TMP/HQ: “ tôi sẽ thưởng 100.000. đồng cho anh em Chi-khu.

Câu chuyện đã xảy ra 36 năm rồi được kể lại cho vui, nhưng lúc đó nghe xong cũng ấm lòng chiến sĩ.

Tiếng nổ vẫn đều đều trên bầu trời Long Thành, lúc 3 giò chiều, chiếc T.54 còn lại đang sục sịch ở đầu hẻm vào ấp Liên-kim-Sơn, tôi liền mang hai khẩu M.72 ra nấp ở trụ cổng dự tính chờ T.54 đưa cái hông ra sẽ cho nó một phát. Độ 10 phút sau, một phát đạn nổ ở tòa nhà của Chi-khu trưởng, ngói bay tứ tung, đứng dậy nhìn vào tôi thấy Tr/Tá Sáu đang đứng dưới balcon, yên tâm tôi lại núp tiếp, sau 5 phút quả thứ hai nổ tiếp, lấn nầy đứng dây không thấy ai hết mà thấy hai quân nhân vai mang balô, tay cầm súng bỏ vị trí phòng thủ chạy vào ở hướng phải. Tôi liền la: “chạy đâu vậy?.”. Một trong hai người bảo rằng “ họ đi hết rồi ông ơi”. Tôi ném khẩu M.72 xuống đất, chạy vào bunker sách khẩu M.16 chạy vào ban truyền tin, một NQ chạy theo tôi phía sau nói: “súng của em Tr/úy”, tôi ném súng lại và như vậy tôi chỉ còn hai qủa lựu đạn trên dây ba chạc và khẩu rouleau đeo bên mình, tôi không còn kịp để chạy vào nhà lấy thêm một món gì cả, ngay cả ba con heo đất của ba đứa con tôi, ít nhất vài ngàn mỗi con, rất may là trong túi còn sót lại giấy 2.000 đồng, nên tôi đở vất vã trên đường di tản. Chạy vào đến ban truyền tin, không một bóng người, một trong những máy còn khè khè chưa kịp tắt. Xuyên qua ban viễn thông đến khu vực pháo binh không còn ai ngoài xác một NQ thuộc trung đội 54 phòng thủ nằm vất vưởng trên miệng hố cá nhân, nhìn xuyên qua bãi đáp trực thăng thấy bà con đang lốp ngốp băng qua hàng rào kẻm gai, tôi cố chạy để bắt kịp đoàn người. Qua khỏi vòng rào gặp NQ Phụng, thuộc trung đội 54 phòng thủ Chi-khu ca vọng cổ rất mùi, bị thương ở chân, tôi bảo NQ chạy theo tôi dìu Phụng vào xóm nhà gần đó để lánh nạn vì nhà của Phụng cũng gần đau đây, sau nầy nghỉ lại tôi cảm thấy hối hận vì không giúp được gì cho đứa em bị thương. Khi bắt kịp đoàn người phía trước, Tr/T Sáu bị thương nhẹ ở chân nên được trực thăng xuống bốc. Tôi theo đoàn quân của BCH/TĐ ra đến rẩy dưa được lệnh dừng chân, hai phản lực thi nhau ném những quả bom xuống khu vực địch, những cột khói đen bốc cao lên nền trời u buồn, trời đất cũng không vui khi Long-Thành đã bỏ ngỏ, nơi mà tôi sống và làm việc suốt 6 năm biết bao kỹ niệm vui buồn. Đoàn quân tiếp tục di chuyển về hướng xã Tam-An, nhưng vì trời tối nên đoàn quân được lệnh nghỉ đêm trên bãi ruộng khô phía sau xã. Đến khuya bọn du kích xã bắn B40 ra quấy rối làm tôi phải bò đến bờ đê để ẩn núp. Đ/úy Giàu gọi đơn vị pháo binh ở Bến-Sang thuộc quận Nhơn-Trạch yểm trợ, hơn chục quả pháo được rót vào xung quanh xã, tiếng súng bắn ra từ xã im bặt cho tới sáng ngày 28-04-1975. Nhờ mặc áo giáp nên đêm đở lạnh và nhờ ly sữa của Đ/úy Giàu mời nên tôi cảm thấy hưng phấn, ly sữa ân tình đã làm cho tôi nhớ hoài, xin gởi lời cám ơn đến Đ/úy. Đoàn quân tiếp tục lên đường hướng bờ sông Tam-An. Khi ra đến bờ sông, một chiếc ghe bầu đang neo ngoài giữa dòng mà không dám vào bờ để rước đám người mới đến vì sợ quá tải, sau nầy tôi được biết như vậy là lúc đó có người bạn chí thân của tôi là Quận đoàn Trưởng Long-thành Lê bá Bửu đang có mặt trên chiếc ghe bầu đó. Gọi máy và đợi mãi không thấy phum của Giang-đoàn đến, một ghe bầu đang chở đầy gạch chạy ngang bị gọi vào và buộc phải tuôn gạch xuống bờ để chở đoàn người qua bên kia sông, gạch được tuôn xuống gần hết, năm chiếc phum đến và đoàn người lần lượt lên hết, nhìn chủ ghe và một vài nhân công mặt mày tiu nghỉu, tội nghiệp, không biết Đ/úy Giàu có bồi dưởng họ không, xin chủ ghe và công nhân hảy thông cảm vì chiến sự đang đến hồi khốc liệt. Đến chiều tối, chúng tôi đến Thành tuy Hạ, Đ/úy Hùng (cựu Trưởng ban 4/Chi-khu Long-Thành) tiếp đón tôi niềm nở và đãi tôi một tô mì ăn liền và chai coca rất ấm bụng. Đ/úy Hùng bảo tôi ra ngủ ở nhà chùa kế bên sáng sẽ tính, nhưng đến gần sáng VC lại pháo vào làm tôi theo đoàn người hướng vế Cát-Lái, lên phà để qua bên kia sông, gặp lại TS1 Trần quang Hiến trên phà, hai anh em mừng rở sau những giờ phút nghẹt thở ở Long-Thành, TS1 Hiến có tài bắn súng cối, nghe nói chiếc T54 còn lại ẩn núp đâu đó ở gần hội đồng xã Phước-lộc nên cây súng được dựng đứng trên dưới 85%, đạn bắn đi anh em hồi hộp và sau khi thấy cột khói bốc lên ở đâu đó gần HĐX hay trường Trung học Long-thành, sau vài phát tôi cảm thấy không an toàn nên bảo thôi bắn. Phà đến bên kia bờ, vừa lên thì được lệnh của đám người nhái “ai muốn về Sàigon hảy bỏ súng đạn tại đây”, nhìn thấy một đống súng đạn mà tôi ngao ngán, tôi bàn với TS1 Hiến nếu bỏ súng đạn lại và đi từ đây đến xa lộ, một thằng con nít ra hù dọa mình cũng sợ, thôi ở lại đây, chiều tối xuống cầu phà ngủ đở sáng mai sẽ tính. Hai anh em vào quán kiếm gì bỏ bụng cho vững, sau đó lửng thửng xuống cầu t&ag
rave;u, mấy chiếc phum đang neo, radio mở nhạc quân hành inh ỏi và bên kia là tàu lớn đang đậu với đoàn người tay xách nách mang đang lũ lượt bước lên vừa dân sự quân sự. TS1.

Hiến vừa đặt balô xuống và chuẩn bị đặt lưng, một tiếng nổ lớn làm tung cao cột nước trước mũi một tàu nhỏ và liên tục sau đó, thế là tàu lớn, tàu nhỏ tranh nhau nổ máy chạy rối loạn, tôi và TS1 Hiến cũng chạy theo đoàn người hướng ra xa lộ. Trên đường tôi nhìn thấy một đôi dép của ai đó bỏ lại để chạy chân không cho nó nhanh, không biết chạy nhanh có tránh được đạn không nhỉ, tôi bèn nhặt đôi dép để dùng khi cần. Khi đi ngang một ấp người Công giáo gần xa lộ mà tôi không biết tên, thình lình tôi nghe ai gọi tên tôi, té ra Tr/úy Thọ, có thời gian đại đội của Thọ đóng tại đình Lộc-an và có nhiều lúc Thọ phải ra gặp tôi để lảnh về những tay lính quậy phá ngoài chợ Long-Thành, lúc đó Tr/Tá Phương, Quận Trưởng/ Chi-khu Trưởng rất kỷ luật vì thuộc binh chủng TQLC, nên giao cho tôi thêm nhiệm vụ như Quân trấn Trưởng, tôi tưởng Thọ còn giận tôi, nhưng không ngờ Thọ bảo tôi “ đi đâu nữa, hảy vào nhà thằng em nghỉ chân, mai sẽ tính”, không có gì thể hiện cho bằng tình “huynh đệ chi binh” như trong lúc nầy.

Hai thầy trò vào nhà tấm rửa sau mấy ngày ở dơ và được mẹ của Thọ đải một tô mì gói ấm lòng. Gần sáng mọi người đang ngon giấc thì tiếng pháo lại đì đùng đâu đó trong ấp, thế là mọi người tung cửa chạy, thầy trò tôi cũng theo họ bén gót, bây giờ tôi mới thấy việc nhặt đôi dép lúc chiều hôm trước bây giờ có công dụng vì còn thì giờ đâu mà mang giày. Lẩn quẩn trong xóm mãi đến lúc nghe tin TT Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, trước khi ra đến đường cái, tôi ném thẻ bài và căn cước quân nhân của tôi, hai vật không rời tôi nửa bước, xuống ao cá bên vệ đường. Trên đường đi tôi thấy một chiếc tàu màu hồng to lớn đang chạy ra hướng biển Cần-Giờ bị những quả pháo rờt trên sàn tàu, nhưng tàu vẫn lướt sóng không nao núng, mong rằng tàu ra khơi an toàn. Về đến nhà trọ, quân trang quân dụng đều bị khóm ấp tịch thu hết, bây chỉ còn vỏn vẹn quần short, áo thung màu cứt ngựa trên thân và đôi dép dưới chân, TS1 Hiến còn tệ hơn tôi là đi chân trần. Hai thầy trò cám ơn và từ giả chủ nhà cùng mọi người lên đường kẻ về Biên-hòa, người về tận Hố-Nai.

Ra đến đường đám du kích súng đạn đầy mình, tay mang băng đỏ nhan nhản khắp nơi. Đi được một đoạn bắt gặp một người đi vespa chạy tới, tôi xin đi nhờ ra xa lộ, tôi hỏi thăm người chủ xe về đâu, anh ấy bảo về Thủ-đức, chúng tôi mừng thầm, nhưng khi tới nhà máy xi măng Hà-tiên có một chốt chặn, xe dừng lại, một người vai mang súng, tay băng đỏ đến hỏi chúng tôi đi đâu và trình giấy tờ cá nhân, tôi bảo chúng tôi về nhà và không có mang giấy tờ theo. Tên mang súng nhìn chúng tôi từ đầu đến chân chắc nghỉ chúng tôi là những người chạy giặc và cuối cùng phất tay cho đi. Được một đoạn chắc chủ xe hơi lo ngại, chưa đến ngã tư Thủ-Đức đà bỏ chúng tôi xuống, Chúng tôi cám ơn và tiếp tục cuộc hành trình hướng về Biên-Hòa, đến ngã ba Tân-Vạn chúng tôi ngậm ngùi chia tay, rồi đây không biết ngày nào lại gặp nhau vì cuộc đời đã quay một góc 180 độ. Cuối cùng rồi cũng đến nhà, dưới ánh đèn đường hàng xóm nhìn thấy tôi đều hân hoan thăm hỏi, ai cũng tưởng tôi tiêu rồi vì Long-Thành đã thất thủ vào chiều 27-04-1975.

 

Viết xong April 21-2011

 

Cưụ Trung-Úy HÙYNH VĂN THÔI

Ban CTCT Chi-khu Long-Thành

Email: hthoi43@hotmail.com