Thi sĩ Đông Anh : Đọc Thơ Trạch Gầm

Đọc Thơ Trạch Gầm

Đọc thơ Trạch. Gầm vang trời đất

Buốt trong lòng bần bật bi thương

Gom đau xót những ngày nước mất

Vào mũi tên hòn đạn chiến trường

 

Anh hẳn biết lính là thống khổ

Là gian truân ra tử vào sinh

Là làm bạn bụi cây ngọn cỏ

Là thịt da luôn đọng nước xình

 

Anh biết lính trong rừng mù mịt

Nhìn đêm đen lòng dạ kiên cường

Tay súng thép ngời lên bất khuất

Sao có ngày nước mất đau thương?

 

Anh viết lên mỏi mòn cải tạo

Những lọc lừa Cộng Sản gian manh

Ngày cáo chồn đêm thành hổ báo

Rút máu xương thể xác dân lành

 

Đọc thơ Trạch uất lên tận óc

Mà sao buồn. Buồn mãi mênh mang…

 

Đông Anh

Tử Ðằng Hoa

 

Tiết đầu Xuân, Tử Ðằng hoa trắng muốt

Ðang phơi mình trong ánh nắng lung linh

Gió mơn man ong bướm đến gieo tình

Muôn cánh hạc đưa nghê thường luân vũ

Hoa đong đưa soi mình trong vũ trụ

Ðang vươn lên cùng tinh tú trời cao

Mây bay theo vờn cơn sóng dạt dào

Cả trời đất cũng lao xao tình tự

Em về đây trải dài trong mộng gió

Uốn thân cong vào cánh cỏ tiên thiên

Cả mình em đang say đắm cơn thiền

Quanh trời đất cùng vui vầy mở hội

Từng cánh hoa đưa em vào bão nổi

Từng hương nồng len lỏi cả châu thân

Em trắng trong chưa vướng chút bụi trần

Bỗng giây phút em bừng bừng khai nhụy

Em về đây từ muôn ngàn thế kỷ                         
Hương hoa này ngào ngạt đến ngàn sau                                                                                Tử Đằng Hoa

Trong bàng hoàng em níu gió qua mau

Ghìm chặt lại và ôm ghì hơi thở

Xác lịm dần mà hồn đang nức nở

Cuồng si này liên tiếp những đài hoa

Tỏa hương thơm trên trần thế chan hòa

Vương mật ngọt theo mây chiều bảng lảng

 

Giòng nhạc tình véo von từ cung quảng

Nhập vào hồn trinh nử “wistaria”

 

Ðông Anh

04/09





SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIÊT KHÁNH CHÍNH LÀ NHÀ VĂN TÙNG KHANH

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIÊT KHÁNH CHÍNH LÀ NHÀ VĂN TÙNG KHANH TÁC GIẢ TRUYỆN NGẮN BÂT HỦ’’ĐÊM NAY VỀ ĐÂU CŨNG ĐƯƠC’’

Sơn Điền Nguyễn Viêt Khanh sinh ngày 2 tháng 10 năn 1921 khi học đai học tại Hànội ông đươc lãnh tu đảng Đai Viêt Trương Tử Anh kêt nạp vào đảng Đai Việt nên  ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhât đảo chánh Pháp ông tham gia cuộc dảo chính này ở Huế ông tới bắt viên khâm sư ngươi Pháp ở Huế tên này ăn nói hỗn hào sao đó Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đã bat tai mấy cái rồi ông cũng quên chuyện này

Sau ngày tòan quốc kháng chiến Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh về Hànội năm 1950 của thế kỷ hai mươi ông tham gia bộ biên tập tuần báo Thanh Niên do nhà báo lừng danh Trần Viêt Sơn làm chủ bút Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh vừa làm phóng viên và vừa làm biên tập viên  cho tuần báo Thanh Niên chính dịp này ômh đã viêt truyện ngắn’’Đêm Nay về Đâu Cũng Đươc’’ ký bút hiêu là Tùng Khanh.và truyện này vừa đăng báo đã đươc giơi thưởng ngọan nghệ thuât chú ý nhà thơ Thanh Tâm Tuyền hồi đó gặp tôi hỏi Tùng Khanh là ai mà viêt truyện ngắn’’Đêm Nay Về Đâu Cũng Đươc’’ tuyêt vời vậy lúc đó tôi chưa biêt Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh chỉ biêt Đăng Đình Hồng[một trong những cây viêt làm công việc chấp bút những ý của nhà văn Lê Văn Trương viêt thành tiểu thuyêt như nhà thơ Tân Sắc chẳng hạn] nên nói bừa có lẽ Tùng Khanh là bút hiệu mới của Đăng Đình Hồng nhưng Thanh Tâm Tutền không chịu nói rằng bút kưc của Đặng Đinh Hồng đâu có thể như Tùng Khanh được.Sau này gặp Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh tôi mới biêt Tùng Khanh chính là Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh và nhân vật chính trong  truyện ngắn’’Đêm Nay Về Đâu Cũng Đươc’’ là nhân vật có thật ở ngòai đơi va truyện ngắn này cốt truyện là chuyện thật đươc tác giả thêm thắt chút ít chi tiêt nhỏ cho linh động

Nằm trong tù với Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh từ trại Cây Mít của Sở Công An Viêt Cộng ở đương Trần Hưng Đao Saigon tới trại Lê văn Duyệt tức đề lao Gia Đinh ở trươc chợ Bà Chiểu Gia Đinh Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh  ăn cùng mâm nằm cùng chiêu với tôi anh tiếr lộ vì cái tát viên khâm sứ Pháp tại triều đình Huế hồi năm 1945  mà năm 1954 anh đã phải nằm trong khám tử hình chờ mang đi bắn ở Saigon liên tục mây tháng trời may nhờ hiệp đinh Genève chia đôi đất nươc đươc Pháp và Viêt Cộng ký kết anh mới thoat chết.Theo lơi kể của Sơn Điền Nguyễn Viêt Khanh thì năm 1950 anh làm báo Thanh Niên một thời gian rồi đươc giơi thiêu làm phóng viên  Viêt Nam Thông Tấn Xã phụ trách phần tiếng Pháp với La Phưong  đi khắp nơi với tấm thẻ nhà báo phóng viên Viêt Nam Thông Tấn Xã Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đươc dùng tòan phi cơ vận tải quân sự của Pháp nhưng khi trận Nasan vả trận Điện Biên Phủ nổ ra phi cơ vận tải quân sự Phápphải dùng hêt cho mât trận nên Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh di chuyển xa phải đi máy bay dân sư.Có việc phải bay vô Saigon ra mua vé máy bay dân sư Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh bị hãng tầu bay dân sư đòi  phải có giây thông hành và giây trú lưu  mới bán vé cho do đó Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh phải tới SởLiêm Phóng Liên Hiệp Pháp làm thủ tục xin giây thông hành và giây trú lưu..Làm thủ tuc xin giấy thông hành và giấy trú lưu  xong Sơn Điên Nguyễn Viêt Khánh vô tư về nhà không ngờ ngay tối hôm đó mật thám pPháp tới vây nhà và đọc lệnh bắt phạm nhân chiến tranh Nguyễn Viêt Khánh.Tới lúc này Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh mới biêt vì anh tát viên khâm sứ Pháp và đã bị viên khâm sư Pháp báo cáo sao đo nên anh bị kêt tội phạm nhân chiến tranh với án tử hình vắng mặt.Biêt Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh bị tai bay vạ gió La Phương và những ngươi bạn của anh đã chay ngươc chạy xuôi lo cho anh nbưng bản án xử vắng măt Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh là bản án của tòa án chiến tranh lo xóa án không đơn giản Sơn Điền Nguyễn Viêt Khanh bị giải vô khám tử hình ở Saigon chờ thi hành án

Theo lời kể của Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh thì cái thời gian nằm khám tử hình mỗi ngày đều thấy bạn cùng tù bị giải ra  trường bắn anh thây cuộc đời thât vô thương lúc này là dịp anh nghiên cưu số tử vi và dượt lại vôn chữ Nho

Chỉ mấy tháng nằm khám tử hình mà Sơn Điền NguyễnViêt Khánh thây dài như mây thế kỷ .Đúng lúc Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh buồn nản nhât thi hiệp định Genève ngưng cuộc chiến tranh Viêt Nam ra đời trong đó có khỏan thả các tôi phạm chiến tranh

Nhờ hiệp đinh Genève năm 1954giải quyêt cuộc chiến tranh Viêt Nam Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đươc ra khỏi khám tử hình trở về cuộc đời tiếp tục làm việc tại Viêt Nam Thông TấnXã.Nhò giỏi tiếng Pháp tiếng Tầu Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đươc làm phóng viên ngoai giao đi đó đi đây .Tới thời kỳ nhà báo Nguyễn Ngọc Linh làm tổng giám đốc Viêt Nam ThôngTấn Xã mở lớp đao tạo phóng viên và đưa Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh lên làm Tổng Thư Ký Viêt Nam thôngTấn Xã  và làm giảng viên lớp đào tạo phóng viên Viêt Nam Thông Tấn Xã.Sau đó Sơn Điền Nguyễn Viêt KJhánh còn dạy khoa báo chí tại Đai Học Vạn Hanh

Từ cuối năm 1954 tới tháng tư năm 1975 Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh không chỉ làm Viêt Nam Thông Tấn Xã mà còn viêt báo dich tiểu thuyêt.Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh là dich giả tiêu thuyêt Kim Dung người Viêt đâu tiên gặp Kim Dung  và đươc Kim Dung cho đăc quyền dich cuôn Uyên Ương đao

Con người Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh là con ngươi luôn đọc luôn cập nhật hiểu biêt với thời đai vào tù anh lúc nào cũng lạc quan sáng dạy tập thể thao lúc nàoanh em thich nghe truyện kiếm hiệp anh kể cho anh em nghe liền

Anh ở chung với tôi tại trại Lê Văn Duyêt tưc đề lao Gia Đinh đươc sáu tháng bỗng môt bữa đi làm việc về anh nói nhỏ với tôi ràng’’lôi thôi rồi có khả năng mình đi biêt giam sắp xếp đồ cho mình ta chia tay’’.Anh nói với tôi vậy rồi cươi khì,cơm chiều vừa xong thì quản giáo tới kêu Nguyễn Viêt Khánh chuyển trại

Thế là chúng tôi chia tay nhau anh  Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh chiều đó không phải đi biêt giam mà trở lại phòng giam trại Cây Mít ở  sở Công An Saigon đương Trần Hưng Đao Mãi hơn mươi năm sau tôi mới găp lai anh nhờ anh Mai Văn Lễ chỉ cho nhà anh đang ở tại đương Hùynh Mẫn Đạt Chơ Lơn

Trong 10 năm này anh bi đầy lên trai Gia Trung ở Tây Nguyên nhiêu lần bị biêt giam nhưng ra tù anh vẫn cứ  phơi phới như không có chuyện gì xẩy ra vậy anh khoe tôi mời đọc đươc môt lô sách hay thích lắm đời còn nhiều việc phải làm.Anh nói anh sẽ đi đòan tụ với con và sẽ trở lai nghề báo tôi nhắc anh nên viêt những cái như Đêm Nay Về Đâu Cũng Đươc một văn tài như Tùng Khanh bỏ quên uổng lắm

Nhờ Chinh Nguyên môt học trò và nghĩa tử của Sơn Điền Nguyễn Vịêt Khánh tôi liên lạc đươc với anh sác đinh hai điều là ngày sinh và tên cái truyện ngắn đâu tay của anh. Sắp bươc vô tuổi  chín mươi mong Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh trở lai nghề văn nghê tay trái của anh nhưng là tay trái bắt được của trời


HỒ NAM

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIÊT KHÁNH

Anh đã sống và anh đã viêt

Nhưng Tùng Khanh mới là số một

Ngươi ta ai chảng phải chờ chêt

Nhưng tỉnh táo như anh  thât tuyêt

Mình từng trải qua bao nhà tù

Đia ngục trần gian là có thât

Anh vẫn cươi  tiếp tục đọc sách

Cõi nhân gian quá nhiêu  đêm tối

Ta thấp nến  không lời nguyền rủa

Ta cứ đi và ta sẽ tới

Đương còn xa chân ta chưa mỏi

Phải reo trồng mới đươc hái quả

Trời đất này sẽ của cháu con ta

Lên đường nữa ta còn bươc tiếp

Ngày mai nắng sẽ còn bung ra

Như hoa nở cho nhụy thơm bát ngát

Ngày mai mặt trời sẽ xanh biếc

Chốn nhân gian sẽ vang tiếng hát

Và chúng ta sẽ không phải hối tiếc

Đả lên đường và đang bước tiếp

Cho ngày mai ngủ hêt giật mình


VƯƠNG TÂN

 

 

 




HỒ HỮU TƯỜNG NHÀ VĂN HÓA LỚN NHÀ VĂN TRÀO PHÚNG KIÊT HIỆT

HỒ HỮU TƯỜNG NHÀ VĂN HÓA LỚN NHÀ VĂN TRÀO PHÚNG KIÊT HIỆT



Hồ Hữu Tương sinh năm 1910 tại làng  Thượng Thanh huyện Cái Răng tỉnh Cần Thơ.Theo tiêt lộ của Hồ Hữu Tương thì ông gốc là lưu dân từ Nghệ An vô và thuộc họ Hồ cùng chi với Hồ Thơm[Nguyễn Huệ].Hồ Hữu Tương học trung học ở Cần Thơ vì  bụng to có hỗn danh là Tương bụng.Ngay từ thời còn học trung học ở Cần Thơ Hồ Hữu Tường đã viêt báo bằng tiếng Pháp ký bút hiêu là Pierre VutrenNăm 1926 mới 16 tuổi Hồ Hữu Tương đâu tú tài toàn phần chương trình Pháp cha ông  đã quyêt định cho ông qua Tây học đai học.Hồ Hữu Tương là ngươi mê toán học và mê viêt báo nên sang Pháp tới cảng Marseille ông ghi danh học khoa Toán và chỉ hai năm Hồ Hữu Tương lấy bằng cử nhân Toán giáo khoa thay vì ngươi thương phải học tới 4 năm.Đậu xong cử nhân Toán tại Đai Học Đương Marseille Hồ Hữu Tương quyêt định lên Lyon học cao học lấy bằng thạc sĩ rồi tiến sĩ Toán

Vừa học Đại Học Hồ Hữu Tường vừa làm báo Năm 1930 Hồ Hữu Tường xuât bản tờ báo bí mật Tiền Quân với bộ biên tập gồm Tạ Thu Thâu,Hồ Văn Ngà,Phan Văn Chánh,Huỳnh Văn Phương .Sau khi khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quôc Dân Đảng bị thât bại nhà cầm quyền Pháp ở Viêt Nam xử tử hình Nguyễn Thái Học và các đồng chí nhóm Tiến Quân biểu tình ở điện Élysee tất cả bị chính phủ Pháp ra lệnh trục xuât về Viêt Nam riêng Hồ Hữu Tường và Phan Văn Hùm nhanh chân trốn thoat sang Bỉ nhưng sau đó cũng tự động về Viêt Nam

Về Viêt Nam Hồ Hữu Tương hợp cùng Tạ Thu Thâu cho ra đời nhóm Đệ Tứ QuốcTế ở Viêt Nam và Hồ Hữu Tường phụ trách tạp chí Tháng Mười của nhóm

Tháng 11 năm 1932 Pháp đóng của tạp chí Tháng Mươi bắt giam Hồ Hữu Tường cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1933 Hồ Hữu Tường ra tòa lãnh án ba năm tù treo.Ba năm sau hêt án tù treo năm 1936 Hồ Hữu Tương cho xuât bản tạp chí Thương Trưc Cách Mạng nhưng chỉ một thơi gian ngắn Hồ Hữu Tương ly khai nhóm La Lutte[tranh đấu] của Ta Thu Thâu cho xuât bản tuần báo  tiếng Pháp Le Militant[chiến sĩ] công khai chống chủ nghĩa Staline

Tháng 6 năm 1939 Hồ Hữu Tương ra tuyên bố công khai từ bỏ chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Cộng Sản ông nói”Tôi trở về con đường dân tộc,tôi cho rằng công việc giai cấp vôsản giải phóng nhân loại là một huyền thoại lớn của thế kỷ 19 và tiềm năng cách mạng của giai cấp vô sản ở Âu Châu và Bắc Mỹ là một huyền thoại lớn của thế kỷ 20”

Măc dầu Hô Hữu Tương đã có bản tuyên bố ly khai chủ nghĩa Mác không dính gì tới Đệ Tứ Quốc Tế nhưng vì chiến tranh thế giới lần thư hai đã nổ ra nhà cầm quyền Pháp năm 1940 vẫn bắt Hồ Hữu Tương đưa đi đầy Côn Đảo cùng với Nguyễn An Ninh Phan Văn Hùm Ta Thu Thâu,và mãi năm 1944 Pháp mới thả Hồ Hưu Tương Tạ Thu Thâu Phan Văn Hùm về còn Nguyễn An Ninh chêt chôn tại Côn Đảo

Ra tù một năm sau Hồ Hữu Tương ra Bắc tìm đương sang Tầu.Ra Bắc Hồ Hữu Tương cưới bà vợ hai là em gái nhà văn hóa Nguyễn Đăng Thục và gặp lãnh tũ đảng Duy Dân ông Lý Đông A ngươi đã tập đai thành nền văn hóa Viêt tư thời thương cổ với triêt lý Viêt thành chủ nghĩa Duy Dân.Từ cuộc gặp gỡ này Hồ Hữu Tương đã viêt cuốn Tương Lai Văn Hóa Viêt Nam,Tương Lai Kinh Tế Viêt Nam,Muốn hiểu chanh trị Kinh Tế Chánh Tri nhập môn

Ngoài viêt sách ra Hồ Hữu Tương còn dấn thân vô chánh trường và đươc mời tham gia phái đoàn chánh phủ Liên Hiêp Kháng Chiến Viêt Nam do bộ trưởng ngoai giao Nguyễn Tường Tam cầm đầu đi Đà Lat thương thuyêt với Pháp đòi lại Nam Bộ

Kháng chiến toàn quốc nổ ra Hồ Hữu Tường tản cư về vùng quê tỉnh Hải Dương bị quân Pháp bắt ờ Kẻ Sặt năm 1947 cùng bà vơ hai và con, năm 1948 Hồ Hữu Tường đươc người Pháp đưa về Saigon trở lai nghề viêt báo sáng tác bộ tiểu thuyêt Một Thủa Ngàn Năm cuốn đầu với tựa đề Phi Lạc sang Tầu với nhân vật chính tên Phi Lạc một thằng mõ làng Cổ Nhuê mà nhân vật có thât để Hồ Hữu Tương lấy cảm hứng là lưỡng tiến sĩ Nguyễn Manh Tương ngươi mà mới hai mươi hai tuổi bảo vệ thành công hai bằng tiến sĩ luât và văn chương tại trương đai học danh tiếng Sorbonne ở Pháp một thành tích mà  trươc đó chưa ai đat đươc sau nay tới nay vẫn chưa có ai đạt

Với lới văn tưng tửng’’lỡm’’không chừa một ai kể cả các đai lãnh tụ cuốn tiểu thuyêt trào phúng Phi Lạc sang Tầu đã thành công ngoài sức tưởng tương khiến Hồ Hữu Tương viêt tiếp cuốn Phi Lạc náo Hoa Kỳ với nhân vât chính là Xuân Hồng mà ngươi thưc là Nghiêm Xuân Hồng môt nhà văn một trí thưc lập thuyêt ‘’tiểu tư sản cưu quốc’’ khá nổi tiếng. Ba cuốn cuối của bộ Một Thủa Ngàn Năm là Lạc bỡn Nga Tiểu Phi Lạc náo Saigon và  Diễm Hồng xuât giá không thành công lắm dù văn chương có chau truốt hơn

Năm 1953 trước tình hình Viêt Nam sẽ bị lôi kéo vào cược chiến tranh ủy nhiệm mệnh danh là chiến tranh ý thưc hệ quốc cộng để cho hai khối tư bản cộng sản dung dân tộc Viêt Nam và đât nươc Viêt Nam làm  vật thí nghiệm khí giới giêt ngươi hàng loat Hồ Hưu Tương đưa ra thuyêt Trung Lập Chế tập đai thành ba nền văn minh kỹ sư [của khối tư bản do Mỹ đứng đầu] nền văn minh chính ủy của khối cộng sản do Nga Tầu đứng đầu] và nền văn minh tu sĩ của Đông Phương thành nền văn minh Việt Nam hiện đại

Để cổ võ cho thuyêt Trung Lập Chế Hồ Hưu Tương cùng Lê Văn Siêu Thái Linh ra tờ nhật báo Đông Phương và khi hôi nghị Geneve  bàn về chiến tranh Viêt Nam xuât hiện Hồ Hữu Tường cùng Võ Thành Minh đã sang Geneve hoat động để chống việc cắt đôi nươc Việt Nam nhưng thât bại trươc âm mưu của Thưc Cộng ông về nươc cộng tác với Đưc Hộ Pháp Đao Cao Đài Phạm Công Tắc lập Măt Trận Thống Nhât Toàn Lực Quốc Gia để hóa giải cuộc chiến tranh ủy nhiệm của các đế quốc đang thực hiện trên đât nươc Việt Nam kêt quả là Hồ Hữu Tương bị chính phủ Ngô Đình Diệm bắt giam và năm 1957 lãnh án tử hình may nhờ thủ tướng Ấn Độ Nerhu can thiệp tạm thời chưa thi hành chỉ bị đầy ra Côn Đảo.Thời kỳ Hồ Hưu Tương bị nhốt trong khám tử hình ở Côn Đảo ông đã viêt bộ tiểu thuyêt Thuốc Trường Sanh sau này năm 1964 đươc nhà xuât bản Huệ Minh xuât bản gồm  các tập  Xây Mộng ,Phuc Đức,Vẹn Nguyền,và Hoa Dinh Cẩm Trận

Cũng chính trong thời gian ở khám tử tù tại Con Đảo Hồ Hữu Tường còn viêt Trầm Tư của một tử tôi nói nhiều về Phật Di Lặc nhân vật hiện đai hóa Phật giáo

Ngày 31 tháng 1 năm 1964 sau khi ra khỏi tù Hồ Hưu Tương nhìn thây cuộc chiến tranh ủy nhiệm đang leo thang ở Viêt Nam cần phải làm một cái gì để cứu vãn tình thế ông đưa ra thuyêt Siêu Lập tách Viêt Nam ra khỏi vòng cương tỏa của các đế quốc.Thây thuyêt Siêu Lập cần có chỗ dựa tinh thần Hổ  Hữu Tường nhận làm viện phó Viện Đai Học Vạn Hanh tìm chỗ dựa nơi Phât Giáo Viêt Nam nhưng kêt quả Hồ Hữu Tương thây Phât Giáo không làm gì được ông gặp nhà văn Chu Tử chủ nhiệm nhât báo Sống.Chu Tử mời ông viêt bào Sống và nói báo Sống sẽ đưa Hồ Hữu Tường vào quốc hội.Hồ Hữu Tường viêt Người Mỹ ưu tư và chịu để báo Sống và Chu Tử đưa vào quốc hội kêt quả Hồ Hữu Tương lám dân biểu

Người Mỹ ưu tư là phần tiếp theo cuốn Ngươi Mỹ Trầm Lặng của nhà văn Graham Green với những nhân vật hậu duệ của Graham Green mà Hồ Hữu Tường hư cấu ra với ý đồ tranh giải Nobel về văn chương  cuốn nàyđã đươc dich qua tiếng Anh tiếng Pháp

Phải nhận rằng con ngươi văn chương của Hồ Hữu Tương lớn lắm chỉ một truyện ngắn Con Thằn Lằn chọn nghiệp của ông đã vĩ đai như thế nào.Nhưng với Hồ Hữu Tương văn chương chỉ là một trò trơi ông đã viêt Văn học sử Viêt Nam chỉ một cuốn rồi không viêt nữa ông viêt truyện thiêu nhi Nỗi long thằng Hiệp thât tuyêt vời nhưng cũng chỉ một cuốn .Con ngươi Hồ Hữu Tường là như thế thích thì làm chán thì ngưng

Hồ Hưu Tương đã viêt hồi ký Thằng Thuôc con nhà nông nói về mình rồi 41 năm làm báo rồi những Kể chuyện Nơ Tinh Thần.Cái bộ Gái nươc Nam làm gì thiên hạ cũng thích cả Chi Tập lẫn Thu Hương.Ngay tiểu thuyêt lich sử với bộ Hồn Bươm Mơ Hoa Hồ Hữu Tương cũng rât thành công với những Mai Thoại Dung,Tam Nhơn Đồng Hành,Ông Thầy Quảng Bủa Lưới Ngươi

Tóm lại về văn chương chữ nghĩa Hồ Hưu Tường luôn tuyệt vơi

Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 Hồ Hữu Tường không bị đi cải tạo mà  Phạm Hùng một cán bộ cộng sản bư  còn tới thăm Hồ Hưu Tương nói Lê Duẩn rât thích Hồ Hữu Tương và Tương nói Hùng coi chừng mât mạng ngươi đáng ngại là Lê Đưc Thọ và phải  đề phòng Tầu đỏ

Năm 1977 Phục Quôc mời Hồ Hưu Tương làm thủ tướng Hồ Hữu Tương từ chối và có báo chuyện này với Phạm Hùng

Phạm Hùng cho Hồ Hữu Tương biêt tình hình gay go Hùng phải đi Hanoi Tường rán giữ mình có thể Mai Chí Thọ em Lê Đức Tho sẽ làm phiền Hồ Hữu Tương đây

Hồ Hưu Tương chuẫn bi sưc khỏe đi tù hàntg ngày ngậm gừng tươi và tập khí công

Năm 1977 Hồ Hữu Tương bị Mai Chí Thọ hạ ngục Hồ Hữu Tương vui vẻ vào tù và luôn nói với chấp pháp là anh trình với lãnh đao cái nguy hiểm là Băc Kinh chư không phải Hồ Hữu Tường

Hồ Hữu Tương hêt ở 4 Phan Đăng Lưu lại ở Chí Hòa rồi ra Suối Mau đi Xuyên Mộc lúc nào sống cũng lạc quan lâu lâu lại thủ dâm chứng tỏ mình’’sung’’ lắm

Rồi năm 1980 sau cuộc chiến Trung Cộng dạy Việt Cộng một bài học Hồ Hữu Tương bị đưa ra Hàm Tân trại Z30D  còn rất khỏe dù xe chở ông bi tai nạn khiến ông bị thương

Có  một chuyện đáng ghi nhớ là trươc khi Viêt Cộng bị Trung Cộng dạy một bài học hôi cuối năm 1978 thì tác giả Đỗ Thái Nhiên ở tù chung với Hồ Hữu Tương tại sô 4 Phan Đăng Lưu có ghi lại một chuyện đàng chú ý là Lê Đưc Thọ lúc đó có cử một phái viên  tên Phạm Văn Luyện tới gặp Hồ Hữu Tương trong tù trình bây kế hoạch của Lê Đưc Thọ là đưa Pham Hùng hoăc Võ Văn Kiêt làm Quang Trung chống Tầu và yêu cầu Hồ Hữu Tương làm Ngô Thời Nhiệm giúp Kiệt  hoăc Hùng nhưng Hồ Hữu Tương đã từ chối tham gia  kế hoach này nên bị chuyển trại rồi chích siêu vi viêm gan vô đến ung thư gan chêt trên đương ghé nhà ngày 26 tháng 8 năm 1980Đỗ Thái Nhiên còn nêu tên ông  TrươngĐinh Chú nguyên chỉ huy trương cảnh sat đăc biêt Đà Nẵng hiện sống ở quận Cam Cali [Mỹ ]chứng kiến chuyện nàyTheo bác sĩ Phan Chinh  ngươi điều trị cho Hồ Hữu Tương ờ La Gi Hàm Tân tiêt lộ thì ông thây Hồ Hữu Tương bị sơ gan cổ chương bệnh viện Hàm Tân  không chữa được nên đã báo cho bà Hồ Hữu Tương biết để xin trại tù cho chuyển về bệnh viện Chơ Rẫy tri bệnh và ông thu xếp thuê một cái xe Daihasu chở cá làm công viêc này trươc khi tới bệnh viện Chợ Rẫy bác sĩ Phan Chinh đã thu xếp để ông Tương ghé nhà nhưng mới đến ngõ thi đã chêt chư lúc chêt Hồ Hữu Tường chưa hề có lệnh tha

HỒ NAM

GỬI HỒ HƯU TƯƠNG

Đã tài lại giỏi thêm đa tình

Dám sống dám yêu và chẳng sợ

Ông đến ông đi ông đâu ngán

Một mình một cỏi ông hơn thua

Với lá cờ đầu ông tiến tới

Ông chịu chơi và ông dám chơi

Một mình một ngựa ông vào trận

Trươc án tử hình ông nhếch mép

Lá đa lá mít ông chơi hết

Ở tù ông nói chuyện tương lai

Gậy thần sách ước ông sổ toẹt

Ông cứ nghênh ngang ông cứ sống

Chúng nó giêt ông là phong thánh

Ông nói trạng còn hơn các trạng

Những chuyện đời sau còn hơn sách

Toàn chuyện cươi thôi mà có thật

Chưa về tới ngõ ông đã đi

Cái chốn giang hồ ôi thật lạ

Ngàn năm quyến rũ kẻ tình si

Ông đã yêu và ông đã chêt

Chúng ta đang sống đươc những gì

Chu tử ra biển và lãnh đan

Kẻ về với cá ngươi với đất

Nghìn năm nươc mắt mãi còn rơi

Nghìn năm kẻ sĩ luôn bât khuât

Chúng ta còn sống còn được cười

                VƯƠNG TÂN

 




QuangThiện : TÌNH XƯA NẺO CŨ

TÌNH XƯA NẺO CŨ

 

T

hân nắm tay em gái, xiết chặt để giả từ. Đối với anh, những ngày về thăm quê hương thường qua rất nhanh. Nhìn cô em gái sau hơn một năm xa cách anh nhận thấy Trang vẫn không thay đổi mấy dù phải sống trên đất nước nghèo nàn khốn khổ, chạy gạo từng ngày. Thân không thể quên những kỷ niệm thời thơ ấu của hai anh em ngày còn sống chung dưới mái ấm gia đình cha mẹ. Chỉ có Trang là người em gái duy nhất nên anh đã dành tất cả lòng thương mến đặc biệt cho nàng. Đối với cha mẹ, ngay từ thời niên thiếu, Thân đã được khen là người con hiếu thảo. Đến lúc thành nhân, dù ông bà cụ không đòi hỏi, anh tự thấy mình có trách nhiệm phải lo lắng chu đáo cho đến lúc song thân qua đời.

Sinh trưởng trong gia đình Nho phong thuộc từng lớp xã hội đặc biệt thời xưa, nên những năm dài niên thiếu và trưởng thành của Thân cũng như Trang, đã chịu ảnh hưởng sâu xa của nếp sống đạo đức và luân lý Khổng, Mạnh, dạy phải phục tùng cha mẹ tuyệt đối. Hai anh em đã được giáo dục phải biết vâng lời và bổn phận đối với gia đình được phân định rõ ràng, do đó, Thân chưa lần nào dám làm trái ý cha mẹ. Cho tới nay, sau những năm dài ly hương, sống ở thế  giới Tây Phương và hấp thụ tư tưởng tự do, Thân mới bắt đầu băn khoăn với ý tưởng vì sao ngày trước anh đã chịu phục tùng tuyệt đối khi nghe bố mẹ nhất quyết buộc anh phải từ bỏ Thuý, người tình đầu đời anh đã yêu và say mê đắm đuối? Thân chẳng thể rõ lý do nào khiến anh thuở đó không dám mạnh dạn phản kháng ý tưởng thiếu xác đáng và hầu như áp chế của cha mẹ đối với chuyện tình cảm riêng tư của anh, khi hai ông bà không viện dẫn chứng cớ mà cứ một mực cho rằng nếu anh kết hợp với Thuý, nàng sẽ đem tai họa chết chóc đến cho anh?

Đang suy nghĩ miên man, chợt Thân sực nhớ vẫn đang đứng trước mặt em gái. Anh hãnh diện vì sắc đẹp mỹ miều thượng đế đã  ban cho nàng. Trang chỉ nhỏ hơn ông anh mấy tuổi nên thuở ấu thơ đủ khoảng cách để hai đứa trẻ chơi đùa với nhau. Sau này lớn lên cho tới lúc bước vào tuổi trung niên, tình thương huynh đệ giữa hai anh em vẫn bền chặt, không hề suy suyển theo thời gian và Thân vẫn tự nhủ lòng phải bảo bọc cho Trang. Tuy nhiên, định  mệnh và cuộc sống đã khiến hai anh em phải cách xa nhau trong khoảng không gian bằng nửa vòng trái đất. Thân kịp di tản ngay ngày miền Nam Việt Nam lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt, tháng Tư tang tóc điêu linh năm bảy lăm, trong khi cô em gái bị kẹt lại ở Sàigòn. Sau này, ở đất mới, sau khi đã ổn định nghề ngiệp,Thân có ý muốn bảo lãnh cô em sang Hoa Kỳ, nhưng Trang cương quyết khước từ, nại cớ phải ở lại quê hương để giữ gìn những gì ông bà lưu lại và chăm sóc mồ mã cha mẹ cùng lo việc cúng giỗ. Trong khi đó, Thân sau những năm dài học hành ở Hoa Kỳ, anh đã đạt được mảnh bằng kỹ sư chuyên nghiệp và làm việc tại một hãng sản xuất thuộc hạng lớn ở Mỹ nên công việc rất đa đoan. Thời gian trôi qua, cuộc thế lại đổi thay, Cộng Sản vì kinh tế xã hội chủ nghĩa sa sút trầm trọng, đã phải chấp nhận mở cửa cho người ngoại quốc và Việt kiều thăm viếng Việt Nam, Thân mới có dịp trở về quê hương, nhưng cũng chỉ giới hạn trong những dịp lễ đặc biệt của gia đình và thân nhân còn kẹt lại ở quê nhà. Lần này Thân trở về Việt Nam vì cái chết của Trung, người em rễ, đã qua đời đột ngột vì bạo bệnh.

Thân thông cảm nổi buồn của cô em gái khi Trang bỗng dưng bị mất đi người chồng thân yêu, khiến nàng cảm thấy hụt hẩng trong cuộc sống hiện tại. Thân thầm cảm ơn vợ chồng Trang dù phải sống trong hoàn cảnh khó khăn qua những năm đầu Cộng Sản mới nắm chính quyền, cũng đã cố giữ gìn ngôi biệt thự từ đường truyền lại từ đời ông bà nội cho tới nay. Mặc dù Thân chấp nhận gửi tiền về để vợ chồng Trang lo tu sửa gìn giữ ngôi nhà, nhưng hai người cũng đã nhất quyết góp phần cho bằng ông anh trong việc chỉnh trang trong ngoài lúc nào cũng mới, dù Việt Nam là  xứ nhiệt đới mưa mùa khiến nhà cửa rất dễ bị hư hỏng nếu không được chăm sóc thường xuyên. Trang và Trung đã tìm đâu ra tiền trong thời buổi kinh tế khó khăn để đóng góp, Thân không thể hiểu nổi. Nhưng trước lòng cương quyết của vợ chồng cô em gái, Thân đành phải chấp nhận. Thực ra Thân và Dung, nguời vợ hiện tại của anh, cũng cần tiền để chăm sóc và đóng thuế cho ngôi dinh cơ khá lớn và đắt giá của hai người ở Hoa Kỳ.

Thân lửng thửng tiến ra cửa trong lúc Trang bước lên thang lầu khi nghe tiếng gọi gấp rút của dì Thanh. Thân đưa mắt liếc nhìn gian phòng ăn vừa được Trang dọn sạch sẻ sau bữa  tiệc đãi khách tham dự đám tang củaTrung. Trước khi ra phi trường trở về Mỹ, Thân đã ngồi với Trang  mấy giờ đồng hồ, bàn bạc việc anh sẽ gửi thêm phần mình để giúp cô em sinh sống trong cảnh goá bụa và tiếp tục gìn giữ ngôi biệt thự từ đường. Tuy nhiên Trang vẫn tỏ ra cứng đầu, nhìn ông anh bằng ánh mắt cương quyết cho biết Trung có lẽ do linh tính báo nên những năm trước khi lìa đời, đã làm việc cật lực và để lại cho nàng một số lợi tức đáng kể.

 

T

hấy không thể thuyết phục cô em gái ngay lúc này, Thân nghĩ nên để thời gian giải quyết sự việc. Sau đó, hai anh em nhìn nhau trìu mến rất lâu trước khi giã từ. Thân nhận thấy em gái mình rất giống mẹ, trong khi anh lại có nét hao hao giống cha. Khuôn mặt hai người tuy khác nhau nhưng cử chỉ và tiếng nói vẫn giúp nhận ra là anh em.

Thân đã khước từ lời cô em đề nghị lái xe đưa anh ra phi trường để đáp chuyến bay đêm đi Mỹ. Thân cho biết anh muốn ghé khách sạn Thống Nhất ở gần khu nhà của Trang để chung vui với mấy người bạn trước khi lên phi cơ. Hơn nữa tại đó cũng có xe du lịch Nhà Nước chở khách tới phi trường.

Thân nói thực với Trang chỉ có một  phần, vì thâm tâm muốn trước khi rời Việt Nam, anh phải trở lại nẻo cũ thăm ngôi nhà Thuý từng ở trước kia, nơi đối với anh, ghi dấu rất nhiều kỷ niệm của tình yêu đầu đời. Mặc dù Thân biết nàng không còn ở đó, và ngôi nhà cũng đã đổi  chủ, có lẽ mấy bận, kể từ sau khi người yêu qua đời. Thân nghĩ dù sao anh cũng phải qua ngang đấy để nhìn lại nơi dấu yêu xưa trước khi trở lại cuộc sống quá bận rộn ở Hoa Kỳ.

Không thể nào quên mối tình đằm thắm với Thuý vẫn còn in sâu trong  ký ức, nên những lần về  thăm quê hương trước, đã nhiều lúc Thân muốn ghé thăm lại ngôi  nhà của người anh yêu nhất đời, nhưng lần nào cũng có vợ đi theo và cũng vì thời gian cấp bách nên anh không thể thực hiện được ý định. Thực ra Thân không muốn để cho những người đàn bà đến với anh, sau Thuý, biết tới nơi chốn đặc biệt của người yêu đã quá cố mà anh hằng ấp ủ trong lòng.

Thân vẫn nhớ mãi tình yêu đam mê của anh đối với Thuý, mặc dù chỉ ngắn ngủi qua mấy tháng anh được gần gủi nàng, trong thời gian còn là sinh viên đại học Văn Khoa ở Sàigòn.  Nàng đã đem đến cho anh thứ tình yêu kỳ diệu khiến từ đó hình ảnh nàng in sâu trong tâm tưởng anh mãi mãi. Đối với Thân,  tình yêu Thuý dành cho anh đã trở  thành những gì cao cả để anh tôn  thờ suốt cuộc đời còn lại cho dù về sau đã có nhiều người đàn bà khác đi qua đời anh. Thực ra Thân cũng thương yêu những người vợ sau này, nhưng không thể nào so sánh với Thuý trong tâm tưởng anh.

Đường tình của Thân rất lận đận, không kể tình yêu đầu tiên của Thuý thuộc về ký ức chẳng thể nào phôi phai, tính ra Thân đã phải ba lần chắp nối nhân duyên. Hồng, người vợ đầu  tiên của anh đã qua đời vì bạo bệnh, Liễu, người vợ thứ hai bỏ anh, đi theo tiếng gọi tình yêu của người đàn ông  khác, nên anh âm thầm tiến hành thủ tục ly dị, bạn hữu không ai hay biết. Sống với tình duyên mới, nàng vẫn ở cùng khu vực, nên anh thường gặp nàng đi với chồng trong những buổi tiếp tân và dạ tiệc của đám bạn bè. Tuy Thân đã có vợ khác, hai người vẫn thấy thích nhau, nhưng dù sao Thân vẫn yêu Dung người vợ hiện thời đang ở với anh hơn, tuy sau một thời  gian chung sống, anh với nàng cũng đã có một số tư tưởng khác biệt, nhưng vì đã mệt mõi với những đổi thay tình ái nên anh phải chấp nhận và Dung cũng vậy.

Trong chuyến về Việt Nam lần này, vì Thân dự đám táng người em rể, nên Dung không đi theo chồng, nàng muốn thăm cha mẹ định cư ở Canada.  Thực ra vấn đề mưu sinh trên đất nước văn minh như Hoa Kỳ đã khiến vợ chồng Thân chẳng được gần gủi nhau nhiều, vì mỗi người có việc làm riêng rẻ. Anh thường  phải đi công tác cho công ty, làm việc dài hạn ở Trung Đông, nơi không thích hợp để Dung theo, nên vào những dịp nghỉ thường niên, nàng thường đáp phi cơ sang Canada.

 

Đ

iều gì đã thúc đẩy Thân có ý định phải đến thăm cho được nơi Thuý, người yêu quá cố của anh, đã ở, chính Thân cũng không thể biết được. Thân nghĩ thực ra đã do sự cuốn hút kỳ lạ mà anh không thể giải thích hoặc diễn tả bằng lời lẽ. Thân chỉ nhận thấy anh hăng hái rảo bước nhanh trên đường đến nhà nàng, về nẻo cũ, một cách mạnh dạn như thuở còn là sinh viên mười chín tuổi  đang độ yêu đương mê đắm. Anh nhớ thưở đó, nhiều lúc đã phải thẩn thờ, tiến bước thật chậm, đôi khi hầu như lang thang, nhưng tâm tưởng tràn đầy niềm vui và hạnh phúc với ý nghĩ sắp được gặp Thuý.

Thân bất chợt nhớ rất rõ những lời cha mẹ đã thẳng thắn cự tuyệt chuyện tình giữa anh với Thuý khiến anh hết sức buồn lòng mỗi lần nghĩ đến. Anh không ngờ sự việc lại có thể như vậy, và cho tới bây giờ, bao nhiêu năm trôi qua và nàng đã thành người thiên cổ, anh vẫn thấy khó thể hiểu nổi tâm lý khắt khe và nguyên nhân cha mẹ mình không chấp nhận Thuý làm con dâu. Thân liên ttưởng tới thời đại rất khác biệt thuở đó khi hai người yêu nhau không được quyền tự do kết hợp, hoặc quyết định chung sống nhau, nếu không được cha mẹ đồng ý. Thân nghĩ cha mẹ chắc đã quyết liệt phản đối vì không muốn nhận một cô dâu tương lai như Thuý có quá khứ là người đàn bà từng ly dị chồng và hơn con trai mình đến mười tuổi.

Thân không thể quên thái độ cương quyết cùng nét mặt cứng cõi của bà cụ thân sinh, mỗi khi bà chờ anh trước cửa và nói thẳng thừng: 

– Này, con không được giao du với người đàn bà đó đấy nhá!

Mẹ Thân  không bao giờ nhắc đến tên Thuý dù bà đã biết rõ mà chỉ gọi nàng bằng hai chữ ”con đó” với vẻ mỉa mai. Và mỗi lần như vậy, để mẹ được vừa lòng, anh thường lập lại câu nói đã thuộc lòng:   – Vâng, con nghe lời mẹ.

Và như vậy, bà cụ sẽ nói thêm để đánh mạnh vào tâm lý của Thân:

– Mẹ  tin chắc ”con đó” có số sát phu, con ưng nó là rước họa chết chóc vào người!

Cha Thân, cũng thường phụ hoạ, khi ông lập lại ý tưởng  của bà cụ:

–  Mẹ con nói đúng, cô ấy sẽ mang họa đến cho con.

Ngay cả chú Tỉnh và mấy bà dì cũng đều cho rằng nếu anh cãi lời khuyên can của gia đình, cứ yêu Thuý, thì khẳng định anh sẽ mang đại họa vì nàng.

Mỗi lần gặp người yêu, Thân giấu biệt những ác cảm mà những người trong gia đình anh đã phán đoán về nàng. Anh chỉ nói hai ông bà cụ thân sinh của mình cương quyết không chấp nhận nàng làm dâu. Trong lúc Thân mù mờ đối với sự kiện cha mẹ cấm đoán tình yêu của anh dành cho nàng thì Thuý tỏ ra hiểu rất rõ lý do bị từ chối. Nhưng mặc kệ, nàng chỉ biết một lòng yêu Thân mà không hề bận tâm thắc mắc đến những đố kỵ khắc khe của lễ giáo.

Thân đã gặp gỡ Thuý trong thư viện đại học Văn Khoa Sàigòn vào thời gian nàng là nhân viên ở đó. Hầu hết thì giờ, nàng làm việc ở quầy kiểm sách và vui lòng tìm giúp những loại sách Thân cần tới. Cho đến lúc hai người gặp nhau trong quán cà phê ở bên kia đường, đối diện khuôn viên đại học, trong một bữa ăn trưa, Thân có thể nhận thấy ánh mắt đầy cảm tình Thuý  dành cho anh khi nàng ngồi một mình ở cách mấy chiếc bàn. Sau đó, Thân đã tình nguyện giúp Thuý đưa một mớ sách về phòng trọ của nàng. Thuý đã mời anh lưu lại, pha cà phê và tình thân  lần hồi đến, nàng giữ anh ở lại dùng cơm tối do nàng tự tay nấu lấy. Từ đó cả hai tỏ ra mến thích nhau cho đến lúc tình yêu phát sinh chỉ trong thời gian ngắn ngủi. Thân không thể diễn tả tình cảm của mình đối với nàng lúc đó và cho tới bây giờ anh vẫn không thể giải thích nổi, như chưa bao giờ thấu đáo được mối tương quan tình cảm đối với người khác phái trong đời sống của mình và niềm hoan lạc nàng đem đến cho anh vẫn tồn tại trong tâm trí tới những ngày hôm nay. Suy nghĩ miên man, Thân tự thấy hiện tại, ảnh hưởng của ông bà cụ thân sinh, của cô em gái  hay của các bà vợ, không quan trọng mấy so với tình cảm sâu đậm anh dành cho Thuý.

 

N

gôi nhà người yêu đầu đời của anh từng cư trú chẳng xa lắm. Đến nơi, Thân nhận thấy quang cảnh khu phố có ngôi nhà tọa lạc đã tiêu điều rất nhiều. Thuở Thuý còn sống, nơi đây là khu gia cư khang  trang, nhưng bây giờ Thân thấy nhiều nhà đã treo những tấm bảng trước cửa với mấy chữ ”Coi Chừng Chó Dữ”, ”Phòng Cho Thuê Có Bàn Ghế Tủ Giường”, “Nhà Bán – Có Thể Thương Lượng”. Lề đường thì nứt nẻ, loang lỗ nhiều nơi, cỏ mọc vướng chân, hầu như chính quyền thành phố đã bỏ, không tu sửa, không người quét dọn, nên nơi đây trở thành xóm bình dân tồi tàn, dơ bẩn với rác rến vung vải khắp nơi.

Một cậu bé cửi xe đạp qua ngang suýt chút nữa tông vào người Thân lúc anh tiến đến gần ngôi nhà người yêu từng ở trọ. Đến nơi, anh ngước mặt nhìn chăm chăm lên cửa sổ một gian phòng trên lầu hai. Ánh dương đã khuất hẳn, bóng tối đang phủ xuống vạn vật nên Thân thấy rõ ánh đèn sáng tỏa ra ở cửa sổ, nơi nàng từng làm phòng khách. Cảnh cũ còn đây, người xưa đâu mất? Thân lẩm bẩm như kẻ tình si và muốn phóng nhanh lên thang lầu như từng làm trong thời còn là sinh viên trẻ trung, để gỏ cửa phòng nàng. Tuy nhiên anh vẫn đứng yên tại chỗ, tiếp tục dõi mắt nhìn lên, liên tưởng đến niềm vui và nỗi sướng anh từng hưởng với Thuý ở đó.

Thân trầm ngâm, bất động khá lâu, mắt đăm đăm hướng về chốn cũ, tâm trí tràn ngập kỷ niệm của những ngày thân ái xưa. Anh hồi tưởng thời quá khứ ấm êm và tình yêu tuyệt vời mà người đàn bà hơn mười tuổi đời đã mang đến cho anh. Thân lẩm bẩm: ”Tình yêu không phân  biệt tuổi tác và bất chấp hoàn cảnh, mình yêu nàng tha thiết”.

Bỗng dưng Thân chợt tỉnh, tiến tới dưới ánh đèn đường nhìn chiếc đồng hồ tay và nhận thấy thời gian sống với quá khứ đã làm anh trễ chuyến bay phải đáp trở về Mỹ. Tuy nhiên Thân chẳng bận tâm, tự nhủ không sao, anh sẽ đáp chuyến bay khác. Chỉ biết hiện tại, anh chưa muốn rời xa dấu kỷ niệm xưa. Cảnh cũ nơi người yêu nhất đời từng ở trọ đã như có hấp lực mê hoặc và giữ chân anh.

Nhớ lại những lần gặp gỡ xưa, Thân không thể mường tượng nổi cả hai đã nói với nhau những gì, dù anh và nàng từng thốt rất nhiều lời. Ngay cả anh cũng không thể phân biệt được ánh mắt người yêu cùng màu tóc đích thực và vóc dáng của nàng như thế nào. Thân chỉ có thể nhớ mối tình đằm thắm cùng những cử chỉ yêu đương trìu mến, và niềm hạnh phúc anh tận hưởng khi ở bên nàng.

Đang miên man suy tư về người yêu xưa, bất chợt trong tận cùng tâm thức của Thân xuất hiện những lời cha mẹ và ông chú đã nói gỡ khi nhận xét về Thuý. Thân cho rằng cha mẹ anh đã không hề biết tính dịu dàng khả ái và lòng quảng đại của nàng. Đối với Thân, dù sao, Thuý cũng đã tạo cho anh niềm sung sướng cũng như hạnh phúc khó thể diễn đạt thành lời, và chỉ biết nàng đã dành cho anh tình yêu đam mê trọn vẹn. Nhưng cha mẹ Thân lại cả quyết:

– ”Người đàn bà đó sẽ mang họa đến cho con!”

Những lời này được lập đi lập lại không  biết bao nhiêu lần trong thời gian Thân hưởng trọn vẹn yêu đương với Thuý mà cho đến bây giờ tâm trí anh vẫn còn bị ám ảnh, mặc dù nàng qua đời đã lâu, khiến nhiều lúc Thân tưởng như những lời bất biến này sẻ phủ chụp xuống cuộc đời anh mà không có cách nào thoát được. Nỗi ám ảnh đã khiến Thân liên tưởng đến những lời nguyền ác hiểm phát ra từ miệng những nhân vật trong chuyện thần thoại Hy Lạp.

Bỗng dưng Thân thấy bất mãn cùng cực vì sự vô lý của cha mẹ đối với Thuý, anh hét thật lớn tiếng, lòng tràn ngập bất mãn: – ”Không thể nào như vậy!” Thân tự biết trước kia, anh chưa từng một lần phản kháng ý muốn của cha mẹ mình. Bây giờ anh có cảm tưởng hai ông bà đang ở sau lưng nên nhất định phải phản đối, phải chống cự quyết liệt một khi bị áp chế. Tuy nhiên chỉ trong chớp nhoáng thức tỉnh vì sự đau đớn ghê gớm xuất phát từ tận cùng tâm não, Thân mới nhận thức được những gì hai đấng sinh thành nói trước kia nay đã trở thành như lời tiên tri không thể phủ nhận là tình yêu đối với Thuý đã khiến anh dẫn thân đến nẻo cũ và tự đưa mình vào chỗ chết. 

Trong những giây phút cuối cùng tri giác còn có thể hoạt động, như ngọn nến bùng lên trước khi tắt ngấm vĩnh viễn, anh mơ hồ nghe những tiếng nói lao nhao: – “Mau lên mày! Chuồn nhanh không người ta báo công an đến bây giờ! Thằng cha Việt kiều này khoẻ thật, la hét chống cự dữ quá! Kỳ này chúng mình vớ được món bở, đồng hồ Rolex thứ thiệt với lại cả xấp đô la trong túi… Bây giờ hãy lôi xác vào giấu sau hẽm đi!” ª

                                                                                                            QUANG THIỆN




Tạ Quang Khôi : Người Yêu Hà Nội

NGƯỜI YÊU HÀ NỘI

                    Tạ Quang Khôi

 

Hoàng có thói quen sáng nào cũng phải mua lạc rang của ông Tầu già ngồi bên bờ hồ, đối diện với Tháp Rùa. Lạc của ông rang thật khéo, vừa thơm vừa ròn. Vì thế, giá hơi đắt, một đồng chỉ có một nắm tay của ông đựng trong một bao giấy hình củ ấu, mà rất đông người mua. Chỉ một loáng đã thấy ông thu xếp thùng không đi về. Mùa lạnh ông đắt hàng hơn, vì ai cũng muốn thủ một nắm lạc nóng trong túi. Trước khi cho lạc vào túi áo ngoài Hoàng thường chọn riêng ra năm hột để vào một túi khác. Sở dĩ chàng làm như thế vì đã nhiều lần ăn phải hột lạc cuối cùng thì bị thối, phải xúc miệng ngay.

                Hoàng ở phố Huế, khu Chợ Hôm, sáng nào cũng phải đạp xe đạp đến trường ở góc phố Quan Thánh và phố Ðỗ Hữu Vị. Khi đi đến ngã tư Tràng Tiền, chàng rẽ trái vào Hàng Khay để dắt xe qua chợ hoa, men bờ hồ, ghé mua lạc của ông Tầu. Một hôm, chàng vừa mua xong, một cô gái, đi từ phía nhà Thủy tạ, cũng dắt xe vào mua. Vừa thoáng nhìn, chàng biết ngay cô là nữ sinh Trưng Vương. Cô còn nhỏ, chàng đoán chững 15 hoặc 16. Hai người bất chợt gặp nhau, chỉ nhìn nhau mà không nói một lời. Ðôi mắt cô đen láy, thoáng như có nét cười. Chàng muốn lên tiếng chào cô để làm quen, nhưng lại e ngại, giữ im lặng. Mua lạc xong, cô chợt ngửng lên nhìn chàng, rồi mới dắt xe xuống đường. Cái nhìn ấy như một lời chào khiến chàng bỗng thấy vui và xao xuyến trong lòng. Chàng đứng im lặng nhìn theo cô cho đến khi có người đến mua lạc mới giật mình như choàng tỉnh. Chàng vội vã dắt xe xuống đường. Ðáng lẽ phải đi ngược chiều để đến trường, chàng lại đi về phía chợ Hôm. Nhưng đến ngã tư Hàng Khay, chàng bị viên cảnh sát lưu thông ngăn lại cho xe cộ từ Trường Tiền và Hàng Khay đi qua lại. Lúc được phép đi, chàng nhìn hút về phía trước, không thấy cô gái đâu nữa. Chàng đoán cô đã rẽ trái để vào trường. Chàng đành đi ngược trở lại để đến trường.

                Từ ngày đó, sáng nào mua lạc rang chàng cũng mong gặp lại cô, nhưng chẳng thấy tăm hơi cô đâu. Dần dần vì bận học, chàng cũng quên đi.

                Khi được nghỉ Tết sớm, có nhiều thì giờ rỗi rảnh, Hoàng thường mặc áo ấm, rồi đạp xe đi chơi loanh quanh trong thành phố cho đỡ mệt sau những giờ chúi mũi vào sách vở. Ra giêng, kỳ thi đã gần kề, không còn thì giờ để nghỉ ngơi nữa.

                Vào một buổi trưa nắng hanh vàng, gió se se lạnh, Hoàng chợt trông thấy trên vỉa hè đầu phố Hàng Ngang một ông đồ già. Chàng hơi ngạc nhiên vì đã lâu lắm không ai còn thấy mấy ông đồ ngồi viết thuê trên vỉa hè Hà Nội. Chàng nhớ ngay tới mấy câu thơ của Vũ Ðình Liên :

                                                              Những người muôn năm cũ,

                                                                          Hồn ở đâu bây giờ ?

                   Chàng vội xuống xe, bước lại gần. Ðúng là một ông đồ già bằng xương bằng thịt, không phải là một bóng ma của dĩ vãng. Trước mặt ông là một cái kỷ thấp, bề ngang chừng hai mươi lăm phân tây, dọc khoảng sáu mươi. Mặt kỷ cách mặt đất chừng một gang tay. Kỷ màu đen, trông đã cũ, nhưng nét chạm trổ vẫn còn đẹp. Nhìn chiếc kỷ thấp, chàng lại nhớ đến thời kỳ Nhật đảo chính Pháp. Các trường học tạm thời phải đóng cửa. Cha mẹ chàng không muốn chàng lêu lỏng, gửi chàng đến nhà một ông bạn của cha chàng để học chữ Nho. Thầy đồ là một ông già đỗ hai lần Tú tài, nên mọi người gọi là một cụ Kép. Trước mặt cụ Kép cũng có một cái kỷ thấp bằng gỗ gụ để mộc. Trên kỷ, có mấy cuốn sách. Ðến trưa, cụ ăn cơm ngay tại “lớp”. Mâm cơm được đặt trên Kỷ. Lớp học chỉ lèo tèo năm bảy đứa bé con bằng tuổi Hoàng. Ðám trẻ được học sách “Minh Tâm Bửu Giám”. Hoàng bắt chước các bạn khác cũng ê a đọc theo cụ đồ. Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, gia đình ông bạn của bố chàng cũng như nhiều gia đình khác, kể cả gia đình chàng, đã phải đi tản cư. Cho đến nay vẫn chưa thấy họ trở về thành phố.

                “Cửa hàng” viết thuê của cụ đồ ở ngay trước một hiệu kim hoàn. Cụ mặc một chiếc áo dài bằng đoạn màu đen cũ, hai vai đã sờn. Ðầu cụ đội khăn xếp đã bạc màu. Trông cụ không già bằng cụ Kép, thầy học cũ của chàng, nhưng râu tóc cũng đã bạc. Hai mu bàn tay cụ nổi gân xanh khi cụ viết. Móng tay cắt ngắn chứ không để dài như các cụ nhà Nho ngày xưa.

Trên cái kỷ của cụ có mấy tờ giấy hồng điều, mấy cái bút lông và một nghiên mực để bên trái của kỷ. Cụ đang viết chữ “Phúc” cho một người khách. Nếu so sánh với nét chữ của cụ Kép, thầy học cũ của chàng, thì cũng đẹp như nhau, nhưng có lẽ thiếu vẻ bay bướm. Cụ đồ này nét chữ chân phương, ngay ngắn. Chàng muốn đứng xem cụ viết, nhưng thấy đã có đông người xúm quanh cụ thì lách ra ngoài để bỏ đi.

Chàng cũng lo ngại chiếc xe đạp dựng sát vỉa hè có thể bị người ta lấy đi mất.

Chàng vừa định nhẩy lên xe thì trông thấy một cô gái từ trong hiệu vàng đi ra. Chàng nhận ngay ra cố gái mua lạc rang của ông Tầu già bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Hình như cô cũng nhận ra chàng nên có vẻ hơi giật mình. Nhưng cô lấy lại bình tĩnh ngay, thong thả đi về phía Hàng Ðào.

Hoàng không bỏ lỡ cơ hội, vội vàng dắt xe đi theo ngay. Hôm nay trông cô có vẻ lớn hơn hôm mua lạc. Cô mặc một áo dài len Mộng Tự màu tím hoa cà, cổ quàng một chiếc khăn bẳng lụa mỏng, bay phất phới theo gió. Khi đến sát cô, Hoàng rụt rè hỏi :

“Cô…cô có nhận ra tôi không ?”

Cô không trả lời, nhìn thẳng, vẫn bước một cách khoan thai. Nhưng Hoàng nhận thấy môi cô thoáng một nụ cười. Chàng liền hỏi :

“Thế là cô biết tôi là ai rồi, phải không ?”

Cô mỉm cười trả lời :

“Anh là anh lạc rang.”

Chàng hơi ngạc nhiên nhưng cũng thầm nhận cô dí dỏm, tinh nghịch, nên vui vẻ cãi :

“Tên tôi không phải là lạc rang.”   

Như cố ý trêu tức chàng, cô nói :

“Ðó là chuyện riêng của anh. Tôi chỉ biết tôi gặp anh ở chỗ ông Tầu bán lạc rang thì gọi anh là lạc rang…Mà tôi cũng chẳng muốn biết tên thật của anh làm gì.”

Thấy cô lém lỉnh, Hoàng bắt đầu thấy vui và lấy lại bình tĩnh, hỏi :

“Thế tôi muốn biết tên cô thì sao ?”

“Thì chẳng bao giờ tôi nói cho anh biết hết.”

Chàng dọa :

“Tôi sẽ hỏi dò, thế nào cũng phải ra.”

Cô im lặng. Ðến đầu đường rẽ vào phố Hàng Bạc, cô chợt nói :

“Thôi, chào anh, tôi phải về.”

Hoàng liền hỏi :

“Nhà cô ở phố này ?”

“Anh tò mò để làm gì ?”

Chàng không đáp mà nhìn cô đăm đăm, rồi hỏi :

“Cô có biết hôm nay cô đẹp lắm không ? Cô trông khác hẳn hôm cô đi học.”

Cô không nói, không cười, chỉ hai má hơi ửng đỏ và đôi mắt như có nét vui. Ðến một hiệu vàng ở cuối phố Hàng Bạc, cô dừng lại, nhìn Hoàng như muốn nói, ngập ngừng một chút, cô quay ngoắt đi, bước nhanh vào nhà. Hoàng đứng ngẩn ngơ nhìn theo mà không biết nói gì hay làm gì. Vừa lúc đó, một thằng bé chừng chín, mười tuổi từ trong hiệu đi ra. Chàng vội nắm lấy tay thằng bé hỏi :

“Cô xinh xinh vừa đi vào là ai thế hả em ?’

Thằng bé nhìn chàng, rồi thật thà đáp :

“Chị Lệ chứ còn ai nữa.”

Hoàng mừng rỡ vì đã biết tên cô gái một cách không ngờ. Chàng định hỏi thêm về tuổi của Lệ thì thằng bé đã chạy đi mất rồi. Chàng tần ngần đứng trước cửa hiệu kim hòan Vạn Thái, không biết nên bỏ đi hay đợi Lệ trở ra. Chàng thầm tự hỏi đợi thì biết đến bao giờ mà xồng xộc vào hiệu để đòi gặp nàng e đường đột và sỗ sàng quá. Dù sao chàng cũng chỉ mới quen Lệ có mấy phút thôi. Chàng đành lên xe đạp về cuối phố, đến đầu Hàng Bè mới quay trở lại. Chàng lượn đi lượn lại mấy vòng mà vẫn không thấy bóng Lệ đâu đành phải đi về vì lúc đó trời đã bắt đầu tối, gió đã lạnh hơn. Khi chàng đi qua phố Hàng Ngang, không còn thấy đám đông vây quanh ông đồ viết thuê nữa mà cũng không thấy ông đâu.

Mấy ngày liền gần Tết, Hoàng có ý tìm Lệ mà không thấy nàng. Hình bóng người con gái mặc áo dài len Mộng Tự màu tím hoa cà có nụ cười tươi và lém lỉnh ám ảnh chàng, không cho chàng học được một chữ nào mà kỳ thi đã gần kề. Các học sinh lớp thi như chàng sau Tết nguyên đán đều phải chúi mũi vào sách vở, không còn biết trời đất gì nữa. Chàng đành phải tạm biệt Lệ cho đến sau kỳ thi. Chàng nhớ tới hai câu thơ của xuân Diệu :

                                                    Mùa thi đã đến, em Thơ,

                                                          Chiếc hôn âu yếm xin chờ năm sau.

Chàng và Lệ đã có gì đâu mà hẹn hò, chỉ mới bắt đầu quen thôi. Chả biết “người ta” có còn nhớ đến mình không hay đã quên một người xa lạ tình cờ gặp giữa đường ? Hôm sát Tết, chàng mặc áo thật ấm, đi xe điện tới bờ hồ Hoàn Kiếm, rồi tản bộ vào Hàng Ðào, Hàng Bạc. Chàng chưa đến hiệu Vạn Thái đã thấy Lệ bước ra. Chàng mừng rỡ, vội vã bước lại gần. Lệ trông thấy chàng, nhoẻn miệng cười chào :

“Anh lạc rang.”

Chàng phì cười nói :

“Tên tôi không phải là lạc rang hay lạc luộc mà là…”

Lệ chặn lại ngay :

“Tôi không cần biết tên thật của anh, chỉ muốn gọi anh là lạc rang thôi.”

“Thế mà tôi biết tên cô rồi đấy.”

“Anh hỏi thằng nhãi ranh nhà tôi chứ gì. Hôm ấy tôi đã mắng cho nó một trận.”

“Sao lại mắng nó ? Trẻ con biết gì nói thế. Người ta vẫn nói đi hỏi già về nhà hỏi trẻ mà”

“Nhưng anh là người lạ.”

“Tôi mà lạ ? Lạ mà sao cô lại biết tên tôi ?”

Lệ có vẻ hơi ngạc nhiên :

“Tôi mà biết tên anh ?”

“Không biết sao cô vẫn gọi tôi là lạc rang ?”

Lần này thì Lệ phì cười, rồi nói :

“Thế là anh nhận tên ấy rồi nhé.”

“Chẳng nhận thì cô cũng chẳng tha.”

Lệ chợt nói :

“Thôi, chào anh. Tôi phải chạy ra phố Hàng Ðường mua mấy thứ cho mợ tôi.”

“Tôi cũng đi với cô.”

“Không được, người hàng phố lại tưởng anh là…là…”

Mặt bỗng đỏ bừng lên Lệ không nói tiếp được. Hoàng hiểu ý nàng, đề nghị :

“Cô cứ lên phố Hàng Ðường đi, hẹn sẽ gặp cô ở đó. Tôi đi đường khác cho người ta không tưởng nhầm này nọ.”

Lệ nhoẻn miệng cười, không nói gì. Hoàng đi ngược về phố Hàng Bè, rẽ vào ngõ Sầm Công, qua phố Hàng Buồm để tới Hàng Ðường. Chàng đi thật nhanh để đến trước Lệ. Khi chàng đã đứng ở đầu Hàng Buồm và Hàng Ðường, thấy Lệ còn đang đi giữa phố Hàng Ngang. Khi hai người gặp nhau, Lệ vui vẻ hỏi :

“Anh chạy hay sao mà nhanh thế ?”

“Tôi chỉ bước nhanh thôi, chứ không chạy. Lệ đi chậm như rùa thế này thì việc gì tôi phải chạy.”

Lần đầu tiên nghe chàng gọi mình bằng tên, Lệ nguýt chàng một cái, rồi mỉm cười. Cái nguýt ấy làm chàng ngây ngất. Cái nguýt ấy là cái nguýt yêu, cái nguýt chấp nhận, mở cửa. Chàng liền nói :

“Bây giờ tôi cho Lệ biết tên tôi nhé.”

Nàng gạt đi ngay :

“Tôi không cần biết tên thật của anh. Cứ lạc rang mà gọi  cũng được chứ sao.”

Chàng nói đùa :

“Lệ thích ăn lạc rang, lỡ có một ngày Lệ ăn tôi thì nguy lắm.”

Nàng phì cười :

“ Tôi có bị đói như năm Ất Dậu cũng chả dám ăn thịt người, nhất là thịt anh.”

“Tại Lệ cứ gọi tôi là lạc rang, biết đâu chả có ngày tưởng tôi là lạc rang thật…”

Nàng gật đầu :

“Ðúng, cứ nhìn thấy anh là tôi nghĩ đến lạc rang. Mấy hôm vừa rồi, tôi đứng trong nhà thấy anh cứ đạp xe đi lên đi xuống phố Hàng Bạc, tôi lại nói thầm với tôi : cái anh lạc rang này không biết đã làm mòn mấy cái lốp xe ở phố Hàng Bạc này rồi.”

Hoàng có giọng trách :

“Cô thấy tôi mà sao không ra cho tôi gặp ?”

“Ơ cái anh này nói hay nhỉ ! Tại sao tôi phải ra cho anh gặp ? Anh muốn làm mòn lốp xe thì mặc xác anh chứ ăn thua gì đến tôi.”

Hoàng thầm công nhận cô gái này quá lém lỉnh, đảnh chịu thua. Chàng tặc lưỡi nói :

“Thôi được, Lệ không thèm biết tên tôi, tôi cũng cứ nói. Không thích thì bịt tai lại. Tên tôi là Hoàng.”

Chờ một lát, không thấy chàng nói tiếp, Lệ hỏi :

“Có thế thôi ư ? Còn sinh năm nào, ở đâu, cha mẹ tên là gì, đang đi học hay đã đi làm, làm gì, cu ly hay đạp xích lô, vân vân và vân vân…”

Hoàng cười phá lên, không ngờ Lệ lại có tính hài hước đến thế. Chàng nói đùa theo :

“Lệ có khiếu làm mật thám đấy. Nên chọn nghề công an, cảnh sát.”

Vì những lời nói đùa ấy, hai người thân nhau một cách dễ dàng và nhanh chóng. Sau khi Lệ mua bán ở phố Hàng Ðường, Họ chia tay và hẹn gặp vào một ngày sau Tết. Cuộc tình bắt đầu nở hoa vào mùa xuân với những cơn mưa phùn, gió bấc lạnh lẽo. Hoàng biết tên thật của Lệ là Lệ Ngọc, ở nhà chỉ gọi tắt là Lệ, vì trên nàng còn một người chị là Diễm Ngọc. Nàng đã 18 tuổi và đang học lớp đệ Tứ ở Trưng Vương, sửa soạn thi trung học đệ nhất cấp. Vì mấy năm tản cư ra hậu phương nên bây giờ học hành thua kém bạn cùng lứa tuổi. Còn Hoàng là con trai duy nhất của một gia đình công chức khá giả. Cha chàng làm việc ở nhà đoan Hà Nội, mẹ chạy hàng sách, Chàng chỉ hơn Lệ có hai tuổi và đang học lớp đệ Nhất ở Chu Văn An. Cả hai đều phải học thi nên họ hạn chế việc gặp nhau. Thỉnh thoảng lắm, vào những ngày nắng ấm, họ mới cùng đạp xe song song qua những phố Tây vắng vẻ cho đỡ nhớ, rồi lại vội vàng về nhà học tiếp. Nhờ vậy, cả hai cùng đạt kết quả tốt đẹp trong kỳ thi vào đầu mùa hè.

Nhưng họ chưa kịp bàn tính chuyện tương lai, hiệp định Genève ra đời. Vấn đề đi Nam hay ở lại được nhiều gia đình ở Hà Nội bàn tới sôi nổi. Gia đình Hoàng quyết định ngay là phải di cư vào Saigon để tỵ nạn cộng sản. Trong khi đó gia đình Lệ nghĩ rằng buôn bán không liên hệ gì đến chính trị, không cần phải chạy trốn. Thế là cuộc tình mới chớm nở của hai người bị đe dọa. Thi cử đã xong, họ gặp nhau hàng ngày để cố gắng tìm cách giải quyết bế tắc. Nhưng Lệ không bao giờ dám nghĩ đến chuyện bỏ gia đình đi theo Hoàng. Thật ra, mối tình chưa sâu đậm đến nỗi nàng dám nhắm mắt làm liều. Có lần Hoàng đề nghị hỏi cưới nàng thật nhanh như cưới chạy tang, nàng từ chối ngay vì sợ hàng phố tưởng nàng đã “thế nào” với chàng mới phải vội vã như vậy. Không những thế, hai người còn trè, nếu lấy nhau chắc sẽ phải bỏ học để kiếm ăn. Như vậy, tương lai sẽ mờ mịt.

Vào một ngày giữa tháng 8, hai người gặp nhau lần cuối cùng trước khi chia tay, kẻ Bắc người Nam. Cả hai đã không cầm được nước mắt, nắm tay nhau mà khóc. Hoàng tìm cách an ủi người yêu là hy vọng sẽ được gặp lại nàng sau hai năm xa cách vì sẽ có tổng tuyển cử theo hiệp định Genève.

Buổi tối hôm đó, gia đình Hoàng được đưa ra phi trường Bạch Mai để đi máy bay quân sự Pháp vào Saigon.

                                                         X X

                                                           X

Gia đình Hoàng ổn định nhanh chóng nhờ cha chàng có việc làm sau một tuần tới Saigon. Ông trình diện sở Quan thuế và được tái tuyển dụng ngay. Khi còn ở Hà Nội, mẹ chàng chạy hàng sách nên cũng có chút tiền để dành, đủ để sang một căn nhà nhỏ cho gia đình gồm năm người.

Chàng vừa học Cao Ðẳng Sư Phạm vừa lấy thêm mấy chứng chỉ ở đại học khoa học. Cuộc sống mới bận rộn và thoải mái khiến chàng nhanh chóng quên mối tình Hà Nội. Có khi nào chợt nhớ đến Lệ, chàng cho đó là một mối tình bồng bột của tuổi học trò. Rồi hai năm qua, chàng cũng quên luôn chuyện tổng tuyển cử thống nhất hai miền, Chàng tốt nghiệp sư phạm hạng cao nên được dạy ở một trường trung học lớn ngay trung tâm Saigon. Chàng tiếp tục học để hoàn tất cử nhân khoa học. Chàng có tham vọng học lên cao nữa hoặc xin đi du học ngoại quốc, nhưng việc học bị ngưng lại khi chàng yêu và cưới một cô học trò cũ của chàng trong một lớp luyện thi Tú tài 2. Nàng thi trượt, bỏ học đi làm cho một sở Mỹ. Chuyện gia đình bận rộn càng khiến chàng quên dĩ vãng xa xưa.

Khi cộng sản chiếm miền Nam, vì làm cho sở Mỹ, vợ Hoàng có thể đưa cả đại gia đình nhà chồng và nhà mình di tản qua Mỹ. Vợ chồng Hoàng đều khá tiếng Anh nên xin được việc làm ngay. Chàng đi làm đến 70 tuổi mới về hưu để vui với đàn cháu nội ngoại.

Bỗng một hôm, Hoàng nhận được một lá thư lạ gửi từ Việt Nam qua. Ông uể oải mở ra đọc. Một người tự giới thiệu là Cát, tức Nhãi ranh, báo tin bà Lệ Ngọc đã chết cách đây ba năm, thọ 65 tuổi. Thư ngắn ngủi, không cho biết về chồng con bà. Thấy chồng đã đọc thư xong, đang gấp lại để cho vào phong bì, bà Hoàng hỏi :

“Thư ai thế, ông ?’

Ông hững hờ đáp :

“Thư của một người Hà Nội báo tin một người Hà Nội đã chết.”

                                                                                                           TQK

                                                                                                         11/16/08    




Nam Giao Lê Thiện Bình: LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHỤC HƯNG NƯỚC VIỆT NAM ?

LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHỤC HƯNG NƯỚC VIỆT NAM ?

 

I.             Dẫn Nhập

   

Qúy vị biết rằng cha ông ta đã khôn ngoan dạy lại cái bí thuật thành công cho con cháu : « một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao, hợp quần gây sức mạnh ». Lời nói của cha ông tuy mộc mạc, nhưng là cái triết lý để sống, để đoàn kết và tranh đấu trực diện đối với quân thù. Do đó, chúng tôi nghĩ ngày nào người Việt chúng ta biết đoàn kết, biết hợp quần lại, thì không có một thứ quân thù, quân xâm lăng nào mà người Việt ta không thể đánh bại được họ. Sá gì cái chủ nghĩa vô luân, trái đạo lý của tập đoàn Việt gian cộng sản Hà Nội bán Đất, dâng Biển của Tổ Quốc chúng ta cho bọn Rợ Hán Trung Cộng, laị nữa, bản chất của chúng không phù hợp với hồn tính dân tộc, mà chúng ta không đánh bại được chúng hay sao? Vậy muốn đánh bại chúng, theo chúng tôi nghĩ là chúng ta phải cần phục hồi lại văn hóa, tinh thần dân tộc cùng tôn giáo cha ông.

II.            Phục Hồi Tinh Thần Văn Hóa Và Tôn Giáo

   

Nhà chính trị đại tài, là ân nhân lớn của cả tỷ người trên hoàn vũ này, đó là ông Mikhail Gorbatchev. Ông là người có công lớn làm cho chế độ cộng sản của Khối Liên Sô và quốc tế cũng như các nước cưụ cộng sản Đông Âu tan rã. Ông đã nói một câu bất hủ làm cho chúng ta phải suy nghĩ lại về quê hương Việt Nam yêu dấu của mình, là :« chỉ có giá trị tinh thần của tôn giáo mới cứu vãn Liên Sô ». Vâng qủa đúng, và qúy vị đã theo dõi, đã thấy và mục kích tường tận các cuộc chiến thắng cộng sản sắt máu ở khối Liên Sô và Đông Âu, không chỉ bằng con đường dùng mưu lược chính trị hay sức mạnh quân sự. Nhưng một phần lớn sự chiến thắng cộng sản đó, là nhờ sự ý thức của các người dân hiền hòa ở Đông Âu cũng như các nhà chính trị tôn giáo ở đó. Vì họ hiểu rằng phải cậy dựa vào sức mạnh của các giá trị văn hóa và tôn giáo như một « tâm điểm » nối kết các giá trị tinh thần, hầu đoàn kết nhân dân lại tạo thành một sức mạnh, hiệp cùng một việc đồng lòng quyết tâm mới cứu nguy được Đất Nước họ.

Chúng tôi thấy rằng có lẽ cựu chủ tịch Fidel Castro hiểu được điều này, nên ông đã khẩn khỏan thỉnh cấu Đức Cố Giáo Hoàng Phao Lô Đệ Nhị đến thăm Cu Ba, hầu cứu vãn dân tộc của ông mà sau những năm tháng dài bị chủ thuyết xã hội cộng sản di hại, soi mòn niềm tin cùng sức sáng tạo của người dân. Còn giới trẻ, thì bị khủng hỏang và chao đảo niềm tin, họ mất dần bản sắc dân tộc mình. Do thế, chỉ có con đường khôn ngoan là chọn lựa phục hưng lại các giá trị tinh thần của văn hóa hoặc tôn giáo, thì Fidel Castro mới không làm cho Đất Nước mình rơi vào sự khủng hoảng trầm trọng về niềm tin dân tộc cùng sự tái xây dựng Đất Nước, sau khi lý thuyết marxisme-leninisme đã chết và dẫy chết khắp mọi nơi trên địa cầu này. Có lẽ thế Fidel Castro đã chuẩn nhận ngày Lễ Chúa Giáng Sinh là ngày lễ chung của Cu Ba, và ngày lễ nghỉ của toàn dân. Còn ông em là chủ tịch Raul đã cho Hội Đồng Giám Mục Cu Ba ra báo và có giờ phát thanh của tôn giáo. Để nhờ gương can đảm làm Ngôn Sứ Tin Mừng, gióng tiếng nói bênh vực kẻ cùng khốn, các Ngài ôm ấp hành trang của mình là cuốn Thánh Kinh. Đây chính là giá trị tinh thần và tinh thần sống nhân chứng sự thật, xã thân quên mình để bênh vực lẻ phải và tôn trọng nhân phẩm con người.Từ đó mới đem lại một sinh khi sự sống và niêm tin mới cho dân chúng Cu Ba, hầu họ khỏi rơi vào vực thẳm của đỗ vỡ suy đồi đạo đức và luân lý. Để rồi nhờ vậy dân Cu Ba với ngày tháng mới có thể vực dậy « đồng rác tồi tệ của xã hội chủ nghĩa cộng sản » tác hại mấy chục năm qua.

Thưa qúy vi,

Vỉ thế, hơn bao giờ hết. muốn cứu nguy cho Đất Nước Việt Nam thân yêu của chúng ta  ngày nay, thi chúng tôi thiết nghĩ không đi ra ngoài thông lệ này : chỉ có con đường phục hưng lại văn hóa cùng xem trọng nó, hầu tương lai dân tộc mới có ngày tươi sáng.

Qúy vị hay, trong lúc chúng tôi viết những giòng tâm thư này cho bạn, thì quê hương chúng ta đã bị « tập đoàn mafia » Hà Nội cấu kết với các tay tư bản tài phiệt « rừng rú », để làm ăn bất chính hoặc hoặc hưởng lợi sức lao động với đồng lương trả rẻ mãt cho các anh chi em Việt Nam chúng ta, phải đổ mồ hôi, máu và nước mắt để kiếm miếng cơm manh áo nuôi thân. Đã thế, tập đoàn mafia đỏ Hà Nội còn đi xa hơn nữa, là môi giới mở những « trung tâm dịch vụ hợp tác lao động » với ngươí nước ngoài như Đài Loan, Nam Hàn, Mã Lai, Nhật Bản, và các Nước Koweit (Kuwayt), Arabie Saoudite vv. và đưa các anh chị em qua làm vịệc ở các nước này. Đúng hơn, phỉ quyền Hà Nội « xuất khẩu và bán sức lao động » của anh chị em Việt chúng ta cho chúng, để hưỏng lợi nhựng số tiền hắng tỷ mỹ kìm ăn chận, ăn bớt của anh chị em làm ra. Lòng tham của chúng vô đáy, chúng chỉ biết có tiền, tiền bây giờ là « đạo giáo » được xem như là « ông trời » của tập doàn phỉ quyền Hà Nội tôn thờ. Thế nên chúng bất chấp dư luận, bất chấp đạo lý cha ông, bất chấp tình nghĩa dân tộc và giá trị làm người. Chúng muối mặt bán và nhượng quyền nhiều mảnh đất tốt đẹp của Đất Nước cho tài phiệt ngoại quốc. Đìẻn hình như khu phố Mỹ Hưng Qụận Bảy Sài Gòn chúng bán cho các tay tài phiệt Đài Loan. Những mảnh đất đó cha ông chúng ta và ngay cả chính chúng ta đã đổ bao xương máu, bao mồ hôi để giữ gìn cùng bảo vệ mảnh đất của cha ông để lại. Ôi biết bao triệu người đã nằm xuống để giữ gìn cho được các mảnh đất linh thiêng đó của quê hương! Nay thì bọn phường vô đạo, vô thức, chúng xem thường giang sơn gấm vóc của cha ông mà bán đi các mảnh đất tốt đẹp ấy đi.

Chúng ta thấy Đất Nước Việt dân chúng lầm than, cơ cực trăm bề. Cảnh sống người dân đầu tắt mặt tối, lam lũ cày bừa vẫn không đủ ăn, mặc ấm. Thế đó, lại thêm bọn sâu dân, cán bộ, công an phỉ quyền Hà Nội hà hiếp, sách nhiễu, bóc lột, đánh trăm thứ thuế lên đầu dân. Dân tình sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Hà Nội còn khổ hơn thời Pháp thuộc. Còn các ông lớn thì xe hơi sang trọng, nhà đủ mọi thự tiên nghi như nhà của Lê Dức Anh, nhà Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng. Cái chế độ gì mà tư các ông lớn cầm quyền trong « Bộ Tà Trị » đến các anh công an khu phố, từ anh đại tướng đến chú binh nhì gác cổng đều một mè tham nhũng như nhau, đã trở nên như một căn bệnh ung thư trầm trọng không thể chữa trị.

Như chúng ta thấy tường tận xã hội Việt Nam hiện thực dưới chế độ phỉ quyền Hà Nội, thì nhân phẩm con người chúng coi rẽ, nhân quyền bị chà đạp thua cả con vật ở các xứ Âu Mỹ được người dân ta yêu thương. Các quyền căn bản của con người bị xúc phạm đến trầm trọng. Đạo lý, luân thường bị chúng làm đảo điên do cái chủ nghĩa xã hội cộng sản mà Việt cộng áp dụng như một phương sách.

Thưa qúy vị,

Nhìn hiện trạng quê hương chúng ta hiện nay thì qủa thật bi đát – trong lúc đó thì thế giới Âu-Á-Mỹ-Úc, Phi châu đã đi vào một kỷ nguyên mới : là tự do, công bình, no ấm thịnh vượng, dân chủ, nhân quyền và an thái v.v.. Còn Việt Nam ta về mặt chính trị và kinh tế, thì đi thụt lùi cả trăm năm hơn đối với các nuớc tân tiến như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật, Thụy Sĩ, Hòa Lan v.v..

Chúng ta xem đó về lãnh vực xã hội chính trị, thì tiến trình dân chủ hóa đã nở rộ khắp nơi trong nhiều quốc gia trên thế giới. Hoa dân chủ được nở tươi trên đất Nga, là nơi cái nôi ấp ủ của chủ nghĩa cộng sản. Chủ thuyết marxisme-léninisme đã cáo chung không kèn không trống, mà thật sự phải cáo chung thôi. Bởi chủ thuyết đó đã gây ra bao tai họa, vô vàn đau khổ cùng chết chóc cho hằng trăm triệu con người, cho nhân loại. Người ta đã đào hố chôn cái chủ thuyết này xuống hố rác của lịch sử nhân loại. Song trong lúc đó, thì các vị cầm quyền bất chính ở Hà Nội vẫn còn đeo đuổi cái chủ thuyết di hại này cho dân tộc nhà.

Chúng ta thấy các nước anh em chung quanh Việt Nam như Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Thái Lan …đã vươn cánh bay cao về hai lãnh vực chính trị và kinh tế. Người dân trong các xứ này có được một đời sống sung túc, tiện nghi và an thái. Còn các nước Ậu Mỹ, thì như qúy vị thấy rõ họ đã đạp chân lên mặt trăng, và đã bắn nhiều phi thuyền đi thăm dò các hành tinh khác ngoài trái đất chúng ta. Thêm nữa họ sẽ dự dịnh đưa người lên mặt trăng và các hành tinh khác để sống trong tương lai. Nhìn lại Việt Nam ta hiện nay, thân phận người dân sống còn khổ cực, lầm than, đói rách. Chú bác, cha ông ta còn e lưng ra vá và bơm hoặc sữa những chiếc xe đạp, xe máy dầu cũ kỹ giữa các đường phố Sài Gòn, Huế, Hà Nội v.v. để kiếm tiền độ nhật. Tủi nhục và đau thương hơn cả, là giờ đây thế giới đã bước vào kỷ nguyên 3000, đánh dầu một biến cố quan trọng của nhân loại trong nhiều lãnh vực kinh tế, y khoa, văn chương, thông tin, truyền hình truyền thanh điện toán vv. Nhất là khoa học kỹ thuật thì các nước văn minh tiên tiến như Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Bỉ, Ý vv. đã có những hệ thống giao thông và vận chuyển công cộng tối tân hiện đại, để phục vụ quần chúng như xe điện, xe điện ngầm (u-bahn, métro,subway, underground), xe lữa chạy nhanh v.v.. Thậm chí, nhiều đoạn đường họ đã dùng xe điện, xe điện ngầm không người lái. Việt gian cộn sản tự hào là «đỉnh cao trí tuệ », đúng hơn là « đỉnh cao trí tối » của loài người. Chế độ xã hội chủ nghĩa là ưu việt nhất, mà cha ông, chú bác ta vẫn còn nai lưng ra đạp những chiếc xe ba-gát, xe xích lô (cyclo), xe ôm, xe thồ dưới bầu trời nắng cháy da, hay cơn mưa tầm tã và cái rét run người của thời tiết Việt Nam để kiếm bát cơm, nuôi sống gia đình. Chúng tôi thật xót xa, lòng quặn đau cho thân phận của cha ông cùng chú bác chúng ta bị sống dưới chế độ chủ nghĩa Hà Nội tồi tệ này.

III.          Nhìn Lại Người Việt Hải Ngoại

 

Qúy vị mến,

Chúng ta ở Hải Ngoại hơn ba thập niên qua đã làm được gì cho Đất Nước-Làm được gì để phục hưng nuớc Viêt Nam? Trước hết, thưa qúy vị, chúng tôi nghĩ rằng mọi người Việt Nam chúng ta ở Hải Ngoại, mỗi người nên tự vấn lại lòng mình đối với quê hương và đồng bào các  việc làm của ta. Riêng chúng tôi xin đưa ra đây « mười căn bệnh » của người Việt Nam ở xứ người, mà một vi lãnh đạo tinh thần khả kính là Đức cố Hồng Y Phan-Xi-Cô Xa-Vi-Ê  (Francois Xavier) Nguyễn Văn Thuận, nguyên chủ tịch Hội Đồng Giáo Hòang vể Công Lý và Hòa Bình, nói đến trong buồi thuyết trình của ngài tại San Diego ngày 10.10.1988. Chúng tôi xin tóm lược cùng trích lại :

1.   Bệnh quá khứ cục bộ phát sinh do lòng luyến tiếc các thành tích qúa khứ.

2.   Bệnh bi quan tiêu cực, không chịu dấn thân vào các việc cho rằng sức không làm nỗi.

3.   Bệnh lười biếng, trốn trách nhiệm, chỉ muốn nói mà không muốn làm.

4.   Bệnh vô trách nhiệm, nói nhiều làm ít, khi nói thì hăng say, mà khi hữu sự thì đùn cho người khác.

5.   Bệnh ỷ lại, chỉ ngồi chờ phép lạ mà không tích cực, dấn thân hay đóng góp.

6.   Bệnh tài tử hay làm việc tùy hừng, vui làm khó bỏ, không kiên trì nhẫn nại, thiếu ý thức và niềm tin.

7.   Bệnh hình thức chủ nghĩa, hay làm để phô trương, vì hiếu danh, nặng phần trình diễn mà không vụ vào nội dung hay mục tiêu công tác.

8.   Bệnh cá nhân chủ nghĩa do tự cao, tự đại hay kiêu ngạo là tội nặng nhất trong bảy mối tội đầu của người công giáo cũng như của các tôn giáo khác.

9.   Bệnh khôn ngoan thế gian hay bệnh khôn vặt, vận dụng tài trí để tính toán vị kỳ nhằm thủ lợi riêng, dù hại đến công ích và công nghĩa.

10. Bệnh bè phái và chia rẽ là căn bệnh trầm kha nhất của người Việt hải ngoại. Đây là nguyên nhân của những nguyên nhân thất bại trong công tác xây dựng niềm tin ( Diễn Đàn Việt Nam, số 90 tháng 1 năm 1999, trang 21).

Theo chúng tôi nghĩ qua 10 căn bệnh của Đức Cố Hồng Y Thuận nói đây, mỗi người Việt Nam chúng ta ai cũng mắc phải các căn bệnh nói này. Vì vậy để chiến thắng được mình và được người, đòi hỏi chúng ta phải chết đi cho các căn bệnh này. Nó có nghĩa là chúng ta phải chết đi cho cái tôi vị kỷ của mình, hầu mới mong làm được những chuyện lớn để chiến thắng được người. Bởi trong những lý do đó chúng tôi muốn nói đến đây là sự khôi phục lại tinh thần văn hóa Việt Nam, cùng sự khôi phục lại tinh thần tôn giáo dân tộc. Cũng có nghĩa là khôi phục lại tinh thần trách nhiệm, bổn phận, liêm sỉ, tư cách, tín nghĩa, dũng, trí, nhân ái, khoan dung, đại lượng, thông cảm, tha thứ và phục vụ v.v..

Qúy vị rõ, để có dược những điều nói đây, chúng tôi mạn phép xin đưa ra các đề nghị và một vài giải pháp để nói lên sự phục hưng tinh thần Việt Nam.

IV.          Phục Hưng Tinh Thần Trách Nhiệm Và Chí Khí & Anh Dũng  

       

Như qúy vị thấy lớp trẻ Việt ở hải ngoại, nhất là lớp trẻ ở Mỹ, có bao nhiêu trẻ em tuổi từ 20 đến 30 biết nói và biết đọc trôi chảy và viết giỏi tiếng Việt? Các em viết sành tiếng người, nhưng lại xa lạ với tiếng mẹ của mình. Do thế, chúng tôi nghĩ người lớn chúng ta đã không làm tròn trách nhiệm cùng bổn phận của cha mẹ, là truyền lại tiếng mẹ của mình cho con trẻ. Chúng ta trông xem và nên bắt chước gương dạy dỗ con trẻ tiếng mẹ của người Hoa và Do Thái. Người Do Thái hay người Hoa ở Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp, Anh, Nga v.v., dù ở đâu thì con cái họ vẫn giữ được bản sắc tiếng mẹ của mình. Chúng ta thấy người Do Thái khi ra đường hay ở trong các công sở, thì họ là người Mỹ, Pháp, Anh, Nga v.v. chính cống, họ nói tiếng Nga, Anh, Pháp, Mỹ thành thạo và giỏi hơn chúng ta nhiều. Nhưng khi họ về trong nhà mình, thì họ là người Do Thái nói tiếng mẹ 100/o. Trong khi đó, đáng buồn thay! Người Việt chúng ta, con cháu chúng ta mới ở nước ngoài hơn ba thập niên qua mà con cháu chúng ta xem như đã mất gốc rồi. Thử hỏi làm sao chúng ta có thể phục hưng tinh thần Việt tộc, tinh thần văn hóa cha ông, nếu như chúng ta không phục hưng lại tiếng Việt, tiếng mẹ trong gia đình chúng ta giữa ông bà, cha mẹ cùng con cháu và anh chị em với nhau?

Viết đến đây chúng tôi muốn đưa ra những hình ảnh cụ thể về hai nước Do Thái và Nhật Bản, để từ đó chúng ta có một cái nhìn thực tế. Câu nói mà chúng tôi đã nói với qúy vị ở phần trên, là chỉ có tinh thần văn hóa và đạo đức tôn giáo mới phục hưng đuợc Đất Nước chúng ta. Qua câu nói này chúng tôi xin đưa ra các bằng chứng thực nghiệm, chớ không phải một câu nói xuông.   

a)            Mẫu Gương Người Do Thái Và Dân Tộc Do Thái

Theo chúng tôi học hỏi và được biết dân Do Thái có hơn bốn ngàn năm lịch sử lập quốc. Đất Nước họ đã bị nhiều đế quốc xâm chiếm và đô hô, dân do Thái thì phân tán khắp nơi trên thế giới. Sau nhiều thế hệ lưu lạc tứ phương, người Do Thái đã trở về lập quốc vào năm 1948. Và nay Do Thái trở thành một cường quốc có vũ khí nguyên tử. Qúy vị thấy đó, sức mạnh nào cùng bí truyền nào đã giúp họ trở về lập quốc và phục hưng được quốc gia hùng mạnh như thế này, rồi làm cho cả thế giới khâm phục? Thưa qúy vị, đó là văn hoá Do Thái và niềm tin tôn giáo vào Đấng Yavê, Thiên Chúa của họ. Tuy Do Thái có khoảng 6 triệu  dân, dân số thua thành phố Sài Gòn chúng ta. Nhưng chính nhờ văn hóa và niềm tin mãnh liệt vào tôn giáo của họ, cộng thêm lòng qủa cảm cùng lòng yêu nước thiết tha, với tinh thần hy sinh, hợp tác cao đô của người dân trong nước cũng như người dân khắp mọi nơi trên trái đất này, mà Do Thái đối đấu với khối Arabe hơn hằn mình về binh lính, về dân số, thế nhưng Do Thái ra quân đánh trận nào thắng trận đó. Nay Do Thái đã trở thành cường quốc, họ có một binh lực hùng mạnh làm cho thế giới nể mặt.

Chúng ta rõ Do Thái nói Mỹ nghe, Do Thái đòi viện trợ người dân Mỹ chấp nhận. Tại sao? Vì người Do Thái nắm quyền hành ở Hai Viện, là Thượng Viện và Hạ Viện. Do Thái còn nắm quyền lực ở ngân hàng, ở các cơ quan truyền thông, như báo chí và các đài truyền hình lớn trong Đất Nước Hoa Kỳ. Trên Đất Mỹ Do Thái có Thống Đốc, Nghị Sĩ, Thẩm Phán, có các Bộ trưỏng trong guồng máy chánh quyền, có các Cố Vấn An Ninh, Kinh Tế, Quốc Phòng và Ngoại Giao cho Tổng Thống v,vv. Nhưng người Do Thái có bí quyết luôn luôn trở về quê hương của họ, họ cảm thấy như mình hằng hiện diện bên cạnh quê nhà khi có xung đột hay chiến tranh với người Palestine, nhất là chiến tranh với khối À.Rập.

Chúng ta thấy người Do Thái ở ngoài xã hội Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Sĩ, Nga v.v., thì họ như là người Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Sĩ, Nga 100/o. Nhưng khi về nhà mình, thì người Do Thái mang một trái tim người Do Thái, nói tiếng Do Thái, sinh hoạt văn hóa cùng tôn giáo Do Thái hòn toàn. Đây chính là bí quyết dân tộc Do Thái tồn tại dưới ánh nắng mặt trời, để rồi họ khôi phục và xây dụng lại quê hương của họ dược thêm phú cường.

b)            Tinh Thần Dân Tộc Và Trách Nhiệm Của Người Nhật

Chúng tôi muốn giới thiệu một dân tộc thứ hai đến qúy vị mà cả thế giới khen ngợi và khâm phục, đó là Nhật Bản. Như chúng ta biết sau khi hai trái bom nguyên tử của Mỹ thả xuống trên hai thành phố Hiroshima vào ngày 6.8.1945 và Nagasaki vào ngày 9.8.1945, thì Nước Nhật trở thành đống tro tàn. Nhật Hoàng Hirohito (Minh Trị Thiên Hoàng) phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với quân đội Đồng Minh. Đại Tướng Douglas MacArthur Tư Lệnh quân đội Đồng Mình vùng Thái Bình Dương đến Tokyo để giải giới quân đội Nhật. Lúc Đại Tướng MacArthur đến thành phố Tokyo rồi đóng bộ tư lệnh tại đó, quân dội Mỹ hoàn toàn làm chủ tình hình ở Nhật, thì niềm kiêu hãnh và tự hào của dân Phù Tang đã tan biến thành mây khói.

Chúng ta rõ Nhật Hoàng Hirohito phải đến trình diện với Đại Tuớng MacArthur của một người chiến bại. Trong buổi đến trình diện đó, Nhật Hoàng đã can đảm nhận lãnh hết mọi trách nhiệm đã gây ra cuộc chiến, và thưa cùng ngài Đại Tướng những lời sau: thưa Ngài Đại Tướng, nếu xét về tội, thì tôi là người đại tội. Vì tôi là người của phe trục, tôi đã ra lệnh cho các tướng lãnh thuộc cấp và quân đội của tôi đi đánh và xâm chiếm các nước Á Châu. Do thế, xin ngài hãy xử tôi và giết tôi vì chính tôi là người có tội. Còn bên ngoài tư dinh của Đại Tướng MacArthur, thì dân chúng Nhật, nhất là những Kiếm Sĩ Samurai sẵn sàng mổ bụng tự sát nếu ngài Đại Tướng đụng đến Nhật Hoàng của họ.Thấy cảnh như vậy, Đại Tướng MarArthur đã cảm kích hành động của Nhật Hoàng củng như dân chúng Nhật nên có ý không đem ra xử tội. Thế nên ông đã điện về Mỹ kể chuyện trên và xin chỉ thị của Tổng Thống Harry Truman tha tội chống lại nhân loại cho Nhật Hoàng, và Tổng Thống đã ân xá cho Nhật Hoàng.

Qúy vị thấy trong lúc quân đội đồng mình lục lạo đi tim những dư đảng của Adolf Hìtler và các tay phát-xít Ý đem ra tòa án Nuremberg để xử tội, thì Đại Tướng MacArthur đã lưu lại Nhật và giúp cho nước Nhật sọan lại bản Hiến Pháp mới dân chủ hơn. Khi Nhật Hoàng qua đời vào năm 1989, các vị Quốc Trưởng của nhiều quốc gia như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Thụy Sĩ, Hòa Lan v.v. đến viếng thi hài, cúi đầu tưởng niệm và tiễn đưa linh cữu ông lần cuối cùng. Qủa thật Minh Trị Thiên Hoàng xứng đáng được cái vinh dự này, vi ông dám chết cho Nước Nhật để nước Nhật được vươn lên. Bởi sau khi thua trận đệ nhị thế chiến, nước Nhật điêu tàn, lúc đó ông đã kêu gọi dân Nhật hãy đứng dậy xây dựng và tái thiết quốc gia mình. Đáp lại lời kêu gọi đó, các đạo sĩ, các văn nghệ sĩ, các nhà tri thức Nhật đã đi khắp Nước Nhật, rảo khắp các làng mạc, thôn quê để vận động tinh thần phục hưng nước Nhật. Họ làm đủ các thứ nghề để xây dựng lại quốc gia mình.

Cùng với Minh Trị Thiên Hoàng và dân chúng Nhật, họ đã khôi phục nước Nhật từ đống tro tàn sau đệ nhì thế chiến trở thành một siêu cường kinh tế như ngày nay. Hôm nay nước Nhật đang nắm vận mạng kinh tế của nhiếu quốc gia trong thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Chúng ta thấy xe Honda, Toyota, Nisan chạy khắp trên trái đất này. Máy truyền hình, truyên thanh, máy diện toán, mày chụp ảnh và điện thoại cùng nghe nhạc nhạn hiệu Sony, Canon, Minota, JVC vvv đươc mọi người ưa chuộng và bày bán khắp mọi nơi. Các bếp điện, tủ lạnh, máy giặc, máy hút bụi, son chảo bằng đồ diện thi hấu như nhà nào cũng dùng máy móc đồ dùng mang nhãn hiệu Nhật Bản. Xe hơi, máy truyền hình, truyền thanh, chụp ảnh cùng các loại máy móc và đồ dùng điện hay diện tử v.v., người Nhật   vừa trang nhã, đẹp mắt vừa tốt lại bền bỉ, hầu như đèu được thiên hạ đón nhận và mua sắm. Thế đó, văn hóa và khoa học kỹ thuật Nhật Bản đã đi vào thị trường thế giới và hiện diện khắp mọi nhà, khắp mọi nơi trên trái dất chúng ta sống.

Thật nơi nào có cộng đồng người Nhật sinh sống, thì nơi ấy có các vườn trẻ cũng như có các Chùa Tháp của Nhật. Họ mướn giáo viên Nhật dạy cho con trẻ, hầu cho con em họ khỏi đánh mầt bản sắc dân tộc, khỏi mất những tập tục, đạo lý, gia phong truyền thống hằng nghìn năm của Đất Phù Tang. Đáng phục thay văn hóa cùng tôn giáo Nhật Bản và Do Thái là một mẫu gương cho chúng ta học hỏi hay bắt chước.

V.            Thực Trạng Đau Thương Của Người Việt

 

Theo chúng tôi nghĩ muốn xây dựng và tái thiết lại Việt Nam, thì phải phục hưng Việt Nam lại bằng con đường văn hoá và tôn giáo của dân tộc mới hy vọng Đất Nước tươi sáng.

Dù người Việt chúng ta  hãnh diện và tự hào có gần năm ngàn năm văn hiến, có triết lý trung hiếu, tín nghĩa của Khổng-Mạnh, có đạo đức luân lý từ bi, bác  ai của Phật giáo, Công Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Hào Hảo. Thế nhưng than ôi, mấy chục năm chiến tranh tương tàn, thêm hơn ba thập niên người dân Miền Nam sống dưới chế độ phi nhân, vô thần, phi luân lý và đạo đức của cộng sản Hà Nội, còn người dân Miền Bắc đã hơn nữa thế kỷ qua. Chế độ phỉ quyền Hà Nội đã tiêu diệt đi những cái hay đẹp của văn hóa cùng phong tục Việt. Cộng sản hay đế quốc đã dạy cho chúng ta lòng hận thù, sự cấu xé, sự chia rẻ, sự phản bội, việc bới áo tìm vết xấu, rồi chém giết lẫn nhau. Cộng sản hay đế quốc thực dân đã dạy cho người Việt chúng ta trở thành những tên Việt gian phản quốc, phản bội đồng bào, bán đứng Đất Nước.

Qúy vị ơi! Đất Nước chúng ta lắm anh hùng, anh thư như Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Huyền Trân Công Chúa, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Giang, Ngô Quyền, Mai Thúc Loan, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Trải, Nguyễn Huệ,  Hàm Nghi, Duy Tân, Trân Cao Vân, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng,Phan Thanh Giản.Trưong Công Định, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, Ngô Đinh Diệm, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Bá Cẩn, Linh Mục Trần Học Hiệu Và Nguyễn Văn Vàng, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân v.v, và vô vàn các chiến sĩ vị quốc vong thân. Nhưng Đất Nước chúng ta cũng có lắm gian tặc như Lê Chiêu Thống, Trương Quang Ngọc, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Thân, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Tất Thành (Hô Chí Minh), Trường Chinh, Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Đôn, Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Thiệu, Lê Văn Kim vv.Những người phản Nước hại Dân, rước voi về dày mả tổ, là kẻ phản Vua, phản Thầy, phản bạn, phản anh em cúi mặt làm tay sai, cho thục dân Tàu, Pháp, Nga, Trung Cộng và Mỹ. Như Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh và đàn em đồ đệ của chúng, xưa cũng như nay đều cúi mặt, khom lưng làm tay sai cho Nga Sô, choTrung Cộng và bọn tư bản tài phiệt quốc tế : chúng mượn toàn là thứ chủ nghĩa gian tà tàn ác Mác-Lê-Mao (marxisme, léninisme, maoisme) về mà phá nát quê hương, phá nát đạo lý dân tộc. Như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu, Tôn Thất Đính v.v.. muối mặt làm tay sai cho Mỹ, để phản Chủ, phản Thầy, bỏ tù xử án anh em cùng binh nghiệp, để rồi làm mất Miền Nam trong tay giặc cộng Hà Nội, làm mất cả triệu sinh linh dân Nam. Người chềt chìm đại duơng, kẻ chết vì hải tặc  Thái Lan cưỡng hiếp, người chết rủ tù trong các trại tù của phỉ quyền Hà Nội, người chết đói khổ vì bị cướp hết đất đai, rộng vườn, nhà cửa và tài sản…

Đã mất Miền Nam trong tay phỉ quyền Hà Nội, khi chúng ta chạy trốn Việt gian cộng sản ra ở Hải Ngoại, thì người Việt chúng ta bị mắc phải những “căn bệnh” chia rẽ, bè phái, tiêu cực, cầu an, ù lì, nói xấu. chụp cái nón cối cộng sản cho nhau, phá hại nhau, thiếu tích cực dấn thân v.v.. Chúng ta chưa đánh tên Việt công, Việt gian nào chết cả, nhưng anh em quốc gia ta đã u đầu, sức trán thì rất nhiều .. Chúng tôi nhớ lại mấy câu thơ của một vị thức giả lão thành châm biếm như sau :

Lâu lâu hội họp một lần,

Chiếu trên, chiếu dưới đã dần dần thưa.

Con Rồng cháu Lạc hay chưa,

Ba cây chụm lại vẫn thừa hai cây.

Đọc mấy câu thơ này buồn qúa phải không qúy vỉ? Hai cây kia đâu rồi? Họ đã là Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Úc, Gia Nã Đại vv.? Hoặc họ đã phản cờ chạy theo rượu ngon, gái đep của bọn tư bản đỏ Hà Nội rồi chăng? Họ đã quên cội nguồn, quên cha mẹ, chú bác, anh chị em, đồng bào mình đang quằn quại trong thống khổ, trong xích xiềng? Họ không còn nhuệ khí, hết còn tích cực tranh đấu? Họ thủ lợi, cầu an? Hay họ cần về Việt Nam để hợp tác đầu tư làm ăn?

Qúy vị hiểu rằng cha ông chúng ta để lại cho con cháu một di chúc tuyệt với! Đó là bí quyết khôn ngoan, tất thắng và thành công là: “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao. Hợp quần gây sức mạnh. Hiệp lòng một ý thì tát biển Đông cũng cạn”. Vâng, lý thực rất đúng thưa qúy vị! Chúng ta hãy xem lại lịch sử dân tộc khi nào người dân Việt Nam đoàn kết lại. Có nghĩa từ Vua đến người dân thường hợp một lòng, một ý quyết đánh giặc xâm lăng bờ cỏi Đất Việt, dù bá đaọ, hùng hổ như quân Tàu, quân Mông Cổ, dù súng đạn hơn nguời như quân Pháp, quân Nhật có mạnh đến đâu, thì cha ông chúng ta cũng đánh tan quân xâm lăng. Bài học lịch sử ở trong lòng dân tộc, trong lòng chúng ta, chúng ta có chịu áp dụng chăng? Do thế, câu hỏi của qúy vị là làm thế nào để phục hưng Việt Nam? Như chúng tôi đã nói ở phần đầu, là dành những nổ lực cho công việc này, phải phục hưng cái tinh thần văn hóa và tôn giáo càng sớm chứng nào có thể trong công việc tranh đấu, rồi từ đó xây dựng tái thiết Đât Nước Việt dấu yêu của chúng ta.

VI.          Phục Hung Tinh Thần Bất Khuất Và Kiên Cường

 

Trước hết, khi nói đến sự phục hưng tinh thần văn hóa và tôn giáo, chúng tôi xin phép nói qua chữ Việt và ý nghĩa của nó.Việt có nghĩa là vượt hay siêu Việt, ý sâu sắc hơn, có nghĩa là đẹp hoặc tuyệt vời. Và thật sự chữ Việt có nghĩa là siêu Việt. Do đó, người Việt đã vượt qua bao gian lao, muôn vàn khó khăn để lập quốc. Cha ông và tiền nhân chúng ta đã vượt lên trên tất cả những gian nan khốn khó để đánh đuổi quân xâm lăng, hầu giữ gìn một giang sơn gấm vóc tốt đẹp cho chúng ta ngày nay thừa hưởng.

Người : “Việt Nam anh hùng”, những lời tán dương này được thoát ra từ chính miệng Đức Cố Giáo Hoàng Phao Lô Đệ Nhị, là người đại diện Chúa Kitô ở trần gian này. Ngài tuyên bố công khai cho bàng dân thiên hạ năm châu bốn bể biết vào ngày 19.06.1988 trong ngày phong thánh, để tuyên xưng các cử chỉ anh hùng của 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam cho toán thế giới biết cái tính trung thành, bất khuất, anh dũng, kiên cường đối với đạo Chúa, với Giáo Hội Ngài và với Tổ Quốc Việt Nam. Tuyệt thay cha ông chúng ta thật anh hùng! Do thế, chúng ta muốn có được các anh hùng đó, đòi hỏi chúng ta phải trở về lại với tinh thần tôn giáo và văn hóa dân tộc. Đòi hỏi tất cả mọi người Việt Nam cần chôn vùi vào huyệt sâu các tính ích kỷ, thủ lợi, cầu vinh, chia rẽ và trăm thứ căn bệnh xấu ẩn chứa trong con người ta. Ví muốn phục hưng lại Đất Nước Việt, đòi hỏi tiên khởi là phục hưng chính con người của ta, gia đình ta, rồi đến xã hội, từ cộng đống người Việt Nam Hải Ngoại đến trong Nước.

Muốn phục hưng lại tinh thần Việt Nam anh hùng, thì mọi người Việt chúng ta phải phục hưng lại cái tinh thần Trần Hưng Đạo trong con người chúng ta. Chúng ta rõ khi vua Trần Nhân Tông thấy quân Nguyên quá hùng mạnh, nên đề nghị với Hưng Đạo Vương để trẫm đầu hàng giặc, hầu cứu nguy dân tình.Nhưng   

Hưng Đạo Vương đáp lời vua rằng: “nếu trẫm muốn hàng giặc thì hãy chém đầu khanh trước”. Do thế, chúng tôi nghĩ muốn phục hưng Việt Nam, thì mỗi người Việt chúng ta phải phục sinh lại được cái tình thần, cái tâm tình vì Nước như Hưng Đạo Vương đây : “ta đây, ngày quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm thù rằng chưa được sả thịt lột da quân giặc, dầu thân này phơi ngoại nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng” (Trích Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Nhà Xuất Bản Tân Việt, trang 137).

Cũng thế, muốn phục hưng Việt Nam, thì mỗi người Việt chúng ta phải mang một tâm thức của Vua Lê Thái Tổ Lê Lợi : “ta đây, núi Lam Sơn dấy nghĩa, chốn hoang dã nương mình. Ngắm non sông căm nỗi thế thù, thề sống chết cùng qụân nghịch tặc. Đau lòng nhức óc, chốc là mười mấy nắng mưa, nếm mật nằm gai, há phải một sớm hai tối. Quên ăn vì giận, sách lược-thao suy xét đã tinh; ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ… Có lẽ trời muốn trao cho ta gánh nặng, bắt phải trải qua bách chiết thiên ma, cho nên ta cố gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử. Múa đầu gậy, ngọn cờ phấp phới, ngóng văn nghê bốn cõi đan hồ. Mở tiệc quân, chén rượu ngọt ngào, khắp tướng sĩ một lòng phụ tử. Thế giặc mạnh, ta yếu ta địch nỗi, quân giặc nhiều ta ít mà ta được luôb.

Dọn hay : đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Trích Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Nhà Xuất Bản Tân Việt, trang 229-230).

Vả nữa, muốn phục hưng Việt Nam, thì chúng ta là người Việt phải có được cái chí khí anh dũng, quyết diệt và quyết thắng quân thù như Vua Quang Trung Nguyễn Huệ khi nói với tướng sĩ và quân binh : “chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua mười ngày là xong” (sách đã dẫn trang 372). Qủa đúng như lời ngài tuyên bố với tướng sĩ quân binh! Vì với một tinh thần quyết thắng trừ diệt quân Thanh, Vua quân ta đã đánh tan đạo quân hùng mạnh nhà Thanh có đến mây trăm ngàn chỉ trong vòng chưa đầy một tuần, làm cho Vua Càn Long kinh khiếp, nước Tàu rung động, cho vang dội tiếng Nước Nam.

Kính thưa qúy vị,

Việc muốn phục hưng một Việt Nam can cường và bất khuất, đòi hỏi chúng ta phải có được cái chí khí anh dũng như Trần Binh Trọng, thà chết vinh còn hơn nhục, cúi mặt làm tay sai cho người, cho dẫu người ta ưu đãi, mua chuộc chức quyền : “ta thà làm qủy Nuớc Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”. Muốn phục hưng lại Việt Nam, chúng ta mỗi người Việt phải phực hưng lại tinh thần cách mạng cùng bầu nhiệt huyết tuổi trẻ của Nguyễn Thái Học, là sống và chết cho lý tưởng yêu quê hương cùng phục vụ dân tộc : “không thành công cũng thành nhân”.

Muốn phục hưng lại Việt Nam, thì người Việt Nam ta phải làm sống lại cái tinh thần sĩ khí của người lãnh đạo như tổng thống Ngô Đình Diệm, xem trọng chủ quyền quốc gia, không chịu áp lực của ngoại bang muốn nắm chủ quyền về chính trị và kinh tế nước nhà. Chúng ta phải mang một tinh thần can cường, tự trọng, uy dũng, bất khuất, đứng thẳng : “tôi tiến thì các anh em theo tôi, còn tôi lùi thì các anh em bắn tôi”. Thêm nữa, chúng ta muốn phục hưng lại Việt Nam, tiên khởi chúng ta phải phục hưng lại tinh thần trách nhiệm, bổn phận, tài đức của người cầm quân, làm tướng như các tướng Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Hồ Bá Cẩn vv. không bỏ binh sĩ trong lúc nguy ngập để thoát thân cho mình và gia đình, không tham sống sợ chết, không chịu đầu hàng giặc để rước cái nhục vào thân muôn đời, tự chết theo thành như lời thề và tín nghĩa của người làm phận tướng đối với Đất Nước và dân tộc.

Qủa thật muốn phục hưng Nước Việt Nam cho rạng rỡ với Năm Châu, Bốn Bể nở mày, nở mặt cùng thiên hạ, tất đòi hỏi tất cả mọi người Việt ta phải là : “ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Nếu như mọi người Việt trong Nước cũng như Hải Ngoại, ai ai cũng mang được trong mình cái tinh thần quyết diệt và quyết đánh cùng quyết thằng quân giặc như Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo, Đức Lê Thái Tổ Lê Lợi, Đại Đế Quang Trung Nguyễn Huệ và Anh Hùng Nguyễn Thái Học vv. thì chớ gì chúng ta không phục hưng được Đất Nước Việt Nam giàu mạnh và hùng cường. Chuyện phục hưng Viêt Nam tùy ở nơi ý chí, quyết tâm của mọi người Việt Nam chúng ta : biết đoàn kết, chịu hợp quần gây sức mạnh, biết hiệp một ý, hiệp một lòng, thì tát biển Đông cũng cạn kia mà. Do đó, chúng tôi thiết tưởng sá gì một thứ chủ nghĩa cộng sản Việt gian di hại, vô thần, vô luân và không nhân bản mà chúng ta không đánh gục được chúng nó chăng?

Thưa qúy vi,

Những giòng thư tâm sự này với qúy vị đã dài, để kết thúc lá thư này, chúng tôi xin trả lời cho qúy vị câu hỏi làm thế nào để phục hưng Việt Nam? Đó chính là con đường trở về lại tinh thần văn hóa Việt và tôn giáo dân tộc. Đó là tinh thần vượt lên trên mọi khó khăn, không ngại gian khổ và sợ một loại quân thù nào. Đó cũng là tinh thần biết yêu thương, đùm bọc nhau, trọng nhân nghĩa, giữ tín trung, trọng trách nhiệm cùng chu toàn bổn phận mình v.v.. Chúng tôi hy vọng rằng như gương của hai nước Do Thái và Nhật Bản. Chính họ đã phục hưng được Đất Nước mình trở nên giàu có và hùng cường, thì Việt Nam chúng ta khi thật sự đã phục hưng ắt trong tương lai cũng sẽ giàu mạnh, và làm cho thế giới phải nể mặt người con Rồng cháu Lạc chúng ta.

Thân Chào Quyết Thắng

Nam Giao Lê Thiện Bình