Hoài Vệ Linh : KHI HAI MÁI ÐẦU TRẮNG TUYẾT

KHI HAI MÁI ÐẦU TRẮNG TUYẾT

 

Viết để nhớ lại những ngày xưa thân ái

Tặng NGƯỜI YÊU ngày Sinh Nhật năm thứ Tám Mươi Ba

17 – 6 – 2011

 

 

†††

 

 

Chiều nay có nắng vàng nhung nhớ

Mây trắng buồn nên mây vẫn bay

Gió Thu e ấp ngoài song cửa

Không hẹn mà sao Anh đến đây?

 

Người đâu Em chưa gặp bao giờ

Lạ lùng – tóc cắt ngắn đơn sơ

Quần kaki thẳng, giầy đen bóng

Hoa mai trên áo, mũ thêu cờ

 

Mẹ sai em rót nước mang ra

Mà Em đâu có quen Người Ta?

Lòng Em bối rối – Tim ngừng thở

Tay run, Em sợ vỡ ly trà

 

Anh xin phép Bố được làm quen

Ðược gửi thư về mỗi đêm đêm

Ðược thăm Em Gái khi về phép

Ðược đợi chờ cho Em lớn thêm

 

Anh mới hăm lăm, Em mười lăm

Hoa chưa hé nụ, trăng chưa rằm

Lòng chưa mở hội, tim còn khép

Ðời chưa quen biết – hương còn nồng

 

Thế rồi từ đó Ta quen nhau

Anh về trang trải nghiệp binh đao

Ðời trai cung kiếm tang bồng thỉ

Tình riêng xin dấu tận chiến bào

 

Anh gửi về Em những lá thư

Mầu xanh chiến trận – mầu tương tư!!!

Phong thư nặng trĩu tình thương nhớ

Và dặn Em: “Xin hãy đợi chờ!”

 

“Hai trăm ba bẩy” lá thư tình

Gửi trọn tình Em nét băng trinh

Chưa tỏ cùng Ai lời ước hẹn

Chưa từng toan tính chuyện Ba Sinh 

 

 

Ngày Em vào lớp, tối làm thơ

Ðêm về thao thức chuyện trong mơ

Ðời trôi theo bóng câu ngày tháng

Chẳng nhớ mong Ai! Chẳng đợi chờ!

 

Mùa Xuân Em cắp sách đến trường

Bên đường cỏ dại đẫm hơi sương

Chim như đang hót, hoa tỉnh giấc

Theo lối thân quen, sỏi trải đường

 

Cô ngây thơ lắm nữ sinh ơi!!!

Nón lá che nghiêng miệng mỉm cười

Áo lụa Hà Ðông vờn chân bước

Trong nắng ban mai – nắng tuyệt vời

 

Em vào lớp học, bạn bè thương!

Phấn trắng bảng đen, đẹp dị thường

Mực tím trinh nguyên trên vở trắng

Hoa khô Em ép mộng đơn phương!

 

Chiều về trên phố xá xôn xao

Bao chàng trai trẻ đứng nhìn theo

Em che nghiêng nón – vờ không biết

Khẽ hát theo câu: “Lá Trúc Ðào”

 

Những ngày về phép Anh đến thăm

Hỏi khẽ Em rằng: “Có khỏe không?

Có từng tha thẩn ngoài cửa lớp

Dõi bóng chinh nhân bước phiêu bồng?

 

Truyện ngắn năm xưa Em còn viết?

Có còn đăng báo nữa hay thôi?

Những trang tùy bút hay hồi ký?

Em có làm thơ để tặng Người?”

 

Em cứ lặng thinh chẳng nói gì!

Nào Em còn biết nói năng chi?

Bao nhiêu tư tưởng Em soạn trước

Giờ đã bay vèo theo gió đi!!!

 

Anh cứ nhìn Em mỉm miệng cười

Làm Em luống cuống quá đi thôi!

Tay thon ve vuốt đôi tà áo

Mắt cúi nhìn trang chữ rối bời

 

Thứ Bẩy nào Em cũng mua hoa

“Belle de Jour” nhung thắm mượt mà

Hoa đã trở nên “Hoa Kỷ Niệm”

Hoa thành nhân chứng “Cuộc Tình Ta”

 

 

Anh muốn đưa Em đi ciné

Xem phim “Hò Hẹn” – “Phim Ðồng Quê”

Hay đi ăn kem chiều trên phố

Trốn nắng vàng oi buổi cuối Hè

 

Anh muốn nơi nào chỉ “Hai Ta”

Cùng nhau sánh bước Phố Bonard

Hay mua quà tặng đường Lê Lợi

Vào hàng tơ lụa Catinat

 

Em thích hoa tươi? Xin mời Em!

Kiosque Charner có hàng quen

Mong Em chỉ chọn màu tươi mới

Chớ lựa hoa cười xinh hơn Em

 

Anh muốn cùng Em đi chợ Xuân

Hay vào mua áo Thủ Khoa Huân

Phan Bội Châu phố hàng nhung gấm

Hay vẫn chỉ yêu lụa Hà Ðông?

 

Em muốn mua giầy Lê Thánh Tôn?

Hay xem ví ở Passage Eden?

Khăn san và cả hoa cài  tóc

Vào Chrystal Palace để Em xem?

 

Chăn cưới Em mua phố Gia Long

Em đặt mua giầy Lê Thánh Tôn

Khoa Thi may áo Ngày Ăn Hỏi

Thiết Lập thì may áo cưới hồng

 

Nhẫn cưới vào mua Nguyễn Thế Tài

Anh Ðào Em lựa đôi hoa tai

Còn đôi vòng ngọc Thương Xá Tax

Sợi giây chuyền chắc ở Shangai

 

Em muốn đưa Anh may ở đâu?

Bộ Complet đậm hay màu nâu?

Làm sao cho hợp màu Áo Cưới

Anh mặc trong ngày đi đón dâu 

 

Lễ Hỏi xin Em cứ định ra?

Phải bao nhiêu Rượu? Bao nhiêu Trà?

Cau bao trăm quả? Trẩu bao lá?

Bánh Cốm, Xu Xê, biếu họ nhà? 

 

Mười anh “Phu Quả” áo the thâm

Khăn xếp đội đầu, tay bưng mâm

Thắt lưng lụa đỏ, giầy Gia Ðịnh

Chân bước theo sau quả hương trầm

 

 

Ðám Hỏi xong rồi xin cưới ngay!

Lựa ngày tháng tốt: “Cậy tay Thầy!

Sao cho tuổi hợp, tâm cùng hợp

Trọn đời hạnh phúc đến xuôi tay!”

 

Phù rể Anh là lính Hoa Mai

Bạn bè Anh toàn những chàng trai

“Mài gươm dưới nguyệt” thời chinh chiến

Xếp bút nghiên theo chí Anh Tài

 

Ðám cưới Ðôi Ta tháng Mùa Ðông

Bâng khuâng Em cất bước theo chồng

Ngấn lệ Vu Quy tràn ướt áo

Ðưa tiễn chân Em pháo đỏ hồng

 

Anh đón Em về phố Cao Nguyên

Có núi xanh lơ, suối dịu hiền

Lối dốc quanh co, đường phố nhỏ

Hạnh phúc Ðôi Mình quá thần tiên!

 

Khu vườn nho nhỏ, ngôi nhà xinh

Có bóng trăng nghiêng thật hữu tình

Thoảng trong hơi gió ngàn cung nhạc

Trên làn nước bạc sóng lung linh

 

Chiều về trên rặng núi xa xa

Khuất bóng tà dương, chiều đã tà!

Nhà ai thấp thoáng làn khói biếc

Mờ mờ hư ảo, khói sương pha

 

Những tối về khuya đón trăng lên

Thơ thẩn mình Em bước xuống thềm

Phố xá êm êm triền miên giấc

Có thấy lòng say giấc hương đêm?

 

Mỗi sớm bình minh: Dậy đi Em!

Cửa sổ nhìn ra – Em hãy xem!

Khung trời thơ mộng mừng Em đến

“Belle de Jour” nở khắp mọi miền

 

Thược Dược đang mùa sắp nở hoa

Trắng, đỏ, hồng, chen lẫn vàng pha

Phù Dung khép nép ngoài song cửa

Thiên Lý nồng hương trước hiên nhà 


Rặng cây lá đỏ đẫm hơi sương

Rào quanh sân nhỏ tựa chân tường

Trong sân thấp thoáng bông Huệ trắng

Thoang thoảng như mùi Dạ Lý Hương

 

 

Trời đẹp hôm nay nắng vàng hoe

Anh đưa Em xuống đồi Cà Phê

Hoa trắng vương vương đầy khắp lối

Cùng Anh, Em dạo khắp vườn quê

 

Hàng hàng lớp lớp tận trời xa

Hương nồng thơm ngát một đồi hoa

Trái đỏ xum xuê tràn trên nhánh

“Tặng Em ba mươi mẫu làm quà!”

 

Em có từng yêu phút đam mê?

Ly cà phê đắng lúc đêm khuya

Tý tách rơi rơi từng giọt nhỏ

Nghe trong hơi lạnh – gió Thu về!

 

Cà phê Em uống – để Anh pha!

Em muốn Sari hay Robusta,

Arabica từng hạt nhỏ

Vang danh ngon nhất tại quê nhà?

 

*******************************

 

Bao nhiêu năm tháng qua rồi sao?

Tình yêu vẫn mới như hôm nào

Năm mươi năm cũ vừa có lẻ

Cứ tưởng như là giấc chiêm bao! 

 

Nhìn lại trong gương: Tóc bạc phơ!

“Anh đã tám ba – Em bẩy tư!”

Ðời như một giấc mơ huyền thoại

Lên bổng – xuống trầm – thực hay hư?

 

Mở bàn tay trắng: chẳng còn chi

Danh vọng – tiền tài – lẫn quyền uy!

Vèo trong chớp mắt – thành mây khói

Còn lại hư hao – chẳng thấy gì? 

 

Mai mốt ra đi – để lại đời

Những năm kỷ niệm những buồn vui

Bao nhiêu công khó – tàn hơi sức

“Tác phẩm trong tay” có thế thôi!!!

 

Mẹ muốn ôm Con trong vòng tay

Như khi còn bé – Con thơ ngây!

“Tám đứa con yêu là tác phẩm

Năm mươi năm – Mẹ viết từng ngày!”

 

Mẹ biết giờ đây Con lớn khôn

Ðời Con nay đã khá vuông tròn

Mẹ cũng làm xong phần của Mẹ

“Nối dõi tông đường”, tặng Bố Con.

 

Họ NGUYỄN nhà ta ở SƠN TÂY

Mẹ có Con nối nghiệp từ đây

Bổn phận làm dâu – đời của Mẹ

Ðã tròn mơ ước bấy lâu nay

 

Năm hai mươi tuổi đi lấy chồng

Gánh nặng trên vai – có nổi không?

Bàn tay nhỏ bé – đời thơ dại

Biết làm sao cho đẹp lòng chồng?

 

Mẹ cũng không ngờ đã trôi qua

Bao nhiêu “bão táp” với “phong ba”

“Bẩy nổi ba chìm” theo số phận

Mấy chốc mà nay tuổi đã già

 

Ðàn chim đủ cánh đã bay xa

Chỉ còn lại đây Ta với Ta!

Hai mái đầu xanh – giờ trắng tuyết!

Cùng nhau ôn lại mối tình già

 

Viết mấy vần thơ để lại đời

Vô tình e sợ tháng năm trôi

Có khi mở lại”Trang Nhật Ký”

Ðể thấy tình xưa vẫn đẹp ngời!!!

 

Tháng Giêng, Năm Hai Ngàn Mười Một, Ca, USA

Hoài Vệ Linh

 




Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông

 

Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông


Tái bố trí lực lượng tàu ngầm, một phần trong Kế hoạch Thái Bình Dương của Quân đội Mỹ

Trước sự lớn mạnh không ngừng của Trung Quốc, Ấn Độ cả về kinh tế và quân sự mà theo ông Lawrence Korb, cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ và bây giờ là nhà phân tích quốc phòng thì Trung Quốc và Ấn Độ đang nhanh chóng trở thành cường quốc hải quân, cũng như mối đe doạ từ một số quốc gia khác trong khu vực và nguy cơ bất ổn tại khu vực Châu Á, Chiến lược Quốc phòng mới của Mỹ đã có sự chuyển hướng chiến lược rõ rệt từ, coi Châu Á – Thái Bình Dương là chiến trường trọng điểm trong thế kỷ XXI.

Cùng với kế hoạch tái cơ cấu lại quân đội Mỹ tại tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam, xây dựng Guam thành một trung tâm hải quân, hải quân lục chiến và không quân chính tại Thái Bình Dương, cũng như tăng cường sự hiện diện liên tục của các loại máy bay ném bom chiến lược B-1, B-2 và B-52 và các loại máy bay tiêm kích thế hệ mới, Quân đội Mỹ cũng đang triển khai kế hoạch tái bố trí lực lượng tàu ngầm tấn công tại đây.
Kế hoạch Quốc phòng Bốn năm một lần 2006 – lộ trình 20 năm của Quân đội Mỹ – đã đưa ra kế hoạch đến năm 2010 sẽ bố trí 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công tại Thái Bình Dương và 40 % tại Đại Tây Dương. Theo Hải quân Mỹ thì trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công được bố trí ở Đại Tây Dương, sau Chiến tranh Lạnh thì lực lượng này đã được cân bằng 50-50.
Ngày 03 tháng 4, Tàu ngầm tấn công USS Jacksonville lớp Los Angeles đã cập cảng Trân Châu Cảng ở Hawaii.
Ngày 13 tháng 5, tàu ngầm USS Hawaii đã rời Căn cứ Tàu ngầm Hải quân ở Groton, bang Connecticut đến Trân Châu Cảng, theo kế hoạch sẽ đến đây vào tháng 7, và là tàu ngầm lớp Virginia đầu tiên có căn cứ tại Trân Châu Cảng. Đi sau tàu USS Hawaii sẽ là một tàu ngầm lớp Virginia khác, USS Taxas.
Theo kế hoạch, đến cuối năm 2009, sau khi tàu ngầm USS Hawaii và USS Texas đến Trân Châu Cảng, sẽ có 31 trong tổng số 53 chiếc tàu ngầm tấn công của Hải quân Mỹ sẽ có căn cứ chính ở Thái Bình Dương và 22 chiếc khác sẽ có căn cứ chính ở Đại Tây Dương. Trong tổng số 31 chiếc tàu ngầm có căn cứ chính tại Thái Bình Dương thì 13 chiếc có căn cứ tại Trân Châu cảng.
Hải quân Mỹ cho biết hàng chục quốc gia, trong đó có Bắc Triều Tiên và Iran, có tàu ngầm diesel, và hơn 180 tàu ngầm nước ngoài hoạt động tại Thái Bình Dương trong phạm vi các vị trí và các tuyến đường biển quan trọng.
Australia có kế hoạch mua thêm 12 chiếc tàu ngầm mới và Trung Quốc đã có 08 chiếc tàu ngầm lớp Kilo mới và một căn cứ hải quân mới trên Đảo Hải Nam, được gọi là “Hawaii” của Trung Quốc.
Ngọc Linh (Theo Honoluluadvertiser)

Mỹ đã đưa B-2 Spirit tới khu vực Thái Bình Dương, bọn chệt chó chớ có lộng hành

Chiếc máy bay ném bom tàng hình B2 của quân đội Mỹ vượt qua "bức tường âm thanh" giống như một chú cá đuối bứt lên làn nước.
Bộ quốc phòng Mỹ mới công bố bức ảnh máy bay B-2 đạt tốc độ âm thanh trong chuyến bay qua Palmdale, gần Los Angeles. Giới quân sự thường dùng hình ảnh "vượt qua bức tường âm thanh" để nói việc các máy bay loại này vượt ngưỡng tốc độ âm thanh.
Khi máy bay đạt vận tốc lớn hơn hoặc gần bằng vận tốc âm thanh, không khí xung quanh đột ngột giảm, dẫn tới nhiệt độ không khí giảm theo khiến hơi nước tụ lại thành những đám mây… Chuyển động của máy bay khiến các đám máy có hình chóp nón.
Ngăn chặn Trung Quốc, Mỹ chuyển 2/3 số tầu ngầm đến khu vực Thái Bình Dương

HAWAII 12-5 (NV) – Dồn dập một số biến cố trên biển Đông từ đầu năm đến nay, sự tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và sự gia tăng quân sự nhanh chóng của Trung quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ chuyển một loạt tàu ngầm tấn công tối tân nhất từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương.

__________________

There are three sides to any argument: your side, my side and the right side.

FBI sẽ huấn luyện và trang bị giúp CSVN siết chặt an ninh !!!??????????????!!!

San Francisco – Nguồn tin ẩn danh từ Hoa Thịnh Đốn cho hay một phái đoàn an ninh tình báo cao cấp nhất của CSVN gồm trên 10 tướng lãnh an ninh CSVN đã do Đại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An CSVN hướng dẫn đã đến làm việc với các ngành cao cấp nhất về an ninh của Hoa Kỳ trong suốt tuần lễ vừa qua. Phái đoàn nầy hôm Thứ Hai 20-4-2009 đã rời Washington DC bay về San Francisco để nghe Tổng Lãnh Sự CSVN tại San Francisco tường trình về những vấn đề liên quan đến tình hình Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt và các việc thi hành chính sách vận động Việt Kiều mà CSVN coi là “khúc ruột ngàn dặm”.

Tin tiết lộ cho biết phái đoàn cao cấp nhất ngành an ninh của CSVN lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ông Robert Muller, Giám Đốc cơ quan FBI Hoa Kỳ (Federal Bureau of Investigation). Cuộc tiếp đón có cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các ngành an ninh quốc nội và quốc tế của Hoa Kỳ cùng tham dự. Đại Tuớng Lê Hồng Anh sinh năm 1949 tại tỉnh Kiên Giang là cùng quê với Nguyễn Tấn Dũng. Lê Hồng Anh cũng giữ chức đại biểu quốc hội các khóa 11 và 12.

Trong tình hình Trung Cộng đưa tàu chiến vào biển Đông, ngang nhiên chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, muốn tấn công vào tàu thăm dò hải dương của Mỹ và khiêu khích chiến hạm Mỹ; tin nhận định rằng cuộc họp an ninh cao cấp nhất Việt Mỹ trong tuần qua có tính cách cấp bách và làm nổi bật sự hợp tác sâu rộng hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cũng theo tin nầy thì Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ bắt đầu việc dẫn độ các người phạm án tại Hoa Kỳ bị trả về cố quốc Việt Nam, trong khi những Việt Kiều Mỹ về Việt Nam hoạt động băng đảng, buôn lậu, trốn thuế và những hình thức phạm pháp khác đều sẽ bị an ninh của Bộ Công An bắt và chuyển thẳng cho Hoa Kỳ truy tố trước luật pháp Mỹ.

Tin cũng nóí rằng HK sẽ giúp huấn luyện về nghiệp vụ an ninh, cung cấp cho ngành an ninh cộng sản Việt Nam những trang bị tối tân nhất để chống tội phạm, chống xâm nhập biên giới và sẽ giúp Việt Nam có một hệ thống theo dõi công dân như hiện nay tại Hoa Kỳ. Việt Nam có trên 86 triệu dân, đi đâu cũng phải khai báo, nhưng cuối cùng rất khó theo dõi. Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam đơn giản hóa và quản lý bằng hệ thống điện tử nối mạng trên toàn quốc.

Việt Nam đang rất lo ngại việc Trung Cộng sẽ tiến thêm nhiều bước xâm lược và hai quốc gia Hoa Kỳ – Việt Nam sẽ cùng hợp tác trong việc chống lại chính sách bá quyền nầy của Trung Cộng. Điều khó khăn là nếu như để cho Trung Cộng tiếp tục khai thác Bauxit thì có thể có những khủng hoảng chính trị trong nội địa Việt Nam và phong trào bài xích từ bên ngoài Việt Nam. Nhưng nếu không để cho Trung Cộng tiếp tục thi hành hợp đồng khai thác Bauxit mà Việt Nam đã đặt bút ký tên, thì có thể có những đụng chạm đưa đến chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Cộng. Đó cũng là vấn đề mà theo tin tiết lộ, có thể là nội dung chính của cuộc hội đàm cao cấp Việt Nam và Hoa Kỳ về ngành an ninh trong tuần qua. Việt Nam đang cần Hoa Kỳ che chở trước hiểm họa Trung Cộng bành trướng, trong khi Hoa Kỳ cần Việt Nam như là điểm khai hỏa gần trái tim Trung Cộng nhất. Có thể một ngày gần đây, lá chắn phi đạn vùng Á Châu của Hoa Kỳ sẽ đặt tại phía Bắc Việt Nam.
Trong một bản tin của Tòa Đại Sứ CSVN tại Hoa Thịnh Đốn loan rằng: ”Nhận lời mời chính thức của một số cơ quan Chính phủ Mỹ, đoàn đại biểu Bộ Công an Việt Nam do Đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an, dẫn đầu thăm và làm việc tại Mỹ từ ngày 12/4 đến ngày 21/4.

Tại các cuộc gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật của Mỹ, hai bên thống nhất cần tiếp tục thúc đẩy và khai triển các quan hệ hợp tác trao đổi thông tin, nghiệp vụ, kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động chống khủng bố, các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, buôn người và rửa tiền.__________________

Kiềm chế bọn chó Chệt mắt hí mất dạy, Mỹ điều Hàng Không Mẫu Hạm USS Ronald Reagan tới Tây Thái Bình Dương

Myoko DDG-175 and the USS Ronald Reagan CVN-76 in the Philippine Sea conducting an underway refueling.

Hạm đội USS Ronald Reagan (CSG-7) sẽ xuất phát từ San Diego vào ngày 27/5/2009 để triển khai đợt hoạt động mới tại khu vực Tây Thái Bình Dương.
Đây được coi là một động thái tăng cường lực lượng quân sự, nhằm bảo vệ các quyền lợi của Mỹ cũng như để kiềm chế sự gia tăng của lực lượng Hải quân Tàu Chệt ở Thái Bình Dương.

Hạm đội (CSG-7) bao gồm tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76) chạy bằng năng lượng hạt nhân; Liên đội Không quân hạm số 14 (CVW-14); tuần dương hạm mang hoả tiễn điều khiển USS Chancellorsville (CG 62); các tàu chỉ huy; đội tàu khu trục số 7 (COMDESRON-7) gồm các tàu USS Decatur (DDG-73), USS Howard (DDG-83) và USS Gridley (DDG-101); khinh hạm USS Thach (FFG-43) và một phân đội thuộc đơn vị hậu cần cơ động số 11 (EODMU).

Trong đợt triển khai hoạt động lần này hạm đội Ronald Reagan CSG sẽ thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là phục cho nhiệm vụ chiến lược biển của quốc gia nhằm bảo vệ các lợi ích sống còn của Mỹ, cũng như thực hiện các hoạt động duy trì an ninh trên biển và sẵn sàng ngăn chặn những nguy cơ xung đột theo như cam kết với các nước đồng minh thân cận với Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương.
Tàu sân bay USS Ronald Reagan thuộc lớp Nimitz chạy bằng năng lượng hạt nhân, Ronald Reagan là mang tên của Tổng thống thứ 40 của Mỹ.
Trong đợt triển khai hoạt động lần trước, CSG-7 đã tiến hành các nhiệm vụ trợ giúp nhân đạo, hỗ trợ cho các lực lượng quân sự của Philippines, cung cấp hơn 519.000 pounds nước ngọt, gạo và thuốc men cho nhân dân Philippines bị ảnh hưởng trong trận bão Fengshen. Liên đội Không quân hạm số 14 của hạm đội cũng đã xuất kích 1150 lượt bay từ vịnh Oman để hỗ trợ cho Liên quân ở Afganistan. Đội tàu khu trục COMDESRON 7 cũng đã yểm trợ các hoạt động duy trì an ninh cho hạm đội số 5.

Trong đợt triển khai hoạt động lần này Liên đội Không quân hạm số 14 được biên chế gồm: 04 phi đội tiêm cường kích "Redcocks" (VFA) 22, "Fist of the Fleet" VFA-25, "Stingers" VFA-113 và "Eagles" VFA-115; 01 phi đội máy bay cảnh báo sớm "Black Eagles" (VAW) 113; 01 phi đội máy bay tác chiến điện tử "Cougars" (VAQ) 139; 01 phi đội hỗ trợ hậu cần "Hustlers" (VRC) 30 và 01 phi đội trực thăng chống ngầm "Black Knights" (HS) 4.

__________________

Hạm Đội USS George Washington (CVN 73) chuẩn bị cho đợt hoạt động mới tại Tây Thái Bình Dương để ngăn ngừa sự lộng hành của bọn chó chệt mắt hí


Theo tin từ hạm đội 7 cho biết, ngày 20/5/2009, Hạm đội USS George Washington (CVN 73) cùng với khoảng 5000 quân đã xuất phát từ Yokosuka, Nhật Bản để bắt đầu tiến hành các hoạt động ở khu vực Tây Thái Bình Dương, nhằm đánh giá khả năng tác chiến của tàu sau khi được trang bị một số thiết bị mới.

__________________

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..

Hiện nay HKMH và thuỷ thủ đoàn đã cùng với Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) đang thực hiện các khoa mục cất hạ cánh trên boong theo như chương trình huấn luyện từ đầu tháng 5/2009.
Theo trung tá Vincent Aiello, sỹ quan chỉ huy Liên đội Không quân hạm số 5 cho biết “Khả năng tác chiến (COE) là đánh giá khả năng hạ cánh trên boong và kỹ năng điều khiển máy bay theo các tiêu trí hoạt động của Hải quân”
Chứng chỉ COE là một dấu mốc quan trọng, bởi nó khẳng định khả năng tác chiến, kỹ năng hạ cánh an toàn trên boong và phục hồi lại các cú hạ cánh trượt của tàu sân bay và Liên đội Không quân hạm. Việc hoàn thiện COE sẽ cho phép Liên đội Không quân hạm và tàu sân bay thực hiện các phi vụ bay trên khắp đại dương mà không cần đòi hỏi phải có một sân bay đúng hướng.

Đồng thời Liên đội Không quân hạm của Biên đội CVN-73 cũng sẽ thực hiện các khoa mục huấn luyện tấn công không-đối-đất từ biển vào. Đây là một hoạt động thử nghiệm tốt của tàu sân bay và khả năng của Liên đội Không quân hạm, nhằm quản lý các loại vũ khí, cài đặt vũ khí lên máy bay và nhắm vào các mục tiêu trên bộ của đất chệt một khi bọn chúng dở trò mất dạy.
Biên đội tàu sân bay USS George Washington được biên chế gồm: tàu sân bay USS George Washington, Liên đội Không quân hạm số 5, đội tàu khu trục số 15, tuần dương hạm mang tên lửa điều khiển USS Shiloh (CG 67) và USS Cowpens (CG 63), đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Kevin M. Donegan; tàu sân bay USS George Washington do đại tá David A- Lausman chỉ huy; Liên đội Không quân hạm số 5 do đại tá Michael S. White chỉ huy.
Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) được biên chế các phi đội sau: Phi đội máy bay tiêm kích VF-154 Black Knights (các máy bay F-14A TARRS); các phi đội máy bay tiêm cường kích VFA-27 "Royal Maces" (F/A-18C), VFA-192 "Golden Dragons" (F/A-18C) và VFA-195 "Dambusters" (F/A-18C)va; phi đội máy bay trinh sát điện tử VAW-115 "Liberty Bells" (E-2C), phi đội máy bay cảnh báo sớm VAQ-136 "Gauntlets" (EA-6B), phi đội trực thăng chống ngầm HS-14 "Chargers" (H/SH-60F/H), phi đội máy bay đa chức năng VS-21 "Fighting Redtails" (S-3B) và phi đội máy bay VQ-5 "Shadows" Det A (ES-3Ava.
Căn cứ vào đánh giá COE, Biên đội CVN-73 sẽ bắt đầu đợt triển khai hoạt động đầu tiên vào mùa hè này nhằm bảo đảm an ninh và duy trì ổn định trong khu vực Tây Thái Bình Dương để khống chế sự lộng hành ngày càng gia tăng của bọn chó chệt mắt hí.

 

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..




GS Sơn Điển Nguyễn Viết Khánh : BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ

BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ


Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

 

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Nhà văn phương Tây nói về phê bình văn học

I. Phê bình phương Tây đã có truyền thống từ thời cổ đại. Nhưng phải đợi đến cuối thế kỷ XIX, nhất là sang thế kỷ XX, tính chất hiện đại của thuật ngữ mới được biết đến cùng với các tên tuổi phê bình lớn của phương Tây.

Từ nguyên của “phê bình” (“kritikos”- Hilạp, “criticus” – Latin), nghĩa là phán xét. Sang các tiếng Pháp và Anh, viết hơi khác: “critique”, “critic”, nhưng tiền tố của nó vẫn được lưu giữ cũng như cách phát âm. Trong tiếng Pháp, từ này mang các nghĩa: xét, xét xử, phán xét, làm trọng tài, phán đoán, nhận định, đánh giá, tưởng tượng.

Dưới đây, tôi xin trích dịch một số ý kiến về phê bình văn học của các nhà văn phương Tây lần lượt từ thế kỷ XVII đến nay. Trong đó có cả các nhà khoa học, triết học, vi sinh học, tuy có khi chỉ trong lĩnh vực của họ; nhưng như vậy càng cho thấy tầm quan trọng và cần thiết của phê bình nói chung. Sau cùng tôi sẽ rút ra một vài nhận xét.

II. Các ý kiến:

1.“Bạn hãy sợ lời chỉ trích của công chúng đối với các vần thơ của bạn,/Chính bạn hãy là một nhà phê bình nghiêm khắc” (Boileau, 1636-1711)

2.“Thú vui của sự phê bình tước mất khỏi chúng ta thú vui được cảm động một cách sinh động từ các kiệt tác” (Jean de La Bruyère, 1645-1696) 

3.“Phê bình thì dễ, còn nghệ thuật mới khó” (Destouches, 1680-1754)

4.“Ở Pháp, ngày thứ nhất dành cho sự hâm mộ, ngày thứ hai cho phê bình, còn ngày thứ ba cho sự thờ ơ” (Delaharpe, 1739-1803)

5.“Bạn có biết các nhà phê bình là ai không? Những người bị mắc cạn (thất bại) trong văn học và nghệ thuật.” (Benjamin Disraeli, 1804-1881)

6.“Chủ nghĩa hoài nghi khôn ngoan là thuộc tính đầu tiên của một nhà phê bình giỏi” (James Russell Lowell, 1819-1891)

7.“Có lẽ không có địa ngục cho các tác giả ở thế giới khác – họ đã phải chịu đựng các nhà phê bình và các ông chủ xuất bản quá nhiều ở thế giới này rồi” (Christian N. Bovee, 1820-1904)

8.“Mọi nhà thơ lớn đều trở thành, một cách tự nhiên, định mệnh, những nhà phê bình” (Baudelaire, 1821-1867)

9.“Người ta làm phê bình khi người ta không thể làm nghệ thuật, cũng như người ta làm mật thám khi người ta không thể làm người lính” (Flaubert, 1821-1880)

10.“Bạn hãy có niềm tôn thờ trí óc phê bình” (Louis Pasteur, 1822-1895)

11.“Nhà phê bình giỏi là người kể lại các cuộc phiêu lưu của tâm hồn mình ở trung tâm của các kiệt tác” (A.France, 1844-1924)

12.“Những gì chúng ta đang làm chẳng bao giờ được hiểu, và chỉ luôn luôn được đón nhận bởi ca ngợi hoặc phê bình” (Friedrich Nietzsche, 1844- 1900)

13.“Phê bình chỉ là nghệ thuật hưởng thụ sách” (Jules Lemaitre, 1853-1914)

14.“Hãy nhân đạo: nếu bạn có đứa con trai không biết phân biệt màu sắc, thì hãy thà làm cho nó trở thành một nhà phê bình nghệ thuật còn hơn làm anh kỹ thuật viên đường sắt” (Remy de Gourmont, 1858-1915)

15.“Có ba loại nhà phê bình: những nhà phê bình quan trọng; những nhà phê bình ít quan trọng hơn; những nhà phê bình chả có quan trọng chút nào. Hai loại sau cùng không tồn tại: mọi nhà phê bình đều quan trọng” (Erik Satie, 1866-1925)

16.“Nhà văn cổ điển là nhà văn mang sự phê bình về chính mình, và kết hợp nó một cách sâu kín với công việc của anh ta” (Paul Valéry, 1871-1945)

17.“Thật bất hạnh cho một nhà phê bình có bao nhiêu vận may để sai lầm trong khi là kẻ khinh suất thì lại có bấy nhiêu may mắn trong khi là người cẩn trọng” (A.Billy, 1882-1971)

18.“Nhại và biếm họa là những thứ buốt nhọn nhất của các nhà phê bình” (Aldous Huxley, 1894-1963)

19.“Nhà phê bình cần phải, về mặt văn học, là một dạng của khoa sư phạm về niềm hứng thú” (L.Aragon, 1897-1982)

20.“Nhà phê bình, đó chính là kẻ khổ sai chung thân” (L.Aragon, 1897-1982)

III. Đọc những ý kiến trên đây, ta đã thấy, cái nhìn của các nhà văn phương Tây, theo thời gian, dần thông cảm hơn với các nhà phê bình văn học. Còn trước đó, ngay cả Flaubert (số 9) cũng không thoát khỏi ý nghĩ cay đắng, nghiệt ngã (cùng một số ý kiến khác coi thường, cả khinh miệt: 3, 4, 5, 7, 14) đối với nhà phê bình (gợi ta nhớ đến “huyền thoại” của Nguyễn Tuân – không biết có bao nhiêu phần trăm sự thật (?) – là khi chết muốn chôn theo một thằng phê bình); trong khi cùng thời với Flaubert, nhà vi sinh học Pasteur (10) lại có ý kiến tích cực, bên cạnh ý kiến của nhà triết học Nietzsche (12) tỏ ra trông cậy, tin tưởng nhiều ở phê bình; nhất là Baudelaire (8), người đã nhìn thấy mối quan hệ “hai trong một” giữa nhà thơ và nhà phê bình. Những ý kiến càng về sau (từ 15 trở đi) càng trở nên thông cảm, đánh giá đúng hơn vai trò của nhà phê bình đối với văn học; bên cạnh đó là những ý kiến khuyên răn.

Ngày nay, phê bình phương Tây đã có nhiều biến đổi về chất và thành tựu của nó có thể sánh ngang với sáng tác, như đã có nhiều nhận định của các chuyên gia phương Tây. Phê bình đã thực sự trở thành một khoa học theo nghĩa rộng của thuật ngữ. Phê bình văn học, theo R. Barthes, là một siêu ngôn ngữ hay ngôn ngữ bậc hai thao tác trên ngôn ngữ bậc nhất trong hệ thống ngữ nghĩa đặc biệt của tác phẩm văn học. Và vai trò quan trọng của nhà phê bình đối với sự phát triển của một nền văn học là không còn phải bàn cãi.  

Hà Nội, tháng 6 năm 2008




NỖI NHỚ (Chinh Nguyên)

NỖI  NHỚ
Sáng thứ hai Feb. 27, 2006 bầu trời Santa Ana Nam Cali tràn mây xám, gió thổi hơi mạnh lùa cơn lạnh thấm qua áo khoác ngoài và dường như sắp có mưa. Tôi bước ra khỏi xe sau khi đã cho xe vào chỗ đậu trước cửa California super Market tại cuối đường Magnolia và Garden Grove để chờ Mỹ Thanh, vì nàng đã vào chợ mua một loại rau hiếm bán tại chợ Việt Nam, San Jose, và rẻ trong chợ này.
      Đứng trên bãi đậu xe trong cơn gió lạnh, tôi tò mò theo dõi bà cụ đang chậm chạp thò tay vào túi vải lấy ra một miếng giấy cẩn thận đọc, sau đó lại chậm chạp mở túi vải nhét miếng giấy vào một cách cẩn thận. Bà đứng ngó quanh với dáng điệu lo lắng bị lạc lối, và cứ thế lập đi lập lại những hành động tìm đường trong ký ức. Bà cụ đã mấy lần bà đẩy chiếc xe chợ đi một vài bước, móc mảnh giấy trong túi vải, nhét lại miếng giấy vào túi, rồi đứng lại ngó quanh miệng lẩm bẩm cầu phật độ…!
      Tôi bước tới bên bà và nhận thấy càng lúc bà cụ càng thêm bối rối. Tôi hỏi:
–           Thưa bác, cháu có thể giúp bác được gì không?
–           Lạy Phật, ông là người Việt Nam? Bà cụ vui mừng nắm lấy cánh tay tôi .
–           Dạ, cháu người Việt mà.
–           Vậy mà lúc nẫy tôi cứ tưởng ông là người Nhật cơ chứ !
–           Tại sao bác lại nghĩ cháu là người Nhật ?
–           Ông không biết à? Đây là chợ của người Nhật, người Nhật đi chợ này thôi.
Tôi cúi đầu chào bà cụ, và sau khi nhìn kỹ bà cụ, tôi ân cần nói với bà.
–           Cháu tên Nguyên. Bác coi cháu như con đi, gọi cháu bằng ông cháu nghe không quen, và tuổi bà cũng gần bằng tuổi mẹ cháu rồi..!
–           Mấy người bạn già gọi tôi là bà Hoàng, tên chồng của tôi đấy.
Sau khi nói tên, bà Hoàng nhìn tôi vẻ thiện cảm :
–           Bà cụ thân sinh ra anh bao nhiêu tuổi?
–           Dạ thưa mẹ cháu năm nay 94 tuổi rồi.
–           Bà cụ thọ quá nhỉ! Tôi năm nay 87 rồi đấy. Nhưng sống thọ quá ở xứ người này buồn lắm..! Bà thân sinh của anh bây giờ ở đâu?
–           Dạ, ở với cháu. Nhưng đã về Việt Nam chơi với các em cháu hai tháng nay rồi..!
Bà Hoàng ngước mặt nhìn tôi vẻ ngạc nhiên, sau đó cúi đầu với một giọng buốn bà nói:
–           Lạy Phật…! Thật quí hoá quá, bà cụ còn có anh để nương tựa, còn tôi thì có con mà như cô độc một mình…! Buồn lắm anh ạ..!
Tôi đẩy chiếc xe cho bác Hoàng, trong khi vừa đi tôi vừa an ủi:
–           Chắc mấy anh chị con bác bận đi làm, bác ở nhà một mình nên buồn đó thôi. Mẹ cháu cũng vậy, nên mẹ cháu đã vừa về Việt Nam ăn tết, và không muốn qua nữa.
–           Phải đấy qua đây làm gì nữa…! Xứ lạ quê người buồn lắm…!
      Tôi nhạc nhiên nhìn bác Hoàng sau khi nghe bác nói, và tôi hiểu tại sao người gìa lại muốn quay về quê để an nghỉ cuối đời, cũng như cha mẹ tôi cố gắng đút lót tiền bạc cho nhân viên chính quền Cộng Sản để lo cho ba gia đình người em trai tôi qua Mỹ với diện ODP do tôi bảo trợ năm 1978. Sau đó cha mẹ tôi đều ao ước quay về Việt Nam, mà ở đó cha mẹ tôi thường nói với con cháu : Quê mình đất ấm hơn, và ở Việt Nam tuy nghèo nhưng có tình hàng xóm và gia đình có tôn ti hơn ..! Ở Mỹ con cháu chẳng thưa gởi gì cả, chỉ You với me không hà…!
Sau khi tôi mở túi vải nhỏ của bác hoàng, bỏ kẹp rau thơm vào túi và thắt lại cẩn thẩn cho bác. Tôi sách túi vải, đẩy chiéc xe vào một góc bên ngoài chợ và bước tới chỗ bác
       Hoàng đang đứng tựa trên cái gậy chờ tôi quay lại. Tay phải bác nắn lấy cách tay trái tôi, tay trái bác chống cây gậy dựa vào tôi bước đi. Tôi nhìn bác ái ngại hỏi:
–           Xe bác ở đâu cháu đưa bác tới.
–           Tôi làm gì có xe, tôi đi xe bus. Bác Hoàng lắc đầu trả lời.
–           Vậy bác ở đâu? Bác biết lối về không?
–           Tôi ở gần đường Bolsa và Magnolia, tôi tìm chỗ xe bus, anh biết chỗ xe bus đậu rước khách không? Anh dẫn tôi tới đó nghe.
      Tôi dừng lại nhìn bác Hoàng, và nhìn vào cửa chợ để xem Mỹ Thanh đã ra chưa, trong khi bác Hoàng nhìn tôi hỏi.
–           Anh không muốn dẫn tôi đi tìm trạm xe bus à?
Tôi lắc đầu.
–           Đâu có, cháu sẽ dẫn bác tới trạm xe bus, nhưng chắc chắn bác biết đường về và xuống xe bus hay không?
–           Tôi biết số xe bus chạy về Bolsa, số 636. Anh cứ dẫn tôi tới là tôi biết đường về.
     Tôi dẫn bà Hoàng trở về chỗ xe tôi đậu chờ Mỹ Thanh. Tôi mở cửa xe và giúp bác ngồi vào trong ghế. tôi nói với bác, sau khi bác đã ngồi vào trong xe.
–           Cháu sẽ đưa bác về ngã tư Bolsa và Magnolia, nhưng cháu còn chờ vợ cháu ra đã, bác ngồi trong xe tránh lạnh nghe.
Mặt bác Hoàng tươi hẳn lên, bác ôm lấy tay tôi :
–    Trời phù hộ, tôi gặp phật sống..!
–   Trời đất bác nói gì lạ vậy? cháu thấy bác già như mẹ cháu nên giúp bác về nhà thôi, có gì đâu. Cháu sợ bác lạc thì khổ cho bác và cho anh chị con bác..!
      Mặt bác Hoàng nặng chũng buồn.
–           Tôi có con mà như không! Tôi làm cái gì cũng một mình, chúng nó chẳng giúp gì được cả. Ở xứ Mỹ này tuổi già khổ thật…!
–           Chắc các anh chị con bác bận làm ăn.
–           Đứa con trai tôi thì ở xa mãi đâu tôi không biết, tôi ở với con gái, nhưng vợ chồng nó cũng đi làm bận rộn tối ngày để lấy tiền trả tiền nhà, và nuôi hai đứa con đang đi học. Tôi phải ở một mình trong nhà. Buồn lắm anh à..! Tiền già của tôi, tôi cũng cho tụi nó đẻ trả nợ đủ thứ… Ơ Mỹ này chỉ thấy tối mặt đi làm có sướng gì đâu…!
–           Nhưng có tự do..! Chiều hai anh chị con bác và các cháu sẽ về, như vậy là vui rồi. 
      Bác đừng suy nghĩ gì nữa, kẻo bệnh thì khổ cho cả nhà đó bác.
     Bác Hoàng nhìn tôi lắc đầu, và thở dài như muốn khóc.
–           Hai đứa con tôi đi làm từ sáng tới tối mới về! Khi chúng nó về thì tôi đã ăn cơm nguội một mình rồi, và đã vào phòng niệm Phật cho tới khi mệt ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Có khi cả tuần mới nhìn thấy mặt con mặc dù ở chung một nhà…! Có khi tôi nghĩ dại lỡ bị gió độc chết bất tử hai con tôi cũng chẳng biết, và tới khi chúng tan sở về nhà mới hay…!
–           Nhưng bác sẽ có hai cháu để vui vào buổi tối trong khiò anh chị con bác về.
    Bác hoàng quay nhìn tôi, bác nói như than vãn.
–           Hai đứa cháu của tôi thì lại không nói được tiếng Việt, chúng nói tiếng Anh với tôi, nhưng tôi đâu có hiểu tụi nó nói gì. Bởi vậy có cháu cũng như không, chẳng ôm ấp tụi nó được mà cũng chẳng biét nói gì cho tụi nó hiểu ! Chúng nó xa lạ cả với tôi…! Tôi sống cũng như không sống. Tôi giống như cái bóng trong gia đình vậy, già rồi mà lang thang, làm cái gì cũng một mình.. rồi lẩm cẩm không nhớ được nữa..! 
    Tôi hỏi bác Hoàng.
–           Dường như bác người Bắc?
–           Phải, tôi sinh ở Hà Nội, Chợ Mơ cuối đường Bạch Mai đấy.
–           Ồ..! cháu cũng ở đường Bạch Mai.
     Bác Hoàng vui vẻ hẳn ra, bác giật tay áo tôi hỏi
–           Anh ở chỗ nào trên đường Bạch Mai.
–           Dạ, cháu ở ngõ hẻm Thănh Long trước cổng phi trường quân sự Bạch Mai và gần rạp hát Thăng Long.
–           Vậy là nhà anh chỉ cách nhà tôi khoảng cây số, khi còn trẻ trước năm 1954 tôi bán vải trong chợ Mơ đấy. Gớm cái chợ gì mà lầy lội về mùa mưa thu kéo dài cả tháng. Chắc năm 54 anh còn nhỏ lắm không nhớ hết đâu.
–           Dạ đúng, nháu nghĩ rằng cháu nhớ nhiều, nhưng thực chẳng bao nhiêu.
Bác Hoàng như được mở lòng sau những ngày lủi thủi trong bốn bức tường không ai chuyện trò, bác vui hẳn ra và luôn miệng nói về những dĩ vãng xưa với giọng buồn dựng lệ:
–    Trước 54, tôi còn trẻ lắm, mới 19, 20 thôi, tôi chạy du kích từ quê vào thành một mình, anh em thất lạc anh chị em, tới bây giờ tôi vẫn chưa tìm lại được anh em tôi. Tôi lang thang khắp phố Hà-Nội chịu biết bao nhiêu khổ cực đói khát..! Có lúc đói quá phải đi xin ăn đấy…! Ngày đó tôi làm người ở cho một ông quan Tây, ông quí tôi lắm vì tôi biết chút chữ..! ông nhà tôi người Hà-Đông là lính đi theo ông quan Tây, thế là chúng tôi thường gặp nhau và lấy nhau đấy…! Chẳng có đám cưới đám hỏi gì ráo…! Tôi theo ông nhà tôi ra ngoài ở, và ông nhà tôi mua sập vải cho tôi buôn bán ở chợ Mơ đấy.
–           Chắc bác nhiều con lắm phải không? Tôi ngắt lời bác Hoàng.
    Bác Hoàng lắc đầu.
–           Tôi ba trai hai gái, nhưng hai thằng lớn đã chết trận trước 75 rồi, Một thắng chết ở
     An Lộc, con một thằng… người ta nói là lào.. lào gì đó..!
–           Bác muốn nói tới Hạ Lào ?
–           Đúng rồi…! Bỗng bác Hoàng sụt sùi trong nước mắt – Đứa con gái lớn chết năm 75 ngay trong nhà vì mảnh B40 nổ ở ngoài đường, nó bỏ lại mấy đứa con cho em chồng nó nuôi, bây giờ tôi cũng chẳng biết mấy cháu của tôi ra sao và ở đâu..! Vì chồng con gái tôi là lính biệt động gì đó, nên nó phải đi tù cải tạo chết đâu không biết, chẳng tin tức gì.! Bây giờ chỉ còn hai đứa. Thằng con trai bảo trợ tôi qua đây, nó bỏ tôi lại cho em gái của nó, rồi nó đi làm ở đâu tôi cũng không biết, còn con gái tôi thì lại đang định bỏ tôi vào nhà dưỡng lão vì nó sợ tôi già ở nhà một mình nguy hiểm. Tôi buồn lắm anh ạ..!
      Bác Hoàng chợt bật khóc, bác vừa khóc vừa nói.
–           Bà thân sinh anh còn có chỗ về, tôi bây giờ hết cả đường về, bỏ thây nơi xứ người thôi…! Tôi buồn lắm …! Tôi có nhà ở Sài Gòn để lại cho người em họ, nhưng không về được rồi..!
–           Vậy tại sao bác lạc xuống đây?
–           Tôi đi làm giấy tờ đã bị mất mấy ngyà trước ở văn phòng gần đây, không ai đưa đi, tôi đi bằng xe bus và ghé đây mua rau, nhưng khi ra tôi quên chỗ xuống lúc nẫy.
    Tôi ngạc nhiên hỏi bác Hoàng.
–           Nếu vậy làm sao mà bác biết được chi tiết ra sao mà làm giấy tờ?
–           Thì tôi cứ mang hết giấy tờ của tôi, rồi đưa cho bà thư ký. Bà thư ký bảo tôi ngồi chờ, và tôi ngồi chờ cho đến khi bà thư ký bào tôi xong rồi, thế là tôi cầm lại giấy tờ do bà thư ký đưa và đi về thôi. 
–           Sao bác không nói với con bác để anh chị ấy đi lo dùm bác.
Bác Hoàng thở dài.
–           Toi đã đi làm nhiều lần rồi, lần nào cũng xong cả. Tôi bảo con tôi chở đi làm giấy tờ thì chúng nó nói rằng con bận lắm, để bữa khác sẽ chở đi. Tôi chờ tụi nó thì nóng ruột nên mò đi làm một mình, thế mà cũng xong…!
–           Nhưng nguy hiển lắm đó bắc biết không ? Tôi nhìn thẳng mặt bắc Hoàng và hỏi.
Bác Hoàng lắc đầu, vẻ bình tĩnh.
–           Chẳng sao đâu.. Tôi già rồi ai mà lừa tôi chứ? tiền tôi đâu có mà lừa làm chi?
–           Nhưng bác sẽ đi lạc, hoạc bị xe đựng đó. Cháu sẽ đưa bác về chỗ bác muốn.
–           Vậy thì tốt quá.
     Khi Mỹ Thanh ra tới xe nàng ngạc nhiên thấy bác Bác Hoàng ngồi trong xe. Tôi ra dấu giới thiẹu:
–           Bác Hoàng, đây là vợ của cháu.
–           Chào cô, Cô còn trẻ quá hả. Anh Nguyên có ý chở tôi vè góc Bolsa và Magnonia. 
      Bác Hoàng vui vẻ nói.
–           Trời đất…! Bác tuổi như vầy mà đi xa quá vậy? Bác sẽ lạc như mẹ cháu là khổ cho con cháu đó.. Lần sau bác đừng đi xa như vậy nữa nghe.
–           Ủa, bà cụ của cô ở đâu mà đi lạc ?
–           Mẹ chồng cháu năm nay hơn chín mươi rồi, cũng như bác bây gìờ, ở nhà buồn rồi ra khỏi nhà đi lung tung, ra tới phố cách nhà mười mấy miles, nên đã đi lạc một lần giữa cơn mưa lạnh trên San Jose, bữa đó mà không có người làm phước đưa về là chết cóng luôn. Mỹ Thanh phân bua.
      Bác Hoàng nhìn Mỹ Thanh hỏi.
–           Thế bữa đó cô không có nhà à ?
–           Sau khi ba cháu mất, mẹ cháu ở nhà một mình khi chúng cháu đi làm.
–           Đấy! Hai vợ chồng thằng rể tôi cũng vậy đó. Chúng nó đi làm, con chúng đi học.
      Tôi một mình ở nhà như ở tù vậy cô à..!
–           Mẹ cháu cũng nói vậy, nhưng vì cuộc sống con cái mới phải làm vậy thôi, chẳng ai muốn bỏ cha mẹ già ở nhà một mình cả…!
     Tôi nhìn kính chiếu hậu thấy bác Hoàng ngồi thu mình vào lòng ghế, mắt nhìn ra ngoài cửa xe, như cố quan sát đường về, bỗng bác quay lại vỗ vai Mỹ Thanh hỏi.
–           Khi về già cô có muốn về Việt Nam ở không ?
     Mỹ Thanh quay nhìn bác.
–           Cháu cũng chưa biết ra sao, có thể khi về già cháu sẽ đổi ý như mẹ cháu vậy. Mẹ cháu về ở luôn bên đó rồi…! Chỉ vì nhớ quê và con cháu còn lại bên đó.
Giọng bác Hoàng bỗng trở nên buồn diệu vợi, bách nói:
–           Tôi thì muốn về lắm nhưng đã không còn về được nữa rồi. Tôi muốn về Hà-Nội để nhìn lại chợ Mơ, nhìn lại hồ Hoàn Kiếm có con rùa, Hàng Ngang, Hàng Đào, Vườn hoa Con Cóc, Quốc Tử Giám và làng tôi mà tôi đã bỏ lại trước năm 54, ấy vậy mà mấy mươi năm rồi vẫn không về được…! Bây giờ lại càng xa hơn.. Mẹ chồng cô có phước, bà còn về nhìn lại quê hương ở cuối đời..! Tôi già quá rồi đành bỏ xác xứ lạ thôi cô à…!
–           Bác có thể về được mà..! Bác nói anh chị con bác đưa về…! 
Bách Hoàng lắc đầu.
–           Nhưng sau khi về tôi ở với ai..! Tôi không còn ai ổ Hà Nội hay Sài Gòn nữa, về quê thì sợ lắm, tôi nhớ lại thủa chạy loạn và nhìn thấy Việt Minh thì chết run lên đấy cô! Tụi nó giết người cướp của ghê lắm…! Bỗng bác Hoàng lấy vạt áo lau nước mắt, trong khi bác tiếp tục nói: Du kích gõ cửa nhà tôi nửa đêm khi tôi còn con gái và bắt cha tôi ra đồng chặt đầu, mẹ tôi chạy theo nó dùng dao đâm bà rồi đẩy xuống ao. Sau đó chúng kéo tôi theo và đằn tôi ra giữa ruộng lúa làm nhục tôi. Khi tôi tỉnh lại tôi sợ làng xóm biết tôi đã bị chúng làm nhục, và cũng vì sự sợ hãi nên tôi đã bỏ làng bỏ anh em đi luôn trong đêm đó không về nữa! Xác cha mẹ tôi, tôi cũng không biết chúng bỏ đâu…!
      Tôi nhìn bác Hoàng qua kính chiếu hậu.
–           Xin lỗi bác, Quê bác ở đâu ? Bác còn nhớ không ?
      Bác Hoàng gật đầu.
–           Tôi nhớ chứ, Tôi làm sao qên được chứ ! Nhưng khổ là không thể về được. Tôi sinh ra ở làng Bái Đô đấy! Làng tôi ruộng lúa bao quanh, khi còn thanh bình mỗi lần được mùa là dân làng vui lắm cơ…!
–           Vậy là làng bác ở gần làng cháu.
     Bác Hoàng vội chồn lên võ vai tôi như mừng rỡ.
–           Vậy à…! Qui hoá quá nhỉ…! Vậy làng anh tên gì?
–           Thành Lập.
     Tôi thấy bác Hoàng yên lặng vài phút, sau đó bác như nhớ ra điều gì, rồi lại như quên điều gì, bác lẩm bẩm một mình.
–           Thành lập… Thành lập… Bái Đô… Bái Vàng…Hoàng Nguyên… Hà Nội…!
–           Bác quên rồi anh, đừng hỏi bác nữa. Mỹ Thanh nói với tôi.
–           Đúng, Đa số ông bà già trên 80 đầu óc như cái máy recoder đã thâu vào băng nhựa. Bây giờ đôi lúc phát ra nhớ lại như player. Nhưng cái máy đã không thể thâu thêm được nữa vì máy đã cũ và bộ nhớ đã đầy, nên họ đã không nhớ được những gì đã sẩy ra vài ngày trước..!
     Trong khi tôi nói chuyện với Mỹ Thanh thì bác Hoàng vỗ vai tôi một cách vộïi vàng. –     Đã tới rồi anh Nguyên, làm ơn cho tôi xuống đây được không ?
–           Dạ để cháu cho xe vào cây xăng bên phải gần chợ ABC để mua xăng, và bác sẽ xuống xe tại đó để bác về nhà. Bác nhớ đường vể không ?
–           Vậy thì may quá..! Anh lái xe vào cây xăng đi, tôi nhớ chứ…!
–           Dạ. Cầu ơn trên cho bác được an bình.
–           Cám ơn anh chị nhé…!
     Sau khi gài vòi xăng, tôi giúp bác Hoàng phương hướng về nhà và quay lại đường Magnonia để về I-22 East cho chuyến đường dài San Jose- Santa Ana. Tôi nói với Mỹ Thanh:
–           Em thấy không, tuổi già xứ lạ…! Tuy rằng tuổi đã thật sự về chiều, chẳng còn gì để nhớ để mong như thày mẹ và bác Hoàng, nhưng trong nỗi sâu thẳm của linh hồn, lòng họ vẫn chia ra hai mối quê hương và xứ ngoại. Đời sống phồn hoa thanh bình như Mỹ nhưng họ vẫn không màng, thâm tâm họ nhất định hạnh phúc phải là nơi xa xôi chôn nhau, cắt rốn nghèo đói quê nhà khổ nhục, mà ở đó có vạn nỗi nhớ thỉnh thoảng hiện ra trong trí như những đợt sóng sương mờ đang mất dần, và tàn lụn ở cuối đời…!
      Mỹ Thanh thở dài:
–           Quê hương mình mà anh..! Ai mà không có nỗi nhờ, nỗi mong…!
Cũng chính vì những nỗi nhớ, nỗi mong này, đã trở thành cái cầu nối kết với quê hương cho thế hệ con cháu trở về để xây dựng đất nước khi chế độ độc tài CS đã cáo chung, anh hãy chờ xem..!
 

 San Jose July 28, 2006




Chúc Anh : Xuân Nhớ Cha

                                                    Xuân Nhớ Cha
(Kính dâng hương hồn Cha rất yêu dấu )

Dòng chữ đầu Xuân thương nhớ Cha
Âm dương cách biệt lệ châu sa
Cha nay an giấc miền xa thẳm
Thấu cõi lòng con những xót xa

Nhớ Chủ Nhật xưa nắng héo hon
Phút giờ từ biệt bóng hoàng hôn
Lệ tràn sũng ướt Cha buồn khóc
Như nhủ bước Cha tan biến mòn

Còn đâu thấy bóng bóng Cha yêu
Thoang thoảng không gian kinh mỗi chiều
Thấp thoáng trầm hương tìm dáng cũ
Lòng đau tê tái nỗi cô liêu

Một giấc nghìn thu ! Vĩnh biệt Cha !
Đau thương , nhung nhớ lệ chưa nhòa
Ngày Cha cất bước lìa dương thế
Con đã như tàn một kiếp hoa

                                                                                    Trời đổ mưa buồn đau buốt tim 
Lối xưa hoang vắng bóng ai chìm 
Trăng thu tan tác khung trời lạ 
Lệ đắng , sao Người dấu lặng im .

Chúc Anh
Con thứ 12 của Cha
(Cha Mẹ của Chúc Anh có 17 người con – cùng Cha cùng Mẹ )