Bữa Ăn Một Mình – Cố Văn Sĩ HUY PHƯƠNG

Nhà văn Huy Phương đã ra đi nhưng còn để lại đời những bài viết rất đồng điệu, thấm thía.
********
Hiện nay tôi đang sống với gia đình cô con gái út. Cháu có một gái đã trưởng thành sống ở tiểu bang khác và một cháu trai đang học năm cuối của trung học. Chồng cháu thỉnh thoảng phải đi làm xa. Hai vợ chồng tôi đã đến tuổi già gần đất xa trời, nên thời khắc biểu của những thành viên trong gia đình rất khác nhau, nên ít khi chúng tôi ngồi lại cạnh nhau cùng ăn chung một bữa cơm. Buổi sáng thức dậy trễ, thì con cái đã đi làm, cháu đã đến trường, vợ thì luẩn quẩn ở sau khu vườn nhỏ, đành ngồi ăn sáng một mình. Buổi tối, thấy cơm canh đã sẵn sàng nhưng chưa thấy ai sẵn sàng cùng ăn với mình. Gọi vợ thì vợ bảo:

“Ông cứ ăn đi, tôi mới ăn củ khoai, còn ngang bụng!” 

Gọi con thì con thưa: “Ba cứ dùng cơm đi, con đang bận tay!” 

Ðứa cháu thì khi hiện khi biến, chẳng mấy khi gặp mặt, có khi ăn ở trong bếp hay đem phần ăn lên phòng riêng để có sự tự do một mình.

Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình.

Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không?

Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi.

Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa.Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng.

Trong một trại tù nào đó, trên cái chõng tre tập thể, hay bữa trưa ngoài bìa rừng, tôi ngồi dùng đũa đếm những hạt ngô bung, xót xa nhớ đến những bữa cơm gia đình. Khi tôi từ nhà tù trở về, thì bữa cơm không còn là bữa cơm nữa. Con tản mát, vợ chạy gạo mỗi ngày, nồi cơm lạnh lẽo trên bếp, ai thấy thì ăn.

Thời Cộng Sản vào nhà, không còn hai chữ “sum họp,” cũng chẳng còn câu “ngồi lại với nhau.”

Ra hải ngoại, thì cái văn hoá “bữa cơm gia đình” cũng đã mờ nhạt. Ly cà phê bữa sáng trên xe, cái hamburger cùng ly coke vào giờ lunch và những buổi tối về nhà trong giờ giấc trước sau không đồng nhất. Phải chờ đến những ngày Lễ Tết, sinh nhật, cha con, anh chị em họa hoằn mới có dịp ngồi lại trong những bữa tiệc cuối tuần.

Các bạn còn trẻ có lẽ chưa cảm nhận được nỗi buồn khi phải ngồi ăn một mình. Thức ăn có ngon đến đâu, bổ dưỡng đến đâu mà không “dịch vị” của tiếng cười, niềm vui, chỉ còn “gia vị” của cô đơn, buồn nản, thì bữa ăn ấy chỉ còn là bổn phận ăn để sống.

Chính các vị y sĩ cũng đã khuyên người già “ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Về phần con cháu, cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ, vì khi ăn một mình, sẽ kém vui, và ăn ít đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn sẽ làm miếng ăn thêm cay đắng.”

Rõ ràng là tâm lý đã tác dụng vào sinh lý. Dù đau yếu, suy kiệt, mòn mỏi nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những người sống chung với con cháu, hay còn vợ chồng có khả năng sống lâu hơn là những ông bà cụ già hiện đang sống một mình trong những căn phòng lạnh lẽo của những căn “nursing home.”

Trong nhà dưỡng hưu, tôi đã thấy những bữa cơm gọn gàng trong những cái khay nhỏ do nhà bếp đưa đến tận giường, để cả giờ nguội lạnh mà các ông bà vẫn chưa muốn ăn.

Tôi đã đến thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lẻ loi trong căn nhà già ở Santa Ana lúc ông chưa vào bệnh viện. Lúc ấy vào buổi xế trưa, mà từ sáng đến giờ, nồi cơm điện còn nguyên chưa được xới ra trên bếp, thức ăn còn để lạnh ngắt trong tủ lạnh. Ông thú nhận là ông không muốn ăn, mà chỉ ăn vì “nghĩa vụ,” một nghĩa vụ nặng nề! Chung quy cũng vì nỗi buồn cô đơn, thui thủi một mình.

Keith Ferrazzi, tác giả cuốn sách “Ðừng bao giờ đi ăn một mình (Never eat alone) không nói về sự cô đơn mà nói về sự giao tiếp đưa đến sự thành công và hạnh phúc cho cuộc sống.

Chúng ta không bàn đến chuyện “ăn một mình” theo lối này.

Ðã đi hết một chặng đường dài, đã lo toan cho mọi thứ, nhưng cuối cùng tuổi già cô độc bên mâm cơm, lặng lẽ một mình.

Những bậc cha mẹ già không mong con tặng quà, phải chi con ghé nhà thăm, ngồi ăn với cha hay mẹ một bữa cơm, nói cười như thuở ấu thơ.

Huy Phương




THƠ: XOÁ HẾT QUAN SAN – CHỦ NHẬT- KIẾP NÀY – MÙA NÀY – Cao Mỵ Nhân

XOÁ HẾT QUAN SAN.     CAO MỴ NHÂN 

*

Cuối tuần, em đi tìm anh

Không gian mở rộng, trời xanh, mây vàng

Tháng ngày tình tự mơ màng

Bước chân trên những lỡ làng, lẻ loi

*

Bao la trước mặt núi đồi

Mênh mông biển nghiệp luân hồi sau lưng

Chuông vang âm vọng ngập ngừng

Cánh chim  bay chậm, thả từng tiếng rơi

*

Trái tim đập nhịp tuyệt vời

Tìm anh tận cuối phương trời này sao

Nhưng thơ chưa viết nghẹn ngào

Thì anh đã tới, lời chào đắm say

*

Cuối tuần vui trọn hôm nay

Hoa nhung nhớ nở trên tay chưa tàn 

Anh cười xoá hết quan san 

Trao em tất cả muộn màng yêu thương…

*

      CAO MỴ NHÂN 

*

CHỦ NHẬT.    CAO MỴ NHÂN

*

Anh hỏi một câu nghe rất lạ

” Thăm em, Chủ Nhật, có nên không ? “

Đường đi chắc hẳn chưa xa quá

Thì chớ hồ nghi khách má hồng

*

Tuần trước, tại em cho lỡ hẹn

Tuần này anh giữ vẻ phân vân

Tuỳ anh, muốn đến hay không đến

Hay muốn từ đây thành cố nhân

*

Cũng được, bởi vì em đã nói

” Nếu không thích nữa, sẽ chia xa ” 

Có chi ràng buộc mà anh ngại

Chủ nhật này, em lại vắng nhà …

*

     CAO MỴ NHÂN 

**

KIẾP NÀY.     CAO MỴ NHÂN 

*

Anh nói với em :

” Cho xong một kiếp người ” 

Vâng, cho xong đi nhé

Đời sau mình rong chơi

*

Em đã khóc nấc lên

Đời này chưa tròn vẹn 

Kiếp khác làm sao quên 

Anh ngập ngừng gọi khẽ : ” Em ” 

*

Dặn dò rồi như thế

Hẹn hò có chi hơn 

Vẫn thở dài, nước mắt 

Vẫn u sầu, van lơn

*

” Anh đừng nói gì trơn 

Em quê mùa, dốt nát …”

Em không cần đời khác 

Kiếp này thôi, yêu em …

*

  CAO MỴ NHÂN 

**

MÙA NÀY.      CAO MỴ NHÂN 

*

Mùa này trời sáng lâu

Không phải mùa lâu sáng 

Anh bây giờ ở đâu

Đầy trời mây lãng đãng

*

Em ngó về phương nam

Đan Hồ vương khói biếc

Thấy cánh chim lang thang 

Bay ngang rừng hoa tím

*

Nhưng thu còn ở xa

Đợi người tình không đến

Lá chưa vàng bao la

Rơi trên đường đưa tiễn

                                               *

Mùa này trước bình minh

Bầy quạ đen thức giấc

Chúng kêu lên rối tinh

Họp đàn rồi bay mất 

*

Mùa này anh và em

Mỗi người một thiếu thất 

Cùng chờ mặt trời lên 

Cùng cô đơn chất ngất …

*

  CAO MỴ NHÂN 

**




THÁO GIÀY – Quyên Di

T H Á O G I À Y
(Bài này không liên quan gì đến chuyện “thầy giáo… tháo giày” và “giáo chức… dức cháo.”)

Tôi nhớ lại một truyện rất lý thú về sự tích đôi giày.

Truyện kể rằng ngày xưa có một ông vua sống rất xa xỉ. Mỗi khi đến đâu, ông bắt dân chúng nơi ấy phải trải thảm nhung trên tất cả những con đường ông đi qua. Càng được đón tiếp long trọng, ông càng thích đi; và ông càng đi, người ta càng phải trải nhiều thảm nhung cho ông bước lên.

Cho đến một ngày, người ta không kịp sản xuất nhung để lót đường cho ông vua. Điều này làm ông tức giận và ra lệnh rằng ông đến đâu mà không có thảm nhung lót đường, cả dân vùng ấy sẽ bị giết chết hết.

Thế nhưng đã có một người đến xin yết kiến vua, ông ta cam đoan rằng nếu vua theo ý ông, vua đi đâu thảm nhung cũng có sẵn mà không phải huy động một ai cả. Vua bằng lòng, và ông nọ dùng hai mảnh nhung nho nhỏ, khâu thành một đôi giày nhung rồi mời vua xỏ chân vào.

Thế là từ đó, vua đi đâu “thảm nhung” đi theo đến đấy.

Kỹ nghệ làm giày từ đó dần dần thành hình và phát triển.

Truyện này khiến tôi suy nghĩ và cảm thấy có liên hệ tới tính chất của những đôi giày. Đôi giày tượng trưng cho sự giàu có, hay ít ra cũng là đủ ăn đủ mặc, đôi giày làm cho người ta trở nên chững chạc, lịch sự. Đi đến nơi nào có vẻ quan trọng một chút, người ta xỏ chân vào đôi giày, tự nhiên trông có vẻ tươm tất ngay. Bà phu nhân của cố tổng thống Phi Luật Tân Marcos có tới vài trăm đôi giày đắt giá (1).

Tôi không biết có ai trong chúng ta có tới vài trăm đôi giày như vậy không, nhưng chừng vài chục đôi thì tôi cũng đã biết có người. Có những người ham thích mua giày, dư tiền một chút, họ đi sắm giày. Những đôi kiểu mới, họ mang thử vào chân, ngắm nghía rồi mua đem về, dù rằng những đôi cũ còn rất tốt, lại có những đôi họ chưa xỏ chân vào lần thứ hai.

Chính vì có nhiều người ham thích mua giày, đóng giày mà kỹ nghệ sản xuất giày phát triển rất mạnh, với nhiều hãng giày nổi tiếng. Có những đôi giày trị giá mấy trăm Mỹ kim (2), trong khi một đôi dép dùng hằng ngày trong nhà có thể chỉ phải mua với giá hai, ba đồng.

Đôi giày làm thành ranh giới của người no đủ và người nghèo đói. Đôi giày cũng làm thành ranh giới của người tự do và người nô lệ. Ngày xưa, trong một số xã hội nào đó, chỉ những người tự do mới được quyền đi giày, còn người nô lệ phải đi đất. Nhưng đôi giày cũng là vật tượng trưng cho sự gò bó. Đôi giày trở nên nỗi cực hình đối với những ai thích cho đôi chân mình được thoải mái. Tôi vốn thích đi dép hoặc xăng đan “cho nó mát.”

Ngày đầu tiên đi dạy học, tôi cũng định lê đôi dép vào trong lớp, nhưng mẹ tôi đã đe: “Nếu con không chịu mua giày và không chịu đi giày, mẹ không cho con tới trường dạy học.” Tôi hoảng quá, đành phải đi sắm giày mà trong lòng lấy làm đau khổ vô cùng. Bây giờ, tôi vẫn có thói quen đi dép hay đi xăng đan. Và đang khi có đôi chân thoải mái như thế, tôi nhìn những người bạn phải đi giày suốt từ sáng đến tối mà thương cho họ. Nhất là những cô phải xỏ chân vào đôi giày cao gót và để đôi giày ấy đeo cứng chân mình, dù đi, dù đứng, dù ngồi; chắc là bí bức, gò bó lắm. Nhưng nói vậy thôi, có nhiều người sẵn sàng chịu sự gò bó để cảm thấy mình đẹp và được khen là đẹp.

Tuy nhiên, tôi cũng thấy có nhiều người, nhất là những người trẻ, bước đi trên đường phố bằng những đôi chân trần không giày dép. Những người trẻ này có lẽ không thích sự gò bó, dù là sự gò bó của đôi giày hay sự gò bó của những luật lệ, định chế xã hội.Có một khoa nhìn giày để đoán ra tính nết người đi đôi giày đó. Người ta nhìn đôi giày mòn ở mũi hay ở đế, mòn phía trong nhiều hay mòn phía ngoài nhiều, rồi từ đó đoán ra người đi đôi giày ấy tính hướng nội hay hướng ngoại, bình tĩnh hay hấp tấp, cương quyết hay e dè v.v…

Tôi không biết những điều ước đoán ấy đúng, sai ra sao, nhưng từ lâu tôi vốn thích ngắm những đôi giày mòn vẹt hơn là nhìn những đôi giày bóng loáng chưa đụng đất trong tiệm bán giày. Giày đẹp mấy mà chưa dùng đến thì cũng chưa đem lại chút lợi ích gì cho con người. Giày càng mòn, càng vẹt bao nhiêu, càng chứng tỏ nó đã giúp cho con người đi chuyển nhiều bấy nhiêu. Đẹp mà không giúp ích cho đời, cũng không quý bằng dù tàn tạ nhưng đã đem lại ích lợi cho đời sống con người.

Ai từng đi giày cũng có một đôi giày mình ưng ý nhất, đôi giày ấy đi vào vừa vặn, bước đi thật êm, nó không cọ xát khiến đôi chân đau bỏng, nó không bó đôi chân lại khiến chân bị tê buốt, nó cũng không lỏng lẻo khiến cho đôi chân muốn tuột ra ngoài. Khi có một đôi giày ưng ý rồi, ta không thích đi đôi giày khác, nhất là không thích dùng giày của người khác. Đôi giày khi đó trở thành vật biểu tượng cho sở thích, cho bản tính của mình.

Có lẽ chính vì thế mà lâu nay người ta có thành ngữ “đi giày nhiều người’.” Thành ngữ này có nghĩa là khi làm việc, ta phải chiều theo tính nết của quá nhiều người thì việc mới thành tựu được. Phải “đi giày nhiều người” là một tình trạng rất khổ tâm của những người muốn hoạt động hữu hiệu cho một mục tiêu cao đẹp, mà cứ phải chiều ý hết người này tới ngườii khác. Mặt khác, “đi giày nhiều người” cũng là câu chê bai dành cho những ai không dám tự quyết, không dám can đảm dấn thân, bất chấp những nhân sự “cản mũi kỳ đà,” mà cứ luôn luôn phải làm theo ý người này, người nọ.

Tôi đã có lần được “tháo giày” một cách hết sức thoải mái.

Chuyện “tháo giày” của tôi không liên quan gì đến nghi lễ tối thứ Năm Tuần Thánh, các viên chức đóng vai mười hai tông đồ, tháo giày ra cho vị linh mục chủ tế, bắt chước Chúa Giê-su, rửa chân cho mình. Chuyện “tháo giày” của tôi hoàn toàn khác. Tôi được gọi đến dự một cuộc tĩnh tâm của giới trẻ. Sau những nghi thức và những bài giảng, đêm đã về khuya. Đây là thời điểm thuận tiện nhất để những người trẻ ngồi lại với nhau, tâm sự về những thao thức, những ước vọng, những suy tư của mình.

Để tạo bầu không khí thân mật, người phụ trách kêu gọi mọi người ngồi xuống đất bên nhau thành vòng tròn, thay vì ngồi trên ghế. Muốn ai cũng có thể ngồi thoải mái, người phụ trách xin mọi người tháo giày ra trước khi ngồi. Khi được lệnh “tháo giày,” tôi là người sung sướng nhất. Lúc nào tôi cũng mong đợi chân mình được tự do! Vừa tháo giày, tôi vừa quan sát những người trẻ chung quanh. Một số tháo giày ra ngay; một số khác còn ngần ngừ, như còn e dè, nuối tiếc gì đó. Nhưng rồi cuối cùng ai cũng tháo giày ra hết. Với đôi chân thoải mái, mọi người ngồi xuống đất, vòng tròn thu hẹp dần, thu hẹp dần, cho đến khi vai người này có thể chạm được vai người khác, đầu người nọ có thể chụm vào đầu người kia. Và họ bắt đầu chia sẻ với nhau về những ưu tư, khát vọng, mơ ước, hạnh phúc, đau khổ của mình.

Đúng lúc ấy tôi nghĩ tới đôi giày mọi người vừa tháo khỏi chân. Đôi giày, nhìn dưới một khía cạnh nào đó, chính là bản chất riêng của mỗi người. Để có thể ngồi sát bên nhau, vai chạm vai, đầu chụm đầu, nghe được nơi nhau những lời chia sẻ thân tình, chúng tôi phải tháo đôi giày, phải cởi bỏ bản chất riêng của mình trước đã, rồi mới có thể hoà đồng trong một bầu khí chung, một tâm tình chung. Những giọt lệ nơi khoé mắt tôi ứa ra một cách kín đáo.

Tôi ước mong trong cuộc sống, tôi và các bạn tôi biết nhận thức rằng: rất nhiều lúc, chúng tôi phải tập “tháo giày,” tập cởi bỏ bản chất riêng để cùng nhau theo đuổi một mục đích chung. Cùng nhau đi chân trần trên đường hướng về lý tưởng, có lẽ thích thú hơn lộp cộp với đôi giày để bước những bước độc hành.Viết riêng cho anh chị em Ki-tô hữu:Dụ ngôn “đứa con hoang đàng” trong Phúc Âm cũng có hình ảnh của đôi giày. Khi đứa con hoang trở về, nghèo đói, rách rưới quỳ xuống chân cha nói lời tạ tội và chỉ mong cha cho trở về, nhận làm kẻ hầu người hạ trong nhà chứ không dám mơ được nhận làm con như trước; người cha nhân lành đã đỡ con dậy, gọi gia nhân đem áo cho mặc, nhẫn cho đeo, giày cho đi. Đôi giày ấy thay cho lời người cha, nói với người con rằng: “Con là con cha, là người tự do, con không phải là kẻ ăn người ở, không phải là hạng nô lệ trong nhà này.”

Có người rất quý trọng đôi giày mòn, vẹt của mình. Người ta kể rằng một tu viện nọ tổ chức một cuộc tĩnh tâm. Cuối ngày, cha tu viện trưởng nói với mọi người để lên bàn vật mình cho là quý nhất. Các tu sĩ lần lượt để lên bàn những báu vật của mình. Người thì đặt lên một cây thánh giá bằng vàng, người khác là một cuốn thánh kinh đóng bìa da công phu, người khác nữa là một cỗ tràng hạt bằng bạc… Đến lần vị tu sĩ kia, ông thản nhiên cúi xuống tháo đôi giày cũ kỹ, mòn vẹt của ông và trịnh trọng đặt lên bàn. Mọi người ồn ào, bất mãn, người ta cho rằng vị tu sĩ kia ngạo mạn và bất kính đối với người khác và đối với những báu vật của họ. Tu viện trưởng ra lệnh cho vị tu sĩ kia giải thích tại sao lại cho đôi giày cũ kỹ bụi bặm kia là vật quý nhất, vị tu sĩ trả lời:

“Vì chính nhờ nó, con đã đem được Tin Mừng của Chúa Ki-tô đến biết bao con người ở những miền đất xa xôi.”

Câu chuyện này khiến tôi liên tưởng đến lời của tiên tri Isaia: “Đẹp thay bước chân người đi gieo rắc Tin Mừng.”Chúng ta học được gì qua hai hình ảnh trên?

QUYÊN DI

(Trích “Nhìn Xuống Cuộc Đời,” 1995)____________________________(1) Bây giờ tôi biết bà Marcos không phải chỉ có vài trăm đôi giày, số giày của bà lên tới con số hàng ngàn.

(2) Tôi thật nhà quê! Giày giá mấy trăm Mỹ kim đã là gì. Có người sẵn sàng bỏ tiền ra mua những đôi giày giá mấy chục ngàn Mỹ kim




Con Tim Biết Nói – Sa Chi Lệ Viết Và Diễn Ngâm

https://www.youtube.com/watch?v=TG3zvrb9_uc



CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN & Các Bài Viết: “Từng Mảnh Chiều Rơi”-“NÂNG NIU TÌNH BUỒN”

THÁNH CA.     CAO MỴ NHÂN 

*

Tôi có niềm vui hát Thánh Ca

Tâm tư bay bổng tới Ngân Hà 

Hình như đôi cánh Thiên thần mở

Cứ mỗi năm buồn một xót xa

*

San sẻ cô đơn với tuyệt cùng 

Nhìn ra bát ngát, thấu không trung

Hình như bóng Chúa mơ hồ đó 

Vừa thoáng đâu đây, đã mịt mùng

*

Thánh nhạc mênh mang, theo gió bay

Vượt trần gian, lên vút trời mây

Chúa ơi, nước mắt như mưa nhẹ 

Chúa ở trong tim, cảm xúc đầy

*

Khúc hát lênh đênh, lãng đãng trôi

Chơi vơi, thanh thoát, Chúa muôn đời

Trước, sau, mãi mãi nguồn vô tận

Nhân ái, thương yêu, ấm nụ cười…

*

      CAO MỴ NHÂN 

VAI DIỄN.    CAO MỴ NHÂN 

*

Thưa anh, mưa nắng qua rồi

Gió mùa đại dịch chưa thôi loạn cuồng

Bây giờ giữ mảnh hồn suông

Để năm tháng đóng hết tuồng thế nhân

*

Kịch đời nào cũng phù vân 

Phân vai em, Thượng Đế cần hỏi anh

Rằng sao lệ tủi long lanh

Bởi em chỉ muốn trở thành người yêu

*

Đã đành vai được nuông chiều

Nữ lưu kiều mị với nhiều kiêu sa

 Nhưng em lại vẫn xót xa

Vì anh vẫn cạnh người ta  xum vầy 

*

Gió mưa chưa hết kiếp này 

Kịch đời chưa dứt tháng ngày khổ đau 

Trên cao, Thượng Đế buồn rầu

Phân vai em, đợi đời sau đẹp tình …

*

      CAO MỴ NHÂN 

 THỨ SÁU.   CAO MỴ NHÂN 

*

Thứ sáu, ngày Chúa vong thân

Đã không bén mảng tới sân Nhà Thờ

Lại còn hò hẹn người thơ

Là hôm nay rảnh, tha hồ ghé chơi

*

Thưa rằng: Có chuyện gì vui

Đem Kinh ra đọc, hay ngồi nghe Thơ

Tại sao không đến nhà thờ

Xin Cha: xưng tội bây giờ mới yêu

*

Thì thôi mai sớm trưa chiều 

Tóc em buông thả những điều nhớ nhung

Cúi mình tạ khắp không trung

Đôi tay Chúa đã giải mông mênh tình 

*

Phép Trời vạn sự hồi sinh

Niềm tin vĩnh cửu thượng đình cao xa

Chúa từ bát ngát, bao la

Về bên cạnh mỗi chúng ta nguyện cầu…

*

       CAO MỴ NHÂN 

NẾU ANH.   CAO MỴ NHÂN 

*

Nếu anh nói nhỏ một lời

Rằng khuya nay sẽ tới mời em …vui

Thì em đã chẳng ngậm ngùi 

Là không gặp Đấng Thánh Trời ghé qua

*

Nếu anh biết được anh xa

( Nhưng em vẫn tưởng anh đà quanh đây )

Đúng rồi, anh vẫn quanh đây

Trong thơ sầu mộng, em say đắm tình 

*

Hôm qua lễ trọng Phục Sinh

Sao em lại ngủ khi mình buồn đau

Nếu anh biết được tình sau 

Của em, là chính tình đầu đó thôi

*

Bây giờ thức giấc đơn côi

Thiếu anh, trống vắng đêm rồi ngày sang

Sáng nay em giận thời gian 

Nếu anh đến sớm, em càng yêu hơn …

*

             CAO MỴ NHÂN 

VAI NẶNG TÌNH ĐỜI.   CAO MỴ NHÂN 

*

Mặt trời ngày Phục Sinh

Mầu hoàng kim rực rỡ

Cuộc tình đang hồi sinh

Giữa mây vàng bỡ ngỡ

*

Chúa về gọi yêu thương

Khi hồn em tan nát

Lá cọ hoang tơ vương

Từng sợi sầu bát ngát

*

Mặt trời vút lên cao

Nửa kiếp người chìm khuất

Núi mùa xuân xôn xao

Dấu chân này sẽ mất

*

Đôi vai nặng tình đời

Vác theo Đường Thánh Giá

Thôi em bỏ cuộc chơi

Thành xưa khô lệ đá…

*

        CAO MỴ NHÂN 

Từng Mảnh Chiều Rơi -CAO MỴ NHÂN

Tôi đang ngồi trong căn phòng quen thuộc, ngắm hình ca sĩ Thái Thanh, người có giọng hát vượt thời gian như nhà văn Mai Thảo nhận xét, thì chiều đổ ập xuống…

Có phải chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn không mà âm hưởng bài thơ Cảnh chiều hôm của Bà Huyện Thanh Quan khi đi võng qua đèo Ngang để vô kinh thành Huế dạy con vua cháu chúa triều Nguyễn cũng khiến mình vương chút sầu tư…

Ca sĩ Thái Thanh đang ở viện dưỡng lão X quận Cam, Nam Cali. Bà nhìn sâu vào không gian trước mặt, giờ này, cũng một buổi chiều, để thấm ý hai câu kết bài thơ Cảnh chiều hôm:

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn…

(Bà Huyện Thanh Quan, 1805 – 1848)

Cứ xem như tư gia của ca sĩ Thái Thanh là chốn Chương Đài, còn ca sĩ đang là người lữ thứ ở viện dưỡng lão X, con cháu bận rộn công ăn việc làm không thể thường xuyên thăm viếng nên nỗi hàn ôn phải tâm tình cùng bạn viện thôi.

Văn nghệ sĩ Việt Nam lưu vong cũng đã như một nếp gấp văn hoá địa phương lâu rồi… Tôi chỉ kể về quý vị mà tôi hoặc quen hoặc biết, theo thứ tự thời gian:

Nhà văn quân đội Phạm Huấn, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn. Nhị vị ở viện dưỡng lão Z trên San Jose và đã qua đời ở viện cũng đã lâu rồi.

Nhà văn Linh Bảo, hiền tỷ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, ca sĩ Thái Thanh, hiền mẫu của danh ca Ý Lan. Nhị vị đang bình thường tại viện dưỡng lão X, Nam Cali.

Buổi chiều thì ở đâu cũng buồn, nhưng ở viện dưỡng lão hay nhà thương thì càng buồn hơn.

Không biết có khi nào ca sĩ Thái Thanh một mình nằm hay ngồi trong viện X nghe lại chính giọng ca của mình…

Giọng hát đã băng qua cả một bề dày năm tháng…

Thủa nữ nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp còn tại thế, trước khi mất tích trên đường vượt biên năm 1987, bà cùng ái nữ cư ngụ tại biệt thự Mả Đá trong khuôn viên tư thất cụ thi sĩ Văn Giai nhượng lại một phần.

Biệt thự Mả Đá toạ lạc tại đường Phan Xích Long, trước cửa nhà máy điện quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Mỗi buổi sáng nơi bộ bàn ghế cẩn xà cừ kê ở hàng hiên biệt thự lại có ba vị tao nhân, mặc khách đàm đạo thi ca gồm quý cụ thi sĩ Văn Giai chủ nhân, thi sĩ Trần Lữ Vũ mới từ trại tù cải tạo ra và nghệ sĩ danh ngâm Hồ Điệp hội ẩm.

Cả ba vị tao nhân, mặc khách đều lặng lẽ nghe giọng ngâm Hồ Điệp từ băng thơ Hồ Điệp vẳng lên chơi vơi, mênh mông…

Thỉnh thoảng có dịp tìm thăm chị, cánh bướm của trời thơ trữ tình, lãng mạn, tôi lại gặp ba vị nêu trên ngồi thả hồn theo tiếng sáo Tô Kiều Ngân, tiếng đàn mệ Bửu Lộc, giọng Hồ Điệp ngâm nga trong những cuốn băng thơ bồng bềnh, dư âm vang xa vời vợi tình buồn…

Sự kiện khiến tôi liên tưởng tới hoàn cảnh văn nghệ của những ai lỡ mang tâm hồn mẫn cảm sau này…

Tôi cũng có những kỷ niệm hết sức âm thầm nhưng vô cùng mê đắm, tưởng như một phần đời mình đã đóng băng kiên cố trong tình nghĩa huynh đệ chi binh hiện nay ở sân chơi dành cho lính mà tôi thường thấm ý khoe với bạn bè về nơi vườn tình ấm áp ở phương Nam…

Tất nhiên thời gian không biệt lệ cho ai, dẫu có là vua thần thoại trong cổ tích Mỗi ngày một chuyện đi nữa, và dù có cố gắng tưởng tượng thêm nhiều tình tiết cho thật kỳ ảo, tôi vẫn phải ngồi lặng lẽ ngó từng mảnh chiều rơi trước mắt những khách tình si ưa thả lỏng tâm tư theo tơ vương thần thoại…

Buổi chiều… sao trong lòng hạnh phúc thế mà vẫn không thoát được nỗi buồn nhỉ?

Đó là chuỗi thở dài của tháng năm bất tuyệt…

Anh có chiều chuộng mình như nâng niu trứng mỏng, mình vẫn chan hoà nước mắt khóc… tình thơ!

Ô hay, tình thơ lưu ly như ngàn vạn hạt kim cương lấp lánh, chiếu rực rỡ những trái tim tha thiết luyến thương nhau…

Ở đây không ai trong chúng ta phải ở chốn Chương Đài, cũng không khiến người nào giữa huynh đệ phải lang thang nơi lữ thứ, vì chúng ta đang trong hạnh ngộ tình thương…

Cho tới thời gian nào chúng ta buộc phải nhìn nhau qua ký ức, ấy là chuyện kể trăm năm đã hết…

Đó là dấu tích kỷ niệm muôn đời vẫn mãi còn nếu muốn đi tìm hình ảnh hôm nay… từng mảnh chiều rơi bên những người tình muộn.

CAO MỴ NHÂN

NÂNG NIU TÌNH BUỒN.     CAO MỴ NHÂN 

Đã mệt mỏi quá rồi, tôi đi tìm cái nghĩa vẹn toàn của cuộc sống. 

Chỉ cần là lý tưởng, chỉ cần là học thuyết, và mãi mãi là trừu tượng thôi, nào muốn gì hơn. 

Không nói là tràn đầy, là dư thừa, chỉ mong được anh chia sẻ cho một chút tin yêu cuộc sống, cho đời mình vui vẻ bình thường…

Anh cũng biết vậy, nhưng anh im lặng, anh xa cách, anh trầm thống theo ý anh, cái bản chất cố đô vương giả, không muốn dứt niềm đau ra khỏi cuộc đời mình. 

Một trăm chuyện tình nghệ sĩ, gần như đủ một trăm nỗi ưu tư, sầu tủi được đẩy qua người mang tâm hồn khốn khổ vì yêu thương kẻ đối diện, chứ có bao giờ khách được hay bị yêu phải khổ đâu. 

Là tôi đang quan sát tình đời thôi. Và cũng chẳng để làm gì, khi thời gian không còn đủ cho mình say đắm chan hoà ân nghĩa xót thương nhau. 

Nhưng lạ, con người có thể là một Thánh Gióng, thần Herculs, thần Antee, lực sĩ Tarzan, Thạch Sanh vv…mà vẫn bất chợt mềm nhũn như loài sâu bé nhỏ, chỉ vì niềm tin bị khủng hoảng, mất mát. 

Anh là tất cả, đúng, nên không có anh, mặt trời sẽ chẳng mọc, to chuyện quá, mấy chục năm nay mình đã chứng kiến cái điều thiên hạ cho là vớ vẩn, viển vông, không thực tế…này. 

Khi ngày nào ánh sáng thái dương cũng soi rọi thế gian, một hạt cát trên sa mạc cũng mong đợi ngày lên, để nhìn thấy những hạt cát khác, cho dẫu cái cao nguyên rộng bát ngát, luôn mịt mù gió bụi. 

Cả thế giới mày râu phải là những thần, những thánh cho chúng ta người già, phụ nữ, trẻ em…được vin vào lẽ sống, để tiếp tục sinh tồn. 

Có phải tôi đánh giá quý ông, trong đó có anh, và rất có anh, là một ảnh hình chân như, lương thiện, hoàn mỹ, hầu xây dựng những cái tổ phượng hoàng nơi tột đỉnh phù sinh, trước khi ” mặt trời tắt hẳn trên môi em…” không ?

Câu thơ mình viết tặng anh từ phút giây hạnh ngộ, dù anh khẳng định là trừu tượng thôi, mãi mãi trừu tượng…đã phần nào đúng đấy . 

Tôi bật cười, lẽ nào tôi không đủ ngôn từ, chữ nghĩa để viết hộ thư tình dùm ai muốn chớp nhoáng gởi đi, khi có cả chục tập thơ tình buồn kiểu tình dang dở của nhà thơ lai 2 dòng máu Việt Hoa:

Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở 

Đời hết vui khi đã vẹn câu thề …

          ( Hồ Dzếnh ) 

Lạm bàn về tình ái, tình yêu ở đời, thì ai cũng có thể thuyết minh hùng hồn, lý do rất đơn giản, là yếu tố tự phát từ trái tim mỗi người tuy khác nhau, song vẫn là giống nhau, bởi lẽ Thượng Đế cho loài người ai cũng có một trái tim làm vốn liếng để sống ở đời…

Anh từng bảo thế này: ” Thôi nhé, bớt …hành hạ trái tim nghe, để cho lòng hồn nhiên, thanh thản yêu đời…” 

Chẳng cần anh dặn, mình cũng biết điều khổ tâm này, cái khổ tâm của tiểu ni Thị Kính bị ma nữ Thị Mầu yêu đến chết bỏ. 

Song le, anh là anh với đầy đủ nhân dáng, sắc diện, linh hồn đấng nam nhi, nên nếu có bị yêu cũng là một thiên chức, lại ngoạ ngôn, ngạ quỷ xâm nhập đó thôi. 

Đi tìm cái nghĩa vẹn toàn của cuộc sống, mình biết chắc anh ái mộ đạo Phật bởi chân lý, không thù hận, không oán giận, không chê bai, không trách cứ vv…mà anh nhẫn nại đợi chờ …duyên nghiệp đến. 

Nếu là nghiệp duyên, thì đành nhận,  mà nếu là nghiệp …nợ, thì cũng đành nhận thôi, chẳng lẽ đưa tay gạt đánh ầm một cái duyên nghiệp xuống đáy đại vực Grand Canyon à . 

Anh sẽ nghiêm mặt: ” Tại sao…am tường thế, mà ngay từ đầu không tránh đi, như thi sĩ Luân Hoán chủ trương trong đời thi nghiệp của ông, ông loại ngay tức khắc cái danh xưng: chị, em, cháu gái văn nghệ, để khỏi rắc rối về sau “. 

Còn như chàng nhạc sĩ ôn nhu, dĩ hoà vi quý Vũ Thành An, đứng trước giai nhân kêu gọi tình người nở hoa nhân ái, rằng: ” Hãy cố quên đi mà sống “.

Nhưng người tình lắc đầu quầy quậy không chịu, thưa là muốn quên đi lắm, mà không được, vậy còn cách nào hơn điều quên đó, thì đành ôm thân phận ” nhược tiểu ” vậy, tức là : 

Xin em đôi môi thật thà 

Thật thà chịu nhiều xót xa…

 ( Bài không tên số 5   Vũ Thành An ) 

Nhưng được hay mất “cuộc tình này “, vẫn chỉ có nỗi 

” Nâng niu cô đơn từng ngày… ” 

Thành ra cuối cùng được Thượng Đế vỗ về, nhạc sĩ đã tìm ra ánh sáng rực rỡ từ cửa thiên đường chiếu xuống, mời gọi Vũ Thành An bước vô cõi đạo Trời , ông có được niềm vui khi tuổi không còn rung động trước một hình ảnh người nữ 

“quấn quýt vân vê tà áo ” nữa . 

Anh mỉm cười, nửa chế nhạo, nửa vị tha, ngó tôi thức trắng đêm qua vì buồn. Chắc anh không ngờ tôi dễ xúc động đến thế. 

Anh có thể không cần nói thật. Nhưng anh có biết 100 người đàn bà, thì chỉ có 10 người chịu nghe nói thật, để họ quyết định cái đời độc lập của họ. 

Còn 90 người kia, không muốn nghe cái sự thật mất lòng, không thành vấn đề, mà sự thật làm sững vững con người. 

Thí dụ: ông chồng có bồ, ai ở đời cũng biết điều đó, và thường khi bà vợ biết, là đã vỡ bét tự sự truyện rồi. 

Song le, chẳng phải là thế, những nhân vật nữ chỉ muốn nghe điều không thật của chồng họ, trái lại đàn ông lại đòi hỏi sự thật từ người vợ, phải được tôn trọng. 

Ông chồng Huế của tôi thủa sinh thời, ông nói với tôi: “M nên mừng là anh còn nói dối M, vì khi anh nói thật ra, có nghĩa là M không còn quan trọng với anh nữa “. 

Tôi đã khóc nức nở vì sự thật vốn vậy. 

Thế có phải bây giờ bạn thích tôi nói dối phải không? Anh đâu cần nghĩ vậy, vì anh quá thông minh nơi chốn sa trường, cũng như ở tình trường. 

Anh được điểm A+  nhiều lần thử thách, nhưng lại chính bộ mặt tình yêu mộc mạc, rất lính của anh, nó khiến anh vượt lên tất cả. Chao ôi, người tình Huế nào cũng có cái ưu điểm rực rỡ ấy . 

Thôi tôi cũng đã khô nước mắt rồi, vì xưa nay tôi là người không đòi hỏi một thử thách nào. 

Tôi đang xuống những bậc tam cấp, rời khỏi Thiên Mụ hay Linh Mụ gì đó, chùa đẹp, chùa buồn, có gọi hằng trăm tên, cũng vẫn có chữ Mụ, khiến tôi mụ mị cả người.

Đã đứng sát bờ sông Hương, đã soi bóng nơi dòng nước thơm rong rêu tuyệt hảo đó rồi, thì bao âm điệu ngọc châu, bao hình ảnh dát vàng, nạm bạc trên con sông quyền quý, huyền hoặc đó, cũng ám ảnh tôi suốt đời …

Đó cũng là một trong những nét vẹn toàn tôi đi tìm kiếm ở cuộc sống phiêu du, lênh đênh này, mà tình người chính là những âm vang của dòng sông đang chảy xiết đó…

Hãy nâng niu tình buồn …

        CAO MỴ NHÂN 




GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

LÊ VĂN HẢI

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ Mồng Mười Tháng Ba!”

Hầu như người Việt Nam nào, ai cũng thuộc câu ca dao này, câu này được học từ nhỏ, thời tiểu học.

Hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch (năm nay ngày Tây, rơi đúng vào Chủ nhật tuần này! ngày 10 tháng 4 năm 2022)

Ngày này, con dân đất Việt ở khắp mọi nơi, đều hướng lòng về Quốc Tổ Hùng Vương, nhất là về đất Tổ Phú Thọ, nơi có đền thờ và bia tưởng niệm các vua Hùng. Để nhớ về nguồn cội, cảm tạ các Tiền Nhân đã có công lập quốc, giữ nước, thành một dân tộc Việt, với những trang sử oai hùng chống ngoại xâm, để lại cho con cháu một dải giang sơn gấm vóc, trường tồn trên 4 ngàn năm! Không một tấc đất nào về tay ngoại bang!

(Càng tự hào truyền thống Cha Ông bao nhiêu, càng căm thù CSVN bấy nhiêu, hết nhường đất biên giới, biển đảo, đặc khu…còn nuôi âm mưu bán nước cho Tầu Cộng, chỉ cần đạt mục đích “còn đảng còn mình!” Mà CS làm gì có Tổ! chúng đã công nhận tổ của chúng từ Nga, từ Tầu!)

Thời VNCH, trước 75, đây là Ngày Lễ Quốc Gia! ăn mừng rất lớn. Hành động VNCH giữ nước dũng cảm, với trận chiến “Hoàng Sa, Trường Sa!” Thà chết, chứ không để một tấc đất nào lọt vào tay giặc!

Ra hải ngoại, cộng đồng người Việt khắp nơi, cũng giữ được truyền thống “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tốt đẹp này, nên luôn luôn có những sinh hoạt, để nhớ về Tổ Tiên dòng giống Lạc Hồng.

Chút Lịch Sử Đời Hùng

Theo truyền thuyết, triều đại Hùng Vương có 18 đời vua. Hùng Vương thứ nhất lên ngôi vào năm 2879 trước Công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước Công nguyên, thì mất ngôi vào tay Thục Phán An Dương Vương.

Như vậy, triều Hùng trải qua trong khoảng 2.600 năm, nếu chia trung bình cho 18 đời vua thì mỗi đời vua xấp xỉ 150 năm.

Giải thích điều hơi khó hiểu này, một số học giả cho rằng thực chất 18 đời vua Hùng không phải là 18 cá nhân cụ thể, mà là 18 chi, mỗi chi này có nhiều vị vua, thay phiên nhau trị vì, và dùng chung vương hiệu. Ngay cả con số 18 cũng chỉ mang tính tượng trưng, ước lệ, vì 18 cộng lại là 9, con số thiêng đối với người Việt.

Như vậy, theo một số tài liệu lịch sử ghi lại, ngày giỗ tổ đã có từ cách đây 2.000 năm. Dưới thời Thục Phán An Dương Vương. Bằng chứng đã tìm thấy cột đá thề, được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi rõ: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương. Xin hứa đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Quốc Tổ trao lại. Nếu thất hẹn, sai lời thề, sẽ bị gió giăng, búa dập, tan thây!”.

Các đời vua khác sau này cũng luôn ghi nhớ, khẳng định vai trò các vua Hùng trong việc xây dựng giang sơn Đất Việt. Chính vì thế mà hàng năm, người Việt dành riêng một ngày để mừng, tưởng nhớ những người đã lập và xây dựng nên đất nước. Trong tinh thần nhớ về Cội Nguồn  “Cây có gốc, chim có tổ, người có tông!”

THÁNG BA XUÂN

     (Điệp tự)

Tháng Ba Âm Lịch, tháng Ba mừng

Giỗ Tổ Hùng Vương, giỗ Tổ Ân

Mười tám đời Vua, mười tám Đế

Bốn nghìn năm sử, bốn nghìn Xuân

Văn Lang nối gót, Văn Lang tiến

Việt Tộc theo đà, Việt Tộc nâng

Danh tiếng nhà Nam, danh tiếng rạng

Kính tiền Quốc Tổ, kính tiền nhân

*

 Phương Hoa – Tháng Ba Ngày Giỗ Tổ

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nguoi-viet-hai-ngoai-tai-little-saigon-thanh-kinh-gio-to-hung-vuong/

LE VĂN HẢI

Tại Sao Lăng Vua Hùng Lại Ở Phú Thọ?

Theo Ngọc phả Hùng Vương chép thời Hồng Đức hậu Lê, thì từ thời nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến Hậu Lê, các vua và người dân địa phương, đều đến lễ bái các vua Hùng. Vua đã giao thẳng quản lý Đền Hùng cho cư dân tại đó rông nom, sửa chữa, cúng bái. Và có bổn phận tổ chức ngày giỗ 18 đời Hùng Vương, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch mỗi năm.

Để đền bù công lao gìn giữ, tổ chức, dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng, nhiều quyền lợi khác. Như thanh niên, có thể miễn đi lính trong thời chiến, nếu có nhiệm vụ trông coi, hương khói cho Đền Vua.

Sang thế kỷ 20, năm 1917, triều vua Khải Định. Bộ Lễ chính thức gửi công văn đến tỉnh Phú Thọ, chính thức lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, cử hành “quốc lễ” hàng năm.

Ngày Giỗ này, nếu điều kiện cho phép, vua và các quan phải mặc phẩm phục, lên đền Hùng cúng tế tổ tiên rất trang trọng.

https://www.facebook.com/ted.nguyen.14418/videos/362650918960247

LÊ VĂN HẢI

Truyền Thuyết Con Rồng Cháu Tiên

Hay còn gọi sự tích Trăm Trứng Trăm Con, nhằm giải thích về nguồn gốc dân tộc, cũng như đề cao lòng tự hào và tinh thần truyền thống đoàn kết của Người Việt Nam.

Câu chuyện “dã sử” có tính cách “thần tiên” như sau:

Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Miền Bắc nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ.

Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, là những loài yêu quái, bấy lâu nay tung hoành, làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cả cách sống, đạo đức, lẽ phải. Xong việc, thần thường về thủy cung, khi có việc cần, thần mới hiện lên.

Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, tò mò bèn tìm đến thăm.

Nhân duyên tiền định, Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương. Rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Tráng.

Ít lâu sau, Âu Cơ có mang (bầu), đến kỳ sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng! nở ra một trăm con! Con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Hay hơn nữa, đàn con không cần bú mớm, mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần! đẹp như tiên!

Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen sống ở nước, cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được. Đành từ biệt Âu Cơ và đàn con, để trở về thủy cung. Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở.

– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?

Lạc Long Quân nói:

– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi, lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.

Âu Cơ nghe theo chồng, rồi cùng nhau chia tay nhau lên đường.

Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang.

Triều đình có tướng văn, tướng võ, con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mỵ nương, khi cha chết thì được truyền ngôi cho con trưởng, gần 29 đời truyền nối ngôi vua, đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi.

Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam chúng ta đều là con cháu vua Hùng. Đều từ một bọc trứng mà sinh ra, Cùng gọi nhau là “Đồng Bào!” (từ một bào thai) và đến bây giờ, hơn 4 ngàn năm, vẫn tự hào mình là Con Rồng Cháu Tiên!

Người Việt Hải Ngoại Sinh Hoạt Giỗ Tổ Hùng Vương Năm 2022

-Tại Bắc Cali:

Được Tổ Chức, Vào Ngày Chủ Nật 10 Tháng 4 Năm 2022, Lúc10:00 Sáng

Tại Vườn Truyền Thống Việt

1499 Roberts Ave San Jose Ca 95122

-Tại Seattle:

Lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 10 tháng 4 năm 2022

Tại Tổ Đình Việt Nam

2234 SW. Orchard St, Seattle, WA. 98106

Phone (206) 779-6875

NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

*

Ngày Giỗ HÙNG VƯƠNG nhớ Tổ Tông

Tự hào dân Việt giống Tiên-Rồng

Chinh Nam ngạo nghễ hưng bờ cõi

Chiến Bắc oai hùng vững núi sông

Xã tắc, tiền nhân gìn nhọc sức

Giang san, hậu thế  giữ dày công

Nay bầy Cộng Sản ôm tà thuyết

Bán nước mọp Tàu, nhục mặt không??

*
DUY ANH

Mồng Mười, tháng Ba, Nhâm Dần04/10/2022