Ô hay buồn vương cây Ngô Đồng Vàng rơi, vàng rơi Thu mênh mông…
Tên thật Lê Quang Lương là một nhà thơ thời tiền chiến. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu khi sáng tác thơ Đường luật. Thơ Bích Khê rất giàu hình ảnh, âm thanh và màu sắc, đẹp như một bức tranh thơ mà cái nền là của một không gian bát ngát mộng mơ… .
Hai câu Ô hay, buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông… Trích từ tác phẩm Tỳ Bà, được Phạm Duy phổ nhạc và trình bày bởi ca sĩ Thái Thanh.
TỲ BÀ
Nàng ơi ! Tay đêm đang giăng mềm Trăng đan qua cành muôn tay êm Mây nhung pha màu thu trên trời Sương lam phơi màu thu muôn nơi . Vàng sao nằm im trên hoa gầy Tương tư người xưa thôi qua đây Ôi ! Nàng năm xưa quên lời thề Hoa vừa đưa hương gây đê mê . Cây đàn yêu đương làm bằng thơ Cây đàn yêu đương run trong mơ Hồn về trên môi kêu: em ơi Thuyền hồn không đi lên chơi vơi . Tôi qua tìm nàng vay du dương Tôi mang lên lầu lên cung Thương Tôi không bao giờ thôi yêu nàng Tình tang tôi nghe như tình lang . Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi . Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu Sao tôi không màng kêu: em yêu Trăng nay không nàng như trăng thiu Đêm nay không nàng như đêm hiu . Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân Buồn sang cây tùng thăm đông quân Ô hay! buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi vàng rơi: Thu mênh mông . Tác giả: BÍCH-KHÊ
Nhà thơ Hàn Mặc Tử là một trong những tên tuổi nổi bật trong thi đàn Việt Nam thế kỷ 20, là người khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, được sinh ra trong một gia đình có 8 người con được đặt tên rất ý nghĩa là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hiếu, Hiền, Thảo. Tổ tiên của ông là họ Phạm, nhưng do liên quan đến quốc sự bị truy nã nên đổi thành họ Nguyễn.
Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên dù được sinh ra ở Quảng Bình nhưng Hàn Mặc Tử đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921–1923), Pellerin Huế (1926).
Hàn Mặc Tử có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi, từng có duyên gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sĩ này. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Hàn Mặc Tử quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.
Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.
Theo gia đình Hàn Mặc Tử thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập “Gái Quê”, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 – 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.
Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile – Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên.
Thời đó, vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bệnh nhân thường bị hắt hủi, cách ly, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi. Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị là phản khoa học vì lẽ ra phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa. Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử qua đời do nội tạng hư hỏng quá nhanh vì uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa.
Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại đây vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.
Cuộc đời Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông – có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.
Trong âm nhạc, ca khúc nổi tiếng nhất viết về cuộc đời của thi sĩ Hàn Mặc Tử chính là ca khúc mang tên Hàn Mặc Tử của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, nổi tiếng qua tiếng hát Trúc Mai cả trước và sau năm 1975. Trước khi mất vài năm, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã về nước và xây lại một ngôi mộ tươm tất cho người thi sĩ tài hoa bạc mệnh đó.
Hàm Mặc Tử làm thơ từ năm 16 tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. “Hàn Mạc Tử” nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt Trăng khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”.
MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY
Nhân chuyện phim Mulan (Hoa Mộc Lan) dự kiên công chiếu vào tháng 3-2020 tại Việt Nam với Lưu Diệc Phi, nữ diễn viên từng công khai ủng hộ “đường lưỡi bò” đóng vai chính. Như vậy không chỉ Thành Long, Triệu Vy, Chân Tử Đan… mà cả một đám nghệ sĩ Tàu cộng luân phiên xâm lược nền văn hóa nước ta với sự tiếp tay của bọn bán nước từ hệ thống cầm quyền. Tôi đã báo động về chuyện này cách đây 10 năm qua bài thơ MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY, bài thơ được cố nhà báo Bùi Tín đánh giá :”có sức mạnh tương đương với hàng chục quân đoàn dã chiến không cần tới súng ống và thuốc nổ”. Nay đăng lại để mọi người cảnh báo trước tình hình Việt Nam đang dần biến thành “An Nam Đô Hộ Phủ” hiện nay…
BÙI CHÍ VINH
MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY
Chào một ngày giống hệt mọi ngày Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp” Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”
Chào một ngày giống hệt mọi ngày Đọc báo thấy cha ông mất hút Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích… Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng
Chào một ngày đất nước tự lưu vong Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười
Chào một ngày phát triển giống đười ươi Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền
Chào một ngày vong bản vì… hèn Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm… Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu
Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều
Chào một ngày hình chữ S tong teo Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng
Chào một ngày long mạch bị xới tung Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng
Chào một ngày giống hệt cõi âm Những xác chết anh hùng bật dậy Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền
Đã lâu lắm rồi tôi không quay lại biển. Nếu Đà Lạt bị “hói đầu” vì mất dần rừng thông thì Vũng Tàu, Cần Giờ cũng “trần truồng” bởi rừng dương bị đốn sạch. Không còn lá chắn xanh thì tất nhiên môi trường bị hủy diệt. May ra chỉ còn vài bài thơ BIỂN ĐỘNG, CON MẮT CỦA BÉ, CÂY DƯƠNG ỐM lãng mạn một thời đọc lại để ngậm ngùi….
BIỂN ĐỘNG
Lên đến biển là nhớ em Kỷ niệm như sóng làm nghiêng con đò Con đò nghiêng chỉ bốn giờ Tôi nghiêng ít nhất cũng là bốn năm
Tôi nghiêng lên cát tôi nằm Cái vai còn ấm hương thầm em ơi! Tôi nghiêng xuống biển tôi bơi Cái lưng sao lạnh tình tôi em à
Mình tôi trên bãi khuya… ca Lỡ ai nghe được chắc là yếu tim Tôi ca như thể tôi điên Tôi điên như thể tôi tìm bóng ai
Sau tôi: dương mọc thành cây Trước tôi: chim xếp thành bầy lẳng lơ Và tôi cô độc như thơ Quạnh hiu như nhạc, sững sờ như tranh
Dã tràng xe cát chung quanh Tôi lặng yên để tan tành tôi đi Vái trời em hóa cái ly Tôi thành giọt rượu cấp kỳ cho xem
Vái trời em hóa cơn ghen Cho đầu tôi mọc sừng thêm cũng đành Vái trời em hóa cọng hành Tôi thành tóp mỡ nêm canh ái tình
Vái trời đang đứng một mình Có người bịt mắt thình lình… ai kia? Ai kìa? Chỉ có sao khuya Em ơi, sao rụng tim lìa ngực tôi
Là nơi em áp đôi môi Là nơi tôi biết nói lời tương tư
CON MẮT CỦA BÉ
Con mắt của bé như con ghẹ Mà anh mua hai ký mười đồng Rang muối sao mà thơm thấy… mẹ Như cái nhìn của bé phải không? Có lẽ cần phải nêm gia vị Lúc lai rai cũng đỡ lạnh lòng Con mắt có bò như con ghẹ Sao gắp vào đũa cóng tay run?
Con mắt bé còn như con ốc Anh bỏ quên ở biển Vũng Tàu Có lẽ cần một cây kim gút Để khều thì con mắt mới đau Có lẽ cần phải ra quán nhậu Gọi dĩa mồi cho đỡ nhớ nhau Anh sẽ luộc ốc lên mà nhắm Không mời con mắt bé ăn đâu
Nói chung, con mắt là con gái Tắm biển dòm chơi đủ nhức đầu
CÂY DƯƠNG ỐM
Sẽ tìm được một cây dương ốm nhất Cởi áo ra ta đứng tựa trời trồng Tiếp tục cởi hết quần dài quần cụt Các em nhìn ta có giống cây không?
Sẽ đứng vậy bởi vì chiều lắm gió Chiều im hơi ta sẽ duỗi chân nằm Đàn ông nằm thô tục hơn thiếu nữ Các em nhìn ta giống bóng cây không?
Sẽ xuống biển nếu cây dương bật gốc Cây dương quyên sinh ta phải tự trầm Kể từ đó sóng buồn như khóc Các em nhìn ta giống rễ cây không?
Sẽ không chết nữa nếu cây dương mập Nếu các em cũng từ khước áo quần Nếu các em đừng nhìn ta lén lút Ôi, biết biển còn nhớ đến cây không?
Thì ta cứ là cây dương ốm nhất Cho các em nhìn suốt bốn ngàn năm
BCV
Ngày đó với Hương Lan ở Vũng Tàu…
Này Em – thơ
Xin mời quý vị yêu thích thơ, đọc cho vui. Bài thơ này tôi mới viết,
khi lái xe, vừa nghe một ca khúc thật buồn viết về thân phận người con
gái. Tôi nghĩ không biết có ai, sẵn sàng cùng em nâng chén rượu cay, để
uống cho chạm đáy, đổi thay thói đời.
Này Em
Nếu em là chiếc lá bay Anh là cơn gió thổi đầy ước mơ Nếu em chỉ là sợi tơ Con thoi anh sẽ, dệt tơ lụa mềm.
Nếu em, hoa nở về đêm Đèn hoa thắp sáng bên thềm chờ ai Anh là đom đóm nối dài Dẫn đưa em đến lâu đài tình yêu.
Nếu em duyên nợ trớ trêu Anh là chỗ dựa, cho nhiều đêm say Cùng em nâng chén rượu cay Uống cho chạm đáy, đổi thay thói đời.
Lê Tuấn
NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO
NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO MƯA Ở ĐÂU VỀ NHƯ VẾT THƯƠNG
Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN mất ở Canada ngày 27.9. 2019. Nhà thơ DU TỬ LÊ mất ở Mỹ ngày 7.10.2019. Nhà thơ TRẦN TUẤN KIỆT mất ở Việt Nam ngày 8.10.2019. Các anh nối nhau rời bỏ chúng ta. Sự ra đi đột ngột của các anh làm tôi sửng sốt, tiếc thương, buồn rũ rượi và đỗ bệnh suốt tháng nay.
1. * Anh NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN từ Canada qua Cali thăm tôi vào đầu tháng 8 năm 2018. Buổi gặp gỡ thân mật hôm đó còn có các nhà thơ, nhà văn, nhà báo Hà Nguyên Du, Nguyễn Lương Vỵ, Trịnh Y Thư, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần. Không những tôi thích thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn vì thơ anh gần như là hơi thở, là sự sống khổ lụy của tôi mà tôi còn thích nhân cách của anh. Anh bộc bạch: “Thơ đến với tôi như ám chướng, viết vì không thể không viết”. Anh làm thơ trước 1975, đăng thơ khá nhiều, các tác phẩm của anh được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Canada. Anh định danh qua tài năng thi ca của anh chứ không định danh qua hội nhóm hay hình bóng người khác. “An Vi” là một trong vài bài thơ cuối cùng anh viết trước khi mất: “Em phơi phới trên bốn mùa thanh vắng / nhen lửa tình hong ấm cõi âm ti / anh là gió nên trọn đời thức trắng / giữa ta bà tâm hớn hở an vi.”
2. * Anh DU TỬ LÊ và tôi thân nhau từ năm 1962 lúc anh còn ở ngã Bảy, Chợ Lớn. Tôi, anh Du Tử Lê, họa sĩ Phan Ngọc Diên, họa sĩ Động Đình Hồ thường gặp nhau và chúng tôi cũng thường kéo nhau ăn cơm trưa bình dân ở góc đường Lý Thái Tổ – Phan Thanh Giản. Anh Du Tử Lê có nụ cười hiền lành, dễ thương và sống rất thật với anh em. Anh cộng tác trong các tạp chí văn nghệ mà tôi phụ trách.
Tôi nhớ nhất một kỷ niệm vào khoảng năm 1971, một hôm anh Du Tử Lê bảo tôi cho nhà văn Thế Nguyên, chủ nhiệm bán nguyệt san Trình bầy một bài thơ để đăng trong tuyển tập do Trình bầy chủ trương. Tôi trao bài thơ 5 chữ cho anh Du Tử Lê. Vài hôm sau, anh Du Tử Lê gặp tôi nói anh Thế Nguyên đề nghị tôi sửa 2 câu. Tôi viết: “Bộ đội ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”, sửa thành: “Quân đôi ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”. Tôi không đồng ý sửa và xin không đăng bài thơ này. Không lâu sau, tôi biết Trình bầy là một tạp chí khuynh tả và nhà văn Thế Nguyên là ai? Gần đây, trong bữa cơm trưa cùng anh Du Tử Lê và họa sĩ Phan Ngọc Diên trên đất Mỹ, tôi kể kỷ niệm xưa cho anh nghe. Anh cười vẫn nụ cười thật hiền: “Mình nhớ. Bài thơ thật hay!” Thỉnh thoảng tôi có gửi thơ đăng trên trang dutule.com của anh và mới đây, ngày 2 tháng 10 anh có đăng bài viết của nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên viết về “Lục bát Phương Tấn”, tôi chưa kịp cám ơn anh thì anh đã mất.
Sáng Chủ Nhật ngày 27 tháng 10 năm 2019, tôi đến chia tay anh Du Tử Lê trước giờ anh đi xa, thật xa. Tôi ngồi nghe những phát biểu thâm tình cùng những tiếng hát được phổ nhạc từ thơ Du Tử Lê của các anh chị văn nghệ sĩ quá quen tên: Doãn Quốc Sĩ, Nhã Ca, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Kiều Chinh, Trịnh Cung, Lệ Thu, Đỗ Quý Toàn, Trúc Hồ… 4 giờ chiều. Tôi tiễn anh Du Tử Lê đến tận mộ và gửi xuống lòng đất cùng anh một bông hoa hồng trắng. Trời trở lạnh và gió nhiều như sắp mưa. Tôi chợt nhớ hai câu thơ của anh: “Nhớ ai buồn ngất trên vai áo. Mưa ở đâu về như vết thương”.
3. * Anh TRẦN TUẤN KIỆT với tôi rất thâm tình. Trên “Tạp chí Phổ Thông Xuân 1962” của nhà báo Nguyễn Vỹ kèm theo mỗi bài viết hay sáng tác là một ảnh chân dung của cộng tác viên của tạp chí. Năm ấy, tôi vừa 16 tuổi, nhỏ tuổi nhất và học thấp nhất bên cạnh các nhà văn, nhà thơ, nhà báo… tên tuổi lừng lẫy cả trong nước và ngoài nước. Cũng từ sự mến mộ, sau này khi du học 2 năm tại Hoa Kỳ, nhà báo Nguyễn Vỹ đã mời tôi phụ trách chuyên mục “Lá Thư Hải Ngoại”.
Thời gian này, anh Trần Tuần Kiệt gần như là “người nhà” của tạp chí Phổ Thông, tuần báo Thằng Bờm và nhật báo Dân Ta của nhà báo Nguyễn Vỹ nên tôi rất thân với anh. Tôi hay đến nhà anh ở khu vườn Chuối, quận 3 ăn cơm trưa. Anh là dân Nam Bộ, hết sức dễ thương, sống nghèo nhưng thật giàu tình nghĩa với mọi người. Sau năm 1975, anh dời nhà về Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, tôi vẫn thường ghé trò chuyện văn thơ và lấy bài viết về võ thuật của anh cho tạp chí võ thuật mà tôi phụ trách.
Trong một lần từ Mỹ về, tôi không còn nhớ địa chỉ nhà anh nên mãi miết tìm kiếm trong các hẽm khu Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh nhưng không được. Khi trở về Mỹ, tôi vui mừng nhận được địa chỉ của anh nhưng chưa kịp gặp lại anh thì anh đã mất. Vâng, bây giờ: “Thánh thần Tiên Phật xa rồi / Lấy ai bằng hữu giữa trời vân du” như thơ của anh đã viết. Anh Trần Tuấn Kiệt ơi, thương quá!
PHƯƠNG TẤN (30-10-2019)
@ PHƯƠNG TẤN – nhà thơ HÀ NGUYÊN DU – nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN – nhà văn TRỊNH Y THƯ – nhà thơ NGUYỄN LƯƠNG VỴ – nhà báo PHAN TẤN HẢI – nhà văn LÊ GIANG TRẦN. Nhà thơ DU TỬ LÊ ký tặng PHƯƠNG TẤN tuyển tập thơ DU TỬ LÊ (1957 – 2013). PHƯƠNG TẤN cùng nhà thơ DU TỬ LÊ và các nhà văn, nhà thơ, nhà báo ĐẶNG PHÚ PHONG – HẠ QUỐC HUY – PHẠM QUỐC BẢO – NGUYỄN LƯƠNG VỴ… tại nhật báo NGƯỜI VIỆT. PHƯƠNG TẤN TRONG TANG LỄ NHÀ THƠ DU TỬ LÊ SÁNG NGÀY 27-10-2019 TẠI WESTMINSTER, CALIFORNIA, USA.