CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ

CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ

Một truyện ngắn của Nguyễn Dậu

Mỗi năm vào dịp sang thu, tôi lại được mời lên Ba Vì một lần. Đây là một vùng gò đồi rất đẹp. Hàng ngàn quả đồi nõn nuột cỏ xanh, tròn trịa như một mâm xôi. Rồi kế đến là vùng đồi dứa, đồi sim, đồi sơn, đồi trẩu. Càng vào sát chân núi, rừng càng rậm rạp dần, thâm u dần, để trở thành rừng già trùm lấp những tảng đá nguyên sinh nổi tiếng trên non Tản.

Bạn tôi, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quyền đã nghỉ hưu và định cư tại nơi đây. Trang trại của ông – có thể gọi như vậy – gồm gần hai chục nóc nhà làm bằng gạch và gỗ, nằm trên một trái đồi hình yên ngựa, xung quanh có hai ba dòng suối nhỏ uốn lượn vây bọc. Xa hơn nữa, một dòng sông mênh mang đỏ rực phù sa, đang cuồn cuộn chảy xuôi, mất hút vào giữa những eo núi hẻo lánh.

Thật ra mảnh đất này không phải là đất tổ của Quyền. Năm 1948 chúng tôi có dịp chiến đấu chống Pháp ở đây. Rồi tới năm 1953 lại một phen nữa, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phá bung hành lang trung du của địch mở lối thông thoát ở miền đồng bằng lên Việt Bắc, qua nẻo Hòa Bình, Sơn Tây, Phúc Thọ. Trong một tối lửa trại liên hoan quân dân, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền được một cô gái xinh đẹp nhất vùng Bất Bạt say đắm. Ở anh có nét điển xảo của trai Hà Nội, có tư thế hiên ngang, có ngựa hồng, côn-bát là hình ảnh “trai thời loạn” rất dễ làm xao xuyến những trái tim thiếu nữ thời bấy giờ. Họ thành vợ thành chồng. Con cái của họ giờ đã khôn lớn, hầu hết đi công tác ở nơi xa. Cố nhiên họ đã nên ông nên bà, và có một đàn cháu nội cháu ngoại khá đông đúc.

Thiếu tướng là một con người sởi lởi, hào phóng, chí tình chí cốt với họ hàng và bầu bạn. Nhưng ông mắc bệnh gia trưởng quân phiệt một cách nặng nề. Ông yêu thương mọi chiến sĩ, nhưng cậu nào bướng bỉnh, ông cho đi an dưỡng hoặc cho thuyên chuyển tới đơn vị khác không thương tiếc. Ông đùm bọc họ hàng đến hết mình, nhưng chớ nên để ông phật ý. Chỉ một giận dữ nhỏ, ông thù ghét rất lâu, thậm chí đáng buồn là ông ghét họ suốt đời.

Như nhiều người khác, ông cũng mắc bệnh nghề nghiệp. Nghĩa là ông ưa mọi ý muốn của ông phải được chấp hành, mọi rắp tâm phải được thực hiện. Bởi vậy, con dâu về ở cạnh ông đã đành. Con rể cũng phải về ở cạnh ông nữa. Rồi dần dần, một số con cháu trong họ cũng thiên cư đến đây quây quần cùng ông, cho “tre ấm bụi”. Không cần phải khéo léo cho lắm, ở cương vị ấy, người ta dễ dàng “ngói hóa” cho cả xóm. Thế là cái xóm nhỏ gồm toàn con cháu của ông, trở thành trang trại. Sau khi về hưu thì vị thiếu tướng nghiễm nhiên trở thành chòm chóp của trang trại này.

Mới sáu mươi hai, thiếu tướng còn trẻ khỏe hơn tuổi tác. Ông cao lớn đẫy đà hồng hào, dáng đi mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tiếng cười rồ rộ, tràn trề sức sống. Tuy đầu óc ông không còn thích nghi với một đơn vị chính quy hiện đại nữa, song ông quá thừa năng lực điều khiển việc sản xuất kinh doanh của trang trại, để cho nó ngày một phồn vinh sung túc.
Ngoài công việc điều hành trang trại, thiếu tướng đặc biệt ham thích săn bắn, câu cá, cờ tướng. Đôi khi, cao hứng lên, ông cũng làm thơ. Những bài thơ Đường luật, lổn nhổn những từ ngữ xửa xưa: sơn hà, tráng sĩ, vung gươm, thôn nữ cửi canh, chinh phụ, bồi hồi v.v…

Bởi tôi cũng thành thạo vài ngón như bắn súng, câu cá và ham cờ, nên vừa là niềm vui vừa là tai họa, mỗi năm ông bạn già ấy lại “buộc” tôi phải lên chơi với ông một lần, thậm chí, ông có lúc còn chèo kéo tôi lên định cư hẳn cùng ông, làm quân sư quạt mo cho ông trên một số lĩnh vực.

Lần này, Nguyễn Hồng Quyền xuống tận Bất Bạt để đón tôi. Thiếu tướng không dùng xe máy “Ban căng” như mọi lần. Thay vào đó, ông cưỡi một con ngựa trắng đực tơ, bốn vó khá dài. Trên tay ông dong theo dây cương một con ngựa hồng cái, có bộ lông rất mượt, có cặp mắt màu vàng chanh, và bộ lông bờm màu hồng thật không gọt xén. Trao cương ngựa cho tôi, ông vừa vỗ về con Hồng, vừa nhìn tôi cười ha hả:
– Sao? Ngạc nhiên lắm à? Có gì đâu, tớ muốn chúng mình lại cùng nhau phóng ngựa, như ngày xưa trẻ trung đã phi ngựa trên thảo nguyên Hoa Bắc ấy mà. Xương sống lưng của tớ thì tuyệt rồi. Mà xương sống của ông thì chắc cũng chẳng kém gì đâu. Đồng ý chứ?
Tôi tỏ vẻ hân hoan. Bởi vì cái gì dính tới thời son trẻ cũng gây cho tôi một niềm ham thích.

– Đồng ý thôi. Chỉ phiền cái xắc du lịch của mình hơi nặng.
– Cứ ghì vào sau yên ấy. Con Hồng không chịu nhường bước con Bạch đâu. Rồi ông sẽ thấy nó phi nước đại hay đến mức nào. Phải tháo kính trắng ra bỏ vào túi áo, kẻo văng mất đấy.
– Cặp ngựa này ông sắm từ bao giờ vậy? Năm ngoái tôi không thấy chúng.
– À, mới lên Lạng Sơn tậu đấy. Lúc thường thì dùng chúng kéo máy ép mía, máy ép dầu. Lúc cần thì đi săn. Săn thú mà không có ngựa tốt để cưỡi thì nguy hiểm lắm. Ông quá rõ điều đó còn gì? Thôi, lên ngựa đi!
Chúng tôi cùng lên ngựa. Quyền huýt gió một tiếng chói tai. Từ bụi cỏ gần đấy, một con chó to lớn mầu trắng đen loang lổ, băng lại cạnh chân ngựa. Nó ve vẩy đuôi, giương cặp mắt xanh thau, chờ lệnh chủ.

Thiếu tướng hể hả, hất hàm hỏi tôi:
– Ông vẫn nhớ nó chứ?
– Làm sao tôi quên được con Tuýt của ông. Không phải chó nữa, mà thực sự là con cọp rừng. Năm nay nó đến bốn chục kilô đấy nhỉ?
Vị chòm chóp của trang trại cười rung cả yên ngựa:
– Bẩy mươi bẩy kilô đấy!
Thế còn con Múc?
– À, Con Múc, cái con trời đánh ấy ông nhắc đến nó làm gì? Rồi thì tôi sẽ cho ông rõ mọi chuyện. Ê, này Tuýt! Mày không kính chào bạn của chủ mày à?

Con Tuýt ngoáy tít cái đuôi dài, “oẵng” một tiếng hùng dũng. Đoạn nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước chụm lại, hướng về tôi mà vái ba vái.

– Thôi, đủ rồi – Chủ nó ra lệnh – Hãy dẫn đường cho chúng tao.
Con Tuýt vọt lên trước. Con ngựa Bạch lao theo. Không chờ giật cương, con Hồng cũng băng lên, phi song song cùng bạn nó. Chúng tôi vùn vụt phi lên đèo, lượn quanh suối rồi lại vượt dốc, băng đèo. Sau lưng chúng tôi, bụi đỏ của vùng đồi đá ong bốc lên cuồn cuộn.

Con Tuýt xứng đáng được chủ nó cưng chiều. Nó bỏ xa đầu ngựa hàng trăm mét. Có lúc nó tạt sang sườn trái, có lúc nó lại vòng bên sườn phải chúng tôi. Bốn chân nó thoăn thoắt, mờ mờ không còn rõ hình hài. Bộ lông khoang của nó như kẻ một đường thẳng trên ngọn cỏ. Đôi lúc, nó đánh hơi thấy một mùi hoang thú nào đó. Nó lập tức rống lên, rẽ ngang vào rừng sơn. Song dù máu săn của nó nóng tới đâu, nó vẫn nghe lệnh chủ mà quay ngoắt trở lại, rồi vun vút băng vọt lên dẫn đầu. Đôi ngựa chúng tôi đang cưỡi đây, cũng rất hăng máu non tơ, dường như muốn đuổi vượt con chó Tuýt. Chúng thở ra hơi trắng, bốn vó dồn dập sải dài nước đại. Sỏi đá, cây cỏ dưới mặt đường, như kéo thành vệt, loang loáng trôi về sau lưng. Nhưng không ổn. Chẳng nói gì ngựa thồ, ngựa ép mía, ngay đến ngựa chiến cũng không thể theo kịp tốc độ của chó săn. Con Tuýt láu lỉnh hiểu ý đôi ngựa. Ngựa phi nhanh, nó tăng tốc nhanh hơn. Ngựa chậm dần, nó hãm đà phóng, cứ lững thững ở mé trước như trêu như chọc.

Quả thật đây là những giây phút sung sướng lành mạnh trong đời tôi. Thuở trai trẻ, chúng tôi được dịp ngồi trên yên những con ngựa cao lớn mà bay vút trên thảo nguyên bao la. Những con ngựa ấy, tôi chỉ đứng ngang bả vai chúng, rất xứng đáng với những cái tên rất kêu: “Thiên-lý-Hoa-lưu”, “Tích-tuyết-ô-truy”, “Xiển-điện-hoàng-phiêu”… so với chúng, thì hai con ngựa nhiệt đới mà chúng tôi đang cưỡi đây, chỉ đáng gọi là những con nghẽo xoàng xĩnh. Song tôi vẫn thấy chứa chan hào hứng. Tôi thầm cảm ơn bạn già, cảm ơn đội ngựa, cảm ơn con Tuýt tinh thông, cảm ơn đất trời mênh mông và cảnh sắc của thiên nhiên hào hùng xung quanh… Tất cả đã khuấy lại trong tim tôi những kỷ niệm đẹp đẽ đã trôi qua, những sôi nổi chỉ còn âm ỉ của một thời xuân sắc đã lướt vào dĩ vãng.
Vị chòm trại đột ngột chụm môi rúc còi lanh lảnh ra lệnh cho chó và ngựa dừng lại bên bìa rừng trẩu.
– Được nửa đường rồi, chúng ta tạm nghỉ một lát. Thế nào, ông bạn, cảm giác về sống lưng ra sao?
Cả hai chúng tôi cùng nhảy xuống. Cương ngựa được cột chặt vào gốc trẩu. Chúng lúc lắc đầu, quạt mạnh đuôi, gõ móng ngựa thậm thịch xuống nệm cỏ, tỏ ý còn muốn được rong ruổi nữa, tuy rằng hơi thở của chúng đã khá nặng nề.

Chúng tôi ngồi xuống nệm cỏ mật, giữa hai hàng trẩu non. Thiếu tướng rót rượu mật ong ra. Chúng tôi cùng nhau tợp vài ngụm rồi hút thuốc lá, loại thuốc sợi vàng óng, đặc sản của Ba Vì. Riêng Quyền, ông nhồi vào tẩu. Ông đã quen dùng tẩu từ mấy chục năm rồi.

Tôi lim dim mắt, hỏi bạn già.
– Tình hình các cháu nội ngoại của ông ra sao? Nhất là cái con Quỳnh ấy?
– Chúng nó đều ăn khỏe, ngủ khỏe. Riêng cháu Quỳnh thì ngoài phần học văn hóa ra, cháu vẫn thích đi chơi trên đồi rừng, vẫn thích làm thơ về rừng. Từ ngày không còn con Múc, nó ít đi rừng hơn. Và tôi cũng cấm cháu nữa.
– Nghĩa là, anh không hề thấy con Múc quay trở về?
– Con Múc trở về ấy à? – Thiếu tướng mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ – Về con Múc, anh sẽ được thấy mọi điều. Hiện giờ tôi không muốn nói cùng anh vội. Nhớ rằng tôi mời anh lên đây lần này khác hẳn những lần trước. Dù rằng anh không ưa săn bắn, tôi vẫn ép anh phải dự cùng tôi một cuộc săn bắn bằng được.
– Một con thú đặc biệt mới xuất hiện chăng?
– Ồ, bí mật quân sự!

Tôi không hỏi gì nữa. Tính nết đến khỉ của cái ông già này là vậy! Khi không, tự dưng ông nói tộc toạc đủ mọi điều. Lúc thích hỏi, thì ông ta lì lì ngậm tăm.

Con Tuýt nằm duỗi chân cách chủ nó chừng nửa mét. Lười thè dài, mầu đỏ hồng có điểm những chấm đen lấm tấm. Thân nhiệt của nó, được xả ra từ đầu lưỡi, bốc thành hơi trắng nóng hầm hập. Hàm răng của nó trắng bóng. Bốn chiếc răng nanh cửa dài và cong, sáng nhoáng đến dễ sợ. Chẳng rõ từ ngày nó ra đời rồi trưởng thành đến nay, bộ nanh ghê gớm kia đã cắn xé biết bao gà lôi, với chim đa-đa, thỏ và chồn, hươu và hoẵng, gấu và cáo. Kinh dị hơn, chủ nó đã đôi lần tường thuật cho tôi nghe những trận ác đấu của nó với gấu ngựa và báo đen. Trong những cuộc cắn xé sinh tử đó, phần lớn nó đã chiến thắng, dù đẫm máu nhưng huy hoàng. Có nhiều phen nó đã sắp bị kẻ thù xé xác, nhờ nòng súng thiện xạ của ông chủ, nó được cứu thoát. Chủ và chó đều có ân huệ sâu xa với nhau.

Nếu như chủ đã cứu chó thoát khỏi cửa tử nhiều phen, thì chó cũng đã dăm bảy bận đưa chủ trở về cõi sống.
Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.

Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi:
– Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.

Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.

Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi:
– Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.

Vốn thâm giao, thường niên gặp gỡ, lẽ cố nhiên tôi hiểu rõ lai lịch con Tuýt vô giá kia. Tổ của nó vốn nòi chó săn Na-uy băng giá. Trong trận tiêu diệt đồn Đại Bục năm xưa, giữa hàng trăm chiến lợi phẩm quan trọng, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền chỉ mừng rỡ khi đoạt được con chó săn này, vốn là kẻ “cận vệ” của tên Pháp đồn trưởng. Ông gởi về nhà, giao cho vợ ông trông nuôi. Trong đàn con cháu của nó, ông Quyền chọn lựa được một con chó cái mầu trắng như tuyết, không pha tạp một sợi lông màu nào. Và ông đặt cho nó một cái tên rất âu yếm: Bạch Ngọc!

Bạch Ngọc có đôi tai nhỏ, dựng đứng. Ức nó nở, bụng nó thon, toàn thân nó chắc nịch như thỏi giò bó. Đôi mắt của nó mang màu da cam, le lói tia sáng. Nó không sủa inh ỏi như chó nhiệt đới, mà lặng lẽ tiếp cận đối thủ, và chỉ tấn công khi nó biết chắc sẽ có một cú đợp chí mạng.

Năm trước một lần về phép thăm nhà, thiếu tướng lấy làm lạ lùng thấy con Bạch Ngọc thường hay lặng lẽ băng mình vào rừng sâu những lúc xế chiều. Ông xỏ ủng da vào chân, xách khẩu AR15, loại tiểu liên cực nhanh, rồi cũng lặng lẽ đi vào rừng, theo hướng đi của con Bạch Ngọc.

Từ xa, dưới một góc trám già nua, ông đã thấy Bạch Ngọc đang đùa giỡn với một con chó rừng vạm vỡ, có bộ lông đen bóng như lụa lĩnh. Ông rón rén vòng theo hướng ngược chiều gió, dần dần tới gần đôi chó bằng động tác đi cực kỳ êm nhẹ của thợ săn lành nghề. Và ông nằm phục xuống quan sát.

Đôi chó quá vui vẻ, nên không hề phát hiện con người đã gần chúng. Nòng súng AR15 đã được nâng lên. Song, chỉ một tích tắc ngắn ngủi, vị thiếu tướng tinh ranh đã quyết định không bóp cò. Ông chỉ rê đầu súng theo hoạt động của con chó rừng đen tuyền kia, mà chờ đợi.

Con chó rừng và con Bạch Ngọc ngửi hít nhau, đùa rỡn vật lộn nhau. Sắp đến lúc phấn khích, con chó rừng rụt cả đầu, cả thân mà chạy thành vòng tròn rộng xung quanh con Bạch Ngọc. Đôi lúc nó ngẩn cao đầu, tru lên từng hồi dài, rồi tung vọt người lên không, nhảy vút từ tảng đá này sang tảng đá khác với niềm cuồng say ghê gớm. Con Bạch Ngọc cũng nhảy nhót, nhưng dường như nó chỉ xoay mình trên tâm điểm. Cuối cùng nó hứng khởi cắn nhẹ vào má con chó rừng, rồi đứng im với tư thế mời mọc.

Quả như ông thiếu tướng dự kiến. Một hiện tượng thiêng liêng của tự nhiên đã diễn ra. Con chó rừng hăm hở làm cái việc gắn đuôi con Bạch Ngọc. Biết chắc rằng đôi chó rừng không thể mau chóng tách rời nhau, thiếu tướng đứng lên, nhẹ nhàng lùi dần ra cửa rừng. Ông ngồi trên một khúc gỗ ẩm ướt, mồi lửa vào tẩu thuốc và ngâm nga một câu thơ gì đó. Ông vui! Một cuộc phối giống vô cùng hiếm hoi mà có dụng ý đến đâu người ta cũng không dám mong ước. Thiên nhiên yêu chiều ông đến thế là cùng.

Chừng nửa tiếng sau, con Bạch Ngọc êm như ru chạy ra. Nhác thấy chủ, nó ngạc nhiên nhưng mừng quýnh. Đôi mắt sung sướng của nó lấp lánh như bốc lửa. Ông Quyền đập nhẹ bàn tay lên đầu nó, nói với nó vài lời trìu mến, khi nhìn thấy từ cục thịt dưới đuôi nó rỉ ra vài giọt máu tươi. Đoạn, cả chủ cùng chó, với niềm hoan hỉ, chậm bước quay về trại. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, con người say sưa sát phạt kia đã không nổ súng vào một con thú rừng.

Trước khi lên xe, trở lại đơn vị, ông dặn dò cặn kẽ vợ con cách chăm sóc và bồi dưỡng Bạch Ngọc, đồng thời phải biên thư báo cho ông biết diễn biến của nó từng tuần một. Bà Quyền ngoan ngoãn vâng lệnh chồng! Bà chỉ âm thầm buồn bực vì xưa nay chưa bao giờ chồng bà quan tâm như thế tới bà, tới con gái và con dâu mỗi kỳ thai nghén sinh nở.

Con Bạch Ngọc đã không phụ lòng ông chủ. Nó đẻ lứa đó được bốn con chó con. Con đầu khoang đen trắng, tức con Tuýt. Con thứ hai hoàn toàn đen kịt, có cặp mắt tóe lửa giống mẹ, được đặt tên là Múc, còn hai con kia mang mầu lông xám đậm. Tuy tiếc đứt ruột, vị thiếu tướng vẫn phải tặng một con cho một ông Bộ trưởng có ân sâu dìu dắt ông tự thuở thiếu thời.

Khi Tuýt và Múc được tám tháng tuổi, cũng là lúc ông tướng già được về hưu. Ông dốc hết sức mình vào việc dẫn dắt trang trại ngày một phồn vinh trên đường kinh doanh. Cũng với sự tận tình như vậy, ông chăm sóc, huấn luyện con Tuýt, con Múc cùng một bầy năm sáu con chó săn khác. Tuýt và Múc càng lớn càng khác biệt nhau. Cùng vạm vỡ, cao lớn, cùng ngông cuồng với thiên chức săn đuổi tìm diệt, song con Tuýt được chủ nó yêu quý hơn con Múc nhiều. Tuýt biết phán đoán, ửng xử hầu hết ý chủ. Nó gần như hiểu tiếng người. Ngoài chức trách dữ dằn, quyết liệt và man rợ trong săn bắt, nó rất dịu dàng, quấn quít con người. Chỉ cần dạy bảo đôi lần, nó biết mừng đón và biết vái chào, biết canh phòng và làm vui lòng chủ. Nếu cần sai nó lấy đôi dép, lấy con dao, lấy chiếc điếu cày, nó làm rất khéo. Nếu cần thúc nó trừng phạt gia cầm và gia súc, nó tuyệt đối làm vừa ý chủ.
Con con Múc thì hoàn toàn ngược lại.

Nó không hề thua kém Tuýt về khoản săn đuổi, vật lộn và cắn xé. Nhưng chỉ thế thôi. Nó dửng dưng với những việc mà con Tuýt say mê. Nó không quẩn quanh bên chân chủ, không biết chào đón, lại càng đần độn với những việc chủ muốn sai khiến. Trong cái trại đông đảo người này, nó chỉ thân thiết và gắn bó với riêng cháu Quỳnh. Mỗi lần cháu Quỳnh lên đồi sim, hoặc vào rừng, nó thường đi theo, nửa bước không rời. Những lúc tiễn cháu Quỳnh đi học rồi, nó thường quay về nằm duỗi dài chân ở đầu thềm dỏng tai nghe, chăm chú nhìn. Nó nghe gió ngà, nghe suối reo, nghe mọi động tĩnh trong rừng sâu. Đầu mũi ướt bóng của nó luôn luôn nhún động, để như nắm bắt, như phân biệt, như tận hưởng mọi thức hơi lạ theo gió lùa tới.

Nó thờ ơ như vậy, dần dà, nó bị ông chủ ghẻ lạnh. Ông quên đi những công lao của nó, chỉ còn biết cáu gắt quát tháo mỗi khi nó lỳ lợm không chịu xua đuổi đàn gà quấy phá vườn rau, hoặc không chịu xua đuổi lũ gia súc đang tứ tán trên đồi. Tình hình xấu đến nỗi, ông đã quất cho nó vài ngọn roi da, khi nghi ngờ nó xơi tái mất hai con gà trống Đông Cảo, mà ông lận đận về mãi miền Từ Hồ mới mua được.

Trong nghề săn bắn và nuôi dưỡng chó săn, ai cũng biết rằng người ta tuyệt đối tránh ngược đãi chó của mình. Sự trung thành sẽ mất đi, nếu con chó bị trừng phạt oan uổng. Một con người tinh ranh và sáng suốt như thiếu tướng Hồng Quyền mà cũng phạm phải sai sót đó, thật đáng buồn biết chừng nào.
Sở dĩ ông thù ghét nhưng chưa nỡ ruồng bỏ con Múc vì hai lý do. Thứ nhất, ông sợ cháu Quỳnh buồn. Ông yêu thương và quý báu cháu Quỳnh, còn cháu Quỳnh thì lại trìu mến con Múc như một bạn nhỏ thân thiết. Thứ hai, hồi đầu năm, con Múc lập được một chiến tích có thể xem là phi thường được.

Những ngày đầu xuân, mưa phùn và nắng ấm, làm cho rừng già trở nên tươi rói vì những búp nõn và chồi non. Tại các nẻo đồi mươn mướt từng đợt cỏ xanh mềm như nhung lụa. Muông và thú trong rừng sau đợt nghỉ đông hoặc ngủ đông dài dặc, bây giờ bừng tỉnh, nhộn nhịp đi kiếm ăn, tìm đôi, phối giống, và sinh sản.

Một đàn lợn rừng từ bên kia sông Đà, đã ùa sang bên này. Các đồi lạc, đồi dứa của trang trại bị lợn rừng tàn phá nặng nề. Ông Quyền cùng Quý, con trai thứ ba, quyết định rủ nhau đi săn bắt đàn lợn rừng tệ hại kia. Lợn rừng chậm chạp, chỉ cực kỳ hung dữ khi bị dồn vào tử địa. Có khoảng sáu con họp thành đàn, đang trũi húc vào các luống lạc. Khi phát hiện ra có người và chó vây bủa, chúng mở đường máu lao về phía sông Đà. Chúng đi, tựa sườn vào nhau, hai nanh dưới to bằng ngón tay trỏ, nhe ra, lông bờm dựng đứng. Đàn chó phân vân, không biết nên tấn công đàn lợn bằng cách nào. Những mảnh đạn ghém tuy trúng đích cũng không khiến chúng ngã được, bởi lớp mỡ quá dày.

Bản thân vị thiếu tướng cũng có phần lúng túng, chưa có cách nào để đạt kết quả tối ưu. Trong khi đó, đàn lợn vẫn rất trật tự, tựa sườn vào nhau mà lần lượt xuống sông bơi đi hết. Riêng có con đầu đàn, khổng lồ, không hiểu sao nó lại không lao xuống nước. Nó dừng chân bên bụi lau, và quay đầu trở lại. Đôi mắt nhiều lòng trắng của nó long sòng sọc. Nó tru hộc lên, những chiếc lông cứng và dài như lông nhím dựng đứng suốt từ gáy tới lưng. Hai chiếc nanh trước trắng bóng, cong cong của nó chĩa ngược lên trời với vẻ đe dọa không thể không làm ta rùng mình.

Con Tuýt bị chủ thúc xông lên. Chính nó cũng chần chừ. Bởi vì giống chó săn thường chỉ đánh vào điểm yếu nhất của đối thủ là hầu họng. Các loại hoang thú thường để lộ cổ họng, dù có lớp mao bao bọc. Với lợn rừng lại là chuyện khác. Nó hầu như không có cổ. Lớp mỡ dầy đặc ứ bự xung quanh vùng mặt, nối liền bả vai và xương ức.

Bị hối thúc vì lệnh chủ, con Tuýt nhảy vào. Nó ngoạm đúng phần má của con mồi. Nhưng nó đã bị trừng trị trở lại. Con lợn rừng chỉ hất mạnh cái mũi lên, hai chiếc nanh nhọn đã đóng ngập vào xương sườn con Tuýt. Con Tuýt rống lên đau đớn, nhưng nhanh nhẹn, nó vùng thoát rồi chạy về bên chủ, máu chảy đầm đìa. Ông thiếu tướng kinh hoàng vì đấu sĩ số một của ông chiến bại. Ông lập tức nâng khẩu AR15 lên. Cùng lúc ấy con Múc đã xông tới. Ông liền ngừng lại để xem bản lĩnh của con Múc. Con Múc hiểu rằng, qua cú đòn đau của con Tuýt, nó không thể ngoạm cổ con lợn rừng được. Nó liền chạy vòng quanh con mồi. Con lợn rừng hung tợn và lỳ lợm cũng xoay tròn thân mình, đôi mắt trắng sáng không rời con Múc. Bất thình lình, đang đà chạy bình thường, còn Múc nhảy vào con lợn. Nhưng khi gần tới cổ lợn, nó ngoặt người đổi hướng và đợp rất chính xác vào cẳng chân sau của con mồi. Tiếng xương gãy nghe ròn lắc rắc. Con mồi rống lên, nhưng con Múc đã vọt được ra xa. Lợn rừng hung tợn lên gấp trăm lần. Nó khập khiễng nhưng nhanh nhẹn xông vào tấn công bất kỳ ai. Cũng may hôm ấy tất cả đều ở trên mình ngựa, nên bầy ngựa nhảy dạt ra khá nhanh nhẹn. Cơ hội tốt đẹp đó tạo thuận lợi cho Múc. Trong khi con lợn xông theo con ngựa của ông Quyền, thì từ mé sau, con Múc băng tới, và ngoạm vỡ xương chiếc chân bên kia của con lợn. Lúc này con lợn mới rống lên thảm thiết. Gãy hai cẳng giò mé sau, nó không còn sức bật sức dướn nữa. Nó nằm bẹp xuống, điên cuồng dũi răng nanh vào đất đá, làm cho đất đá bị lõm thành một hố sâu. Phần còn lại, Múc dành cho người và bầy chó kia kết thúc. Nó đứng im, vừa thở vừa ngắm nghía con mồi bị nó đánh gục.

Sau cái chuyện đó, ông Quyền, với con mắt người đi săn thấy rằng ở con Múc còn nhiều tiềm năng ghê gớm, mà chỉ khi lâm sự nó mới bộc lộ ra. Còn với cặp mắt của người chủ, ông vẫn không xóa bỏ được mối ác cảm đối với “tên đày tớ” ương bướng này.

Trở về trại, ông chăm sóc chu đáo vết thương con Tuýt, nhưng việc cần phải làm là ban thưởng cho con Múc thì ông không làm.
Năm trước lên thăm và ở chơi cùng ông Chòm Trại, tôi đã thân ái nhắc nhẹ ông về tính công bằng, và sự cần thiết phải gạt bỏ thành kiến. Song, ông bạn già của tôi vốn không thể cao cả hơn thượng đế được, mà chính thượng đế rất bảo thủ. Ông cười, chế nhạo lại tôi:
– Trừng phạt và ưu ái là hai mặt của sự chăm sóc và gây dựng. Nếu con Múc muốn tôi ưu ái nó thì nó hãy ngoan ngoãn như con Tuýt. Tôi có hẹp hòi gì đâu? Mà, có nực cười không nhỉ, khi anh thấy cần giảng dạy cho tôi về mặt nuôi dạy chó săn?

– Về việc đào tạo chó săn thì anh hơn tôi không chỉ một, mà là hàng vạn lần. Tôi chỉ lưu ý anh về tính di truyền sinh vật. Theo anh kể, bố nó là giống chó rừng thuần chủng. Còn mẹ nó là nòi giống của loại chó tinh quái có nguồn gốc hàn đới xa xôi, đã được thuần hóa. Con Tuýt được thừa hưởng cái gien máu của mẹ nó quá nhiều. Còn con Múc thì ngược lại, nó giống bố nó từ thể hình, màu lông và tính cách. Ở nó tính “rừng” đậm hơn tính “nhà”.
Thiếu tướng cười

vang vọng, đắc thắng:
– Theo ý anh thì con hổ và con voi rừng có mang tí tính “nhà” không? Vậy mà người ta dạy nó làm xiếc được đấy. Vấn đề là nó có ngoan ngoãn không? Có phục tùng không?
– Nhưng anh đã có tình thương yêu và tính kiên nhẫn của những nhà dạy thú chưa?

Ông tướng già quen với việc ra mệnh lệnh lúc này mới im bặt. Ông trầm ngâm giây lâu, đoạn vỗ vai tôi:
– Này, mình tặng con Múc cho ông đấy!
– Tặng tôi?
– Mình rất thực tâm. Có lẽ ở cùng ông thích hợp cho nó hơn.
– Ôi, cảm ơn tình bạn của anh. Nhưng, tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của tôi à? Vả chăng, tôi biết kiếm đâu ra thịt sống để nuôi nó, trong khi chính tôi cũng chả có thịt mà ăn?

Chúng tôi lại cười, và cùng cười rồ rộ. Nguyễn Hồng Quyền không phải con người lúc nào cũng cố chấp, ông ta chỉ bướng bỉnh lúc nào bị sự ngu dốt xúc phạm. Trộn lẫn trong tim ông có tính hồn nhiên, phóng khoáng, tự phụ và hiếu thắng, nên nói chung, ông ta không giận bực lâu. Sự hào phóng và khoáng đạt vẫn là phong thái chủ chốt của ông.

Tuy chưa hoàn toàn gạt bỏ sự căm ghét con Múc, song ông xem chừng cũng muốn mối quan hệ xấu ấy được đổi khác đi. Một hôm, để con Tuýt ở nhà, ông gọi riêng con Múc ra sông tắm cùng ông. Chủ và chó cùng bơi lội đùa nghịch. Ông ôm con Múc vào vòng tay, ngắm nghía những sợi lông dưới cằm nó. Ông sờ nắn những cái móng đã thoái hóa ở cổ chân nó, (phương đông gọi là huyền đề).

Lúc đầu con Múc le lói ánh mắt đề phòng người chủ. Chưa khi nào nó được ông gần gũi, xoa vuốt như lần này. Nên, với bản chất rừng, nó hoang mang nghi ngờ ông. Cử chỉ của nó rất e dè, thận trọng. Có lúc tưởng chừng như nó sắp sửa muốn liếm tay, liếm mặt ông nữa, nhưng khi gần sát ông, nó liền đứng khựng và trở lùi. Lưỡi nó lè dài, mắt nó rừng rực ngắm thẳng vào mắt ông. Người và thú cùng dò xét nhau và cùng chưa xóa bỏ được định kiến. Con Múc không biết nói gì, cái đó đã hẳn. Những cử chỉ để giải tỏ lòng trung, nó cũng không thạo nữa. Nó biết làm sao đây để ông chủ hiểu rằng mặc dù bị ông ghẻ lạnh, ruồng rẫy, nó vẫn yêu mến ông, vẫn muốn gắn bó với cái trang trại này, cái cơ ngơi này.

Một đêm mưa rét, khi con Tuýt và bầy chó săn kia đi tìm nơi ấm áp ngủ ngon, con Múc đã phát hiện thấy một con báo gấm đang quẩn quanh ngoài hàng rào mắt cáo, tìm lối vào trại. Nếu là con Tuýt hoặc chó khác, đã sủa ngậu lên, báo hiệu cho chủ. Với Múc, nó không ồn ào thế. Nó xù lông, nhảy vút tới bên bờ rào, đôi mắt tóe lửa. Con báo gấm, một ác thú nham hiểm bậc nhất ở rừng sâu, vừa gầm gừ nhè nhẹ, vừa chạy đi chạy lại tìm một lỗ hổng to rộng. Con Múc cũng gầm gừ nhè nhẹ, bám sát con báo gấm từng bước chân để ngăn chặn. Nếu không có hàng rào tre khỏe khoắn, chắc chắn đã diễn ra một cuộc cấu xé đẫm máu, mà phần bi thảm hẳn thuộc về con Múc. Bởi vì chó rừng, dù hung hãn, đồ sộ tới mức nào cũng không phải là đối thủ của báo gấm. Khi đói khát, bị cơn đói cồn cào kích thích, báo gấm dám liều lĩnh tấn công và cắn xé cả cọp rừng.

Cứ như vậy, hai con thú trong cái thế đối chọi qua lớp rào tre, suốt đêm mưa gió. Đã mấy lần báo gấm định leo trèo hàng rào cao. Nhưng nó biết rằng khi leo rào, nó sẽ bị phơi bụng ra. Một ác thú nham hiểm đâu có dại dột vậy.

Lúc trời tang tảng sáng, con báo gấm đành rống lên một tiếng căm hờn, vút thẳng vào rừng. Con Múc ướt sũng, mệt mỏi bơ phờ, trở về nằm dài ở cửa buồng cháu Quỳnh.

Chính cái lần ấy, khi thấy con Múc rũ rượi, thảm hại vì suốt đêm căng thẳng, ông chòm trại đã chỉ vào mặt nó mà mắng:
– Mày giấu đôi gà Đông Cảo của tao ở góc nào, hang hốc nào. Đêm qua mưa gió lẻn đi làm một bữa hả hê phải không?
Chiến công quật ngã lợn rừng đầu đàn làm cho mối quan hệ chủ và chó có phần đẹp hơn. Nếu cứ cái đà ấy, cái đà mà chiến tích của Múc ngày càng vượt trội Tuýt, thì số phận của nó sẽ đẹp đẽ nhường nào. Nhưng hỡi ơi, định mệnh của nó nghiệt ngã, số kiếp của nó có chứa sẵn một kết cục ảm đạm, nên đã xảy ra một việc cực kỳ phi lý như sau:

Vào độ rằm tháng bảy, khắp nơi người ta náo nức sửa soạn cúng lễ vong hồn tiên tổ. Về phần mình, ông thiếu tướng với cương vị chòm chóp của trại, ông làm hẳn cỗ thái lao, để trước là tỏ lòng tri ân tổ tiên, sau là ban ân cho con cháu. Thái lao, theo tục cổ là lễ tam sanh, gồm có một trâu trắng, một ngựa trắng và một dê trắng. Ông Quyền không thể quá ư nệ cổ, nên biến báo đi chút ít: một lợn trắng, một dê trắng và một gà trắng. Thế, e là cũng quá linh đình rồi. Dê và lợn đã được quay hồng. Gà thì được rán chín cả con. Tất cả bầy đặt trên bàn thờ tổ.

Con Tuýt quanh quẩn dưới gầm bàn thờ. Mùi vị thịt rán kích thích tì vị nó dữ dội, xưa nay nó chỉ biết mùi thịt sống và cũng chỉ ăn toàn thịt sống. Người nuôi chó săn thường dùng máu nồng và thịt gây để kích thích tính hăng say xâu xé. Chưa bao giờ Tuýt được ngửi hít hương vị thơm tho lạ lùng đến thế.

Trên gian thờ tổ vắng ngắt.
Cánh mũi của Tuýt phập phồng nở rộng, nước rớt nước dãi của nó lều rều theo đầu lưỡi xuống đất. Bằng một động tác còn nhanh hơn ma quỷ, con Tuýt nhảy lên ban thờ, ngoạm chắc lấy con gà quay, rồi vọt ra cửa. Nó toan tính phóng thẳng ra nơi vắng vẻ bên bờ suối.
Tại hiên hè, nó gặp con Múc đang nằm ở buồng cháu Quỳnh. Cũng lúc đó, tiếng đế ủng của ông chủ thậm thịch nơi xa. Nó vội nhả con gà quay ra, nhảy tót vào cửa ngách, rồi êm như động tác của mèo cái, nó vọt qua cửa sổ, mất hút.

Ông thiếu tướng tròn xoe mắt nhìn con gà thái lao có vết răng chó bập vào, rồi ông trừng mắt nhìn con Múc nằm gần đó. Giận sôi sùng sục, ông vào nhà ngang lên tiếng gọi vợ con. Đoạn, ông rút chiếc roi gân bò, chạy đến bên con Múc.

Múc không hiểu người ta định làm gì, song nó linh cảm thấy sự chẳng lành. Nó đứng phắt dậy toan mừng chủ chút ít thì một loạt roi da xiết bỏng trên lưng nó. Con vật rú lên thê thảm, nhảy vọt ra sân, nhưng vẫn còn bàng hoàng ngơ ngác, chưa dám chạy xa hẳn. Chỉ đến lúc nhác thấy ông chủ giằng lấy khẩu súng hai nòng trên tay cậu Quý, thì nó hiểu rằng không thể chậm trễ chút nào. Từ cái “gậy” sắt ấy nó đã thấy tóe lửa nhiều lần. Sau lúc lửa tóe, có bao muông thú giãy giụa tan xác.

Bởi vậy, nó dồn hết sức lực vào bốn cẳng, luồn lỏi qua dãy chuồng gà, chuồng lợn, rồi vượt qua cửa rào, nó lao thẳng về phía rừng. Sau lưng nó, vang lên những tiếng nổ đoàng đoàng, tiếng chiu chíu xé gió bên tai nó. Bản năng sinh tồn giục nó chạy miết. Cũng chưa khi nào nó chạy tinh khôn như lần này. Không kẻ chỉ, không thẳng băng, mà ngoằn ngoèo đổi hướng. Có lúc tiếng đạn sát sạt trên lưng, nó nằm lăn ra, giả tảng chết. Rồi thình lình lại vọt lên, băng đi như một vệt đen mờ ảo.

Vào tới rừng, nó đứng lại quay nhìn xóm trại. Nó thoáng thấy ông Quyền và cậu Quý trên yên ngựa. Dẫn đầu đàn chó săn tầm thường là con Tuýt – anh ruột nó, kẻ xảo quyệt đáng ghê đối với nó. Thế là nó chạy thẳng, chạy mãi vào rừng sâu, sang tận bên kia núi Ba Vì.

Từ đó nó trở về cuộc sống hoang dại mà tổ tiên nó xưa kia hằng sống.
Ngồi một lúc, chúng tôi cùng nghiêng người, nằm chống tay trên nệm cỏ. Xa xa, ba đỉnh núi màu lam sẫm như lách qua những dải mây trắng mà chĩa chọc nền trời xanh. Núi non Ba Vì thuần một màu đen sẫm của rừng già. Đó đây từng vệt lá cây màu vàng màu, đỏ xỉn, và màu xanh nõn nuột của rừng cọ, rừng son.

Thiếu tướng Quyền gõ gõ tẩu thuốc, gảy hết lượt tàn tro, đoạn nạp thêm mồi sợi mới. Ông nheo mắt nói với tôi:
– Lúc nãy anh cứ gặng hỏi xem tôi mời anh lên để săn bắn con thú gì. Tôi nói thật ra, e rằng anh ngạc nhiên.
– Con Múc?
– Chính thế. Anh nhanh ý đấy.
– Quả thật không còn gì khiến tôi kinh ngạc hơn. Con Múc vẫn còn sống, anh cứ để cho nó sống. Nó đã giúp ích anh không ít. Anh hãy rộng lượng cho nó được tự do.
– Tôi cũng có ý quên nó đi. Nhưng nó làm hại tôi quá chừng. Tôi không thể không diệt nó.
– Làm hại?
– Chừng một năm nay, nó thường xuất hiện ở bìa rừng. Có lúc nó còn mò vào trại. Thậm chí nó còn dám xông vào buồng cháu Quỳnh.
– Thế thì có gì là tai hại? Nếu như là nó muốn quay về với chủ cũ thì sao? Chuyện ấy xưa nay thường xảy ra.
– Ông bạn ơi, ông quá đồng cảm với nó đấy. Một năm nay tôi đã mất hai chục con gà, bốn đầu lợn và hai con dê sữa đấy. Để khi nào tôi găm vào mình nó trọn băng đạn AR15, rồi tha hồ ông thương xót nó.
– Nếu là do cầy cáo và báo beo vồ bắt thì sao? Chẳng có chó rừng nào khênh nổi dê lợn đâu, nhất là lại khênh qua hàng rào tre nhà anh.
Thấy mình đuối lý, ông chòm trại đỏ mặt, châm thuốc hút:
– Cứ cho là beo báo tha dê và lợn đi, còn những con gà? Anh không thấy là con Múc nó rất háu thịt gà à? Đôi gà Đông Cảo và con gà Thái Lao… anh đã rõ rồi đấy!
Đến lượt tôi đuối lý. Tôi im lặng hồi lâu. Lòng tôi bồn chồn và buồn bã. Tôi chợt thấy tiếc công tiếc việc ở dưới Hà Nội. Té ra tôi lên đây là để chứng kiến cái kết cục mạng sống của con Múc.
Thiếu tướng hỏi tôi:
– Sao, ông nghĩ ngợi gì vậy?
– Không, à, con Múc giờ đây nó thế nào? Ông đã đích mắt nhìn thấy nó chưa?
– Rồi. Tôi lại bắn trượt nó hai lần nữa. Thật là một con chó quái quỷ lạ lùng. Nó to lớn gấp rưỡi, hung dữ gấp mười, còn nhanh nhẹn thì gấp trăm.
– Để sinh sống và tồn tại giữa bầy ác thú trong rừng sâu, nó cần phải trưởng thành như vậy. Nó không thể không độc dữ hơn.
– Anh vẫn cứ bênh nó chằm chặp.
– Tôi tiếc rằng anh đã bất công với nó. Trong trường hợp bị hắt hủi, bị hằn thù như vậy, đến con người cũng không thể không biến đổi tính cách, huống chi một con thú.

Chúng tôi lại lên ngựa. Con Tuýt lại dẫn đường. Có thể do cách nói năng bộc trực của tôi, khiến bạn già không vui. Dọc đường ông chẳng nói một câu nào. Bởi vậy, tôi biết mình sai lầm. Định kiến của con người quen bệnh quyền uy kia là không thể thay đổi. Tôi tỏ lòng thương tiếc con Múc nhiều quá, điều đó chỉ khiến ông Quyền càng tăng thêm quyết tâm hạ sát nó mà thôi.

Thấy chúng tôi phi ngựa về đến cổng trại, bà Quyền và đàn con cháu ra tận sân chào đón. Bà năm nay đã ngót sáu mươi. Vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn, nên trông bà không đến nỗi già nua như tuổi tác. Trên vẻ mặt thanh tao của bà vẫn còn những đường nét vốn xưa xinh đẹp. Song, ở bà, điều hấp dẫn người ta chính là phong thái đôn hậu, hiền từ. Cạnh bà là cháu Quỳnh, cũng mảnh mai hiền từ, cũng gương mặt trái xoan, trông cháu giống bà ngoại như đúc.

Cháu nhảy bổ vào lòng tôi:
– Cháu chào ông trẻ. Ông có khỏe không ạ?
Tôi nâng bổng cháu lên, rồi hạ cháu xuống:
– Cảm ơn cháu! Ông trẻ vẫn khỏe. Còn cháu cứ mỗi năm lên đây, ông lại thấy cháu như ăn nhầm phải bột nở ấy. Cao bằng bà rồi đây này.
Cả nhà cùng cười giòn giã. Bà Quyền hào hứng nói:
– Ấy, ông cứ quở cháu thế. Cháu lại bé đi mất!
– Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không?
Cháu Quỳnh cười như nắc nẻ:
– Cháu chả việc gì phải hãi con Múc cả – Cháu ghé sát tai tôi, thì thào – Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe. Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm!
Thiếu tướng Quyền quát to:
– Quỳnh, mày nói gì ông phỏng?
Cháu Quỳnh vội vàng “không ạ” rồi lẻn ra nấp sau lưng bà. Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng:
– Khiếp cho ông! Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này – Bà quay sang phía tôi, cười – Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi.

Ông Quyền hỏi vợ:
– Cạo tôi? Cạo đầu tóc, hay cạo râu ria?
– Cạo cái cặp mắt gườm gườm của ông ấy!
Ông già cười khà khà.
Một chút xung đột ý kiến không làm sứt mẻ tình bầu bạn giữa chúng tôi. Chỉ vài câu chuyện vui vui, hoặc vài ván cờ là tất cả sẽ qua đi như mưa rào ngày hạ. Nói chung thì, theo ý tôi, Nguyễn Hồng Quyền là một người biết chơi đẹp, biết ăn ở, biết cư xử. Trên đời còn nhiều những mẫu người đáng chán hơn; hãnh hợm một cách ngu si, thông thái trong tưởng tượng, hào phóng có điều kiện, và ngủ say li bì trên hào quang giả trá.

Chúng tôi đi bơi, đi câu cùng nhau. Ông dắt tôi đi xem tận mắt những máy ép mía do ngựa kéo, rồi máy ép dầu lạc, dầu sả. Ông còn dự định chế tạo một loại xà phòng dùng nguyên vật liệu địa phương. Tôi vui mừng và chúc mừng ông về tất cả mọi điều ấy. Ở ông hiện rõ những ham muốn vật dục chủ nghĩa. Nhưng, dẫu sao cũng là còn muốn làm việc, còn muốn sáng tạo, muốn sinh lợi. Thế chẳng có ích cho đời hơn là chỉ ngồi ôn lại quá khứ hào nhoáng đã xa xôi sao?

Duy có điều tôi mong được biết là kế hoạch vây bủa con Múc. Ông già chỉ tinh quái, lim dim mắt, cười ruồi, rồi lảng sang chuyện khác. Tôi làm sao yên tâm được. Tôi biết rằng chỉ khi nào găm đủ cả băng đạn vào mình con Múc, ông Quyền mới có thể ăn ngon ngủ yên. Lay chuyển ý định phi lý trong đầu ông thiếu tướng, có lẽ còn khó hơn vần đá tảng ngược tới Ba Vì.
Người được gặp gỡ con Múc nhiều nhất lại chính là cháu Quỳnh.
Chuyện đáng buồn xảy ra với con Múc khiến cháu giận dỗi ông ngoại. Cháu khóc liền mấy ngày, bỏ ăn mất ba bữa, và ngẩn ngơ thương tiếc không lúc nào nguôi.

Hơn nửa năm sau. Một hôm cháu lên đồi kiếm sim chín và hoa rừng thì bất ngờ cháu gặp con Múc đứng ngay trước mặt cháu và ve vẩy đuôi chào mừng. Quỳnh không tin vào mắt mình nữa. Cháu nhìn chó, sợ hãi. Con Múc lông lá sồm soàm, bẩn thỉu và dữ tợn quá. Thấy con thú cứ ngoáy tít đuôi mãi, cháu bạo dạn hỏi nó:
– Mày có phải là Múc không? Nếu là Múc thì lại đây với mình! Nào!
Nói xong cháu ngồi xuống, giang hai tay ra. Con Múc xô vào người Quỳnh hơi mạnh, làm cháu suýt ngã ngửa ra. Đôi bạn thân thiết ấy, làm mọi cử chỉ có thể làm để tỏ tình thương nhau. Con Múc hôi tanh nồng nặc, nhưng Quỳnh cứ để mặt nó liếm lên má, lên tóc cháu. Cháu ứa nước mắt, hỏi nó:
– Bạn ở rừng sâu à?
-!
– Bạn có khổ với lũ hổ báo không?
-!
– Bạn có bị đói luôn không?
Con chó chỉ biết rít ứt trong họng, cà sát bộ lông vào người cô chủ của nó. Phải nửa tiếng sau, Quỳnh mới buồn rầu rời chó.
– Bạn không về được đâu. Ông mình sẽ giết chết!
Con chó hiểu ý ấy. Nó oẳng nhẹ một tiếng. Đôi mắt của nó nhoáng ánh lửa, ve vẩy đuôi một lần nữa, liếm bàn tay Quỳnh một lần nữa, rồi băng vút về rừng.

Từ đó, cứ cách vài buổi, cháu Quỳnh lại lên đồi sim một lần. Lần nào con Múc cũng đợi sẵn. Mỗi lần vậy, đôi bạn lại trìu mến ve vuốt nhau, rồi lại bịn rịn chia tay.
Nếu tôi là một cây bút giàu sức tưởng tượng và không biết kiềm chế, tôi sẽ lợi dụng đặc thù của văn chương mà viết vài đoạn thật hay. Tôi sẽ thêu dệt rằng: Một lần cháu Quỳnh gặp gấu ngựa ở trong rừng, con Múc đã tung hết sức lực ra để vật lộn với gấu cứu cô chủ. Hoặc giả là: Có lần cháu Quỳnh bị trăn quấn. Con Múc đã bật vọt lên cao. Khi buông mình rơi xuống nó ngoạm đúng “thất thốn” là tử huyệt của giống trăn. Nó cắn xé đến nỗi con trăn phải từ từ nới bỏ vòng quấn, cô chủ nó thoát nạn. Cũng có thể lãng mạn hơn, tôi viết rằng: Có lúc người và chó ngồi dưới ánh trắng bên bờ suối, rồi con Múc rúc lên lanh lảnh từng hồi, gọi bạn tri âm của nó cùng một đàn chó xinh xắn ra chào mừng cô chủ.

Nhưng bởi vốn có tính thận trọng một cách hủ lậu, tôi không thể bịa đặt như vậy. Về mối quan hệ lạ lùng kia, tôi chỉ có thể nói thêm điều này. Một lần, cháu Quỳnh bị cảm cúm nặng. Hơn chục ngày liền, cháu không thể ra đồi sim gặp con Múc. Nửa đêm cháu nghe thấy có tiếng cào cửa quen thuộc. Cháu vui mừng chạy ra tháo chốt cài. Con Múc tọt vào, âm thầm quấn quýt cháu Quỳnh. Không may cho nó, con Tuýt và lũ chó săn kia phát giác đã sủa nhặng lên, rồi chặn kín cửa ra vào. Con Múc nhe nanh xông thẳng vào con Tuýt như một ánh chớp. Con Tuýt không ngờ rằng con Múc đã biến đổi mạnh mẽ dữ dội nhường ấy. Bị cắn xoạc bả vai, nó lăn ra sủa rống lên. Bày chó kia kinh hãi không dám nhúc nhích. Con Múc nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, biến vào đêm tối.

Ông Quyền đã gạn hỏi cháu gái đủ điều. Cháu Quỳnh chỉ khóc thút thít, không hé lấy nửa lời. Ông liền tuyên bố với cả nhà:
– Con Múc lọt vào trại để trả thù. May có con Tuýt không thì cái Quỳnh bị xé xác ra rồi. Từ nay cả nhà phải cẩn thận lưu ý. Cái giống chó đã thù là thù dai lắm đấy!
Ông băng bó vết thương cho con Tuýt, ban thưởng cho nó khá hậu hĩnh: một ký thịt nai rất tươi.

Dù sao trẻ thơ vẫn là trẻ thơ, ông cháu vẫn là ông cháu. Cháu Quỳnh sợ tính ông nghiêm nghị, giận ông xử nặng con Múc, nhưng nó vẫn rất yêu ông ngoại. Ông cháu làm lành với nhau, thân thiết với nhau vì sợi dây huyết thống bí ẩn ràng buộc.
Vào dịp rằm tháng tám, ông Quyền dùng xe máy đưa cháu Quỳnh đi Hà Nội sắm đồ chơi trung thu cho các em nhỏ. Ông còn đưa cháu đi vào lăng viếng di hài Bác Hồ. Cháu sung sướng. Cháu hớn hở. Trong một phút bồng bột hồn nhiên. Cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại:
– Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé?
– Ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó?
– Cháu tìm được thì sao nào?
Ông thiếu tướng cười phì:
– Đến mười cái thằng bố mày, đến mười cái thằng ông mày cũng chả tìm nổi, nữa là…

Qua vẻ mặt và ánh mắt của cháu gái, ông chòm trại dường như phát hiện ra điều gì. Ông bèn gặng hỏi cháu gái:
– Cháu thấy nó rồi phải không?
– Vâng ạ.
– Ở đâu?
– Nhưng ông phải hứa với cháu là không giết nó cơ.
– Ừ, ông hứa!
Cháu gái hào hứng kể cho ông ngoại nghe hết mọi điều đoạn kết luận:
– Cháu thấy là nó, con Múc ấy, nó chẳng có lỗi gì đâu ông ạ.
– Nó ăn gà, ăn dê, ăn lợn…
– Cháu chả thấy tận mắt khi nào. Nhà mình có nhiều chó hư. Sao ông chỉ nghi ngờ mình nó thôi?
– Nó không vâng lệnh. Nó không chịu sai khiến như con Tuýt, thế cũng là tội to rồi. Những quân bướng, cần phải nghiêm trị.

Ngày hôm sau cháu Quỳnh lên đồi sim với con Múc. Ông già chòm trại lặng lẽ xách súng đi theo cháu gái, cách chừng ba trăm mét. Cháu Quỳnh không thấy con Múc đâu. Còn ông già thì thoáng thấy. Tuy không nhìn rõ hình thù nó, song ông thấy các bụi sim lay động ràn rạt, ông biết rằng con Múc đã nhìn rõ ông. Nó chuồn biến như tăm cá mất hút dưới đáy sông. Cháu Quỳnh hoàn toàn không rõ gì về việc ông nó đi theo mé sau cả.

Những lần sau, mỗi khi cháu Quỳnh lên đồi sim, ông già thường gói cho cháu một ít thịt rán tẩm bột, bảo đem cho con Múc. Cháu gái cảm động ứa nước mắt, tưởng rằng ông ngoại đã thực sự hồi tâm chuyển ý, sẽ cho đón con Múc về. Còn ông già cũng rất vui sướng khi cháu gái khoe với ông rằng con Múc đã ngốn sạch sành sanh gói thịt rán, đến nỗi không còn tí mỡ dính lá chuối.

Một buổi chiều, tôi sang làng Ngọc Nhi, thăm mấy người bạn cũ trở về. Vào đến sân, tôi ngạc nhiên khi trước mắt tôi là quang cảnh sửa soạn đi săn: người ngựa, súng ống, dây chão và đòn khiêng. Bày chó săn ngồi thành vòng tròn chờ đợi chủ. Con Tuýt lăng săng chạy đi chạy lại. Nó ve vẩy đuôi, đứng nghếch nghếch mắt nhìn chủ, chờ đợi sai khiến, hoặc đi giám sát từng con ngựa, cứ y như là một viên phó quan của cuộc săn vậy.

Thiếu tướng với vẻ mặt đỏ gay, cặp mắt lóng lánh có nhiều sợi lông mày bạc trắng cong rủ xuống quanh mi. Mỗi lần mở cuộc săn bắn, ông thường có vẻ say sưa, kích động như vậy.
Tôi hỏi lại ông:
– Săn gì vào cái giờ chiều này?
– Chó rừng!
– Con Múc phải không? Anh miễn cho tôi can dự vào cuộc sát phạt này nhé.
– Không được! Anh phải tận mắt thấy tôi sẽ chiến thắng sau hai ba lần thất bại.
– Bạn ơi, anh cầm chắc thắng lợi đến thế nào?
– Như cầm tỏi gà trong tay vậy.

Lòng tôi buồn rầu, nhưng tính tò mò thúc giục. Vả chẳng, tôi muốn xem sẽ kết thúc ra sao, cái trò quái gở giữa một bên quyết ý tìm diệt và một bên tinh quái né tránh. Chúng ta, con người, loại động vật cao cấp nhất, nhờ có hai bàn tay lao động đã phát triển được trí thông minh. Nhưng sau khi rời bỏ rừng sâu, tiến về đồng bằng, xây dựng nên những trung tâm văn hóa, chúng ta đã quay lưng lại, đã phũ phàng và độc ác với rừng sâu. Chúng ta đã tàn hủy cái nôi sinh ra mình. Chúng ta đã săn bắn, tiêu diệt các sinh vật còn nương tựa vào rừng, mà ngu ngốc không hiểu rằng chúng ta đã tàn hủy tự nhiên và phá hoại thế cân bằng sinh thái. Các sinh vật, dữ và lành, tồn tại được nhờ rừng rậm. Rừng rậm tồn tại và phát triển được cũng đã nhờ sự sinh sôi của muông thú. Và cuối cùng, nếu muông thú và rừng rậm không tồn tại nữa, thì làm sao chúng ta có thể tồn tại được?

Thuở xa xưa, con người sống đơn giản hơn. Người ta chỉ biết rằng điều quý nhất ở trên đời là mưa nắng trăng sao, điều quý ở dưới đất là ngũ cốc dồi dào, điều quý ở trong nhà là cháu thảo con hiền. Nhưng ngày nay, điều quý lại là châu báu vàng bạc, là uy thế lộng quyền, là sát phạt muông thú và sát phạt lẫn nhau. Hôm qua tôi đau đớn anh đấm tôi. Ngày hôm nay, tôi sung sướng được hành hạ nó. Ngày mai nó hả hê vì trừng trị kẻ khác… Một cơn lốc luẩn quẩn xoáy sâu vào ngõ cụt. Biết bao giờ mới tỉnh ngộ, mới tháo gỡ, mới đồng cảm và yêu thương?

Đoàn săn bắn rầm rập phóng lên đồi sim. Tôi và ông thiếu tướng sóng vai nhau. Cậu Quý và người anh rể vòng ra mé sau đồi. Con Tuýt ngông cuồng hăng say dẫn đầu đàn chó – những con chó có hình thể tuyệt đẹp, băng băng nhảy nhót giữa các làn cây bụi cỏ.
Chỉ chớp nhoáng sau, gọng kìm vây bủa đã xiết chặt quả đồi. Tôi kinh hoàng khi thấy cháu Quỳnh đang ngồi khóc. Con Múc nằm duỗi thẳng cẳng dưới chân cháu.

Cháu Quỳnh chạy lại bên ông ngoại khóc nức nở:
– Ông ơi, ông. Con Múc ăn xong gói thịt là nó lăn ra. Nó sắp chết mất rồi. Làm sao lại thế, hả ông?
Ông già cúi xuống an ủi cháu gái:
– Không sao đâu, nó không thể chết được. Thuốc ngủ chỉ vừa liều lượng thôi mà.
– Ông trộn thuốc ngủ vào thịt…? Trời ơi…

Con chó rừng mềm rũ rượi. Song đôi mắt rực lửa của nó vẫn trừng trừng ngắm nhìn tất cả. Nó hiểu rằng nó đã bị bịt hết mọi ngách sống. Thuốc ngủ liều cao làm tê liệt thần kinh và gân cốt nó. Nhưng từ nơi xa xăm nào không rõ, có thể là từ rừng sâu, có thể là trong từng tế bào máu, nảy sinh ra một ý chí mãnh liệt giục nó phải vượt lên, phải sống còn. Nó rống to lên một tiếng, vọt mình lên, phóng cẳng lao đi.

Lập tức con Tuýt đuổi sát mé sau. Con Múc vừa chạy vừa ngã. Nó lồm cồm bò dậy, được vài bước lại ngã rúi rụi. Cuối cùng không chạy nữa, nó quay phắt lại, nhe bộ răng nanh ghê gớm, chờ đợi. Con Tuýt và cả bầy chó đã hiểu sức mạnh khủng khiếp của con Múc, chỉ chờn vờn nhảy nhót ở khoảng xa, không dám tiếp cận.

Để khỏi mất thì giờ, ông chòm trại nâng nòng súng AR15. Một loạt đạn ngắn gọn rít lên, hòa cùng một tiếng thét xé trời đất của cháu Quỳnh. Con Múc lăn ra đất, không chút giãy giụa. Nó nhận đủ cả băng đạn từ cổ trở xuống. Máu nó xối tuôn, đỏ sẫm cả bộ lông đen. Đôi mắt nó mở to, vẫn màu lửa nhưng dịu hơn, trong đó có nhoáng lồng ánh mây trắng, trời xanh, rừng sẫm và ngọn Ba Vì uy nghi mầu tím đậm.

Có lẽ đã được huấn luyện đầy đủ, nên, khi con mồi gục xuống rồi, bày chó săn đua nhau lăn sả vào, mỗi con đợp cho con Múc một miếng để làm vui lòng chủ, với dáng dấp bẩn thỉu hèn mạt quá chừng.

Cháu Quỳnh chạy đến cạnh tôi. Thấy quanh cảnh thương tâm ấy, lòng dạ trẻ thơ không chịu đựng nổi. Cháu lả đi trong vòng tay tôi. Không rõ phải tôi hoa mắt hay bị hoang tưởng, tôi thấy vầng trán mịn màng của cháu bỗng như gợn nhiều nếp hằn sâu, còn mái tóc xanh đen của cháu bỗng như bạc trắng đi.
Thiếu tướng tiến lại, kéo vai áo tôi:
– Về thôi, anh. Cháu Quỳnh làm sao thế?
Tôi nói như mình trong mộng:
– Anh bắn giỏi thật đấy. Một cú “đúp” tuyệt vời! Anh hạ sát cả con Múc lẫn cháu Quỳnh.

Ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên:
– Bậy nào! Không thể thế được. Cháu Quỳnh có làm sao không?
Tôi nâng cháu Quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên:
– Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi.
Tháng 8 – 1988

Nguyễn Dậu (1930-2002): tham gia cách mạng từ 1946, từng là chiến sĩ pháo binh, sau năm 1954 làm việc trong Phòng Văn nghệ thuộc Tổng cục chính trị, biên tập viên báo Văn Nghệ, cán bộ Sở Văn hoá Hà Nội, rồi làm thợ cắt tóc, rồi giải chiếu bán giày dép rong ở bên đền Ngọc Sơn, thấy công an hay quản lý thị trường từ xa thì… chạy. Một văn tài ít được nhắc đến.




Chợt Nhớ Năm Xưa

Buổi sáng cuối tuần nhâm nhi ly cafe, nhìn trời đất bỗng nhiên ngẫu hứng viết bài thơ lục bát với tựa đề “Chợt nhớ năm xưa”. Xin chia sẻ cùng qúy vị đọc cho vui.

Lê Tuấn

image.png

Chợt Nhớ Năm Xưa

Gió thu lay động áo nàng

Xôn xao tiếng bước chiều vàng năm xưa

Hàng cây phố cũ lưa thưa

Bốn mươi năm trước, cũng vừa cơn đau.

Tháng tư trời đất đổ nhào

Cho người điên loạn tiếng gào khóc thương

Thời gian qua mấy đoạn trường

Bay theo hạt bụi nhiễu nhương cuộc đời.

Bốn mươi năm sợi tơ trời

Lòng như tan nát thế thời đổi thay

Thuở nào chinh chiến trả vay

Bây giờ già héo đắng cay phận người.

Lửa thiêng còn thắp sáng ngời

Thơ tôi chấm phá thêm lời vấn vương

Dẫu rằng trời đất vô thường

Lòng buồn nhớ lại con đường năm xưa.

Tế Luân (Lê Tuấn)

“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng

Chợt thấy lòng buồn nên nhớ về năm xưa, một thời chinh chiến trước năm 1975”




Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

Hồ Trường An

LTS: Nhà văn Hồ Trường An đã qua đời hôm Thứ Hai, ngày 27 tháng 1, năm 2020, tức Mồng Ba Tết Canh Tý, tại Troyes, Pháp, hưởng thọ 82 tuổi.

Ngoài những sáng tác  của HTA được nhiều người biết đến, là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký,  Ông còn được dư luận quan tâm khi trao đổi vấnđề xã hội – giới tính – đồng tính luyến ái –… Lúc còn sinh tiền Ông không ngại ngùng và phá biểu thẳng thắn, bộc trực về vấn đề “giới tính”. Việc “đồng tính luyến ái” nay trong những xã hội dân chủ đã trở thành bình thường, bớt thành kiến, thôi không còn “khắt khe” như trước.

Lưu Diệu Vân thực hiện – 15.05.2008

Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11
tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện
đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn
chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn,
tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và
hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại
hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương
việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.

Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng
ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng
bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ
Trường An.

LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự
bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà
văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói
về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ
Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?

ho_truong_an_1991

HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong
buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm,
trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không
đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn?
Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn
tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế
hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi
nào chăng?

Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng
tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi
chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân.
Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang
nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần
là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự
của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc
tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người
bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của
hắn lớn hơn tôi khá nhiều.

Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay
tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967,
bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn
Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại,
vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy
lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi
kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời
gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những
cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt
như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA.
Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc
Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên
80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có
rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh
Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có
thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?

Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời.
Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn
tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay
xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai
như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ
nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương
yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn
mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường.
Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được?
Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn
của một nhà văn gay.

LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện
thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi
quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?

HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng
vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy,
họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng
đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng
các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng
Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên
gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có
phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến
ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.

Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác
nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì
mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho
những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia
đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay
bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng
tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng
gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ
chống lại thiên nhiên.

Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm
tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên
tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay…
cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người
đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc
sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với
tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.

LDV: Nhà văn Hồ Trường An định nghĩa giới tính của mình bằng đường lối nào?

HTA: Cô Vân ơi, câu hỏi nầy trặc trẹo lắm. Tôi không sao có thể định
nghĩa giới tính chính mình. Tôi chỉ biết giới tính chia ra làm ba hạng
người: hạng thứ nhất là hạng người yêu đương và thích làm tình cùng
người khác phái của mình. Đó là những người dị tính luyến ái (les
hétérosexuels). Hạng thứ hai là những người yêu đương và thích làm tình
với người đồng phái. Đó là những người đồng tính dục (les homosexuels),
nhưng nói cho nhẹ nhàng bóng bẩy một chút thì gọi là đồng tính luyến ái
(les homophiles); bên nam giới gọi là gay, bên nữ giới thì được gọi là
lesbiennes. Lại có người thích làm tình với người khác phái tính lẫn
người đồng phái tính. Đó là những người lưỡng tính luyến ái (les
bisexuels). Vua Hán Cao Tổ có nhiều quý phi, cung tần, mỹ nữ. Nhưng ông
ta thỉnh thoảng tìm các cậu trai mới lớn nuôi sẵn trong biệt viện để ông
ta thay đổi thực đơn hành lạc. Những cậu trai như vậy tiếng Pháp gọi là
bé cưng (les mignons). Đó là tôi nói theo nhà Trung Hoa học thuật gia
Robert Van Gulik qua cuốn biên khảo ‘‘La Vie Sexuelle dans la Chine
Ancienne.’’

Trong giới nghệ sĩ Hoa Kỳ thì Marlon Brando cũng thuộc loại lưỡng tính luyến ái. Anh ta mê phụ nữ da màu và đã trải qua hai đời vợ là Anna Kashfi – lai Ấn, Movita – gốc Mễ-tây-cơ. Nhân tình cũa anh ta gồm có các nữ tài tử France Nuyen – lai Việt, Tarita – người thuộc đảo Tahiti, Rita Moreno – dân Mỹ La-tinh. Nhưng bà vợ Anna Kashfi trong cuốn Brando au Petit Déjeuner xác nhận rằng Marlon Brando lẫn James Dean đều là dân lưỡng tính luyến ái. Trước khi nổi danh, trong thời gian sống ở Paris, Marlon chơi thân với điện ảnh gia Roger Vadim và nam tài tử Christian Marquand. Chính anh chàng Marquand này là người yêu của Marlon Brando. Anh ta người Tây-ban-nha lai Á-rập nhưng sinh sống từ nhỏ ở Pháp, đóng phim Pháp, nổi tiếng đẹp trai và sexy. Christian Marquand cũng là dân bisexuel, sau đó kết hôn với nữ tài tử Tina Aumont. Hư thực ra sao đố ai biết rõ. Chúng ta chỉ biết một khi người vợ bị tổn thương thì việc gì mà không dám nói. Anna Kashfi còn dám viết rằng Marlon Brando có tới ba hòn nang. Khi sống trên tại kinh thành Paris, chàng ta đã cùng Roger Vadim và Christian Marquand đi Monmartre để hành lạc theo kiểu ‘‘nga môn khoái lạc’’ do dân phong lưu Trung Hoa phát minh. Đó là đút dương vật vào hậu môn con vịt, rồi thình lình chặt cổ con vịt để cho hậu môn con vịt siết chặt và buông lỏng liên miên dương vật. Marlon Brando trong quyển hồi ký của mình bảo thẳng thừng rằng : ‘‘Tôi cũng có vài kinh nghiệm về đồng tính dục.’’ Riêng James Dean được báo chí thêu dệt mối tình giữa chàng ta và nữ tài tử gốc Ý Pier Angeli, giữa chàng ta và nữ thần nhục cảm Ursuela Andress gốc Thụy- sĩ. Nhưng lại có tin hành lang cho biết người tình đực rựa của chàng là tài tử bô trai cực kỳ thanh tú và hùng tráng là Tab Hunter.

Về phía lưỡng tính luyến ái phái nữ thì vào thời Đệ tam Cộng Hòa có
hai nàng nữ danh kỹ là Liane de Pougy và Emilienne d’Aleçon sắc nước
hương trời. Cả hai đã từ dan díu với các chàng trai quý tộc và các kỹ
nghệ gia Hoa Kỳ thuộc hạng tỷ phú. Liane de Pougy đã từng ăn nằm với
Hoàng tử vùng Galles nước Anh về sau trở thành vua Edouard VII, còn
Emilienne d’Aleçon đã từng dan díu với vua Léopold II nước Bỉ. Cả hai cô
danh kỹ kia còn là nữ sĩ văn chương. Liane viết 7 cuốn tiểu thuyết, nổi
tiếng nhứt là cuốn Idylle Saphique (Tình Yêu Các Cô Đồng Tính Luyến Ái) và cuốn nhật ký Mes Cahiers Bleus
( Những Tập Giấy Xanh Của Tôi). Người tình nuơng mặn mòi thắm thiết
nhứt của Liane de Pougy là nữ sĩ kiều diễm người Mỹ Natalie Cliffod
Barney. Còn Emilenne d’Aleçon về sau kết hôn với anh nài ngựa người Anh
chẳng những trí thức, giàu sụ mà còn đẹp trai. Vì là nài ngựa nên chàng
hơi nhỏ con một chút, nhưng rất xinh xắn dễ yêu. Cả hai si mê nhau điên
cuồng, yêu đương bỏng cháy. Vì yêu nàng, chàng bỏ quốc tịch Anh và xin
vào quốc tịch Pháp. Vì chàng, nàng thôi làm cái nghề đưa ông hoàng ra
cửa trước, rước ông tỷ phú vào cửa sau. Chàng nài ngựa bô trai giỏi văn
chương Pháp nên dạy Emilienne d’Aleçon làm thơ. Do đó nàng cho trình
làng hai thi tập Temple d’Amour (Ngôi Đền Tình Ái) và Les Masques
(Những Cái Mặt Nạ). Chàng nài ngựa yểu mệnh, Emilienne d’Aleçon đau khổ
không nguôi. Từ đó nàng đoạn tuyệt với đàn ông và chỉ ăn nằm với đàn bà
trong đó có nữ nam tước người Ý là Baronne Mimy Franchetti. Cô nữ nam
tước nầy cũng đã từng ăn nằm với Liane de Pougy.

LDV: Sự chấp nhận một cách hân hoan về khuynh hướng tính
dục đặc biệt của mình đã đem lại cho nhà văn những gì ngoài cõi lòng yên
tĩnh cần thiết để cho ra đời những trang viết đầy tình người và sức
sống?

HTA: Sống thành thật với chính mình thì dĩ nhiên được thoải mái về
mặt tinh thần lắm, có phải không cô Vân? Hồi chưa tiếp xúc với giới đồng
tính luyến ái tôi ấm ức trong lòng, khao khát được giao hợp với người
mình yêu. Nhưng ở tại một tỉnh lỵ đất Tiền Giang, tôi tìm đâu ra một đối
tượng tình yêu thuộc loại người như mình? Cho nên tôi đau khổ, tuyệt
vọng, lại còn sợ mọi người chế nhạo mình yêu trai, cho nên tôi không
biết ngỏ tâm sự cùng ai. Năm tôi 25 tuổi, tôi lên Sài Gòn học lớp tập sự
ngành Dược Khoa, tôi được thằng bạn thân học chung với tôi suốt 6 năm
bậc trung học. Nó cũng là dân gay như tôi, nhưng cả hai chỉ là bạn suông
trơn mà thôi. Nó giới thiệu cho tôi một ký giả người Pháp, gốc Ba-lan
tên là Ilya Mustkatblatz. Sau đó, nó chỉ cho tôi những chỗ hội họp của
bọn gay Việt lẫn gay từ các xứ như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Phi-luật-tân, Đại
Hàn, Tàu Chợ Lớn qua làm việc hoặc định cư ở Sài Gòn. Họ thường lui tới
rạp chớp bóng Vĩnh Lợi (mà bọn tôi gọi là Vĩnh Lạc Cung) ở đường Lê Lợi
và gần Bệnh Viện Đô Thành, rạp chớp bóng Moderne (mà chúng tôi gọi là
Mẫu Đơn Đình) ở gần chợ Tân Định. Ngoài ra còn ở nhà hàng Continental,
nhà hàng Givral, Bùng Binh trước chợ Bến Thành là những nơi để bọn gay
kiếm bồ bịch. Ngoài ra ngôi chùa thuộc Nghĩa Trang Bắc Việt, đền thánh ở
Thủ Thiêm cũng là nơi hò hẹn bọn gay.

Không hiểu sao, từ khi tiếp xúc vào xã hội gay, dù lúc tiên khởi tôi
nghĩ mình bắt đầu có một cuộc sống lệch lạc về lề thói, về nguyên tắc
trật tự trong xã hội. Nhưng chính các lệch lạc, cái trái cựa đó khơi dậy
cho tôi biết bao niềm lạc hoan mênh mông và nguồn cảm hứng cực kỳ phồn
thịnh. Tôi phải trải rộng cảm hứng đó lên giấy càng nhiều càng tốt. Tôi
yêu đời, yêu mọi người. Tôi chỉ mong có nhiều người đọc những gì tôi
viết. Nhưng tôi chưa dám viết trực tiếp cái xã hội gay. Nhưng ai cấm tôi
sáng tạo những người đàn bà đa tình phản ảnh nguyên vẹn cái tôi đã bao
lần xao xuyến tâm hồn và xác thân trước hình bóng những nam minh tinh
điện ảnh mà tôi ái mộ? Từ khi lao vào giới gay, tôi vui sống, sáng tác
thơ rất nhiều. Tiếc rằng khi bỏ xứ ra đi, tôi không mang theo được gì,
chỉ nhớ lõm bõm vài bài thơ nhục cảm để khi ra hải ngoại tôi thực hiện
thành thi tập Thiên Đường Tìm Lại.

Vào năm 1966, trước hết, tôi viết truyện ngắn, thơ, kế đó mới tập tành điểm sách, viết tạp ghi. Và sau hết, tôi viết các bài nhận định về kịch ảnh & tân nhạc. Tôi đã từng cộng tác với các tập san Bách Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, công tác với các nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến… Hứng thú đưa đẩy ngòi bút tôi chạy tốc hành trên xấp trang bản thảo khi tôi ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi không dám viết cái tôi của mình là gay. Tôi dệt ra những cảnh giao hợp bỏng cháy, tôi nhập vai vào các nữ nhân vật, còn nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.

Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết
những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa. Tôi chỉ
dám giết những nhân vật già nua từ 80 tuổi trở lên (cho họ chết vì già
yếu chớ không dám cho họ chết vì bịnh hoạn). Lại nữa, các nhân vật đẹp
trai được tôi xe duyên chỉ thắm với những nữ nhân vật nếu không kiều
diễm thì cũng duyên dáng mặn mòi. Nếu các cô lỡ có chửa với người chồng
bô trai ngó hoài…vẫn thích ngó của họ, thì ở chương áp chót của quyển
tiểu thuyết, tôi cho họ xổ bầu đập chum để họ có cái eo thon đẹp, để họ
diện áo đẹp đi rước đèn, đi bát phố cùng chồng. Còn nam nhân vật đẹp
trai nếu rủi bị bịnh ung thư hay bị bịnh AIDS thì nếu không nhờ thuốc
men hiệu nghiệm thì cũng được Đức Thánh Đồng Trinh Maria của thành phố
Lourdes hay Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ dùng phép lạ mà giúp họ
lành mạnh. Như vậy nữ độc giả sẽ an tâm khi xếp quyển sách cũa tôi lại.

Cô xem đó, khi con người được hạnh phúc, họ dễ có tấm lòng vị tha,
không đem giáo điều khe khắc ra buộc tội bất cứ ai. Trong các tác phẩm
của tôi hầu như không có kẻ ác. Thường là những kẻ có cái miệng dữ dằn,
ngáp ra khói, ói ra tro, ho ra sấm sét, nhưng lòng dạ các đương sự hiền
lành như bột sắn, bột khoai. Thường là các mụ đàn bà thuộc loại chằn ăn
trăn quấn, ưa ganh tị từ cái ngáp tiếng ho với bạn bè, ưa thèo lẻo trong
các cuộc ngồi lê đôi mách, nhưng khi đối thủ của mình gặp hoạn nạn
thường ra tay cứu giúp, an ủi, đãi cho kẻ cựu thù những món ăn ngon…
chết giấc luôn! Tôi ưa viết những chuyện vạch tật xấu đàn bà, nhưng độc
giả của tôi hầu như 75% là đàn bà. Vậy có nghĩa là văn chương tôi không
độc địa như siêu vi trùng gây bịnh AIDS, không giúp các nhân vật lao vào
những hành động ác ôn côn đồ thổ phỉ, không xô nạn nhân vào cảnh đoạn
trường.

LDV: Xã hội phong kiến của Việt Nam có ảnh hưởng một cách
tiêu cực đến cái nhìn về giới tính của nhà văn không, trong cuộc sống
cũng như trong quá trình viết lách?

HTA: Ở Việt Nam, chuyện đồng tính luyến ái vào thập niên 50, 60 không
được xem là trầm trọng. Dân mình cho rằng hễ ai mắc phải ‘‘cái tật’’
yêu người cùng phái tính, một khi được lấy vợ gả chồng thì ‘‘lành bệnh’’
ngay. Nhưng bên Âu Châu vào thời Trung Cổ, những ai có hành động quá
thân mật với người cùng phái tính thì bị lôi ra tòa án và Giáo hội
Gia-tô xen vào kết án thiêu sống các đương sự. Tôi không nhớ rõ năm nào
trong thập niên 90 của thế kỷ 20, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã từng
xin lỗi mọi người trên thế giới về chuyện các Giáo Hội Gia-tô đã lên án
xử tử nhà bác học Galilée khi ông ta dám tuyên bố quả đất tròn. Ngài
cũng xin lỗi về vụ các tín đồ Gia-tô a tòng với bọn buôn người bắt dân
Phi Châu bán cho người da trắng làm nô lệ. Nhưng ngài vẫn không thèm xin
lỗi về vụ bọn tăng lữ Gia-tô ở Pháp và ở vài nước Âu Châu đã đem dân
gay thiêu sống vì họ cho rằng những người gay cũng như nhừng người phù
thủy là ác quỷ Sa-tăng cần phải bị tiêu diệt.

Trong quá trình viết lách, trước kia dám khai huỵch tẹt cái sở thích
yêu người cùng phái với mình chỉ có văn hào André Gide ở những quyển
nhật ký. Nhưng ở cuốn L’Immoraliste (Kẻ Vô Luân), ông ta chỉ nói mí mí thôi. Văn hào Thomas Mann với quyển Mort à Venise (Chết Tại Kinh Thành Venise). E.M Forster với cuốn Maurice thì viết hẳn hoi về cuộc tình thầm kín hay công khai của các nhân vật gay. Tuy nhiên E.M Forster viết cuốn Maurice
khi còn sống, nhưng không dám đăng báo hay xuất bản. Trên giường bịnh
chờ chết, ông dặn người nhà khi ôg ta qua đời thì mới cho xuất bản cuốn
di cảo ấy. Còn nữ sĩ Natalie Clifford Barney thì viết lách công khai
chuyện đàn bà đánh chập chõa với đàn bà. Cả nàng danh kỹ Liane de Pougy
dám viết cuộc tình của mình với Natalie Clifford Barney trong cuốn Idylle Saphique
của mình. Vậy mà các ông hoàng ở Âu Châu, các triệu phú, tỷ phú Hoa Kỳ
vẫn tình nguyện chết chung vào lỗ của nàng. Rồi khi nàng leo lên 40 tuổi
có ông hoàng Lỗ-ma-ní nhỏ hơn nàng 15 tuổi cưới nàng làm vợ, cuộc hôn
nhân kéo dài tới khi ông ta lìa đời. Lúc đó Liane xấp xỉ 70 tuổi rồi,
đành sống cô đơn tới lúc nhắm mắt theo chồng.

Về các nhà văn nhà thơ Việt Nam thì vào năm 1966, đã có Đỗ Quế Lâm viết cuốn ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’. Hai nghệ sĩ diễn ngâm thơ là Đoàn Yên Linh và Hồ Bảo Thanh sáng tác những vần thơ đẹp như gấm và dịu như nhung. Họ xưng mình là em, là nàng cô phụ gửi người tình không chân dung nào đó hoặc người tình có thật trong cuộc sống mà họ đã từng si mê. Tiếc thay cả hai không cho xuất bản các bài thơ đẹp kia thành thi tập, chỉ đăng báo lai rai. Đoàn Yên Linh, Hồ Bảo Thanh và tôi đều là bạn của cây sáo thần Thanh Hà. Nhưng Thanh Hà không phải là gay mà là kẻ thông cảm với bọn gay chúng tôi mà thôi. Tình bạn giữa Thanh Hà và tôi từ trong nước, trước 1975 vẫn kéo dài cho tới bây giờ.

Ra hải ngoại, người xung phong viết chuyện đồng quê Nam Kỳ và chuyện đồng tính luyến ái vẫn là H.T.A. Người thứ hai là Ngô Nguyên Dũng trong quyển trường thiên tiểu thuyết Đêm. Lại có thêm Tạ Thái, Nguyễn Thạch Đàn qua những tự truyện dưới hình thức truyện ngắn đăng trên báo Văn. Lại có thêm Lê Nghĩa Quang Tuấn, em trai của hai nhà văn nữ là Lê Thị Huệ và Lê thị Thấm Vân đã từng đi diễn thuyết đòi quyền sống và đòi chỗ đứng trong xã hội cho dân đồng tính luyến ái trong xã hội. Tuấn lại còn chủ trương tạp san dành cho gay và lesbian. Đó là tờ Đối Diện (Face To Face). Thi tập Ầu Ơ… của đương sự rất tuyệt vời về tư tưởng triết học và xen vào đó có những bài thơ nhục cảm chan hòa mộng đẹp, sinh lực, tinh khí, những tư duy rất nhân bản. Theo tôi, những cây viết ở vào cuối thế hệ thứ nhì và đầu thế hệ thứ ba ở hải ngoại, trong hàng ngũ gay thì có Ngô Nguyên Dũng bên Văn, còn Lê Nghĩa Quang Tuấn bên Thi Ca. Cả hai tài hoa rất mực. Còn bên ca nhạc ở hải ngoại thì cũng ít nhất 5 người. Nhưng mà thôi, tôi không tiện hài danh hà tánh các đương sự, cứ để họ tiếp tục hành nghề và giữ mãi mãi là thần tượng của các cô choai choai có hơn không!

LDV: Khung cảnh tự do của quê hương thứ hai đã đem lại
cho ông những thay đổi tích cực gì về khuynh hướng tính dục của mình và
của những người đồng tâm trạng chung quanh ông?

HTA: Tôi qua nước Pháp gặp lúc phong hóa đang biến chuyển tiến bộ.
Phim sex dành cho bọn gay có chiếu vài rạp ở Paris. Tạp chí dành cho gay
là Gaipied bán tràn ngập khắp thị trường sách ốc. Nhà trí thức
André Baudry lập câu lạc bộ Arcadie để làm diễn đàn cho dân gay. Chính
tại đây, Lucien Trọng đã đăng đàn diễn thuyết và mở cuộc triễn lãm tranh
sơn dầu của đuơng sự. Ngoài ra, vũ trường Scaramouche dành cho gay. Hơn
một chục phòng tắm hơi dành cho dân gay ở Paris. Các anh chàng gay vào
đó tha hồ khỏa thân hoặc quấn chiếc khăn bông ở hạ bộ. Tìm được kẻ vừa ý
là cả hai dắt nhau vào căn buồng nhỏ để làm tình. Nếu phòng bị chiếm
hết thì tìm chỗ nào hơi tối một chút để giao hoan, chẳng bị ai phá rối.

Nhưng rồi từ năm 1985, bịnh AIDS lan tràn, tôi không dám bén mảng tới bất kỳ chỗ hẹn hò nào, đừng nói chi là phòng tắm hơi. Vả lại, từ năm 1985, tôi bắt đầu phái phì: bụng to như có cái chảo gang hay cái thau nhôm úp lên, lại có cằm đôi như cái nọng heo và còn dến thêm miệng cá má lợn. Đi đâu, tôi cũng vác các bụng bự chang bang như cái bụng chửa sắp tới ngày xổ bầu thì chán quá! Làm diet, chạy jogging, cuốc bộ hàng chục cây số vẫn chỉ sụt bớt 5 kí lô là cùng. Rồi tôi bỏ cuộc vì tôi bị ba chứng bịnh nan y như tiểu đường, cholesterol, cao máu. Từ nằm 1985, người bạn lòng tôi và tôi dù ở chung dưới một mái nhà, ngủ chung một giường, nhưng chỉ là bạn thuần khiết mà thôi. Vào năm 2006, tôi nghe lời bác sĩ thân tín tập thể dục dành cho người già cả, tập thở một cách chăm chỉ theo phương pháp mà Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ dạy, tôi gần như hết bịnh tiểu đường, dứt tuyệt chứng cholesterol, giảm bớt cao máu. Nhưng tôi vẫn phải uống thuốc đều đặn. Do đó mà tôi sụt cân. Thể dục làm cho bụng tôi thon, cằm đôi biến mất. Thở theo phương pháp Tọa Thiền làm cho da mặt tôi sáng hồng. Bụng tuy thon nhưng lại hơi nhão, mông không xệ nhưng không tròn. Cằm đôi tuy mất, nhưng cổ tôi nhăn nhúm như cái nhau con heo nái phơi khô. Ngực tôi tuy đầy đặn nhưng không căng phồng như cánh buồm lộng gió. Bọn trai tráng có cặp mông tròn trặn như trái dưa hấu bổ đôi, bụng chẻ ra làm sau miếng như sáu thẻ chocolate. Vì than ôi, tôi đã 70 tuổi rồi, làm sao có thân vóc rắn chắc và mỹ lệ như bọn đờn ông con trai từ 18 đến 45 tuổi? Lại nữa, tôi đâu còn khả năng tình dục nữa, cho nên tôi đành làm bạn với con Chung Vô Diệm (chim vô dụng) mà thôi.

Thật ra, tôi cũng chẳng buồn tiếc cái thời sống lăng loàn hạnh phúc
cũ. Nếu vào thuở trung niên tôi vẫn còn có sắc vóc ngoạn mục, biết đâu
tôi chơi bời thả cửa, giao hoan thả giàn với bọn gay, để rồi vướng bịnh
AIDS. Như vậy trong cái rủi vẫn có cái may, phải không nào? Rất nhiều
bạn bè tôi xin tôi chỉ họ phương pháp làm gầy, phương pháp làm cho da
mặt mịn màng sáng sủa. Tôi cứ tình thật mà ‘‘khai báo’’. nhưng họ làm
không có kết quả. Thiệt tình tôi không hiểu tại sao? Nhưng đẹp lão để
làm gì? Khi tôi mặc áo thun, quần jean thì thân vóc tôi vẫn là người đàn
ông tuổi ngũ tuần. Nhưng khi vào bãi khỏa thân ở tỉnh nhà thì đây là
thân vóc của một ông già, dù có ngực đầy, bụng thon và mông không xệ đi
nữa. Ở ngoài đời, da mặt tôi thật lý tưởng mà phụ nữ rất hâm mộ. Nhưng
khi tôi được chụp ảnh, khuôn mặt tôi vẫn là khuôn mặt ông già, dù da mặt
chỉ có vài nét nhăn mờ mờ ở chuôi mắt đi nữa. Cho nên tôi không thèm
nhuộm tóc làm gì. Tuổi của tôi hiện giờ có thể làm ông cố được rồi.

ho_truong_an_2008

Khi qua Pháp, tôi đã 40 tuổi, hưởng thụ không bao lâu, nhưng tôi không
thối tiếc một chút cỏn con nào. Mừng là thấy phong hóa tiến bộ một cách
tích cực. Có nhiều nước cho phép cặp gay làm đám cưới với nhau. Tôi thấy
cái dó không cần cái đó. Nhưng thôi, ai cũng có hoàn cảnh riêng, sở
thích riêng, tâm trạng riêng; đừng bắt buộc người khác phải giống mình.
Bây giờ ở Gia-nã-đại và ở vài nước Âu Châu có lịnh phạt những kẻ nào dám
sỉ nhục những chàng gay trước đám đông. Kẻ sĩ nhục sẽ bị phạt nặng nếu
kẻ bị hạ nhục có tìm được nhân chứng. Đối với những nước văn minh tân
tiến, tội đó cũng ngang ngữa với tội kỳ thị chủng tộc. Tôi chỉ thương
xót các em các cháu gay gặp vấn nạn bịnh AIDS nên không được thoải mái
lúc bắt bồ với nhau. Họ không được tâm trạng thảnh thơi như tôi hồi 40
năm về trước khi làm tình với đối tượng của mình.Tôi tin rằng đa số
những kẻ gay cũng như tôi được hạnh phúc khi sống trong xã hội được nới
lỏng nguyên tắc và giáo điều, sống tràn ngập tin tưởng hơn. Có vậy Ngô
Nguyên Dũng sáng tác không hề nhàm mỏi. Có vậy Lê Nghĩa Quang Tuấn mãi
mãi là tấm gương can trường dám đứng đầu sóng ngọn gió. Tôi không hiểu
tại vì sao càng lớn tuổi, Dũng ưa bỏ chín làm mười bất cứ chuyện gì.
Dũng nhìn đời bằng cặp mắt bao dung. Có phải chăng hắn sống trong hạnh
phúc và sống với tâm trạng cởi mở nên mới được đức tánh ấy? Dũng yêu
thích văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn văn nghệ sĩ giới trình diễn nên
không cần lui tới thường xuyên các cuộc hẹn hò trong khi đương sự vẫn
còn là kẻ trung niên tuấn tú, có thể bắt bồ vơi bọn gay Đức dễ ợt. Càng
lớn tuổi đương sự chuộng tâm linh nghiên cứu Phật Giáo. Còn riêng tôi,
trong mùa thu cuộc đời, tôi vẫn nghiên cứu thêm Kinh Đại Thừa như hồi
còn ở quê nhà, sưu tầm sách vở, các hình ảnh các minh tinh điện ảnh và
ca sĩ ngoại quốc. Bắt đầu chớm xuân, tôi trồng hoa ở bao lơn. Trong nhà
tôi bày những chậu cây cảnh những món ngoạn hảo (bibelots) và tranh ảnh.
Tôi không có thời giờ để phiền muộn. Hễ khi cái đầu nóng rực vì viết
lách hơi nhiều, tôi dừng bút lại, lo săn sóc lau chùi nhà cửa, nấu nướng
một món ăn hợp khẩu vị. Đôi khi tôi điện đàm với các bà bạn vốn là độc
giả của tôi để học hỏi cách thức làm những món ăn phổ thông hay những
món ăn đặc biệt sao cho hợp khẩu vị.

Lũ bạn gay của tôi sinh sống ở Paris thường hỏi tôi suốt gần 30 năm
nhà bác tuyệt tích giang hồ. Vậy mà nhà bác chịu đựng được? Có phải
chăng ở Troyes có phòng tắm hơi dành cho bọn gay? Hay có những chỗ hẹn
hò nào khác? Làm sao tôi nói cho lũ bạn tin rằng tôi đã sống đã tạm đầy
đủ rồi. Bây giờ ôn lại ‘‘thời tung hoành’’ cũng chỉ vun quén phong vị
cho văn chương và cho tuổi hoàng hôn, đừng quay lại thời dĩ vãng xa lắc
xa lơ nữa. Tôi còn nhớ một câu nói của đại kịch sĩ Pháp là Jean Louis
Barrault : ‘‘Ở chỗ huy hoàng ánh sáng, hay trong xó kẹt tối tăm, đâu đâu
cũng có hồng ân của Thượng Đế’.’

LDV: Văn của Hồ Trường An đầy chi tiết, sống
động và tràn ngập nhiều nhân vật nữ với tạo hình thật rõ nét. Định hình
giới tính của một nhà văn giữ tầm ảnh hưởng như thế nào đến giọng văn,
chủ đề, và thông điệp gởi gấm?

HTA: Văn chương tôi có nhiều chi tiết sống động? Có thể lắm chớ? Tôi
viết theo cảm hứng, có nhiều khi rất máy móc, không cần suy nghĩ cho
nhuần nhuyện trước khi viết. Thường thường bọn gay chúng tôi thích trào
lộng và có óc quan sát mãnh liệt. Do đó tôi tìm những nhân vật độc đáo,
xem cách sống, cách suy nghĩ và cách ăn nói của họ. Ai chê hạng người
ngồi lê đôi mách là hạng người mất nhân phẩm. Sức mấy mà tôi suy nghĩ
như vậy. Các cuộc ngồi lê đôi mách giúp tôi khám phá và tìm hiểu các
nhân vật độc đáo, những nhân vật có cá tính mạnh.

Tôi nhớ, hồi xa xưa, tôi ở chung với chị Thụy Vũ. Hôm đó, Tô Thùy Yên và chị nằm trên gác. Cô tớ gái của chị đang lục đục dưới bếp. Tôi và lũ bạn kéo về, quây quần bêm mâm gải khát, bắt đầu kể chuyện ngồi lê đôi mách pha trộn chuyện tiếu lâm. Bọn tôi không hay trên gác có người nên chúng tôi tha hồ mà xả máy đía dóc. Khi câu chuyện bắt đầu rời rạc dần thì chị tôi bước xuống, cười ngất: Nãy giờ tao với ông Tiên (chỉ TTY) nằm ngủ trên gác. Nghe bọn bây đấu hót bừa bãi mà cả hai cười muốn bể bụng, muốn tróc mỡ sa ra. Tao lại mắc tiểu. Nhưng ông Tiên cản tao lại để có thể tiếp nghe câu chuyện tụi bây. Trời ơi, tao nín đái, bọng đái căng phồng muốn bể như cái pháo chuột đây nè. Mấy tên này nên tìm gánh hát gia nhập làm hề là phải hơn.

LDV: Thế kỷ gần đây rất nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những hành động công khai
và cởi mở hơn về khuynh hướng tính dục của họ và điều này đã khuyến
khích sự đồng thuận và cái nhìn thấu hiểu ngày một khoan dung của xã hội
về khuynh hướng đồng tính. Theo ông, những người nắm giữ sự ái mộ đặc
biệt của công chúng có trách nhiệm hướng dẫn dư luận vào lối suy nghĩ
bình đẳng hơn trong những nan đề xã hội không?

HTA: Tôi ra hải ngoại vào năm 1977. Tôi có đọc được vài quyển hồi ký
cũa các cây bút gay như hồi ký của kịch tác gia Tennessee Williams, hồi
ký của Gore Vidal, hồi ký đại minh tinh điện ảnh Pháp là Jean Marais mà
tôi còn nhớ cái tựa là Histoire de Ma Vie (Lịch Sử Đời Tôi).
Ngoài ra, nhà văn Renaud Camus và nhà văn Tony Duvert có cho xuất bản
quyển nhật ký của mình công khai bày tỏ những mối tình và những cuộc
liên hệ xác thịt của mình với kẻ đồng phái tính. Còn nhà văn Pháp
Dominique Fernandez qua cuốn L’Étoile Rose (Ngôi Sao Hường) cũng không giấu giếm khuynh hướng đồng tính dục của mình. Quyển L’Étoile Rose
đã làm cho hàng triệu độc giả Pháp và độc giả các nước nói tiếng Pháp
cảm thương cho dân gay bị bọn Đức Quốc Xã giam trong những trại trừng
giới, bị xâm ngôi sao hường trên trán, bị đọa đày dã man. Lại nữa, tôi
có đọc cuốn hồi ký của nhà văn nữ lừng danh xứ Pháp là Françoise Sagan.
Tôi rất cảm phục bà ta ở chỗ dám chia sẻ cảm thông với tâm sự các nghệ
sĩ gay. Bà ta viết về kịch tác gia kiêm văn gia Tennessee Williams kết
bạn với nữ sĩ Carson Mc Cullers. Ông chồng bà Carson Mc Cullers tự tử vì
khám phá ra mình là gay. Bà ta xuống tinh thần, bị suy nhược thần kinh.
Ông Tennessee Williams và anh chàng tình nhân ông ta săn sóc bà. Rồi
ông ta đưa bà ta sang Ý viếng thăm nữ tài tử Anna Magnani. Tại đây ngôi
sao điện ảnh hàng đầu nước Ý này cùng anh tình nhân trẻ tuổi của mình
săn sóc người nữ văn gia bất hạnh kia. Tình bạn giữa Tennessee Williams
và Anna Magnani cũng rất gắn bó keo sơn. Nhờ cuốn phim Le Rose Tatouée
phỏng theo vở kịch cùng tựa của Tennessee William mà Anna Magnani đoạt
giải Oscar một cánh vinh quang. Từ đó, cả hai thân thiết nhau. Lại nữa,
cô Vân chắc cũng biết qua nữ minh tinh Hoa Kỳ Elizabeth Taylor có 3
người bạn gay thân thiết đã từng đóng phim chung với cô ta là
Montgomerry Clft, Rock Hudson, Roddy Mac Dowall. Cô ta giúp do họ vật
chất lẫn tinh thần. Khi Rock Hudson chết vì bịnh AIDS, Liz Talor lập ra
hội giúp đỡ dân bị séro-positif lẫn dân bắt đầu vào thời kỳ bịnh AIDS
bắt đầu phát tác trên hoàn vũ.

Theo tôi, những nhà nghệ sĩ thuộc giới sáng tác bất kỳ trên xứ sở nào
cũng không cần phải e ngại kẻ thưởng ngoạn giảm sút sự ái mộ của mình
khi những kẻ dó biết họ là gay. Các nhà văn lừng danh trên thế giới như
André Gide, François Mauriac, Jean Cocteau, Gore Vidal… vẫn được độc giả
ủng hộ và ái mộ như thường. Bên sáng tác nhạc có Tchaikowski, bên hội
họa có Michel Ange, Léonard de Vinci tới nay văn phẩm, nhạc phẩm lẫn họa
phẩm của họ vẫn được hậu thế truyền tụng.

Những kẻ được quần chúng ái mộ nên đóng góp vào công việc đập tan
thành kiến tiêu cực về vụ đồng tính luyến ái, giúp họ sống tự nhiên theo
căn tính, theo khuynh hướng luyến ái và sở thích tình dục của họ. Rúng
ép, cưỡng bách họ theo bản tính và sự ưa thích của mình tức là làm trái
với cái ĐỨC theo quan niệm của Lão Tử, tức là sống theo bãn tính tự
nhiên của mình. O ép họ hoặc khiên cưỡng họ sống theo người yêu kẻ khác
phái tính là một điều trái tự nhiên, phản khoa học, lại còn độc ác bất
nhân. Françoise Sagan, Mae West, Liz Taylor là những người biết sống vì
biết thông cảm những kẻ muốn sống tự nhiên theo bản tính nhưng lại bị xã
hội đầy những kẻ đầu óc hẹp hòi nguyền rủa, lên án và ngăn cấm.

LDV: Chúng ta đã làm được gì và cần làm thêm những gì để đẩy lùi những sự phân chia kỳ thị giới tính?

HTA: Chỉ cầu mong cho mọi người hiểu rằng đồng tính luyến ái là cái
sở thích bẩm sinh, chứ không phải là cái căn bịnh do xã hội tạo ra. Có
kẻ bảo rằng người đồng tính luyến ái là do trong người đương sự có những
cái gènes (mầm mống) tạo cho đương sự cái khuynh hướng yêu người đồng
phái. Dù tôi không nắm vững vấn đề nầy, nhưng tôi không bao giờ để cho
Ông Trời hay nhà khoa học hay nhà tâm ly học hoặc nhà phân tâm học nào
chữa trị tôi trở thành người đàn ông bình thường. Tôi rất hạnh phúc được
làm chàng gay.

Để đẩy lùi sự phân chia giới tính, người đồng tính luyến ái phải tỏ
ra có tư cách. Trước hết đừng ve vãn cọ quẹt với những người không phải
là gay như mình. Đừng tỏ ra âu yếm quá lố với người tình của mình trước
công chúng hoặc làm trò õng ẹo nữ tính. Có vậy các nhà soạn kịch, các
nhà viết kịch bản không viết tuồng hát hay viết truyện phim phơi bày cái
lố lăng của bọn gay ra. Như thế, bọn gay chúng tôi mới tránh khỏi bị họ
vẽ vời qua những đường nét biếm họa lố lăng. Phải sống như người bình
thường. Đừng mặc cảm, có vậy mới hóa giải đươc một phần lớn sự phân chia
gới tính của kẻ dị tính luyến ái. Còn những người dị tính luyến ái nào
vốn thiếu tấm lòng thông cảm bao dung phải tìm hiểu vì sao thời buổi này
vấn đề đồng tính luyến ái được một vài nước nới lỏng, không bị ngăn cấm
gắt gao. Đó có phải là cái kết quả tích cực của biết bao công việc
nghiên cứu của các nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, nhà
nhân chủng học, nhà sinh lý học, nhà tình dục học v.v… Dần dần họ mới
khám phá cái bí nhiệm của kẻ đồng tính luyến ái và đi đến kết luận tích
cực như sau: đồng tính luyến ái không phải là cái bệnh, cũng không phải
là tật xấu mà là một trạng thái tâm lý học lẫn sinh lý học như bao nhiêu
trạng thái muôn màu muôn vẻ của con người sống trên trái đất này.

LDV: Ông có tin vào tầm ảnh hưởng lớn của văn chương
không? Ông có tin nó có thể giúp chúng ta xóa bỏ những ranh giới khác
biệt giữa người và người không?

HTA: Có chứ cô Vân. Hồi 2 thập niên 30 và 40, văn hào André Gide dám phô bày cái đồng tính luyến ái của mình qua nhiều văn phẩm có giá trị nghệ thuật nên một thiểu số dân Pháp chẳng những không buộc tội bọn gay mà còn đặt lại vấn đề để tìm hiển dân gay sâu xa hơn. Tôi còn nhớ khi nhà đạo diễn James Ivory thực hiện cuốn phim Maurice phóng tác theo tác phẩm cùng tựa của E.M. Forster, khán giả Pháp đến xem chật rạp. Đa số dều chia sẻ tâm sự chàng Maurice do James Wilby đóng. Vào năm 2005, khi cuốn phim Le Secret de Brokeback Mountain của Ang Lee tung ra cũng được giới thưởng ngoạn ủng hộ nồng nhiệt. Đọc những quyển sách của ông André Gide, của ông Robert Peyrefitte (chẳng hạn như quyển Les Amitiés Particulièrs/Tình Bạn Kỳ Đặc) hoặc xem những cuốn phim mà tôi vừa kể thì kẻ thưởng ngoạn phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề kỳ thị dân gay chứ! Nên tôi mãi tin, văn chương có tầm ảnh hưởng đáng kể.

LDV: Với tư cách là một nhà văn và một người trong cuộc,
ông có những lời khuyên nào cho những ai vẫn còn chưa tìm được sự bình
an trong tâm hồn về định hình giới tính của riêng họ?

HTA: Mình hạnh phúc hay không là do chính mình. Mình phải thành thật
với chính mình, phải xem xét hoài bão và nguyện vọng của mình để tìm một
lối sống riêng biệt cho mình với điều kiện mình không làm mất lòng ai,
không dẫm chân và phóng uế vào đời tư kẻ khác. Mình phải chủ trương đời
mình miễn sao đừng làm hại kẻ khác. Tôi xin nhấn mạnh những gì tôi đã
phô bày, cạn tỏ mình nên sống bằng cuộc đời của mình, đừng sống bằng đời
của kẻ khác. Đó là sống theo cái ĐỨC. Sống bằng đời kẻ khác, hoặc sống
tuân theo luật lệ xã hội một cách khít khao mà không để một khe hở nhỏ
nhoi cho ánh nắng tượng trưng cho sự tự do, cho sự quyền biến, cho sự
cảm thông lọt vào thì cuộc sống của mình trở nên lệch lạc nếu không bảo
là què quặt tật nguyền.

LDV: Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Hồ Trường An đã dành
cho độc giả những tâm sự hết sức cá nhân và lòng chân thật đáng quý
trong cuộc nói chuyện này.

*Ảnh trên: nhà văn HTA vào năm 1991. Ảnh dưới – nhà văn HTA vào năm 2008.




Tỳ Bà Hành

Louis Tuấn Lê
Ảnh đính kèm

Nhân lúc thực hiện Video Mạn Đàm Tỳ Bà Hành (琵琶行), tôi đọc qua tác phẩm Tỳ Bà Hành và Tiểu sử Bạch Cư Dị. Quả thật đại thi hào Bạch Cư dị là một thiên tài, mà thời bấy giờ gọi ông là (Thi Tiên) ông cùng đứng tên trong Tam Đại Thi Hào của Trung Hoa, gồm có: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Bản dịch hay nhất của Phan Huy Thực đã ghi dấu nền văn học và ngôn ngữ Việt thật phong phú.

Bốn câu mở đầu
đó là: 

Bến Tầm Dương canh khuya đưa
khách 
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu 
Người xuống ngựa khách dừng chèo 
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti.

Phan Huy Thực

Một chút phân tich về chữ nghĩa
Mở đầu chúng ta thấy Bạch Cư Dị trong nguyên bản ông đã viết: 

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách.

Nghe không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Dịch giả Phan Huy Thực viết “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách“. Chữ dạ có nghĩa là đêm không gợi ý bằng chữ Canh Khuya. Tài năng của dịch giả Phan Huy Thực cộng với tinh thần của tiếng Việt nghe vẫn hay hơn.

Đọc câu thơ thứ hai theo nguyên bản: “Phong diệp địch hoa thu sắt sắt“. Phan Huy Thực dịch “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” thì câu thơ dịch của họ Phan, làm rung động lòng người, nhờ những chữ “lau lách đìu hiu”, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, chúng ta thấy chữ “lau lách” buồn hơn chữ địch hoa; hơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là “thu sắt sắt”. Tinh thần của chữ Việt tuyệt vời ở chỗ đó.

Tôi cũng thử dịch 8 câu đầu trong bài Tỳ Bà Hành, tôi dịch theo ngôn ngữ của thời hiện tại.

Bản Dịch của Lê Tuấn, Văn Thơ Lạc Việt

Tầm
Dương, bến sông khuya đưa khách

Phong
lau buồn hiu hắt gió thu

Người
xuống ngựa, khách dừng tay

Chén
quỳnh uống cạn, nhớ ngày biệt ly.

Say
chút tình, ngậm ngùi xa vắng

Nước
mênh mông soi bónh hình riêng

Tiếng
tỳ bà réo rắc ngân

Chủ
nhân dừng lại, khách ngần ngại đi.

Tóc Trắng

Bảy
mươi chưa phải tuổi già

Lo
buồn thế sự tóc đà bạc phơ

Bên
sông cò trắng nhởn nhơ

Buồn
nào vương vấn, lông tơ trắng đầu.

LT

“Cảm hứng theo những vần thơ cổ xưa”

琵琶行

潯陽江頭夜送客,
楓葉荻花秋瑟瑟。
主人下馬客在船,
舉酒欲飲無管弦。
醉不成歡慘將別,
別時茫茫江浸月。
忽聞水上琵琶聲,
主人忘歸客不發。
尋聲暗問彈者誰,
琵琶聲停欲語遲。
移船相近邀相見,
添酒回燈重開宴。
千呼萬喚始出來,
猶抱琵琶半遮面。
轉軸撥弦三兩聲,
未成曲調先有情。
弦弦掩抑聲聲思,
似訴生平不得志。
低眉信手續續彈,
說盡心中無限事。
輕攏慢撚抹復挑,
初為霓裳後六么。
大弦嘈嘈如急雨,
小弦切切如私語。
嘈嘈切切錯雜彈,
大珠小珠落玉盤。
閒關鶯語花底滑,
幽咽流景水下灘。
水泉冷澀弦凝絕,
凝絕不通聲漸歇。
別有幽愁暗恨生,
此時無聲勝有聲。
銀瓶乍破水漿迸,
鐵騎突出刀鎗鳴。
曲終收撥當心畫,
四弦一聲如裂帛。
東船西舫悄無言,
惟見江心秋月白。
沈吟放撥插弦中,
整頓衣裳起斂容。
自言本是京城女,
家在蝦蟆陵下住。
十三學得琵琶成,
名屬教坊第一部。
曲罷曾教善才服,
妝成每被秋娘妒。
五陵年少爭纏頭,
一曲紅綃不知數。
鈿頭銀篦擊節碎,
血色羅裙翻酒污。
今年歡笑復明年,
秋月春風等閒度。
弟走從軍阿姨死,
暮去朝來顏色故。
門前冷落車馬稀,
老大嫁作商人婦。
商人重利輕別離,
前月浮梁買茶去。
去來江口守空船,
繞船明月江水寒。
夜深忽夢少年事,
夢啼妝淚紅闌干。
我聞琵琶已歎息,
又聞此語重唧唧。
同是天涯淪落人,
相逢何必曾相識。
我從去年辭帝京,
謫居臥病潯陽城。
潯陽地僻無音樂,
終歲不聞絲竹聲。
往近湓城地底濕,
黃蘆苦竹繞宅生。
其間旦暮聞何物,
杜鵑啼血猿哀鳴。
春江花朝秋月夜,
往往取酒還獨傾。
豈無山歌與村笛,
嘔啞嘲哳難為聽。
今夜聞君琵琶語,
如聽仙樂耳暫明。
莫辭更坐彈一曲,
為君翻作琵琶行。
感我此言良久立,
卻坐促弦弦轉急。
淒淒不似向前聲,
滿座重聞皆掩泣。
座中泣下誰最多,
江州司馬青衫濕




Hãy Lau Đi – Thơ

Hãy Lau Đi

1

Hãy
lau đi vết bụi quá khứ

Xóa
tan đi dĩ vãng đau buồn

Sự
đổi dời như cơn gió lốc

Cho
tiếng gào, than khóc điên cuồng.

2

Hãy
lau đi vết bụi chinh chiến

Pháo
hỏa châu thắp sáng đêm thâu

Bóng
chinh nhân nỗi buồn trăn trở

Cho
tiếng đời than khóc biển dâu.

3

Hãy
lau đi vết bụi đọa đầy

Song
sắt, gông cùm va đập nhau

Nghe
tiếng khóc than từ địa ngục

Dồn
dập thêm tiếng đập cơn đau.

4

Hãy
lau đi vết bụi cuộc tình

Em
đến bên tôi những hội xuân

Đời
có thêm một lần lỗi hẹn

Nhớ
thương nào để lại bâng khuâng.

5

Hay
thôi! để giọt lệ nấc nghẹn

Cho
tiếng buồn đau ở trong lòng

Một
thời đại tan từng mảng lớn

Lịch
sử còn đang chảy theo dòng.

6

Hãy
vui đi, hoa đời thưởng thức

Mong
thương yêu còn mãi chứa chan

Lay
động những tâm hồn mê sảng

Cho
tình yêu ve vuốt hỏi han.

AET. Lê Tuấn




Bài Thơ CHI LẠ RỨA

Bài Thơ CHI LẠ RỨA

Nguyễn Thị Hoàng

Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc,
Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn.
Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen,
Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.

Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!

Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi!

Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau!
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!

Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.

Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.

Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rứa hè, ai hiểu nỗi!

Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ?

Tui cũng muốn có một người tri kỉ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng!
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa

Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa,
Bởi vì răng tui có hiểu chi mô!
Vì lòng tui là mặt nước sông hồ,
Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.