Tháng Tư Người Xa Tôi

Tháng Tư Người Xa Tôi

Tháng Tư, người xa tôi
Tháng Tư, người về trời
Còn tôi giữa vũng đời
Một mình đứng chơi vơi

Tháng Tư buồn thở than
Nghe có lời nhân gian
Sẻ chia lời sầu tủi
Cho cuộc tình vừa tan

Tháng Tư mảnh khăn tang
Tháng Tư giòng lệ tràn
Bao nhiêu năm mật ngọt
Giờ cay đắng, bẽ bàng

Tháng Tư, người ngủ yên
Không còn chuyện nhớ quên
Hết oán hờn, buồn trách
Thôi than khóc, ưu phiền

Tháng Tư vuốt mắt người
Xong một cuộc tình tôi
Tiễn người về bên ấy
Tôi cũng tàn cuộc vui

Tháng Tư chút ăn năn
Còn trong tôi nợ nần
Bao ân tình đã nhận
Làm sao trả trăm năm

Tháng Tư người đi rồi
Bao thương nhớ khôn nguôi
Còn đây bài Tưởng Niệm
Lời trăn trối cho tôi.

Nguyên Khôi – Trần Ngọc Cư
22-4-2020




Nỗi Buồn

Nỗi Buồn

Nỗi buồn lên tiếng rồi im
Tình riêng thoáng hiện lại chìm trong mơ
Bóng tà dương sáng mập mờ
Chiều buông tắt lịm ngẩn ngơ chợt buồn.

Đời người gió cuốn mưa tuôn
Xa nhau từ dạo căng buồm gió xuôi
Chiều chiều ngồi ngắm mây trôi
Theo cơn đồng thiếp giải hồi oan khiên.

Gió lay hoa rụng ngoài hiên
Mùi hương gợi nhớ người biền biệt xa
Chiều buồn ra ngắm cành hoa
Xem mai chớm nở thấy già tuổi xuân.

Buồn ơi! Xin gửi phù vân
Cho dòng lệ chảy còn ngần dáng sương
Ngoài kia xe bụi phố phường
Nhắn người quên những đoạn trường thế thôi.

Lê Tuấn
“Thả hồn đi hoang vào thăm nỗi buồn, trong thời gian trống rỗng
nằm nhà tránh dịch bệnh Covd 19”




HỒN QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT LÊ NAM SƠN

HỒN QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT LÊ NAM SƠN

Nguyễn Phúc

Sông Lô Lê Nam Sơn tên thật là Lê Nam Sơn, sinh năm 1949 tại Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, quê quán Quảng Nam, sang Đức năm 1980. Có thơ in trong tập Thơ Việt ở Đức, tập 2.

Không hiểu sao, cứ mỗi lần chạm vào thơ lục bát là mỗi lần tôi chạm vào nỗi nhớ quê. Có lẽ, bởi thơ lục bát từ cái hồn quê mà sinh ra, mà hồn tôi lại được nuôi lớn từ lời ru của mẹ :
Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa sổ bay ra cánh đồng..
( Ca dao )

Ca dao lục bát – sáng tác dân gian hay thơ lục bát của các nhà thơ đã có từ rất lâu đời, và được ví như Quốc hồn dân tộc Việt. Thơ lục bát của người ở miền Trung, miền Nam, miền Bắc hay bất kỳ ở đâu, ta đều nhận ra trong nó cái hồn quê Việt. Khi tôi đọc thơ lục bát của Lê Nam Sơn với những câu:

Thèm nghe tí tách bếp hồng
Mái quê nhả khói mục đồng về thôn
Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn
Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi
( Trích – Chiều Hôm )

Thì lòng tôi bỗng trùng xuống một nỗi nhớ quê. Cái thèm của Lê Nam Sơn dội vào cái nhớ trong lòng tôi. Câu thơ chẳng có cánh cò, nhưng cánh cò lại vỗ cánh trong hồn tôi trên sóng lúa rập rờn, trong bóng hình mẹ tôi bên sông, con thuyền ai hun hút đi trong cơn mưa mùa hạ tối đất, tối trời…
Lê Nam Sơn quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Anh sang Đức năm 1980. Thành thực mà nói, tôi biết rất ít về thơ văn miền Nam trước năm 1975. Vì thế khi biết tin có các anh Đặng Lâm, Lê Nam Sơn, Lữ Du từ bên Tây sang tham dự buổi Hội tụ thơ Việt ở Đức, tổ chức ở Thành phố Chemnitz, tôi đã rất háo hức muốn được nghe thơ của các anh. Cần nói rõ hơn điều này, người Việt sống ở phía Tây nước Đức phần lớn là người miền Nam đến từ sau năm 1975, dưới dạng thuyền nhân. Có thể nói, đấy là những cuộc rời bỏ quê hương, ra đi trong thầm lặng, nhưng vô cùng khốc liệt với cả máu và nước mắt. Nó khác cái không khí náo nức, vui tươi của người dân miền Bắc sang lao động, theo ký kết giữa hai chính phủ Việt Nam và Cộng Hòa Dân Chủ Đức từ năm 1980. Do yếu tố lịch sử, nguồn gốc sự ra đi khác nhau, nên sự hòa hợp của người Việt giữa hai miền trong nhiều trường hợp vẫn là rất khó. Tôi vẫn nhớ lời chia sẻ của các anh sau đêm thơ: Thơ không làm chiếc cầu hoà giải, vì thơ vốn dĩ chưa bao giờ có biên giới. Chỉ có tấm lòng thành thực kéo chúng ta lại gần nhau.

Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với các anh. Thơ là tiếng của cõi lòng, hay nói cách khác là sự rung động của tâm hồn, mà hồn ta lại có trong hồn của dân tộc, của giống nòi. Có thế, ta mới cùng yêu được một làn điệu dân ca, yêu khúc hát ca dao và những câu thơ lục bát đã có tự bao đời…Và ngay đêm thơ ấy, qua giọng thơ ấm áp của anh Đặng Lâm, tôi được biết, được yêu thêm một Nguyên Sa, thi sỹ đầy chất trữ tình lãng mạn của miền Nam với bài Áo lụa Hà Đông. Có phải hồn quê đã thấm vào từng đường tơ áo lụa để Nguyên Sa viết Áo lụa Hà Đông giữa Sài Gòn lộng nắng. Và tôi cũng đã lặng đi bởi cái buồn đẹp đến nao lòng, phảng phất hồn thơ Bích khê trong cái sắc mầu huyền diệu của mấy câu thơ Lữ Du:

Rồi những buổi chiều mây vương mầu tím
Cho mắt anh buồn, trời đã vào thu
Sương thu mênh mang, lá vàng rơi rụng
Gió heo may, mưa sắc trắng, sa mù
(Trích, Điệp khúc bốn mùa)

Trở lại thơ lục bát của Lê Nam Sơn. Thơ lục bát thuộc thể thơ không khó làm nhưng khó hay. Điểm đặc biệt trong thơ lục bát của Lê Nam Sơn là bài nào anh cũng gửi được vào đó một chút tình, làm ta cảm động. Đọc thơ anh, ta không có cảm giác nhạt, loãng ấy là bởi anh biết chọn từ ngữ, hình ảnh bám rất sát tứ thơ trong bài, làm cho cấu trúc bài thơ gọn và chặt, nổi lên được cái điều anh định giãi bày. Cũng vì thế, đọc thơ Lê Nam Sơn bao giờ ta cũng lĩnh hội được một điều gì đó: Từ sự cám cảnh trước thân phận những cô gái làng, vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, một ngày bỏ mối tình quê, lặng lẽ theo tình khách thương hồ, sống một cuộc đời sông nước lênh đênh, vô định:

Thương ai như đám lục bình
Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng
Nông sâu, bồi lở, đục trong
Bến quê như thể mãi mong đợi người
Về đâu bèo dạt mây trôi
Về đâu sông nước ai người biết chăng
( Đò Dọc )

Đến chuyện cô gái trú mưa chợt đến, chợt đi như cơn mưa đầu hạ Sài Gòn, để lại trong lòng ta những bâng khuâng tiếc nuối. Đây là một bài thơ hay. Mỗi chúng ta trong cuộc đời, ít nhiều đều có những khoảng khắc rung động, bâng khuâng giống như tác giả. Thơ hay ở chỗ gợi chứ không tả. Câu thơ” Ờ sao em nép thế này”, hai chữ” Ờ sao” đã biến câu thơ thành lời tự vấn, chuyển lời thơ từ tả sang gợi, từ nhìn sang cảm. Từ đây, tác giả không nói sự việc bằng đôi mắt thường, mà từ những rung động của tâm hồn, khiến lòng ta cũng chuyển động cùng với chuyển động trong lòng của thi nhân:

Ờ sao em nép thế này
Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài
Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài…
Hạt trong văn vắt… hạt cài tóc em…
Tiếng mưa rả rích reo thềm
Nghe sao như tiếng ru êm bên mình
(Hạt mưa đầu Hạ )

Chính là tác giả biết lắng nghe chuyển động của lòng mình, để cảm xúc tràn lên những ngôn từ, nên thơ Lê Nam Sơn cảm động và có điều tinh tế. Thi sỹ nghe trong gió mầu lá bớt xamh, nắng nhạt bên thềm, nghe tiếng vọng của hồn thu đang về gõ cửa:

Hình như mầu lá bớt xanh
Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai
Nắng như nhạt sắc hiên ngoài
Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm
( Hình Như )

Thơ lục bát của Lê Nam Sơn thường mang tâm trạng buồn. Tôi không nghĩ tâm trạng ấy là hoàn toàn bởi cuộc sống tha hương, mà có từ một tâm hồn đa cảm. Ngay ở bài Hạt mưa đầu Hạ, chuyện ở Sài Gòn, hơi thơ đã phảng phất buồn, hoặc trong Đò Dọc, có gì ảm đạm hơn cảnh một con thuyền âm thầm rời bến, lặng lẽ trôi dưới màn trời lất phất mưa bay:

Mưa bay lất phất ngoài sông
Một con đò dọc âm thầm nhổ neo
( Đò Dọc )
Đến Hình Như và Chiều Hôm, không chỉ còn là nỗi buồn nhân thế, thi sỹ thấy mình bơ vơ, lạc lõng bất lực với cuộc đời:
Tà dương vỗ cánh chim trời
Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương
Nhớ gì bằng nhớ cố hương
Cô giang một mái chèo buông theo dòng
Buồn tay níu lấy thinh không…
( Trích -Chiều Hôm )

Con người ta khi phảỉ níu vào cái không thể níu: níu lấy thinh không, níu vào hư vô là chỉ khi lòng ta tuyệt vọng, tay đưa lên phía trời xanh cầu cứu thánh thần.

Tâm trạng buồn của thi sỹ đâu còn là của riêng anh nữa, nó là nỗi buồn của muôn vạn sinh linh trên trái đất này, khi phải rời bỏ quê hương, rời bỏ cái cái hồn quê, nơi chôn rau cắt rốn của mình…
Đã ba mùa thơ đi qua, ba lần được gặp, được nghe thơ của các anh, tôi lại phải mượn lời của ông Pascal: Tưởng kẻ viết là một nhà văn, không ngờ lại được gặp một người!

Chemnitz 23-4-2019
*****
Giới thiệu những bài thơ của Sông Lô Lê Nam Sơn…

  
Miền Trung với những cơn mưa dầm kéo dài ngày nhiều khi đến cả tuần mà chưa chịu dứt, mưa thì buồn lắm nhất là với kẻ sống xa nhà, nhà thơ Nguyễn Bính tha hương đến Huế đã không từng than thở là gì!

Giời mưa ở Huế sao buồn thế! 
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày 


Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với  ít nhiều thương cảm.
Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:


Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với  ít nhiều thương cảm.
Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:

Mưa từ đâu mưa về, làm muôn lá hoa rơi tả tơi…
Hoặc…

Mưa rừng ơi mưa rừng, tìm đâu hỡi ơi bóng người xưa…

Lớn lên vào Sài Gòn học, phải sống xa nhà, tháng 5, Sài Gòn sắp bước vào hè, thường thì không có mưa nhưng nếu có đi nữa thì mưa cũng không dài như mưa miền Trung, mưa ào một cái như trút nước chừng 15 hay 20 phút rồi dừng, khách qua đường gặp những cơn mưa bất chợt như thế thường thì chỉ vội tấp vào bất cứ hiên nhà nào bên đường để trú mưa. Những cảnh trú mưa này ít nhiều đã để lại những kỷ niệm đáng yêu đối với tôi. 

Bài thơ “Hạt Mưa Đầu Hạ” được tôi sáng tác với những tình tiết lãng mạng dưới đây cũng nằm trong cảnh trú mưa đáng yêu đó.

HẠT MƯA ĐẦU HẠ
Hạt mưa đầu hạ trên trời
Theo em mưa xuống hiên ngoài nhà ai
Chạy mưa bước ngắn bước dài
Hiên nhà bỗng chốc mấy ai mà đầy

Ờ sao em nép thế này
Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài
Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài…
Hạt trong văn vắt…hạt cài tóc em…

Tiếng mưa rả rích gieo thềm
Nghe sao như tiếng ru êm bên mình
Nép gần thêm nữa đi em
Mùi hương con gái dịu mềm là sao

Mưa đầu mùa mấy dài lâu
Mà sao tôi muốn dài lâu riêng mình
Trú mưa bao kẻ vô tình
Như cơn mưa bất thình lình đó thôi

Thế là đang lúc mưa rơi
Bỗng dưng chậm hạt chưa lơi đã dừng
Thế là mưa chẳng buồn vương
Hạt mưa đầu hạ dễ thường riêng ai

Bước em thấp thỏm vội rời
Ngoài kia trăm ngả bước đời về đâu
Tiếc chi những hạt mưa mau
Tiếc mà chi bước cơ cầu thế nhân

Chiều nay lất phất ngoài sân
Hạt mưa đầu hạ gieo vần thơ tôi

Trước khi hòa bình lập lại năm 1954, gia đình ba má tôi còn ở quê, thời gian này tôi đã được sinh ra và lớn lên dưới lũy tre làng, đã từng nghe tiếng ầu ơ hát ru của mẹ bên dòng sông nhỏ. Với tôi, lũy tre xanh là hình ảnh của một cái gì quen thuộc và thân thương mà tuổi thơ tôi đã trải qua.

Cho đến bây giờ dẫu nơi chốn tha hương tôi cũng không thể nào quên được những lũy tre xanh ngắt của quê nhà, những vòm tre mọc ở bên đường, ngọn tre đan vào nhau và vươn lên từng khóm như muốn ôm ấp mái nhà tranh nhả khói lúc chiều tà. 

Lũy tre xanh, vòm tre xanh là những từ nghe thật gần gủi, êm tai mang hơi hướm cỏ nội hương đồng trong âm vang lùa qua của gió. 

Có sinh ra và lớn lên ở làng quê mới thẩm thấu được trọn vẹn những hình ảnh của lũy tre làng. Bài thơ “Lũy Tre” tôi sáng tác dưới đây là hình ảnh chẳng những của quê hương tuổi thơ tôi mà còn là hình ảnh của quê hương một thời chinh chiến mà tôi đã trải qua.
Em lớn lên từ dưới lũy tre xanh
Dưới tiếng hát mẹ ru bên dòng sông nhỏ…

LŨY TRE
Lũy tre có tự khi nào?
Mà xanh xanh ngắt một màu tre xanh
Thân gầy cành lá xanh đan 
Cho thôn cho xóm nên làng tre ơi
Từ xa thấy lũy tre rồi
Càng thêm háo hức chân người về quê
Chang chang nắng đổ trưa hè
Mái tranh mát với bóng tre quanh làng
Bão bùng tre vẫn hiên ngang
Dẻo dai thân uốn chẳng màng lưng cong
Thẳng người nào chịu đứng khom
Dẫu cành lá vẫn ôm choàng lấy thân
Đời tre cúi xuống đời măng
Là truyền sức sống nuôi mầm tương lai
Những trưa nắng đổ đường dài
Thương người tre đứng miệt mài bóng che
Quê nghèo tre chẳng hề chê 
Đất cằn tre vẫn chẳng nề sinh sôi
Một đời bao bọc quen rồi
Một đời thân thiết với người với quê
Có gì phía sau lũy tre
Tình chòm xóm đã chuyền qua bao đời
Tre xanh thắm cả tình người
Thấm hồn dân tộc thấm lời quê hương

Ngày xưa, thời còn chinh chiến, tôi đã từng qua những, vùng sông nước miền Tây. Nói đến miền Tây, chắc ai cũng biết, nó là miền của sông nước mênh mông, với ruộng đồng sông lạch, vùng của Cửu Long Giang. Ở đây các hoạt động vận chuyển đều phụ thuộc vào thuyền bè trên sông nước. Có lần ngồi uống rượu chung với khách thương hồ trên những chuyến đò dọc tại một bến của dòng sông lớn, được nghe họ kể về những mối tình của họ dọc theo những bến sông mà thấy thương cảm cho những đời gái quê lỡ trao thân theo người tứ chiếng. Tôi sáng tác bài thơ này cũng vì cảm nhận đó.

ĐÒ DỌC
Em tôi bỏ chuyến đò ngang
Em theo đò dọc vô vàn xa xăm
Một lần em có về thăm
Rồi đi đi mãi biệt tăm không về
Nắng chiều thoi thóp bờ tre
Sao em quên vội lời thề với anh
Chắc làng ở cạnh dòng sông
Nên bao cô gái lấy chồng đều xa

Trai làng thì cứ thật thà
Ngêu ngao hát mãi bài ca chung tình
Thương ai như đám lục bình
Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng

Nông sâu, bồi lở, đục trong
Bến quê như thể mãi mong đợi người
Về đâu bèo dạt mây trôi
Về đâu sông nước ai người biết chăng

Mưa bay lất phất ngoài sông
Một con đò dọc âm thầm nhổ neo

HÌNH NHƯ
Hình như trời chớm vào thu
Tinh mơ đã có sương mù mong manh
Hình như màu lá bớt xanh
Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai

Nắng như nhạt sắc hương ngoài
Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm
Lâu nay ngỡ đã yên nằm
Ở trong cùng tận đáy lòng thu ơi

Vào thu chỉ để bao người
Buồn thu hiu hắt đầy vơi ít nhiều
Giao mùa chỉ để cô liêu
Giữa lòng nhân thế bao điều hư hao

Hình như có gió lùa vào
Cửa phòng tôi mở lúc nào chẳng hay

CHIỀU HÔM
Tà dương vỗ cánh chim trời
Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương
Nhớ gì bằng nhớ cố hương
Cô giang một mái chèo buông theo dòng

Buồn tay níu lấy thinh không
Lao xao con nước thì thầm đuổi nhau
Xa xanh xanh ngắt một màu
Đục trong mấy bến nông sâu mấy dòng

Thèm nghe tí tách bếp hồng
Mái quê thở khói mục đồng về thôn
Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn
Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi

Thèm trong nỗi nhớ chơi vơi
Trong từng hơi hướm ngọt bùi quê hương
Giật mình tóc đã điểm sương
Tàn cơn rong ruổi còn vương bụi hồng

Chiều hôm phủ xuống mênh mông
Quyện vào nỗi nhớ ngập lòng bên song.

GẶP LẠI 
Bao nhiêu vật đổi sao dời
Tan đàn xẻ nghé dập vùi bao phen
Tình cờ ta gặp lại em
Xứ người lưu lạc ngỡ quên nhau rồi
Cũng may còn chút gì rơi
Rớt trong ánh mắt nụ cười ngày xưa
Tóc em sợi nắng sợi mưa
Nét mai ra vẻ xế trưa cũng nhiều
Giữa dòng lưu lạc gieo neo
Thương em tay chống tay chèo lẻ loi
Thơ Kiều lục bát nổi trôi
Có vần nào vận vào đời em chăng
Nợ dâu tội nghiệp thân tằm
Em tôi dang díu nợ nần hồng nhan
Cũng trèo leo với đa đoan
Để rồi trật vuột dở dang nửa chừng
Để rồi nhắm mắt đưa chân
Để rồi lặn hụp giữa dòng mông mênh
Nhìn em rồi ngắm lại mình
Cũng trôi nổi cũng lênh đênh theo dòng
Quê nhà một ngóng hai mong
Hỏi thu thu đợi hỏi đông đông chờ
Hỏi xuân xuân quá hững hờ
Hỏi tình lưu lạc ngu ngơ đáp lời
Nhìn nhau hai đứa cùng cười
Mà nghe thấm thía chiều ơi..! Xứ người

MẸ QUÊ
Thương hoài bà mẹ Việt Nam
Mong con mắt lệ mỏi mòn bao năm
Chiều nay ngoài chốn xa xăm 
Có đời lưu lạc nhớ thầm mẹ quê
Thân cò dầu dãi nắng mưa
Dâu tằm trút mãi sớm khuya tảo tần
Đời con lưu xứ bao năm
Đâu bằng đời mẹ nhọc nhằn mấy mươi
Nuôi con từ thủa nằm nôi
Từ lời ru mẹ à…ơi… ngọt bùi
Mẹ vui khi thấy con cười
Con buồn mẹ lại đứng ngồi không yên
Dạt dào tình mẹ triền miên
Mẹ là tất cả của niềm thương yêu
Mẹ tôi nay đã về chiều
Mà sao mắt mẹ vẫn nhiều lệ rơi
Mưa nhiều ướt lá mồng tơi
Ướt con đường dốc một đời mẹ qua
Mưa nhiều ướt áo bà ba
Ướt màu tóc mẹ phôi pha sắc trời
Con đi mưu chuyện lỗ lời
Héo hon mẹ đợi cuối đời chưa thôi
 

RA ĐI

“Ra đi là sự đánh liều
Nắng sớm ai biết mưa chiều ai hay” (1)
Ra đi cho đó xa đây 
Cho nghe biết mấy lòng đầy gió sương
Ra đi là sự cùng đường
Tìm trong tắc biến dễ thường mấy ai
Ra đi nào biết ngày mai
Thương quê cũng mặc, thương ai cũng đành
Ra đi tóc vẫn còn xanh
Giờ thì tóc đã đổi thành muối tiêu 
Dõi về quê cũ thân yêu
Sông xa mấy khúc, chim kêu mấy ngàn
Tháng năm thương nhớ vô vàn 
Ngẫm đời lưu lạc mà càng thương thân
Sông xưa chắc đã thay dòng?
Người xưa giờ biết đục trong bến nào?
Tìm về trong giấc chiêm bao
Chập chờn hình bóng thủa nào phôi phai
Bạn bè còn mất những ai
Hỏi ra mới biết còn vài đứa thôi
Ai đi về phía quê tôi
Làm ơn cho nhắn vài lời nhớ thương
Ngóng về cố lý mờ sương
Nghe bao sầu nhớ còn vương cuối chiều

(1) ca dao

VỘI                

Cho bà xã Thu Nga 

Em ơi, đừng vội vã già (1)
Trăm năm dẫu ngắn cũng là trăm năm 
Khuyết tròn trăng vẫn là trăng 
Đời cho được mấy nhiêu rằm làm riêng


Em ơi, đừng vội vã phiền
Tình ta mấy lúc mà nên đá vàng
Trách chi chút nghĩa cũ càng
Mấy ai giữ mãi bóng vang một thời


Em ơi, đừng vội ngậm ngùi
Cứ tìm hưng phế cuộc đời mà yêu
Mai kia mốt nọ xế chiều
Thôi em tưởng tiếc ít nhiều mà chi


Nghe em đừng vội làm gì
Cứ thong thả bước mà đi với đời
Dẫu qua bao cuộc đổi dời
Mãi luôn đằm thắm nụ cười nghe em

(1): trích câu thơ Nguyễn Duy

EM GÁI

Hôm qua hạnh phúc đến tìm

Ân cần gõ cửa sao em vắng nhà

Đường lầy em muốn đi xa

Lối trơn em thích vượt qua một mình

Đùa dai dẳng với ái tình

Rồi đem chuyện bất thình lình cợt chơi

Thế là sau mỗi trận cười

Em tôi lệ đẫm đầy vơi má đào

Nhưng rồi em quẹt lệ mau

Thay hương thay phấn đổi màu son môi

Bao nhiêu lần thách thức đời

Bấy nhiêu lần tóc dần phôi phai dần

Thản nhiên xem cứ như không

Em đong em đếm tình gần tình xa

Tình này chẳng mấy thiết tha

Tình kia ừ chỉ mặn mà thế thôi

Quỷ tha ma bắt em tôi

Cứ như giỡn hớt đùa chơi cuộc đời

Chiều nay mưa gió tơi bời

Em tôi bèo giạt hoa trôi nữa rồi

ƯỚC GÌ
Ước gì ôm được quê hương
Vào lòng cho thoả nhớ thương cõi lòng
Ngỡ rằng cách núi ngăn sông
Ngỡ rằng xa mặt cách lòng quê ơi
Càng xa càng nhớ khuôn nguôi
Thiết tha như nỗi nhớ người tình chung

Đôi khi hạnh phúc vô cùng
Trong dòng suy tưởng mông lung tìm về
Chỉ là lắt lẻo cầu tre
Hiu hiu ngọn gió trưa hè con sông
Chỉ là những mái nhà tranh
Chiều về nhả khói quây quần bên nhau
Chỉ là nhịp võng đêm thâu
Mẹ ru con giấc ngủ sâu êm đềm

Bao nhiêu nỗi nhớ không tên
Bấy lâu nay tưởng ngủ quên trong lòng
Thời gian cùng những hoài mong
Là niềm trắc  ẩn mảnh lòng tha phương
Ước gì hôn được quê hương
Như là từng được hôn em thủa nào
Để tôi hôn ngọt hôn ngào
Sông dài biển rộng biết bao nhiêu tình

Ước gì quê ở bên mình
Để trang trải mối u tình với quê
Để cười để nói mải mê
Để lòng tôi thấy hả hê với đời
Để tôi rủ nắng trên trời
Xuống đây sưởi ấm tình người phương xa
Để nhìn chiếc áo bà ba
Bên dòng sông Cửu chan hoà nắng quê
Để nghe rộn bước chân về
Ba mươi sáu phố phường xưa xa nào
Để tôi chẳng hiểu vì sao
Câu thơ lục bát đi vào nón em
Chiều về nắng đổ nghiêng nghiêng
Vàng phai tà áo dài em trên đường

Ước gì làm được khói sương
Để tôi quyện với Trường Sơn, Thái Bình
Im nghe con nước thề nguyền
Núi mòn biển cạn vẫn tròn thuỷ chung
Ước gì làm được dòng sông
Chảy về hợp với Cửu Long, Hồng Hà
Căng bầu sữa mẹ phù sa
Nuôi hai bồ lúa quê nhà bội thu
Xoá tan đi lớp sương mù
Đói nghèo quanh quẩn cầm tù quê hương

Ước gì thấy được quê hương
Như là từng thấy tuyết sương xứ người
Sài Gòn, Hà Nội, Huế ơi !
Ở đây chỉ có một trời nhớ thương
Chân đi khắp lối cùng đường
Vẫn chưa đi nổi một phương quê nhà

Bôn ba khắp nẻo đường xa
Hôm nay cảm thấy nhớ nhà làm sao




Corona siêu vi thật nhỏ

Corona siêu vi thật nhỏ

Có một loài siêu vi trùng thật nhỏ
Nó đến đây làm đảo lộn lòng người
Mắt trần tục chúng ta không nhìn thấy
Quyền năng của nó thay đổi trong đời.

Nó áp đặt thêm nhiều quy tắc mới
Đeo khẩu trang và ghi nhớ rửa tay
Nó ra lệnh phải nằm nhà cô lập
Nếu ra ngoài, khoảng cách nhớ chia ngay.

Nó giúp ta nhận biết thêm thời gian
Nhiều đến mức không biết phải làm gì
Những người con bắt đầu hiểu cha mẹ
Biết yêu thương, đùm bọc lấy gia đình.

Nó ra lệnh mua thật nhiều thực phẩm
Cùng nhau vơ vét dọn sạch cửa hàng
Cả loài người là nạn nhân của nó
Thật bình đẳng không phân biệt sang hèn.

Nó là con vi trùng nhỏ xíu đó
Nhưng quyền năng thì rộng lớn vô cùng
Trong im lặng con người cùng tâm trạng
Nỗi sợ hãi phân định thật đồng đều.

Corona, loài siêu vi thật nhỏ
Đến nơi này làm thay đổi bao điều
Sự sống chết loài người bỗng thức tỉnh
Thân phận người, nhỏ bé biết bao nhiêu.

Lê Tuấn
“Vần thơ nằm nhà tránh dịch bệnh”




NHỚ HOÀI CẢNH CHỊ XOÁY THEO DÒNG NƯỚC

Người em trai “nàng thơ” bảo rằng suốt mấy chục năm trời, cả gia đình không ai dám đọc, dám nghe bài thơ Mầu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự “rờn rợn” và nỗi đau đớn tiếc thương.

Từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi tìm về ấp Thị Long, huyện Nông Cống – nơi được ghi “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” nằm lại.

Bất ngờ qua điện thoại, ông Nguyễn Hữu Đán bảo: “Mẹ già tôi không nằm ở Nông Cống. Mẹ đang nằm ở nghĩa trang làng Định Hòa ở thành phố Thanh Hóa, cũng là quê của bà”.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 1.

Làng Định Hòa thuộc phường Đông Cương, nằm cách cầu Hàm Rồng vắt qua sông Mã non ba cây số đường chim bay.

Tìm đến nhà thờ họ Lê Đỗ, ông thủ từ Lê Đỗ Dạng say sưa giới thiệu về ngôi nhà thờ cổ ba gian chạm trổ công phu được làm từ thời Khải Định, là nhà thờ cổ hiếm hoi, gần như duy nhất còn lại trong vùng.

Bên bảng phả hệ treo trên bức tường, ông diễn giải ngài tổ Lê Thành đến đất Định Hòa lập ấp từ mấy trăm năm trước, vốn là công thần nhà Lê Trung hưng được ban quốc tính nên con cháu về sau lấy họ Lê Đỗ.

Bảng phả hệ thể hiện người cha Lê Đỗ Kỳ đời thứ 17, bà Ninh đời 18.

Nằm cách khu dân cư Định Hòa một cánh đồng rộng trồng nhiều hoa hồng và rau màu tươi tốt, nghĩa trang họ Lê Đỗ được xây dựng qui mô với hàng trăm ngôi mộ xếp theo thế thứ.

Phần mộ “nàng thơ” nằm ở dãy thứ sáu, tấm bia ghi rõ: “Mộ chí bà Lê Thị Ninh, đời thứ 18, sinh năm 1932, tạ thế 29-4-1949”.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 2.

Sau khi thắp hương, ông Dạng dẫn chúng tôi vào làng tìm gặp ông Lê Đỗ Tùng, trưởng ban điều hành dòng họ.

Ông Tùng là cán bộ về hưu, không biết có người trong họ vốn là “nàng thơ” dù ông rất thích bài thơ Mầu tím hoa sim. Ông “hi vọng” nhiều thông tin sẽ nằm trong gia phả mà mình lưu giữ.

Chúng tôi lần giở bản gia phả trong sự hồi hộp, bỗng “bắt phải vàng” khi ở đời thứ 18, mục 238, ghi rõ rành: “Lê Thị Ninh, tức Lê Đỗ Thị Ninh (1932-1948, giỗ ngày 29-5), cha: Lê Đỗ Kỳ, mẹ: Đái Thị Ngọc Chất, chồng: Nguyễn Hữu Loan (nhà thơ, 1916-2010), mộ ở làng Định Hòa”.

Thông tin trong gia phả dù vài độ lệch về ngày tháng nhưng khẳng định rõ phần mộ kia chính xác là “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” của thi sĩ tài hoa Hữu Loan.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 4.

Nhờ ông Tùng, chúng tôi liên lạc với ông Lê Đỗ Bình – em trai “nàng thơ” – và chốt cuộc hẹn tại Hà Nội.

Ngồi trên phiến đá xanh trước đền Ngọc Sơn bên hồ Gươm, ông Bình kể nhiều về một thời loạn lạc tứ tán. Từ đầu năm 1947, tiêu thổ kháng chiến, ngôi nhà lớn ở Thanh Hóa bị giật sập, cả gia đình sơ tán lên ấp Thị Long sinh sống, nơi người bố có trang trại rộng chừng 5 – 7 mẫu.

Đến đoạn, giọng ông chùng nghẹn xuống, nhắc hình ảnh người chị xoáy trôi theo dòng nước suốt mấy chục năm vẫn mãi trong tâm trí.

“Sông Chuồng hôm ấy đang mùa nước dữ, nước chảy xiết, dâng cao. Mẹ tôi cùng chị Ninh đưa quần áo ra bến giặt, tôi và hai đứa em nữa theo sau. Chị Ninh không may bị trượt chân, tôi nhìn rõ cảnh chị bị dòng nước xoáy cuốn vào và đưa đi.

Mẹ tôi la hét gọi người đến cứu nhưng vì dân ở cách xa, không ai nghe thấy. Mãi lúc sau, một thanh niên xuống vớt chị lên, cách chỗ trượt chân khoảng chừng trăm mét. Mẹ tôi bất thần không biết gì nữa” – ông Bình kể.

Tang trùng tang, bà Đái Thị Ngọc Chất đau đớn tột cùng bởi người mẹ ruột sống cùng mình cũng qua đời trước đó không lâu. Bà cho an táng con gái cạnh người mẹ.

Mãi đến năm 1967, bà sai ông Bình về Thị Long tìm mộ mẹ và con gái đưa về cải táng đầu làng Định Hòa. Sau này khi Trường cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa xây dựng, phần mộ bà Ninh tiếp tục được dời đến nghĩa trang gia đình.

Trong câu chuyện dài, ông nhớ mãi hình ảnh người chị gái có “khuôn mặt khá bầu, người hơi đậm, thấp và nhỏ nhắn” và ngậm ngùi vì di ảnh duy nhất bị thất lạc trong chiến tranh.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 5.

Sau đợt cải cách ruộng đất 1954, ông Bình tìm về Vân Hoàn ở cùng anh rể hơn 1 tháng mới ra Hà Nội.

Ông nhớ mãi Hữu Loan hồi đó “suốt ngày đọc sách rồi đi ra đi vào, viết lách làm thơ. Thỉnh thoảng anh đưa tôi đi về mấy xóm chài xem họ xiếc tép, làm cá. Cái thời cơm gạo khó khăn, hai anh em ăn toàn khoai lang”.

Sau đó không lâu, khi Hữu Loan đang làm báo Văn Nghệ, ông Bình cũng tìm đến nhà anh rể gần Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở lại 2 tuần để chờ một người anh từ chiến khu trở về.

Năm 1985, ông Bình lại về thăm anh rể ở Vân Hoàn, giai đoạn bài thơ Mầu tím hoa sim “đã công khai, nổi tiếng như cồn”. Ông kể: “Anh Loan bảo tôi: “Người ta sẽ đến đây tìm mộ nàng thơ Mầu tím hoa sim. Tôi muốn đưa mộ bà Ninh về Vân Hoàn này”.

Tôi trả lời anh rằng chị gái đã bị di dời nhiều lần, nay đã mồ yên mả đẹp. Vả lại anh bây giờ đã yên bề gia thất, mười đứa con sum vầy, có người chăm sóc. Đưa chị về đây cũng cô quạnh lắm, chẳng nên chút nào”.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 6.
Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 7.

Ông Bình kể khi còn sống, mẹ không bao giờ cho nghe bài thơ Mầu tím hoa sim. Hễ ai đọc lên là bà khóc. Mãi sau khi mẹ qua đời (1987), anh em trong gia đình mới đọc và nghe các bài hát phổ thơ, vậy mà không lần nào không rơi nước mắt.

“Bây giờ chúng tôi già rồi, “trơ” ra rồi, vậy mà đọc còn thấy đau xót lắm, bởi anh Hữu Loan viết tình cảnh rất thật. Ba người anh đi bộ đội, người em chưa biết nói đều có.

Còn đồi sim, trong trí nhớ tôi hồi ấy nơi trang trại ở vùng bán sơn địa Thị Long, màu tim tím cứ trải dài đến tận núi. Rồi những hình ảnh mẹ tôi “ngồi bên mộ con đầy bóng tối”, “bình hoa ngày cưới thành bình hương”… tất cả đều thật hết” – dừng kể, ông khẽ đọc những câu thơ trong nỗi buồn miên man.

Câu chuyện gia đình Hữu Loan lẫn gia đình “nàng thơ” Mầu tím hoa sim cho biết Hữu Loan luôn thương, kính và biết ơn người mẹ vợ Đái Thị Ngọc Chất.

Tuy nhiên, theo ông Bình, có lẽ vì hai bên “có khác nhau” nên ít liên lạc. Đến khi người mẹ mất ở Hà Nội, gia đình ông cũng không báo.

Khi biết tin, Hữu Loan đã làm đôi câu đối vừa thể hiện dâng mẹ, vừa ẩn ý trách cứ:

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 8.
Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 9.



TỪ ĐỨA BÉ ĐẺ RƠI ĐẾN BÀI THƠ TÌNH THẾ KỶ

Chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa kể đã lan truyền rất lâu ở làng.

Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi đi khoảng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn. Từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.

Nép bên sườn núi, nhìn ra sông Mã, chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 1.

Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại.

Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.

Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào.

Nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông “khoe” ngay: “Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu”.

Vừa nói, ông Dũng vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 2.

Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng.

Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn. Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Lê vào tới thềm chùa thì bà sinh rớt con ngay ở đó.

Sư trụ trì ngày ấy nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.

Cậu bé Hữu Loan lớn lên với trí thông minh, học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào “điềm trời”.

Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan tỏa sáng khi đỗ “tú tài Tây” tại Hà Nội, bằng cấp thời ấy rất hiếm người đạt tới.

Chỉ cần có bằng tú tài là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời, nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 3.
Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 4.
Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 5.

Trong suốt hành trình chúng tôi tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.

Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 6.

Là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên bà Tham Kỳ giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc…

Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, bà Chất đã mời Hữu Loan về dạy kèm cho ba con trai của mình.

Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là cô bé con.

Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính cô con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi.

Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.

Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: “Bố tôi kể sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa.

Vô tình thấy cụ đang diễn thuyết, lúc đó là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, mẹ Ninh đã tháo ra hết ủng hộ cách mạng.

Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: “Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ”.

Là phụ nữ, biết “bệnh” tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến “anh Loan”.

Sẵn mối cảm mến đặc biệt với thầy giáo và biết được tình ý của con gái, bà Tham Kỳ đã viết bức thư rồi sai người cậu tên Ngân chuyển vào nơi Hữu Loan đóng quân.

Nội dung nôm na: Cái Ninh nhà tôi nó khen anh lắm, hôm nọ vì anh mà nó tháo hết vàng bạc để ủng hộ cách mạng. Nó nhắc anh suốt. Nếu anh có ưng thì gia đình sẽ gả Ninh cho anh, đồng ý thì anh về sớm…

Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất các con về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách thành phố Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc.

Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:

“Ngày hợp hôn

Nàng không đòi may áo cưới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

Bên anh chồng độc đáo.

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi!”.

Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn.

Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: “Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh”.

Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 7.

Sau thời gian “truyền tụng ngầm”, bài thơ Mầu tím hoa sim lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến “quy kết” bài thơ là “thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản”, được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con.

Ở miền Nam, tác phẩm Mầu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim.

Đến năm 2004, Mầu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng…

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 8.