CA KHÚC “CÕNG ĐỜI”| Thơ sa Chi Lệ | Nhạc: Duy Tuấn – Ca sĩ Ngọc Thức & Thơ “TÌNH HOA BƯỚM” | Sa Chi Lệ viết & diễn ngâm




CHÙM “ĐƯỜNG THI TỰ TRÀO” – CAO BỒI GIÀ

TỰ TRÀO I

Thành tích xòe tay chẵn số không

Ương ương, dở dở đúng là ông

Bảo thua phải gật: muôn lần tủi

Rằng kém thì cười: Khối kẻ mong

Chợ chạy loi choi, hào lẻng kẻng

Thơ đề chua chát, giọng ngang ngông

Tóc vừa lốm đốm, râu tranh bạc

Nỗi khổ bờn ra…chất mấy chồng !

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO II

Những tưởng ông cao, dáng ngất nghêu

Ai ngờ ốm đói hóa ra khều

Tài hèn bạc số, lời than trách

Đức mỏng đen phần, miệng cả kêu

Tự đắc hơn người quê xứ mán

Tự ti sợ kẻ gốc dân liều

Nhùng nhằng cũng vượt tri thiên mệnh

Cà giựt lai rai, vẫn thở …đều !

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO III

Vốn dĩ hình dong đã khó ưa

Nên ai cũng tránh , thấy là chừa

Bờn gan ắp ngữ vần hư ảo

Rút dạ toàn lời lẽ cổ xưa

Độc ẩm …khà an : rằng vì bở,

Cô ngâm …hơ nhủ : chắc tại dưa!

Khổ qua một trái ru sầu muộn

Chép miệng hơi men mãi chửa vừa

 CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO IV

Kẻ ghét, người thương kể … cũng nhiều

Ghét nhiều chắc bởi tính hay điêu
Tai lia nghênh ngóng, nơi nơi kháo
Mắt đảo xem soi, chốn chốn khều
Xát vị cay cay lời háy hóm
Thêm phần ngọt ngọt tiếng cười trêu
Ô hay ai dạy cho mình nhỉ
Chắc tại Trời sinh … tớ lắm điều!
CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO V

(Thể Điệp Ngữ)

Tẩm ngẩm tầm ngầm tuổi tác tôi…

Bạc phơ bạc phếch mái đầu rồi

Nhếu nha nhếu nháo nhai cơm nát

Sởn ốc sởn gai sợ gió trời

Bổng bổng bay bay văn chữ tí

Hùng hùng tráng tráng phú thi thôi

Vớ va vớ vẩn đi khoe lếu

Nhẩm nhẩm ngâm ngâm lại cả …cười !

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO VI

Thằng tớ Trời cho chỉ tẹo …gan

Sợ ma hãi quỷ vốn …vô vàn

Thấy “ma ăn cỗ”, mồm   khôn …ngậm

Nhìn “quỷ bày mưu”, lưỡi khó …cầm

Đành lấy mực đen  bôi chúng nhuốc

Lại đem thơ  vụng múa môi càn

Cô hồn sống đọc,  cười ha hả:

Mày cũng khá à , chớ chả …hâm!

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO VII

Cái số thằng ta khổ …ối chao
hay  lời thầy bói nói tào lao?
Mệnh vô chính diệu, hung đeo mãi !
Phước bất trùng lai, cát thể nào ?
Hóa lộc,Lộc tồn, chưa phất nhỉ !
Địa không, Địa kiếp sẽ ra sao ?
Kiếm đâu thầy giỏi xem theo ý
Để tớ cười vui ,hứng …tự trào. !
CAO BỒI GIÀ

*

TỰ trào VIII

Cảm tạ ơn Trên vẫn thở đều

Dở ngon mỗi bữa cũng vài sêu

Ương gàn, nên hứng bao lời đả

Xấu xí, may còn lắm kẻ …yêu

Lòng trí buồn vui  mây, nắng, gió…

Thơ văn tung tẩy sớm, trưa, chiều

Ngẩn ngơ ôn cố, thời xa lắc…

Ơ lệ tuôn theo tiếng sáo diều

CAO BỒI GIÀ

TỰ TRÀO IX          

Bảy chuyện, tám điều cứ thích ngông

Nửa thầy , nửa thợ đích là ông

Cười khinh lắm  kẻ chê thằng dở

Ngứa ghét nhiều anh bảo lão cuồng

Thủng thỉnh ca ngâm lòng tự tại

Điềm nhiên  thơ thẩn dạ thong dong

Men say độc ẩm mình ta thú

Mặc thế quên đời chả tẹo cong !

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO X

Dăm hôm vật vã được “Thiên Thần…

Áo Trắng” quanh mình cũng ủi an

Sức kiệt đà lo đành mãn kiếp

Mạng già những tưởng đã tàn …thân

Thóp thoi vậy chứ chưa toi được

Cà giựt thế mà vẫn sống nhăn

Tấp tểnh đời dù quanh miệng lỗ

Ngoác mồm ha hả, lại cười …vang!

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO XI

Mấy bận tưởng như bỏ mẹ đời

Úi chà, Thần chết chỉ đùa chơi

Chắc vương lắm nợ chưa cho thoát

Hẳn mắc nhiều duyên chửa thể hồi

Ngũ thập còn xanh, sao vội rụng 

Lục tuần chửa lão,  phải lì cười

Thôi thì khấp khểnh mà vui sống

Trả nghĩa, đền tình đủ mới xuôi .

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO XII

Chắc các Cụ chơi chữ cũng chê
Thương thằng táo tợn tính ti toe
Tung tăng, thơ thốt, tim ta thán
Rôm rả, rượu rồi, ruột rủ rê
Văn vẻ vo vần, vần vụng vẹo
Thi từ tìm tứ, tứ tòe toe
Khéo khen khoang khoét, không kinh khiếp
Đáng để đời đè, đả đập đe!
CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO XIII

Nghĩ cái thằng ta cũng tức cười

Đã già còn cứ mải mê chơi

Đôi vần ngớ ngẩn khoe lao bạn

Dăm tứ khùng điên chọc ngứa đời

Rượu uống khật khừng còn thách đố

Thơ làm ngọng nghịu cũng ngông phơi

Nhiều khi nghĩ lại, lòng then thẹn

Nhưng tật đa mang, … lại cả cười !!
 CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO XIV

Thấy người vác cuốc đi đào sắn

Theo bước cầm mai, ta dãi nắng

Mê thích Tú Xương múa viết tài

Học đòi Nguyễn Khuyến vung ngòi nhắng

hoài đâm, Đình Chiểu bút không tà

mới chước, Cao Bồi thuyền đã đắm

rõ khổ tài hèn, mót được ai… 

ngồi buồn ngậm cán, mồm nghe …đắng!

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO XV

 (Ngũ Độ Thanh – Vận Trắc)

Chết khổ vì đâu mà nghiện chữ?

Vần ngang, giọng ngổ y thằng …lú…

Ngông cuồng vọc cả phú thời xưa

Mụ mẩn chơi toàn thơ lối cũ

Ngã hỏi hoàn ngôn, dạ sướng điên

Vô huyền gọt ngữ, lòng vui thú

gìn niêm, giữ đối chỉnh ôi chà…

nghĩ quẩn,  chưa già ta hóa …cụ!

CAO BỒI GIÀ

*

TỰ TRÀO XVI

(Bát Vĩ Đồng Âm)

Bật cười phát chán gã Cao tôi

Thiên mệnh từ lâu tỏ hết rồi

Da dẻ nơi thừa  nơi mốc mối

Tóc tai đốm xám đốm phau vôi

Ngang ngông chữ nghĩa hay cầy cối

Trào phúng văn thơ khoái nhạo bồi

Ngán ngẩm chuyện đời bao rắc rối

Ru sầu lại nốc cạn dăm bôi.

CAO BỒI GIÀ




CHÙM TÌNH THƠ CAO MỴ NHÂN & Bài Viêt “HUYỀN THOẠI 12 – 6” Của Nữ Sĩ.

MẦU DIỄM TUYỆT.    CAO MỴ NHÂN
 
Hỡi em thơ, mầu yêu thương diễm tuyệt
Đã trải vàng trên vạt cỏ mênh mông
Từng cánh lá âm thầm chào giã biệt
Tưởng tượng thôi, ta bước tới vô cùng
 
Em ngại ngùng ngó không gian mầu tím
Khiến ngỡ ngàng tất cả nhớ nhung xa
Thì vẫn thấy đất trời thường giấu giếm
Những cuộc tình tươi thắm nở ngàn hoa
 
Dù thủa trước hay thời sau lỡ dở
Vẫn cùng thơ tâm sự nỗi đau đầy
Dù buồn nản, hay đôi khi hớn hở
Vẫn cùng em thả chữ nghĩa trên tay
 
Vàng thu ơi, mây cũng vàng như áo
Một lúc nào nín lặng chuỗi ngôn từ
Bước chân em thoáng rộn ràng tiếng sáo
Đang rơi vào quá khứ của mộng mơ…

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

ANH TRỐN EM.    CAO MỴ NHÂN

Kính bái Người vừa mệnh chung. 

Anh trốn em mười năm tuổi mộng

Thôi đành rồi, cát bụi phù du

Tưởng lần nào gác bỏ thiên thu

Song lại thấy thơ là suối lệ

Anh trốn em mười năm tuổi lẻ

Giả vờ nhìn tháng lặng, ngày câm

Thực tình thì ân nghĩa phù vân

Nên chẳng muốn thiết tha thổ lộ

Anh trốn em mười năm hội ngộ

Mười năm chờ thập kỷ còn xa

Nụ tình buồn, chẳng thể tươi hoa

Thôi đấy nhé, không phiền khổ luỵ

Anh trốn em sầu chung, xót thuỷ

Không cần đâu kiếp tới phân bua

Anh đi nhé chín mươi xuân quý 

Đời trả cho tình thiệt, tuổi thua …

Hoa Thôn  22 – 5 – 2022.

        CAO MỴ NHÂN 

CHIM NGƯNG TIẾNG HÓT.    CAO MỴ NHÂN 

Chưa hết mùa xuân 

Sao trên đỉnh núi 

Có con chim nằm

Hót lời bối rối

*

Hạc không bay cao

Thân chim xà thấp 

Hoa cỏ xôn xao

Mùa xuân biến mất

*

Nắng giữa trời trưa 

Núi xanh mộng biếc

Nước mắt như mưa

Rơi hoài thảm thiết

*

Anh nói với em 

Chim ngưng tiếng hót

Anh cũng như chim

Hồn đau giá buốt…

     CAO MỴ NHÂN 

 NGHE CHIM KHUYÊN HÓT.     CAO MỴ NHÂN 

Anh giữ tiếng cho em

Giọng chim khuyên buồn tủi 

Nghe mê đắm lời tim 

Những giọt buồn thống hối 

*

Dẫu rằng anh không nói 

Mặt trời khóc trong mơ

Cả tuần em trông đợi 

Anh tới để làm thơ 

*

Làm thơ có gì vui 

Anh thương em ngậm ngùi 

Tình ơi, sao khắc nghiệt 

Si dại mãi không thôi

*

Chim vẫn hót chơi vơi

Trong bao la diễm tuyệt

Anh là cả bầu trời

Em tôn sùng quí mến … 

*

Đã xa rời khổ luỵ 

Dù nhịp tim vơi đầy 

Khi nghe vành khuyên hót

Em tỉnh giấc tình say…

    CAO MỴ NHÂN  

HUYỀN THOẠI  12-6.    CAO MỴ NHÂN 

     Có thể nói không bài thơ hay nào, không của một thi sĩ giỏi. 

Và, không thi sĩ giỏi nào không có một huyền thoại đẹp .

Thí dụ sáng giá nhất là huyền thoại ” Tố của Hoàng ơi ” của thi sĩ lãng mạn Vũ Hoàng Chương, nhà thơ tình cảm bão lũ mưa cuồng, thoạt nghe thì khó chịu như bị ” nội thương ngoại cảm “, nhưng đọc lâu rồi, có vẻ khách thơ cũng lặng yên, thở dài thương cho một mối tình tưởng thấp thoáng,  hoá trầm kha,  nan y chi lạ. 

Giai thoại thơ ” Tố của Hoàng ơi” có 2 bài chính:

1/ Mười Hai Tháng Sáu 

2/ Tố Của Hoàng Ơi. 

      Tìm một ý có vẻ giới thiệu cuộc tình thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cứ như là giận lắm mối duyên gãy đổ của mình, nhà thơ viết : 

Năm mười hai tháng, ai không biết

Đã tháng nào không tháng sáu chưa? 

Đây là 2 câu trong một đoạn thơ ở bài sau, ” , Tố của Hoàng ơi ” tác giả viết năm 1972, và còn khẳng định thời gian đã trên 30 năm không có Tố, tức là khởi sự Tố với Hoàng kết thân khoảng từ 1950 đến 1952.

Bây giờ đi vào chi tiết . 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương ( 5/5/1916 – 6/9/1976), cụ vừa xong hoa giáp thì ra đi vào cõi mịt mù, sau cũng cả năm trời bị CSVN nhốt trong khám Chí Hoà, vì là một nhà thơ trí thức tiểu tư sản, lẽ nào bạo quyền duy vật để cụ yên. 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cùng với Thi sĩ Đinh Hùng, 

( 1920- 1967 )  em cụ bà Vũ , là 2 nhà thơ lãng mạn nổi tiếng một lượt với  các thi sĩ tiền chiến Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, nhưng nhị vị thi sĩ đương nêu không theo cộng sản , hai thi sĩ đã đi cư vào nam năm 1954. 

Vô nam, thi sĩ Đinh Hùng thành lập ban Tao Đàn, tiếng nói thơ văn miền Tự do cùng với quý ông Thanh Nam, Văn Quang, Thái Thuỷ …

Thi si Vũ Hoàng Chương thì đi dạy học ở Saigon. 

Song có điều lạ, là các thi sĩ lớn ở đâu cũng vậy, người ta tức là đông đảo độc giả, thính giả thường ưa nghe huyền thoại của nhà thơ, hơn theo dõi hành trình thơ đã tiến tới đâu. 

Có khi những đoạn đời sau, cũng có những riêng tư đáng ngợi ca, nhưng độc giả vẫn cứ quen thuộc huyền thoại, đến không quên một chi tiết nhỏ. 

Thí dụ: khi nhắc tới thi sĩ Cung Trầm Tưởng, là lập tức khách thơ nói ngay : ” Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…” Nhắc tới thi sĩ Đinh Hùng, thì cứ ” đánh thức hồn mà dậy … ” 

Và ngay với cụ Vũ Hoàng Chương  còn: ” Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau ” cũng khuôn vàng thước ngọc, mà xem ra thua kém ” Tố của Hoàng ơi” hẳn . 

Do đó huyền thoại này là bất biến với nhà thơ, “Tố của Hoàng ơi” , cứ lừng lững năm này qua năm khác đi vào những khúc quanh thơ ca Vũ Hoàng Chương . 

A / Mười Hai Tháng Sáu : 

Mở màn cho thiên hạ thấy tình sử, với 4 khổ thơ đầu, khổ nào cũng có ” Tố Của Hoàng Ơi” theo thứ tự:

1/ Tố của Hoàng ơi, hỡi nhớ thương…

2/Tố của Hoàng ơi, Tố của Anh…

3/Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi…

4/ Tố của Hoàng nay, Tố của ai …

Tiếp tới 4 đoạn sau của bài thơ 8 khổ ấy, là chỉ toàn Hò,Xừ, Xang , Xế…với danh tính Kiều Thu . 

Vậy Kiều Thu là nhân vật nào nữa đây ? 

Xin thưa Kiều Thu lẫn lộn trong Hò, Xừ, Xang, Xế mà thôi : 

” Kiều Thu hề Tố em ơi ”  có nghĩa Kiều Thu chính là Tồ vậy . 

Kiều Thu hề  Tố em ơi

Ta đang lửa đốt tơi bời mái Tây

Hàm ca nhịp gõ khói bay

Hò , Xừ , Xang, Xế , bàn tay điên cuồng ..

          ( Vũ Hoàng Chương ) 

Nếu huyền thoại chỉ bấy nhiêu, thì thật quả câu chuyện chỉ là 

Trách móc, rồi dùng Hò, Xừ , Xang,Xế …xênh phách cho quên đời . 

Nhưng có một đoạn thơ như bật cái điều bí mật ra, thi sĩ Vũ Hoàng Chương nói thẳng cho những ai muốn biết:

” Huyền thoại Tố Của Hoàng ơi, chỉ là một cuộc tình cuồng, tình si, không hơn không kém, không vì một lý do to lớn nào, hay một chuyện tình lồng trong một sứ mệnh gì của Sơn Hà Xã Tắc chẳng hạn, chỉ là tình buồn, mãi mãi tình buồn …” 

Men khói đêm nay sầu dựng mộ

Bia đề tháng sáu, ghi mười hai

Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc

Tố của Hoàng nay Tố của ai  ?

          ( Vũ Hoàng Chương) 

B/ Tố Của Hoàng Ơi: 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương với hơn 30 năm , nỗi oan hờn, ẩn  ức không thể một mình ấp ủ được mãi . 

Không lý chuyện riêng tình cảm mà bắt vợ con gia đình chia xẻ, nỗi đau trở thành mối thù ma quái, vì sự thực, Tố đó không chết, vẫn sống trong dằn vặt, oan khiên, cay đắng của nhà thơ lớn mà cứ phải lụy tình một người …

Nên tới năm 1972, đúng ngày 12 tháng 6 , cụ làm một bài thơ 7 khổ tứ tuyệt, lấy hẳn tựa đề : ” Tố Của Hoàng Ơi ” . 

Bài thơ này gần như bạch hoá mối tình cuồng si, mê loạn trong hơn 30 năm. 

Có thể trên cương vị một người làm thơ, dù mê đắm tới đâu, tôi nghĩ thời gian dài dằng dặc đó, hơn 30 năm với bao tang thương, tình cảm cũng đứng lại, dẫu Tố của Hoàng đẹp tới thế nào, cũng không là Tiên, là Phật trong tranh, để trẻ mãi không già. 

Bằng chứng là : Một dịp hội thơ đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tại Uyển Đình, tư thất của nữ sĩ Uyển Hương. 

Cũng vào một ngày tháng 6 năm 1982 , vì tình cờ tôi lại ngồi cạnh nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh, là phu nhân của Thi sĩ đã quá cố Vũ Hoàng Chương, đồng thời là hiền tỷ Thi sĩ quá cố Đinh Hùng, nhị vị thi sĩ lớn quá, dễ gây ấn tượng .

Bất giác tôi ngó nữ sĩ Thục Oanh, mỉm cười : ” Tố của Hoàng ơi” đâu rồi chị ? 

Nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng ” hài ” không kém, bà bèn đổi giọng nói kiểu …thơ: 

” Tố của Hoàng xưa, Tố đã già…” rồi . 

Mừng quá, tự dưng biết tin Tố của huyền thoại cụ Vũ, tôi ỡm ờ: ” Biết rồi, nhưng Tố ở đâu xa ? ” 

Tất nhiên, nữ sĩ Đinh Thị Thục Oanh cũng đẩy xa câu chuyện vào huyền thoại, cho đẹp mãi tình phu, nghĩa phụ cụ Vũ cùng Đinh nữ sĩ trong văn chương, ngoài cuộc sống bình thường vậy. 

Hoá cho nên, yêu đây là yêu cái dĩ vãng thôi, phải xoá trắng cái dĩ vãng, mới gọi là không còn dính líu tới nhau: 

Tháng có 30 ngày để giết

Ngày 12 vẫn sống như xưa

Hay:   

Còn đó 12, còn tháng 6

30 năm lẻ vẫn chưa vừa .. .

Đã đến lúc tình yêu thương, trở nên nghiệt ngã, hằn học, cực đoan …Thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở thành độc đoán, dằn vặt giai nhân Tố :

Ngày mai, ngày mốt, anh nằm xuống

Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ

Đập nát ra cho trời đất uống 

Thì em sẽ rụng khỏi đêm mờ …

          ( Vũ Hoàng Chương ) 

Đoạn trên , mới chỉ  khai vị, chưa uống được cái cơn say …tàn nhẫn hơn nữa, bởi vì bị khựng lại do trong tâm khảm người bị thất tình vẫn còn lại chút gì để tiếc nhớ. 

Tới giai đoạn những gì quý giá, ân tình nhất đã bị gạt đi, chỉ còn lại 2 sự kiện để chọn lựa là: hy sinh hay thù hận, mới quên được người tình hay cuộc tinh. 

Thi vương Vũ Hoang Chương, có lẽ vì mất mát tình cảm nhiều quá, nên thi sĩ không thể cho thêm, hay mất thêm: 

Mười hai tháng sáu,  cung Hồ, Xế

Một mối tình si, một mối thù

Giây phút cũng tan thành suối lệ

Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu.

          ( Vũ Hoàng Chương ) 

Nghĩa là độc giả, thính giả tưởng rằng mối tình si, đã biến thành mối tình thù không sao gỡ đươc. 

Nhưng , như tôi đã trình bầy ở trên, sau 30 năm, nhà thơ vẫn có thể viết tiếp những vần điệu cũ để tô điểm thêm cho huyền thoại, tưởng như  thất thoát, mà cũng được 

đền bù: Huyền thoại ” Tố của Hoàng ơi ” , âm hưởng phảng phất những chuyện tình buồn trong cổ tích, ngoài dân gian ở

 bất cứ nơi đâu và thời gian nào …

               CAO MỴ NHÂN 




CHÙM THƠ & VĂN: CAO MỴ NHÂN 

LỜI KHUYA.    CAO MỴ NHÂN 

*

Phải khuya mới rõ lòng người

Hạ tuần mới rõ trăng cười mê hoang

Sương mờ phá sóng không gian

Con tàu định mệnh chở hoàng hôn xa

Phải khuya mới nhớ mái nhà

Bập bềnh trên bến phù sa mịt mù

Bên này sông nước thiên thu

Bên kia còn lại lời ru não nề

Phải khuya mới thấy ê chề

Kiếp lưu vong chán lối về dửng dưng

Làm sao cản bước trăng dừng

Hạ tuần diễu cợt mây đừng che xuân

Phải khuya trăng mới bâng khuâng

Thương ai đếm suốt trăm năm chung tình

Anh chờ tan lễ Phục Sinh

Đưa em qua khỏi hành trình thương đau…

      CAO MỴ NHÂN 

***

NGỦ GIẤC NGÀY.    CAO MỴ NHÂN 

*

Tôi đang muốn ngủ giấc ngày

Để quên tất cả nơi này, chốn kia

Để quên tình tự phân chia

Để không thấy cảnh biệt lìa xót xa

Sáng trời, không thấy người ta

Tiếng chim đơn độc vô ra tổ chờ

Không nhìn hoa bướm mộng mơ

Không cầm bút viết bài thơ cuối cùng

Hoang liêu trải rộng mịt mùng

Mầu xanh thiên lý, sắc hồng lửa hương

Đã như phai nhạt nửa đường

Cô đơn, mỏi mệt gọi thương nhớ về

Đêm qua mộng mị lê thê

Tôi thôi kéo nỗi đam mê về gần

Đất trời tiễn biệt mùa xuân 

Đưa tay tôi xoá trăm năm cuộc tình …

        CAO MỴ NHÂN

LỜI XÂM.    CAO MỴ NHÂN 

*

Một mình ngồi buồn xin xâm

Quẻ ra sấp ngửa, nỗi thầm lặng rơi

Đoán trong tâm tưởng, bao lời 

Cầu xin anh ở bên trời luôn vui

Hình như có chút ngậm ngùi 

Cho riêng mình thiếu vắng hồi bơ vơ

Xâm không hối hả đợi chờ 

Đồng xu sấp ngửa lững lờ được, thua

Từ lâu quên đến cửa chùa

Lắng nghe chuông mõ gỡ bùa tỉnh, mê

Bốn phương mù mịt nẻo về

Chân mây nào cũng lê thê muộn phiền 

Tình sầu tình lại cuồng điên

Làm sao biết được thủa tiền định kia

Mộ tình thơ vẽ trên bia

Hương tan, lửa tắt, cách chia kiếp này …

        CAO MỴ NHÂN 

***

VẮNG BÓNG.    CAO MỴ NHÂN

Trên nhiều tầng cao vút

Mây trắng xây lâu đài

Thắp tình nơi chót vót

Không thấy một bóng ai

Bay lên đôi cánh vàng

Chốn đó là thiên thai

Hay là mây hoang đàng

Không có một bóng ai

Thì đừng đăng cao nữa

Trên nhiều tầng mây bay

Lâu đài tình trống rỗng

Không gặp một bóng ai

Trở về nghìn trùng xa

Anh hay mái ấm nhà

Ô, chỉ là vạt khói

Thế gian còn đợi ta

Không thấy một bóng ai

Còn ai đâu tìm bóng

Cho hình ảnh thiên thai

Bạc trời mây nổi sóng … 

    CAO MỴ NHÂN

SUỐT THÁNG NĂM.   CAO MỴ NHÂN 

*

Trái đất không ngừng quay

Mây trời không ngừng bay

Nhưng tình yêu dừng lại 

Trong cõi nhớ thương này

Anh nói đang mùa xuân

Thì đừng vội bâng khuâng

Anh luôn luôn ở cạnh

Bên em suốt tháng năm

Vậy thời gian ngưng trôi 

Hoa nở khắp nơi nơi

Sao anh chưa thầm gọi 

Tên em, một lần thôi

Chao ôi, anh tịnh ngôn

Mây cứ bay chập chờn 

Trái đất chờ tan vỡ

Em giữ mãi nụ hôn …

   CAO MỴ NHÂN 

ĐOM ĐÓM DƯỚI TRĂNG.    CAO MỴ NHÂN 

*

Sân trăng một lúc si cuồng

Theo con đom đóm tìm nguồn nguyệt tan

Không gian chuyển tiết hoang tàn

Những con đom đóm gọi đàn quỷ ma

*

Nửa khuya, trăng bỗng nghiêng tà

Nguyệt mang lửa ngọn hằng nga về trần

Hằng nga ngần ngại gian truân

Sợ con đom đóm tới gần đắm mê

*

Cung thương giọt thả lê thê

Lưu Thần, Nguyễn Triệu tái tê đêm dài

Giật mình hồn đã Liêu Trai

Mái xưa tình tự đơn sai hẹn hò

*

Con đom đóm lạnh co ro

Nửa vầng nguyệt lãng đắn đo lượn vòng

Từ đi ngày tháng lưu vong

Đêm nay nguyệt thực đừng trông lửa vàng …

*

      CAO MỴ NHÂN 

CHIẾC BÓNG MỜ.   CAO MỴ NHÂN 

*

Bỗng một ngày không thấy 

Người quen đi ngang nhà

Nơi sân vườn nắng xấy

Khô cả vạt sương hoa

*

Chắc mùa xuân ấm áp

Người quen bỏ về xa

Nửa vòng tròn trái đất 

Che kín cuộc tình ta

*

Người về xa tít tắp 

Đôi bàn tay mở ra

Hứng từng giọt nươc mắt

 Đêm không ngủ bơ vơ

*

Ta xếp mau hồn mộng

Xuống đáy lòng hoang sơ

Thời gian như chiếc bóng 

Còn lại trong hồn thơ …

*

    CAO MỴ NHÂN 

 VÃNG LAI.   CAO MỴ NHÂN 

*

Sáng chủ nhật

Vô nghĩa trang ” Đồi Hồng ” 

Để đọc lại tấm bia lạ lùng :

” Nơi an nghỉ của một người 

   chết trong tuyệt vọng …”

*

Tấm bia dựng từ cách đây 60 năm 

Tên người bạc phận bị mờ phai

Vì sóng gió hay vì ai đục mất

Chắc vì hồn thiêng lẩn khuất

Khiến người bị chết lần thứ hai…

*

Khách đứng trầm ngâm nhìn dòng chữ

Như có câu thơ viết trong nỗi nhớ 

” Nơi đây sương ủ hình hài 

Em đi về nẻo Thiên Thai xa mờ

Trọn đời sống với mộng mơ …” 

*

Trước mặt, sau lưng, chung quanh mộ thơ 

Nụ hồng nhỏ xíu

Hoa hồng nở to

” Em đi vào cõi hư vô

60 năm có một giờ vãng lai…” 

*

          CAO MỴ NHÂN 

BÊN THỀM ĐỜI .    CAO MỴ NHÂN.

*

Anh ta bây giờ đã ngoài bảy chục tuổi, nên tôi phải gọi ảnh bằng ” ông ” cho có vẻ trân trọng và nhất là …đứng đắn . 

Ố ô, rứa chẳng lẽ kêu ” anh” là không …đứng đắn hay sao ? 

Số là anh ta, ý quên ổng ta sắp tới ngày sinh nhật đó nờ , 19/6 dương lịch, một ngày kỷ niệm trọng đại, mà cả đại tộc KaKi chúng tôi, đều nhớ, bởi tính chất …lịch sử của sự kiện , Ngày Quân Lực VNCH trời ạ . 

19/6 Ngày Quân Lực VNCH hình như mỗi lúc mỗi phôi pha đi hay sao ấy, ông ta đã cười nụ một mình tự nhủ : 

” Điều gì rồi cũng lạt phai, làm sao tươi thắm mãi được …”

Ông xuất thân từ quân trường danh tiếng X Khoá K, tôi gọi thế, đầy phẩm cách dũng cảm mà vẫn trẻ trung . 

Ôi chao, có Khoá học nào, sinh viên sĩ quan Võ Bị nào không hội đủ 2 yếu tố ấy : anh hùng mã thượng, mà vẫn hào hoa phong nhã chứ . 

Thôi đi, ” bà ” mê lính quá, lúc nào cũng thần tượng những chàng trai anh dũng, xuân tình . 

Ông nhìn vọng ra xa, thật xa … cả một quá khứ hiện về . 

Tôi bấm chuông ở cửa nhà ông lâu quá, đã bắt đầu đổ giận . 

Ông làm cái gì trỏng mà không ra mở cửa chớ  ? 

Đã hẹn từ tuần trước, lại mới điện thoại hôm qua, cả hai thời hẹn, ông đều khẳng định rằng : 

” Chừ tui không đi mô hết, ở nhà chờ cô thôi .” 

Tôi cười hỏi đùa : ” Cô nào ? Chả lẽ tôi à ? Tôi bây chừ 

Lão bà bà, chứ cô cái nỗi gì nữa  ? ” 

Thì với tôi, ông nói, cô lúc nào cũng là ” cô “, đơn giản, tôi đang sống lại kiếp trước của mình mà . Sao, có gì lạ muốn nói với tôi ? 

Cũng có, tôi chậm rãi trả lời : ” Mấy ông xưa nhờ tôi mời ông bà đi ăn ” cơm tù ” một bữa đấy ” . 

Cơm tù?  Sao lại cơm tù chớ, ai lo chuyện này vậy, “mục đích yêu cầu ” dở hơi vậy ? 

Chúng ta đang tự do như bướm, lại nhớ tù với tội là cái quái gì, chưa chắc tôi nhận lời ạ . 

Thì tuỳ ông thôi, chúng tôi muốn thông báo cho ông hay, chớ chẳng vì sao, chẳng tại răng cả . 

Ông gật gù : ” Để coi hôm đó tôi có trở ngại gì không đã, cô cứ nói với quý vị ấy là tôi nhận lời trên nguyên tắc hạ hồi phân giải nha ” . 

Sao cũng được, miễn ông đi thôi .

Chuyện ” chung ” đã xong, giờ tới chuyện ” riêng ” . 

Là không phải chuyện riêng tư tình cảm gì đâu, mà là chuyện không dính dáng tới ” bữa cơm tù ” vừa nêu.

À ra thế . 

Chúng tôi vừa đi dự một cái ” lễ vàng “, ông nói . 

Tôi mắc lo ra trả lời ừ hữ , không mấy hứng cảm.

Ông đó cũng khoá K với tôi. Cha đám cưới năm 1969  biết không, ở Huế đó . 

Tôi vẫn chưa bắt nhịp được cái bản nhạc tình ông đang bắt đầu chờ dạo . 

Ông nhìn tôi : ” Răng cô không hứng thú nghe tui kể chuyện vậy ? ” 

Rồi, ” lễ vàng ” làm sao ? 

Tôi thấy ” tình trường lão ta chẳng có gì đặc biệt, mà vàng với bạc làm chi cho mệt chứ …” 

Nhưng nhà ông đó có mệt không về việc làm ” lễ vàng “, chứ chỉ nghe ông mệt thôi. 

À , tôi nhìn thấy cái mệt trong chuyện ” lễ vàng ” của họ . 

Họ đang sung sướng về việc làm đó, kỷ niệm 50 năm đám cưới, còn ông ở ngoài mà than là sao nhỉ ? 

Ông cười xoà : ” Thì ở không nên lắm chuyện ấy mà . ” 

Nghe tôi nói nè, cuộc đời thật là phức tạp quá chứ . 

Như thế nào ? 

Lão cùng đi tù với tôi về. Vợ lão chắc trẻ quá, thêm chút hoàn cảnh gia đình, tự ý không đợi chờ …

Thôi tôi không muốn nghe đâu, mai mốt gặp lại ở ” Bữa cơm tù ” nhé, tôi xin phép về . 

Nhưng cô phải nghe đoạn này : Biết vậy, lão cũng trả thù đời, là tự ý lấy vợ hai, ngay sau ngày ” ra trại “.

Thì có gì đâu, đó là nguyên tắc tương đối thôi. 

Nhưng khi đi HO qua đây, lão lại mang cái bà đầu có giấy tờ hợp lệ đi, bởi vì cái bà sau không chịu đi . 

Thì là lẽ tương đối tiếp theo. 

Rồi lão lại ly dị bà vợ đầu này,  vì không quên giai đoạn hậu tù cải tạo của lão . 

Và cũng để có dịp biểu lộ với phòng nhì, là lão vẫn dành cho bà hai này những yếu tố khách quan rằng đã lấy chồng thì cũng có dịp ” võng anh đi trước, võng nàng theo sau ” . 

Chao ôi, tôi phụ hoạ: lại cũng là luật chơi tương đối, chẳng ai bị thiệt ở đời vậy . 

Biết rồi, song le, cuộc đời vẫn có những phút giây cuối cùng như một bản cáo trạng của trời đất, dành cho loài người mà Chúa đã tạo ra . 

Bà vợ sau của lão được hưởng hết cái hạnh phúc bất ngờ khi một người tù phá sản tình cảm vốn có sẵn tràn trề, kèm sự tức bực cho là bị phản bội, đồng thời lão vẫn thèm khát thứ hạnh phúc nguyên vẹn, lão đã dành tất cả mọi ưu ái cho đệ nhị phu nhân ấy. 

Nhưng chỉ 10 năm sau, lão đã lên đường quy Mã . 

Tới khi bà vợ sau của lão được lão lo cho đủ điều kiện ra đi đoàn tụ với lão, cũng là lúc bịnh trầm kha của bà ta, tiễn bà ta vĩnh viễn rời bỏ cuộc đời vốn hư huyễn này.

Tôi bâng khuâng: ” Chẳng lẽ cũng lại là điều tương đối nữa sao ? ” 

Lão trở về trạng thái ban đầu, nhưng không rõ nét hạnh phúc . 

Đó là đang ở chung một thành phố với bà vợ trước đã ly dị, trên thiên đường nơi hạ giới này . Nhưng vẫn mơ màng nhớ bà vợ sau đã yên thân nơi huyệt mộ bên cố xứ quê xa… 

Tôi bắt đầu nghe ù cả tai, nhưng, chưa muốn về , vì muồn biết hồi kết của câu chuyện ” Lễ vàng ” . 

Ông cười khẩy : ” Có phải cô muốn biết đoạn kết của cái lễ vàng đó không ? “

Thế này, bà vợ đầu ức lòng vì bị ly dị sau khi chỉ có 5 năm sống với lão, trước thời lão đi tù cải tạo đó . 

Lão có yêu thương gì vợ trước cũng không bằng lão đi ban phát tình yêu cho bà vợ sau . 

Nên bây giờ bà vợ trước đó, buộc lão trở về hoàn cảnh đầu tiên, tức là hồi 2 ông bà mới thành hôn, dù khi cả hai bà ta và lão đã lấm lem cuộc đời thời gian lão chia đôi cho mỗi người vợ một nửa số con bằng nhau. 

Bằng một cái ” lễ vàng ” là chỉ có hình thức để có vẻ yêu đời hết xẩy, không có gì quan trọng , nếu xét qua các tiết mục, thì chẳng có mục nào thể hiện đúng cái ý nghĩa của nó cả . 

Vâng, cám ơn ông, tôi cũng như ông, nghe chuyện tà la đã mệt rồi . 

Ưng thay là người trong cuộc, thì buồn chán tới đâu ấy chứ . 

Có lẽ cuộc đời ” nó ” vậy . 

Thôi , tôi xin phép về nha. Cám ơn ông đã cho nghe chuyện đầy mầu sắc tương đối vừa qua. 

                CAO MỴ NHÂN 

                    ( CHỐN BỤI HỒNG )

MỘT NGÀY HÈ.    CAO MỴ NHÂN 

Quý vị tu sĩ mang tất cả tấm chân tình trải trước lòng dạ người dân lành …vô tội . Tôi cứ nghĩ mãi khi đặt bút viết câu này, mở đầu bài ” luận văn ” tự nguyện, gởi đến một bậc chân tu . 

Nhưng khi bậc chân tu ấy hỏi rằng có biết gì về tấm chân tình của quý ngài, thì thật quả tôi bị lúng túng trong giải thích …rất đạo, là sự dâng hiến cả đời ngài cho Đấng tối cao, rao truyền chân lý sống ở đời để làm gì, theo ý Chúa.

Đó là những năm hậu tù cải tạo, tôi đã về lại thành phố Saigon, khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước . 

Người nhà kể rằng: gia đình chú tài xế của tôi xưa, hiện lập nghiệp ở đồng rẫy Trảng Bom, đã đến nhà chị tôi nhắn: nếu tôi đi tù về, chưa có việc làm, thì hãy lên chợ Trảng Bom kiếm nhà chú ấy . 

Tôi không biết chú tài xế gốc hạ sĩ nhất QL. VNCH cùng gia đình đang sinh sống thế nào sau cuộc đổi đời 1975, vì trước đó, chú lái xe cho Phòng Xã Hội của tôi ở Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI ngoài Đà Nẵng . 

Xem ra hoạt cảnh cũng nhuốm vẻ khôi hài, chẳng lẽ chú ta là VC nằm vùng, giờ lộ mặt phất lên, có cơ ngơi chính trị, muốn giúp lại tôi chăng ? 

Hay trời cho, chú trúng số độc đắc, đã có điền sản sau 5 năm rời giáo xứ Thanh Bồ Đà Nẵng, đã ổn định cuộc sống …mới  ? 

Bấy giờ nhà văn Thế Phong đang làm ” nhân viên chấp pháp” cho hãng xe bus, kiêm ” lơ xe ” bus tuyến đường Saigon Thủ Đức .

 Ông ta đã bốn mươi mấy tuổi, nhưng rất khoẻ mạnh, lạc quan, tháo vát một cách lao động chuyên chính luôn, ông đề nghị tôi nên đi coi ” sự nghiệp ” sau 30-4-1975 của người  tài xế như thế nào . 

Chúng tôi đi xe lam từ sớm. Thế Phong trong phong cách ” lơ xe ” chuyên nghiệp, ngồi nghênh ngang chặn cửa xe, cứ nói một mình những điều gì đó một cách ” coi trời bằng vung “, vì sự thực ông ấy có sợ ai bao giờ đâu.

Điều đó khiến tôi yên tâm sau cái nhãn ” sĩ quan cải tạo ” về, hồn nhiên đón nhận những luồng gió mát mẻ của một buổi sớm mùa hè ở miền Nam . 

Rồi 40  cây số cũng trôi qua, chợ Trảng Bom hiện ra trước mắt, với những mái tranh nghèo đúng nghĩa, nhưng hàng quán lại  đông đảo . 

Trong khi ăn sáng bằng tô phở, quanh cái xe phở, mà chỉ những ai đã từng thưởng thức món phở đặc trưng Bắc kỳ cũ,  mới thấy nó …phở như thế nào .

Chúng tôi nhanh chóng hỏi thăm nhà chú tài xế tên Nguyễn Trọng Bảo, mới nhập cư mấy năm, thì có một người gật đầu, nói sẽ dẫn đường đến tận nhà chú Bảo ngay . 

Nếu trước 1975, chúng tôi, Phòng xã hội QĐI/QKI đã từng mỗi năm một dịp tới nhà chú, ở Khu công giáo Thanh Bồ dự tiệc Nửa Đêm sau khi mừng Chúa Cứu Thế đến, dư dả thế nào, thì nay nhà chú vẫn giữ nguyên mầu sắc cũ . 

Trong lúc cách đó mới mấy năm, chính tôi đưa vợ con chú di tản từ Đà Nẵng vô Saigon, chú ở lại với cái xác nhà và y nguyên đồ đạc cùng bầy heo cả chục con, bầy gà vịt cả trăm con …vv, kể như đã bỏ hết.

Sao nay đầy đủ, dư thừa thế  ? 

Tấm ảnh ” Bữa tiệc cuối cùng ” với cả bức tượng hình Chúa Jesus gắn trên vách lớn căn nhà, cụ bà mẹ chú, chú và toàn bộ gia đình, không thiếu một ai …quây quần nơi xóm đạo mới . 

Cả nhà vui vẻ ra gọi là ” chào đón ” chúng tôi, cầu xin cho cá nhân tôi và gia đình sớm được bình an trong ơn Chúa . 

Bữa ăn trưa với đầy đủ gà vịt nấu như ăn cỗ, đặc biệt là không phải một liễn nhỏ, mà một thúng rượu nếp làm theo kiểu Bắc kỳ xưa, gạo nếp sụng  tức say, thơm ngát, được bới ra mỗi người một chén để tráng miệng, mới …giang hồ khí cốt chứ . 

Qua cỗ bàn rồi, giờ đi vào thực tế, cựu hạ sĩ I  Bảo ngập ngừng nói là, nếu gia đình tôi không quản ngại …lầm than một chút, thì xin mời chị cùng các cháu tạm nhờ Cha, nhận một khoảnh đất trong vùng, rồi canh tác, chăn nuôi, không lâu, sẽ có một cơ ngơi tương đối, bằng hoặc có khi hơn nhà chú ấy nữa. 

Thoáng thấy nhà văn Thế Phong mỉm cười vẻ hơi châm biếm, có lẽ ông nghĩ tới sự đổi thay 180 độ đối với tôi, đã mất hết nhà cửa, tiền tài, địa vị, giờ còn chút thể diện nhân thân cũng lu mờ …

Nhưng tôi vốn từng trải công tác xã hội quá rồi, chạnh nghĩ mình cũng có là quái gì mà chê bai hoàn cảnh trước mặt, nên tôi vui vẻ trả lời : 

” Mới ra khỏi trại cải tạo thôi , hãy để nghỉ ngơi một chút, mai  mốt nếu cần, sẽ lên nhờ chú dẫn đi gặp Cha . 

Trên đường về, chúng tôi tự động đi gặp Cha ở nhà thờ X. Trảng Bom . 

Cha hân hoan ghi nhận điều thăm hỏi, và đồng thời khuyến khích tôi nên xây dựng Đức tin vững vàng, để cùng con cái được hưởng ân sủng Thiên Chúa ban cho . 

Cha nói nội khu rẫy Trảng Bom có tới 3 nhà thờ vì mỗi khu làng tân lập đông đúc dân chúa, chưa có Cha khác về thêm, nên Cha phải đi làm Lễ cho cả 3 nhà thờ, thay phiên giờ, bằng xe đạp …mỗi sáng Chúa Nhật . 

Trong câu chuyện,có một điều tôi nhớ nhất,  

là khi tôi hỏi thăm Cha : 

“Thưa Cha, có thoải mái trong sinh hoạt mới không ? Chế độ rao giảng không như ngày xưa”. 

Cha ngẫm nghĩ:” Chế độ rao giảng sao lại thay đổi, tất cả mọi chuyện đều là phương tiện thôi, cứu cánh ấy là Chúa Trời  mà”.

Nên, đôi khi tôn giáo phải bao trùm tất cả, chính trị chỉ là một phần …nghiệp tu, những bậc chân tu không cần phải đề phòng, mà vâng lời Chúa trong mọi hoàn cảnh …

Tôi ngập ngừng : Thưa Cha , kể cả …

Cha cười hồn nhiên , nhưng quả cảm …kể cả sự chết .

         CAO MỴ NHÂN 




TRANG CHÀO MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN – RẰM THÁNG TƯ – NHÂM DẦN, 2022 – Phật Lịch 2566.

HỒNG  TRẦN

*

Thế gian nhiều biến đổi

Ta chỉ một dạng thôi

Theo tháng năm tàn lụi

Mấy ai chẳng ngậm ngùi

*

Cõi hồng trần sinh ly tử biệt

Kiếp nhân sinh nọ ai mãi miết

Rồi một ngày tay ng buông xuôi

Về chốn không tranh danh đoạt lời

Chết sống nào cũng là trả nghiệp

Chỉ sớm muộn nợ vay tiền kiếp

*

Mong tái sinh đừng vương lụy

Tâm yên bình thoát hiểm nguy

Vốn dĩ lời chân nguyên Phật

Để muôn người đạt phúc duyên

*

                     Hoàng Mai Nhất

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN

*

Tháng Tư ĐỨC PHẬT hạ phàm trần

Đem ánh Đạo Vàng cứu thế nhân

THÁI TỬ ly gia rời tục lụy

ĐẠT TA cắt ái biệt tình thân

Tam Quy điều dạy, thay tai kiếp

Ngũ Giới lời khuyên, nhận phước phần

Phật Lịch hai nghìn năm sáu sáu(2566)

Nguyện cầu khắp chốn rạng ngời xuân.

Phương Hoa – MAY 17, 2022

Hoa Sen Bảy Bước

Đi bảy bước hoa sen chớm nở
Gót hồng trần lan tỏa niềm mơ
Cội bồ đề, chánh kiến thiền định
Giác ngộ từ tâm, chuyển hoá cơ.

Phật pháp kinh thư đã chuyển vần
Năm châu, bốn biển độ nhân quần
Thập phương, ý nguyện luân hồi chuyển
Phật tánh Di Đà, quán tịnh thân.

Tế Luân

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN 2022

*

Mừng Phật Đản, muôn phương thiết lễ

Cúng dường ngày Nhập Thế Thích Ca

Thấm nhuần giáo lý Phật Đà

Tâm bình, thế giới an hòa sống vui

*

Mừng Phật Đản hãy nuôi mầm thiện

Phật xuống đời thị hiện chúng sanh

Nhân gian mừng đón Cha lành

Tháng Tư rằm đến, tâm thành dâng sen

*

Mừng Phật Đản, ghét ghen buông bỏ

Ánh đạo vàng sáng tỏa trần gian

Tại gia thắp nén hương nhang

Trên cao Phật chiếu hào quang sáng lòng

*

Mừng Phật Đản, sen hồng hương ngát

Tiếng Nam Mô lấn át sân si

Hồi chuông cửa Phật từ bi

Âm vơi nghiệp chướng,  xua đi hung tàn

*

Mừng Phật Đản, dâng ngàn lời nguyện

Phật từ bi, Pháp chuyển Trí minh

Khiến cho kẻ ác lui binh

Tan đi sân hận, Hòa Bình Thế Gian…

*

DUY ANH

Đại Lễ VESAK 2022

Chủ Nhật Tuần Này: Kính Mừng Đại Lễ Phật Đản PL 2566. ĐL 2022

Lời Chúc Mừng

Một Mùa Lễ Vesak nữa lại về trên trần gian, Phật Đản mang lại bao niềm hân hoan, vui sướng trong lòng những người con Phật và những ai tin vào giáo pháp cứu thoát của Ngài.

Kính chúc tất cả Quý Vị và Gia Quyến một Mùa Phật Đản: Vạn Sự An Lành, Hạnh Phúc Vui Tươi, Muôn Chuyện Hạnh Thông.

Thắp sáng ánh đèn trí tuệ trong tâm, noi theo đường Đấng Chí Tôn, để có:

-Tâm hài hòa, mỉm cười trước sóng gió cuộc đời.

-Tâm minh tuệ, ứng phó với những biến chuyển thời gian.

-Tâm siêu nhiên, đối mặt với: Sinh, Bệnh, Lão, Tử!

-Tâm bình an, vượt qua khỏi mọi khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, để có hạnh phúc ngay tại trần gian này.

Có Tâm là có tất cả! Tâm bình, thế giới bình!

Ý nghĩa ngày Phật Đản

Phật Đản còn gọi là Quán Phật Hội (hội tắm Phật), Giáng Đản hội (hội giáng sinh) đó là nghi thức tắm Phật. Ngày Phật Đản tức là ngày Đức Phật Thích Ca ra đời.

Mùa Phật Đản năm nay lại về trong niềm vui của mọi người dân Việt, từ Tháng Tư Đen 75, 47 năm, đang sống lưu vong nơi đất khách quê người, cách xa quê nhà cả nửa vòng trái đất. Hơn ba triệu người Việt hiện ở tạm dung trên các nước thuộc Âu Châu, Úc Châu, Mỹ Châu, đang nỗ lực tổ chức ngày “Đại Lễ Phật Đản, Phật lịch năm 2566” để hòa nhịp với niềm vui chung của nhân loại, trong mùa Phật Đản năm 2022.

Nhân dịp ngày Đại Lễ, xin ghi lại chút “Lịch Sử cuộc đời Đức Phật” để cống hiến quý đồng hương Phật Tử bốn phương, cùng tìm hiểu về “Chân lý và nguồn gốc ngày Đản Sinh của Đức Phật, hầu lưu lại cho các thế hệ mai sau, nối gót các bậc tiền nhân, duy trì và phát huy Đạo lý cao siêu của Đức Thế Tôn, trong ánh đạo vàng đến với mọi người trên thế gian.

Ngày Phật Đản hay ngày Giáng sanh của Đức Phật, tiếng Pali gọi là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào tháng năm dương lịch. Vesak cũng là tên của một ngày có ý nghĩa trọng đại nhất đối với hàng Phật tử khắp thế giới. Đức Phật sinh nhằm ngày rằm, tháng Vesak, vào buổi sáng, trong thành Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ) gần biên thùy giữa đông bắc Ấn Độ và Népan. Ấy là Thái tử Siddatha Gotama. Cha của ngài là Hoàng Đế Tịnh Phạn (Cuddhodana) họ Cồ Đàm (Gotama), và mẹ của Ngài là hoàng hậu Ma Gia (Mayadevi) Ngài tên là Siddhartha Gautama. Ngài mất mẹ rất sớm. Sau khi hạ sanh Hoàng Tử được 7 ngày thì hoàng hậu thăng hà.

Thái tử sanh ra là một đại hạnh, đại phúc, ơn lành cho tất cả chúng sanh. Dĩ nhiên, đã là Hoàng tử, Ngài sống một cuộc đời vô cùng sung sướng trong cung điện nguy nga, nào biết gì đến cảnh thực ngoài đời. Nhưng ngày qua tháng lại, lần lần trong tâm Ngài tự phát giác sự thật.

Khi Ngài giác ngộ được rằng vạn vật là vô thường, có rồi không, thành rồi bại, có sinh có tử, có gìa có bệnh. Rằng bao nhiêu vinh hoa, phú qúy, khoái lạc vật chất dẫy đầy trước mắt, chẳng qua là một bã hư vô. Ngài mới nhất định xuất gia, bỏ hẳn thế sự, để đi tìm đâu là sự thật, đâu là tịnh lạc. Năm ấy được 29 tuổi, Ngài từ  bỏ cung điện nguy nga và những sa hoa vật chất của một vị Hoàng tử, không phải vì  thắc mắc băn khoăn riêng cho Ngài, mà chính vì cảnh đau khổ trầm luân của chúng sinh.

Lần từ biệt ra đi của Ngài đã giũ sạch nợ trần, để đi tìm một con đường giải thoát cho nhân loại. Suốt sáu năm trời, Ngài hãm thân vào cuộc đời khổ hạnh, hy sinh, chịu đựng muôn ngàn đau khổ với một tấm lòng sắt đá, kiên trì, với một niềm tin vô biên và luôn luôn xả thân để phụng sự. Đây là cuộc đời phấn đấu mà sức người phàm khó lòng chịu nổi.

Rồi một hôm tinh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội bồ đề, tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddhagaya), Ngài tự nguyện: “Dù ràng thịt ta phải nát, xương phải tan, hơi phải mòn, máu phải cạn, ta quyết ngồi nơi này đến khi được hoàn toàn đắc quả vô thượng!” Vào ngày rằm, tháng Vesak, Ngài đắc quả Chánh Đẳng, Chánh Giác.  Quả này là kết tinh cuối cùng của một lòng tự tin, tự  lực, tự giác, chớ không phải nhờ ở một quyền lực siêu nhiên nào giúp đỡ.  Ngài đã diệt được bao điều chi phối của ngoại cảnh đối với thân tâm, để trở thành thanh tịnh chứng pháp, lãnh hội rõ ràng chân tánh của một sự vật: Ngài đã là Toàn Giác, Ngài đã thành Phật. Lúc bấy giờ Ngài 35 tuổi. Từ đây người ta gọi Ngài là Đức Phật Cồ Đàm (Gotama), một vị Phật trong trường chi vô lượng Phật quá khứ và vị lai.

Như vậy thì lễ Visak không những là kỷ niệm ngày giáng sinh, mà cũng là ngày đắc đạo của Đức Phật. Khi đã được hoàn toàn sáng suốt và đăc quả Chánh Đảng, Chánh Giác rồi, Ngài gia tâm đi hoằng hoá pháp mầu để rọi sáng dẫn dắt kẻ khác. Được hoàn toàn giải thoát, Ngài gia tâm giải thoát chúng sanh bằng một lối đường Trung Đạo. “Mở rộng cửa chân lý cho những ai muốn tìm chân lý, rót thẳng niềm tin tưởng vào tai những ai muốn tìm tin tưởng.” Đó là câu bất hủ mà ngài đã thốt ra lần đầu tiên, khi bắt đầu sứ mạng hoằng dương đạo pháp của Ngài.

Đầu tiên Ngài lập ra Giáo Hội Tăng Già chỉ gồm có năm vị Thanh Tịnh Pháp Sư, đó là 5 anh em Kiều Trần Như. Đây là hột giống đầu tiên hết sức nhỏ bé mà Ngài đã gieo, để rồi về sau này nở muôn ngàn đầy khắp bốn phương: Là  Giáo Hội Tăng Già ngày nay, khắp thế giới, một hệ thống tổ chức thật sự  dân chủ xưa nhất trong lịch sử  nhân loại. Khi rải các đệ tử đi hoằng hoá Giáo Pháp trong thiên hạ, Ngài gửi lời khuyên nhủ chư tăng như sau: “Hỡi chư Tỳ Kheo, các con hãy mạnh dạn ra đi, đi vì ích lợi cho chúng sanh, đi vì hạnh phúc an vui cho nhân quần, xã hội, đi vì thương xót nhân loại. Các con hãy đi khắp chốn, ban bố giảng dậy Pháp này là diệu Pháp hoàn toàn. Các con hãy nêu cao đời sống Thánh Đức khiết thanh, luôn luôn hoàn toàn và trong sạch.”

Riêng phần Ngài, là hoá thân của Đức Độ cao siêu, trí tuệ luôn luôn sáng suốt, đầy lòng nhân đạo, từ bi, bác ái, hy sinh không bờ bến, đêm nghỉ chỉ một giờ. Trong năm mười hai tháng, hết tám tháng Ngài dãi dầu phong sương khắp chốn, không quản gì thân. Ngài tế độ chúng sanh như vậy suốt bốn mươi lăm năm trường.

Một hôm, khi cảm thấy sức đã kiệt, ngày lâm chung săp đến, Ngài gọi tất cả đệ-tử về và nói: “Kiếp sống thật là ngắn ngủi, Thầy nay tuổi đã già. Thầy sắp xa lìa các con! Từ lâu vẫn nương tựa nơi Thầy.  Các con hãy cố gắng chuyên cần tinh tấn, hãy kỹ càng thận trọng và luôn luôn giữ một lòng đạo đức cao cả, với những tư tưởng trong sạch siêu mẫn, các con hãy giữ gìn bản tâm cho chu đáo. Nhờ tôn chỉ và kỷ luật này, với một đời sống tích cực hoạt động đạo đức, các con sẽ được thoát khỏi vòng sinh tử, tử sanh và chấm dứt được phiền não, đau khổ.  Vạn vật cấu tạo là nhứt dán, là vô thường.  Các con hãy cố gắng lên!

Năm ấy Đức Phật tám mươi tuổi thọ. Ngài trở về Kusinara, là một làng nhỏ bé xa xôi, nơi đây êm ái và an tịnh. Ngài tịch diệt, thân nằm êm giữa hai cây long thọ (Sala), hôm ấy đúng ngày rằm vào tháng Vesak. Như thế Vesak là ngày kỷ niệm gồm ba sự kiện: Giáng sanh, Thành Đạo, và Tịch Diệt của Đức Phật. Ngày nay Phật tử khắp hòan cầu cử  hành cuộc lễ gồm ba sự tích ấy, với một niềm tin  tuyệt vời và một đạo tâm chơn thành.

Ngày nay khoa học và văn minh càng tiến bộ, thì Đạo Phật càng được phát triển, vì hầu hết những khám phá trong khoa học hiện nay, thì Đức Thế Tôn đã nói ra cách đây từ 2566 năm về trước! các kinh sách của Đức Phật đã để lại cho nhân loại một kho tàng quý báu. Tất cả đều dựa trên cái Tâm và Trí  của thực thể con người, không ảo tưởng, không thần thoại, cũng không có cái gì là siêu hình, mê tín. Nên nhiều người nhận định, Phật Giáo là đạo sát với khoa học nhất, thì cũng đúng.

H.G. Wells, là một học giả người Anh đã viết: “Đức Phật là một nhân vật vô cùng giản dị, có Tâm Đạo nhiệt thành, tự lực một mình phấn đâu cho ánh sáng tươi đẹp, một con người sống, chứ không phải là một nhân vật của thần thoại, huyền bí. Bên sau cái bề ngoài hơi ly kỳ thần thoại, mà người đời hay gán cho ngài, chỉ thấy rõ một con người như bao nhiêu vị Giáo Chủ khác. Ngài cũng truyền lại một tuyên ngôn, một hệ thống giáo lý rộng rãi khả dĩ thích hợp cho khắp loài người. Bao nhiêu ý niệm văn minh của ta ngày nay, cũng hòa hợp được với giáo lý ấy. Ngài dậy rằng tất cả cái bất hạnh và phiền não của ta là do lòng ích kỷ mà ra, Ngài đã nhất định không sống riêng cho Ngài, mà phải sống cho kẻ khác, từ đó Ngài sống một cuộc đời siêu nhân trên tất cả mọi người. Xuyên qua trăm, ngàn ngôn ngữ khác nhau.

Đức Phật đã dậy đức từ bi, hỷ xả gần 600 năm trước Chúa Giêsu ra đời. Đứng về một phương diện nào đó mà nói, ta có thể cho rằng, Chúa với Đức Phật có nhiều chỗ giống nhau vậy. Đối với đời sống thực tại của ta, cũng như đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp ta, Đức Phật đã tỏ ra biết trước.

Thực vậy, Đức Phật đã nói:

Ta là Phật đã thành,

Các ngươi là Phật sẽ thành.

Vậy mọi người trên thế gian này, nếu có tâm đạo, có ý chí quyết tâm, tu thân, tích đức, loại trừ cái tham, sân, si mà đi theo con đường Đức Phật đã vạch ra, thì cũng sẽ thành Phật, không phải như các huyền thoại khác, lấy tôn giáo để mê hoặc con người, đi tìm một ảo tưởng vô hình. Đức Phật nói đúng, vì chính Phật cũng là một người như ta, nhưng Ngài đã vượt ra ngoài cái khuôn khổ của loài người. để đi tìm lấy một chân lý tối thượng, hầu truyền lại cho con người đi theo con đường Chân, Thiện, Mỹ. Để tiêu diệt cái “Tâm độc ác, cái Trí ngu muội”, trên trần gian. Đem đến cho mọi người được thân tâm an lạc, thanh bình, thịnh vượng, hạnh phúc và có trí sáng tạo.

Ông Bertrand Russell, một học giả triết gia hiện nay người Anh có nói: “Đức Phật rõ là một nhân vật chủ trương thuyết phi thiên cách cao thâm nhất từ cổ chí kim vậy”. Dựa theo giáo lý cuả Đức Phật, Ông Thomas Paine, một học giả uyên thâm khác đã viết theo lời Phật dậy: “Thế giới là nhà ta, nhân loại là anh em ruột thịt ta, và vi thiện là đạo ta”. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước, Đức Phật há chẳng nói: “Chớ nên làm ác, hãy làm lành, cố gắng lên, cố gắng làm cho tâm ngày càng trong sạch”. Đó là điều mà Đức Phật dạy chúng ta phải làm, chỉ có bấy nhiêu. Và chỉ nhờ có bấy nhiêu mà ta sẽ diệt đươc ba nạn là: Tham ái, sân hận, và si mê.

Để kỷ niệm ngày Đức Phật giáng trần và cũng là ngày Đắc Đạo sau sáu năm khổ hạnh và 49 ngày  tịnh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddagaya). Hàng năm cứ gần đến ngày rằm tháng tư âm lịch, là toàn thể các tín đồ Phật giáo thuộc các giáo hội trên khắp thế giới, nao nức hân hoan tổ chức kỷ niệm ngày đản sanh. Để nhắc nhở người con Phật, ôn lại những răn dậy tinh hoa của Đức Thế Tôn, làm kim chỉ nam cho đời sống hiện tại cho mỗi người trên trần gian.  

Mặt khác, tưởng cũng nên nhìn lại lịch sử thế giới, ta thấy bao nhiêu bạo lực độc ác của các đế quốc tàn bạo để nô lệ hóa con người, như gần đây nhất, Nga xâm chiếm Ukraine, Trung cộng đòi chiếm Biển Đông, nhưng tất cả, đã và sẽ lần lượt tiêu tan theo thời gian ngắn ngủi! Chỉ có giáo lý cuả Đức Phật là còn tồn tại mãi mãi, bất diệt nơi tâm hồn của hàng triệu, hàng tỉ người Phật Tử nói riêng và nhân loại nói chung. Mỗi ngày một phát triển trên khắp năm châu. Lạ một điều, giáo lý của Đức Thế Tôn đang được phát triển tột đỉnh, rộng rãi trong lòng các dân tộc văn minh Tây Phương! chứ không phải ở Phương Đông!

Mừng Đại Lễ Phật Đản Trên Toàn Thế Giới

Phật Đản là ngày nghỉ lễ quốc gia tại nhiều quốc gia châu Á như Thái Lan, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, Miến Điện, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia,…

* Đại Lễ Phật Đản Sri Lanka

Tại Sri Lanka, hai ngày được dành cho việc cử hành Vesākha, việc bán rượu và thịt thường bị cấm và tất cả các cửa hàng rượu, bia và lò giết mổ phải đóng cửa do nghị định của chính phủ. Chim, côn trùng và thú vật được phóng sinh như là một “hành động mang tính biểu tượng của sự giải thoát”, của sự trả tự do cho những người bị giam cầm, bị bỏ tù, bị tra tấn trái với ý muốn của họ.

* Đại Lễ Phật Đản Ấn Độ

Tại Ấn Độ, Nepal, người dân thường mặc áo trắng khi lên các tịnh xá và ăn chay. Tại hầu hết các quốc gia châu Á đều có diễn hành xe hoa và nghi lễ tụng niệm.

* Đại Lễ Phật Đản Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc có lễ hội đèn hoa sen (Yeondeunghoe) rất lớn. Còn gọi (Bucheonim osin nal) có nghĩa là “ngày Đức Phật đến”, bây giờ đã phát triển thành một trong những lễ hội văn hóa lớn nhất của quốc gia. Lễ hội Phật đản diễn ra tại nhiều nơi công cộng, và trên những đường phố. Trưng bày và diễn hành lồng đèn là một trong những chương trình tưng bừng và gây nhiều xúc cảm nhất.

 * Đại Lễ Phật Đản Miến Điện

Tại Myanmar, ngày Vesak cũng gọi là ngày của Kason. Kason là tháng thứ 2 trong 12 tháng theo lịch Myanmar. Đây là tháng nóng nhất trong năm. Nên trong khuôn khổ lễ hội Vesak, người dân nơi đây, với lòng thành kính, đặt những chậu nước tinh khiết trên đầu đội đến những tự viện tưới xuống cây Bồ đề. Họ tưới cây Bồ đề để cảm ơn giống cây này đã che chở đức Thế Tôn, trong những ngày thiền định trước khi chứng đạo và ước nguyện năng lực giải thoát luôn trưởng dưỡng trong họ.

* Đại Lễ Phật Đản Thái Lan

Thái Lan là quốc gia Phật giáo đã 5 lần tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc. Khí trời nóng bức và không mưa, người ta thường bắn pháo hoa với ước nguyện sẽ có mưa.

* Đại Lễ Phật Đản Trung Quốc

Tại Trung Quốc, Phật giáo đã có mặt gần 2000 năm. Phật giáo từng là tư tưởng dẫn đường chính cho chính quyền và người dân trong một số triều đại xưa. Lễ Phật đản được tổ chức từ thời Tam Quốc, đã ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội qua nhiều giai đoạn lịch sử. Nhưng ngày nay Phật giáo không còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội Trung Quốc, từ khi theo xã hội chủ nghĩa. Người dân chỉ còn biết đến Phật giáo như là một tôn giáo lo ma chay, cúng kiếng, võ thuật… Lễ Phật đản chỉ có thể được tổ chức trong khuôn viên chùa, tu viện và ít được xã hội quan tâm.

* Đại Lễ Phật Đản Đài Loan

Phật giáo Đài Loan có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống thường nhật của người dân tại lãnh thổ Đài Loan. Từ năm 1999, ngày Phật Đản đã là một ngày nghỉ lễ quốc gia ở Đài Loan, được tổ chức hàng năm vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5 và trùng với Ngày của Mẹ. Nghi lễ thường bắt đầu với điệu nhảy truyền thống và hát ca khúc Phật giáo. Một bức tượng của Đức Phật kèm theo âm nhạc, được rước vào địa điểm và buổi lễ bắt đầu với phần dâng cúng năm vật là hoa, trái cây, hương, thực phẩm và đèn cho Đức Phật

* Đại Lễ Phật Đản Nhật Bản

Tại Nhật Bản, Phật giáo truyền đến từ cuối thế kỷ thứ VI và là tôn giáo chính trong giai đoạn trung và đầu cận đại. Ngày nay, vai trò của tôn giáo ít ảnh hưởng mạnh đến đời sống thường ngày ở Nhật Bản. Lễ Phật đản thường gắn liền với Lễ hội Hoa Anh đào, cũng chỉ giới hạn trong phạm vi tu viện và trong quần chúng Phật tử.

* Đại Lễ Phật Đản Việt Nam

Gần 90% dân số VN theo Phật Giáo, nên Lễ Phật đản được công nhận là một ngày nghỉ lễ (quốc lễ) chính thức tại miền Nam Việt Nam, bắt đầu từ năm 1958, do chính phủ Đệ Nhất Cộng hòa của chính thể Việt Nam Cộng hòa thông qua.

Vào ngày này, người dân tự do tưng bừng tổ chức rất nhiều sinh hoạt, đời cũng như đạo. Cúng lễ tại các chùa, kèm theo nhiều chương trình văn nghệ. Ngoài đường phố, hàng đoàn xe hoa nhiều mầu sắc diễn hành. Cờ Phật Giáo, nhạc Phật vang lừng khắp nơi. CS đã lợi dụng sự tự do này, xúi dục tổ chức nhiều cuộc biểu tình, nhằm làm mất an ninh tình hình hậu phương, cũng nhằm bôi xấu “chính thể VNCH đàn áp tôn giáo” trước dư luận quốc tế.

Sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1975, cộng sản chủ trương vô thần, nên mọi hoạt động tôn giáo đều bị cấm. CS còn tuyên truyền “VN ta có “Bác Hồ” không thờ, thờ chi những Ông Ấn Độ, Do Thái!” Thì ngày này không còn là ngày lễ quốc gia nữa! Mọi hoạt động tôn giáo đều phải có giấy phép! Mặc dù có giấy phép, vẫn bị công an quấy nhiễu. Đàn áp nhiều nhất, vẫn là các sinh hoạt của Phật Giáo Hòa Hảo.

Tuy nhiên, những những năm gần đây, ngày Phật Đản được coi là một ngày lễ hội quan trọng, thu hút sự tham gia không chỉ của Phật tử, mà còn là của người dân trên mọi miền của Việt Nam.

Thấy tình hình, dư luận người dân ngả theo như thế, nên ngày này, cũng nhận nhiều sự quan tâm của nhà cầm quyền CS, thường cử các phái đoàn tham dự các buổi lễ, phát bằng khen.

Nhiều chùa “Quốc Doanh” trên bàn thờ Phật, còn có tượng HCM! Sư giảng Phật Pháp, còn chen vào những bài giảng chính trị.

Còn thực tế bình thường, thì mọi buổi lễ Phật đản chung của các huyện, đều có sự tham gia của chủ tịch huyện và các chuyến thăm của chủ tịch mặt trận Tổ quốc, Nếu chùa nào trong hệ thống quốc doanh, còn nhận được sự hỗ trợ kinh phí trong công tác tổ chức Phật đản.

Ngoài ra vào ngày này, các tổ chức từ thiện của Phật giáo, thường tổ chức các hoạt động thăm hỏi, những người khó khăn, trẻ em mồ côi tại các nhà tình thương, những người già neo đơn không nơi nương tựa. Đây chính là điều quan trọng nhất của Đạo Phật, trong việc xây dựng Đạo của sự Từ Bi.

Danh ngôn Phật Pháp

*Về chân lý cuộc đời

Sau đây là những câu danh ngôn Phật pháp và đời sống giáo huấn con người nhận ra chân lý, lẽ phải, để biết cách sống tốt hơn, đẹp hơn:

– Người Phật tử hãy nên nhớ, sở dĩ con người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm, do không tin sâu nhân quả và tin chính mình là chủ nhân của bao điều họa phúc.

– Nếu chúng ta không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không thể làm cho ta phiền muộn khổ đau, vì ta đã có cây kiếm trí tuệ, nhờ nghe và biết chiêm nghiệm, để rồi tu sửa và làm chủ bản thân.

– Chúng ta hãy luôn cám ơn nghịch cảnh, vì chính khó khăn đó đã giúp cho ta có cơ hội quay lại chính mình. Nhờ vậy tâm ta an tĩnh, sáng suốt mà tìm ra phương hướng để khắc phục.

– Khi ta vui, ta biết mình đang vui và luôn tâm niệm rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi ta đau khổ do một hoàn cảnh bức bách nào đó, ta nên biết nỗi khổ này cũng không thể lâu dài, vì ta biết buông xả.

– Sự chấp trước của ta ngày hôm nay, sẽ là niềm hối hận cho mai sau, bởi vì ta đã làm tổn thương đến nhiều người, dù có ăn năn hối lỗi, trái tim ta vẫn rỉ máu.

– Bất mãn là thái độ thiếu khôn ngoan và sáng suốt, người trí càng nỗ lực tu học và dấn thân đóng góp nhiều hơn nữa, khi mọi việc chưa được tốt đẹp, để không bị rơi vào trạng thái tiêu cực.

*An lạc trong cuộc sống

Chìa khóa của sự an lạc trong cuộc sống, chính là biết buông bỏ đúng lúc, những gì không thuộc về mình và trân trọng những gì hiện có. Sau đây là những danh ngôn Phật pháp giúp ta biết cách sống an nhiên, tự tại hơn:

– Chúng ta nên nhớ khi con người có quyền và tiền trong tay, thì hạnh phúc tinh thần sẽ mất đi. Vì lo sợ mất mát, sợ người chiếm đoạt và sợ kẻ thù, những thứ không thuộc về mình, mà cố nắm giữ, chỉ gây thêm phiền muộn khổ đau.

– Người Phật tử hãy cho qua hết việc buồn đau, được mất, hơn thua, không gieo oán giận thù hằn, để tâm an ổn, mà sống đời hạnh phúc, ngay tại đây và bây giờ.

– Con người sống không thể không có niềm tin, nhưng niềm tin đó phải là chánh tín nhân quả, được xây dựng trên cơ sở có chánh kiến, chánh tư duy, bằng sự thấy biết chân chính nhờ biết từ bi hỷ xả.

– Người Phật tử chân chính hãy cho qua hết mọi đam mê có hại đến người và vật, biết phát huy tinh thần giúp đỡ sẻ chia, bằng tình người trong cuộc sống.

– Chúng ta nên biết, không tranh thì an ổn, không giết không hại người vật, thì an nhiên tự tại trong mọi hoàn cảnh. Người hay giúp đỡ sẻ chia, thì tâm từ bi rộng lớn mà sống đời an vui, hạnh phúc.

– Người biết đủ, là người giàu có hạnh phúc nhất, vì không thấy thiếu thốn, người tham lam ích kỷ, hà tiện keo kiệt, dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo nhất thiên hạ, vì tâm toan tính sợ mất mát.

Danh ngôn về giá trị cuộc sống

Những câu danh ngôn Phật giáo với những giá trị sâu sắc dạy ta hiểu hơn về quy luật sống của thế gian. Hoa nở hoa rơi rồi hoa tàn, tiền tài địa vị cũng sẽ tan, cao sang danh vọng rồi cũng tàn.

– Chúng ta sống phải có niềm tin chân chính về nhân quả thiện ác, do chính mình tạo ra, niềm tin này không phải là tin vào một đấng thượng đế, có khả năng ban phước giáng họa, hay tin vào một điều gì mà mình không hiểu, không biết.

– Người Phật tử phải có hiểu biết, có yêu thương, có trí tuệ, có từ bi và làm lợi ích cho nhiều người, mà không bao giờ tính toán, so đo, nhờ vậy ta sẽ sống bình yên và hạnh phúc.

– Chúng ta phải biết buông bỏ những kiến chấp sai lầm và các tạp niệm xấu ác. Nhờ vậy cuộc sống lúc nào bình yên hạnh phúc, trong từng phút giây.

– Mọi người không nên tiếc nuối về quá khứ tốt xấu, đúng sai mà đánh mất chính mình trong hiện tại, vì ta đang sống hạnh phúc trong từng phút giây của thương yêu và hiểu biết.

– Người Phật tử khi đến chùa đọc kinh nghe pháp, khi hiểu rõ lời Phật dạy, sau đó mới đem áp dụng vào cuộc sống của mình, để có được hạnh phúc cho bản thân, và đem lại lợi lạc cho gia đình xã hội.

– Một niềm tin thiếu hiểu biết gây tác hại, ảnh hưởng xấu, làm trở ngại cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, gieo bất an, khổ não cho nhiều người, thì đó không phải là niềm tin đúng đắn, chúng ta cần loại bỏ.

*Danh ngôn về triết lý nhân quả

Những câu danh ngôn Phật pháp về luật nhân quả, răn dạy chúng sanh phải biết tạo nghiệp tốt, để nhận được quả ngọt:

– Hiểu và ứng dụng lý nhân quả vào trong đời sống hằng ngày, chúng ta sẽ không đổ thừa do số mệnh định sẵn, hay có sự an bài của đấng tạo hóa nào đó, mà không vươn lên làm mới lại chính mình, thay đổi hoàn cảnh cuộc sống.

– Đối với thức ăn vật chất, Đức Phật dạy không nên ăn nhiều, chỉ ăn vừa đủ giúp cơ thể khỏe mạnh, không nên ăn những gì không thích hợp với cơ thể. Đó là cách ăn của chư vị Tổ sư đã thể nghiệm, nên đưa ra pháp tu tương ứng, nhằm duy trì mạng sống chúng Tăng được khỏe mạnh.

– Chúng ta đừng để tâm chạy theo những mối ưu tư của nó, giống như những người bình thường, chưa biết quán sát hơi thở là gì. Một khi ta đã có chỗ an trú, để giữ con khỉ tâm thức, thì nó ngày càng bớt ngang ngạnh và từ từ bớt rong rủi chạy tìm.

– Chúng ta chỉ làm một việc duy nhất, là đơn thuần theo dõi và nhận biết hơi thở rõ ràng, thở vô mình biết mình đang thở vô, thở ra mình biết mình đang thở ra. Hơi thở dài hay ngắn là tùy theo khả năng của mỗi người.

– Ngu dốt là sự không hiểu biết của con người, nên ngu dốt cũng đem tới nhiều tai hại cho bản thân, gia đình và xã hội. Có thể nói, ngu dốt là không có kiến thức, không tin sâu nhân quả, không hiểu biết chân chính về mối tương quan trong thế giới mình đang sống.

Mong rằng với những câu danh ngôn Phật pháp  trên sẽ giúp cho Quý Vị tìm ra được giá trị cuộc sống và tâm hồn sẽ trở nên an yên, thanh thản.

LÊ VĂN HẢI

Ba Bài Thơ Mừng Khánh Đản:

Chùa làng

 Chùa làng soi bóng hồ sen

Tháng Ba đom đóm rước đèn hoa đăng

Rủ nhau đi cấy sáng trăng

Thoảng mơ tiếng mõ đêm rằm nhặt khoan…

Giọt chuông thánh thót tam quan

Nhành mai gọi chú bướm vàng vờn hoa

Sân chùa tiểu quét lá đa

Khói nhang trầm mặc, la đà câu kinh…

Sương vương hồng đóa môi xinh

Gót tiên đội nắng bình minh lên chùa

Thềm nào rụng quả táo chua?

Thị Màu rình rập bỏ bùa áo nâu…

Về làng hồn tựa vào đâu?

Mái chùa cong vút xanh màu rêu phong

Lại đi cấy giữa sáng trăng

Lại nghe tiếng mõ đêm rằm… nhặt… khoan…

Hoàng Anh Tuấn

*

Trầm Hương Khánh Đản

*

Sớm nay trời ửng nắng hồng

Lời chim hót, tiếng ca trong ngọt ngào

Hải triều âm dậy dạt dào

Hỏi ra mới biết Phật vào cõi hương

Sớm nay nhân thế triều dương

Tin vui truyền khắp mười phương đất trời

Vinh quang hạnh phúc cõi người

Ca tì la vệ rạng ngời pháp thân

Rằng nghe Linh thoại ngàn năm

Ưu đàm hoa nở trăng rằm tỏa hương

Viên thành diệu sử một chương

Đản sinh Văn Phật ơi hương ơi trầm

Trời xanh hiện cát tường vân

Trần gian xuân sắc thanh tân diệu kỳ

Mười phương một niệm Tam quy

Chân như hiện bóng từ bi cát tường.

Hạnh Phương

*

Mừng Phật đản

1.

Hai nghìn năm kinh sử truyền ghi

Một sáng tháng Tư đẹp diệu kỳ

Khắp cõi nhơn thiên bừng tỏ rạng

Đón mừng Phật đản, đấng Từ bi.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Ra đời mở cửa huyền vi nhiệm mầu

Cứu muôn loài thoát khổ đau

Đến bờ an lạc dạt dào yêu thương.

2.

Hôm ấy Tỳ Ni bỗng lạ thường

Vô ưu nở rộ ngạt ngào hương

Líu lo chim hót, hoa khoe sắc

Thiên nhạc ngân vang mọi nẻo đường.

Hân hoan nô nức muôn phương

Mừng bậc xuất thế phi thường giáng sinh

Ba ngàn thế giới chuyển mình

Ca Tỳ mở hội cung nghinh thân vàng.

3.

Thắp nén hương lòng con kính dâng

Mừng ngày Phật đản, niệm hồng ân

Nguyện cùng muôn loại đồng khai ngộ

Thông điệp Từ bi chiếu rỡ ràng.

Lưu truyền khắp cõi nhơn gian

Đạo mầu tỏa ánh từ quang rạng ngời

Chúng sanh thoát cảnh lầm mê

Nương nhờ pháp lạc, lối về thong dong.

Tâm Chơn

Chúc Mừng Đại Lễ Phật Đản PL 2566. DL 2022




HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI

CAO MỴ NHÂN 

Nếu quý vị chỉ quen biết nhau có một thời, như là thủa ấu thơ, thiếu niên ở cùng xóm, cùng khu phố . 

Thủa thanh niên, cùng đi học, đi chơi, đi hội đoàn, đi làm hay đi buôn bán vv…

Tới thủa cao niên thì đi thăm hỏi, lễ lạc vv…

Tất cả đều  bình thường, có gặp lại hay không cũng chẳng thành vấn đề …

Song nếu quý vị quen biết nhau suốt hành trình cuộc đời , nghĩa là từ tấm bé đi lên tới cõi già nua, thì thật có lúc buồn ghê lắm, ấy là ta thấy rõ đời nhau, những thăng trầm, không suông sẻ, thậm chí còn đau khổ, thất bại vv…

Và cái điều không tránh khỏi là cả 2 cùng thấy nỗi bâng khuâng, tàn tạ của nhau lúc về già …

Không phải là người ta sợ già, chán già, vì già thì không còn đẹp đẽ, không còn tươi vui, mà người ta kịp nhận ra rằng chẳng còn bao lâu nữa, mọi người sẽ từ từ khuất mặt ở thế gian này vậy thôi. 

Như trên tôi đã trình bầy, thủa thanh thiếu niên, ngoài việc đi học, tôi tham gia rất nhiều hội đoàn …Thoạt thì đi Phật Tử từ tuổi oanh vũ ở Hải Phòng, sau đi Hướng Đạo ở Saigon, rồi vô Caritas, theo đoàn Hội Con Đức Mẹ đi tới các nhà thương chăm sóc bệnh nhân . 

Chót hết là tham gia Quân Đội VNCH, trong ngành Công tác Xã hội …

Chưa kể các nhóm nhỏ, hội lớn vv…tôi đều có mặt . 

Như vậy, cứ nhìn vào sinh hoạt của tôi, quý vị cũng thấy là tôi sống chan hoà thế, thì số lượng bạn bè …đông đảo lắm chứ . 

Do đó, kể từng giai đoạn lui tới bạn bè, hẳn tôi …ôm đồm quá , nên mệt quá, ấy thế mà tôi …thú vị vô cùng trời ạ. 

Và vì thế, tôi mới có dịp chứng kiến những phút giây vinh quang cũng như  tủi nhục của kiếp người, nhất là thời gian tôi sống trong đại tộc KaKi của…tôi. 

Tôi thuộc lòng từng chi tiết một những gì xẩy ra với mỗi cá nhân đặc biệt, hay từng đơn vị nhỏ mà tôi mặc nhiên hiện diện, ở gia đình quân nhân các cấp trong thành phố, ngoài các trại gia binh, hay tới tận cùng núi non, sông biển, đất lở, đồng lụt vv…

Đôi khi không muốn nhớ lại, nhưng những sự việc chưa rời xa lắm, lại hiển hiện trước mắt …cả một quá khứ miên man tiếp nối …cứ khiến mình nhớ thương vời vợi. 

Hình như trong lòng tôi, tôi chưa muốn ai phải từ giã cõi đời, nếu như lý luận của quý cụ bị phiền hà, bực bội, thì mỗi lần tôi tỏ vẻ tiếc thương bạn văn cũng như bạn …võ , quý cụ lại  chép miệng : 

” Chết phải rồi, nếu ai cũng sống, đất đâu mà chứa …” 

Sau khi đi tù cải tạo về, tôi tiếp tục lối sinh hoạt của tôi, chỉ có thay đổi nghề nghiệp cũ, là không còn đại tộc KaKi cho tôi bay nhẩy như thủa phục vụ ở Bộ Tư Lệnh QĐI/ QKI. 

Nhưng tôi vẫn nay thăm nhà này, mai thăm nhà khác, những gia đình quân nhân các cấp mà tôi được hân hạnh quen biết trước cuộc đổi đời 30-4 -1975. 

Đến nỗi tôi chưa cảm thấy đói, lại còn được huynh đệ chi binh hỏi thăm xem tôi đang sống cách nào, mà cứ lạc quan , mặc dầu ông xã tôi qua Mỹ đã ” biệt vô âm tín “. 

Tôi và 4 con tôi không thể kể khổ than nghèo được, khi ai cũng biết : ” nhà đó có chồng ở Mỹ, tụi nhỏ có cha ở Mỹ, thì làm sao thiếu thốn được chứ ” . 

Rồi đào lý bốn phương, chi lan tỷ muội, tức là bạn văn của tôi, cũng luôn chứng tỏ thơ phú tri âm tri kỷ thân tình … 

Tôi than là than theo cái kiểu bình thường, làm lụng nhiều quá thì kêu mệt, tôi khóc là vì bằng hữu hay hỏi thăm những chuyện …bá vơ. 

Thế nên tôi bỗng giận ông Thiên quá, ông không để huynh đệ chi binh, đào lý bốn phương tôi được sống an bình, ít nhất mỗi người đủ 100 năm cho đúng tiêu chuẩn ngài Thiên đã ấn định, ông Thiên lại cứ bớt xén một số tuổi tác, bởi cảnh cơ khổ, hoặc bất trắc vì bịnh hoạn hay tai nạn xẩy ra. 

Khi tôi 40 tuổi thì quý nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đã gấp rưỡi hay gấp đôi số niên tuế của tôi rồi …

Tôi luôn là cây gậy của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội khi bà còn ở Úc Viên Saigon. Tôi theo bà đi thăm vị này,vị nọ như quý cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vv. 

Tôi không biết thủa ” phương phì ” ( đương thì ) của quý khách Úc Viên xưa thế nào, chứ thực tại hồi đó, quý vị đã là những lão ông, người thì lụm khụm, người còn phi xe đạp tới nhà nhau bình văn thiên hạ . 

Và rồi lần lượt ra đi Tây Trúc khói sương. ..

Nữ sĩ Mộng Tuyết mở album ra,  hình ảnh cũ, có cụ Đông Hồ, và vài vị tên tuổi, vẫn còn phong thái ung dung… đã mãn phần. 

Nơi album của nữ sĩ Vân Nương hồi đám cưới, chú rề là  luật sư Lê Ngọc Chấn tri phủ, sau này làm đại sứ VNCH ở Luân  Đôn và Tunisie, nhị vị phù rể là 2 thi sĩ danh tiếng thời tiền chiến: Huy Cận, Xuân Diệu . 

Tôi kéo thời gian lùi về hiện đại một thế hệ ( 10-15 năm ), tôi bắt gặp một album của anh họ tôi, đại tá Biệt Động Quân Cao Văn Uỷ, thì nhị vị phù rể là 2 nhạc sĩ ; Nguyễn Hiền và Nhật Bằng  tên tuổi ở 2 thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà, tới cả khi cùng đi tị nạn ở Hoa Kỳ đầu thập niên 90 thế kỷ trước , anh tôi đại tá Cao Văn Uỷ thì ở Úc .  

Nay thì chẳng còn ai trong số quý vị vừa nêu trên … ở cõi đời này nữa. 

Tất nhiên rồi, làm sao sống mãi được… vì quý vị đã trên tám , chín mươi trở đi. 

Song kể như thế vẫn chưa rõ ý, điều tôi nêu ra, phải có một hình ảnh cụ thể cơ. 

Một người lạ, không quen , chỉ biết thôi, vì nếu không biết thì làm sao kể nhỉ ? 

Chuyện nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên, đối với tôi, thì rõ quá rồi, nhưng khi ông 30, tôi còn mấy năm nữa mới 20 . 

Trong suốt thời gian trung niên của thi sĩ Hoàng Ngọc Liên, cùng một loạt văn thi sĩ khác, tôi thấy quý ông hào hoa phong nhã … không kịp thở nữa . 

Quý vị ấy cũng sống bận rộn hết mình kiểu như tôi, nhưng sự kiện khác, như Thế Hoài, Hoàng Ngọc Liên bận rộn nơi đoàn quân Mũ Đỏ, rồi văn nghệ lai rai…

Sau 1975 cộng thêm mỗi người 12 năm tù cải tạo. Khi trở về thành phố, mỗi thi sĩ ” lớn” một xe đạp cao hay mini, tuỳ theo gia đình có xe chi thì xài xe đó, nhị vị tới tìm tôi ở Câu lạc bộ Dưỡng sinh… vì tôi về sớm nên đã kiếm ra việc làm huấn luyện viên Dưỡng Sinh rồi . 

Thế là chúng tôi đi xơi canh bún bình dân ở vệ đường, vậy mà tôi đòi trả tiền, quý vị không cho …2 thi sĩ tá 5 trước mặt tôi đã bị CSVN bóc hết những gì gọi là phong cách cũ …ngó tội  nghiệp lắm . 

Nhưng chúng tôi gặp lại nhau, thì tưởng như người nhà thất lạc đã về, nên niềm vui cứ chan hoà . 

Như tôi trình bầy trên, ông Thiên chẳng có thì giờ ngó ngàng đến 2 vị thi sĩ đàn anh của tôi, thời gian sau thì Thế Hoài thất lộc bên quê nhà, Hoàng Ngọc Liên qua Mỹ theo diện HO . 

Trung tá Hoàng Ngọc Liên lênh đênh trên vài tiểu bang miền đông, rồi qua Sacto lưu lại cũng khá nhiều năm, nay diện bích ở Oregon, với gia đình một trong 2 cô con gái mà ông mang theo được, ông đã bước gần tới cửa thiên đường . 

Chao ơi, viết riêng về nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên toàn cảnh cuộc đời thì phải …3 tập, 2 cho nhị vị phu nhân, còn 1 cho tất cả hoa hoa bướm bướm quanh ông, cả lúc đương thời danh vọng lẫn khi thất thế . 

Mỗi lần kể chuyện đào lý chi lan, tôi thường đi lạc, anh Thân Kính của tôi là một hình ảnh tổng hợp nhiều kiếp nhân sinh gộp lại, khiến tôi không muốn để một kẽ hở nào cho việc than trách sự trống vắng hay thiếu sót bóng dáng những nhân vật, đã có dịp thân thiết trong văn chương hay ngoài cuộc đời mình. 

Cuối cùng , tôi có  được vốn liếng về thế thái nhân tình ngày nay, là điều tôi rất vui mừng, hạnh phúc, bởi  tôi .đã chắt chiu tình cảm của anh trong nhiều hoàn cảnh cuộc đời …tôi giữ lại mãi mãi tình thân thương hiếm quý này … 

         CAO MỴ NHÂN