Tôi sinh ra giữa núi rừng cao nguyên Nơi Ba mẹ lưu đày kinh tế mới Những tháng ngày sống trong miền đen tối Nên tôi hiểu thế nào là khổ đau ! Những đứa trẻ ở nhà tự giữ nhau Cho Ba mẹ vào rừng kiếm mây bán Ba đi trầm, lúc trời còn chưa sáng Mẹ nấu cơm để đó , rồi đi sau ! Chị ở nhà phải lo trước lo sau Cơm độn khoai lấy cho em lót dạ Bầy khỉ đói, vờn quanh nhà chị Cả Ôm đàn em co dúm lại với nhau ! Rồi những lúc mẹ vắng nhà tôi đau Sốt rét rừng run từng cơn, tôi sốt Chiều tối sầm người tôi như lửa đốt Ba mẹ sao hôm nay vẫn chưa về !
Mẹ đi rừng chẳng may mẹ bị té Gãy cánh tay Ba phải dắt đi băng Mẹ ở nhà chị em cứ lăng xăng Hôm nay vui được ở nhà với mẹ ! Tôi nhõng nhẽo đòi quà mẹ khe khẽ Chờ Ba về mẹ sẽ dắt đi mua Đếm từng giờ, đợi từng phút,xót chua Ba đi rừng một mình rồi lạc lối ! Trời mịt mù Ba lần trong đêm tối Suốt đêm thâu Ba cũng chẳng về nhà Đốt đuốt tìm trong muôn vạn xót xa Lo cho Ba tôi cũng không ngủ được. Rồi có lần Ba đi rừng trơn trượt Rớt từ trên đầu thác xuống hố sâu Họ khiên Ba trong chiếc võng đớn đau Tôi nhìn Ba mà trong lòng hoảng sợ !
Tuổi thơ tôi lớn lên như thế đó ! Trong rừng thiên nước độc bởi vì đâu ? Kiếp con người hay là kiếp ngựa trâu ? Kiếp lầm than miệt mài trong đêm tối .
Cuộc bút chiến giữa hai nhà Nho: Tôn Thọ Tường (1825- 1877) người ra cộng tác với Pháp, và Phan Văn Trị (1830-1910), một nhà Nho khác nhưng lại tranh đấu chống Pháp, là một giai thoại văn chương lý thú. Cuộc tranh luận bằng thơ văn giữa hai ông tuy gay go nhưng rất có tính cách văn hóa ở trên văn đàn. Ông Phan Văn Trị (PVT) làm thơ cực lực lên án Ô. Tôn Thọ Tường ( TTT) hợp tác với Pháp là sai trái, là phản bội đất nước, và dĩ nhiên ông TTT cũng đối đáp lại bằng thơ văn lỗi lạc của mình để đưa ra lý lẽ biện hộ cho việc hợp tác với thực dân.
Rất nhiều bài thơ của hai người đã để lại cho đời sau, nhưng được biết đến nhiều nhất là hai bài: “Tôn Phu Nhân Quy Thục”, và “Từ Thứ Quy Tào”.
…
Có bạn hỏi Tôn Phu Nhân là ai?
Thời Tam Quốc Chí có 3 nước đánh nhau giành thiên hạ
Nhà Ngụy : Tào Tháo
Nhà Thục : Lưu Bị
Nhà Ngô: Tôn Quyền
Một lần kia Lưu Bị vua nước Thục qua nước Ngô. Vua Ngô Tôn Quyền và các tướng lập mưu muốn nhân dịp giết chết Lưu Bị, nhưng nhờ Khổng Minh là quân sư biết trước nên bày mưu để Lưu Bị cưới được em gái Tôn Quyền, tức là “Tôn Phu Nhân”, nhờ sự giúp đỡ của vợ và nhạc mẫu là mẹ Tôn Quyền mà an toàn về nước Thục. Tôn Phu Nhân đã theo chồng, phản anh, phản Đông Ngô thả cọp Lưu Bị về rừng.
Ông Tôn Thọ Tường đã ví mình như Tôn Phu Nhân ấy qua bài thơ:
Tôn Phu Nhân Quy Thục
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!
Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán, trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi,
Đá vàng chi để thẹn núi sông .
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn :
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng
(Tôn Thọ Tường)
Ông TTT đem diển tích Tam Quốc Chí để biện hộ và ví von hành động theo Pháp của mình cũng như Tôn Phu Nhân quy Thục, đã theo chồng thì không thể theo anh. Không thể vẹn cả đôi bề.
Và ông PVT đã đối lại rằng:
“Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.
Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cang thường nâng núi sông
Anh hởi ! Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.
(Phan Văn Trị)
Tất cả ý tứ của bài thơ kết lại ở câu cuối : Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.
Ông Phan Văn Trị nhắn với ông Tôn Thọ Tường rằngTôn Phu Nhân là phận nữ nhi mới thờ chồng cho trọn đạo tam tòng chớ ông là thân nam nhi, bậc thức giả, phải biết chọn chúa mà theo tức là chọn lẽ phải của quốc gia dân tộc, hà cớ chi như phận má hồng, nhắm mắt hùa theo thực dân?
Bài “Tôn Phu Nhân Quy Thục” được giảng dạy trong chương trình trung học, một phần lớn do tính cách văn chương bóng bẩy của cả hai bài thơ. Nhưng nỗi lòng Tôn Phu Nhân thật ra không hoàn toàn phản ảnh con người và hoàn cảnh của ông Tôn Thọ Tuờng.
Bài thơ TỪ THỨ QUY TÀO sau đây của ông mới thực sự bài thơ bày tỏ hết nỗi lòng.
Từ Thứ là ai?
Xin thưa đó là quân sư giỏi của Lưu Bị thời Tam Quốc nói trên. Tào Tháo sợ tài Từ Thứ nên bày kế cho người giả mạo thư của người mẹ ở quê nhà nhắn ông trở về nhà. Ông vì chữ hiếu phải từ giã Lưu Bị về Tào, hứa sẽ không hiến bất cứ mưu kế nào cho Tào Tháo. Và nhất là trước khi đi đã tiến cử Gia Cát Lượng tức Khổng Minh là người tài giỏi hơn mình thập bội cho Lưu Bị.
Ông Tôn Thọ Tường gởi gắm tâm sự mình về với Pháp cũng như Từ Thứ về với Tào Tháo.
Từ Thứ Quy Tào
Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi,
Muối xát lòng ai, nấy mặn mòi.
Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,
Về Tào chi sá một cây còi !
Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,
Bịn rịn trông vua biếng giở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,
Thân này xin gác ngoại vòng thoi!
(Tôn Thọ Tường)
Và Phan Văn Trị đã đối lại rằng:
“Quá bị trên đầu nhát búa voi,
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi.
Xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám,
Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi,
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào miệng ngậm như bình kín,
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi ?”
(Phan Văn Trị)
Lịch sử cận đại đã chứng minh rằng ông Tôn Thọ Tường không phải là người hoàn toàn đánh mất hết lương tri. Ông ra làm việc với Pháp là con đường giúp nước theo cách riêng của ông. Trong thời gian làm quan cho Pháp, ông không có hành động nào làm hại đến dân tộc và đồng bào. Ông làm quan với quyền hành trong tay có thể bắt bớ Phan Văn Trị và những sĩ phu khác chống đối ông, nếu muốn, nhưng ông đã không làm điều đó. Ngược lại khi nhà cách mạng kháng Pháp Bùi Hữu Nghĩa bị Pháp bắt, ông là người đã đứng ra xin ân xá cho Bùi Hữu Nghĩa.
Trải qua tất cả những bài thơ qua lại giữa hai ông, tuy chính nghĩa vẫn thuộc về ông Phan Văn Trị, nhưng người ta vẫn nhận ra được nỗi khổ tâm thành thực của ông Tôn Thọ Tường qua thơ văn của ông. Trong khi Ô.Phan Văn Trị luôn luôn đanh thép và tấn công trực diện vào con người của ông Tôn Thọ Tường, thì ông Tôn Thọ Tường luôn điềm đạm, muốn chia sẻ, trang trải nỗi lòng mình đối với các vấn đề quốc gia mà thôi.
Tuy hai nhà Nho trên hoàn toàn đối ngược về tư tưởng, nhưng tất cả bài thơ của họ trong cuộc bút chiến đó đều để lại cho hậu thế những áng văn tuyệt tác. Mỗi bài thơ dù của ông Tôn Thọ Tường hay Phan Văn Trị đứng riêng rẽ đều mang một sắc thái riêng biệt đặc sắc, ý thơ sắc bén, đanh thép, nhưng lời thơ lại rất mượt mà, đầy điển cố.
Và đó là cái trí thức đáng kính của người xưa!
ThaiNC
LẦN ĐẦU VỀ XỨ MẠ
Hai mốt tuổi, theo Mạ về với Huế Xứ sở bao năm với mắt quế môi trầm.. Huế từ trên cao, ẩn hiện giữa mù giăng.. Con luôn miệng..Huế mềm mô hở Mạ?
Huế ẩn hiện trong sương mờ trắng muốt Mạ ngậm ngùi..Con liên tục bấm máy quay Nơi chôn rau cắt rún của Mạ ni.. Huế hiện hữu..hệt tự tình của Mạ! … Mạ quỳ sụp, giữa Thu tàn xao xác lá Vết lăn trầm viễn xứ..bước tha phương Chừ khấu đầu trước Tiên Tổ, Cố Hương.. Con cảm nhận..Nỗi lòng Người Xứ Huế!
Đời thênh thang, phận người như chiếc lá Khi úa vàng..xin được rụng dưới Cội cây! Mặc ngoài tê, mưa gió lạnh giăng đầy.. Răng ấm áp..khi trong lòng Xứ Mạ!
Về Đại Nội trong Trời mưa tầm tã.. Hai mạ con..phó mặc bước trong mưa Giọt ngắn giọt dài, như lấn lướt giọt mưa.. Trong thổn thức khi lần về Nguồn Cội!
Đến Kim Luông..chạng vạng mưa giăng lối Bước chân lạc loài, hiu hắt gió Thu đưa.. Đệ Phủ chong đèn..rêu phong phũ lối xưa Tay trong tay Mạ..
Chiều Huế Thương..Hai lẻ bảy !
Lá Thu
Theo lẽ tuấn hoàn, năm nào cũng có bốn muà , chuyển dần từ nóng sang lạnh , rồi lại trờ lại từ lạnh sang nóng, có lẽ để dễ dàng thích hợp với những chuyền động đổi thay , tạo hoá đã ban cho ta những khoảng thời gian chen giữa hai thái cực, mà người đời chọn cho hai cái tên Xuân và Thu , rối cũng vì hai cái tên đó mà lòng người cứ mãi vấn vương dao động . nhưng hơn cà, Thu vẫn gieo vào lòng nhân thế những nỗi buồn nhè nhẹ man mác, không biết từ tiết trời đổi thay, từ những tiếng lá lao sao lay động vào nhau trong cơn gió nhẹ, từ những sắc lá đổi mầu lẫn lộn , cũng có thể lả hình ảnh những chiếc lá khô lìa cành, bay lượn đong đưa trước gió, là người đa sầu đa cảm , làm sao tránh khỏi những rung động cảm xúc, nhũng lần xa cách , biệt ly, những mất mát lại ẩn hiện trở lại trong ánh mắt xa săm thẫn thờ. Lâu lắm rồi, trong những vần cổ thơ, còn nói :
“ Một lá Ngô đồng rơi
Cả thiên hạ biết Thu đến … ”
Quả là hơi quá, chốn trần gian nhộn nhịp , chỉ có những tâm hồn nghệ sĩ
lãng mạn mới dành thì giờ ngắm hoa tươi nhìn lá rụng, hồn lặng đi mà
quên đi chuyện thế sự.
Một lần thơ thẩn ngồi đợi nắng lên bên bờ giòng suối, nhìn những
chiếc lá muôn màu, đuổi rượt nhau miệt mài trên giòng nước quanh
co, lúc trồi lên lúc hụp xuống, tưởng chừng như bị cuón hút mất đi.
Nhưng chợt thấy , bên bờ suốí, cũng có những chiếc lá gặp duyên,
trôi giạt vào bên bờ suối, “Đến bờ kia “ thảnh thơi nằm phơi nắng Thu
xen cùng những tảng đá rêu phong, thoát khỏi trầm luân
Còn trong cõi nhân gian sinh tử vô thường, nếu vượt qua được giòng
đời phiền nào, là đến được chốn thảnh thơi , an nhiên tự tại ./.
***
Thu tịch lữ hoài
“ Tối muà Thu nhớ nhà “ thơ Lý Bạch, cụ Tản Đà dịch
Lạnh lùng gió vượt bể thu,
Hồn quê theo gió như vù vù bay.
Chạy dài dãy núi liền mây,
Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?
Đám mây vút mắt xa chừng,
Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.
Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,
Áo may mặc rét giục người móc sa!
Giấy mơ rơi giải Ngân hà,
Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.
Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,
Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?
Năm nay, 2020 là một năm lắm nỗi đau thương trên cõi trần gian, vốn dĩ đã mang nhiều gian truân nhọc nhằn. Theo ngày tháng, Thu sang đã gần một tháng rồi, trần gian như chưa sẵn sàng đón rước nàng Thu trở lại với chúng ta. Tiết trời chưa hạ giảm cơn nóng nực của muà hè “ lovely summer“ của bà thị trưởng Seattle, vẫn chưa nghe tiếng lá vàng bay lượn lao sao trong từng cơn gió, vẫn chưa thấy lá khô chạy đuổi từng cơn trên hè phố. Hay nàng Thu còn e dè chuyện cảm cúm lăng nhăng, hay quên mang theo khẩu trang, phải trở lại lấy mang theo cho hợp thời trang chốn trần thế.Vượt lên trên, lặng nhìn chuyện thế gian, dọc ngang khó mà phân biệt , đúng sai khó lường, lầm lạc trong chốn thức tình. Mê lầm che khuất nhân tình, tối tăm không biết đường ra lối vào. Tranh cãi chuyện hơn thua nhất thời. Mờ mịt, nổi trôi trong những cảm xúc vô minh. Nhưng rồi cùng với sự chuyển động không ngừng của vũ trụ, mọi chuyện đều phải đổi thay trong từng phút giây, không một điều gì tồn tại mãi mãi trong chốn vô thường.
Ao Thu
Tóc trắng xoã ê chề
Sầu đời dài lê thê
Gương trong mà mù mịt
Sương Thu che lối về
( thơ Lý Bạch )
***
Nhớ người
Nhớ người từ chốn nghìn trùng Nhớ người tan nát tận cùng thịt da Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh Nhớ từ thuở rất điêu linh Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan Tay trong tay vẫn dịu dàng Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm