Thần Linh

Thần Linh

Tế Luân

Em là hiện thân của thần linh

Để ta tụng niệm cõi vô hình

Em ngồi đất nứt mọc hoa lạ

Thơm ngát từng mây những cuộc tình.

Trang giấy trắng vần thơ ẩn hiện

Dòng mực đen thấm ướt đường viền

Chỉ một chữ yêu còn hiện diện

Một chữ thôi xóa những ưu phiền.

Chim nhảy nhót mừng ngày huyền thoại

Hoa ngát hương thơm ngát tầng mây

Chỉ một lần hóa thành linh hiển

Mối tình đầu nguyên thủy không phai.

Tế Luân

EM THẦN THOẠI

(kính họa cùng thầy Lê Tuấn)

Em ngồi sợi nắng thẹn lung linh

Suối cũng ngừng reo rọi bóng hình

Gió phủ quanh bờ vai diễm lệ

Ngào thơm hương sắc lẫn hương tình

Ta đắm say cuồng, mơ thoảng hiện

Bờ môi bỏng mọng nét hồng viền

Dáng hoa xuân thắm ngời nhân diện

Chắp cánh cùng bay thoát cõi phiền

Em như giấc mộng đơm thần thoại

Lấp lánh hào quang vẹt áng mây

Ta chốn trần gian lòng khắc khoải

Lo tình muôn thuở sẽ tàn phai

Phương Hoa – NOV 15th 2020

Đêm Thần Tiên

Thiên thần áo trắng đẹp huyền linh

Thánh thiện vời cao một dáng hình

Chỗ ấy em ngồi hoa nở rộ

Trăng sao lấp lánh gợi mơ tình

Vẫy bút say sưa nồng ý tưởng

Tràn nghiên nét mực vẽ tranh viền

Lâng lâng cảm giác vùng sương tỏa

Thế tục lùi xa những não phiền

Tiếng mộng ru hồn say nhịp bước

Cung đàn lã lướt vọng trời mây

Hương lùa tỏa ngát đêm trà nguyệt

Giấc ảo tiên vời khó nhạt phai. 

Minh Thuý Thành Nội

Tháng 11/15/2020




KIẾP LẦM THAN

Tôi sinh ra giữa núi rừng cao nguyên
Nơi Ba mẹ lưu đày kinh tế mới
Những tháng ngày sống trong miền đen tối
Nên tôi hiểu thế nào là khổ đau !
Những đứa trẻ ở nhà tự giữ nhau
Cho Ba mẹ vào rừng kiếm mây bán
Ba đi trầm, lúc trời còn chưa sáng
Mẹ nấu cơm để đó , rồi đi sau !
Chị ở nhà phải lo trước lo sau
Cơm độn khoai lấy cho em lót dạ
Bầy khỉ đói, vờn quanh nhà chị Cả
Ôm đàn em co dúm lại với nhau !
Rồi những lúc mẹ vắng nhà tôi đau
Sốt rét rừng run từng cơn, tôi sốt
Chiều tối sầm người tôi như lửa đốt
Ba mẹ sao hôm nay vẫn chưa về !

Mẹ đi rừng chẳng may mẹ bị té
Gãy cánh tay Ba phải dắt đi băng
Mẹ ở nhà chị em cứ lăng xăng
Hôm nay vui được ở nhà với mẹ !
Tôi nhõng nhẽo đòi quà mẹ khe khẽ
Chờ Ba về mẹ sẽ dắt đi mua
Đếm từng giờ, đợi từng phút,xót chua
Ba đi rừng một mình rồi lạc lối !
Trời mịt mù Ba lần trong đêm tối
Suốt đêm thâu Ba cũng chẳng về nhà
Đốt đuốt tìm trong muôn vạn xót xa
Lo cho Ba tôi cũng không ngủ được.
Rồi có lần Ba đi rừng trơn trượt
Rớt từ trên đầu thác xuống hố sâu
Họ khiên Ba trong chiếc võng đớn đau
Tôi nhìn Ba mà trong lòng hoảng sợ !

Tuổi thơ tôi lớn lên như thế đó !
Trong rừng thiên nước độc bởi vì đâu ?
Kiếp con người hay là kiếp ngựa trâu ?
Kiếp lầm than miệt mài trong đêm tối .

Theo FB




Cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị

ThaiNC

Cuộc bút chiến giữa hai nhà Nho: Tôn Thọ Tường (1825- 1877) người ra cộng tác với Pháp, và Phan Văn Trị (1830-1910), một nhà Nho khác nhưng lại tranh đấu chống Pháp, là một giai thoại văn chương lý thú. Cuộc tranh luận bằng thơ văn giữa hai ông tuy gay go nhưng rất có tính cách văn hóa ở trên văn đàn. Ông Phan Văn Trị (PVT) làm thơ cực lực lên án Ô. Tôn Thọ Tường ( TTT) hợp tác với Pháp là sai trái, là phản bội đất nước, và dĩ nhiên ông TTT cũng đối đáp lại bằng thơ văn lỗi lạc của mình để đưa ra lý lẽ biện hộ cho việc hợp tác với thực dân.

Rất nhiều bài thơ của hai người đã để lại cho đời sau, nhưng được biết đến nhiều nhất là hai bài: “Tôn Phu Nhân Quy Thục”, và “Từ Thứ Quy Tào”.

…

Có bạn hỏi Tôn Phu Nhân là ai?

Thời Tam Quốc Chí có 3 nước đánh nhau giành thiên hạ

Nhà Ngụy : Tào Tháo

Nhà Thục : Lưu Bị

Nhà Ngô: Tôn Quyền

Một lần kia Lưu Bị vua nước Thục qua nước Ngô. Vua Ngô Tôn Quyền và các tướng lập mưu muốn nhân dịp giết chết Lưu Bị, nhưng nhờ Khổng Minh là quân sư biết trước nên bày mưu để Lưu Bị cưới được em gái Tôn Quyền, tức là “Tôn Phu Nhân”, nhờ sự giúp đỡ của vợ và nhạc mẫu là mẹ Tôn Quyền mà an toàn về nước Thục. Tôn Phu Nhân đã theo chồng, phản anh, phản Đông Ngô thả cọp Lưu Bị về rừng.

Ông Tôn Thọ Tường đã ví mình như Tôn Phu Nhân ấy qua bài thơ:

Tôn Phu Nhân Quy Thục

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,

Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!

Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,

Về Hán, trau tria mảnh má hồng

Son phấn thà cam dày gió bụi,

Đá vàng chi để thẹn núi sông .

Ai về nhắn với Chu Công Cẩn :

Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng

(Tôn Thọ Tường)

Ông TTT đem diển tích Tam Quốc Chí để biện hộ và ví von hành động theo Pháp của mình cũng như Tôn Phu Nhân quy Thục, đã theo chồng thì không thể theo anh. Không thể vẹn cả đôi bề.

Và ông PVT đã đối lại rằng:

“Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,

Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.

Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng

Duyên về đất Thục đượm màu hồng.

Hai vai tơ tóc bền trời đất,

Một gánh cang thường nâng núi sông

Anh hởi ! Tôn Quyền anh có biết

Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

(Phan Văn Trị)

Tất cả ý tứ của bài thơ kết lại ở câu cuối : Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

Ông Phan Văn Trị nhắn với ông Tôn Thọ Tường rằngTôn Phu Nhân là phận nữ nhi mới thờ chồng cho trọn đạo tam tòng chớ ông là thân nam nhi, bậc thức giả, phải biết chọn chúa mà theo tức là chọn lẽ phải của quốc gia dân tộc, hà cớ chi như phận má hồng, nhắm mắt hùa theo thực dân?

Bài “Tôn Phu Nhân Quy Thục” được giảng dạy trong chương trình trung học, một phần lớn do tính cách văn chương bóng bẩy của cả hai bài thơ. Nhưng nỗi lòng Tôn Phu Nhân thật ra không hoàn toàn phản ảnh con người và hoàn cảnh của ông Tôn Thọ Tuờng.

Bài thơ TỪ THỨ QUY TÀO sau đây của ông mới thực sự bài thơ bày tỏ hết nỗi lòng.

Từ Thứ là ai?

Xin thưa đó là quân sư giỏi của Lưu Bị thời Tam Quốc nói trên. Tào Tháo sợ tài Từ Thứ nên bày kế cho người giả mạo thư của người mẹ ở quê nhà nhắn ông trở về nhà. Ông vì chữ hiếu phải từ giã Lưu Bị về Tào, hứa sẽ không hiến bất cứ mưu kế nào cho Tào Tháo. Và nhất là trước khi đi đã tiến cử Gia Cát Lượng tức Khổng Minh là người tài giỏi hơn mình thập bội cho Lưu Bị.

Ông Tôn Thọ Tường gởi gắm tâm sự mình về với Pháp cũng như Từ Thứ về với Tào Tháo.

Từ Thứ Quy Tào

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi,

Muối xát lòng ai, nấy mặn mòi.

Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,

Về Tào chi sá một cây còi !

Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,

Bịn rịn trông vua biếng giở roi.

Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,

Thân này xin gác ngoại vòng thoi!

(Tôn Thọ Tường)

Và Phan Văn Trị đã đối lại rằng:

“Quá bị trên đầu nhát búa voi,

Kinh luân đâu nữa để khoe mòi.

Xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám,

Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.

Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi,

Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!

Về Tào miệng ngậm như bình kín,

Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi ?”

(Phan Văn Trị)

Lịch sử cận đại đã chứng minh rằng ông Tôn Thọ Tường không phải là người hoàn toàn đánh mất hết lương tri. Ông ra làm việc với Pháp là con đường giúp nước theo cách riêng của ông. Trong thời gian làm quan cho Pháp, ông không có hành động nào làm hại đến dân tộc và đồng bào. Ông làm quan với quyền hành trong tay có thể bắt bớ Phan Văn Trị và những sĩ phu khác chống đối ông, nếu muốn, nhưng ông đã không làm điều đó. Ngược lại khi nhà cách mạng kháng Pháp Bùi Hữu Nghĩa bị Pháp bắt, ông là người đã đứng ra xin ân xá cho Bùi Hữu Nghĩa.

Trải qua tất cả những bài thơ qua lại giữa hai ông, tuy chính nghĩa vẫn thuộc về ông Phan Văn Trị, nhưng người ta vẫn nhận ra được nỗi khổ tâm thành thực của ông Tôn Thọ Tường qua thơ văn của ông. Trong khi Ô.Phan Văn Trị luôn luôn đanh thép và tấn công trực diện vào con người của ông Tôn Thọ Tường, thì ông Tôn Thọ Tường luôn điềm đạm, muốn chia sẻ, trang trải nỗi lòng mình đối với các vấn đề quốc gia mà thôi.

Tuy hai nhà Nho trên hoàn toàn đối ngược về tư tưởng, nhưng tất cả bài thơ của họ trong cuộc bút chiến đó đều để lại cho hậu thế những áng văn tuyệt tác. Mỗi bài thơ dù của ông Tôn Thọ Tường hay Phan Văn Trị đứng riêng rẽ đều mang một sắc thái riêng biệt đặc sắc, ý thơ sắc bén, đanh thép, nhưng lời thơ lại rất mượt mà, đầy điển cố.

Và đó là cái trí thức đáng kính của người xưa!

ThaiNC




LẦN ĐẦU VỀ XỨ MẠ

Hai mốt tuổi, theo Mạ về với Huế
Xứ sở bao năm với mắt quế môi trầm..
Huế từ trên cao, ẩn hiện giữa mù giăng..
Con luôn miệng..Huế mềm mô hở Mạ?

Sóng sánh lệ, tiếng nấc dài..rơi lả chả
Huế mềm tê..răng lạnh lẽo mọi ngã đường!
Vệt uốn dài trắng đục, nớ Dòng Hương..
Con cắt cớ, Huế dú mình…răng kỹ rứa!

Càng xuống thấp..Nước mắt Mạ giàn giụa
Bốn mươi ba năm, xa Huế đến tận chừ..
Huế mơ màng trinh bạch nét hoang sơ
Đương nhấp nháp..cơn gió lùa rét buốt !

Huế ẩn hiện trong sương mờ trắng muốt
Mạ ngậm ngùi..Con liên tục bấm máy quay
Nơi chôn rau cắt rún của Mạ ni..
Huế hiện hữu..hệt tự tình của Mạ!
…
Mạ quỳ sụp, giữa Thu tàn xao xác lá
Vết lăn trầm viễn xứ..bước tha phương
Chừ khấu đầu trước Tiên Tổ, Cố Hương..
Con cảm nhận..Nỗi lòng Người Xứ Huế!

Đời thênh thang, phận người như chiếc lá
Khi úa vàng..xin được rụng dưới Cội cây!
Mặc ngoài tê, mưa gió lạnh giăng đầy..
Răng ấm áp..khi trong lòng Xứ Mạ!

Về Đại Nội trong Trời mưa tầm tã..
Hai mạ con..phó mặc bước trong mưa
Giọt ngắn giọt dài, như lấn lướt giọt mưa..
Trong thổn thức khi lần về Nguồn Cội!

Đến Kim Luông..chạng vạng mưa giăng lối
Bước chân lạc loài, hiu hắt gió Thu đưa..
Đệ Phủ chong đèn..rêu phong phũ lối xưa
Tay trong tay Mạ..

Chiều Huế Thương..Hai lẻ bảy !




Lá Thu

Theo lẽ tuấn hoàn, năm nào cũng có bốn muà , chuyển dần từ nóng sang lạnh , rồi lại trờ lại từ lạnh sang nóng, có lẽ để dễ dàng thích hợp với những chuyền động đổi thay , tạo hoá đã ban cho ta những khoảng thời gian chen giữa hai thái cực, mà người đời chọn cho hai cái tên Xuân và Thu , rối cũng vì hai cái tên đó mà lòng người cứ mãi vấn vương dao động . nhưng hơn cà, Thu vẫn gieo vào lòng nhân thế những nỗi buồn nhè nhẹ man mác, không  biết từ tiết trời đổi thay, từ những tiếng lá lao sao lay động vào nhau trong cơn gió nhẹ, từ những sắc lá đổi mầu lẫn lộn , cũng có thể lả hình ảnh những chiếc lá khô lìa cành, bay lượn đong đưa trước gió, là người đa sầu đa cảm , làm sao tránh khỏi những rung động cảm xúc, nhũng lần xa cách , biệt ly, những mất mát lại ẩn hiện trở lại trong ánh mắt xa săm thẫn thờ. Lâu lắm rồi, trong những vần cổ thơ, còn nói :

“ Một lá Ngô đồng rơi

Cả thiên hạ biết Thu đến … ”

Quả là hơi quá, chốn trần gian nhộn nhịp , chỉ có những tâm hồn nghệ sĩ

lãng mạn mới dành thì giờ ngắm hoa tươi nhìn lá rụng, hồn lặng đi mà

quên đi chuyện thế sự.

Một lần thơ thẩn ngồi đợi nắng lên bên bờ giòng suối, nhìn những

chiếc lá muôn màu, đuổi rượt nhau miệt mài trên giòng nước quanh

co, lúc trồi lên lúc hụp xuống, tưởng chừng như bị cuón hút mất đi.

Nhưng chợt thấy , bên bờ suốí, cũng có những chiếc lá gặp duyên,

trôi giạt vào bên bờ suối, “Đến bờ kia “ thảnh thơi nằm phơi nắng Thu

xen cùng những tảng đá rêu phong, thoát khỏi trầm luân

Còn trong cõi nhân gian sinh tử vô thường, nếu vượt qua được giòng

đời phiền nào, là đến được chốn thảnh thơi , an nhiên tự tại ./.

***

Thu tịch lữ hoài

“ Tối muà Thu nhớ nhà “ thơ Lý Bạch, cụ Tản Đà dịch

Lạnh lùng gió vượt bể thu,

Hồn quê theo gió như vù vù bay.

Chạy dài dãy núi liền mây,

Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?

Đám mây vút mắt xa chừng,

Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.

Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,

Áo may mặc rét giục người móc sa!

Giấy mơ rơi giải Ngân hà,

Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.

Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,

Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?

Năm nay, 2020 là một năm lắm nỗi đau thương trên cõi trần gian, vốn dĩ đã mang nhiều gian truân nhọc nhằn. Theo ngày tháng, Thu sang đã gần một tháng rồi, trần gian như chưa sẵn sàng đón rước nàng Thu trở lại với chúng ta. Tiết trời chưa hạ giảm cơn nóng nực của muà hè “ lovely summer“ của bà thị trưởng Seattle, vẫn chưa nghe tiếng lá vàng bay lượn lao sao trong từng cơn gió, vẫn chưa thấy lá khô chạy đuổi từng cơn trên hè phố. Hay nàng Thu còn e dè chuyện cảm cúm lăng nhăng, hay quên mang theo khẩu trang, phải trở lại lấy mang theo cho hợp thời trang chốn trần thế.Vượt lên trên, lặng nhìn chuyện thế gian, dọc ngang khó mà phân biệt , đúng sai khó lường, lầm lạc trong chốn thức tình. Mê lầm che khuất nhân tình, tối tăm không biết đường ra lối vào. Tranh cãi chuyện hơn thua nhất thời. Mờ mịt, nổi trôi trong những cảm xúc vô minh. Nhưng rồi cùng với sự chuyển động không ngừng của vũ trụ, mọi chuyện đều phải đổi thay trong từng phút giây, không một điều gì tồn tại mãi mãi trong chốn vô thường.

Ao Thu

Tóc trắng xoã ê chề

Sầu đời dài lê thê

Gương trong mà mù mịt

Sương Thu che lối về

( thơ Lý Bạch )

***




Nhớ người

Nhớ người từ chốn nghìn trùng
Nhớ người tan nát tận cùng thịt da
Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà
Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm
Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm
Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao
Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao
Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh
Nhớ từ thuở rất điêu linh
Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan
Tay trong tay vẫn dịu dàng
Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau
Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau
Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm

NK-TNC