Chùm THƠ Xuân – Hoàng Phong Linh – VÕ ĐẠI TÔN

LỜI GỬI MÙA XUÂN

                                                Võ Đại Tôn

Trong lúc chờ Mùa Xuân Dân Tộc

Vĩnh cửu đến cùng Núi Sông.

Xin cho một sợi nắng hồng

Sưởi ấm con tôi ngồi bên bãi rác.

Bụng đói tay run, mắt nhìn ngơ ngác

Tìm chút gì ăn trong đống hôi nồng.

Lũ chuột vây quanh, giòi bọ chạy rông

Đời con tôi còn thua giòi chuột.

Một miếng ăn thừa, “đại gia” không thèm nuốt

Nuôi thân con thêm giọt máu trong người.

Nhưng nào đâu ? hàng triệu kiếp con tôi

Sống không có mùa Xuân trong đời bóng tối !

                                         *   *   *

Xin cho một sợi nắng hồng

Rọi vào chốn hang cùng ngõ hẻm

Đàn em tôi, kiếp còn thua kém

Món hàng rong rao bán xứ người.

Bọn giàu sang hay tàn tật vui chơi

Ngồi chọn lọc, mua em làm nô lệ.

Từ thuở đàn con theo Cha ra bể

Chưa bao giờ tủi nhục như nay.

Vì miếng cơm em khóc từng ngày

Làm dâu Đại Hàn, Mã Lai, Trung Quốc.

Như cỏ dại, đời em bật gốc

Lê thân tàn, khô máu nghìn đêm.

                 *   *   *

Xin cho một sợi nắng hồng

Trên thân mẹ già khô cằn gánh vác

Mồ hôi chảy dài tóc đau sợi bạc,

Một đời lam lũ còng lưng.

Trong bóng đêm, nhìn yến tiệc tưng bừng

Của bao kẻ trị dân bằng sắt thép.

Trên thân cha, mắt mờ qua cửa hẹp

Nhìn khung trời toàn máu đỏ cờ sao.

Tuổi hoàng hôn, giòng lệ sót nghẹn ngào

Thầm mơ ước được một ngày no ấm.

Biết làm sao ? – chung quanh toàn bảng Cấm,

Cấm ước mơ, luôn cả Cấm làm Người !

                   *   *   *

Xin cho một sợi nắng hồng

Rọi vào xà lim tăm tối.

Anh-chị-em tôi, những người vô tội

Bị giam cầm vì Yêu Nước, Tự Do.

Vì không muốn tim bị đúc chung lò

Con-người-máy cúi đầu theo lệnh đảng.

Những người đấu tranh không ra ngoài giới hạn

Của Lòng Dân đòi Lẽ Sống, Công Bình.

Chỉ mong nhìn được chút nắng bình minh

Trên quê hương đã chìm sâu đáy vực.

Đảng dùng dối gian, hung tàn bạo lực

Bao năm rồi phá nát cả non sông. 

              *   *   *

Xin cho một sợi nắng hồng

Thêm sức sống vào mỗi tim dân Việt

Máu hòa chung, cùng đấu tranh quyết liệt

Đòi lại Quyền Dân, đứng dậy làm Người.

Tiếng khóc không còn giữa nắng hồng tươi

Toàn Dân Tộc viết ngàn trang Sử mới.

Xuân vĩnh cửu từ bao năm mong đợi

Sẽ bừng hoa trên khắp nẻo đường quê.

Tiếng thét Diên Hồng từ lịch sử chung thề

Vang dội lại, quyết tâm gìn giữ Nước.

Đàn em thơ cùng mẹ già chung bước

Bản đồng ca Nhân Bản dậy trời Nam.

                   *   *   *

Lời tôi gửi mùa Xuân

Trên hành trình từ bao năm gian khổ

Cùng Toàn Dân máu chung đã đổ

Trong xà lim bóng tối tù lao.

Không phải ngồi và lên tiếng thét gào

Làm gọng kính mạ vàng trong phòng lạnh,

Vỏ chai bia dưới gầm bàn hô đánh

Rồi chờ mong và chỉ có ước mơ. 

Tôi gọi Xuân, xin tiếp nắng xây bờ

Chung chiến tuyến vì Hồn Thiêng Tổ Quốc.

Cho chúng tôi song hành cùng Dân Tộc

Thêm lửa tim, thêm một sợi nắng hồng.

Trời đất mênh mông

Không gian chẳng hề cách biệt.

Gọi Xuân về, thêm hoa vàng lá biếc

Cùng chúng tôi đi trọn hành trình.

Một ngày mai Tổ Quốc quang vinh

Trời đất Việt sẽ bừng Xuân vĩnh cửu !.

                                                 Võ Đại Tôn. / Hải ngoại,

*

MÙA XUÂN DÂN TỘC

GIỮA HỒN TÔI

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

1.

Nửa đêm tôi tỉnh giấc

Tưởng mình còn quê hương.

Bờ Mê hay Bến Thật

Sao sóng dậy trùng dương ?

Bước Xuân về thơm nhẹ gót vương hương

Mà nghe hồn trĩu nặng.

Dòng sông tôi giữa đêm trường hoang vắng

Chảy về Quê tìm lại bến Xuân xưa.

Tóc Em thơm, hương thoảng dầu dừa

Tay giặt áo, lén soi nhìn bóng nước.

Em cúi thẹn, chớp rèm mi nhung mượt

Cả trời Thơ vờn dáng mộng Em Thơ.

Tranh thủy mạc đẹp hơn cả nguồn mơ

Cho tôi sống những giờ đau viễn xứ.

Qua bóng hình Em, tôi yêu giòng Lịch Sử,

Núi sông còn thơm giữ trọn Tình Quê.

Bước chân khô Mẹ về

Rổ nghèo tan phiên chợ.

Từ Động Đình Hồ, sông than núi thở

Một đời Mẹ gánh Trăm Con.

Đường Mẹ đi, chân cứng đá mòn

Dăm củ sắn mà vuông tròn Đạo Lý.

Mẹ ngẩng cao đầu, trống đồng vang ngựa hí,

Nhìn đàn con lẫm liệt giữ Quê Cha.

Bờ Sông Hồng trăng chiếu ánh phù sa,

Hương Giang mộng, chập chờn xuôi Mái Đẩy.

Chín Rồng Thiêng thành Cửu Long sóng quẫy

Nắng hồng Xuân duyên kết lúa Nàng Hương.

Một nghìn năm chống giữ biên cương

Vẫn kiên cường khí phách.

Tám mươi năm, lòng chung huyết mạch

Thu về trọn dải non sông.

Mẹ ôm con, chưa vui thỏa tấc lòng

Bỗng nghe trời Xuân khóc.

Xác triệu con bên vệ đường tang tóc

Đói mòn Ất Dậu năm xưa.

Từng thân khô, trần trụi nắng mưa

Như đống rác giữa tồn sinh nhân loại.

Rồi Mậu Thân, vang tiếng cười lang sói

Nửa đàn con vì chủ thuyết lai căng

Vung cuốc lên, tay sát khí đằng đằng

Chôn tập thể, cạn khô tình Dân Tộc.

2.

Tôi tỉnh giấc, sao còn đây tiếng khóc

Dù đăng trình tôi vẫn quyết tâm đi.

Bao nhiêu năm không mỏi gót chỉ vì

Nghe tiếng trống Hà Hồi vang thúc giục.

Xuân Đống Đa, dù tay nghèo gậy trúc

Cũng lừng danh vạn thuở giống Rồng Tiên.

Tôi sẽ về – tìm dáng mộng trinh nguyên

Tranh thủy mạc ngày xưa – Em xỏa tóc

Bên bờ sông – sắc Xuân vờn châu ngọc

Nụ cười Em nhung mượt một đời Thơ.

Tôi sẽ về – không “vô cảm”, thờ ơ

Vênh váo cười vang trên lầm than Tổ Quốc.

Không đùa vui trên thân em gầy guộc

Chỉ bằng tuổi cháu con !

Tôi sẽ xin – vì lẽ sống còn

Của Dân Tộc – cùng hòa chung nhịp bước.

Tuổi cuối đời chỉ mong tròn nguyện ước

Cùng Toàn Dân đòi lại quyền Người.

Nghe cả trời Xuân vang dậy tiếng cười

Khi quỳ ôm chân Mẹ.

Được hôn lên từng nếp da nứt nẻ

Vì lịch sử oan khiên

Vì nửa đàn con quên cả hịch truyền

Dựng xây Mùa Xuân Dân Tộc.

Tôi thành trẻ thơ nhoài ôm Tổ Quốc

Như con tìm Mẹ, thơm ngủ mơ vàng.

Mẹ dẫn con đi, cuốc lại đồng hoang

Cho lúa mọc lừng hương trời Đông Á.

Bầy em con không còn ai trả giá

Bán buôn nô lệ da vàng.

Cho con khỏi nhục khi nhìn cảnh suy tàn

Vì giống Việt đang cằn khô Đạo Lý.

Bạo lực vùi chôn Nhân Vị

Đường hầm heo hút tương lai.

Đời tạm dung, trong mê-tỉnh đêm dài

Tôi vẫn thấy đẹp trời Xuân Dân Tộc.

Xuân giữa hồn tôi, hồi sinh Tổ Quốc,

Nhạc bừng reo, hoa tỏa ngát hương nồng.

Hồn sông tôi trôi chảy, vẫn xuôi dòng

Len sỏi đá, về Biển Đông tìm Mẹ.

Xin chờ con – dù hành trang gánh nhẹ

Nhưng nặng lòng vì Lẽ Sống Quê Hương.

Em hãy chờ tôi, bóng nước soi gương

Hồng lên má, nụ cười xưa giấu thẹn.

Tôi sẽ về – không quên lời ước hẹn

Giữa triều dâng bừng dậy sắc Xuân sang.

Xuân của đời tôi xin được hưởng Vinh Quang

Toàn Dân Tộc – nắng Xuân hồng phơi phới.

Trời Việt Nam lụa là thay áo mới

Trẩy hội lên đường, vui đón Tự Do.

*

Võ Đại Tôn. (Hoàng Phong Linh)

Hải ngoại.

*

NÀNG THƠ VÀ TẾT ĐÊM TÙ

(Mưi Tết trong xà lim bit giam – Hà Ni –

“Hi nơi này ? = Ai cũng nói Vit Nam !”)

                                                                  Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

Thân kính tặng Quý Bạn Tù Nhân Lương Tâm.

  • TẾT đêm về, Nàng Thơ tôi dạo gót

Từng buồng giam thăm viếng bạn tù chung.

Nghe tâm sự tận đáy lòng đau xót

Của bao người trong kiếp sống lao lung.

  • Mỗi một người, một tâm tư sầu não

Vạn lời Thơ không chép hết bi thương.

Tiếng thở dài cuốn theo trời giông bão

Lời oán than chìm đáy nước trùng dương.

  • Có những kẻ tuổi già nua cô độc

Nhìn tường giam như vách đá mồ chôn.

Bao tâm sự rụng dần theo mái tóc

Bước Thời Gian giẫm nát cả tâm hồn.

  • Lần ngón tay, đếm năm tù tủi nhục

Hai bàn tay mười ngón đủ mười năm.

Giữa trần gian sao đây là địa ngục

Đâu thiên đường ? – mờ mịt cõi xa xăm !

  • Có những kẻ nằm mơ đàn con dại

Sống lạc loài như lũ trẻ mồ côi.

Nhẫm tên con mà nghe lòng tê tái

Đứa sau cùng đói sữa, khóc trong nôi.

  • Nghe tiếng chó sủa đêm ngoài xóm vắng

Mơ về thăm từng giấc ngủ con thơ.

Theo gió đưa chuyến tàu khuya còi vẳng

Đường ngược xuôi thương cảm vợ bơ vơ.

  • Thấy nắng khô cũng lo mùa hạn hán

Cơn bão về cũng sợ cảnh nhà tan.

Bữa cơm tù nước rau đầy hay cạn

Cũng âm thầm lo ngại giá leo thang.

  • Có những kẻ tuổi Xuân vừa chớm mộng

Mà thân tàn còn lại chút xương da.

Đêm nằm mơ cánh chim trời bay bổng

Về quê xưa tìm lại tháng năm qua.

  • Tìm gặp lại người yêu thương bé nhỏ

Tình sinh viên đại học của ngày xưa.

Nhưng giờ đây sách trường quen đã bỏ

Làm công nhân dầu dãi nắng cùng mưa.

  • Đi trở lại những đường xưa nẻo cũ

Thuở em về tan học nắng dâng hương.

Chỉ cầm tay mà đêm trường không ngủ

Tên người yêu thành luận án đề cương.

  • Xin được sống nơi quê nhà hạnh phúc

Bên mẹ cha cùng em trẻ ngây thơ.

Nhưng còn đâu ? – Nơi đây tràn khổ nhục

Thở bằng hương dĩ vãng, sống bằng mơ.

  • Có những kẻ nằm rên trong bệnh hoạn

Chữa cơn đau bằng những tiếng thở dài.

Lời kêu cứu từng gào lên ai oán

Biết gào ai ? – Gió thoảng bỏ ngoài tai.

  • Nằm mơ ước được vài viên thuốc bổ

Ly sữa đầy – nước mắt bỗng trào ra.

Trong tự điển nghĩa “Con Người” in nhỏ

Và từ lâu nét mực đã phai nhòa.

  • Có những kẻ vẫn gan lỳ chai đá

Thách thời gian, không muốn sống bằng mơ.

Vui chấp nhận khúc quanh đời nghiệt ngã

Chí Hùng Tâm đâu có cạn bao giờ !

  • Người yêu thương cách muôn trùng vạn lý

Nên sầu đau chỉ thoáng thấy trong Thơ.

Tháng ngày qua vẫn bền gan vững chí

Nằm nghĩ suy thêm thế Nước cuộc cờ.

  • Tuy lòng đau nhưng còn nguyên giáp trụ

Bao quanh hồn nghìn tảng đá hoa cương.

Mỗi ngày qua – một huy chương nhận đủ

Trao cho Đời – xin chuyển lại Quê Hương.

  • Và cứ thế, Nàng Thơ tôi lặng lẽ

Mỗi đêm về ghi chép vạn nguồn mơ.

Tìm vần vui nhưng sao toàn thấy lệ

Lao tù này chỉ có máu trong Thơ.

  • Nàng thông cảm, lắng nghe dòng tâm sự

Từng bạn tù trong bóng tối viếng thăm.

Hỏi tên tuổi thì bao người do dự

Hỏi nơi này ? – AI CŨNG NÓI : VIỆT-NAM !!!

*

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

(sáng tác qua trí nhớ trong tù biệt giam, nay ghi chép lại, lưu niệm một quảng đời…).




GS TS MAI THANH TRUYẾT – Bài Viết




CHÙM THƠ: Cao Mỵ Nhân

VỀ GỌI MÙA XUÂN .  –  CAO MỴ NHÂN

*

Em về cuốc núi trồng hoa

Lệ rơi thấm đá, rừng xa xót buồn

Tình anh chan chứa trong hồn

Ngẩng nhìn sương khói bay dồn lũng khơi

*

Đá trong tay, đá thay lời

Vàng hoa sẽ đổi sắc trời quê hương

Mình em hiu quạnh trên đường

Những nơi anh với sa trường dở dang

*

Trưa rồi , mây trắng lang thang

 Chiến hào xưa chất ngổn ngang muộn sầu

Em về mang nặng niềm đau

Bâng khuâng anh gởi tuyến đầu nhớ nhung

*

Núi ơi, đá mọc tuyệt cùng

Nguồn thương yêu xẻ thành sông êm đềm

Một rừng mai nở vàng thêm

Mùa xuân trở lại cho em hẹn hò …

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

*

MỘT LẦN XUÂN GỌI – CAO MỴ NHÂN

*

Cành thay lá mới

Em đổi áo xanh

Rồi ngồi yên đợi

Sương rơi long lanh

*

Mùa xuân chưa tới

Nên anh chưa qua

Áo xanh như lưới

Nhện đang giăng tơ

*

Năm cùng tháng cuối

Tuổi vẫn mộng mơ

Tóc em như suối

Chảy trên dòng thơ

*

Hay là anh gọi

Mùa xuân sớm về

Để em thay áo

Mầu sắc đam mê

*

Em sẽ mời xuân

Nếu anh ở lại

Bên em một lần

Nhớ anh mãi mãi …

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

*

MÙA XUÂN LỮ THỨ.     CAO MỴ NHÂN

*

Có người nói với em

Đã nằm chờ giấc ngủ

Thì đừng nghĩ gì thêm

Về anh, dù thương nhớ

*

Nhưng mùa xuân đến đó

Tình anh vẫn còn đầy

Làm sao em ngủ được

Khi vắng một vòng tay

*

Anh bảo rằng đắm say

Cho em nhiều thi tứ

Thì cứ thả thơ bay

Theo mùa xuân lữ thứ

*

Anh còn mải bâng khuâng

Giữa bao la tình tự

Tặng em những mùa xuân

Vạn đoá hoa rực rỡ

*

Em mang vào giấc ngủ

Một hình ảnh mơ hồ

Trong gối chăn ấp ủ

Nồng nàn xuân vẩn vơ…

*

  CAO MỴ NHÂN




VĂN – ĐỈNH HOA VÀNG – Cao Mỵ Nhân

ĐỈNH HOA VÀNG

Trong HNPD cả net lẫn com của quan Đồ Ngu tức nhà văn Nguyễn Trọng Hoàn của …tôi, tôi hay xí phần lắm, nếu điều gì đó phảng phất có tôi trong đó, có một bài viết về nhà thơ béo xụ, to ù Phạm Thiên Thư, với tuồng tích ” Ngày xưa Hoàng thị…”, có kèm hình ổng mới nhất, tuần trước.

Tôi vốn cũng không xa với nữ sĩ Tuệ Mai, người đưa ông lên đỉnh hoa vàng, xin lỗi tôi không xài danh xưng ” động hoa vàng ” như ai yêu thơ cũng theo dõi và biết phần nào.

Bài này đặc biệt chỉ kể về chuyện ở động hoa vàng thôi .

Ô mà với Phạm Thiên Thư thì có lẽ ” Động hoa vàng” là chính điểm cho bàn dân độc giả thơ mến mộ, chứ dẫu Thi sĩ Phạm Thiên Thư có lối hành văn thơ khá đặc biệt, nghĩa là có ngôn ngữ riêng, như kiểu lời nhạc đặc biệt Trịnh Công Sơn cùng thời, thí dụ:

Đoạn trường sổ gói tên hoa

Xưa là giọt lệ, nay là hạt châu …

( Đoạn trường vô thanh – Phạm Thiên Thư )

Lại cũng biện luận bằng câu: tiểu sử, thành tích, tác phẩm Thi sĩ Phạm Thiên Thư thì đã đầy trong sách báo đương thời, tôi chỉ lướt qua những kỷ niệm rất chân tình, còn nếu nói về mức độ đúng, sai…thì thưa quý vị, nó, kỷ niệm sắp đơn cử ra, thật đến độ quý vị có lòng, phải thẫn thờ buồn mãi …

Theo đề nghị của quý nữ sĩ trong thi đàn Quỳnh Dao, một hội thơ nữ lưu rất danh tiếng về mọi mặt, tôi đã nhận cái việc là sẽ tới lui chăm sóc cho nữ sĩ Tuệ Mai những ngày tháng sau cùng, khi bịnh ung thư của chị đã đến hồi bó tay, chỉ còn xài ” morphine” chế ngự các cơn đau dồn dập tới thôi.

Đó là những tháng cuối năm 1981, qua đầu 1982.

Tuy bịnh nặng như thế, mà cũng còn những khoảnh khắc chị có thể tâm sự với tôi về hành trình viết lách chưa gọi là xong của chị .

Tất nhiên làm sao xong được với một cây bút còn đầy sức sống, chỉ có sức khỏe người cầm bút ấy bị hao hụt dần, nhất là không ai chia xẻ với mình về mặt tâm tư tình cảm đúng đắn , đối với một phụ nữ sắp sáu chục tuổi, đầy mơ mộng .

Tôi có lẽ may mắn là thủa đó, mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, mới xong tù cải tạo và lao động nông trường về, đối với tôi cuộc sống là quý giá lắm, nên tôi thông cảm ngay .

Mỗi ngày, vào buổi trưa, trên căn gác nhỏ ngôi nhà số K8

Đường Nguyễn Chí Thanh, tên mới, tôi không để ý tên cũ là đường gì . Chị vẫn có thể cười nói rằng:

Này Cao Mỵ Nhân, đã gặp Phạm Thiên Thư chưa ?

Tôi lưỡng lự: ” Chưa chính thức gặp, nhưng em có thấy anh ấy ở đâu rồi ”

Nữ sĩ Tuệ Mai cứ lúc khép lúc mở mắt, có lẽ chị đang mơ mộng, với giọng đều đều :

Thư, là thi sĩ Phạm Thiên Thư, chị Tuệ Mai luôn kêu Phạm Thiên Thư là ” Thư ” thôi, khác với nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh thì bao giờ cũng ” Anh Nhật” tức nhà văn, điêu khác gia Nguyễn Hữu Nhật .

Thư vui lắm em ạ, khi chị khám phá ra Thư là một thiên tài, mình, là nữ sĩ Tuệ Mai, nói Thư phải đưa các tác phẩm xuất sắc đó lên cao hơn, vì giá trị của lời thơ …

Cao Mỵ Nhân đọc hết các sách thơ của Phạm Thiên Thư chưa ?

Sự thực tôi chưa đọc hết, song nhìn chị Tuệ Mai gần đất xa trời quá rồi, tôi gật gật đầu : ” Em có đọc …”

Chị Tuệ Mai tiếp : Cơ duyên đã khiến chị gần Thư, sau khi Thư rời hẳn Chùa ra đời, Thư là con trai duy nhất của cụ bà Thư Lâm, chị đặt cho cụ phương danh này, thì cứ việc sống bình thường trong xã hội Saigon, ở Chùa làm chi, cho dẫu Thư có tâm tu đi nữa.

Thế rồi Thư có ý định thành hôn với chị ( Tuệ Mai ) là lúc chị đã 50 tuổi, còn Thư 32 tuổi, 1972, cùng lượt với nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh ( 48 tuổi ) và nhà thơ họa sĩ điêu khắc gia Nguyễn Hữu Nhật ( 30 tuổi ) .

Chị Vinh thì mới mẻ, bạo dạn và lãng mạn hơn chị nhiều, chị Vinh luôn làm chủ cuộc đời chị ấy, chứ chị ( Tuệ Mai ) thì … ngại quá, chị còn cái đại gia đình nặng trĩu phong kiến, cụ thân sinh vẫn đang tại thế, tức thi sĩ quá lão thành Á Nam Trần Tuấn Khải.

Chị còn bầy em gái 5 cô con bà dì, chị có 2 Con gái nuôi là Thanh Nhu có gia đình rồi, đang tá túc với chị trên căn gác ấy, cô con nuôi thứ hai đã đi tản, ở Mỹ , và là người luôn quà cáp về VN cho chị sau này .

Nên, Thư cũng …ngần ngừ, rồi quyết định thưa với cụ thân mẫu Thư, đoạn, Cao Mỵ Nhân biết không, chính bên nhà Thư đã tiến hành cho chị một đám cưới đàng hoàng, bằng chính tiền để dành, em ạ , đập cái hũ vàng ra, để mà lo sính lễ đấy .

Tôi có biết gì về giai thoại này, hơn nữa trước 30-4-1975 tôi còn ở QĐI/QKI của…tôi, 1972 là cái tuyến lửa quân nhân các cấp VNCH đang tái chiếm cổ thành Quảng Trị, tôi đang phờ phạc về công tác xã hội hậu phương, thương binh tử sĩ ở các quân y viện Huế, Đà Nẵng, có thì giờ đâu theo dõi chuyện tình thành phố chứ, tôi ậm ừ: ” Thế ạ ” .

Sau khi cưới nhau chính thức, chị về nhà Thư là ngôi nhà giống như biệt thự, tức là có hoa lá cây cảnh ở con đường XXX bên Gia Định, tức Quận Bình Thạnh.

Nhưng vẫn đi đi về về nhà chị, số K8 đường nêu trên .

Vài năm sau, nữ sĩ Tuệ Mai nghĩ là: Thi sĩ Phạm Thiên Thư có trữ tình , lãng mạn đến mấy, cũng cần có con cháu để nối dõi tông đường, nên chính chị là người hỗ trợ thiết tha việc cưới cho thi sĩ Phạm Thiên Thư đệ nhị ái thê, nguyên là ái nữ của nhà văn Hoàng Ly, người chuyên viết chuyện đường rừng thượng du Bắc Việt xưa.

Buồn cười lắm Cao Mỵ Nhân ạ, bấy giờ chị chưa rời hẳn nhà Thư đâu, bởi vì nơi đó chính là cái động hoa vàng được hình thành, hoa cúc vàng, rồi mùa xuân thì những cành mai vàng nở rộ biết không?

Nữ sĩ Tuệ Mai, tác giả 7 tập thơ trước 1975, đang ấp ủ 2 cuốn truyện dài :

Lưu Bình, Dương Lễ và nàng Châu Long mới,

Huyền Trân Công chúa .

đã ngã bịnh …vô Bịnh viện Bình Dân, để rồi cay đắng biết mình sẽ từ giã cõi đời .

Ngày tôi từ nông trường về thành phố, là chị đã giải phẫu xong khá lâu, nhưng vẫn trong ưu tư không còn cơ hội viết 2 cuốn tiểu thuyết nếu trên .

Chị giao cho nữ sĩ Như Hiên cũng trong Hội thơ Quỳnh Dao viết ” Nàng Châu Long mới “, để làm sao đánh bật cái tư tưởng phụ nữ cao vời, chứ không phải được Quan xưa Dương Lễ ngoắc ra truyền lệnh cho đi nuôi Lưu Bình, vì Châu Long là vợ 3 của Dương Lễ.

Chị có nhã ý giao cho tôi viết tiếp mấy chương để kết thúc cuốn Huyền Trân Công Chúa, với ý đồ là tôi phải làm nổi bật được vai trò công chúa Huyền Trân vốn nhà họ Trần của chị : nữ sĩ Tuệ Mai Trần Thị Gia Mình.

Nhưng tôi bận lo chuyện cơm áo, rồi chuyện ra đi theo diện HO của …tôi sau này, tôi không nhớ mình đã xếp 2 chương bản thảo công chúa Huyền Trân của chị ở chỗ nào nữa .

Một ngày được tin thi sĩ Phạm Thiên Thư sẽ ghé thăm chị Tuệ Mai, chị thản nhiên như bạn tầm phơ, không nghĩ đã một thời chị cùng thi sĩ họ Phạm đó kết nghĩa tào khang.

Tôi loay hoay vì lo cái chuyện cách đó ít lâu, nhà thơ Trụ Vũ đã chở Honda tôi tới tiệm hớt tóc ở Lăng Cha Cả, giới thiệu tôi giả đò là cán bộ văn hoá từ Hanoi vô Saigon, để chờ đi Cote d’ Ivoire công tác . ..muốn làm quen thi sĩ nổi tiếng miền nam, mà nhà thơ Trụ Vũ cảm thấy chỉ có Phạm Thiên Thư là hay không tưởng được .

Dịp đó, Phạm Thiên Thư đã lấy làm hãnh diện, và còn muốn cũng được đi Phi Châu như tôi chứ.

Lý do thi sĩ Phạm Thiên Thư và tôi chưa hề diện kiến nhau, nên Trụ Vũ kêu tôi là ” chị Đỗ Mai A ” .

Nay thi sĩ Phạm Thiên Thư tới thăm nữ sĩ Tuệ Mai, thì thế nào đây ?

Phạm Thiên Thư đã lên thang gác, tôi quýnh quá, trốn ngay vào nhà tắm sát phòng chị Tuệ Mai.

Nhị vị thi sĩ tên tuổi ngó nhau nhiều hơn là phải nói, một lúc thấy lâu, chị Tuệ Mai kêu:

Cao Mỵ Nhân đâu rồi, ra đây chứ, Thư tới này .

Tôi đành phải ra chào, cười hoà hoãn, Thi sĩ Phạm Thiên Thư nhìn tôi, tay chỉ chỉ : ” Trời, dám cùng Trụ Vũ phá tôi hả ? ”

Thi sĩ Phạm Thiên Thư cáo biệt rồi, thấy chị có vẻ buồn xa vắng, tôi kể cho chị Tuệ Mai nghe chuyện nhà thơ Trụ Vũ đùa cợt xem thử Phạm Thiên Thư thế nao, khi Trụ Vũ ” phỏng vấn” Phạm Thiển Thư là : Nam thi sĩ miền nam nổi tiếng là Phạm Thiên Thư rồi, còn nữ thi sĩ nổi tiếng miền nam là ai, anh có thể cho chị Đỗ Mai A đây một ví dụ .

Phạm Thiên Thư cười cười không trả lời, Trụ Vũ hỏi tới luôn:

” Chớ anh nghĩ thế nào về nữ thi sĩ Tuệ Mai ? ”

Thì Phạm Thiên Thư im lặng .

Nhưng tôi không kể chi tiết này ra với chị, vì chị đang đau, mà thái độ của Thi sĩ Phạm Thiên Thư cũng chằng …hào hoa mã thượng gì .

Ít ngày sau, nữ sĩ Tuệ Mai mất. Chúng tôi có thông báo bằng hữu văn chương biết ngày tiễn nữ sĩ Tuệ Mai về cõi vô cùng. Chị mất chiều mùng một tết, đưa ma sáng mùng bốn tết âm lịch năm ấy( 1982) vừa đúng hoa giáp .

Song nhà thơ Phạm Thiên Thư không đến tiễn biệt nữ sĩ Tuệ Mai, người đã đưa ông lên đỉnh hoa vàng, trong lúc khá đông thi văn sĩ Saigon xưa tới chia buồn cùng hương linh chị.

Đáng ngợi ca nhất là nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh đã xin để tang nữ sĩ Tuệ Mai, viết 4 câu thơ và yêu cầu tôi đốt trước quan tài nữ sĩ Tuệ Mai lúc ở hỏa tháp Thủ Đức.

Nhà văn Nguyễn Thị Vinh nói cho tôi hay rằng: trong nghĩa cử bạn bè văn nghệ, chị phải để tang 4 người, 2 vị kia tôi không quen biết, còn 2 nữ sĩ Quỳ Hương và Tuệ Mai trong hội thơ Quỳnh Dao, tôi là em út thi đàn này, tôi phải biết chuyện đó.

Nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn thủ thỉ: ” Em ơi, chính Tuệ Mai giới thiệu anh Nhật cho chị đấy ” .

Tới chiều hôm sau, thi sĩ Phạm Thiên Thư mới ghé lại ngôi nhà có hình ảnh cuối cùng của nữ sĩ Tuệ Mai, ” Gã từ quan ”

ấy mới lấy làm tiếc là không kịp về đưa đám nữ sĩ Tuệ Mai .

Buồn nhỉ, có lẽ nào như thế không ? Hình như câu ”

nghĩa tử là nghĩa tận ” đôi khi không được nhớ đến …

CAO MỴ NHÂN




KIỀU MỸ DUYÊN- CHÚC MỪNG NĂM MỚI




KIỀU MỸ DUYÊN: Một Sự Bất Tín, Vạn Sự Bất Tin




Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?

Tài liệu sưu tầm. Nguồn: Internet

Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?

Nói đến Tiến si Mai Thanh Truyết thì đồng bào hải ngoại, nhất là những ai sống ở Nam Cali hẳn không xa lạ.  Lại càng không xa lạ đối với những ai hằng quan tâm đến những vấn đề thời sự, khoa học và môi trường v.v…

Nói về những bài viết của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chúng tôi nhận thấy ông không viết về đề tài nào khác hơn ngoài những vấn đề có liên quan đến khoa học. Ông không viết về một xứ sở nào khác ngoài đất nước Việt Nam cùng với những vấn đề nóng bỏng của nó. Và nếu có đi vào tìm hiểu một số khía cạnh thuộc về môi trường, hoặc phương thức sản xuất của một số nước nào đó thì cung chỉ là cốt để soi sáng cho tình trạng chậm tiến của đất nước Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rõ chủ trương (chính trị) của cầm quyền CSVN đã và đang “ăn thông” với CSTQ để làm hại đất nước và người dân về nhiều phương diện. Sự kiện này được thấy rõ qua việc làm vô trách nhiệm cùng thái độ ươn hèn, khuất phục của CSVN đối với sự xâm thực một cách có chiến lược của CSTQ cùng những hiểm hoạ của nó.

Những đề tài mà ông đã nói lên hoặc viết ra thực tình mà nói, trong khuôn khổ một bài nhận định ngắn này, với một kiến thức hạn hẹp của người viết như thế này, không sao kể hết và nói xuể. Sở dĩ như vậy vì các bài viết hoặc nói chuyện của ông vô cùng phong phú và đa dạng. Đại để có thể nói một cách không đắn đo rằng: Dù dưới bất cứ một đề tài nào, ông cũng chứng tỏ một sự vững vàng trong lập luận, chính xác về nguồn tin, rất khoa học khi phân tích và không thể phủ nhận chất hăng hái trong lối trình bày. Nếu bảo rằng ông là một nhà hùng biện thì cũng không đúng, và cũng không đúng hẳn khi nói rằng ông có “khoa ăn nói” như những người có tiếng là nói năng hay. Nhưng ông có một cái độc đáo riêng, “Mai thanh Truyết” là Mai Thanh Truyết. Không thể lầm lẫn với một Phan văn Song hay Nguyễn văn Trần-hai người bạn thân mà trong quá trình hoạt động Cộng Đồng chúng tôi có hân hạnh được biết. Lại càng không giống như Luật sư Trần Thanh Hiệp, một nhà tranh đấu có tiếng từ lâu, và là một trong những người bạn thân cũ của ông.

Điều quan trọng người viết muốn nhấn mạnh ở đây chính là giá trị của những bài viết của ông. Nó phản ảnh rất trung thực con người ông, lời nói cũng như việc làm. Nhất là có một tác dụng đáng kể: vừa chính xác, vừa có tính cách vô vị lợi. Và đó cũng chính là con người của ông. Có thể nói kể ra cũng bằng thừa, những điều ông đã viết, đã lên án, đã vạch trần và đã tố cáo cho mọi người, khắp nơi, trong cũng như ngoài nước biết rõ, biết chính xác về những điều ông thấy, đọc, nghe và nghiên cứu. “Tự giác, giác tha”, ông không chỉ là một nhà khoa học, một ông thầy dạy học, một đảng viên kỳ cưụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng, một nhà tranh đấu, và thêm vào đó là một Phật tử chân chính nhưng không câu nệ. Nếu đi sâu vào từng khía cạnh một thì không thể kể hết, nên chỉ còn cách là mời các thức giả vào nghiên cứu những khía cạnh ông viết, nói và chia xẻ.

Những đề tài trong quá trình tranh đấu của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết có thể nói “vô tận”, nghĩa là “không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc” (lời ông nói trong một cuộc phỏng vấn về vấn đề hâm nóng toàn cầu). Một nhà chính trị không lập thuyết, một nhà khoa học không ngồi trong tháp ngà tư tưởng để chỉ nghiên cứu trên lý thuyết, nói cách khác một nhà hoá học thực nghiệm, Ông không chỉ mãn nguyện và an vị trong phòng thí nghiệm là đủ. “Con người” ông quả có nhiều “nghịch lý”. Là một chuyên viên phụ trách vấn đề phát thải tại Mỹ lại thường xuyên nghiên cứu về môi trường mãi tận Việt Nam. Từ bãi rác Đông Thạnh miền Nam đến vấn đề những dòng sông chết ở miền Bắc. Từ vấn đề Đồng Bằng sông Cửu, đến việc khai thác Bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Ông “đi” khắp nơi, và đặc biệt chú trọng đến vấn đề môi trường ô nhiễm theo nghĩa toàn diện (không khí, đất và nước…vốn là những điều kiện cần cho cuộc sinh tồn của nhân sinh).

Đó là việc làm và là con người của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Nhưng vượt trên hết là một con người đấu tranh, đấu tranh theo nghĩa thiết thực nhất. Về điểm này có thể nói, ông còn nặng nợ với núi sông; mà hai điểm chính yếu và nổi bật nhất là đất nước và người dân: Nặng lòng với đất nước, quan tâm cho cuộc sống người dân. Phi tâm huyết, một người không thể làm được như vậy. Rõ ràng là ông đa đoan, cho nên:

Lại mang lấy một chữ tình,

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” (Kiều)

như một nàng Kiều nặng tình với Kim Trọng. Nhưng “tình” đây chính là tình đối với đất nước, thiên nhiên, môi trường thiên nhiên và mối quan tâm đến con người. Và, ông không chịu ngồi yên một chỗ, hết “keo” này, ông bày “keo” khác.

Cho nên khi nói đến việc làm của ông mà không nói đến con nguời thì quả là một điều thiếu sót. Tôi không sống ở Mỹ nhung qua những mẩu đối thoại cá nhân, hoặc những bài nói chuyện với cộng đồng thì có thể biết được ông nghĩ gì và muốn gì… Chưa bao giờ ông đề cập đến con người của ông nhưng qua lối diễn tả, cách tiếp xúc, và lời lẽ đặc biệt “Nam Kỳ“ của ông người ta thấy thể hiện một sự chân chất, không màu mè, kiểu cách. Ông thân thiện với tất cả mọi người, dễ dàng và cởi mở. Quả thực Tiến si MTT có một cái gì làm người ta quý mến và cảm phục. Cảm phục không phải vì “tài năng xuất chúng” nhưng vì sự kiên tâm tranh đấu không mệt mỏi của ông.  Đối với cộng đồng chúng tôi thì mối liên hệ với ông Tiến Sĩ họ Mai này lại có phần hơi đặc biệt. Đặc biệt là vì chúng tôi có những ý kiến chia xẻ cùng những nhận định về thời cuộc hay nói chung là về vấn đề liên quan đến Việt Nam. Có thể nói, không “ngoa”, rằng Mai Thanh Truyết là một người có tâm huyết với đất nước, một trong số hiếm những nhà tranh đấu chân chính hiện nay.

Hơn thế nữa, có thể nói khá chính xác rằng hiện nay ở Cali ông là người duy nhất gióng lên tiếng chuông báo động cho đồng bào thường xuyên nhất, tích cực nhất, những điều nóng bỏng nhất và cũng thiết thực nhất . Chỉ nguyên phản ứng của quần chúng đối vấn đề thực phẩm có độc tố, dù là tán thành hay phản đối- mà đa số vì muốn bảo đảm sức khỏe an toàn- đều hưởng ứng khá mạnh mẽ. …cũng đủ thấy việc làm của ông không phải là thừa. Ấy là chưa kể còn nhiều lãnh vực khác mà ông luôn luôn một mình, một ngựa có ông đi hàng đầu”.

Nhưng điều tôi muốn nói ở đây không phải chỉ là vì những hoạt động của ông đối với đất nước trong suốt hai mươi năm qua- Những đóng góp ấy không phải là nhỏ, trái lại rát phong phú và đa dạng. Đa dạng như chính con người của ông – mà là ý nghĩa và cộng đồng chúng tôi được hân hạnh gặp Tiến si Mai Thanh Truyết vào buổi xế chiều một ngày tháng 7 tại một thành phố Miền Tây Canada. Lúc ấy là vào mùa hè nên thời tiết thật đẹp, nắng vàng ấm và không khí trong trẻo. Thời tiết này giúp cho việc tham dự buổi nói chuyện của ông về một đề tài tưởng là khô khan nhưng lại vô cùng hấp dẫn.

Hôm ấy, ông đến với cộng đồng theo lời mời của Hội Ái Hữu Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là chỗ anh em thân tình cũ với ông. Chúng tôi đến tham dự buổi nói chuyện của ông về vấn đề “Dioxin và Chất Độc Da Cam” mà ông mới xuất bản không lâu trước đó và đã cho ra mắt, cách đây hai năm. Buổi nói chuyện thật sôi nổi với nhiều câu hỏi sâu sắc được đặt ra. Và ông đã giải đáp thấu đáo với những dẫn chứng cụ thể và chính xác. Thật là cần thiết để đồng bào Việt Nam có thể được nghe chính lời của một nhà hoá học đã chịu bỏ công nghiên cứu kỹ lưỡng; để có thể đưa ra những luận cứ có giá trị, hầu “giải độc” cho mọi người về tất cả những gì mà CSVN đã gây ra, và rêu rao khiến người dân hoang mang.

Nhưng đây chỉ mới là một ví dụ trong nhiều ví dụ về những công việc mà Tiến si Mai thanh Truyết đã và đang theo đuổi. Chỉ trong suốt hai năm qua kể từ ngày đó, ông đã làm không biết bao nhiêu việc. Những thức giả hằng quan tâm đến thời cuộc và theo dõi việc làm của những nhà tranh đấu thì sẽ dễ thấy. Hình như ông không chịu ngồi yên để chỉ “khóc cười theo vận nước nổi trôi” như nhiều người khác, mà ông càng tranh đấu càng hăng say. Ông không chỉ dừng ở địa hạt Dioxin để nói lên cái thực chất của sự giả dối che đậy của nhà nước CSVN khi nhân danh vấn đề nhân đạo để …vòi tiền Mỹ .

Ông còn lưu tâm đến nhiều khía cạnh thiết thực khác như vấn đề ô nhiễm Việt Nam- một sự ô nhiễm toàn diện – và là một vấn đề nóng bỏng hiện nay. Ông đã nêu lên những dẫn chứng thật cụ thể cho việc làm của mình. Ông đã báo động cho mọi người thấy đây là một vấn đề trầm trọng không thể bỏ qua. Như đã nói trên, đây là một vấn đề toàn diện và bao trùm mọi lãnh vực, từ y tế (ô nhiễm dược phẩm), kinh tế (sản xuất hàng loạt thu hoạch lợi nhuận tối đa),  cho đến đời sống xã hội (ô nhiễm thực phẩm, môi trường)… Những sự kiện này đã ảnh hưởng nặng nề đến cuộc nhân sinh (vụ nhà máy lọc dầu Dung Quất đã không thực hiện đúng tiêu chuẩn sản xuất nên có khả năng làm hại môi trường, và qua đó ảnh hưởng tai hại cho sức khỏe và cuộc sống người dân nói chung. Mặc dù chẳng bao lâu nhà máy này đã phải đóng cửa vì một số lỗi lầm trong xây cất, ông vẫn thấy có bổn phận phải nêu lên vì còn rất nhiều những công ty sản xuất với tính cách làm ăn tắc trách như vậy .

Hoặc như vụ công ty chế tạo Bột Ngọt Vedan đã mặc sức thải ra lòng sông những chất phế thải mà không hề xót xa cho sự sống của dòng sông. Sự kiện này và nhiều trường hợp tương tự cho thấy các công ty sản xuất tại Việt Nam hầu như chỉ nhắm vào nguồn lợi kinh tế mà không quan tâm đến phẩm chất của việc sản xuất cũng như của những thành phẩm. Và nhất là không hề để ý đến hậu quả của việc làm của họ. Hiện tượng này không những đã làm ô nhiễm môi trường vật lý mà còn ô nhiễm cả cuộc sống người dân v.v… Đứng trước tình cảnh và nông nỗi ấy của đất nước, ông không thể “im lặng là vàng” được.

Là một nhà hoá học, Giám Đốc một cơ quan xử lý chất phế thải (nói nôm na là rác) tại Hoa Kỳ ông đã biết lợi dụng những tiện nghi khoa học, và đem kiến thức gặt hái trong ngành ra ứng dụng vào thực tế để soi rọi vào những gì đang được CSVN thực hiện ngay trên đất nước Việt Nam. Chính cái nhìn “soi mói” cần thiết này đã mang lại tác dụng đôi:

  • Một đàng người dân có thể thấy rõ cái sai trái và âm mưu che giấu ở bên trong những việc làm lấy lệ, vô trách nhiệm và vụ lợi của kẻ cầm quyền vô minh nhưng “bá đạo”.
  • Mặt khác, việc làm này cũng không ngoài mục đích cảnh báo nhóm người nắm quyền sinh sát ở trong nước về những hiểm họa đang và sẽ xảy ra. Với một niềm mong muốn, họa may họ có còn một chút nhất điểm lương tâm mà thay đổi phương thức quản lý sản xuất và môi trường tử tế hơn. Không khó để nhận thấy rằng trong mọi vấn đề, ông luôn muốn hữu hiệu hoá kiến thức của mình, nghiên cứu, tìm tòi thêm để sau đó mới đúc kết lại và quảng bá cho quần chúng. Về phương diện này, có người đã coi ông như là một học giả và luôn đi tiên phong.

Nói về việc làm của Tiến si Mai Thanh Truyết thì còn nhiều điều để nói. Mối ưu tư toàn diện của ông đối với sự lành mạnh của môi trường là gì nếu không phải xuất phát từ một khối óc hiểu biết và một trái tim sôi sục vì sự tồn vong của đất nước, muốn làm một cái gì ích cho nước, lợi cho dân.

Trên đây, người viết mới chỉ đan cử một vài ví dụ tiêu biểu trong vô số những hoạt động của Tiến si Mai Thanh Truyết mà độc giả có thể thấy trên mạng, trên báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v…

Về phương diện chính trị, như đã nói trên, tuy ông không phải là một nhà chính trị thuần túy, hay nhà bình luận thời cuộc vì ông không “sống” vì chính trị, nhưng chính bản thân, ống đã dấn thân vào công cuộc chung. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng Đại Việt, Tiến si Mai Thanh Truyết tin vào sức vươn lên của con người trong nhiều lãnh vực, để tiến tới tương lại. Trong bài viết cũng như trong các mẩu đối thoại, ông chủ trương một thái độ lành mạnh. “Lành” trong chính trị có nghĩa là không chỉ dừng tại chỗ để ca ngợi thành quả đã qua hoặc tiếc thương những gì đã mất. “Mạnh”, vì Ông quả là một con người đa diện, mà “diện” nào cũng dám nói thẳng thắn, không do dự.

Về mặt tôn giáo, ông đã chứng tỏ là một Phật tử sống với chân tâm, không vụ hình thức. Với ông, nhận thức và hành động là một: Ông không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì sai trái. Biết mà không nói, không phải là hiểu biết thật sự. Ông không chỉ bo bo giữ cho riêng mình những kiến thức thâu thập trong cuộc sống, trong xã hội, trên thế giới, nhất là trong địa hạt chuyên môn của mình. Cho nên ông phải truyền bá, phổ biến sau khi đã hấp thụ thấu đáo và tiêu hóa.  Công việc này xuất phát từ một đam mê, một khối óc hiểu biết và một tấm lòng đối với đất nước.

Nói như thế, để thấy rằng Tiến sĩ họ Mai mặc dù không có ý định làm chính trị, cũng không phải là nhà lập thuyết về chính trị; nhưng cũng như bao nhiêu người có lòng khác, ông đã dấn thân vào đại cuộc từ lâu. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng, ông luôn chứng tỏ một thái độ năng động – của một người lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm cao- trong việc hướng dẫn người trẻ nhận định tình hình và đi theo đúng con đường chính bằng một cái nhìn khai phóng và sáng tạo (website daiviet.us)

Từng giữ chức Trưởng Ban Hoá học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, và Giám đốc Học Vụ Viện Đại Học Tây Ninh, nơi ông đã từng giảng dạy vừa điều hành, ông đã đem kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức trong quá khứ phối hợp với kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài để tiếp tục dìu dắt đàn em đi tiếp con đường tranh đấu cho dân tộc. Ông đã từng nhắn nhủ họ, trong những buổi nói chuyện, hội thảo, nhìn về tương lai với một niềm tin vững chãi. Vai trò hướng dẫn của một người thầy còn được thể hiện trong việc ông tham gia vào các sinh hoạt giáo dục, đóng góp ý kiến, tìm tòi tài liệu, liên lạc mọi giới. Và mỗi khi có cơ hội là ông bắt tay vào để phổ biến những kiến thức và kinh nghiệm của mình.

Để có thể hiểu thấu đáo việc làm của Tiến sĩ đa dạng họ Mai này, theo thiển ý, cách tốt nhất là xin đi vào “Blog” của ông (maithanhtruye.blogspot.com), hoặc vào trang website của Hội khoa Học kỹ Thuật (vastvietnam.com)  hay của Đại Việt Quốc Dân Đảng (daiviet.us).                    

Vancouver, một ngày Mùa Hạ, 2010

Nguyễn thị Ngọc Dung

Nguyên Chủ tịch Cộng đồng vùng Great Vancouver




THƠ – Vùng Ký Ức & Vẫy Gọi Bình Yên – CAO MỴ NHÂN




VĂN: Làm Giàu Cho Sách – CAO MỴ NHÂN

Làm giàu cho sách

Ông Khai Trí

Hồi đó vào khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tôi đã gọi là xong hết mọi việc dính tới chuyện tù cải tạo nên thong dong đi chơi như bạn bè không thuộc nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, tức là họ không phải đi tù tập trung như tôi.

Mỗi buổi sáng, tôi thường rời nhà ở khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ tà tà lên hướng Lăng Cha Cả trên con đường gọi là Trương Minh Ký, nối dài đường Trương Minh Giảng phía trên.

Tới ngã tư đường Thoại Ngọc Hầu thì rẽ phải đi một đoạn ngắn nữa, gặp đường nhỏ Nguyễn Minh Chiếu cắt ngang, rẽ trái đến số nhà 328 (gần cuối đường) bên tay mặt, tôi đứng trước cổng lớn của biệt thự Úc Viên.

Tôi đến chơi với nữ sĩ Mộng Tuyết – Thất Tiểu Muội như cơm bữa vì cũng chẳng có việc chi làm. Một hôm nghe tiếng chuông nhè nhẹ từ ngoài cổng biệt thự Úc Viên vọng vào.

Nữ sĩ Mộng Tuyết ngó đồng hồ rồi nói: Ông Khai Trí đến đó, đúng hẹn quá ha. Bà nói tôi ra mở cửa, đồng thời có định gặp ông Khai Trí thì bà giới thiệu…

Ông Khai Trí ở Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975 ai mà không biết… Ông là giám đốc nhà sách Khai Trí ở đường Lê Lợi. Về sau ông vừa làm nhà xuất bản, tổng phát hành nên bộn bề công việc nhưng càng thêm uy tín và thân tình với đông đảo văn nghệ sĩ. Không ai không cảm phục ông về tấm lòng yêu quý sách từ thủa còn đi học.

Những hoạt động mua bán sách và giao tế tuyệt vời của ông với các tác giả cũng như khách hàng mà đa số là sinh viên học sinh thì khỏi nói.

Tôi chỉ đề cập tới một chuyện rất tầm thường nhưng lại… bất thường, chứ không nói tới chữ phi thường vì lớn lao và khôi hài quá!

Số là những ngày ông bị tập trung cải tạo ở Z30C Hàm Tân, cùng trại với anh rể tôi, trong vấn đề phân phối lao động…

Ai đã đi tù chính trị Cộng Sản đều biết cái điều mỗi lần chia tổ lao động,  đòi hỏi tự nguyện, rồi mới chỉ định.

Thế thì nhà tổng phát hành sách vở, chữ nghĩa cứ thơm phưng phức hàng ngày vui cùng thiên kinh, vạn quyển kia nay tự sung vào cái tổ gánh phân rồi hoà tan thành nước phân bón tưới các rẫy vườn rau, đậu ngoài trại ấy.

Làm như thế thì chỉ phải lao tác nửa ngày, còn nửa ngày cọ rửa cho thân thể sạch sẽ trở lại con người… nhân bản được chút nào hay chút nấy. Khốn nạn cho cái xã hội khốn cùng đó.

Ở ngoài Bắc, dù không đi tù cải tạo người ta vẫn làm cái việc phân bón… thiên nhiên này, đến nỗi cả người lớn lẫn trẻ em đều bị cái bệnh tệ hại nhất thế giới là những cái bụng sán lãi bự chảng, mặt mũi xanh lét.

Ông Khai Trí đã từ ngoài cổng Úc Viên vô tới nửa hành lang, tay dắt xe đạp, trên ghi đông xe đạp còn treo một cái bị cói hơi cũ đựng sách truyện và những thứ cần thiết…

Chẳng biết đường trường kách mệnh của Hồ lão tặc sẽ vượt lên thượng tầng kiến trúc thế nào, chứ cái màn khốn khổ khốn nạn XHCN diễn đi diễn lại khiến cho con người đang từ phong nhã, hào hoa trở thành bần hàn ti tiện làm sao.

Nhưng người lịch thiệp thì cho dẫu đã trở lại bước đường hoa gấm ngày xưa, ông Khai Trí vẫn nhẫn nhịn, hoà nhã, chịu đựng đến độ thành bụt lúc nào không hay.

Cơ ngơi tài sản ông mất nhiều, mất ít thì tôi không rõ, nhưng những năm tháng sau cùng ở Sài Gòn, ông vẫn đi xe đạp, treo giỏ cói ở ghi đông với một nụ cười mà không biết phải diễn tả thế nào mới đúng: hoà đồng, khổ luỵ, buồn thương, chán chường…

Song vẫn đầy nghị lực, vẫn mong ước, chờ đợi một ngân hàng sách, một hệ thống phát hành ở khắp nước Việt Nam để từ đó cái xã hội sách bất khả của họ tự giẫy chết trong nghĩa địa sách mà họ lầm tưởng là có thể để đời…

Tuy nhiên đầu thập niên 90 tiếp theo, ông vẫn đi Hoa Kỳ.

Mộng làm giàu cho sách, chứ không phải sách làm giàu cho ông, vì giai đoạn này các con ông đã nên danh phận và ông đã già (1926 – 2005).

Thế mà có một buổi trưa kia, trên chiếc xe buýt chuyển trạm đường Brookhurst, ông Khai Trí đã khệ nệ bước xuống với mấy bao, giỏ sách thật nặng nề vừa đeo trên vai, vừa ôm trước ngực, vừa… thở hổn hển, mà vẫn tươi cười.

Tôi hỏi sao ông di chuyển sách nặng làm gì khổ thế. Là vì ông phải đi từ Los Angeles xuống ga chuyển Fullerton, rồi từ Fullerton qua buýt khác xuống thủ đô tị nạn Bolsa mà tôi gặp đó, rồi ông sẽ đi một chuyến buýt thứ ba về nhà ông. Thật cực khổ. Năm đó 1993, ông đã gần bảy chục tuổi.

Vài năm sau, ông quyết định về Sài Gòn ở luôn. Sinh hoạt văn chương theo ý ông cùng các văn nghệ sĩ nửa cũ, nửa mới cho tới khi qua đời.

Thời gian ông Khai Trí xây dựng sự nghiệp sách khai phóng và điều hành cái cơ sở đồ sộ những chữ cùng… nghĩa, tôi nghĩ quý vị tác giả biết ông và thân tình với ông nhiều cách khác nhau…

Qua gần 10 năm, sau khi ông đi tù cải tạo về tới trước khi đi Mỹ, tôi được hân hạnh quen biết ông chững chạc hơn, trong giao lưu chưa thật hết văn hoá cũ đã phải tiếp nhận văn hoá mới.

Đó là cái xã hội miền Nam sau 30 – 4 – 1975, ô dề một cách hầm bà lằng…

Sự thực lớp người như ông Khai Trí chẳng… sợ ai gọi là ở chế độ mới. Chưa kể những người từ rừng về mang cảm giác thua kém trước… rừng sách, hay ít nhất một người đủ góc độ nói về văn hoá, văn học, cho nên ông vẫn được số đông người họ Mác, họ Lê, họ Hồ kính nể.

Mặt khác ông vẫn có ý giúp quý văn nghệ sĩ cũ bị kẹt lại hay đi tù cải tạo ra gặp hoàn cảnh khó khăn.

Ngày thi sĩ trung tá Hoàng Ngọc Liên từ  về, ông Khai Trí đã đeo vào ngón tay cho quan năm thất thế đó chiếc nhẫn một chỉ vàng 24 carat gọi là mừng bạn, chẳng lẽ nói để anh ăn bù thời gian đói khát tù đày vừa qua.

Buồn quá, mỗi lần một người quen mãn phần hay thất lộc thì bâng khuâng rồi, nhưng ông Khai Trí ra đi về cõi vĩnh hằng thì quả là giống như ai đang cầm cuốn sách hiếm quý bị người điên giật lấy rồi xé bỏ trước mặt họ…

CAO MỴ NHÂN




Kaizen – Cải Tiến Liên Tục, Liên Tục… – Tưởng Niệm Anh Hùng Trần Văn Bá – Mai Thanh Truyết




Chùm Thơ Thanh Thanh




Chùm Thơ Cao Mỵ Nhân




Khai Bút Năm 2022




THƠ & NHẠC: Đông Ơi Đừng Vội – Thơ Phạm Phan Lang- Nhac Mai Hoài Thu

Đông ơi đừng vội

*

Lìa cành lá rơi

Thu qua mất rồi

Đông buồn sắp về

Hồn nghe tái tê

*

Đông ơi chậm thôi

Ta đang vẫn ngồi

Bên dòng nước cạn

Nghe chiều nhẹ trôi

*

Mây bay lững lờ

Thu buồn hắt hiu

Trời chiều dịu êm

Ta ngồi đợi đêm

*

Xa xa tiếng chuông

Nghe thăm thẳm buồn

Con chim lẻ loi

Nhìn quanh ngó quanh

*

Thu chưa muốn đi

Đông buồn vội về

Ta ngồi đợi mưa

Nghe cơn gió đùa….

*

PhamPhanLang 2/12/2020




THƠ, VĂN, YouTube … Thi Thân Hữu Sương Lam

Bài Tình Ca Tháng Chạp  

Baitinhcathangchao0THminhhoa 900.jpg

Đây là bài số năm trăm chin mươi bốn (594) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo, Portland, Oregon.

Bây giờ là Tháng 12 dương lịch năm 2021, nhưng văn hoá Việt Nam thường gọi tháng 12 là Tháng Chạp. 

 Người viết là người Việt Nam (dĩ nhiên rồi) nên cũng xúc cảnh sinh tình viết  bài thơ Bài Tình Ca Tháng Chạp để đánh dấu tháng cuối cùng của một năm, đặc biệt có ngày Lễ Giáng Sinh chào đón Chúa sinh ra đời đem tin yêu và hy vọng đến với tất cả mọi người nơi trần thế.

 Xin mời Bạn cùng  đọc với người viết nhé

 Bài Tình Ca Tháng Chạp

*

Tháng Chạp đến với đèn hoa rực rỡ

Người người mừng chào đón Lễ Giáng Sinh

Trời mùa Đông nhưng vẫn thấy ấm tình

Tình Nhân Loại, Thương Yêu và Bác Ái

*

Thiện Tâm ấy nào phân chia tông phái

Chúa trên cao hay Phật ngự tòa sen

Thương kẻ trần không phân biệt sang hèn

Khuyên người phải biết thương yêu, giúp đỡ

*

Quen hay lạ vẫn nụ cười cởi mở

Đưa bàn tay nắm lấy một bàn tay

Trao cho nhau lời chúc tốt đẹp này :

“Chúc tất cả được bình an dưới thế”

*

Trang sử Việt dẫu bao lần hưng phế

Giang sơn dầu có thay chủ đổi ngôi

Thủy triều kia dù lên xuống sụt trồi

Nhưng hai chữ Tình Thương không thay đổi

*

Chúa hay Phật không bao giờ nói dối

Dạy con người nên gìn giữ thiện tâm

Khuyên chúng sinh sửa đổi những lỗi lầm

Hiểu “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”

*

Trời lắng dịu sau cơn mưa giông  bão

Xuân sẽ về sau Đông lạnh âm u

Nắng sẽ lên khi thoát khỏi mây mù

Người hiểu Đạo sẽ tâm bình trí lạc

 *

Năm cũ hết sẽ bước sang năm khác

Chúc mọi người được trí lạc thân an

Lòng Thiện Tâm rất đáng giá ngàn vàng

Chúa Phật sẽ ban phúc lành cho Bạn

*

Sương Lam

Mời quý thân hữu thưởng thức Thơ Nhạc Bài Tình Thơ Tháng Chạp- Thơ Sương Lam – Trinh Huỳnh thực hiện ảnh thơ

We wish you Merry Christmas Happy New Year Piano

SLvatuiThucpham 12-21 2.jpg

Thứ Sáu vừa qua vì phải đi lảnh thực phẩm do Nhóm Sinh Hoạt Người Việt Portland phụ trách, nên  người viết đành phải rời khỏi cuộc họp mặt thân hữu rất vui  trên Zoom của Group Cô Gái Việt sớm hơn giờ kết thúc.  Sau đó, người viết đi chợ Việt Nam để mua thực phẩm cho 2 tuần lễ sắp tới để giảm bớt việc ra đường trong thời buổi dịch Covid 19 vẫn còn đang hoành hành ở Portland nói riêng và ở xứ Mỹ nói chung.

 Trên đường đi chợ, người viết nhìn thấy một bà cụ già khập khiễng bước chầm chậm đến trạm xe buýt với chiếc ghế đẩy có bánh xe lăn cô đơn một mình thật tội nghiệp vô cùng!

Người viết tự hỏi không biết bà cụ già này có con cháu gì không mà phải tự một thân một mình di chuyển khó khăn như thế khi tuổi già sức yếu.  Nhìn hình ảnh đó, nguời viết thấy rằng đời sống con người không thể nào thoát khỏi vòng sinh, lão, bịnh, tử. Khi còn trẻ thì sức khỏe sung mãn, trí óc sáng suốt, tinh thần minh mẫn. Khi về già thì sức khỏe suy yếu, bịnh tật đủ thứ, trí nhớ sa sút, tinh thần hỗn loạn, bi quan. 

 Đời sống và cách suy nghĩ của con người cũng thay đổi tùy theo văn hóa, môi trường xã hội mình đang sống.  Có nhiều bậc cha mẹ Việt Nam sống ở hải ngoại vẫn khư khư giữ lấy quan niệm, giá trị đạo đức Khổng Mạnh là con cái phải biết vâng lời cha mẹ, phải phụng dưỡng cha mẹ già với quan niệm “Dưỡng nhi đãi lão” hay “Trẻ cậy cha, già cậy con” ngày xưa, như thế mới là con có hiếu. Trong khi đó con cái lớn lên, học hành và trưởng thành nơi xứ người, hấp thụ cách giáo dục Tây Phương rất thực tiễn, tôn trọng đời sống cá nhân nên sự thông cảm giữa  cha mẹ và con cái không thể nào đúng như lòng mong muốn của hai giới già và trẻ.

  Người già thì bịnh tật, tinh thần yếu ớt, tình cảm cô đơn, thích được gần gũi con cháu nhưng con cái cũng có những lo lắng về gia đình, công ăn việc làm của chúng nên cũng không thể nào săn sóc cha mẹ chu đáo được nên cũng đành phải đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão mà thôi.

Trong hiện tại cứ hãy vui lên mà sống, còn viết văn làm thơ được thì cứ làm thơ viết văn, còn cắt cỏ làm vườn được thì cứ làm vườn cắt cỏ coi như mình đang tập thể dục cho khỏe người, còn đi “tiếu ngạo giang hồ” được thì cứ đi ta bà thế giới cho vui, kẻo mai kia chân giò yếu đuối, bịnh hoạn liên miên không đi đâu được nữa thì hối tiếc nhé.  Smile!

Chúng tôi vẫn thường bàn với nhau “nhà ta, ta ở” cho đến khi nào già quá không thể tự chăm sóc cho mình được thì vào viện dưỡng lão ở vì đó là giải pháp tất yếu của hầu hết chúng ta.  Kẻ trước người sau rồi cũng phải vào đó hết để chờ ngày đi đoàn tụ với ông bà, chạy đâu cho khỏi.

 Chúng tôi cũng thường bàn nhau với bạn bè là có nên về ở chung với con cái hay không thì đa số cũng có cùng một ý kiến rất “cấp tiến”  với tôi là “nhà ta, ta ở” vẫn hơn.

Xin mời bạn đọc cùng đọc với người viết đoạn văn như sau được người viết sưu tầm trên internet coi có đúng không nhé.

 Nhà ta ta ở

can-nha-mau-tim-3.webp

“Trong đầu óc chúng tôi – những hội viên của hội lão này – cụ nào cũng có một vài ba cái kinh nghiệm của bà con, của bạn bè về những vụ ở chung với con cái. Chuyện nào cũng chẳng có happy ending gì hết, mà đều là bẽ bàng, dại dột. Bố hay mẹ góa, nghe lời ngon ngọt của con – trai hay gái – bán nhà, đem tiền về gửi con, rồi ở với con với cháu cho chúng nó có thì giờ trả hiếu. Nhưng chỉ chừng vài ba tháng trăng mật, khi chúng rút hết tiền trong két nhỏ cũng như «công» lớn, chúng bèn nhắc nhở, khách ở trong nhà giống y hệt như cá như tôm, chỉ đến ngày thứ ba là ươn, là thối sình lên rồi. Thế là ông bà già tức tưởi, khăn gói quả mướp ra đi với hai bàn tay trắng theo đúng nghĩa đen cũng như nghĩa trắng. Hỏi đến tiền chúng cứ tảng lờ như không hiểu bố mẹ nói gì. Cụ nào cũng tắc lưỡi nói, vẫn biết đây là chuyện hàng xóm, con mình chả đến nỗi thế, nhưng nó ở nhà mình thì mình là chủ nhưng nó vẫn coi là nhà của nó, nhưng mình ở nhà nó là không được, vì nhà nó là nhà nó, không phải là nhà mình, nó là chủ mà mình là người ở nhờ” (Ngưng trích Bà Ba Phải-Ở với ai?).

Người viết nói vòng vo tam quốc đã đời ở trên rồi chắc bạn cũng đã suy nghĩ và đã có ý kiến  “Già Rồi Tôi Ở Với Ai” rồi chứ nhỉ?  Hy vọng bạn sẽ chọn lựa đúng nhé.

 Chúng ta sẽ chào mừng Chúa Giáng Sinh ra đời đem niềm vui và hạnh phúc đến cho muôn người Và Năm Mới sắp đến. Hy vọng những bậc cha mẹ đang ở nhà riêng hay đang ở viện dưỡng lão sẽ được con cháu đón về nhà sum họp gia đình vui vẻ bên nhau hay ít nhất con cháu  hãy đến thăm cha mẹ già đang sống cô đơn nơi viện dưỡng lão nhé.  Mong lắm thay!

Hy vọng những người con có cha mẹ già đang ở viện dưỡng lão đọc và suy nghĩ về cảm nghĩ của nhà văn Huy Phương dưới đây:

“Cứ vào “Pet-Abuse.com” chúng ta sẽ tìm thấy hàng nghìn trường hợp công dân Mỹ, già và trẻ, đàn ông lẫn đàn bà bị tù tội, phạt tiền vì bạc đãi, bỏ đói, đánh đập hoặc giết những con vật thân yêu trong nhà. Bỏ quên một bà mẹ già trong nhà dưỡng lão nhiều năm có phải là một trường hợp ngược đãi không? Chẳng lẽ là không? Vì nếu có, luật pháp đã bắt đứa con phải phạt vạ hay vào nhà tù”

 Nhân mùa Giáng Sinh và Năm Mới sắp đến, người viết xin chúc tất cả quý bạn có những phút vui và hạnh phúc với người thân trong buổi tiệc sum họp gia đình của quý bạn. Bạn nhé!

Xin mời thưởng thức một Toutube vui về Xmas với hình ảnh dễ thương, vui vẻ để chúng ta có thể sống lạc quan thêm một tí nhé vì đời vẫn còn đẹp sao.  Smile!

We Wish You A Merry Christmas | Super Simple Songs

Vợ chồng người viết cũng xin kính chúc quý thân hữu Một Mùa Giáng Sinh Vui Vẻ và Một Năm Mới nhiều sức khỏe, hạnh phúc nhé.

Merry Xmas.png

Xin chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 594-ORTB 1019-122221Sương Lam




GIỚI THIỆU SÁCH MỚI – Thi Sĩ Chinh Nguyên – Thơ Phương Hoa

Kính chào quý vị


Sau một năm ngồi nhà nhìn Covid-Vũ Hán 19 đi qua cửa nhà.
Chinh Nguyên ngồi gõ keyboard soạn được Tuyển Tập Thơ Chinh Nguyên – Bơ Vơ.
Tác phẩm Bơ Vơ dầy: 351 trang. 
Xin mời quý vị hổ trợ tác giả: Giá vốn 9:02 + bưu phí. 
E-mail: cnchinhnguyen7@gmailcom.
Tele: (669) 225-6043 
Thành thật cám ơn.

CHINH NGUYÊN

CHÚC MỪNG THI SĨ CHINH NGUYÊN

*

CHÚC MỪNG THI PHẨM của CHINH NGUYÊN

Năm Mới sắp sang được phỉ nguyền

TUYỂN TẬP “BƠ VƠ” vừa xuất bản

Quyển thơ “cô độc” được loan truyền

Siêu Vi qua cửa nào lo đạp

Vũ Hán lướt sân chẳng sợ nghiền

Sáng tác ào ào như lũ cuộn

Kính xin giới thiệu, nhớ mua liền

*

Mua liền ủng hộ tập thơ hay

Tác phẩm cần nên được tới tay

Đọc để cảm thông bao chuyện đắng

Xem rồi chia sẻ lắm niềm cay

Văn nhân gửi nỗi đau lìa tổ

Thi sĩ chuyền câu khổ lạc bầy

Dân Việt mong châu về hiệp phố

Để cùng thi sĩ cụng ly say

*

Phương Hoa – DEC 28th 2021




THƠ LÊ TUẤN: Xôn Xao Gió Xuân – Lặng Im Tiếng Đời




Vườn tao ngộ của quân trường Quang Trung

“Vườn tao ngộ” của quân trường Quang Trung năm xưa trong bài hát của nhạc sĩ Khánh Băng: “Vườn tao ngộ em đến thăm anh…”

Những người yêu nhạc vàng, đặc biệt là yêu các ca khúc viết cho lính, không ai không biết đến ca khúc Vườn Tao Ngộ được nhạc sĩ Khánh Băng viết với bút danh Nhật Hà. Ca khúc này trước năm 1975 cũng được những người quân nhân và người yêu của lính rất yêu thích.Vườn Tao Ngộ thuộc Trung tâm huấn luyện Quang Trung, là nơi mà người yêu, người vợ và gia đình các tân binh đến thăm những người lính trẻ đang được huấn luyện, sau những ngày gian khổ nơi quân trường.

Quân trường Quang Trung nằm trên một khu vực rộng lớn ở khu vực quận 12 ngày nay. Cùng với Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ thì quân trường Quang Trung trải dài từ Xa lộ Đại Hàn đến ngã 4 An Sương qua đến ngã 4 Trung Chánh.Nhắc đến quân trường Quang Trung là nhắc về 3 tháng thao trường của những chàng tuổi trẻ đã vi nước mà xếp bút nghiên theo nghiệp đao binh. Trung tâm huấn luyện Quang Trung là quân trường cấp quốc gia, nơi chuyên đào tạo và huấn luyện đến 80% các tân binh để cung cấp cho các quân, binh chủng của miền Nam.Vườn tao ngộ có tên chính thức là Vườn Cộng Hòa, là khu tiếp tân của quân trường là nơi ghi lại những hình ảnh rộn ràng, cảm động nhất vào mỗi ngày chủ nhật. Nơi đây đã chứng kiến những nụ cười, những giọt nước mắt lưu luyến của người tình, của cha mẹ, anh em, vợ con của người lính. Có thể nói tình yêu trong thời chiến là mối tình thiết tha nhất, vì nó mang cả tâm tình của người hậu phương gửi trao cho người ra tiền tuyến. Người lính không chỉ là người thân, người yêu, họ là niềm hãnh diện của gia đình và các người tình thiếu nữ. Trong cái nắng đổ lửa của quân trường, bóng người tân binh bên những tà áo dịu dàng của các thiếu nữ chợt ngọt ngào như một lời ước hẹn.

Vườn tao ngộ rộng khoảng 3-4 ha, có vài chục gian nhà và vườn hoa, và khi người thân đến thăm quá đông còn phải ngồi trải ra cả bãi cỏ mới đủ chỗ. Ở đây có gian nhà bán tạp hóa, giữa khu là rạp hát to với sân khấu rộng. Còn giữa sân trong cổng là sân khấu có hình giống như tháp eiffel lưng chừng để khán giả ngồi tứ phía xung quanh dự khán đều thấy rõ. Vào tối cuối tuần, sân khấu có tổ chức văn nghệ phục vụ cho thân nhân của tân binh. Vì thân nhân từ tứ phương miền trung, miền tây lặn lội đến thăm nên phải đến vào ngày hôm trước. Vì thế trong này có dựng những dãy nhà tiếp tân cho thân nhân từ xa tá túc qua đêm.

Mỗi ngày chủ nhật, tại vườn tao ngộ này, lính trẻ và thân nhân tha hồ mở lòng tâm sự cho bõ nhớ thương những ngày xa cách… khung cảnh này nhộn nhịp hơn cả ngày hội chợ tết:

Hôm nay ngày chủ nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh,

Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi

Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên dần…

Để đến được quân trường Quang Trung, thân nhân sẽ đi dọc theo con đường Quang Trung, rồi đường nối dài (nay là đường Tô Ký đi Hóc Môn). Từ những năm thập niên 1960, con đường này ít có cây to che bóng mát, lại rất vắng và thuộc vùng ngoại ô của đô thành nên “nắng đổ xa xôi”, nhưng bấy nhiêu thì đâu có làm chùng lòng được người con gái mang nhiều nỗi nhớ nhung.

Những cách trở đó có đáng là bao nếu so với sau này, sau khi xong 3 tháng quân trường thì người lính mới phải ra đơn vị, đường trần chia 2 lối xa xôi cách trở hơn rất nhiều lần:Ta nhìn nhau bâng khuâng,

đâu biết rằng chuyện đôi ta sẽ vui hay buồn?

Ngày mai ra đơn vị đường trần hai lối mộng thôi từ đây biết ra sao?

Nếu chúng mình ước hẹn, ngày tao ngộ xa quá anh ơi!

Thời gian xin lắng đọng đợi chờ để đôi tim ướp mộng đem tình thương tô thắm đôi môi hồng.

Những người thụ huấn ở quân trường Quang Trung thường rất trẻ, chưa bao giờ biết mùi của tử khí nơi chiến địa, chỉ vừa mới rời mái trường không lâu, nên cuộc đời vẫn còn pha chút sắc hồng, làm sao chịu nỗi những cô đơn hiu quạnh nơi quân trường khắc nghiệt, nắng dãi mưa dầm.

Đây một phong thư xanh trao đến người để quên đi những đêm quân trường sầu cô đơn hiu quạnh, vùi đầu bên chén trà tìm đọc thư em. Khi đó, tình yêu dành cho người em gái nhỏ chỉ vừa xa cách đôi ngày sẽ trở thành niềm an ủi cho người lính. Nếu ngày mai phải dầm mình trên chiến địa hãi hùng, thì lời hứa đợi chờ của người yêu phương xa trở thành động lực để chinh nhân cố gắng, hy vọng và mơ một ngày về trong thái bình: Anh ơi! Dù non sông cách trở.

Xin anh đừng quên bao kỷ niệm ngày nao hai đứa mình cùng nhau chung mái trường tuổi học sinh đẹp như gấm hoa.Anh đi ngày mai trên chiến địa.

Nơi đây, tình yêu em vẫn đợi.

Cầu xin non nước mình được yên vui thái bình, tìm trao ước hẹn hò.Trung tâm huấn luyện Quang Trung được người Pháp thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1953, nằm tại vùng Quán Tre, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định, nên có tên ban đầu là Trung tâm Huấn luyện Quán Tre. Trên danh nghĩa là Quân trường của Quân đội Quốc gia nhưng vẫn do Quân đội Pháp điều hành huấn luyện và Chỉ huy trưởng. Đến năm 1954 mới chuyển cho Quân đội Quốc gia điều hành và huấn luyện.

Ngày 1 tháng 6 năm 1955, Trung tâm được đổi tên thành Trung tâm Huấn luyện số 1. Ngày 1 tháng 6 năm 1957, để kỷ niệm vị Anh Hùng Dân tộc vua Quang Trung, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra quyết định cải danh Trung tâm thành Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung. Sau đó con đường nối từ Ngã 5 Chuồng Chó đến trung tâm này cũng được đặt tên là Quang Trung. Cái tên này được giữ nguyên cho đến ngày nay.

Khoảng cuối thập niên 1960, cứ vào mỗi chủ nhật hàng tuần, nhạc sĩ Khánh Băng đều vào quân trường Quan Trung để thăm một người em họ đang thụ huấn tại đây. Ông đã chứng kiến những buổi tao ngộ đầy cảm xúc của các đôi tình nhân nơi đây nên đã ghi lại thành bài hát Vườn Tao Ngộ. 

Ca khúc Vườn Tao Ngộ được ca sĩ Giao Linh hát trước năm 1975, rất được công chúng yêu thích. Nhưng phiên bản hay nhất của bài này có lẽ là Tuấn Vũ và Sơn Tuyền với phần hòa âm của Asia




Người Mẹ vĩ đại -Bài Đọc Cảm Động Tận Đáy Tim

Bài Đọc Cảm Động Tận Đáy Tim – Khuyết Danh

Không ai muốn đến gần, nhưng tình yêu của cô bị bịnh aids đã khiến tôi bật khóc!

Thông tin bệnh nhân AIDS chuẩn bị nhập viện sinh con đã khiến cả khoa sản náo loạn. Các y tá đồng thanh nói: “Ai sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp bị lây nhiễm?” Ngay cả một số bác sĩ cũng phản đối: “Nếu bệnh nhân khác bị lây nhiễm qua dụng cụ phẫu thuật và giường chiếu thì phải làm thế nào?”.

Sau một hồi tranh luận, cuối cùng bệnh nhân cũng được sắp xếp vào chiếc giường số 13, phòng cách ly đặc biệt của khoa sản. Khi trưởng khoa phân công trực ban, không ai muốn nhận vào trong đó. Cuối cùng chỉ còn lại tôi – một y tá vừa tốt nghiệp ba tháng, nơm nớp lo sợ bước vào căn phòng. Vừa vào tới phòng, người mẹ sắp sinh mỉm cười với tôi. Tôi cứ nghĩ rằng những phụ nữ mắc loại bệnh này hẳn sẽ phấn son trang điểm lòe loẹt. Nhưng không phải vậy, cô cũng như những người phụ nữ bình thường khác, khuôn mặt hiền từ, mái tóc dài ngang vai, chân đi đôi giày búp bê…“Cảm ơn cô!” Một giọng nói trong veo và nhẹ nhàng, cô là một phụ nữ bình thường nhưng lại mắc căn bệnh không hề bình thường chút nào.

Thì ra người mẹ trẻ tại giường số 13 này là một cô giáo trung học phổ thông. Một hôm trên đường từ trường về nhà, cô bị tai nạn xe hơi. Vì mất quá nhiều máu nên cô phải truyền máu gấp và không may bị nhiễm HIV. Đến tận khi cô đi khám thai, bác sĩ mới phát hiện cô đã mắc phải căn bệnh thế kỷ. Cuộc đời cô đã bước sang một ngã rẽ mới, ảm đạm và mờ mịt với kết cục buồn phía trước. Đáng thương nhất là đứa bé trong bụng, nguy cơ bị lây nhiễm cũng rất cao, xác suất không dưới 20% đến 40%. Người mẹ không còn hệ thống miễn dịch, vì thế các biến chứng trong quá trình sinh là vô cùng nguy hiểm. 

Khi chồng cô đến đã khiến cho cả khoa một phen kinh ngạc. Chồng của một phụ nữ bị AIDS thì trông thế nào nhỉ? Khác xa với tưởng tượng của chúng tôi, chồng cô là một nhân viên văn phòng giỏi máy tính, đeo kính cận, cao ráo, lịch sự, và có phong thái rất đĩnh đạc. “Anh à, anh đoán xem con chúng ta sẽ giống em hay giống anh hơn?” Tôi đang trải ga giường, nghe thấy những câu nói nhỏ nhẹ nỉ non của đôi vợ chồng trẻ thì sống mũi cay cay, nước mắt bắt đầu rơm rớm. Thì ra họ là một gia đình hạnh phúc. “Tất nhiên là giống anh rồi, nếu là con gái thì mới giống em chứ!” Cô vợ nghe vậy còn phụng phịu làm nũng ra điều không chịu. Khi tôi bước ra khỏi phòng bệnh, nước mắt tôi chảy dài, trái tim tôi chua xót vô cùng.

Hàng ngày cô ấy phải uống nhiều loại thuốc khác nhau để kiểm soát lượng virus HIV, hầu như ngày nào cũng phải lấy máu và truyền dịch. Hai cánh tay đầy đặn, nõn nà nay đã chi chít những vết kim tiêm. Tôi là y tá mới ra trường, vốn sống còn ít ỏi lại khá “nhát gan”. Nhất là những lúc lấy máu, tôi vẫn thường làm cô ấy đau đến chảy nước mắt, nhưng cô chưa bao giờ nổi cáu với tôi, chỉ âm thầm cắn răng chịu đựng, thỉnh thoảng còn mỉm cười nói ‘không sao’.

Chỉ vài ngày sau khi cô nhập viện, tôi dần dần rất thích cô ấy.

Tuy còn vài ngày nữa mới đến ngày sinh, nhưng cả khoa đã chuẩn bị sẵn sàng. Cô năm nay đã 31 tuổi lại mang trong mình căn bệnh AIDS, nên bệnh viện cả trên lẫn dưới đều trong trạng thái đề phòng cao độ.

Nhưng bản thân cô lại rất bình tĩnh, hàng ngày đều đọc sách và nghe nhạc, còn viết thư tình hoặc vẽ tranh tặng con yêu.

Một hôm tôi đánh bạo hỏi, tại sao cô lại sinh đứa bé ra, rằng cô có biết nguy cơ lây nhiễm là rất cao? Cô vừa mỉm cười vừa trả lời tôi: “Con tôi đã đến với tôi, đó là duyên nợ, hơn nữa tôi không có quyền cướp đi sinh mệnh của bất kì ai.” Tôi do dự, nhưng vẫn quyết đinh hỏi: “Nếu cháu bị nhiễm HIV thì sao?” Cô ấy im lặng một lúc, sau đó tiếp tục nói: “Nếu không thử thì con tôi sẽ không có cơ hội sống nào.” Tâm trạng tôi vừa buồn vừa xót xa, không khí trong căn phòng trở nên ngột ngạt.

Khi tôi chuẩn bị ra ngoài, cô đã nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi, đôi mắt rưng rưng và nói:“Tôi muốn nhờ cô một việc, khi tôi sinh con dù có xảy ra chuyện gì, chồng tôi nhất định sẽ cứu lấy tôi. Nhưng tình trạng của tôi cô cũng biết rồi đó, vì thế nếu thực sự xảy ra chuyện xấu, xin hãy cứu lấy con tôi.” Tôi cảm động ôm cô và khóc, cô đúng là một người mẹ thực sự.

Dưới ánh đèn huỳnh quang nhạt màu, cô nằm yên lặng trên bàn mổ, thân dưới không ngừng chảy máu, nước ối vẩn đục đã ộc ra. Điều này có nghĩa là thai nhi đang lâm vào tình trạng nguy hiểm vì thiếu oxy. Thể chất của cô vô cùng đặc thù, không hề có phản ứng với thuốc tê, chỉ có thể chọn mổ sống để lấy thai nhi ra và chấp nhận hy sinh người mẹ. Hai là tiêm thuốc gây mê, nhưng đợi khi thuốc có tác dụng thì em bé trong bụng đã bị ngạt thở hoặc bị sốc vì liều gây mê quá cao, nhưng chỉ như vậy mới có hy vọng cứu được người mẹ. Cả hai trường hợp đều khiến bệnh viện và gia đình lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.

Cô nắm chặt tay tôi, đôi mắt nhìn tôi như van nài, giọng nói yếu ớt nhưng rất kiên quyết: “Cứu lấy con tôi, nhanh cứu lấy con tôi, không cần phải quan tâm đến tôi…!”Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cái nhìn tuyệt vọng đến vậy, trong một căn phòng cũng tuyệt vọng như thế. Một người phụ nữ không thể gây tê, cũng không thể gây mê khi mổ đẻ, bao nhiêu bác sĩ đứng đó đều bất lực.

Con dao phẫu thuật nhanh chóng được đưa xuống bụng dưới, lớp da, lớp mỡ, lớp cơ, niêm mạc rồi tử cung… Người mẹ co giật từng cơn, toàn thân giãy giụa, quằn quại, mắt trợn ngược, khuôn mặt biến dạng vì đau đớn, miệng cắn chặt chiếc khăn trắng và rên lên từng cơn xé lòng. Tôi không thể chịu nổi khi chứng kiến những giọt nước mắt của cô rơi xuống lã chã. Và tôi biết, đó không chỉ là đau đớn mà còn là tình yêu của người mẹ. Đến tận hôm nay tôi mới hiểu vì sao làm con phải hiếu thảo với cha mẹ. Bởi mỗi đứa con chào đời là biết bao nhiêu đau đớn, biết bao nhiêu nhọc nhằn, thậm chí là hy sinh cả tính mạng của mẹ. Cuối cùng, thai nhi đỏ hỏn cũng được đưa ra và khóc lên tiếng khóc yếu ớt đầu đời. Người mẹ vừa ngất lịm đi, đột nhiên nghe thấy tiếng khóc của con nên cô cố gắng hé mở đôi mắt liếc nhìn về phía con yêu, nhưng rồi mí mắt sưng húp nặng trịch lại vội vã cụp lại. Tôi vội vàng tháo đai cố định ở chân và tay cho cô, vì gồng mình vật lộn với cơn đau, cổ tay cổ chân cô đều rớm máu. Hai mắt tôi đẫm lệ, trái tim tôi cũng như thắt lại…

Thật khó để tin rằng đây là một người mẹ AIDS, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng nhìn thấy con trai của mình. Đôi mắt cô nhắm lại và sẽ không bao giờ còn mở ra được nữa. Cô bị nhiễm trùng nặng và không thể cầm  được máu nên đã mãi mãi ra đi. May mắn là em bé âm tính với virus HIV. Tôi tin rằng ở trên cao kia, cô cũng đang mỉm cười mãn nguyện.

Khi làm vệ sinh phòng bệnh, tôi đã tìm thấy một lá thư dưới gối của cô, bên trong còn vẽ một bức tranh ông mặt trời, bên dưới mặt trời là một đôi tay nhỏ. Cô viết cho con trai rằng: “Con yêu, cuộc sống giống như mặt trời, hôm nay lặn xuống ngày mai nhất định sẽ lại lên.” Tôi không thể ngăn những giọt nước mắt, cuộc sống thật quá mong manh và cũng thật mạnh mẽ. Người mẹ nào mà chẳng thương con? Vậy cớ sao chúng ta lại phải phân biệt đối xử? 

Cuối cùng tôi đã hiểu, cô cũng như những người mẹ bình thường khác, dũng cảm để giành lấy sự sống cho con.

Khi đứa bé được xuất viện, cháu nằm yên bình trong vòng tay cha. Ban đầu đứa trẻ khóc rất to, giống như biết mẹ nó sẽ không bao giờ còn quay về nữa. Nhưng nó chợt ngừng khóc khi tôi đặt bức thư lên ngực. Dường như trong lòng bé cũng đang mỉm cười khi nhận lấy cuộc sống vĩnh cửu này. Mai này lớn lên em sẽ biết rằng, mẹ của em là người mẹ vĩ đại nhất trên đời.

Khuyết Danh




CAO NHÂN

CAO NHÂN – Triết lý quá hay

 ĐÂY MỚI THỰC SỰ LÀ CAO NHÂN 

 Cao nhân chân chính, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại.

 Thế nào gọi là cao nhân?

 Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.

 Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.

 Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!”

 Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.

 Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa. Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván.

 Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy?

 Vị chủ nhân đáp: “Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!”

 Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.

 Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao?

 Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh.

 Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ.

 Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.

 Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.

 Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.

 Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.

 Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.

 Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.

 Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là cái gì vậy? Là bằng cấp? Là kinh nghiệm? Hay là sự từng trải?

 Đáp án: Tất cả đều không phải!

 Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:

 1. Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.

 2. Tự giác không cần nhắc nhở.

 3. Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.

 4. Suy nghĩ lương thiện vì người khác.

 (bài sưu tầm)




THƠ – Tuyết Giá – Khắp Trời Nở Hoa – CAO MỴ NHÂN




VÌ ĐẢNG ĐỘC TÀI 212

1/212- 

Băm lăm năm xa lìa đất nước,

Để tránh vòng nanh vuốt Cộng nô.

Sống trên đất nước tự do,

Dân quyền đệ nhất chẳng lo nỗi gì.

Lìa quê Mẹ chỉ vì giặc Cộng,

Lũ không tim, xuẩn động vong nô.

Huênh hoang tư tưởng “bác Hồ”,

Miệng Nam Mô, bụng chứa bồ dao găm.

Chúng ra sức gây mầm chia rẽ,

10/212- 

Lại giở trò bánh vẽ mị dân.

Quả là một lũ vô thần,

Hiện thân giống qủy, bạo Tần cũng thua….

Nhớ lại thủa đầu mùa lá uá,

Bày mưu gian gậy múa vườn hoang.

Hô hào  giải phóng quê hương,

Toàn dân sầm sập lên đường chiến chinh.

Khi hết giặc hoà bình chớm nở,

Quê hương mình chúng nỡ chia đôi.

Oán thù gieo rắc khắp nơi,

20/212- 

Kẻ đi, người ở dậy trời khóc than.

Dân Miền Bắc vô vàn khốn kh

Khắp xóm làng đấu tố gắt gao.

Thành phần Trí, Phú, Địa, Hào

Tù đầy, đâm chém xiết bao thảm sầu.

Giới tu sĩ thâm sâu thiện tánh,

Sống cuộc đời đạo hạnh từ bi….

Chân tu hỏi tội tình gì?

Cớ sao đầy ải chỉ vì giác tha ????

Cả dân tộc trẻ già ngơ ngác,

30/212- 

Sống đọa đầy uống nước cầm hơi.

Oan khiên chồng chất ngút trời,

Ruộng đồng đỏ máu, núi đồi trắng xương.

Chúng ngu xuẩn chủ trương hiếu chiến,

Quyết xua quân lấn chiếm Miền Nam.

Nga, Hoa, Anh, Mỹ hội đàm,

Cùng nhau bán đứng Việt Nam Cộng Hòa.

Ôi bằng hữu mù lòa bỏ cuộc,

Tiền bạc không, đạn dược cũng không.

Trung Xô viện trợ chất chồng,

40/212- 

Phi cơ, tăng, pháo, phòng không đổ vào.

Miền Nam chịu lao đao dai dẳng,

Quân Cộng Hoà ngậm đắng lui binh.

Đồng bào thống khổ điêu linh,

Tướng quân họ Nguyễn (1) dứt tình nhường ngôi.

Người kế nhiệm da mồi hốc hác (2)

Sức cỗi mòn tóc bạc, răng long.

Chính trường như mớ bòng bong,

Lại trao ngôi báu cho ông “Phệnh Đường” (3)

Quân chiến đấu kiên cường từng khắc,

50/212- 

Tướng “Phong Lan” (4) gục mặt đầu hàng.

Bao năm dày dạn chiến trường,

Mà nay bó giáo “quy hàng” thảm không ?

Bọn đồ tể Khu, Đồng, Thọ, Duẩn,

Lại bày mưu tối khẩn lừa dân

Dấu đầu lòi cả bốn chân,

Vẫn là bản chất vô thần ác ôn.

Từ thành thị nông thôn rừng núi,

Khắp trẻ già trốn lủi vượt biên.

Đạp lên gian khổ triền miên,

60/212- 

Lênh đênh trời biển tìm Miền Tự Do.

Mặc cướp biển, bão to, sóng lớn,

Mặc kình ngư dữ tợn bủa vây.

Đàn ông, cướp giết phanh thây,

Đàn bà, giặc hiếp chết ngay giữa trời.

Bao trẻ nhỏ đêm thời khát sữa,

Ngày chang chang nắng lửa cào da.

Trăm nghìn người đã thành ma,

Vùi thân đáy biển sót xa não nề.

Bọn Việt cộng hả hê chiến thắng,

70/212- 

Gây vô vàn cay đắng, nhiễu nhương.

Bày trò cải tạo Công, Thương,

Mưu ma, chước qủy thói thường giở ra.

Nào cống hiến cửa nhà, hãng xưởng,

Lại cúng dâng nghìn lượng vàng ròng.

Rằng ai con cháu Lạc Hồng,

Thương nòi thì phải dốc lòng hiến dâng.

Miệng ngọt xớt, tay nâng báng súng,

Ai không ưng mổ bụng,moi gan.

Cô hồn, các đẳng làm càn

80/212- 

Cắn răng dâng hiến, bởi làn cây cong.

Người tiếc của nát lòng, tan dạ,

Đành quyên sinh khỏi họa về sau.

Thương gia sống sót chặt đầu,

Tội rằng bóc lột làm giàu hại dân ??

Bắt già lão, thanh tân cải tạo

Chẳng kể gì vô đạo, phi nhân.

Địa, Hào, Trí, Phú quy phần,

Nếu không phản tỉnh là giần nát xương.

Quân, Cán Chính khôn lường uất hận,

90/212-

Bị tù đầy cam phận lao nô.

Núi rừng cò gáy, khỉ ho,

Sơn lam, chướng khí giày vò xác thân.

Đêm giá buốt không chăn mền ấm,

Ngày oi nồng, cuốc bẫm cầy sâu.

Bữa thường nước mắt chấm rau,

Thay xe chuyển gỗ, thế trâu kéo cầy.

Phải vượt suối chặt mây khốn khổ,

Lại trèo đèo đốn gỗ gian nguy.

Ngổn ngang cây chắn lối đi,

100/212- 

Đồi cao, dốc đứng khôn bề vác cây.

Ngày lam lũ thân gầy hốc hác,

Đêm “tụng” bài Các Mác, Lê Nin.

Ác ôn thay lũ mẹ mìn,

Bùa mê, thuốc lú bôi đen sử vàng.

Miệng xoen xoét nói ngang nói ngược,

Nhận riêng mình yêu nước thương dân.

Trại giam đầy ắp tù nhân,

Khổ sai lao động vô ngần sót xa.

Người yêu nước nếu là chống Cộng,

110/212- 

Gán tội rằng phản động ác ôn.

Tai nghe miệng đã buồn nôn,

Rõ ràng là bọn cáo chồn đần ngu.

Không án lệnh nhốt tù vô hạn,,

Chính quyền này quái đản bất lương.

Mười ba năm trải đoạn trường,

Tấm thân tù rạc trơ xương mới về.

Dân thành thị trăm bề khốn đốn,

Bữa thường ngày ăn độn ngô khoai.

Đêm khuya chúng đuổi ra ngoài,

120/212- 

Lệnh truyền quản lý gia tài “Ngụy quân”

Đồ tế nhuyễn, áo quần, giầy dép,

Hết thảy không được phép mang theo.

Nửa đời vun quén gieo neo,

Tan tành một phút như bèo trôi sông.

Đàn trẻ nhỏ đói lòng ủ rũ,

Không cửa nhà để ngủ qua đêm.

Bao năm cuộc sống ấm êm,

Ngờ đâu “giải phóng” càng thêm khốn cùng.

Lùa dân chúng lên vùng kinh tế

130/212- 

Khai phá rừng triệt để trồng khoai.

Lệnh rằng gương sáng nước ngoài,

Phất cờ sản xuất, gái trai một lòng.

Theo kế hoạch ruộng đồng trù mật,

Kết quả là mùa mất trắng tay.

Bo bo, khoai sắn hàng ngày,

Mồ hôi pha nước mắt đầy bữa ăn.

Khu kinh tế khó khăn chồng chất,

Dân quyết tâm bỏ đất về thành,

Từng đoàn lếch thếch chiếu manh,

140/212- 

Khổ đau cam phận, năm canh ngủ hè.

Ngày lam lũ đạp xe kiếm sống,

Đêm giãi dầu bên cống nằm co.

Não nùng khôn lấy thước đo,

Nhờ ơn “giải phóng”, nỗi lo chất chồng!

Cả sản nghiệp trong vòng một phút,

“Đảng” cướp không còn chút dính tay.

Ớ trời cao ! Ớ đất dày!

Cộng nô đã hiện ra bầy yêu tinh.

Miệng xoen xoét nghĩa tình dân tộc,

150/212- 

Bụng chứa đầy thuốc độc bùa mê.

Mặt trơ trán bóng làm hề,Cá trê chui ống, lời thề quỷ ma.

Chúng tuyên bố nước nhà thống nhất,

Dân ba Miền cờ phất mừng vui.

Bắc, Nam, Trung một giống nòi,

Thương nhau xẻ ngọt, chia bùi cho nhau.

Mới bữa trước nói câu nhân nghĩa,

Đã hôm sau tay chĩa gươm đao.

Công, Thương cải tạo ngọt ngào,

160/212- 

Đổi tiền, cướp bạc, khác nào hổ lang.

Gây thù hận giam hàng Giáo phẩm,

Tạo oan khiên gạt gẫm Thầy Tu.

Khắp nơi san sát trại tù,

Oán than mãn địa, hận thù xung thiên.

Lũ cán bộ võ biền ngu ngốc,

Được cử làm Giám đốc, Thanh tra….

Vàng ròng vơ vét tối đa,

Đất đai cướp đoạt, cửa nhà tịch thu.

Từ tay trắng không xu dính túi,

170/212- 

Nay đã thành tiền núi, bạc sông.

Quốc Gia mặc nỗi tồn vong,

Lòng tham chỉ ngửi hơi đồng là say.

Trung Ương Đảng một bầy qủy sứ,

Ác độc hơn thú dữ rừng hoang….

Gác ngoài Tổ Quốc quê hương,

Tam vô, chuyên chính chủ trương độc tài.

Người yêu nước nằm gai tranh đấu,

Chúng âm mưu thảo khấu giết ngay.

Độc quyền trên dưới múa may,

180/212- 

Buôn dân, bán nước ních đầy túi tham.                                    

Cả dân tộc lầm than tủi hận,

Băm lăm năm đành phận lao nô

Trung Ương Đảng lũ điên rồ,

Tài nguyên qúy hiếm từng lô bán dần.

Chúng như giống thiêu thân gặp lửa,

Tựa hươu non sừng ngứa húc càn.

Mặc cho đất nước nát tan,

Mặc dân tím mật, sôi gan hận thù….

Tiền làm chúng đui mù cặp mắt,

190/212- 

Lao đầu vào trận giặc đô la.                                

Chúng làm nghiêng ngửa sơn hà,

Quê hương xơ xác, quốc gia nghèo hèn,

Cứ giành giật, túi lèn vàng khối,

“Đảng quang vinh” phản bội quê hương.

Hiện tình xã hội tang thương,

Tệ đoan đầy dẫy phố phường, thôn quê.

Chúng vẫn cứ làm hề múa rối,

Miệng ba hoa sớm tối thương dân.

Dối lừa lấy giả làm chân,

200/212- 

Đã rơi mặt nạ vô thần khó coi..

Mưu lấy thúng úp voi qủy quyệt,

Ắt không lâu đào huyệt tự chôn,

Xưa nay bè lũ ác ôn,

Chẳng ai tránh khỏi huyết bồn Diêm Vương.

Nào người Việt bốn phương hải ngoại,

Xiết vòng tay dựng lại quê hương.

Phát huy truyền thống kiên cường,

Chung lưng già trẻ lên đường đấu tranh

Lấy đau khổ biến thành hành động,

210/212- 

Quyết giải trừ Đảng Cộng ác ôn.

Đập tan huyền thoại Cáo Chồn,

212/212

Để cho dân tộc trường tồn quang vinh

TRƯỜNG GIANG