THƠ TÌNH NGHĨA ANH EM – TRƯỜNG GIANG Giới Thiệu

TÌNH NGHĨA ANH EM

*

Bài thơ này do Cụ ĐẶNG VĂN KHÔI (Môn sinh của Tam Nguyên YÊN ĐỔ NGUYỄN KHUYẾN) cũng là Thân Phụ của Nhà Thơ TRƯỜNG GIANG sưu tập chép trong cuốn VẠN BẢO QUỐC ÂM CHÂN KINH truyền lại.

Vì thấy Bài Thơ có giá trị Giáo-dục tốt, Trường Giang xin phổ biến đến Quý Vị khắp nơi để có thêm tài liệu giáo dục cho các thế hệ trẻ tuổi trong tương lai.

Chân thành cảm tạ)

Trường Giang

*

THƠ ĐƯỜNG LUẬT

*

Sau trước cùng nhau khúc ruột già,

Chớ nên nấu thịt mượn nồi da.

Cành Kinh (a)  phải giữ cho xanh lá,

Thước vải (b) yêu nhau lựa đủ tà.

Những lúc ấm êm đành đã vậy,

Còn khi hoạn nạn nghĩ sao a ?

Anh em ăn ở nên hòa thuận,

Chớ để đau lòng đến mẹ cha…

*

THƠ LỤC BÁT

*

01/68- Anh em chính thực chân tay, (1)

Chân tay đau yếu thân nay hẳn là.

Cùng nhau một cửa sinh ra,

Cùng nhau con mẹ con cha khác gì.

Kể từ lúc bé tí ti,

Ăn, nô, chơi, ngủ, đứng, đi một đoàn.

Có khi thong thả thư nhàn,

Anh em sách vở chuyện bàn với nhau.

Có khi chơ quán chơi cầu,

10/68- Giắt tay anh trước, em sau nhạn hàng.(2)

Quý nhau như bạc, như vàng,

Tình thêm thân ái, nghĩa càng thủy chung (3)

Đến khi đông vợ, đủ chồng,

Trách ai sao nỡ đem lòng đảo điên.(4)

Trúc kia khóm đã không liền,

Riêng nơi trưởng dục (5) riêng miền băng nha. (6)

Đến khi cha mẹ về già,

Anh em chẳng những không hòa lại tranh.

Anh rằng ruộng đất của anh,

20/68- Em rằng thóc cót, bạc giành của em.

Em rằng giở chúc thư (7) xem,

Anh rằng mặt chú mà xem được à ?

Nào là hương hỏa (8) phần ta,

Nào ta lo vệc mẹ cha đã nhiều.

Em rằng bác chỉ nói hươu, (9)

Nào đem cái sổ chi tiêu xem nào.

Anh rằng chú nói hay sao,

Này đây ỷ, khám (10) tôi giao chú thờ.

Thóc tiền chú hỏi bây giờ,

30/68- Trưởng nam (11) chú tính còn nhờ nỗi chi.

Em rằng bác nói thế thì,

Mẹ cha dễ chẳng có gì cho tôi.

Thôi thì thôi, thế thì thôi,

Bác nay chớ có trách tôi tệ tình.

Nó thôi em nghĩ bực mình,

Về nhà xui vợ tỏi hành rang ca. (12)

Làm cho anh rất xấu xa,

Rồi đem mảnh giấy đến Nha (13) kêu trình

Than ôi đã đến tụng đình, (14)

40/68- Thế là đoạn nghĩa, tuyệt tình anh em. (15)

41/68- Còn đâu máu chảy ruột mềm,

Còn đâu hạnh phúc ấm êm thuở nào.

Dù cho nước lã đầy ao, (16)

Không bằng một giọt máu đào cùng nôi. (16)

Vì ai máu trắng như vôi,

Gà cùng một mẹ liên hồi đá nhau. (17)

Lời xưa một ngựa ốm đau, (18)

Cả tầu chê cỏ là câu răn đời. (18)

Ghi lòng tạc dạ con ơi !

50/68- Muốn khôn thì phải nhớ lời mẹ cha.

Dẫu không cùng ở chung nhà,

Thương nhau vạn dặm đường xa cũng gần.

Phải nên nhớ chữ tương thân, (19)

Thăm nom khi ốm, đỡ đần lúc đau.

Nghèo thì con cá, lá rau,

Giàu thì yến tiệc cùng nhau chung bàn.

Một nhà thơm nức huệ lan, (20)

Anh trên, em dưới muôn vàn yêu thương.

Lời quê chắp nhặt nên chương,

60/68- Để cùng suy gẫm làm gương sau này.

Ngang trời chớ để ong bay, (21)

Kẻo rồi chuốc lấy đắng cay vào mình.

Chữ rằng đức tự duy hinh.(22)

Nghìn sau để lại cho mình tiếng khen.

Lời xưa gần mực thì đen,

Gần đèn thì rạng, phải nên để lòng..

Cùng chung huyết thống Tổ Tông,

68/68- Rách lành đùm bọc, gia phong (23) lưu truyền.

6/86     TRƯỜNG GIANG SƯU TẬP

GHI CHÚ : (Chỉ dành riêng cho giới trẻ VIỆT NAM sinh trưởng ở nước ngoài, không biết rành tiếng Việt.

(a)CÀNH KINH: Là một mẩu truyện. Truyện nói về anh em họ Điền trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng kể rằng: “Cha mẹ để gia tài lại cho hai con. Khi anh em chia nhau đến vật cuối cùng là cây cổ thụ sau vườn thì cây này bị héo rủ. Người anh nghĩ rằng, anh em không đoàn kết với nhau, cũng chẳng khác gì cây cổ thụ bị khô héo trước khi anh em họ Điền chặt đổ để chia nhau. Vì vậy, quyết định không chia gia

tài và cùng ăn ở chung một nhà với nhau.”

(b) THƯỚC VẢI: Là một mẩu truyện Hai anh em mua được một số thước vải để may quần áo. Nếu chỉ may cho một mình anh thì số vải sẽ thừa nhưng số vải thừa này cũng không đủ để may cho em. Người anh quyết định may luôn quần áo cho cả hai anh em. Tuy quần áo bị ngắn nhưng cả hai anh em đều có, chứng tỏ anh em biết chia xẻ tình thương yêu, đùm bọc với nhau.

(1) CHÍNH THỰC CHÂN TAY: Hai chân và hai tay là một trong tứ chi của người ta. Nếu chân tay của anh hoặc em bị sứt mẻ, thương tật thì anh hoặc em cũng cảm thấy như chính mình bị đau đớn.

2) ANH TRƯỚC, EM SAU NHẠN HÀNG: Anh em quây quần bên nhau như đàn chim nhạn bay trên vòm trời, lúc nào cũng có một con đầu đàn hướng dẫn để khỏi lạc đàn. Cũng như anh em ruột thịt trong một gia đình, lúc nào cũng thương yêu, đùm bọc, lẫn nhau.

(3) THỦY là khởi đầu, CHUNG là kết thúc. Ý nói trước sau như một, không lúc nào thay đổi

4) TRÁCH AI SAO NỠ ĐEM LÒNG ĐẢO ĐIÊN: Anh em đang hòa thuận trở thành kình chống đánh lộn nhau. Thay đổi không cần gì đến lẽ phải

5) RIÊNG NƠI TRƯỞNG DỤC: Nơi sinh ra và lớn lên.

(6) RIÊNG MIỀN BĂNG NHA: Nơi được coi là chốn hợp quần của anh em, như răng với môi, đúng như câu tục ngữ của Việt Nam “MÔI HỞ RĂNG LẠNH”. Bỗng nhiên  kình chống nhau, mỗi người đi ở một nơi riêng biệt.

(7) CHÚC THƯ : Cuốn sách ghi chép lời cha mẹ viết trước khi chết để các con phải theo đúng lời trong sách đó mà thưc hiện ý định của người đã chết.

(8) HƯƠNG HỎA : Gia tài, của cải cha mẹ để lại cho con

(9) NÓI HƯƠU: Nói tào lao, nói bậy bạ không đúng sự thật.

(10) Ỷ KHÁM : Cái ngai nhỏ bằng gỗ để trên bàn thờ Tổ tiên.

(11) TRƯỞNG NAM: Con trai đầu lòng

(12) TỎI HÀNH RANG CA: Bêu riếu, làm nhục nhau.

(13) ĐEM MẢNH GIẤY ĐẾN NHA: Đem đơn kiện đến trụ sở nơi làm việc của người đứng đầu một địa phương (Huyện, Tỉnh)

14) TỤNG ĐÌNH: Xét xử việc kiện tụng của dân chúng tại Tòa Án

15) ĐOẠN NGHĨA TUYỆT TÌNH: Chấm dứt tình nghĩa giữa anh và em

16) NƯỚC LÃ ĐẦY AO: Do câu Tục ngữ : “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã”. Ý nói tình anh em bao giờ cũng thân thiết hơn người ngoài.

(17) BÔI MẶT ĐÁ NHAU: Do câu Tục ngữ : “Gà nhà bôi mặt đá nhau”. Ý nói anh em cùng cha mẹ mà gây gổ, đánh lộn nhau là trái đạo làm người.

(18+19) MỘT NGỰA ĐÁ NHAU: Do câu Tục ngữ : “Một con ngựa đau, cả tầu chê cỏ”. Trong một lán nuôi ngựa, nếu có một con bị đau ốm thì những con khác cũng cảm thấy đau buồn, không chịu ăn cỏ. Trong tình anh em cũng vậy, nếu một trong các anh em trong nhà bị đau ốm thì những người khác đều cảm thấy đau buồn. Cùng thương yêu nhau.

(20) THƠM NỨC HUỆ LAN: Hoa huệ và hoa lan là hai loại hoa có mùi thơm. Ý nói, anh em thương yêu, đùm bọc nhau gây tiếng tốt cho mọi người noi theo.

(21) CHỚ ĐỂ ONG BAY: Ong là sinh vật nhỏ nhưng bay rất nhanh. Lời nói của người ta, dù xấu hay tốt cũng theo làn gió bay đi rất nhanh như con ong vậy.Ý nói, lời cha mẹ dạy, phải ghi nhớ trong lòng. Không nghe lời cha mẹ cũng chẳng khác gì lời nói bay theo làn gió thoảng.

(22) ĐỨC TỰ DUY HINH: : Đức độ của người ta tự nó tỏa ra mùi thơm. Ý nói người làm việc tốt lành,phúc đức thì mọi người đều biết.

(23) GIA PHONG : Phong cách, lề lối dạy dỗ của mỗi gia đình./.

Trường Giang




THƠ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – Minh Thúy và Thơ Xướng Họa Cùng Phương Hoa & Thi Hữu

LỄ HÙNG VƯƠNG

(Thể Tam Điệp Thức)

*

Giỗ tổ Hùng Vương, giỗ tổ Hùng

Dưng trời nắng đẹp, đẹp trời dưng

Đền thờ thoả mãn, đền thờ thoả

Lễ hội mừng vui, lễ hội mừng

Nghẹn nhớ nguồn xưa, xưa nhớ nghẹn

Rưng buồn tích cũ, cũ buồn rưng

Tàu tham lấn biển , Tàu tham lấn

Tuổi trẻ ngừng sao, tuổi trẻ ngừng

              Minh Thuý(Thành Nội)

                 Tháng 4/20/2021

*

NHỚ ƠN QUỐC TỔ

(Tam điệp – họa bài Lễ Hùng Vương của Minh Thuý)

*

Quốc Tổ hùng anh, Quốc Tổ Hùng

Mồng Mười dưng lễ, Mồng Mười dưng

Tháng Ba giỗ lớn, tháng Ba giỗ

Tết Sửu mừng to, Tết Sửu mừng

Tâm cảm ái hoài, tâm cảm ái

Dạ sầu rưng tiếc, dạ sầu rưng

Thề noi giữ nước, thề noi giữ

Quyết chẳng ngừng đâu, quyết chẳng ngừng!

Phương Hoa – Ngày giỗ Quốc Tổ – Tháng Ba Âm Lịch, Tân Sửu 2021


GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

( hoạ bài thầy Đỗ chiêu Đức )

*

Lưu truyền xứ Bắc đất Thăng Long

Sử chép Hùng vương biểu tượng rồng

Đuổi giặc bao thời gìn núi, đất

Xua thù một thủa giữ non sông

Oai phong khí thế đồng chung dạ

Dũng cảm hiên ngang hợp góp lòng

Chữ S hình cong toàn nước Việt

Xin đừng để mất biển trời đông

           Minh Thuý (Thành Nội)

Tháng 4/18/2021


NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

        (Nhị khúc liên hoàn)

*

Xuân nồng tươi thắm rực màu hoa

Thời tiết dịu dàng đẹp Tháng Ba

Giỗ Tổ Hùng Vương ngày tụ hội

Mồng Mười Âm Lịch buổi giao thoa

Truyền nhân đất Việt năm châu hợp

Con cháu nhà Nam bốn biển hòa    

Vọng bái Đền Hùng hương một nén

Khẩn xin Quốc Tổ hộ quê nhà

*

Quê nhà xa cách mấy mươi năm

Buồn đọng đầy tim nghẹn khóc thầm

Biệt xứ hồn đau, đau chẳng dứt

Ly hương mắt lệ, lệ khôn cầm

Nhớ cha chất ngất, nào quay lại

Yêu mẹ trùng trùng, khó viếng thăm

Cầu nguyện anh linh dòng Việt Tộc

Vua Hùng Quốc Tổ giúp nhà Nam

Phương Hoa – Tháng Ba Âm Lịch – Tân Sửu 2021

*

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

      (Thể Liên Hoàn – Hoạ thơ Phương Hoa)

*

Âm Lịch Mồng Mười đúng tháng Ba

Mùa Xuân sáng rực nắng chan hoà

Ly hương tỏa ấm tình chung nguyện

Biệt xứ trưng nồng nghĩa hợp thoa

Tưởng nhớ Hùng Vương …vua nước Việt

Ghi ơn sử sách …tổ tiên nhà

Đồng lòng tổ chức tròn nghi lễ

Hải ngoại tay người dệt sắc hoa

*

Sắc hoa nhan khói giỗ hàng năm

Nghĩ cảnh xa quê dạ tủi thầm

Hận lũ Tàu gian không chận được

Thù quân Chệt ác chẳng ngăn cầm

Từng đêm nhớ Mẹ đành phone hỏi

Mỗi tối thương người chỉ điện thăm

Mười tám vua Hùng thiêng cứu độ

Yên bờ đuổi giặc đẹp trời Nam

             Minh Thuý( Thành Nội)

    Tháng Ba Ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương

    Con Hồng Cháu Lạc Rộn Rã Vui Mừng

             (Dĩ đề vi thủ)

THÁNG BA Âm Lịch đúng Mồng Mười

NGÀY GIỖ hoa đào nở thắm tươi

QUỐC TỔ Thánh ơn, ơn dựng nước

HÙNG VƯƠNG Thần đức, đức răn đời

CON HỒNG muôn thuở luôn ghi huấn

CHÁU LẠC nghìn năm mãi nhớ lời

RỘN RÃ trống cờ tung kiệu rước

VUI MỪNG lễ tiệc khắp nơi nơi…

Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu

*

    NHỚ

(Thủ Nhất Thanh – Hoạ thơ Phương Hoa)

*

NHỚ tháng ba âm lịch chẳn mười

NHỚ mùa hoa lá nở màu tươi

NHỚ công tiên đế gầy nên nghiệp

NHỚ đức rồng vua dựng vững đời

NHỚ mẫu chuẩn kiên cường góp sức

NHỚ khuôn đề quyết liệt chung lời

NHỚ dân nước Việt trông bờ cõi

NHỚ giỗ vua Hùng khắp mọi nơi

            Minh Thuý (Thành Nội)




TẠ TỘI – Hoàng Mai Nhất & Ngày Giỗ Hùng Vương – Lê Tuấn

Ngâm thơ TẠ TỘI trong ngày giỗ Quốc Tổ

TẠ  TỘI

Máu ta đổ cho quê hương ngày ấy
Tuổi trẻ mòn cho đất nước hôm qua
Giờ còn ta nơi xứ người xa lạ
Đường về nhà đã bít lối từ lâu

Tự giận mình kình ngư trên cạn
Sư tử buồn ngoảnh mặt nhớ rừng sâu
Xin tạ tội! Em* yêu ta bỏ lại…
Những đêm dài lặng lẽ cúi đầu!!!

*

Nhưng ta quyết không bao giờ bỏ cuộc
Tìm mọi đường để vực dậy Quê Hương
Không cộng sản bạo tàn trên cố quốc
Lá cờ vàng sẽ mãi mãi tung bay
Trên đất Việt ngàn năm ta yêu quý!!

*
Hôm nay đây trước điện thờ Quốc Tổ
Chúng con là trai Việt phải xa quê
Thắp hương lòng xin Tổ thứ tha cho
Tội không tròn trách nhiệm cứu muôn dân
Cứu đất nước thoát vòng tay cộng đảng
Để bạo tàn ngự trị trên quê hương…
Lòng hổ thẹn trước Tiền Nhân “dựng Nước”
Muôn ngàn lần nhận tội trước “Tổ Tông”
Nén hương này mong Quốc Tổ hiển linh
Độ trì cho nước Việt trường tồn
Thoát cộng sản, thoát vòng nô lệ

Hoàng Mai Nhất

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương

Người Việt khắp năm châu bốn biển
Nhớ đến ngày Giỗ Tổ, tháng ba
Nhớ ngày truyền thống ông cha
Bốn ngàn năm, tạo sơn hà khắc ghi.

Ngày nước Việt, hào hùng lập quốc
Vua Hùng Vương, các bậc anh tài
Mười tám đời, ngự trên ngai
Khói hương tưởng nhớ, đền đài ghi ơn.

Mẹ Âu Cơ. Con cháu Lạc Hồng
Đánh ngoại xâm, gìn giữ non sông
Ngày nay con cháu một lòng
Hướng về dân tộc, con Rồng cháu Tiên.

Núi sông đã thấm hồng máu đỏ
Máu Việt Nam ghi dấu cội nguồn
Đánh tan lũ giặc điên cuồng
Trống đồng thúc giục, tiếng chuông gọi hồn.

Lê Tuấn

Viết để tưởng nhớ ngày giỗ Tổ Hùng Vương – “song thất lục bát”




Chùm Thơ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

CHÙM THƠ NGÀY GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

*

1.NỖI LÒNG NGÀY GIỖ QUỐC TỔ

Tháng Ba Âm lịch, phận ly hương

Nhìn lại quê cha nhớ lạ thường

Bút nghẹn tim sầu ngày Quốc Tổ

Đôi dòng mừng kính lễ Hùng Vương

*

Từ buổi điêu tàn mãi đến nay

Lịch rơi đà bốn mấy năm dài

Lòng luôn đau đáu thương nhà cũ

Nhớ cảnh làng xưa nhớ quắt quay

*

Thuở ấy đình làng, trống Tháng Ba

Mồng Mười giỗ Tổ rộn gần xa

Áo quần nô nức theo chân mẹ

Guốc gỗ ôm nghiêng mũ điệu đà

*

Theo sau đám rước kiệu lên đàng

Nhịp trống thùng thùng tim rộn vang

Cờ ngũ sắc ngời trong gió sớm

Rước linh từ miếu nhập đình làng

*

Sắc Thần Vua tứ, tự nghìn xưa

Bô lão hương thân cung kính đưa

Thượng kiệu cúi đầu nghiêm cẩn cẩn

Rước về đình nội, đúng giờ trưa

*

Hương án khói ngời, trống giục ngân

Heo gà rau trái bày đầy sân

Các bà các chị lo xào nấu

Cờ xí xung quanh gió phật phẩn

*

Tiếng xướng đình trên vọng ngút vang

Sớ dâng Chức Sắc, Việc, nghiêm trang

Tiếng hô: “Giai quị,” rồi văn tế…

Ca ngợi Hùng Vương đức ngập tràn

*

Trống xổ lễ thành, tiếp lịnh ban

Hạ màn, thực phẩm dọn ba gian

Chiếu trên, chiếu dưới, ngồi la liệt…

Nong lớn, dành riêng bọn trẻ ngoan

*

Tiệc tàn, mâm cỗ dư ê hề

Chia miếng thịt làng, người hả hê

Câu nói, “Thịt làng, sàng thịt chợ”

Cười vui, tay xách nách mang về

*

Ngày ấy, nơi nơi hưởng thái bình

Vì đâu đất nước phải điêu linh?

Triệu người lưu lạc, xa lìa xứ

Giờ giỗ Hùng Vương, khóc một mình….

Phương Hoa – Tháng Ba Mồng Mười, Tân Sửu, 2021

***

2. NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

(Nhị khúc liên hoàn)

*

Xuân nồng tươi thắm rực màu hoa

Thời tiết dịu dàng đẹp Tháng Ba

Giỗ Tổ Hùng Vương ngày tụ hội

Mồng Mười Âm Lịch buổi giao thoa

Truyền nhân đất Việt năm châu hợp

Con cháu nhà Nam bốn biển hòa     

Vọng bái Đền Hùng hương một nén

Khẩn xin Quốc Tổ hộ quê nhà

*

Quê nhà xa cách mấy mươi năm

Buồn đọng đầy tim nghẹn khóc thầm

Biệt xứ hồn đau, đau chẳng dứt

Ly hương mắt lệ, lệ khôn cầm

Nhớ cha chất ngất, nào quay lại

Yêu mẹ trùng trùng, khó viếng thăm

Cầu nguyện anh linh dòng Việt Tộc

Vua Hùng Quốc Tổ giúp nhà Nam

Phương Hoa – Tháng Ba Âm Lịch – Tân Sửu 2021

***

3.Tháng Ba Ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương

      Con Hồng Cháu Lạc Rộn Rã Vui Mừng

     (Dĩ đề vi thủ)

*

THÁNG BA Âm Lịch đúng Mồng Mười

NGÀY GIỖ hoa đào nở thắm tươi

QUỐC TỔ Thánh ơn, ơn dựng nước

HÙNG VƯƠNG Thần đức, đức răn đời

CON HỒNG muôn thuở luôn ghi huấn

CHÁU LẠC nghìn năm mãi nhớ lời

RỘN RÃ trống cờ tung kiệu rước

VUI MỪNG lễ tiệc khắp nơi nơi…

Phương Hoa – Mồng Mười Tháng Ba – Tân Sửu

***

4.GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

      (Thủ vỹ ngâm – Thuận nghịch độc)

Thuận độc:

Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh

Đất trời xuân tỏa sáng lung linh

Công ghi Quốc Tổ dày tài sức

Đức trải Hùng Vương đậm nghĩa tình

Bông trái phụng đơm đồng kỉnh bái

Cỗ bàn dâng hiến hiệp cung nghinh

Mong cầu Việt Tộc bình an hưởng

Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh

*

 Nghịch Độc:

Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng

Hưởng an bình Tộc Việt cầu mong

Nghinh cung hiệp hiến dâng bàn cỗ

Bái kỉnh đồng đơm phụng trái bông

Tình nghĩa đậm vua Hùng trải đức

Sức tài dày Tổ Quốc ghi công

Linh lung sáng tỏa xuân trời đất

Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng

Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu – 2021

***

6.THÁNG BA XUÂN

     (Điệp tự)

Tháng Ba Âm Lịch, tháng Ba mừng

Giỗ Tổ Hùng Vương, giỗ Tổ Ân

Mười tám đời Vua, mười tám Đế

Bốn nghìn năm sử, bốn nghìn Xuân

Văn Lang nối gót, Văn Lang tiến

Việt Tộc theo đà, Việt Tộc nâng

Danh tiếng nhà Nam, danh tiếng rạng

Kính tiền Quốc Tổ, kính tiền nhân

 Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu

***

6.LỊCH SỬ NƯỚC VĂN LANG

(Phóng tác theo: “Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ”

Nguồn: https://vietnamesetypography.com/samples/lac-long-quan-au-co/)

*

Đất Lĩnh Nam có chàng Lộc Tục

Kinh Dương Vương thuần thục phép thần

Tài cao sức lạ giống Rồng

Lướt băng mặt nước chẳng cần thuyền ghe

*

Động Đình hồ Xuân hè dạo mát

Gặp Tiên nương đài các khôn lường

Nàng là công chúa Long Vương

Ngọc danh Long Nữ đẹp dường gấm hoa

*

Duyên tần tấn giao hoà giai ngẫu

Kết phụ thê đan dấu sắc cầm

Sinh trai Sùng Lãm anh hùng

Đức tài toàn vẹn vượt tầm phụ thân

*

Người nghĩa khí lòng nhân bát ngát

Nối nghiệp cha hiệu Lạc Long Quân

Cũng đạp nước, cũng phân thân

Tay nâng đá tảng nghìn cân như đùa

*

Đất Lĩnh Nam nhân mùa tiết đẹp

Lạc Long Quân thu hẹp đường dài

Ngao du sơn thủy hôm mai

Biển Đông Nam vượt gặp loài Ngư tinh

*

Chém ba khúc đầu, mình, đuôi, rã

“Cầu Đầu Sơn,” đầu hoá núi này

“Cầu Đầu Thuỷ,” mình ở đây

“Bạch Long Vỹ” đảo, đuôi nay vẫn còn

*

Đến Long Biên – Tản Viên, chồn cáo

Sống nghìn năm đại náo xóm làng

Gái lành hãm hại giết oan

Người dân bỏ đất lang thang chạy dài

*

Lạc Long Quân trổ tài oanh liệt

Chồn chín đuôi đánh diệt tinh hồ

Nước sông Cái lấp hang mồ

“Đầm Xác Cáo” chính Tây Hồ ngày nay

*

Đất Phong Châu dạn dày thân Chúa

Dạy người dân trồng lúa, thổi cơm

Nhà sàn cất ở sớm hôm

Học điều lễ nghĩa cha con, vợ chồng

*

Sau Đế Lai từ đông Bắc tới

Công Chúa yêu tên gọi Âu Cơ

Tuyệt trần nhan sắc ươm thơ

Lạc Long Quân gặp ngẩn ngơ lòng vàng

*

Âu Cơ cũng bàng hoàng lưu luyến

Bậc hùng anh uy tướng bất phàm

Tơ hồng phận đẹp duyên cam

Theo về cung điện kết làm phu thê

*

Nồng hương lửa trọn bề ân ái

Tình đơm bông kết trái rỡ ràng

Âu Cơ sinh bọc nhung vàng

Nở ra trăm trứng huy hoàng trăm con

*

Lớn như thổi, lại toàn nam tử

Giống Tiên Rồng lịch sử phát nguyên

Tổ tiên “Bách Việt” lưu truyền

Long Quân con cháu cội nguồn từ đây

*

Đất Phong Châu trao tay trưởng tử

Hiệu Hùng Vương nước chữ “Văn Lang”

Rồng, Tiên chia biệt đôi đàng

Năm mươi xuống biển, lên ngàn năm mươi

*

Quốc Tổ Hùng là người dựng nước

Mở lòng từ từng bước an dân

Lạc hầu, lạc tướng, võ, văn

Đặt ra luật lệ quân thần nghiêm trang

*

Người Bách Việt sống tràn hạnh phước

Mười tám đời nối bước: Hùng Vương

Văn Lang dân tộc quật cường

Học tiền nhân quyết chống phường ngoại xâm  

*

Việt Nam Bốn Nghìn Năm Văn Hiến

Trải qua nhiều chinh chiến bể dâu

Dẹp Phiên, đánh Pháp, đuổi Tàu

Hùng Vương hậu duệ dám đâu lơ là

*

Nguồn sử Việt nước nhà oanh liệt

Giống Rồng Tiên hào kiệt khắp nơi

Tháng Ba Âm lịch Mồng Mười

Hùng Vương Quốc Tổ người người nhớ ơn….

Phương Hoa – Mồng Mười tháng Ba – Ngày Giỗ Quốc Tổ – Tân Sửu 2021




THƠ LỤC BÁT XƯỚNG HỌA -Dương Huệ Anh & Phương Hoa

NGHE TIẾNG BỔNG TRẦM…

…Cảm ơn thi hữu Phương Hoa

 Vài lời giới thiệu khúc ca “Tình Hồng!”

Năm mươi năm giữ bên lòng,                                                                                                              

Mang mang nỗi nhớ,  trùng trùng nghiệp duyên !  

35 năm, chẳng được tin, 

Dù còn hay mất, chẳng quên lời thề…                                                                                                    

Vàng son, thời đã qua đi,                                                                                                                             

 “Thư trung”*- mộng ngọc , vai kề, giấc mơ!                                                                             

Có, Không…Không, Có? Còn Thơ …                                                                                                               

*Bẩy chín bài… vẫn đợi chờ…ai ngâm!?                                                                                                  

Thiên thu nghe tiếng bổng trầm                                                                                                  

Kiều Loan…ái nữ Hoàng Cầm…gần, xa !!                                                                                                                                                                                                     

*Cổ thi: “ Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”                                                                                  

*16/3/21    Dương Huệ Anh

***

TINH HOA LẠC VIỆT

(Kính họa bài Nghe Tiếng Bổng Trầm của thi tiền bối Dương Huệ Anh)

VĂN THƠ chất chứa tinh hoa

LẠC VIỆT gom đủ thi ca vườn hồng 

Hậu sinh, tiền bối, chung lòng

Bảo tồn Việt ngữ muôn trùng phước duyên

Người người giữ vững niềm tin

Dựng xây cố quốc chẳng quên nguyện thề 

Ly hương vẫn hẹn ngày về

Để châu hiệp phố cận kề ước mơ

Trùng trùng điệp điệp tâm thơ

Khơi lòng yêu nước đang chờ được ngâm

Dù cho thế sự thăng trầm

Phút giây hoà hợp sắc cầm không xa

Phương Hoa – APR 4th 2021




Trưng Nữ Vương.

Hai Bà Trưng: sanh vào năm 14 Sau Công Nguyên, con của Lạc Tướng vùng châu Phong, dòng dõi Hùng Vương, họ Lạc. Cha mất sớm, Mẹ là Man Thiện nuôi dạy theo cung cách con nhà võ, với tinh thần  thượng võ.
Về tên Trưng Trắc và Trưng Nhị, vì chị em Bà song sanh nên được đặt là ” trứng trắc ” và ” trứng nhì ” theo ngôn ngữ dân gian nuôi tằm thuở ấy.
Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách, con Lạc tướng châu Diên. Hai người rất tâm đầu ý hợp về việc chống ngoại xâm, giặc Hán. Ông Thi Sách bị tên Tô Định, viên Thái Thú Hán quan lừa giết.
Nước mất, nhà tan, Bà cùng em Trưng Nhị nổi trống khởi nghĩa tại Mê Linh – Tiếng Trống Mê Linh –  vào muà Xuân năm 40, nhiều nơi hưởng ứng. Hai Bà đaị thắng. Tên Tô Định vắt giò lên cỗ, ôm nỗi nhục chạy về Tàu….
Bà Trưng Trắc lên ngôi tức vị Trưng Nữ Vương…, lấy Mê Linh làm Kinh Đô năm 40 SCN
Bà Trưng khởi nghiệp từ năm ( 40 – 43 SCN ). Hai Bà song sanh vào năm 14 SCN, khởi nghĩa vào khoảng 27 tuổi Việt. Tuẫn tiết, trầm mình tại Hát Giang lúc 30 tuổi ….!!!
Hát Giang: khúc sông Đáy, giữa huyện Phú Thọ  –  Đan Phượng
Mê Linh xưa: khu vực rộng gồm Vĩ̉nh Phúc, Hà Tây, Yên Bái…

1- Trưng Nữ Vương ( 14 – 43 scn )
Tiếng trống trầm hùng buổi xuất chinh…
Trưng Vương dõng dạc giữa muôn binh
Trước nguyền giết giặc tròn ân nước
Sau quyết diệt thù vẹn chữ tình
Tô Định khiếp kinh ôm nhục nhã
Bà Trưng rạng rỡ ướp quang vinh
Ba năm tức vị Vương Trưng nữ
Ngùi… sóng Cẩm Khê thệ hủy mình…!!
                    Nguyễn Minh Thanh cẩn tác
Tưởng Niệm Hai Bà
Trưng nữ anh hùng lập chiến công
Phương danh lồng lộng ánh dương hồng
Mê Linh trống nổi ban quân lệnh
Giao Chỉ binh reo hiệp chữ đồng
Giặc Hán bôn đào qui xứ sở
Quân Nam oanh liệt cứu non sông
Thất cơ Em, Chị… xuôi dòng Hát
Chênh chếch trăng soi… mãi chạnh lòng…!!
               Nguyễn Minh Thanh cẩn tác