Người Việt Cao Quý

“Sướng gì hơn sướng làm lành,

    Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu”

Cuộc đời từ chiếc nôi đến ngôi mộ quá lắm cũng chỉ ba vạn sáu ngàn ngày, nhưng thường phải trải qua không biết bao nhiêu là biến cố. Ba mươi năm đầu là thời gian học hỏi để nên người. “Tam thập lập thân”, cũng là 30 năm sinh tử của cuộc đời, thành bại sau này đều bắt đầu từ những năm trưởng thành của cuộc sống. Những năm đầu, con người hấp thụ kinh nghiệm của nhân sinh hệ lụy. Tùy hoàn cảnh giáo dục gia đình và học đường mà mỗi người mang một bản sắc khác nhau, người thì nhân từ độ lượng, trọng nghĩa khinh tài, đáng là bậc trượng phu; kẻ thì lòng dạ hẹp hòi, tham tiền bỏ nghĩa, phản trắc, bội tín và phi nghĩa.

Giáo dục đã ảnh hưởng đến sự hình thành tâm tính và quan niệm của con người về cuộc sống. Con người tính bổn thiện nhưng thế thượng thường tình có thể bị tà ma, lợi lộc làm mờ ám lương tri. Do đó cổ nhân đã để lại những nguyên tắc luân lý lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm điều chỉnh thái độ và giúp con người cải tà, quy chánh.

Các nguyên tắc luân lý đó thường được bàn bạc qua văn chương và triết học. Triết lý văn nghệ của các truyện nôm như Phan Trần, Nhị Độ Mai … nêu cao khí phách của con người lý tưởng, đạo đức:

                                      “Trời nào phụ kẻ trung trinh,

Dẫu vương nạn ấy, ắt dành phúc kia.

Danh thơm muôn kiếp còn ghi,

Để gương trong sạch, tạc bia với đời.

Gian tà đắc chí mấy hơi,

Mắt thần khôn dấu lưới tròi khôn dung.

Uy quyền một phút như không,

Xem bằng lứa đá, ví cùng đám mây.” (Nhị Độ Mai)

.

Đức tính truyền thống của con người cao qúy theo truyền thống của dân tộc Việt là con người có Trung, có Hiếu, có Tiết, có Nghĩa đúng theo ngũ thường Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín

“Ai ơi lẳng lặng mà nghe,

Dữ răn việc trước, lánh dè thân sau.

Trai thời Trung, Hiếu làm đầu,

Gái thời Tiết, Hạnh là câu sửa mình.”

Nhưng giữ được cương thường đạo nghiã ở đời không phải là chuyện dễ vì lợi lộc, vinh hoa phú quý có thể mua chuộc lòng người.  Ngày trước nói đến chữ Trung có nghiã “trung thần bất sự nhị quân”, làm tôi ngay không thờ hai Chúa, “trung trinh ái quốc một lòng vì dân vì nước”! Ngày nay là trung thành với lý tưởng tự chống loài quỷ đỏ, độc tài CS, dù rằng kẻ trung nghiã đôi khi gặp rủi ro, bị gian thần hãm hại hoặc không được trọng dụng hay bị phụ bạc.

“Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh

Thấy việc Âu Châu phải giật mình,

Kêu gọi đồng bào mau thức tỉnh

Hết lòng năn nỉ chẳng ai tin!” (Nguyễn Trường Tộ)

Người trung nghĩa và kẻ phản tặc thường được vạch trần mỗi khi quốc gia lâm nạn. Sau khi quân Pháp đánh lấy Nam Kỳ năm 1862, Tôn Thọ Tường phản quốc ra hàng làm sai cho Pháp. Sĩ phu thời bấy giờ cương quyết chống đối hành vi bất trung của Tôn Thọ Tường.  Tôn Thọ Tường làm 10 bài thơ liên hoàn nhan đề là “Tự Thuật”.  Đứng đầu môn phái chủ trương “trung thần bất sự nhị quân” là Phan Văn Trị.  Phan Văn Trị đã hoạ lại 10 bài thơ của Tôn Thọ  Tường.

Sự xướng hoạ đã tạo nên cuộc bút chiến về “Chính và Tà” vào hạ bán thế kỷ 19. Đặc sắc là bài “Tôn Phu Nhân Quy Thục”

“Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,

Ngàn thu rạng kiếp gái Giang Đông,

Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,

Về Hán trau tria mảnh má hồng.

Son phấn đành cam dày gió bụi,

Đá vàng chi đễ thẹn non sông.

Ai về nhắn vói Chu Công Cảnh:

Thà mất lòng anh được bụng chồng!” (Tôn Thọ Tường)

Tôn Thọ Tường tự thú theo Pháp vì mình như người con gái bán gả cho người ta nên dù mất lòng với vua y cũng theo Pháp:

“Thà mất lòng anh được bụng chồng!”

Phan văn Trị hoạ lại, cho Tôn Thọ Tường không phải là người trung nghĩa vì trai ngay phải thờ chúa, gái mới thờ chồng:

“Cài trâm sửa áo vẹn chữ tòng,

Mặt ngã tròi chiều biệt cõi đông

Ngút tỏa đôi Ngô in sắc trắng,

Duyên về đất Thục đượm mầu hồng.

Hai vai tơ tóc trên trời đất,

Một gánh cương thường nặng núi sông.

Ánh hỡi Tôn Quyền anh có biết:

Trai ngay thờ chuá, gái thờ chồng!”

Phải chăng vì vinh hoa phú quý, chức cao quyền trọng mà Tôn Thọ Tường phải hoá kiếp thành một nhi nữ thường tình.!

Người Việt cao quý

phải là người hiếu thảo với cha mẹ

Hiếu tức là hành vi của người con tốt (hảo tử). Khi cha mẹ còn sống thì hết lòng vâng lời, phụng dưỡng cha mẹ; khi cha mẹ mất thì hết lòng thương nhớ. Đó là hiếu đạo của con cái đối với cha mẹ. Kẻ bất hiếu là kẻ thờ ơ chểnh mảng với cha mẹ khi còn sống, lúc cha mẹ chết thì làm văn tế ruồi! Tục thờ kính Ông Bà Tổ Tiên thể hiện lòng hiếu thảo đối với thân sinh phụ mẫu. Đức Khổng Tử bảo rằng hiếu là “người con thờ đấng thân: Khi đấng thân còn sống thì phụng dưỡng cho phải lễ. Khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ, khi cúng bái đấng thân thì tế cho phải lễ”. Điều quan trọng là khi thờ cha mẹ, nét mặt hoà vui, cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ không kể tháng kể ngày!  Nếu nghĩ là có tiền cho cha mẹ vào nhà dưỡng lão và lơ là việc thăm viếng, phụng dưỡng cha mẹ thì chưa phải là có hiếu vì có tiền bạc nuôi ăn không có tình với cha mẹ thì chẳng khác nào nuôi gia súc!

Hán Văn Du ăn ở với mẹ rất là có hiếu, mỗi khi có lỗi mẹ thường đánh đòn. Một hôm Văn Du phải đòn, khóc mãi, mẹ thấy vậy hỏi: Mọi khi mẹ đánh con biết lỗi, con câm ngay, lần này sao con lại khóc dai thế? Bá Du thưa: Mọi khi mẹ đánh, con thấy đau, con biết mẹ còn khoẻ mạnh. Lần này mẹ đánh con, con không đau mấy, con biết mẹ đã yếu, cho nên thương mẹ già yếu mà con khóc. Tình con thương mẹ như thế thật thấm thiết !

NHÂN- NGHĨA-L Ễ- TRÍ- TÍN

Người Việt Cao Quý là người trọng có NHÂN

Người nhân nghĩa khác kẻ tiểu nhân vì lúc nào cũng để tâm việc nhân vì cái tâm không tàn ác, không cường bạo phi lý. Nhân là thương yêu đồng loại, thương người như thể thương thân như lởi của Vua Trần Nhân Tông đối với thần dân. “Trẫm thương dân như thương con trẫm”. Lễ là xử thế hợp lý, lòng kính trọng con người, thánh hiền cư xử với người một cách kính trọng: không có giờ phút nào bỏ được lòng nhân hậu. “Thiên hạ nhất gia, toàn quốc nhất nhân”. Cả thiên hạ như một nhà, cả nước như người.

Người Việt cao quý là người trọng NGHĨA

Trong cuộc đời, con người phải có nghĩa khí với nhau thường được hiểu qua câu ơn nghiã người đồng liêu, với người trên kẻ dưới. C âu huynh đệ chi binh nói lên cái nghĩa khí một dạ, một lòng, quan quân như một. Làm việc nghĩa tức là làm phải, việc hữu ích chung, công bình ơn đức, con người sống vị nghiã dễ sinh tình mến phục. Nếu chỉ biết nhau trong lúc vô sự đến lúc nguy nan, bỏ bạn mà chạy, sống chết mặc bay thì là phi nghiã, bạc ác, bất nhân.

Cổ nhân nói rằng “Lễ nghiã liêm sỉ là bốn giường mối căn bản giữ vững quốc gia. Bốn giưòng vó ấy mà không căng lên được nghiã là vô lễ, vô nghiã, vô liêm, vô sỉ, thì quốc gia phải sụp đổ và diệt vong”. Khuất Nguyên cũng ca ngợi nghiã khí: “Một bên là quần chúng, một bên là bản thân, hai bên đều trọng cả. Nhưng nếu gặp trường hợp cần thì phải hy sinh bản thân đ cứu giúp quần chúng”. Vị nghĩa quên mình, vị quốc vong thân. Con người sống trong một ngày, nghe được một điều phải, làm một việc nghiã thì không phải là sống thừa.” Celui qui a planté  un arbre avant de mourir n’a pas vécu inutilement”.

Người Việt cao quý Là người có LỄ

Lễ là xử thế hợp lý với lòng kính trọng con người. Thánh hiền cư xử với người một cách kính trọng: không có giờ phút nào bỏ được lòng nhân hậu. Cả thiên hạ như một nhà, cả nước như người. Thánh Phao lồ cũng khuyên nhân loại “ Hãy kính tha nhân như thượng cấp của mình thì mọi sự sẽ được yên vui”.

Người Việt Cao quý là người trọng TRÍ

Người trí là người tự biết mình như triết gia Socrate nói: “Ngươi hãy tự biết ngươi” (Connais-toi toi-même). Con người phải biết mình, phải tự hiểu mình rồi mới có thể hiểu người, tri kỷ tức là biết mình vậy. Có biết mình mới tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Có biết mình mới trọng tư cách của mình tức là tự trọng. Kẻ không tự trọng không phải là kẻ trí vì không hiểu và không trọng mình thì làm sao kẻ khác trọng mình được. Cho nên người Việt cao quý không những phải có nhân, có nghiã, có lễ mà còn phải có trí để biết mình và biết người, hanh động sáng suất. Đánh lưỡi baỷ lần trước khi nói “Il faut tourner la langue sept fois avant de parler”.

Người Việt cao quý là người trọng TÍN

Kẻ bất tín là kẻ gian tà. Ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản! Đã là gian tà thì không thể là kẻ yêu nước, thương nòi được. Trong sự giao tiếp hằng ngày giữa người và người chữ Tín đóng vai trò hết sức quan trọng. Hành động bội tín, làm mất lòng tin tưởng, thì sống cũng chỉ là sống thừa. Chữ tín được liệt rõ trong ngũ thường: Nhân, Nghiã, Lễ, Trí, Tín. Trong sự giao thiệp, sinh hoạt cộng đồng, đoàn thể, chính quyền, phải luôn luôn lấy chữ Tín làm chuẩn. Đức Khổng Tử bảo rằng “Nhân vô tín bất lập” nghiã là phàm làm người mà bất tín thì không còn ai tin cậy và vì vậy không thể đứng vững ở đời được. “Tín vi nhân chi bảo” nghiã là chữ Tín là bảo vật của nhân thế.

Người Việt cao quý là người trọng LIÊM S

Liêm sỉ là căn bản đạo đức của văn võ bá quan.  Vua, quan mà vô liêm sỉ thì thượng bất chính hạ tắc loạn. Kết cuộc thì quốc gia phải sụp đổ, dân tộc phải diệt vong. Nhưng thế nào là vô liêm, vô sỉ? Liêm là liêm khiết (integrity), là nền tảng của đạo làm người, là tính thanh liêm, phân minh, ngay thẳng, không lấy của bất nghiã. Người mà không có liêm thì cái gì cũng lấy hay làm việc bất nghiã, vơ vét cho đầy túi tham “Có ba trăm lạng việc này mới xong” (Kiều).

Sỉ là hổ thẹn (shame), tự mình lấy làm hổ thẹn. Người vô liêm sỉ thì việc gì cũng làm, là kẻ không biết hổ thẹn (shameless) không tôn trọng luân thường đạo lý.

Thầy Mạnh Tử nói rằng “nhân bất khả vô sì” nghiã là người mà không biết xấu hổ thì không phải là người. Có liêm sỉ là nền tảng của đạo làm người, Có liêm sỉ thì có hiếu, để, trung, tín, lễ, nghĩa. Vô liêm sỉ thì còn gì là luân thường đạo lý.

Người Việt cao quý là người CƯƠNG TRỰC

“Phú quỷ bất năng dâm, bần tiện bất năng di và uy vũ bất năng khuất”. Người cương trực là người trọng lẽ phải, vì lẽ phải có sức mạnh hơn mũi gươm. Người có lòng cương trực, ý chí như sắt đá, trí tuệ sáng như sao bắc đẩu, dù nguy cấp thế nào cũng không thay lòng đổi dạ. Người cương trực là người giữ được tiết tháo, bảo vệ công lý để đối phó vói bạo tặc, cường quyền.  Biết bao chiến hữu dân, quân, cán, chính của VNCH đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, hoặc can trường bất khuất trong cảnh tù tội sau ngaỳ CS xâm lăng VNCH.  Gương anh dũng đáng kính phục nầy đã được sử sách lưu truyền, thể hiện niềm tự haò, danh dự của dân, quân, cán, chính VNCH.  Thái độ cương trực này là tấm gương sáng cho hậu thế soi chung.

Ngoài ra, tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh còn là đặc trưng của nhi nữ Việt Nam. Công tức là làm việc giỏi:

“Gái thì lo việc trong nhà,

Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa”.,

Dung tức là sắc diện vui hoà, phục sức thanh lịch.                                    “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

                                                                                                                        Mây thua nước tóc tuyến nhường màu da”

Ngôn là tiếng nói phải dịu dàng:

“Chim khôn hót tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.”

Hạnh là hạnh kiểm tốt, kể cả vấn đề thờ cha kính mẹ. “Cái nết đánh chết cái đẹp”. Cái đẹp thì có hạn nhưng cái nết thì vô cùng, vẫn là câu tục ngữ truyền tụng trong dân gian để ca ngợi đức tính đạo hạnh của người con gái. Thể hiện giá trị luân lý vượt thời gian và không gian.

Sở dĩ có câu:

“Đàn ông chớ đọc Phan Trần,

Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thúy Kiều”.

Là vì trong nền luân lý cổ truyền, hình ảnh Phan Sinh trong tác phẫm Phan Trần, đã bị uỷ mị hoá. Phan Sinh thất tình vì ngưòi yêu mà đâm ra nản chí, khóc lóc thảm thiết. Tác giả đã mô tả Phan Sinh khi nghe đến người yêu thì đã “hai hàng lã chã nhường mưa”, không phải là hình ảnh hào hùng, phí phách của người trai nước Việt cao quý.

Thuý Kiều, trong tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh”của Nguyễn Du, bán mình chuộc cha.  Thúy Kiều đã “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần, trong vòng giáo dựng gươm trần, kề lưng hùm sói, giữ thân tôi đòi” là hình ảnh luân lý suy đồi.  Khi còn nhỏ không ở với cha mẹ, khi lấy chồng không ở với chồng,vi phạm luân lý tam tòng: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Kiều đã “Giết chồng rồi lại lấy chồng, mặt nào còn đứng ở trong đời này”. Theo quan niệm cũ, người con gái không thể để cho “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”. Tuy nhiên, ngay nay vì quốc biến, gia đình tan nát, cũng có những trường hợp bất đắc dĩ xảy ra nên cũng được thông cảm qua chủ trương “chấp kinh nhưng cũng biết tòng quyền”.

Vậy thì nền luân lý cổ truyền thật là phong phú. Ngày nay, trên bước đường gió bụi của cuộc đời viễn xứ, dù áo rách nhưng phải giữ lấy lề. Người Việt cao quý vẫn là người hiếu đạo, trung nghiã, là người có nhân, có nghiã, có lễ, có trí, có tín, là người liêm sỉ, cương trực:

“Trai thì trung hiếu làm đầu,

Gái thì tiết hạnh là câu sửa mình.”

Truyện người tiết phụ đã là gương sáng truyền tụng trong Ngũ Đại sử: Vương Ngung đi làm quan chẳng may chết sớm. Vợ là Lý Thị trên đường đi nhận hài cốt của chồng, lỡ đường dẫn con vào một quán trọ bên đường xin trọ. Người chủ quán thấy đàn bà con nít có ý nghi ngờ không cho trọ. Người chủ quán nắm lấy tay Lý Thị dắt đuổi ra. Lý Thị ngửa mặt lên trời nức nở than rằng: “Ta làm đàn bà chẳng hay thủ tiết thờ chồng đến nỗi người ngoài cầm được cái tay này. Ta chẳng nỡ để vì một cánh tay mà bẩn lây cả thân ta”. Nói xong lập tức lấy dao thái thịt chặt phăng đứt ngay cánh tay! Xem thế thì tình nghiã vợ chồng cao quý biết dường nào!

Hiện nay các đức tính này cũng được nhắc nhở trong các bô luật luân lý nghề nghiệp (Professional Code of Ethics) dựa trên những ý niệm căn bản về cần, kiệm, liêm chính, nhân, nghiã, lễ, trí, tín. Những kẻ phi nhân, thất đức dù ở trong xã hội nào, vào thời nào chăng nữa thì cũng chỉ là kẻ xấu xa phá hoại nhân quần xã hội mà thôi.

Hoằng dương luân lý cổ truyền dân tộc tức là chuyển tải chủ trương đạo lý đến vói tha nhân về hình ảnh mẫu mực của “người Việt cao quý”. Cương thường đạo lý hướng dẫn hành vi của con người. Lúc thất thế, Nguyễn Công Trứ không trở thành đạo tặc cũng chỉ vì sợ nhục nhã gia phong:

“Mất việc toan trở nghề cơ tắc (1)

Tủi con nhà mà hổ mặt anh em.

Túng đường mong quyết chi cùng tư 

E phép nước chưa nên gan sừng sỏ,

Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ

Dường ngâm câu “lạc đạo vong bàn

Gặp anh em khi bàn bạc sự đời,

Lại đọc chữ vi nhân bất phú.

Tất do thiên âu phận ấy là thường

Hữu kỳ đức ắt trời kia chẳng phụ…”

Vậng, sống đức hạnh thì trời không phụ lòng người. “Grace respects nature”. Người Việt mình ăn ở đức hạnh, hãnh diện với dòng giống Lạc Hồng. Chính lòng tự hào về nguồn gốc dân tộc mà chúng ta duy trì cuộc sống thanh đạm ở xứ người, dù thất cơ lỡ vận nhưng không trổ nghề cơ tắc vì sợ “Tủi con nhà mà hổ mặt với anh em”.

Tư tưỏng lên khuôn cho hành động. Dân tộc Việt chúng ta là một dân tộc tự trọng và hào hùng, niềm kiêu hãnh đó dù trải qua phong ba bão táp, vẫn lưu mãi trong tâm khảm mọi người, điều hướng hành động của chúng ta: hành động tốt của người Việt cao quý. Nhờ đó công đồngg được vui hoà, đoàn thể sinh hoạt được hanh thông.

Nền văn hoá cổ truyền của người da đen, da đỏ đã bị băng hoại vì người da trắng tiên phong đã lầm lẫn huỷ hoại văn hoá của hai nhóm thiểu số này khiến cho họ mất cả gia bảo, không còn gì để bám víu, để hãnh diện. Một số người bị lôi cuốn vào cuộc đời đầu đường xó chợ, “như thuyền không lái, như ngựa không cương”, sổng cũng không thể sống nên hồn, muốn chết không xong! Tai hoạ này kết quả không sao lường được, là một vấn xã hội trầm kha trong xã hội ngày nay của Hoa Kỳ ảnh hưởng đến mọi hoạt động giáo dục, an sinh xã hội, kinh tế, chính trị, tội phạm…

Tai họa nầy cũng đang hoành hành xã hội Viêt Nam, nền văn hoá hơn bốn ngàn năm văn hiến đang bị băng hoại vì chủ nghĩa Cộng Sản vô thần. Khôi phục, bảo tồn, phổ biến về quê hương những đặc nét luân lý của nền văn hóa cỗ truyền cũng là môt sứ mệnh trong công tác phục hung quốc tổ thân yêu của chúng ta.

Chúng ta đến Hoa kỳ vì tinh thần yêu chuộng tự do. Bảo toàn những đặc nét của gia bảo luân lý cổ truyền là nhiệm vụ thiêng liêng chung của chúng ta.  Được như vậy, tập thể tỵ nạn Viêt Nam sẽ là tập thể gương mẫu, để xây dựng môt hậu phương vững mạnh, sẵn sàng hổ trợ đại nghiêp cứu quốc và kiến quốc.  

“Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng

Nhuỵ vàng, bồng trắng, lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Trần Xuân Thời

The Noble Vietnamese

Nothing brings more happiness than doing good deeds

All the rewards will be with you forever

Our life from cradle to death will not be longer than thirty-six thousand days (100 years), but it may encounter so many situations. The first thirty years is for us to learn how to be a decent person. “The thirty years that should help establish one’s career” are of crucial importance, for your achievements or failures are borne from the years you transformed into an adult. During the first years, man absorbs experiences of mankind. Based on the education one receives from family and school, one develops one’s own character and personality. Someone might become kind and generous, a noble gentleman, while another might be mean, greedy, treasonous, unfaithful, and immoral.

Education has an impact on the formation of personalities and outlooks on life. Man is good by nature; however, materialstic wealth can drive him toward blind greed and turn away his conscience. Ancient elders have left mankind moral principles from generation to generation to to guide man on the correct path, so that he can turn away from wrongful temptations and follow correct guidance.

Those principles of life have been discussed in literuature and philosophical works. Artistic morals from Vietnamese works such as Phan Trần, Nhị Độ Mai, glorified the noble features of a person who follows correct ideals and morals.

God will not fail the pure of heart

In distress you might find some time; but elsewhere you will reap rewards

Good reputation will last forever

Shining examples will be honored for generations and carved in stone for future generations to revere

The evil might feel a short moment of pride

But he cannot escape God’s eyes nor run away from His net

Earthly power lasts but a fleeting moment

Just like stone and fire, incomparable to noble clouds in the sky.

Traditional qualities expected in a noble Vietnamese are: loyalty, filial piety, and constancy, according to the five principles Kindness-Respect-Justice-Wisdom-Trustworthiness.

Listen up! Folks!

Forwarnings for the future and to help you protect yourself

Man must abide above all by loyalty and filial piety

Woman should rely on constancy and virtue to be a good person

However, it is not easy to follow the principles of life, as wealth and materialistic temptations can corrupt man. Previously, loyalty means to be loyal to your king. “A loyal subject will not serve two different kings”, “to be patriotic is to be loyal to the king, to be devoted to the people and the country”. Nowadays, loyalty means to be loyal to nationalistic ideals, to fight against the red communist evils, even though the loyal citizen might run into danger and be harmed by sycophants, or to be in disgrace and not allowed to serve the country.

During my voyage to the West, representing our king,

I was shocked by what I saw in Europe

Wake up! Our compatriots!

But I impored in vain and no one believed me.  (Nguyễn Trường Tộ)

The loyal ones are usualy recognized and treasonists are usually revealed when the country is in danger. After the French conquered Southern Vietnam in 1862, Tôn Thọ Tường betrayed the country and served under the French. Vietnamese patriots were all against such unloyal act by Tôn thọ Tường. Tôn thọ Tường then wrote a series of ten poems entitled “Self Reflections”. The loyalist group who defended the motto “A loyal citizen does not serve two different kings”  was headed by Phan văn Trị. Phan văn Trị then responded to Tôn thọ Tường’s ten poems.

The duel act of poetic composing and responding created a war between “Right” and “Wrong” in the late 19th century. Of particular note is the poem “Lady Tôn came to the Thục Dynasty”

On horseback, holding on to my sword, I fulfilled my loyaty to my husband

I followed the age-old reputation of the women from Giang Đông

Leaving the Ngô Dynasty, dearly missing my old parents

I reluctantly go to Hán as a dutiful wife

Beauty, makeup will be faded with dust

Stone and gold (things of enduring quality) are not of consequence and should not bring me shame for giving up my country

To my brother Chu Công Cẩn, please relay to him:

I’m sorry if I displeased you by pleasing my husband. (Tôn thọ Tường)

In this poem, Tôn thọ Tường admits he came to serve the French just like a dutiful woman who was was married off to her husband. She will have to be with him.

I’m sorry if I displeased you by pleasing my husband.

Phan văn Trị responded to that poem, pointing out that Tôn Thọ Tường is not a loyal person, because a man has to serve his king, and a woman her husband.

I straighten my dress and put the hair pin carefully on my hair to be a dutiful wife

The sun is setting, and I am leaving the East

White vapor covers the hills on the Ngô side

A  pink shade shines from the Thục side

My duties are on my fragile shoulders

The burden of the correct principles to my country too

Brother Tôn, do you know

That a man’s duty is to serve his country, and a woman’s is to serve her husband

Did Tôn Thọ Tường come to serve the French for materislic wealth bestowed on him and for the high rank awarded him, and thus became like a woman?

The Noble Vietnamese

must  show filial piety towards his parents

Filial piety is a compliant son’s act. When his parents are alive, he must obey them  dedicatedly, support and honor them; when they passed away, long for them with all your heart. It’s the children’s filial piety towards their parents. The  irresponsible ones are indifferent, neglect their duties when the parents are still alive and when they pass away , offer them  funeral oration and invite just flies to enjoy offering feast.The custom to worship the Ancestors expressed our filial piety towards our dear parents. According to philosopher Confucius : filial duties : Children must venerate their parents : When they are alive, they must be honored and supported , it’s the right duty. When they pass away, the funerals must be organized decently; the celebration with religious rites must be dedicated accurately”. The prominant point is we have to be happy for the worship of our parents.

The parents must endure abundant troubles, and lots of worries to raise their children,  but when it’s their turn to support the parents back, the children must not count days and nights! If you think you are rich enough to leave your parents in nursing homes, then being delinquent, not visiting them regularly, not taking care of them, it’s not filial piety, thinking that just spend money for their needs, it’s just like feeding animals!

Hán Văn Du was really a good child, fulfilling his filial piety towards his mother; when he was bad, received punishment with whip. One day, he was punished, but didn’t stop crying, his Mom asked him: You used to admit your fault, and stop sobbing; why today you keep crying? Bá Du replied politely: Normally when you striked, I felt pain, and I knew you’re still healthy. But this time, it wasn’t painful, then I know you become weaker, I’m anguish for your feebleness and cried. How deepened was the son’s love for his mother!

 KINDNESS, DECORUM, UPRIGHTNESS, WISDOM, FAITHFULNESS

The Noble Vietnamese must respect KINDNESS

A person with benevolence and righteousness is differnet from a small-minded one because he always worries about kindness, his heart being not ruthless,  not acting with  absurd violence. Kindness is showing love to fellowmen, loving others like ourselves is King Trần Nhân Tông saying: ” I love my people as well as my own childen”.

  Uprightness is to behave logically, respect human; wisemen always treat others with respect: never renounce  large-heartedness. All people is like a family, all the nation is like ownself.

The Noble Vietnamese must  respect DECORUM

During his life, a person must  be righteous with one another, must express gratitude to his colleagues in government departments, with his superiors and inferiors . Being like brothers in the army shows the righteousness with one  heart and mind, from the officer to the soldier. Being righteous means to act in the common sense, doing useful works for the public, fair gratefulness;  a person living with decorum will win admiration and respect. If you just be frequent with others in normal unharmed situations, then run away when they are in need, “every man for himself” is an unrighteous , a ruthless, inhumane behaviour.

Wise men in the past said: “Wisdom, Decorum, Incorruptibility, Shameless are four basic rules of conduct to be followed for maintaining the nation to be safe. Those four rules if they are not tightened,  if we don’t have wisdom, decorum, of we are corruptible, shameful, we don’t respect them, then the nation will be destroyed, the race had to perish.” Khuất Nguyên also praises Decorum: “One side is the people, the other side is one own self, both are equal importance. But in requisite situation, one must be ready for self-sacrifice to help and assist the public”.  Forget own self for decorum, for the nation devote yourself. “The one who has planted a tree before dying didn’t live uselessly”.

The Noble Vietnamese must respect UPRIGHTNESS

”  Uprightness is to behave logically, respect human. Wisemen always treat others with respect: never renounce  large-heartedness. All people is like a family, all the nation is like ownself. Saint Paul also admonished human kind :” Respect others like your superior, then everything will be peace and happiness”.

The Noble Vietnamese must respect WISDOM.

A wise man is the one who knows himself,  like the philosopher Socrate has said: “Know thyself” (Connais-toi toi-même). A person must know himself , must be self – understanding first, then after he can understand others. Know thyself, then you can self improve, manage household, govern the country, give peace in the world  . Know thyself then you can respect your conduct: it’s  self-respect. The one who doesn’t have self-respect  is not a wise man because he doesn’t understand himself , not self -respect either, how can others respect him? That’s why  The Noble Vietnamese , not only must have :  Kindness, Decorum, Uprightness,  but also must have Wisdom,  in purpose to know himself and then others, then can act with intelligibility.  “Turn your tongue seven times in your mouth before speaking”.

 The Noble Vienamese must be FAITHFUL

The one who is dishonest is unfaithful, devilish. Owing his life to the Republic of Vietnam, but still venerates the Communist devil! Being a devilish person, he can’t be a patriotic, can’t love his race.

During everyday contact with one another, Honesty plays a foremost role. A life with a betrayal act, depriving the confidence, is a needless life. Honesty is listed clearly in five constant virtues:  Kindness, Decorum, Uprightness, Wisdom, Faithfulness. In social relations, community ativities, organisations, government, Faithfulness is always considered as a criterion. Philosopher Confucius has told: Being a human, if a  person is unfaithful, no one will trust him; then he will never be able to have a stable position in life. For that reason, Faithfulness is the Treasure of  a human life in all over the world.

The Noble Vienamese must be INCORRUPTIBLE

Being Incorruptible is the basic of morals of all executives & officials in court retinue. If the emperor, officials are unscrupulous, the public will be rebels. The results are the nation will be destroyed, the race had to perish. But what does dishonest, perfidious means? Honesty is integrity, the base of human ethics, to be uncorrupted,  definite, upright, not rapacious for disloyal possessions. The ones who are not honest will always take anything or act with disloyalty, snatching  covetously all other belongings. “With three hundred taels, then it will be terminated” (Kiều).

Incorruption means shame, feeling disgraceful by ourselves. Unscrupulous individu will do everything, and is the one who is shameless, and doesn’t respect moral principles.

The philosopher Mạnh Tử said: If you are a human and you cannot be shameless, then you are not a human. Being incorruptible is the basic of the ethics to be  human. If you are incorruptible, then you will have filial piety,  benevolence, righteousness, wisdom, and propriety. If you are unscrupulous, you cannot think about moral principles.

The noble Vietnamesemust be HIGH-MINDED

A person with upright mind is the one who holds good sense in esteem, because good sense is stronger than the point of a sword. A person with upright mind has iron will, his intelligence brightens like the Great Bear, although in critical situations will not be fickle. A high-minded person is the one who can keep his decency, defending justice, dealing with tyrants, despotism. How many fighters, people, soldiers, officers in the government of Republic of VietNam have laid down their lives, fighting  for national independence till their last  exhalation, or fearless, undaunted in prison after the Communists agression to the Republic of VietNam.  This example of great fortitude, worthy to be admired is passed by tradition in history, showing pride, honor of  people, soldiers, officers in the Republic of VietNam government. This attitude of high-minded is a brightly light for the posterity to follow.

Besides, there are four virtues: Task, Countenance, Way to talk, Conduct, which are specific characteristics of Vietnamese female sex.

Task is the best way to work.

verses – not translated

Countenance is the cheerful appearance,elegant apparels.

verses – not translated

Speech,the way of talking must be graceful.

(POEM)-not translated

Conduct must be good behaviour one, including filial piety, to take reverent care of the parents.  ” Goodness is better than beauty”. Beauty is restricted but  good behaviour is unlimited, is still the proverb which is transmitted gloriously among the masses of the people to praise the moral virtue of the young woman. This concept  is to express the moral value non-temporel and above space.

The reason of those verses:

If you are a man, don’t imitate Phan

If you are a woman, don’t relate to Thuý Vân, Thúy Kiều

Because in the traditional morality , the image of Phan Sinh in the writing Phan Trần, became a slobby character. Phan Sinh being lovesick became discouraged, weeping bitterly. The author described  him, when talking about his lover, immediately “His tears streamed down endlessly”, is not a magnanimous, high-minded image of the noble Vietnamese hero.

Thúy Kiều, in the tale “A New Cry From a Broken Heart” (The Tale of Kiều) , author Nguyễn Du, has to sell herself to save her father. She has been ” Twice in brothels, twice beeing a servant, ….TRONG VÒNG GIÁO DỰNG GƯƠM TRẦN, KỀ LƯNG HÙM SÓI, GIỮ THÂN TÔI ĐÒI.”  is a depraved moral image. During childhood, not living with the parents, being adult and married, not living with her husband, violating the three moral rules  to follow:”Being at home, the woman must follow her father, when married must folow the husband, in case the husband pass away must follow the son”. Kiều has “Killed her husband, then remarried, how can she dared to continue to live “.In the past, a girl cannot ” Be guided by a ghost, nor leaded by devils, but searching sorrowfull paths tofollow”. However, in reason of the events of the country in the present, and miserable families, with reluctant circumstances, this concept still can be tolerated with the policy “observe the rules but still can be out of principles”.

Then the traditional morality is so abundant. In the present, with our days and nights of turmoils  of the life far away from motherland ,  A clear fast is better than a dirty breakfast. Noble Vietnamese still has to be in filial piety, faithful, must be  human, grateful, ethical behaviour, faculty of reasoning, trustful, conscientious, upright.

” Being pious, loyal and faithful are guidelines for men

And for women : chaste and virtuous”.

The story of the chaste wife was always a model example eulogized in Five Generations Stories: The King Ngung was a royal title,and unluckily, died soon. His wife Lý Thị  on her way to receive her husband’s remains, didn’t arrive to the place yet, must stopped by a hotel to stay. The owner seeing that they are just woman and kid, was in doubt, didn’t want them to stay. He hold her hand to send them away. Lý Thị with her face upward, sobbing, lamented:” Me, being a woman, I want to keep chastity to worship my husband, but now a stranger has held this hand; I can’t bear that due to a hand all my body will be infected with impurity “. After saying those words, she grabbed a kitchen knife and cut off the hand immediatly! For that example, see how noble is the warmhearted love of husband and wife!

Nowadays those virtuous qualities are still reminded in the Professional Code of Ethics, based on the fundamental concepts about  industrious and thrifty, honest,  kindness, respect,justice, wisdom, trustworthiness. The ones who are inhuman, unrighteous in any society, any time will still be vicious persons to breakup the social human community.

 Disseminating extensively  traditional morality of the nation is the work to transfer the guideline of ethics to altruists about the examplary  model of “The Noble Vietnamese”. The  principles of life guide human atcs. Nguyễn Công Trứ, in his fallen time didn’t became worst person in society just to avoid shameful for family manners and attitude:

(POEM)– not translated

It is true: If we live with righteousness, God won’t let us down. . “Grace respects nature”. We, Vietnamese people always behave, act with vertue, and we are proud of our Lạc Hồng race. It’s the pride of  the origin of our nation that we can maintain our frugal, pure and noble life in a foreign country, despite of being   in a predicament and our luck is running out, we didn’t  “show up” wrong jobs, being anxious of  “guilty with the famiy and shameful with others”

Thoughts mold actions. Our Vietnamese people is a self-respectfull and heroic nation; this prideful sense, despite we suffered from stormy periods, will be forever in our deepest heart, will guide the direction of our acts : The good acts

of a Noble Vietnamese. Owing to that, the community can enjoy, and society activities can  be proceeded smoothly.

The traditional culture of black, indian peoples were ruined because the white pioneers destroyed by mistake the cuture of those two minority groups causing the lost of their heirloom(inheritage), having nothing to cling on for life, to be proud of. Some were tempted to be in street life, “like an unsteered boat, a horse without bridle”, living an insignificant life, unable to stop it! This tragedy has unexpected results, and remains a chronic social problem in American society nowadays, influencing all educational activities, social security,economics, politics, crime..

  This affliction is also raging in Vietnamese society, the culture of more than four thousand years of literature is being ruined by atheist Communism. To restore, conserve, diffuse   special moral characteristics

 of traditional culture to our country is also a mission of renaissance for our dear motherland

We come to America because of the love of Freedom spirit. Preserve intact particular charateristics of traditional moral (ethics) heirloom is our divine duty. As such, the Vietnamese refugee community will be an examplary model, to build a strong back- line, ready to support the great  liability to save the nation and establish the nation.

(POEM)- not translated

&&&&&&&&&&&&&&

ORIGINAL: Trần Xuân Thời – Translation: Thúy M & TháiLan (Nữ Lan)




VĂN – Trước Tiệc Rượu – CAO MỴ NHÂN

Trước tiệc rượu

Đó là một hội thơ rất quy mô được ông bà nhà giáo tên tuổi Thanh Vân – Nguyễn Duy Nhường tổ chức tại biệt thự, sau đổi thành thư viện Minh Minh Thư Uyển, số V10 bis cư xá Bắc Hải, nay là đường Hương Giang, quận 10 Sài Gòn cũ, vào năm 1985.

Thường trên danh nghĩa một người giới thiệu, tôi hay đặt tên cho những buổi hội thơ sau này ở thành phố bị bạo quyền tước đoạt rồi áp đặt cho một cái tên mà hỏi trăm người như một đều ghét cay ghét đắng vì nó chẳng hay ho gì mà còn thêm mắc cỡ mỗi lần đi năm châu thế giới nói về thành Hồ.

Nên hôm đó tôi cứ giả vờ mán mường, giới thiệu với khách dự là buổi giới thiệu cuốn Truyện Nà Khê của nữ sĩ Như Hiên, phu nhân giáo sư Nguyễn Duy Nhường, vị học giả nguyên hiệu trưởng trường trung học Tương Lai, Nha Trang.

Học giả, giáo sư Thanh Vân – Nguyễn Duy Nhường ( 1919 – 2010 ) là tác giả một cuốn tự điển Hán Việt, thường làm thơ cổ điển, viết cuốn Nụ cười gừng mới xuất bản.

Năm 1985 đó, tại tư thất Minh Minh Thư Uyển nêu trên, giáo sư Thanh Vân đã mời khá đông khách thuộc giới văn học nghệ thuật, đặc biệt có mấy vị sĩ quan cấp tá QL VNCH mới từ trại tù cải tạo về.

Tôi chỉ đan cử số khách chính mà tôi còn nhớ: quý vị đại tá Lê Kim Ngô (Công binh ), đại tá Nguyễn Sùng (Quân nhu) và phu nhân, trung tá Phạm Xuân Ninh tức nhà thơ Hà Thượng Nhân, ông Khai Trí, v.v..

Phía văn nghệ sĩ tên tuổi như nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp, ca nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng đi với một người bạn được giới thiệu là dịch giả, nhà thơ Thái Bá Tân.

Phần khách cơ hữu vẫn là toàn bộ hội viên hội thơ nữ lưu Quỳnh Dao với quý nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, Vân Nương, Uyển Hương, Tôn Nữ Hỷ Khương, v.v. và nữ sĩ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền, tức phu nhân của học giả giáo sư Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường, cũng là tác giả cuốn Truyện Nà Khê sắp giới thiệu.

Nhưng bài này cũng không đi sâu vào chi tiết cuốn truyện Nà Khê, chủ yếu chỉ ghi lại chút Kỷ niệm đặc biệt về hai nhân vật tên tuổi đã quá cố: nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp và ca nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Hội hè đình đám nào cũng mở đầu bằng việc giới thiệu quý khách dự…

Hầu như xướng tên quý khách buổi Nà Khê hôm ấy rất O.K nếu không có sự lưu ý của đại tá VNCH Nguyễn Sùng.

Đại tá Nguyễn Sùng vốn tốt nghiệp cử nhân luật bên Pháp, về miền Nam đồng hoá vào chức vụ Hành chánh Tài chánh, sau chuyển làm chỉ huy trưởng Quân nhu QL VNCH.

Song tôi cứ đinh ninh ông cũng viết lách, vì là bạn của chủ nhân Minh Minh Thư Uyển, tôi giới thiệu:

Nhà thơ Nguyễn Sùng…

Tôi thấy ông lắc đầu, bèn đưa ra vài danh xưng khác nhưng ông vẫn lắc đầu.

Tôi chợt hiểu ra ông đang căm tức bọn quỷ phiệt đã khiến ông khổ sở trong tù cải tạo, bèn nghiêm trang giới thiệu:

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với quý vị, đại tá VNCH Nguyễn Sùng, mới từ trại tù cải tạo về.

Nguyễn tiên sinh cười gật đầu. Thế là ai nấy cười ồ lên. Chị Hồ Điệp cười tươi nhất vì thấy hội thơ hôm ấy phóng khoáng vô cùng.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn nụ cười cố hữu của ông là chan hoà riêng biệt, nhân diện rất vô tư, như trong đời ông chưa hề đau khổ, tức giận bao giờ.

Bấy giờ tôi mới để ý tới người khách ngồi bên cạnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ông ta mặc quần tây màu nâu cà phê sữa, áo sơ mi tay dài màu trắng, dáng hình hơi mập, lưng hơi còng hay tại ngồi chả biết, nhân diện ôn nhu. Ông ta luôn nhìn xuống nhưng thẳng thắn.

Tôi thực sự chưa biết ông là ai, bạn của Trịnh Công Sơn thì ai cũng biết rồi, mới cùng đi với nhau chứ.

Trịnh Công Sơn thấy tôi ngó ông bạn của nhạc sĩ, anh ta đỡ lời ngay: Thái Bá Tân .

Người bạn tên Thái Bá Tân của Trịnh Công Sơn hơi vui vẻ, kín đáo, gật đầu chào mọi người.

Tất cả khoảng 40 khách dự ngồi trên những chiếc chiếu trải kín sàn phòng khách lớn trên lầu ba biệt thự Minh Minh Thư Uyển đó.

Ở Việt Nam, sau cuộc đổi đời đi xuống hầu như chiếu được sử dụng thay cho bàn ghế rắc rối. Bất cứ ở khuôn viên nào cũng xài chiếu mời khách quần tam, tụ ngũ, nên mọi chuyện trở thành thói quen, rất tự nhiên và còn có vẻ thân mật nữa.

Tất nhiên xướng ngôn viên, ca nhạc sĩ cũng ngồi trình bầy mặc dầu có hay không có micro.

Hội thơ trên những chiếc chiếu trải xít nhau nhưng vẫn giữ được vẻ lịch sự riêng và cũng là một tính chất đặc biệt chỉ xảy ra sau ngày Bên cướp cuộc hiện diện ở miền Nam.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ôm cây ghi ta sẵn sàng cất tiếng hát trong phong cách một nhạc sĩ trẻ dù đã 46 tuổi, quần jeans, áo sơ mi kẻ sọc xám trắng, lúc nào cũng giữ nụ cười lạc quan.

Nhưng tôi vẫn phải điều hành theo thủ tục một buổi lễ hội bình thường, là vẫn có những mục, tiết tấu để đưa quý vị thi khách nêu trên vào nội dung buổi giới thiệu Truyện Nà Khê của tác giả Như Hiên.

Đó là đọc và tóm tắt câu chuyện của một gia đình người Tày ở thượng du Bắc Việt trước 1954.

Rồi mời khách dự góp ý, thật ra là sự bày tỏ riêng tư về tác giả cùng gia đình chủ nhân Thư Uyển nhiều hơn, sách được trình bày qua loa.

Tất nhiên tôi không quên mời ông bạn Trịnh Công Sơn là Thái Bá Tân cho ý kiến.

Không ngờ tôi mời tịch xướng, Thái Bá Tân hơi giật mình, Trịnh Công Sơn đỡ lời ngay rằng anh Thái Bá Tân chỉ chuyên phê về lãnh vực nghệ thuật. Tức là việc phê phán tác phẩm Nà Khê của nhà văn Như Hiên không thuộc việc của ông ta.

Thực ra, ra mắt sách kiểu bỏ túi ở Việt Nam sau 1975 nơi các nhà quen chế độ cũ chỉ là chuyện thứ yếu, còn chính là họp nhau ăn uống một chút cho vui, hát hò ngâm vịnh lai rai, cho đời bớt ưu tư thời thế thôi…

Năm 1985 chính là năm ông Nguyễn Văn Linh lên đài tuyên bố chính sách Đổi mới.

Các tụ điểm ca nhạc ngoài phố đã bắt đầu hát mấy bài tiền chiến, đôi khi mấy bài mang âm hưởng gió mưa thời thế cũng được thấp thoáng vang đưa từ các ngõ hẻm…

Tôi phải giới thiệu xen kẽ hai tiết mục thơ và nhạc do chỉ hai nhân vật tên tuổi trước 1975 ở miền Nam là ngâm sĩ Hồ Điệp và Trịnh Công Sơn thay phiên trình bày.

Có điều là tới buổi đó Trịnh Công Sơn mới biết giọng ngâm Hồ Điệp. Anh ta nói với tôi một câu đùa mà chị Hồ Điệp trả lời là phạm thượng, ý nói Trịnh Công Sơn còn trẻ hơn chị. Năm đó nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp 55 tuổi nhưng rất trẻ trung.

Nghệ sĩ trình diễn nào cũng thích độc quyền thả giọng bay bổng không ngừng nên khi Trịnh Công Sơn đã ôm đàn là định hát hai, ba bài, chị Hồ Điệp thì ngâm một số bài thơ hơi dài nên Trịnh Công Sơn cứ vừa cười vừa lắc đầu, chị Hồ Điệp vừa cười vừa ngâm.

Khiến có lúc tôi phải giả vờ ngắt giọng của nhị vị, vì tôi thì rất được bạn thơ ca nể chút, vì là người giữ chương trình cho buổi hội ngộ được chan hoà vui vẻ.

Sau hết là lời cám ơn và thay mặt chủ nhân mời quý khách hạ sơn dự tiệc rượu.

Mọi người lục tục xuống thang gác, hai lối đi trong và ngoài Thư Uyển Minh Minh ấy.

Chiếc bàn dài được trang trọng với những món ăn gia đình chủ nhân nấu, đủ thịt thà tôm cá song đặc biệt nhất vẫn là những chai rượu Tây đắt tiền, vì học giả giáo sư Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường có trưởng nam ở Paris đã mấy chục năm trước rồi.

Nghe tiếng nói cười rộn ràng, tôi kịp thấy nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở chỗ ngồi ghế giữa bàn tiệc, nhưng không thấy người bạn Thái Bá Tân.

Tôi hỏi Trịnh Công Sơn bạn ấy đâu rồi, nhạc sĩ trả lời:

Anh ấy có việc đi rồi.

Thực ra có lẽ Thái Bá Tân nghĩ chúng tôi đều ở bên kia giới tuyến của ông, ngại không cụng ly vì chẳng lẽ trong bàn tiệc ông cũng không nói năng gì như lúc ở chiếu bình văn thơ trước đó sao.

Sân biệt thự Minh Minh Thư Uyển chật nghẹt xe honda. Tôi nhìn ra cửa lớn, Thái Bá Tân vừa lên xe phóng đi thì phải…

CAO MỴ NHÂN




KIỀU MỸ DUYÊN – Xuân Họp Mặt




VĂN: Nốt nhạc rớt trên đồi – Cao Mỵ Nhân

Nốt Nhạc Rớt Trên Đồi

**

Thế rồi con cái ai cũng lớn lên.

Mimi đã lên 17 tuổi, chuẩn bị thi vô đại học.

Tôi thì chưa 40, phải vui mới đúng, đằng này tôi có cảm tưởng mình già đến nơi, bắt đầu làm thơ buồn…

Đó là thời gian hậu tù cải tạo, lại cũng đã đi xây dựng nông trường hai năm, quá đủ điều kiện để về thành phố.

Năm đó tôi cố gắng tổ chức cho con gái đầu lòng một cái tiệc sinh nhật, tất nhiên trong điều kiện… quê mùa Việt Nam thôi, nhưng vẫn đặt một ổ bánh kem khá hấp dẫn.

Ngoài số bạn gái cùng lớp con tôi, tôi thấy có một cậu bé cùng trang lứa mặt mũi rất là đẹp trai, còn dắt thêm đứa em trai nhỏ độ 10 tuổi, giới thiệu là em trai út tên Giang Châu.

Mimi cười nói luôn miệng, lộ vẻ sung sướng vì thủa đó khoảng giữa thập niên 80, liến thoắng hỏi tôi:

Ở trong quân đội má có biết trung tá Vũ Văn Sâm không? Ông ấy là nhạc sĩ Thục Vũ?

Biết, mà sao hỏi thăm ổng chi vậy?

Vì đây là Nguyên, con trai thứ hai của bác nhạc sĩ ấy, học cùng lớp chúng con. Bé Giang Châu sanh vào mùa hè đỏ lửa. Ngày bác Thục Vũ ra đi tù cải tạo, Giang Châu mới 3 tuổi.

Tôi ngắm Giang Châu rồi bỗng nhớ tuồng tích Tàu Tư Mã Giang Châu… Nghệ sĩ nào ở cấp ông gì cũng bảng lảng hồn thơ…

Mimi nói với tôi:

Anh Đan Kỳ vượt biên hụt nên công an phường xoá hộ khẩu, nay trốn ở nhà quen trong khu nhà thờ Ba Chuông này. Vậy mai mốt má cho mẹ Nguyên tới đây gặp anh Kỳ nhé.

Tức là tôi để mẹ Nguyên, phu nhân trung tá Vũ Văn Sâm gặp con trai cả của mình ở phòng khách nhà tôi.

Tôi nói được chứ. Mimi thưa bác cứ tự nhiên, xem như khách, không ai để ý đâu.

Vài ngày sau Đan Kỳ tới nhà tôi trước, đợi mẹ cậu đến để thăm hỏi chuyện nhà và hỗ trợ, v.v..

Phu nhân nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm có dáng vẻ đài các, sang trọng. Bà còn buôn bán tháo vát, có sạp chạp phô trong chợ Bà Chiểu, quận Bình Thạnh.

Sau vài lời xã giao, bà phu nhân cười vui vẻ, hỏi tôi vì biết tôi làm thơ:

Chị có biết Lệ Khánh không?

Có nghe tên nhưng không quen.

Ấy, ông Sâm nhà này ưa lắm đấy, cô ta có mấy tập thơ “Em là con gái trời bắt xấu” đó.

Tôi chỉ ừ ào, vì sự thực tôi không quen nhà thơ Lệ Khánh.

Sau tôi có dịp tới lui quán Gió Bấc, một cái chòi khá lớn có mặt tiền trên đường Công Lý cũ, nay kêu là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, của bà Mỹ Phụng cựu hoa khôi Hồng Kông, Trùng Khánh gì đó từ thời vua Bảo Đại. Bà còn là chủ nhà hàng Mỹ Phụng trên sông Sài Gòn trước 30 – 4 – 1975.

…mới biết là Lệ Khánh vừa qua giai đoạn bán bánh chưng chiên ở cửa quán Gió Bấc.

Lệ Khánh cũng phải tảo tần để nuôi đứa con trai duy nhất mà nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm kỷ niệm cho… nàng thơ năm 1967.

Quán Gió Bấc là nơi quần tam tụ ngũ giới văn nghệ sĩ Sài Gòn kẹt lại sau 30 – 4 – 1975 và cả các văn nghệ sĩ Cộng sản cũng có thể ghé…

Tất nhiên phe ta nếu không dính tới chính quyền Việt Nam Cộng Hoà thì vẫn ngang nhiên ngồi thả hồn ngó mây bay, nên nào là Phạm Thiên Thư, nào là Trụ Vũ, v.v. vẫn có thể lai rai ở Gió Bấc.

Đặc biệt mấy năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, nghệ sĩ diễn ngâm Hồ Điệp thường ghé Gió Bấc vì buồn và âm hưởng thi ca Tao Đàn xưa vẫn còn đồng vọng.

Với một không khí tạp lục như thế, xét ra chỉ có tôi là liều mạng. Nghĩ mình cũng đã xong tù cải tạo nên ghé Gió Bấc thường xuyên.

Tôi hay cùng chị Hồ Điệp ngồi đợi những đợt dân Sài Gòn đi lãnh đồ Mỹ do thân nhân gởi về trên những chiếc xe xích lô máy phóng bạt mạng vì sợ kẻ gian cướp thùng quà dọc đường đi ngang cửa quán.

Bấy giờ chị Hồ Điệp thì chờ quà của con trai, còn tôi thì chờ quà của ông xã, nhưng đều thất vọng vì hằng ngày cứ biệt vô âm tín tin thân nhân của mình. Chúng tôi chưa đói, chưa rách nhưng nhìn vào hai chị em là biết nỗi tuyệt vọng tới đâu rồi.

Mấy năm sau xa nhau, rồi mấy năm sau nữa liên tiếp nhiều sự đổi thay… song không thuộc phạm vi bài này.

Mặc dầu gia đình nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm đã nhờ cô con gái lanh lẹ, tháo vát xin vô làm nhà hàng trên bến cảng Sài Gòn, rồi nhờ khách quý giúp trốn đi vượt biên thành công, nhập cư ở Canada rồi bảo lãnh cho cả mẹ và ba em trai Đan Kỳ, Quang Nguyên, Hà Giang, Giang Châu đi đoàn tụ.

Nhưng miền Nam Việt Nam là chỉ có đi… chia ly, gần như chỉ có số ít người cả nhà, cả họ được đoàn tụ, chứ không nhiều thì ít gia đình có những cuộc chia ly mới.

Phu nhân chỉ đưa hai cậu bé Hà Giang, Giang Châu qua Canada, còn hai cậu lớn Kỳ Anh, Quang Nguyên thì có gia đình, phải ở lại…

Mùa xuân năm 1996, tôi được bạn bè ở Denver, Colorado mời qua ăn cưới con gái nhưng quý vị ấy lại kết hợp tổ chức ra mắt sách Chốn bụi hồng cho tôi.

Tại buổi tôi gọi đùa là Sơn Bắc mãi Văn cuốn Chốn bụi hồng của mình, một niên trưởng huynh đệ chi binh là trung tá Mai Quỳ, cựu trào Tâm lý chiến Trường Bộ binh Thủ Đức từ thủa tôi còn đi học nói với tôi:

Này Cao Mỵ Nhân, ông nhạc sĩ Thục Vũ – trung tá Vũ Văn Sâm chết trong tù Hoàng Liên Sơn quê cô đấy. Thục Vũ chôn ở ngọn đồi toàn hoa ban trắng ghê rợn lắm. Tôi đứng chứng kiến cái chết của Vũ Văn Sâm. Nhớ viết một bài đi.

Hôm đó tôi lại bận quá, chưa kịp hỏi thăm thêm gì, rồi sau còn bận thêm nữa nên không phải là quên, mà vẫn nhớ nhưng sự lười biếng cứ chồng chất lên nhau mãi…

Niên trưởng Mai Quỳ nói với thi sĩ trung tá Hoàng Ngọc Liên nhắc Cao Mỵ Nhân là có về thăm quê Sa Pa của cô ấy thì tìm thăm mộ trung tá Vũ Văn Sâm ở đồi hoa ban trắng, nơi đồi hoa ban xem như nghĩa địa của tù cải tạo ở trại Hoàng Liên Sơn.

Thật buồn khi tưởng tượng một vạt đồi hoa ban trắng toát với những làn sương mỏng bay lượn lờ trong âm khí lạnh tanh, phảng phất những linh hồn của huynh đệ chi binh lảng vảng, u hờn xa cách thân nhân hàng vạn dặm trường…

Cao Mỵ Nhân




CHÙM THƠ Cao Mỵ Nhân – HẠ NÊU-TÌNH VUI – TIẾNG YÊU – NGÔN NGỮ CỦA TRÁI TIM

HẠ NÊU

*  

Anh hạ cây nêu

Pháo nổ tan giòn

Vui hay buồn nhỉ

Đầy sân hoa vàng 

*

Hẹn em sang năm

Trở về tái ngộ

Bụi trúc than van 

Nuôi từng nỗi nhớ

*

 Hôm đưa tiễn Táo 

Lên trời trình tâu

Mênh mang tiếng sáo 

Trên ngọn nêu cao 

*Đã qua khai hạ

Mỗi năm một lần 

Ôi buồn bã lạ

Tuổi xuân vơi dần … 

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

 TÌNH VUI.     CAO MỴ NHÂN 

*

Valentine !  Valentine 

Có anh hay chẳng có ai bên mình 

Bao nhiêu thiên hạ tỏ tình 

Valentine đợi bóng hình phù vân 

Valentine đúng dịp Xuân 

Ngó em vui quá, cố nhân mỉm cười

Rằng : ” anh vẫn ở bên trời

Nhưng, ngày lễ hội suốt đời nhớ nhau “

Valentine ! trước như sau

Tình xưa là chính tình đầu thủa nay

Lúc nào em cũng đắm say

Valentine tưởng khói mây giao hoà 

Valentine ! Ôi thiết tha

Nồng nàn gió chuyển hương xa tìm về 

Valentine, niềm si mê 

Nụ hôn chan chứa thơ đề tặng anh …

      CAO MỴ NHÂN

TIẾNG YÊU.    CAO MỴ NHÂN 

*

Tiếng Yêu nghe thật dịu dàng 

Như tay anh vẫn thường quàng vai em

Tiếng Yêu nghe sao êm đềm

Như em che cặp mắt nhìn thơ ngây

Tiếng Yêu vẳng vọng đâu đây

Rõ ràng, sao lại tỉnh say giả vờ

Tiếng Yêu chất ngất trong thơ

Cho anh chuyên chở mộng mơ tặng người

Tiếng Yêu ôi quá tuyệt vời

Xin đừng lưỡng lự, kẻo rồi ăn năn

Tiếng Yêu giờ đã trăm năm

Ru em suốt cả giấc xuân êm đềm

Tiếng Yêu em chỉ trao mình

Còn chi để nói mà trình với thưa 

” Biết rồi, em hết Yêu chưa

Tiếng Yêu vốn mới với xưa thuận hoà …”

         CAO MỴ NHÂN 

NGÔN NGỮ CỦA TRÁI TIM.    CAO MỴ NHÂN 

*

Trong ngôn ngữ trái tim

Có những điều sai biệt

Như anh nói với em

Bao nhiêu là tình tiết 

Lời tim thường phân tán 

Theo mỗi lúc, mỗi nơi

Đôi khi tưởng mất mát 

Cách biệt cả khung trời

Cho dẫu em say đắm

Cuộc tình đã rời xa

Nhịp tim đang đều đặn

Bỗng thăng, giáng mù loà

Khi lời lẽ êm đềm 

Lúc cuồng điên, hờn giận

Vẫn là tiếng của tim 

Sao em buồn chất ngất …

   CAO MỴ NHÂN




THƠ – CAO MỴ NHÂN

BIỆT TÍCH XUÂN

*

Năm ngoái xuân biệt tăm 

Năm nay xuân biệt tích 

Hỏi xuân một trăm năm 

Sẽ tàn trong tích tắc

*

Xuân không hề mất mát 

Vẫn hồn nhiên như  thơ 

Mây bay sầu tản mác 

Anh bỏ em mộng mơ

*

Không pháo giao niên nổ 

Còn gì bảo là xuân 

Tiếng chim rơi nhắc nhở 

Anh bây giờ cố nhân 

*

Thì thôi chào người tình 

Chúng mình cùng phiêu bạt 

Vạn vật đang hồi sinh

Cho không gian lãng mạn …

*

Hawthorne  4 – 2 – 2022

        CAO MỴ NHÂN 

*

BIỆT TĂM XUÂN

*

Câu chuyện mùa xuân đã nhạt dần

Nắng chiều từng đốm đổ trên sân

Người ôm kỷ niệm đầy hư ảo 

Một phút trầm tư ngó cố nhân 

*

Vừa mới hôm qua chúc tụng nhau

Xuân này, xuân nữa, những xuân sau

Bao nhiêu xuân vẫn là xuân cũ 

Chỉ có xuân xưa đẹp thủa đầu

*

Tiếng hót vành khuyên thật sáng trong

Đôi chim soải cánh rơi mênh mông

Cố nhân thân thuộc như xa lạ

Chim thoắt bay xa, lạc cõi lòng 

*

Cả một trời xuân, một đất xuân 

Trăm hoa đua nở mấy mươi năm 

Nguyên rừng mai, cúc vàng tri kỷ

Xuân gọi thơ từ chốn biệt tăm …

*

       CAO MỴ NHÂN 




VĂN: BAY ĐƠN- Cao Mỵ Nhân

BAY ĐƠN

Trong Quân lực VNCH, chuyện đoàn trực thăng bay nhiều chiếc, nhiều chuyến là rất bình thường vì công tác chuyển quân của các đơn vị ra chiến trường.

Còn chuồn chuồn cánh quạt bay đơn hay bay đôi chỉ xảy ra nơi những công tác hằng ngày của quan chức tư lệnh hay yếu nhân đi thị sát mặt trận, di chuyển cần thiết khắp lãnh thổ trách nhiệm hoặc các phái đoàn đi công tác không có tính cách tác chiến.

Những chuyến bay đơn như máy bay loại nhỏ L19, L20, Cessna, H34, HUIB gì đó thì ai trong chúng tôi thời chiến đi công tác đều có thể xin phi vụ hay theo phi vụ bay tới các vùng trời thân quen hoặc xa lạ để làm nhiệm vụ.

Những chiếc máy bay nhỏ này có khi bay đơn, có khi bay đôi tuỳ theo giới chức xin phương tiện di chuyển.

Tôi nhớ khoảng giữa thập niên 60 thế kỷ trước, vì nhu cầu công tác xã hội ở vùng hỏa tuyến quá bộn bề, chúng tôi buộc phải di chuyển ngang vùng địch chiếm bằng máy bay các loại nhỏ như Cessna hay trực thăng.

Cũng khoảng thời gian giữa thập niên 60 đó, Bộ Tư lệnh SĐ2BB phải di chuyển từ An Hải, Đà Nẵng vô Quảng Ngãi để nhường cơ sở doanh trại cho Quân đoàn 24 Hoa Kỳ trú đóng.

Bấy giờ tôi đang phụ trách phòng Xã hội SĐ2BB nhưng mới thuyên chuyển từ SĐ9BB Sa Đéc về nên không thể sắp xếp gia đình được, đành phải đi đi về về Đà Nẵng – Quảng Ngãi như… cơm bữa. Đúng ra không phải hằng ngày mà hằng tuần.

Cứ mỗi cuối tuần là tôi ra sân bay Quảng Ngãi ngồi chầu rìa ở trạm tiếp liên chờ máy bay nào đó về Đà Nẵng xin quá giang ngon lành. Đi miết trở thành khách lính quen.

Thế là thay vì lên trực thăng cùng bốn, năm người khác, có khi may mắn lại được ngồi Cessna sang trọng, không bị ngồi cạnh cửa trực thăng lúc nào cũng trống toác, gió phần phật khiếp đảm.

Cũng nhờ đi trực thăng nhiều mà đã mấy lần tận mắt thấy ông súng máy khạc trọn dây đạn xuống vũng lầy, đồng cát trên đường trường vì nghi ngờ địch sắp ngẩng mặt lên ngắm chuồn chuồn…

Rồi cuối ngày Chủ Nhật hay chậm lắm là sớm tinh sương thứ Hai đầu tuần lại kiếm đường bay nào có pilot hay copilot hào hoa cho ké vô tàu rời đô thị lớn về tỉnh lỵ buồn tênh với sông Trà, núi Ấn. Miệt mài công tác cả tuần năm này tháng khác y như thế.

Do đó tôi biết được hằng ngày xuất phát từ Đà Nẵng bay đi có chuyến bay dành cho việc rải truyền đơn của quân ta vào vùng địch.

Công việc đó của phần hành Tâm lý chiến và Thông tin Chiêu hồi. Tôi vốn là bạn khá thân của quý vị binh vận dân vận vừa nêu nên sau là khách bay của bóng dáng L.19, L.20, hình như thời Pháp còn gọi là máy bay bà già, hay máy bay do thám.

Những chiếc L này đừng tưởng là cô đơn lò dò bay nhé. Quý L mà phát hiện được dấu địch ở đâu là lập tức trình báo quý đấng thẩm quyền rót pháo ngay đúng hướng chẳng chơi…

Một lần tôi lên L.20, ông pilot ngồi ghế bay quay cổ xuống nói: Hôm nay vô trong xa đấy, độ nửa giờ thôi. Ông này là phần hành thả truyền đơn, thả hết cái mớ giấy kia xuống xong là có thể về Quảng Ngãi ăn sáng. Thằng U nó đợi tôi. Cô rảnh thì đi theo điểm tâm rồi về chào cờ cũng không muộn.

Tôi im lặng vì chỉ muốn vô Quảng Ngãi cho yên chuyện đi mây về gió Đà Nẵng thăm con còn trứng nước.

Ông bay nghĩ tôi ừ cả làng, lượn vút lên không, cứ bay theo… quán tính, người thả truyền đơn cứ thả để VC tìm về tổ ấm VNCH xong là rời không phận Ba Tơ, Trà Bồng đi Quảng Ngãi.

Bạn ông bay đã ngồi ghế lái xe Jeep chờ sẵn. Tôi nhanh mắt nhìn thấy chiếc H34 vừa đậu, đại uý trưởng phòng ANQĐ SĐ2BB với cặp mắt kiếng đen quen thuộc cũng hướng về hướng tôi đứng.

Tôi nói với ông bay L.20 hẹn ăn sáng ngày khác, bây giờ tôi theo xe sư đoàn về làm việc thôi. Thế là hợp lý quá, lại chẳng mất lòng ai, lại đúng ý mình, an tâm làm việc tới cuối tuần.

Trên xe jeep, đại uý Đoàn M. hỏi: Mỗi tuần Cao Mỵ Nhân mỗi về Đà Nẵng hả?

Tôi trả lời thật lòng: Mới đổi về Sư đoàn, chưa biết tính sao nữa, vả lại tiện dịp thì về thăm nhà thôi ạ.

Tất nhiên đại uý ANQĐ chả bao giờ tin ai ngay, nhưng ANQĐ với tôi lại thân thiện thì cứ như thăm hỏi xã giao vui vẻ.

Đại uý Đoàn M. chẳng hề bỏ mắt kiếng đen ra bao giờ. Ông nói ông quen một vài pilot có gia đình ở Đà Nẵng như ông với tôi, nếu tôi cần ra vô Đà Nẵng – Quảng Ngãi thì nói với ông, ông sẽ nhờ máy bay trực thăng đó cho.

Bay đơn nếu bình thường thì như chim được cất cánh, nhất là bay những đường gần.

Có lần phái đoàn gọi là CTCT, nhưng thành phần chỉ có ba người: trung tá Trần Hữu Phước trưởng phòng Chính huấn, tôi trưởng phòng Xã hội và một cô nhân viên xã hội, đi từ Đà Nẵng vô Quảng Tín (Tam Kỳ) bằng chiếc Cessna.

Máy bay như du lịch, chỉ có một pilot là thiếu tá Không quân tên Th. Tôi đã đổi về QĐI/QKI rồi, đây là đi công tác.

Hôm đó bầu trời quang đãng, rất đẹp, nắng thật vàng rực rỡ.

Thường làm việc với nhau lâu biết hết tính nhau luôn là trung tá Trần Hữu Phước chỉ dã ngoại khi trời trong sáng như pha lê. Ông vốn có tiệm may Tây lớn ở Đà Nẵng xưa, tới khi bận việc quân cơ, ông cho dẹp lâu rồi.

Nhưng trời sanh ra ai có năng khiếu hay khả năng gì thì thường méo mó nghề nghiệp, nên chi cứ nhìn vào quân phục là biết ngay ông chăm chút quân trang super 100%.

Điều quân phục thẳng nếp đến không thể bẻ gẫy được một ly đã khiến quan tư Không quân xốn mắt.

Lượt vô thì vì thể diện quốc gia, quan tá tư để quan tá năm ngay ngắn đứng trước ba quân nói nói năng năng rất là thơm phưng phức.

Tới lượt về, cha ơi, máy bay chuyển dạ. Cessna cứ hết nhịp ba lại tới nhịp bảy lướt ngang, lượn dọc, cứ như cô Kiều gảy đàn: Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày…

Quan năm Trần Hữu Phước thoạt thì ngỡ ngàng sau sinh bẳn gắt, vài sợi gió chiều loáng thoáng đong đưa lá cành, chứ có phải dông gió lên khơi đâu.

Song tới Đà Thành là vừa kịp trang sách Buồn nôn của Jean Paul Sartre (1905 – 1980) khép lại âm thầm.

Bay đơn, có lẽ theo tôi chỉ có những phi vụ tưởng là thường nhật của trung tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân đoàn I / Quân khu I đi thị sát chiến trường do đại uý pilot Kim cùng chiếc trực thăng không đẹp không xấu nhưng chắc phải tốt là ý nghĩa vô cùng.

Vị tướng lúc nào nhân diện cũng trầm tư, lênh bênh trên lãnh thổ miền Trung, tình cảm hướng về Trị Thiên như một tri âm tri kỷ, còn người pilot thì mến thương kính trọng tướng nên cũng lặng lẽ, bâng khuâng…

CAO MỴ NHÂN




THƠ MẶC KHÁCH – NỖI LÒNG




Nhớ Về Chiến Thắng Đống Đa! Lê Văn Hải – Minh Thúy – Hoàng Mai Nhất – Phương Hoa

“Đón Xuân này, tôi nhớ Xuân Xưa!”

Truyền thống những ngày Đầu Năm, nhắc nhở chúng ta, tưởng nhớ đến giây phút vinh quang của Mùa Xuân Lịch Sử năm 1780.

Mồng Năm Tết! nhớ về Đại Đế Quang Trung. Với chiến thắng Gò Đống Đa lẫy lừng, đập tan 20 vạn quân Tầu nhà Thanh.

Noi theo tấm gương Ngài, để hun đúc lòng yêu nước, chống CSVN, đang bán nước cho Tàu cộng.

Nhớ lại chiến thắng Đống Đa hào hùng, đã cứu nguy Đại Việt thoát ách nô lệ Tầu năm nào.

Bài học lịch sử đang lập lại, nước Việt chúng ta hiện nay hoàn cảnh không khác gì. Đang bị bọn độc tài Việt Cộng cầm quyền, bán đất, bán biển, dành các đặc khu cho Tàu cộng.

Trung cộng đang giết hại đồng bào chúng ta bằng mọi hình thức thâm độc, từ buôn người, kinh tế, đến thực phẩm. Dân tộc chúng ta đã, đang và sẽ bị tiêu diệt, nếu Tàu cộng còn chiếm cứ trên Quê Hương Việt Nam, trước sau gì cũng mất nước mà thôi.

Cùng nhau cất lên bài ca chiêu Hồn Nước, hun đúc một lòng quyết chiến đấu:

Ngàn quân Tàu vượt cầu, như nước tràn hàng ngàn,

Hàng ngàn quân Tàu vượt cầu trong gió ngàn,

Ngàn quân Tàu sập cầu tô thắm màu Nhị Hà,

Nhị Hà nước về đỏ ngầu thây chất tràn!

Nào ngờ đâu bao mộng tan tành

Vạn giặc Thanh như là mây khói

Và từ đây nước Việt yên lành

Ngàn đời sau Bắc Bình còn vang danh!”

Xuân Nhâm Dần 2022

Lê Văn Hải

Peach Blossome background frame vector illustration

ĐỜI TƯỞNG NHỚ QUANG TRUNG

(Hoạ đảo lộn 4 vần)

Mồng Năm Kỹ Dậu nước An Nam,

Đại đế Quang Trung chống ngoại xâm.

Dẹp sạch quân Thanh loài thảm hận,

Đánh tan giặc Bắc lũ tàn tham !

Oai hùng chiến sử đầu voi sát,

Rạng rỡ tài danh ngọn sóng tràn !

Muôn thuở Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ…

Đời đời con cháu tạc thâm ân !

Liêu Xuyên




THƠ KHAI BÚT – Hoàng Mai Nhất

*Cây Đào Bonsai này, HMN đã trồng 5 năm; đến năm nay mới
nở nhiều bông như vậy, lại đúng ngay đêm Giao Thừa, nên HMN
đã làm 4 câu Thơ HOA  ĐÀO  NỞ dưới đây xin gởi đến Quý VTH cùng thưởng lãm.

Trân trọng
Hoàng Mai Nhất

Khai bút đu Xuân Nhâm Dần (2022)

 XUÂN  NAY

*

Tết đến Xuân về ở chốn đây
Bên ngoài chỉ thấy tuyết Đông dầy
Ngàn cây lặng lẽ trơ cành đứng
Mấy gốc thông già điểm trắng đầy
Gió lạnh luồn qua từng kẻ lá
Xuân nồng thắm lại mấy ngày này
Trời Xuân thuở ấy còn vương vấn
Để đến bây giờ mắt thấy cay

                               Hoàng Mai Nhất 

*

XUÂN  LẠNH

Mùa Đông đến quá nhanh
Thời gian gõ nhịp canh
Ngoài đường tựa vắng tanh
Đời không muốn giật dành
Nhường cho tuyết phủ cành

Đêm chìm trong lạnh căm
Chờ mùa Xuân đến thăm
Mưa dường như tiếng thầm
Cây vươn mình trổ mầm
Đầy hoa quả cúng mâm
………
Pháo rền vang Cọp gầm
Vui đón Xuân Nhâm Dần
Mặc cơn dịch dọa hăm

                 Hoàng Mai Nhất

*

HOA  ĐÀO  NỞ

Ngắm cây Đào đỏ hoa bừng nở

Chợt thấy cuộc đời vẫn nên thơ

Ngoài kia nắng dát vàng sân cỏ

Xuân của đất trời đẹp ước mơ

                         Hoàng Mai Nhất




THƠ XƯỚNG HỌA: Như Thu & Phương Hoa




THƠ KHAI BÚT ĐẦU NĂM NHÂM DẦN – Phương Hoa




THƠ KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2022 – Minh Thúy




THƠ: Mùa Xuân Đi Rất Vội – CHIA TAY MÙA XUÂN – Cao Mỵ Nhân

MÙA XUÂN ĐI RẤT VỘI.   CAO MỴ NHÂN 

*

Xoá mờ đi tất cả 

Nỗi buồn của hôm nay 

Để ngày mai hoa lá 

Tươi mát giữa heo may

*

Mùa xuân mới bắt đầu 

Mùa xuân không ở lâu

Lá hoa kia sẽ héo 

Theo gió gọi đi đâu

*

Anh xa em hôm qua

Một ngày dài chờ đợi

Lá rì rào hỏi hoa

Bao giờ anh về tới

*

Nhưng khi anh về tới 

Lại không hề thăm em

Mùa xuân đi rất vội 

Hoa lá rụng ưu phiền …

*

  CAO MỴ NHÂN 

*

CHIA TAY MÙA XUÂN.   CAO MỴ NHÂN 

*

Khi chia tay mùa xuân

Hoa rơi đầy thảm cỏ

Nhặt cánh sầu bỡ ngỡ 

Ép vào lòng bâng khuâng

*

Lối cỏ vàng sắc hoa

Mùa xuân không trở lại

Tình nhân buồn ái ngại

Cánh chim bỏ về xa

*

Lang thang khói trắng bay

Tưởng mùa xuân thay áo

Mầu tương tư huyễn ảo

Trời thả lỏng vạt mây

*

Mùa xuân đi thật rồi

Đường dài thêm nỗi nhớ

Anh nghe em thổ lộ 

Thương tiếc buổi chia phôi…

*

   CAO MỴ NHÂN 




THƠ: HẠNH PHÚC – Thanh Thanh

HẠNH-PHÚC

Em thấy đấy: vì sao anh đã quyết
Chọn đưa em về giới-thiệu gia-đình?
Dẵm sau gót những tình yêu tha-thiết
Của bao cô hy-vọng chiếm tim mình!

Từ dạo ấy lòng anh mang mối hận
Bởi không làm thỏa-mãn mọi tình yêu,
Với ý nghĩ: biết bao người oán giận
Mình đong-đưa như gió sớm, mây chiều!

Ðời thắm đẹp nhờ muôn hương vạn sắc;
Một cánh hoa khôn dệt nổi xuân vàng!
Anh biết thế nên lòng anh thắc-mắc
Thương bao cô mắt lệ ướt hai hàng.

Nhưng nghĩ lại: lòng tham vô-giới-hạn,
Túi hẹp nông khôn nhốt hết kho trời!
Anh đã chọn một riêng em làm bạn,
Các cô kia đành lỗi mộng chung đời!

Như thế đó, tình anh như thế đó,
Em biết không? em có hiểu cho không?
Chọn một đóa để buông lìa cả bó
Vì anh tin em sắc thắm, hương nồng.

Em đã thấy vai trò em hệ-trọng:
Một bông hoa đại diện cả mùa hoa ?
Anh sung-sướng, anh tràn-trề hy-vọng;
Em, em ơi, đừng để mộng phai nhòa!

Em hãy quyết cùng anh xây tổ ấm,
Dù chông-gai, dù bão-tố ngang trời;
Xây cho trọn một túp lều hoa gấm
Từ hôm nay cho đến lúc xa đời .

Vì đất nước chỉ thanh-bình thịnh-vượng
Khi dân-nhân xã-hội được vui hòa,
Mà họ-mạc xóm-giềng là viễn-tượng
Của gia đình xây dựng giữa hai ta!

                                             17-01-1955

                               THANH-THANH




CHÚC TẾT NHÂM DẦN – LÊ VĂN HẢI

Untitled-1 copy.jpg

Trước Thềm Năm Mới: Tiễn Trâu Đón Cọp!

Năm hết Tết đến, đây là thời điểm đặc biệt, vui vẻ, hạnh phúc, thiêng liêng nhất của Người Việt. Chỉ còn một thời gian rất ngắn nữa thôi, hãy cùng nhau đón một Mùa Xuân Mới, với niềm tin, hy vọng mới.

(LVHải Tổng hợp và trình bày)cau ñoái tho  final.jpg

Câu Đối Mừng Tết

-Già trẻ gái trai đều                khoái Tết

Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân

-Lộc biếc, mai vàng, Xuân hạnh phúc

Đời vui, sức khỏe, Tết an khang

-Tết từ trong nhà, Tết ra ngoài ngõ

Lộc trên trời, Lộc xuống trần gian.

Câu Đối mừng Xuân Con Cọp (Tiễn Trâu)

-Trâu quen lẽ phải…vô chuồng Cọp!

Cọp cứ luật rừng…chén thịt Trâu!

Năm Cọp Chúc Nhau

Năm Cọp chúc nhau khỏe tới già.

Cội nguồn gìn giữ, hưởng vinh gia

Rừng Nam Hổ Việt, lừng danh Hổ

Máu Đỏ Da Vàng, đẹp sắc Da

Thưở trước, Tiền Nhân công tạo dựng

Ngày nay, Hậu Thế sống chan hòa

Oai Hùm có sẵn từ thiên cổ

Chắc hẳn Nhâm Dần sẽ trổ hoa!

(L D Q)mung xuan final.jpg

Lời Chúc Tết Năm Mới Con Cọp 2022

Trân Trọng Kính Chúc:

Quý Vị Đồng Hương VN,

*Năm mới Nhâm Dần: Mọi điều may mắn, tiền vào như nước, tiền ra rỉ rỉ, tai họa tránh xa, ký cóp Cọp tha. Riêng quý người đẹp, cười mỉm chi Cọp, là có tất cả, vạn sự như ý, cung hỉ, cung hỉ!

*Cọp Rằn tiến tới, quậy phá năm qua, đều bị trừng trị. Cọp bắt Cô Na, Cọp tha Cô Víc, Cọp xực Cô Vi, thế giới yên lành, xã hội bình an. Rừng nào Cọp nấy.

*Thành công luôn tới, sức khỏe như Hùm, trai thực như Hổ, móng vuốt dương oai, gầm vang như sấm. May mắn nơi nơi, không bị sập bẫy, thành Cao Hổ Cốt! bày bán giá mắc, trong tiệm Thuốc Bắc!

*Công thành danh toại, cưỡi lên lưng Cọp, bay bổng lên mây, muốn gì cũng được, trẻ mãi không già, phúc lộc trường tồn, Cọp chết để da, cho dù Hổ dữ, không ăn thịt con. Gia đình hạnh phúc, tấn tài tấn lộc, mọi điều như ý.

*Nam nữ tuổi Cọp, ăn nhiều không béo, tình chặt như keo, dẻo dai như cọp, tựa Ông Ba Mươi! Cầy ngày không đủ, tranh thủ cầy đêm, danh Chúa Sơn Lâm, khó ai sánh bằng! chỉ thua…Cọp cái! Đừng vuốt râu hùm, tránh để Cọp Tha! Tiêu ma cuộc đời.

*Cuối cùng không quên, Quê Hương chóng có, tự Do Dân Chủ, Cộng Sản Việt Nam, tiêu thành mây khói, Cọp xực Cọp vồ! hết bọn độc tài, hại dân hại nước. Vì chỉ khi ấy, Quê Mẹ mới có, Mùa Xuân đích thực.

Thời Khắc Giao Thừa

Giao thừa là thời khắc cuối cùng của năm cũ, đó cũng chính là thời điểm bắt đầu cho một năm mới. Vậy phải làm gì trong thời khắc này để một năm mới tràn ngập may mắn.

+ Dọn dẹp nhà cửa đón Tết vào thời điểm trước giao thừa là phong tục của người Việt Nam tự bao đời nay. Khi đó, dọn dẹp nhà cửa có nghĩa là tẩy rửa, xóa sạch đi những tồn đọng cái xui của năm cũ để nghênh đón những điều may mắn trong năm mới.

+ Một trong những việc nên làm đêm Giao thừa đó là trước 12 giờ đêm, nên thắp hương khấn Phật, Tổ Tiên, Ông Bà cho một Năm Mới tốt đẹp.

+ Ngày 30 Tết không được mắng trẻ con, vợ chồng không được cãi nhau, vui vẻ, mặt lúc nào cũng tươi như hoa, nếu không sẽ bất lợi cho cả năm mới.

+ Mọi người quan niệm, nếu nợ nần năm cũ còn tồn đọng, sang năm mới thì sẽ vướng vào vòng luẩn quẩn. Đó là lý do mọi nợ nần của năm cũ, đều phải được giải quyết trước thềm năm mới.

+ Mua một chậu cây đang nở hoa như hoa mai, hoa đào, hoa cúc, mang ý nghĩa mang lại phúc khí, sự an lành cho năm mới. Những bông hoa nở vào ngày đầu năm, mang ý nghĩa lớn, vạn vật sinh sôi, rước tài lộc về nhà.

+ Hãy dọn dẹp ký ức buồn của năm cũ, bởi Tết đến là lúc bạn nên vui cười, hạnh phúc chào đón một năm mới với những điều tốt đẹp nhất.

Hướng Xuất Hành Năm Mới

Hướng xuất hành là việc gia chủ lựa chọn hướng đi ở nhà mình đến nơi đầu tiên trong năm mới. Thường những nơi gia chủ đến sau khi giao thừa là nhà thờ, đền chùa, đến nhà người thân quen họ hàng Xông Đất. Do vậy để có một năm được may mắn gia chủ cần xuất hành đầu năm hướng giờ tốt, đại lợi để cả năm được thuận buồm xuôi gió.

Việc chọn hướng xuất hành đẹp còn đánh dấu cho sự khởi đầu mới may mắn, một năm mới bình an, lạc quan. Vì vậy lựa chọn hướng và giờ xuất hành cũng là một công việc rất cần thiết và quan trọng.

Mùng 1 Tết: Tức ngày 1/2/2022 dương lịch

– Nên xuất hành hướng Đông Nam (hướng tài thần) hoặc hướng Tây Bắc (hướng hỷ thần) – Tránh hướng Tây Bắc. Tham dự Lễ Thượng Kỳ VNCH đầu năm.

Mùng 2 Tết: Tức ngày 2/2/2022 dương lịch

– Nên xuất hành hướng Chính Đông (hướng tài thần) hoặc hướng Tây Nam (hướng hỷ thần) – Tránh hướng Tây Bắc.

Mùng 3 Tết: Tức ngày 3/2/2022 dương lịch

– Nên xuất hành hướng Chính Đông (hướng tài thần) hoặc hướng Chính Nam (hướng hỷ thần) – Tránh hướng Chính Bắc.tu vi final.jpg

Tử Vi 12 Con Giáp Cho Năm Mới Nhâm Dần 2022

Con giáp tuổi Tý

Sự nghiệp, quan vận của con giáp tuổi Tý năm 2022 không được tốt.

Những người tuổi Tý trong năm Nhâm Dần dính hạn Tam tai nên việc làm ăn, chuyện tình cảm bị ảnh hưởng nhiều. Tiền bạc có sự hao tán. Sức khỏe cũng không được tốt.

Nếu muốn mở rộng công việc làm ăn kinh doanh, bản mệnh nên tính toán kỹ lưỡng kẻo xảy ra đổ vỡ trong năm này.

Con giáp tuổi Sửu

Những người tuổi Sửu trong năm Nhâm Dần chủ về Bình Hoà nên mọi việc sẽ không bất lợi, khó khăn như các năm trước.

Công việc hanh thông, thuận lợi hơn so với mọi năm. Tiền bạc cũng dư dả hơn. Tuy nhiên, bản mệnh cần quan tâm đến sức khỏe khi phải xuất hành đi xa.

Con giáp tuổi Dần (Năm Tuổi)

Trong năm 2022, người tuổi Dần có không ít chuyện buồn phiền, buồn nhiều hơn vui, vận trình nhiều biến động, dễ có bệnh tật, hay bị họa thị phi, tài chính bất ổn, hoạ phúc ngang nhau nên phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, cố gắng tìm cách vượt qua khó khăn mới được.

Con giáp tuổi Mão

Tuổi Mão gặp năm Nhâm Dần chủ Bình Hoà nên mọi việc không được tốt. Năm mới này, bản mệnh không nên mở mang thêm công việc vì sẽ không được thuận lợi, như ý.

Riêng nữ tuổi Mão trong năm 2022 sẽ gặp nhiều khó khăn, bất lợi hơn nam. Bản mệnh có được sự giúp đỡ từ người thân thì mọi việc sẽ hanh thông, thuận lợi hơn. Đặc biệt, những người tuổi Mão trong năm mới này có lộc về ăn uống nên cần đề phòng các bệnh về tiêu hoá.

Con giáp tuổi Thìn

Năm Nhâm Dần người tuổi Thìn gặp hạn Tam tai nên mọi việc đều phải tự thân vận động. Bản mệnh cần chú ý khi xuất hành đi xa, quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe. Nhiều chuyện muộn phiền sẽ tới.

Năm nay công việc làm ăn của bản mệnh không có quá nhiều thay đổi. Tiền bạc cũng chỉ đủ tiêu.

Con giáp tuổi Tỵ

Năm nay, người tuổi Tỵ dễ bị họa thị phi nên nhẫn nhịn, lưu ý giữ gìn giấy tờ chứng từ, hợp đồng nếu không dễ bị kiện tụng, thậm chí bị tán gia bại sản. Năm phạm hại Thái Tuế dễ có kẻ tiểu nhân quấy phá, hãm hại. Tránh những hoạt động mạo hiểm.

Con giáp tuổi Ngọ

Người tuổi Ngọ gặp năm Nhâm Dần chủ về Tam hợp nên mọi việc đều hanh thông, có tin vui đến với gia đình, người thân và bạn bè.

Bản mệnh xuất hành đi xa sẽ gặp nhiều may mắn. Công danh sự nghiệp thăng tiến. Tiền bạc hanh thông.

Năm nay, người tuổi Ngọ có nhiều thay đổi về mặt tình cảm lẫn tinh thần. Tuy nhiên, bản mệnh chớ nông nổi, chủ quan. Bản mệnh cần thể hiện sự quyết đoán trong mọi việc.

Con giáp tuổi Mùi

Tuổi Mùi trong năm Nhâm Dần chủ về Bình Hòa nên mọi việc tương đối ổn. Năm nay người tuổi này dễ có tin vui, gia đình có thêm người hoặc có hỷ sự. Công việc gặp nhiều may mắn. Tiền bạc hanh thông, xuất hành đi xa gặp nhiều cát lợi.

Con giáp tuổi Thân

Người tuổi Thân năm nay bị hạn nặng nhất: gặp hạn trong sự nghiệp, tình duyên, sức khỏe, cả năm bôn ba, vất vả ngược xuôi, biến động nhiều, có khả năng cao thay đổi về công việc, nhà ở.

Công việc làm ăn hay học tập cực khổ, dễ gặp hoạ tiểu nhân, tránh gây gổ đánh nhau mà gặp họa đổ máu. Trong chuyện tình cảm có nhiều chuyện lặt vặt xảy ra khiến mối quan hệ xấu đi.

Con giáp tuổi Dậu

Những người tuổi Dậu năm nay sẽ gặp nhiều khó khăn trong công việc. Vấn đề tài chính cũng chưa được tốt. Sức khỏe cần được chú ý giữ gìn.

Con giáp tuổi Tuất

Tuổi Tuất gặp năm Nhâm Dần là Tam hợp, mọi việc khó khăn sẽ gặp được quý nhân giúp đỡ. Xuất hành đi xa gặp nhiều may mắn. Tình hình sức khỏe phải chú ý đến xương khớp, máu huyết cần thận trọng, không nên thay đổi công việc.

Con giáp tuổi Hợi

Năm Nhâm Dần người tuổi Hợi phạm hạn Thái tuế. Vận hạn này ảnh hưởng đến sự nghiệp, sức khỏe và tài lộc. Công việc bị kẻ tiểu nhân ngáng trở gây mất tiền.gia tre final.jpg

Sớ Táo Quân Năm Nhâm Dần

Năm Sửu sắp qua,

Cứ nghĩ mình già,

Thôi không đi nữa,

Thời buổi đại dịch,

Ai dám đi xa,

Hàng không, hỏa xa

Cancel đủ kiểu

Bước lên máy bay,

Nào là hộ chiếu

Ngóng đợi hụt hơi

Lại thêm passport

Chích ngừa Cô Vít

Đủ liều chẳng thiếu

Lại thêm test mũi

Móc họng nhớt ra

Tìm Corona

Âm tính mới được.

Lúc về thử trước

Chỉ một hai ngày

Dương tính bịnh lây

Cách ly ở lại.

Cho nên Táo ngại

Đi Đông đi Tây

Đường bộ gần đây

Cũng sợ đi nốt

Tuyết rơi một chút

Thủ đô tắt nghẽn

Xe cộ triền miên

Kẹt ngoài xa lộ

Hết xăng, hết điện

Một ngày một đêm

Vẫn chưa đến kịp.

Ở nhà cho yên

Cũng nhờ Netflix

Youtube, Google

Chu du thiên hạ

Hình ảnh thật rõ

Như thiên lý nhãn

Chỗ nào cũng vô

Đi mô cũng được

Phim lắm chuyện hay

Nhờ có phụ đề

Táo hơi lãng tai

Nghe cũng tạm hiểu.

Đó là chưa kể

Youtube tài tình,

Diễn đàn linh tinh

Chuyện học chuyện chơi

Cái gì cũng có

Vừa nhìn vừa nghe

Rất nhiều chuyện mới

Nhất là người Việt

Các youtubers

Nhảy vô rất hăng

Du lịch kiếm ăn

Thời sự lăng nhăng

Báo cáo đủ hết

Nhạc mới rập rình

Nghe qua chẳng hiểu

Họ hát cái gì

Nhạc xưa da diết

Táo mê xem riết

Quên tiếng Mỹ luôn

Tưởng mình còn đâu

Bên Việt Nam lận.

Nói sơ như vậy

Xin Ngọc Hoàng hiểu

Táo đây ở nhà

Đi vô đi ra

Chỉ hiểu sơ qua

Chuyện thiên hạ sự

Báo cáo từ từ

Ngài nghe cũng được.

Chuyện bệnh nói trước

Quá hai năm rồi

Cô Vít nổi trôi

Đi lên đi xuống

Hoành hành dữ dội

Rồi lại lai rai

Biến thể ra đời

Chữ cái Hy Lạp

Alpha, Beta,

Gamma, Delta

Qua 4 đợt sóng

Cuối năm 21

Lại đợt thứ năm

Biến thể Omicron

Đột biến thần thông

Trên ba chục chỗ

Nhiễm lẹ vô cùng

Trốn tránh lọt vòng

Phòng thủ miễn nhiễm

Xét về nguy hiểm

Thì ít độc hơn

Các biến thể trước,

Chỉ vào phía trên

Đường ống hô hấp

Nhưng lại nương tay

Các tế bào phổi.

Nhập viện vọt tăng

Bệnh viện rất căng

Bệnh lan quá lẹ.

Cũng may thuốc chữa

Chống lại siêu vi

Được FDA

Khẩn cấp chuẩn thuận

Vũ khí sắc bén

Vẫn thuốc chích ngừa

Mũi thứ hai rồi

Cần mũi booster

Tăng cường miễn nhiễm

Vẫn nhiều người bướng

Do dự chích ngừa

Lại thêm nhiều thuyết

Âm mưu đa nghi

Nhiều tiếng thị phi

Nhuốm màu chính trị

Chỉ hai phần ba

Dân chúng chịu chích.

Cầu mong người người

Chích thuốc đông thêm

Giúp tăng miễn nhiễm

Cho hết cộng đồng

Bảo vệ bầy đàn.xuan doan tu.jpg

Tổng kết hai năm

Tổn thất đáng ghê

Trên năm triệu chết

Số người nhiễm trùng

Cũng rất là đông

Trên 300 triệu

Trên toàn thế giới.

Tổn thất nặng nhất

Ở các xứ giàu

Mỹ tám trăm ngàn

Hết cả Châu Âu

Cũng chừng số đó.

Đó là chưa kể

Chết vì nghiện ngập

Ở Mỹ gia tăng

Gấp đôi hồi trước.

Giáo viên từ chức

Hết muốn đi làm

Sợ lây Covid

Vừa dạy từ xa

Giữ con ở nhà

Thật quá sức mệt

Trẻ con ngồi nhà

Không tới lớp học

Kiến thức tụt xuống

Thiếu bạn thiếu thầy

Cá tính rối loạn

Qua năm hăm mốt

Tử vong Covid

Việt Nam khá nặng

Băm bốn ngàn người

Ca sĩ Phi Nhung

Qua đời quá trẻ

Nhiều người thương tiếc

Riêng vùng Sài gòn

Hết chuyện làm ăn

Lại không nhà ở

Thiên hạ rần rần

Chạy khỏi Thành phố

Đi xe đi bộ

Rồi lại chạy về.

Cũng nhờ vắc xin

Nước ngoài viện trợ

Chích ngừa liên miên

Tình hình khá ổn

Đợi Tết Nhâm Dần

Du khách khắp nơi

Dần dần trở lại.

Tin buồn quá sức

Thế giới khắp nơi

Ai cũng phải chịu

Thế vận hội dời

Bỏ năm 20

Qua năm hai mốt

Đông kinh vắng người

Qua đi lặng lẽ

Riêng ở nước Mỹ

Có tổng thống mới

Già nhất xưa nay

Chính sách đổi thay

Rút quân cái rụp

Khỏi A Phú Hãn

Nhìn buồn lắm thay

Người rớt máy bay

Người bị bỏ lại

Chuyện xưa ngày nay

Ba mươi tháng tư

Tái diễn như cũ

“Đồng Minh Tháo Chạy”

Tỵ nạn theo sau

Ào ào đến Mỹ

Trông người lại nghĩ

Đến mình ngày xưa.

Nói qua kinh tế

Chính phủ Bai Đơn

Chi tiền mỏi tay

Tính mấy ngàn tỷ

Tiền phát thật vui

Tới tay mọi người

Đô la lạm phát.

Chuyên chở ngoài khơi

Tắc nghẽn không tới

Hàng hóa khan hiếm

Xe cũ xe mới

Thức ăn xăng dầu

Giá tăng vùn vụt

Tô phở nước mắm

Giá tăng gấp đôi.

Mong sao năm tới

Kinh tế lại mở

Thiên hạ đi làm

Hết còn khiếp sợ

Ru rú trong nhà,

Trẻ được đi học

Cha mẹ kiếm sống

Thoải mái cuộc đời.

Thần nói đã dài

Mà chưa hết chuyện.

Thiên tai liên miên,

Địa cầu hâm nóng

“Global warming”?

Tranh đấu chủng tộc

Da trắng da đen

Tố nhau không nghỉ

Lý luận phê phán

Chủng tộc màu da

Moi móc nêu ra

Tội người da trắng.

Viết lại lịch sử

“Cách mạng văn hóa”

Dắt nhau ra tòa

Thay đổi tên đường

Kéo sập đài tượng

Dân Á ở giữa

Cũng bị họa lây

Hành hung đủ thứ

Người già phụ nữ

Giết chóc hành hung.

Cộng Hòa- Dân Chủ

Tung toàn độc thủ

Tố cáo lẫn nhau

Bai-đơn với Trump

Kỳ phùng địch thủ

Công thần cựu trào

Phe cũ lao đao

Điều tra tới tấp

Bao nhiêu chính sách

Đảo ngược tức thì

Cũng không khác chi

Chuyện “Bên thắng cuộc”.

Nhiều thứ khác nữa

Nhưng thôi kể qua

Nói vào nói ra

Không qua đại dịch.

Thiên hạ túng quẫn

Giới hạn tự do

Thêm đủ thứ lo

Sinh ra khó chịu

Gây gổ đấu ó

Dưới đất trên trời.

Trước khi hết lời

Thêm một tin nhỏ

Phải nhắc cho vui

Năm Sửu gần hết

Gần nhà Thần thôi

Ở Maryland

Bác sĩ chịu chơi

Lấy trái tim heo

Biến đổi chút gen

Ghép thay tim người

Đến nay vẫn sống.

Lắm người lo lắng

Tương lai về đâu

Nửa người nửa lợn?

Mai mốt biết đâu

Táo rụng hết râu

Thành Trư Bát Giới?

Thần biết Thiên Đình

Là nơi quá sạch

Nhưng vì Covid

Biến hóa không lường

Như Tôn Ngộ Không

Đại náo Thiên Cung

Nên Thần cũng ngại

Xin Ngài về sớm

Tiếp tục cách ly

Nếu qua Nhâm Dần

Bổn mạng bình an

Thần xin trở lại

Sung sướng hân hoan

Mừng được sống sót.

Trước khi lạy chào

Xin ơn mưa móc

Giúp cứu chúng tôi

Người người thương nhau

“Sống cùng COVID”!

(VB)nam moi.jpg




VĂN – Chiêm Bao Xuân – CAO MỴ NHÂN

CHIÊM BAO XUÂN

*

Vừa ca tụng thu hôm nào, tuy mới thoáng sương bay thôi, mà sao chẳng thấy heo may, lá vàng . 

Vốn từ xưa mình không thích mùa thu buồn…trong lòng đã không vui rồi, dan díu nỗi buồn làm chi, nhất là có năm nhuận 2 tháng sáu âm lịch, sắc hạ chưa phai trên môi thắm, thu cứ việc chậm về . 

Anh lững lờ như một cánh chim rời tổ ấm, đi tìm địa đàng, 

Rồi lại rời địa đàng, tìm về tổ ấm, hơn 3 tháng rồi, e gần 4 tháng, mà cánh dù cứ tít tắp bay xa…

Mình buộc phải thân thiết với thơ, nói chuyện thì thầm với thơ cho vơi niềm thương nhớ …

Ố ô, bây giờ mình …hết cả giai đoạn nhớ nhung một hiện trạng rõ rệt, như là nhớ quê hương, nhớ gia đình, nhớ học đường, hay nhớ  công ăn, việc làm như ngày xưa, thủa mới lớn, nhớ một hình ảnh ai đâu đó  vv…

Bây giờ mình nhớ tổng quát, nhớ ôm đồm. Sư kiện gì, nhân vật nào hay ho, mình cũng có thể nhớ, hay là nhớ kiểu nhớ  …

chùa.   

Tức là nhớ đấy, nhưng không phải mất mát, không phải thiếu thốn, khốn khổ vì nhớ, vì tiếc, vì thương trời ạ, nói một cách văn chương bình dân học vụ của mình, thì nếu trong lòng thấy như trống vắng, thiết tha một …yếu tố gì đó,  kiếm cách giải tỏa được là OK liền à. 

Cái tính dễ dãi cho tình cảm bộc phát, mình thấy lúc này mình gần gụi thơ Bùi Giáng dễ sợ. 

Thí dụ như trưa nay, ngó về phương nam, nắng nồng nàn, chan chứa yêu thương, mình ngẫm nghĩ tới cái điều mình đang yêu thương gì đó nhất. 

Đơn giản, mình trả lời chính mình, yêu thương cuộc sống này . 

Nếu ai hỏi tại sao, cuộc sống này cũng bình thường, còn có thể tầm xoàng thế mà yêu với thương nỗi gì ? 

Thì mình sẽ trả lời là tại quý vị nào đó, nghĩ nó tầm xoàng thì xoàng xĩnh thôi. Chứ tôi vốn trân trọng nó, cái cuộc sống tầm xoàng của tôi, tôi yêu thương nó trên cả kim đá quý, thậm chí quên cả bổn mệnh nữa, dễ sợ chưa? 

Nếu ai đó hỏi gặng thêm: rằng hiểu vậy thôi, nhưng bên trong  cuộc sống ấy, nó có gì cụ thể mà người nào ngó thấy cũng phải gật đầu: ” Đúng quá !” 

Thì ra lại muốn chứng minh cái cuộc sống đẹp hay vừa ý của mình, ấy là mỗi ngày viết thư cho anh ít nhất một lần, dù vài dòng, và nghe thơ Bùi Giáng lúc nào cũng được, hân hoan, hồn nhiên: 

Xin chào nhau giữa con đường 

Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau … ( Bùi Giáng ) 

Tôi nhớ cuối thập niên 60 thế kỷ trước, một sự tình cờ, ở đâu thì tôi quên bẵng, nhà thơ Viên Linh bảo rằng : ” Ở VN, tức miền nam, Văn thì chỉ cần ông Võ Phiến, Thơ thì Bùi Giáng là đủ ” . 

Như vậy, chứng tỏ một thi sĩ cũng khá tiếng tăm rồi, như Viên Linh, mà khen thơ một thi sĩ khác, và nhận định thơ Bùi Giáng là đã đủ cho nền thi ca VN . 

Ngay thời đó, tôi  mang một tập thơ Bùi Giáng từ Saigon về  Đà Nẵng, và thú thật, ngày ấy chắc tôi chưa đủ trình độ đánh giá được cái hay của thơ Bùi Giáng : 

Em sẽ bảo rằng anh say rượu quá

Anh say sưa từ bấy tới bây giờ 

Anh huậy mãi cuồng điên anh đập phá

Anh điên rồ anh có rõ hay không ? 

Anh đáp lại rằng anh rất say rượu 

Anh mê man chẳng rõ ràng rằng 

Từ vạn đại tới thiên thu bừng nở

Một mùa xuân thịnh vượng vốn thường hằng 

Đó là 2 đoạn thơ xem như tiêu biểu cuộc đối đáp giữa 2 người trong một cuộc nhậu, mà vẫn chỉ Bùi Giáng viết lại vào khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ trước, khi ông đã thực  sự …điên rồi . 

Trong cơn say, khi điên, ông còn tỉnh táo viết một bài thơ 8 chữ dài trên một trăm câu, với 2 câu lục bát  làm lời kết: 

Tuyệt trù non biển vời trông

Tần thân thổ lộ vân mòng đã xa…

( Ghi rằng viết tại Lê gia trang  1991 )

Câu chuyện giữa một người được thi sĩ Bùi Giáng tôn phong là đại ca  Ngô Văn Tao, còn thi sĩ tự xưng là Bùi Văn Trẫm . 

Ngay trong cơn say, nhà thơ điên loạn vẫn có những câu thơ xuất thần và biểu lộ lòng chân thành với cuộc đời ông: 

Anh đã định sẽ yêu đời suốt kiếp

Suốt thiên từ vạn thuở phiêu bồng

Rồi anh chợt thấy mình luôn liên tiếp

Nửa điên cuồng nửa rồ dại bông lông 

            ( Bùi Giáng.   1991. ) 

Nghĩa là nhà thơ Bùi Giáng biết ông điên trong nỗi điên lạ kỳ, biết điên rồ, muốn tỉnh lại nhưng không tỉnh được  vì cuộc đời ông là những phiêu bồng, điên cuồng, rồ dại , bông lông. 

Trong thơ ca điên của Thi sĩ Bùi Giáng nó mang cái chất hay của điên, huống hồ bài thơ viết khi ông còn tỉnh táo, thì đúng là thi sĩ của cả miền nam thi sĩ cộng lại : 

Hỏi  rằng người ở quê đâu

Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà . 

Đó là cái giọng văn, giọng thơ Bùi Giáng, không thể lẫn lộn với thơ ai được . 

Song không phải thơ Bùi Giáng đứng lại nơi thềm hoang toàn những ngữ ngôn ngô nghê, dân giã …như vậy. 

Thơ ông, Bùi Giáng, người thi sĩ tài hoa trong ngôi  đền văn chương, có những vần thơ hết sức truyền thuyết hoang đường, huyền thoại…Đan cử là bài thơ ” Chiêm bao” mà tôi đã nhắc nhở  tới nhiều lần…

Anh thân kính ơi, rõ ràng cuộc sống là cái mốc cho người đời chúng ta, hay là quý vị và chúng tôi, tìm thấy niềm vui ở  bất cứ lứa tuổi nào. Nó,cuộc sống, sẽ kèm theo hoài bão hay ước mơ của mỗi người dù tỉnh dù say .

Không phải là tham sinh uý tử, nhưng ngay từ lúc Thượng Đế 

sanh ra ta, Ngài có muốn chúng ta phải tự hủy diệt bao giờ. 

Vì thế cho nên dẫu có thể bất như ý tình cờ, thi sĩ Bùi Giáng vẫn là người yêu đời nhất,lạc quan tin vào cuộc sống

một cách … trầm mê, hồn nhiên tự tại …

Trong thơ thi sĩ Bùi Giáng  luôn chứa đựng mùa xuân và chiêm bao, với mình anh cũng là mùa xuân và chiêm bao, nên mình rất thích những huyễn ảo, hoang đường này …

                 CAO MỴ NHÂN 




THƠ XUÂN – CAO MỴ NHÂN –




Nhớ Về Một Nhơn Sĩ Miền Nam – Cố Tổng Thống Trần Văn Hương – MAI THANH TRUYẾT

Cố Tổng Thống Trần Văn Hương




VĂN – KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC – MÓN NỢ…CÁI BAND AID – MỘT MÙA XUÂN RẤT XA… Tác giả: Thái Nữ Lan

KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC– TháiLan/ nữlan

Thương tặng các bạn cư xá Jeanne d’Arc & Xavier, của một thời vàng son yêu dấu…

&&&&&&

… Trường Đại Học Khoa Học. Năm Dự Bị . Có vài sinh hoạt liên lớp chung, biết được nhiều anh chị em sắp ra trường, hoặc mới vào năm thứ nhất…  

-“Thiên An ơi, có thư nè.- Của ai vậy?- Còn ai trong khoai đất này nữa.”

 Người bạn cùng lớp đưa tôi một tờ giấy học trò xếp thành cái súng,..Bữa ni thì là cây súng, có bữa thì cái hoa, hình trái tim, hình tam giác…

 – “Cám ơn Trực nghe!” Tôi mỉm cười, không biết mình đang nghĩ gì?.. Người viết thư ở cùng phòng cư xá nam với Trực, 3, 4 lần/tuần nhờ chim xanh trao thư cho tôi…Tôi cố không dám nghĩ đến lá thư, vì hình như tôi cũng đã quen với những lời dễ thương trong ấy…câu…

  “Anh có thể viết cho bé được không”… – “Bé thích hình nào?..”

Tôi nghiêm chỉnh nghe thầy giảng bài. Hôm nay là giờ học về Tâm lý của Tuổi Trẻ. Đây là một trong những môn quan trọng cho tất cả các sinh viên, làm người “Gõ đầu trẻ” **(1) tương lai, hoặc làm việc ở bất cứ nơi nào, những môn chính của  sinh viên. Không thể “lọt danh sách” ở kỳ thi cuối năm được! Từ lớp tiểu học, tôi đã là một học sinh có hạng trong các lớp, nay không vì những chuyện “không nhỏ” ấy làm chi phối việc học tập của mình, Công Cha Nghĩa Mẹ Ơn Thầy thật bao la trời biển..

Sau buổi học, tôi và Lan Thanh, cô bạn thân nhiều năm nay, rảo bước về cư xá nữ sinh do các “sơ (soeurs) quản lý. Hai đứa ở chung phòng với Điểu, một cô bạn học Y Khoa , vì cô nàng giỏi những môn không phải là văn chương nên tính tình bộc trực như con trai. Lan Thanh thì hiền thục đoan trang, tôi thì ở giữa hai nàng, có lúc ngỗ nghịch, có lúc ít phá hơn, chỉ đôi khi trèo tường buổi sáng cùng với vài đứa nữa để  chạy ra bờ sông bơi lội rồi về bằng cửa nhỏ mà các sơ để cho giáo dân vào xem lễ ở nhà nguyện nhỏ trong cư xá…  đánh vũ cầu dưới sân rồi mới lên phòng sửa soạn đi học…

 Ôi cái thời sinh viên thật đáng quý làm sao!

 Thời trung học thì không dám đi mô hết, vì rất sợ không cầm được mảnh bằng Tú Tài… Bi chừ thì cũng phải cố gắng , nhưng cũng không đến nỗi lo nhiều như xưa… Với lại bi chừ thì mình cũng… hơi lớn rồi, tim cùng đập loạn xạ khi có đứa bạn khác phái ngồi sau lưng giả bộ mượn tập chép bài vì “Thầy nói nhanh quá, bạn ghi không kịp..” để vẽ bất cứ bức hình gì mà tôi rất thích, mà anh ta vẽ giỏi thiệt, trong vài chục phút mà hoàn thành hình ban nhạc Beatles là thần tượng của bao giới trẻ thời ấy..  hình nhỏ bằng nửa trang vở thôi, nhưng rất giống, rất đẹp, hoặc hình cô gái…kèm theo vài lời dễ thương…”Tại răng mà mắt buồn..?”….”Tại răng mà răng khểnh?”…

 Đợi lúc hai cô bạn ra hành lang hóng mát, tôi mở lá thư ra đọc:

 ” Thiên An ơi, nhớ trả lời cho anh nhé, anh có thể gặp mặt bé chiều mai, sau giờ học, ở phòng khách được không?”…

 Tôi ôm lá thư vào lòng, đây là thư thứ 5 rồi, những lần trước anh chỉ viết vài câu…

 Tôi phải vội vàng viết mấy chữ trả lời:  “Dạ cám ơn anh, nhưng có lẽ để ít lâu nữa được không anh?”

Vì tôi rất sợ đám bạn và các chị em đông đúc trong cư xá, đứng trên lầu tôi đã chứng kiến nhiều màn chọc phá của họ mỗi khi cô sinh viên nào bước xuống , đi dần ra phía phòng khách…

Hẹn lần hoài hoài như rứa,… đến hai tuần sau, tôi cũng phải “gánh chịu” cảnh vừa đi vừa liếc nhìn trên lầu xem nàng nào đang đứng chọc mình… để ra phòng khách tiếp anh … Ngồi nói chuyện, có một sơ đang ngồi làm việc sổ sách cách đó không xa… (Chắc làm bộ làm việc thôi, còn thì chủ yếu là lắng nghe “tụi hắn” nói cái chi…!)

Trước khi nhận lời tiếp chuyện anh, tôi cũng đã viết thư hỏi Ba Me tôi, vì cũng có một anh chàng không quân, rồi một anh dược sĩ…

 Tất nhiên Ba Me tôi bảo nên chọn anh dược sĩ, nhưng rồi sao tôi thấy anh Nhật  rất hiền hậu – tôi nghe nói các anh lái máy bay thì rất bay bướm, còn những anh “sĩ, sư” thì ít trung thành… Sau buổi nói chuyện, anh Nhật  vẫn tiếp tục nhờ Trực mang thư đến lớp cho tôi, có khi kèm theo ô mai là món tôi rất mê (Không hiểu tại sao anh biết món tủ của tôi hè??)…

Anh bảo cho anh gặp vài lần nữa vì hè năm nay ra trường có thể anh sẽ phải nhận nhiệm sở thật xa..- Anh học trên tôi ba lớp -… Gia đình tôi thì ở xứ sương mù, tôi lại phải đi học ở thành phố khác, gặp nhau chắc khó lắm…

 Tôi rất quý sự từ tốn, dễ mến của anh… và

“Một người rất gan lì, luôn muốn đứng đầu, làm lãnh tụ, mà chừ phải chịu thua một cô bé học trò trường mẫu giáo Lê Lợi, bé ơi…”

(Anh đã nói như rứa khi em viết cho anh về tháp đèn của trạm phát sóng Truyền hình: “Anh à, nhìn giống như ông khổng lồ hút thuốc quá, phải không anh?” – buổi tối, sau khi học bài xong, nhìn ra bầu trời xám, chỉ  có một chóp đỏ trên cao của tháp truyền hình, lúc tắt lúc sáng,…có khi có vài đám mây lơ lửng chung quanh như khói thuốc …, )

…Mà cũng rất nồng nàn:

Tôi hỏi anh tại sao anh xếp hình cái súng, cho con trai mà… Anh trả lời:

Vì trong bài hát “Bang Bang”- “Khi xưa ta bé”… Có câu “Em bắn ngay tim”, em đã bắn trúng tim anh rồi , bé ạ, tim anh từ đó chỉ đập khi có em …

Những tháng ngày sắp đến hè, thi cuối khóa, tôi vừa lo phải cố qua tất cả các môn, vừa buồn vì sắp phải xa anh…

Tôi như ngập chìm trong niềm hạnh phúc, anh bảo tôi phải cố gắng học để “hoàn thành bổn phận với phụ thân đã lo cho bé đến hôm nay”, mơ tưởng rồi sang năm học tới tôi sẽ nhận được những dòng chữ đầy yêu thương của anh, chờ đợi tôi…

“Anh muốn bé là mục đích sau cùng của anh, bé đồng ý nhé?”

 Nhưng rồi, cuộc đời ít khi được như lòng người mơ ước, dù đơn giản đến đâu…

Một hôm tôi nghe được rằng có một cô học cùng khóa với tôi nhưng khác ngành đã yêu anh ấy lâu rồi,…

Có thật như thế không? Lạy Đấng Tối Cao…

Tôi đã rất đau khổ khi nghe được tin ấy…

Con phải làm như thế nào đây, Ba ơi, Me ơi…!

Các bạn của tôi, có ai như tôi không…?

Tôi hỏi bạn thân Lan Thanh, và cả Điểu nữa, họ đều nói “Cả trường ai cũng biết là cô ấy thích anh Nhật  từ lâu rồi, nhưng ít người biết  Nhật đã chọn Thiên An…”

Tôi hỏi ý kiến vài người bạn khác, theo họ thì  “Đó là tùy Thiên An và anh ấy thôi, nếu như lâu nay anh ấy viết thư cho An, thì có nghĩa là anh ấy không để ý đến cô kia…”

Tôi là một người hay chịu phần thiệt về mình,… nên đã quyết định… vì tôi rất cứng rắn, tôi chỉ sợ cô kia sẽ có những hành động không tốt đối với anh ấy…? Tôi hy sinh để anh được yên…

Những ngày sau đó… tôi đã không trả lời những tờ thư học trò thương quý của tôi được nữa,.. .tôi đã chọn sự im lặng…

&&&&&&

 Ngày tôi lên phi trường về lại xứ sương mù hai tháng hè,… Lúc leo lên thang máy bay, tôi chợt nhìn thấy…anh đứng ở cửa phòng chờ hành khách, nhìn theo, đôi mắt thật buồn… Làm sao anh biết ngày giờ tôi ra đi để phóng xe lên đây…? Ai đã nói cho anh biết?

 Trong suốt hai tháng hè, tôi đã thật buồn và chán…Anh đang ở đâu, làm gì, anh có hiểu tại sao chúng mình lại như thế này không, anh Nhật ơi…

Đến ngày phải nhập học , tôi trở lại trường…

Ngạc nhiên và buồn , xúc động, đau đớn…khi nhìn thấy anh đứng ở cổng cư xá…chỉ nhìn vào, vì anh biết có vào hỏi “sơ” (soeur) phòng khách, bạn tôi cũng sẽ trả lời là tôi đi vắng…

Tôi cũng không hiểu làm sao tôi biết được anh đã nhận nhiệm sở ở một thành phố miền Nam…

&&&&&&

Năm 1975… Loạn lạc, không ai biết tin tức của ai nữa..

Trực ơi, bây giờ bạn ở đâu? Gia đình bạn ở đâu, có hạnh phúc không? Trực có biết anh Nhật  hiện đang ở nơi nào không?

Nếu Trực có gặp anh ấy, nhắn với anh cho Thiên An gởi vạn lời tạ lỗi, ngày xưa sao An dại quá, và không biết suy nghĩ mình phải hỏi Trực, và hỏi anh ấy sự thật về cô ấy như thế nào, tại sao Thiên An phải hy sinh tình yêu của mình, để rồi cả anh ấy và An đều đau khổ…

Mà nghĩ cho cùng, tại sao An phải hy sinh cơ chứ, phải không Trực? Tại sao ngày ấy bạn không hỏi mình, chắc anh Nhật có tâm sự với bạn chứ?

Anh Nhật ơi, hiện anh đang ở đâu, cho Thiên An nói lời xin lỗi anh,

Giá như.. Giá như…mình có thể nói chuyện với nhau lúc ấy… anh Nhật..

&&&&&&

Nhiều năm qua,…biết được cô gái kia cũng đã có gia đình với người khác,…còn anh tôi không có được tin tức.

Anh đang ở đâu?

Chắc anh chẳng còn nhớ đến con bé học Đại Học mà cứ như còn ở Tiểu học nữa rồi …

Chắc anh đang rất hạnh phúc…

“Trả lại em yêu

KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC…

Ðem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ

Ðem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ…” **(2)

Anh đã trả lại hết cho bé rồi, anh không còn nhớ chút gì nữa sao anh ơi…?

***************

“Giòng lệ tưởng trôi phăng đời niên thiếu

Vẫn còn nguyên vang bóng thuở ban đầu

Hơi tiếng người xưa hồ dễ quên đâu…”  – VŨ HOÀNG CHƯƠNG- Ta Đợi Em TBa Mươi Năm

******

Theo mây bay, tìm mãi hướng trăng thề.

Nhắc làm chi? Còn nhắc nữa làm chi…! ” – ĐINH HÙNG- Cánh Chim Dĩ Vãng- 

&&&&&&

Dallas, mùa nhập học thật buồn- 2018-TháiLan/ nlan

===========

Ghi Chú:

1/- Nghề dạy học.

2/- Bài hát “Trả lại em yêu”- Phạm Duy.

*****

MÓN NỢ…CÁI BAND AID

Tựa đề bài viết dựa theo tựa của truyện thật dễ thương ” MÓN NỢ DĨA BỘT CHIÊN” của một huynh đệ Hướng Đạo của tác giả…

 ==============

 –  Mau đi cô nàng, hôm nay có giờ của Thầy Hùng, nhớ không nhỏ? Mi mần chi mà cà rề từ nãy giờ?

  -Dạ vâng, em đây ạ.

Tôi chạy ra hành lang cư xá, nơi cô bạn hiền đang đứng chờ, chắc hơn mười phút rồi. Ngày nào cũng vậy, không hiểu sao mình chậm ghê luôn. Mình đâu có trang điểm gì- nét đẹp hiện hữu trong sự đơn giản mà! Có lẽ vì cứ lấy áo này ra, nhìn trời, rồi lại chọn áo khác..Lúc xưa phải chạy theo cái đồng hồ để lãnh được bằng Tú Tài, nên đôi khi cái áo không thẳng nếp cũng cứ xỏ vô đại. Bi chừ thì. Mình phải “chải chuốt”một tí chứ!

Cư xá Jeanne d’Arc của các soeurs ở Huế không xa khu Đại học với nhiều phân khoa: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, và ở lớp học bên Văn Khoa, trên lầu – ngày xưa là khách sạn Morin -, có thể nhìn ra cầu Trường Tiền mộng mơ của đất Thần kinh, nên không ít cô cậu giành chiếm chỗ ngồi bên cạnh cửa sổ…

Trường Khoa Học. Hôm nay là giờ cuối của môn”Hóa Vô Cơ” là môn tôi không mê tí nào, vì nó quá phức tạp đi thôi ! Nhưng Thầy Hùng rất giỏi, mỗi năm Thầy cứ bay ra-vô Huế-Saigon, thầy tốt nghiệp Đaị Học Dược Khoa bên Pháp với bằng Tiến Sĩ, nên các trường Đại Học Saigon và Huế đều mời thầy giảng dạy. Cộng thêm với những môn khó nuốt của thầy, thầy lại rất nghiêm khắc, không dễ tí nào, nên sinh viên thường gọi thầy là “Ông Kẹ”- kính Thầy, con xin lỗi Thầy-  .

Rồi Thanh và tôi cũng đến giảng đường, và kịp giờ các bạn đang lục đục vô lóp. Giờ học hôm nay tôi lại rất thích thú, có lẽ tôi áp dụng câu “Muốn là được”, mình cố gắng thích môn học này vì nó rất quan trọng!  …

Hay là vì tối nay có cuộc họp vui với mọi người bên cư xá bạn?  -Có lẽ cả hai. Giờ học cuối; sau vài ngày nghỉ lễ sẽ phải làm bài thi, mà không qua được môn này thì..không được tí nào cả! BaMe…phải chăm chú thôi, Ti Lì ơi!….

Chiều cuối ngày. Cả bọn trong cư xá lao nhao, mặc áo gì, quà cáp để trao đổi đã xong chưa?…Trong phòng ba đứa như ba chị em một nhà

 – Nhóc, mi mặc áo khoác ni thì hợp với áo màu đỏ gụ bordeaux nè… – Mi đeo xâu chuỗi này nhé? Hợp với làn da trắng của mi nè – Còn mụ da nâu thì sao? Tôi phụng phịu giận dỗi vì chúng nó cứ lo cho nhau, bọn hắn da dẻ thật sáng, mặc màu nào cũng hợp, còn tôi….!

… Nhưng rồi, cũng xong.

Nguyên một đám sáu đứa trong số 43 của cư xá đồng ý đáp lời mời của cư xá nam láng giềng để dự buổi tiệc cuối năm Dương lịch bên giang sơn của họ. Chúng tôi là những người gần cuối bước vào căn phòng thư viện đã được dọn dẹp bài trí rất gọn gàng dễ thương… Bài diễn văn của anh Chủ tịch, rồi đại diện các cư xá..bài nào cũng thật hay, nhắc nhở bổn phận của mọi người ở xa gia đình nhưng cố chú tâm học hành để khỏi phụ lòng song thân và thầy cô trong kỳ thi cuối khóa, nhất là các anh chị sắp ra trường; và lời chúc may mắn… Ca hát, vui đùa thỏa thích..

Đến giờ ra về, thấy anh Trọng học Y3 (Y Khoa năm thứ 3) dẫn chiếc xe gắn máy nhỏ Caddy mà tôi rất thích, tôi liên hỏi mượn để chạy thử. Vừa đi được một đoạn, loay hoay thế nào, tôi lại té ngã ngay bùng bình trước cư xá. May mà lúc đó cũng hơi khuya, nên đường vắng. Trầy một chút ở cườm tay và đầu gối. Tôi được sơ cứu cẩn thận.

Chiều hôm sau, vài đứa rủ nhau đi chợ để mua quà tặng các soeurs trông coi chúng tôi, vừa về đến phòng, tôi được thông báo là có người đang chờ ở phòng khách. Lại chạy xuống. Đó là người chủ của xe Cady, anh đưa tôi một gói bông băng và nói:

 – Chúc Lang nhớ chăm sóc các vết thương, nhất là vết ở đầu gối bị trầy nhiều, kẻo bị làm độc nhé! Anh Trọng xin lỗi Lang vì cái xe làm Lang đau… – Đâu phải tại cái xe đâu, mà tại vì Lang giỏi quá mà! Ủa mà sao kỳ vậy, lúc nãy anh có nhờ sơ (soeur) trao lại cho Lang một gói rồi mà!  – Không phải của anh đâu, bây giờ anh mới đến, hôm nay bọn anh phải đi thực tập ở nhà thương mới vừa về.

Tôi trả lời qua loa mấy câu hỏi của anh về vết thương, về việc học…Anh dặn nhớ học kỹ hai môn Hóa Hữu Cơ và Vô Cơ nhe.  (lại còn biết tôi không thích hai môn này nữa ta! Sao hay vậy!). Anh về. Tôi lên phòng. Và mở gói kia ra: cũng những lời dặn như anh Trọng, nhưng bên dưới ký tên: Tôn Thất Khôi. Ah! Tôi nhớ ra rồi. Anh Khôi và anh Trọng học cùng lớp, tối hôm qua hai anh đại diện cho một cư xá đến chung vui đây mà. Hôm qua là lần đầu tôi gặp các anh, sao các anh lại biết cư xá của mình vậy ta?

Sau ba ngày nghỉ lễ cuối năm, hôm nay trở lại những ngày học bình thường. Chúng tôi học xong hai giờ đầu, giờ Toán của Thầy Nhơn.

Đến giờ thứ ba là giờ Anh Văn, hôm nay Thầy Ấm phải đi công tác đột xuất nên được nghỉ; vì còn tiết thứ 4 nên không về được, Kim Thanh và tôi bèn rủ nhau qua Hội Quán Sinh Viên ở bên kia đường để xem thử, từ hồi đầu năm đến giờ chưa dám ghé vô, vì nghe nói trong đó có rất nhiều nam sinh viên nên ngại. Thật vậy, quán có vài bàn có vẽ sẵn bàn cờ tướng, nên các anh thường thích vô đây để tỉ thí. Nhưng cũng có hai bàn có nữ sinh viên đang ngồi chuyện trò. Có lẽ các cô từ trường Văn Khoa hay Sư Phạm cũng ngày sát trường Khoa Học đây thôi, họ ghé uống cà phê. Hai đứa tôi vừa uống nước vừa nói chuyện thật thư giãn, làm như ở cư xá không thể tâm sự..Mà thật ra khi về phòng thì đứa nào cũng chúi mũi vào việc học…

Kim Thanh bỗng nhìn vào tay tôi và nói:

 – Sao sáng ni mi băng tay không kỹ chi hết, thuốc thấm ra kìa! Tôi đưa tay lên, và thật vậy, cái band aid đã bị nhuốm thuốc đỏ (vết thương này nhẹ nên tôi xem thường, chỉ chú trọng đến vết thương ở đầu gối bị trầy sâu hơn).

 Ngay lúc đó, có một anh từ bàn bên cạnh bước qua và đưa cho tôi một cái band aid. Đó là anh Minh, bạn của anh của Kim Thanh. Tôi nói:

  – Dạ Lang cám ơn anh, nhưng mà sao anh có sẵn băng hay vậy?  

– Vì anh nghe nói có một cô bé hay bị ngã hoặc trầy xước tay nên thủ sẵn trong bóp…!

Anh Minh học Y Khoa, và sắp ra trường. Tôi chỉ gặp anh một lần ở nhà Kim Thanh, khi vào Đà Nẵng thăm gia đình bác tôi, vài tháng trước đây…

Chúng tôi phải trở về trường, để học giờ Lý.  

Khi về cư xá, Kim Thanh nói tôi là anh Minh sau khi gặp tôi ở nhà bạn, thường hay hỏi thăm về tôi:

-Thanh ơi, tính tình Chúc Lang như thế nào? Ngoan không? – Khỏi phải nói anh ạ, hắn ngoan lắm, chỉ có tội nghịch phá thôi!

– Ha ha! thiệt vàng sợ chi lửa cô nàng ơi? Nè, mà ta hỏi mi nè: nhìn mắt ta xem, sao “họ” cứ bảo mắt ta buồn hả?  

– Chứ còn chi nữa! “Người em sầu mộng muôn đời” mà!  *1/- Với lại, mi còn có cái răng khểnh nữa kia!

 – Ah! cái con ni! Thiệt không đó? nè, muốn ta bao cái chi thì nói nhe, đừng cho ta lên mây! té đau lắm!. ở cư xá ni và cả Viện Đại Học, bao nhiêu người đẹp nổi tiếng, mình chỉ là con số zero mi à  – Cái con khỉ! nhưng mà có lẽ họ thích cái tính chân thật không điệu đà của mi đó nhỏ à  -Vậy sao? Cám ơn nhe!

Rồi Thanh còn nói anh Minh hỏi có nhiều người theo Chúc Lang không, Thanh nói thì cũng có thấy họ gởi thơ, họ nói chuyện với cô nàng, nhưng làm sao biết được con tim của hắn…

….

Sao mà khổ ghê! Hai người Sơn Tinh & Thủy Tinh đem băng bông quà cáp cho tôi thì tôi cho là bình thường. Hoặc ai đó cùng lớp làm thơ ướt át rồi tặng mà sao mình không nhớ chi hết. Tại sao cái band aid nhỏ bé kia cứ làm mình suy nghĩ vẫn vơ..

Đến ngày Tất niên. Tết Nguyên Đán. Các trường Đại Học đều tổ chức Đêm Luật Khoa, Đêm Sư Phạm,…v.v..

Vài bạn học và bạn cư xá đi với tôi để dự Đêm Luật Khoa vì giờ tổ chức sớm hơn, rất phù hợp với bọn tôi vốn rất sợ ma.

Đây là buổi trình diễn văn nghệ rất đa dạng do các sinh viên trình bày. Các anh chị/ bạn/ các em thật là đa tài! Có đủ tân cổ giao duyên, kịch là những màn rất tốn thì giờ để diễn tập, so với đơn ca hoặc hợp ca…

Đến sẩm tối- cũng còn một, hai màn nữa, nhưng chúng tôi phải về.

 Cả bọn sáu đứa chúng tôi ở hai phòng gần nhau nên rất thân nhau, thường tụ tập ở một phòng sau giờ học bài để nấu mì gói – dùng cái resistance điện để nấu nước sôi, lén các soeurs vì tất nhiên là món này bị cấm…

Vừa ra khỏi giảng đường của trường – được dùng làm “rạp hát”-  , thì anh Minh đến, xin phép để tiễn chúng tôi một đoạn. Chúng tôi đi qua Cầu Mới, là cầu mới xây, sau năm 1968 khi cầu Trường Tiền bị người “tốt” giật sập mất một nhịp, khiến người Huế rất phẫn nộ đau buồn…  Các bạn biết ý nên để anh và tôi đi phía sau.

Tối hôm đó trời thật trong, ánh trăng lưỡi liềm chiều xuống mặt sông Hương đang gợn sóng li ti thật đẹp và thơ mộng… Anh kể chuyện vu vơ, chuyện học, chuyện ở quê Đà Nẵng của anh, tả những cảnh vật thật nên thơ bình dị…

Đến lúc sắp chia tay, anh nói : – “Chúc Lang cho anh viết thư cho bé nhe”. Tôi không biết phải trả lời như thế nào…

Từ đó đến cuối năm học, tôi thường nhận được thư của anh, lời thơ thật dễ thương hiền hòa như con người của anh.

Rồi mùa hoa phượng đến, hoa nhuộm đỏ thắm đoạn đường trước trường Văn Khoa, nhất là cây phượng ở góc nhìn ra cầu Trường Tiền…Thật là nên thơ, bảo sao thật nhiều vần thơ cho cây phượng này được những tâm hồn lãng mạn luôn trân quý, và thấy lòng mình lâng lâng khi đứng ngắm chúng trong buổi chiều tà…

 Anh ra trường, đậu rất cao, tên anh đứng đầu bảng kết quả, nhưng không muốn về gần gia đình mà nhận nhiệm sở thật xa, vì anh nói muốn khám phá miền Nam.

Tôi về Cao nguyên của tôi.  

Rồi loạn lạc, bặt tin nhau. Nhiều năm trôi qua.

Mỗi khi bị trầy hoặc đứt tay, dùng band aid, tôi cũng không còn nhớ đến cái band aid năm xưa, vì bị lôi cuốn vào cuộc sống thời đắng cay tủi nhục đau khổ trăm bề…

Nhưng có một năm, khi về thăm lại thành phố thân yêu ấy, thăm trường xưa, cảnh cũ, đến cư xá “của chúng tôi” – bây giờ là một trường cấp hai -, tôi lại chạnh lòng…nhớ đến thời gian đáng yêu ấy, ôi  những “người đi qua đời tôi *2/- “…

Đứng trước phòng khách, nhớ đến anh bạn cùng lớp hàng ngày làm chim xanh cho một người cùng phòng đem thư cho tôi,… rồi một buổi chiều thật đau lòng, họ đến mà tôi không tiếp, vì tôi muốn hy sinh tình yêu mình cho người khác (để rồi cả hai đều đau khổ!!!)  …nhớ đến “Sơn Tinh & Thủy Tinh” đem quà ô mai, búp bê da màu là món tôi rất mê cho đến bây giờ, mặc dù có bao nhiêu là búp bê thật, lớn nhỏ cứ đeo chân mình hàng ngày…rồi có anh tài xế máy bay ngày nào,…

Những dòng ký ức cứ đua nhau hiện về…

Ra khỏi cư xá là ngôi trường mẫu giáo Lê Lợi, mà ngày ấy người viết thư bảo tôi luôn mãi là học trò của trường này thôi…thật là dễ thương, vì tôi chỉ muốn làm con nít, làm người lớn sao…mệt quá!

Đây rồi con đường Trương Định …đi ngang Hội Quán Sinh Viên, và bỗng nhớ đến cái band aid của người xưa…

Hỡi “người Band aid”, anh đang ở đâu? Có nhớ năm nào không?

Nhưng rồi… thời của tin học…

Một hôm, đang lướt lưới tìm tài liệu cho công việc, tôi chợt thấy hàng chữ “blog của Đại Học Y Khoa Huế “…và rồi …

Sự kỳ diệu của thế giới ảo!

Tôi gởi thư hỏi thăm vài người bạn Y khoa năm xưa ở cùng cư xá… Khi nhìn thấy địa chỉ điện thư của tôi, anh ấy nhận ra ngay vì tên tôi rất đặc biệt, có lẽ chỉ có một tên như vậy thôi… .

Qua chừng đó năm …dù có vài mối tình đến với anh, nhưng anh không thể quên cái “band aid” đã đưa cho một người năm nào…

– “Bé band aid ơi, bé có người giữ sẵn băng trong bóp chưa? Bé có nhớ cái band aid ngày nào không?”

– Chúc Lang bị trầy xước nhiều lần, có khi phải băng nguyên cái băng bự to cơ đấy, nhưng không có ai có sẵn băng trong bóp cả, anh à…

  -Chúc Lang có nhớ mình gặp nhau lần đi cứu trợ lũ lụt ở quận Phong Điền, Huế không? Sau khi giúp quý đồng báo ở đó, nhóm sinh viên thiện nguyện đã có một buổi sinh hoạt chung với nhau, ca hát…và khi đứng thành vòng tròn, bé đứng cạnh một nam sinh viên, lúc đó mọi người đang hát bài “Thử Hỏi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh nhìn Lang khi hát “Tay có bằng lòng cho tay nắm lấy?”, và thấy anh ta đang cầm tay bé…anh buồn làm sao!  “

– Ah, tôi mỉm cười khi đọc dòng thư điện tử này- tôi nhớ ra anh chàng đó rồi, có lần đi trại cùng với  liên lớp Pháp ở biển Thuận An, anh ta rất cảm kích khi thấy trên đường về từ kỳ trại, tôi ngồi xuống nhặt cá tươi từ một gánh cá của chị bán hàng bị đổ xuống đất. Hôm sau anh gởi cho tôi hàng chữ : hình ảnh rất dễ thương mà anh không bao giờ quên, thể hiện lòng nhân ái của Chúc Lang… “Time never waits, they often say/But for Love, who knows, it may” ( Thời gian không bao giờ chờ đợi, họ thường nói như thế/ Nhưng biết đâu, đối với Tình Yêu, điều ấy rất khả thi)..

 Đâu có thấy thời gian có thể chờ đợi đâu ta?…

———-

Thư qua tin lại, anh đang sống ở một đất nước rất xa.

Nhưng, cho dù sông có sâu, núi có cao, biển có bao la mấy đi nữa…thì cũng không thể chia cách chúng tôi được nữa …

Đến kỳ họp mặt các cựu sinh viên nhân kỷ niệm 60 năm của Viện Đaị Học Huế, được gặp lại các Thầy Cô kính yêu để dâng lên các vị những lời tri ân sâu sắc… và gặp lại bao nhiêu anh chị em bạn bè ngày xưa thân ái, giờ đây ai cũng con đàn cháu đống. Mừng nhất là gặp được 4 người trong số 6 đứa thân thiết ở cư xá năm nào – lâu nay chúng tôi cũng có liên lạc nhau, cũng nhờ thời điện toán mà tìm ra nhau.

Mọi người đều rất vui mừng khi thấy anh Minh và tôi bây giờ được ở bên nhau.

Tôi nói với các bạn:  ” Món nợ band aid bây giờ đã trả được rồi nè các bạn ơi…!”

Nhưng tôi lại thêm:

” Phải chi hôm ấy đừng…đau

Phải chi hôm ấy đừng trao…cho người *3/-  

(cái band aid)

                                 &&&&&&

Một miếng băng dán nhỏ xíu mà dán được cả hai cuộc đời lại với nhau, mầu nhiệm thay!

Tháinữlan, mùa hè 2017, 60 năm Viện Đaị Học Huế-

 GHI CHÚ:

1/-Người Em Sầu Mộng– Tác giả: Nhạc Y Vân, thơ Lưu Trọng Lư

“Người em sầu mộng muôn đời”…

2/- Người Đi Qua Đời Tôi -Tác giả: Phạm Đình Chương

 ” Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu”…

3/ – Mưa Bong Bóng – Tác giả: Lý Quang Diệu

“Phải chi hôm ấy đừng mưa

Phải chi hôm ấy đừng đưa em về “…

****

MỘT MÙA XUÂN RẤT XA    –  

Thương tặng các bạn sinh viên Huế, và các bạn cư xá Jeanne d’Arc & Xavier của thời vàng son dấu yêu-

Một ngày mùa hè …

*

 Ba chở tôi đến phi trường Phú Bài, Huế, đón cậu em từ Dalat ra để giúp Ba và tôi trong việc làm ăn của Ba. Me và ba em kia vẫn đi làm đi học ở xứ sở sương mù… Gặp lại em Vũ sau nhiều tháng xa cách, thật mừng rỡ… Lúc xưa cả gia đình Ba Me và sáu người con đều quây quần, rồi chị và anh lớn đi xa để tiếp tục việc học, còn lại bốn chị em rất thân nhau. Ôi bao nhiêu kỷ niệm…

Mới mấy năm nay Ba phải ra Cố đô để làm việc, một mình tôi đổi “cấp độ” từ nhỏ đến lớn, bi chừ là “Học Đại” rồi, nên theo Ba được.  

Em Vũ  mang theo cây đàn tranh cho tôi. Tôi mới học được vài tuần ở Tỳ Bà Viện. Khệ nệ cầm cây đàn, tôi băng qua phòng chờ ở phi trường, rồi lần ra bên ngoài chỗ để xe…Chợt có hai anh lái tàu bay từ bên phi trường quân sự tiến đến, hỏi chuyện…

Có lẽ vì nhìn thấy một con bé với vẻ mặt chẳng có gì là nghệ sĩ mà lại đi chơi loại đàn xưa và rất khó này rồi hai “ông ” ấy tò mò chăng?

 Biết chúng tôi ở xứ ngàn thông, các anh rất thích, họ là người dân xứ biển Nhatrang hiền hòa, và thường bay lên đó, họ rất thích thành phố buồn của chúng tôi…

Vài tuần sau, đến lúc nhập học, em tôi phải trở về Dalat, còn tôi thì vào cư xá “để học cho yên” – Ba bảo như rứa…

Vài ngày sau khi đi học, một anh tài xế máy bay ấy, anh Quang, đã đến cư xá và xin “sơ”(soeur) trông coi phòng khách để gặp tôi.

Tôi chưa gặp anh Quang được, vì tôi chưa thưa chuyện với Ba Me tôi. Anh ấy ra về… Vài ngày sau, tôi nhận được lá thư của anh gởi từ Nhatrang… Tôi đã đưa thư cho Ba đọc, (tự tôi cảm thấy cần cho Ba đọc, vì Ba đâu có cấm cản chi mô?) Ba nói lời thư có vẻ chân thành, nhưng ” chưa biết con ạ, các anh ấy thường rất bay bướm”,…nếu anh ấy muốn gặp con ở cư xá, con có thể nói chuyện (vì Ba biết trong phòng khách, luôn có sơ làm việc giấy tờ), và con có thể trả lời thư…

 Nhiều tháng trôi qua… Anh thường có dịp phải bay ra Huế, có lần anh và bạn đều lái trực thăng vòng vòng quanh sân trường của tôi. Trời ơi! Cứ bay vần vũ quanh quanh như rứa…Thầy Cô và bạn bè không hiểu chuyện gì đang xảy ra..! Chỉ có Kim Thoa & Ngọc Quỳnh ở cùng phòng cư xá với tôi biết là ai thôi :  “Răng mà anh nớ gan cùng mình ghê luôn”!

 Rồi còn đi với bạn để đón tôi lúc tan trường… tôi luôn đi với cô bạn thân Kim Thoa, anh ấy cũng luôn có thêm một người bạn đi cùng…

Muốn độn thổ luôn, trời ạ! Hai ông lính thuộc loại dữ dằn, mặc áo bay, đi kèm với hai con bé “chưa lớn”, làm chúng vừa đi vừa nép vào nhau, che mặt mình không hết, cả trường ào ra như ong vỡ tổ,…ai đi xe ra cũng ngoảnh mặt lại nhìn xem hai “con” nào mà ghê gớm rứa hè..?

Thôi thôi bước đi cho nhanh cho rồi…làm hai ông phải la lên:  “Hai cô làm gì mà như bị ma đuổi vậy?”

Tôi phải cằn nhằn: -” Sao anh muốn đến trường mà không nói trước, để bây giờ … làm sao mà trốn đây? Ngày mai vô lớp học thì chịu sao cho thấu?

– Thì Thanh Lan cứ bảo là: ông anh ở Nhatrang đi công tác ra thăm em thôi mà, có gì nghiêm trọng đâu?…”

Sau này tôi mới biết, anh ấy lúc nào cũng vậy, những việc gì nguy hiểm, kinh khủng…tất cả đối với anh đều … nhẹ “như lông hồng”… Có lúc thì tốt, nhưng có khi lại không tốt đâu nhe!

Ngày thường thì chúng tôi vừa rảo bước vừa nhìn ngắm cảnh thơ mộng của kinh đô các “mệ” ngày xưa,  nhìn qua con sông với cầu Trường Tiền nên thơ, hàng cây Phượng vỹ đến mùa hè nở đỏ rực cả một góc trời…ở xa kia là núi Ngự Bình,.. Ngắm hoài không chán.. Nhưng hôm nay hai đứa chỉ cúi mặt mà chạy, không dám nhìn ngang ngửa chi hết…

 Hai anh chỉ đưa chúng tôi về cư xá, vì chúng tôi không đi ra quán uống nước với các anh, xứ Huế rất cổ kính, và cổ hủ về phong tục, nên chúng tôi rất ngại…

 – Thanh Lan, mai tụi anh lại phải bay đi Pleiku rồi, cho anh nói chuyện với Lan một chút nhé? Bạn tôi lên phòng, anh Hoàng, bạn của anh Quang bảo anh ấy ra quán càphê gần đó đợi …Anh Quang vô phòng khách nói chuyện với tôi một chút, anh hỏi thăm tôi về việc học, về các em,.. rồi dặn tôi nhớ trả lời thư cho anh, khi nào mùa hè tôi về xứ sương mù, có dịp anh sẽ bay lên để thăm Me và các em, rồi sang năm học tới anh sẽ ra đây thăm Ba tôi.

Sang hè, khi tôi về Dalat nghỉ vài tuần, anh ấy  đến nhà và nói chuyện với  Me và các em tôi. Có một hôm, em tôi mới đi lấy hình chụp cả nhà về, và để trên bàn phòng khách, tôi chưa kịp cất, anh ấy đến, và muốn xem. Anh chọn một hình chân dung của tôi, và nói rằng kỳ này các anh sẽ đi Bảo Lộc, sẽ có giờ rảnh, anh muốn vẽ hình tôi…Ít lâu sau tôi nhận được một bức hình vẽ bằng bút chì rất đẹp,..tôi lại biết thêm một tài năng của anh ấy…

Sau này anh vẽ hình các con, chắc là tuyệt lắm nhỉ?  (ôi, lại mơ mộng hão huyền nữa rồi, cô bé ạ)

Anh đưa cho tôi tập thơ “Ta Chờ Em Từ Ba Mươi Năm” của thi sĩ Vũ Hoàng Chương…

Không biết lúc đó anh bao nhiêu tuổi nhỉ?

1975…

Vài tháng thư từ, độ này anh không bay ra Huế nữa…

Tháng 3… Người dân Huế vẫn chưa hết đau thương với Mậu Thân 1968, nay lại lảo đảo chồng chất trên những chiếc xe đò lớn nhỏ để vô Đà Nẵng, có xe traction ngày thường chỉ chở được 5 người, nay chất thành 8, 9, 10 người,.. rồi những xe minivans thì nhét như cá hộp…

 Vô Đà Nẵng cũng không yên,… lại ùa nhau ra phi trường, ra bến cảng … Tôi cùng gia đình người bác ruột lênh đênh trên biển cả một tuần,  (Ba đã đi nước ngoài vì công việc, sắp về lại). Suốt một tuần lễ, lênh đênh cũng mây nước, tôi không biết giờ này Ba Me tôi ở đâu, các anh chị em có được bình an không…Bảy ngày , mà dài như bảy năm, buổi tối dài lê thê, không thể nào chớp mắt với sóng biển dập dềnh, ban ngày thì khô rát, nóng cháy….. rồi anh Quang ơi, gia đình anh có được an toàn không, anh đang ở đâu, cầu mong sao anh làm tròn nhiệm vụ người trai thời loạn, như bậc cha anh, nhe anh,..dù cho có hy sinh cũng không màng, anh ơi,..

Xà lan cặp bến Vũng Tàu… Rồi lên Saigon…

Đến được nhà anh chị tôi, thật mừng rỡ biết bao khi gặp lại gia đình anh chị cùng Ba tôi vừa mới trở về được vài hôm, và Me cùng các em đang đi xe đò từ Dalat xuống đây..

Một buổi trưa, Hòn Ngọc Viễn Đông, trời nóng như thiêu… em Vũ  , – lại cũng cậu em “xe tơ” này, – chở tôi đi Honda trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, đến đường ray xe lửa, đèn đỏ…nhìn qua con đường đối diện,… thấy anh Quang!

 Ôi, phải chăng đây là ý trời…? Nhiều tuần nay không được tin tức… nay được gặp lại anh…

Buổi tối, cuối tháng 4, anh Quang đến nhà anh tôi ở Quận 5,… gặp BaMe tôi (lúc đó cả gia đình đều về nhà anh Chung của tôi), và xin cho tôi được bay đi đảo Guam, xứ Cờ Hoa, với anh cùng đồng đội. Tôi không chịu, vì đi như vậy, biết có gặp lại Cha Mẹ anh chị em được không, với lại đã cưới hỏi gì đâu…?

Vài tháng sau… Gia đình anh, sau khi ở tạm nhà bà con ở Saigon ít lâu, đã trở về miền Thùy Dương..

Tôi theo Ba về Nhatrang để thăm người Cô ruột, chị của Ba.

Tôi được đi ra biển với anh, một buổi chiều…sóng thật lớn…

Suốt bao nhiêu tháng quen nhau, đây là lần đầu tiên tôi đi ra ngoài với anh..

Tôi luôn yêu thương thành phố biển này, ngày xưa cả gia đình thường được Ba chở đi nghỉ hè, cả mấy chị em tôi đều rất mê biển, cát, và sóng… Cả anh và tôi đùa nghịch với cát, nắm cát vào tay, bỏ vào tay đứa kia, nhưng không giữ được, chúng lại tuôn ra…Đi dạo, rồi chạy đuổi nhau ở mép biển, vừa nước vừa cát,..ôi hạnh phúc làm sao…! Đứng nhìn mặt trời lặn, sao đáng yêu quá, tôi luôn yêu cảnh mặt trời mọc hoặc lặn, nhưng sao hôm nay đẹp lạ thường…  “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, nhưng Người vui thì cảnh lại quá thơ mộng…

Hạnh phúc ơi…!

Lúc đưa tôi về nhà Cô tôi, anh đưa tôi một tấm thiệp, hình bầu trời đầy sao, và bên dưới là một cô bé đang nhìn  lên  …  

Bên trong

Người là vì sao nhỏ bé

Ta mãi ước cho lòng làm bầu trời xanh xanh

Người về lòng ta thương nh

Ta khẽ hỏi đưa người hay thầm người đưa ta…”  *(1)

Hôm sau, anh đến nhà thăm Cô và Ba tôi… và xin phép đưa tôi đi dạo một vòng..

Những đường phố xứ biển quá đẹp, với từng hàng cây Phượng vỹ, vẫn còn đỏ rực hoa mùa hè muộn, cây trứng cá với trái nhỏ đỏ li ti thật  xinh  và những hàng  dương liễu dọc theo bờ biển, thơ mộng làm sao…  

Anh đưa tôi lên tượng Phật Bà thật uy nghi trên đỉnh đồi Trại Thủy, đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố thật đẹp… – đã in trong trí tôi bao nhiêu năm nay, bây giờ mỗi khi ngủ tôi vẫn thường nhớ lại cảnh tượng nên thơ này – Tôi rất thích tìm những cọng hoa mắc  cỡ ( Trinh nữ), rồi đụng vào lá cho chúng khép lại, và nói với anh: – “Anh ơi, mai sau anh trồng hoa mắc cỡ phía sau nhà mình để em chơi như thế này nhé anh?” Anh cười, chắc có lẽ chịu thua cái con bé lớn mà chẳng lớn chi hết này!

Sau khi đi một vòng, đến dưới chân bức tượng Phật, anh cầm tay tôi, nhìn vào mắt tôi thật lâu, và nói

– “Bé chờ anh nhé, bé ơi?”

Tôi thật nghẹn ngào, mãi lúc sau mới nói được: -“Em sẽ là Hòn Vọng Phu, nếu anh không trở về…”

………………..

Phút giây hạnh phúc như bóng câu qua cửa sổ..

Anh vuốt tóc em,  một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi….

Anh hốt trăng thanh, trên áo em xanh, một lần cuối, như những lần đó xa xôi“….*(2) 

Đến ngày Ba và tôi trở về xứ Ngàn Hoa, còn anh thì đi …biền biệt… đến bao giờ?

…………….

Trại tù… 

Anh viết : “Mỗi kỳ trăng tròn, anh thường nhìn lên ánh trăng, để tìm ánh mắt em phản chiếu trong đó, Ti ơi…Anh nhớ em quay quắt… nhớ đôi mắt thật buồn của em, bé ơi  …”

Thăm nuôi…

 “Em ngậm ngùi khóc thương

Thương anh đợi mòn mỏi

Hờn căm ngút đoạn trường– ” *(3)

…………………

…Ngày anh Trở về…Mừng mừng tủi tủi…

Kể làm sao cho xiết…

Rồi ngày được định cư ở bến bờ tự do…

Ba ơi, cái ông tài xế máy bay ni không có bay bướm chi hết, Ba à…

Bao nhiêu mùa Xuân đã đi qua… Anh và em đều mong ước một mùa Xuân  được trở về, để đến  những nơi chốn của thuở vàng son ấy…

&&&&&&&&&&&&

Đất Mẹ, ngày trở về, để đón mùa Xuân như ước mơ, nhưng  chỉ có các con và em … Anh đã ra đi…

Saigon, Dalat, Huế…Và sân bay Phú Bài.

Tất cả đã không còn như xưa… Ngôi trường mến yêu, những con đường thân thương …

Nhưng đối với anh và em, vẫn thật đáng quý, những nơi tràn ngập kỷ niệm dấu yêu, kể cho con nghe… Thương quý nhưng nghẹn ngào làm sao…

Và Nhatrang, sóng biển và cát….

Hôm nay ngày rằm cuối năm, trăng sáng vằng vặc, em lại nhìn lên ánh trăng, tìm đôi mắt của anh, như ngày xưa mắt anh và em nhìn nhau trên đó  anh ơi …

Ngày mai em sẽ đưa các con lên đồi Trại Thủy, nơi có tượng Phật Bà, và kể cho con nghe về cái ngày xa xưa yêu dấu ấy, anh ơi…Bây giờ em không thể làm Hòn Vọng Phu để chờ anh được nữa rồi, em còn bổn phận với con cháu..

Anh đang ở đâu hở anh

Anh Quang ơi, từ nơi xa ấy, anh có cùng mẹ con em đi thăm lại những con đường có lá me bay, những đồi thông con suối, không anh…

Một mùa Xuân trọn vẹn của anh và em, sẽ không bao giờ có được…

……………….

Trong phòng của mình, vẫn còn bức chân dung ngày xưa anh đã họa lại hình em đó, Quang ơi… Và chiếc áo bay ngày nào của anh vẫn ở bên em…

Những tưởng yêu thương đến trọn kiếp

Mong sẽ trăm năm cùng bạc đầu

——

Vầng trăng xưa, ngươi có nhớ gì không?- 

Vũ Hoàng Chương- Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm

TháiLan/nữlan-Dallas- 2016

———————-

1/–  Hai Vì Sao Lạc– Anh Việt Thu

2/- Một Lần Cuối– Hoàng Thi Thơ

3/-  Hai Hàng Cây So Đũa -Thơ: Nguyên Huy- Nhạc: Trọng Minh




THƠ – Tuyết Vân Trần




HẠNH-PHÚC

HẠNH-PHÚC

Em thấy đấy: vì sao anh đã quyết
Chọn đưa em về giới-thiệu gia-đình?
Dẵm sau gót những tình yêu tha-thiết
Của bao cô hy-vọng chiếm tim mình!

Từ dạo ấy lòng anh mang mối hận
Bởi không làm thỏa-mãn mọi tình yêu,
Với ý nghĩ: biết bao người oán giận
Mình đong-đưa như gió sớm, mây chiều!

Ðời thắm đẹp nhờ muôn hương vạn sắc;
Một cánh hoa khôn dệt nổi xuân vàng!
Anh biết thế nên lòng anh thắc-mắc
Thương bao cô mắt lệ ướt hai hàng.

Nhưng nghĩ lại: lòng tham vô-giới-hạn,
Túi hẹp nông khôn nhốt hết kho trời!
Anh đã chọn một riêng em làm bạn,
Các cô kia đành lỗi mộng chung đời!

Như thế đó, tình anh như thế đó,
Em biết không? em có hiểu cho không?
Chọn một đóa để buông lìa cả bó
Vì anh tin em sắc thắm, hương nồng.

Em đã thấy vai trò em hệ-trọng:
Một bông hoa đại diện cả mùa hoa ?
Anh sung-sướng, anh tràn-trề hy-vọng;
Em, em ơi, đừng để mộng phai nhòa!

Em hãy quyết cùng anh xây tổ ấm,
Dù chông-gai, dù bão-tố ngang trời;
Xây cho trọn một túp lều hoa gấm
Từ hôm nay cho đến lúc xa đời .

Vì đất nước chỉ thanh-bình thịnh-vượng
Khi dân-nhân xã-hội được vui hòa,
Mà họ-mạc xóm-giềng là viễn-tượng
Của gia đình xây dựng giữa hai ta!

                                             17-01-1955

                               THANH-THANH