Nhà thơ Đông Anh (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Đông Anh.

Cựu Chủ Tịch Sáng Lập Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.
Đông Anh là bút hiệu của Nguyễn Đình Tạo,
quê quán tại Huyện Đông Anh trước thuộc tỉnh Phúc Yên,
sau thuộc ngoại thành HàNội.

Năm 1954 theo học khóa Cương Quyết Phụ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, ra trường tháng 10 năm 1954.

Đơn vị sau cùng là Tiểu Khu Lâm Đồng

Tù Cộng Sản 9 năm.

Vượt biên tới Galang năm 1985.

Qua Mỹ năm 1986. Hiện định cư tại San Jose, California.

Tác phẩm đã xuất bản:
Chín Năm Tù Ngục 1989
Chim Di Trú 1997
Hoa Giáp Đông Anh 2000
Ngựa Vực Hồn Thơ 2002
Vui Tuổi Hạc 2007

Dòng Kỷ Niệm viết chung với Chinh Nguyên 2011
Hiện là Cố Vân Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.

Trước 1975 Trung tá Quân lực VNCH

——————————————————————————

Ðọc Bài Thơ Cũ

Vào năm 1959 Băng Ðình và tôi cùng chung một đơn vị, Tiểu đoàn 3/12 sư đoàn 4 dã chiến, chúng tôi cùng sống trong một dãy cư xá dành cho các sĩ quan độc thân tại trường Bộ Binh Thủ Ðức vì đơn vị chúng tôi được cử về làm tiểu đoàn thao diễn và an ninh cho trường sau kỳ thao dượt Ðông Phong ở Phan Thiết.

Cứ mỗi buổi chiều, sau khi nghỉ việc và cơm chiều tại câu lạc bộ, chúng tôi ngồi trên hành lang nhìn ra đường và vũ đình trường mà nói chuyện tào lao. Thôi thì đủ thứ chuyện, hết chuyện đời đến chuyện thơ. Ðọc cho nhau nghe những vần thơ mới hình thành, bình luận cùng nhau những vần thơ xướng họa. Rất tiếc là không có giọng ngâm nên chúng tôi cứ đọc “rống” lên gây rất nhiều phiền toái cho mấy anh hàng xóm độc thân khác.

Bài Mưa Chiều Hời đã được chúng tôi đọc đi đọc lại gần như thuộc lòng. Rất tiếc cho cây quế giữa rừng. Rất cảm phục mối tình của Trần Khắc Chung với nàng công chúa cùng họ. Miền Nam sớm nắng chiều mưa, khiến thi nhân như hòa nhịp với thời tiết lạ xứ Hời mà nhớ về quê Bắc xa xăm:

Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi

Bài thơ như một bài hành khi xung trận để mở rộng biên cương. Như bài hát tả nỗi lòng cô phụ bỏ hết lại đằng sau dấn thân vào nơi gió cát xứ người. Những mưa rơi chiều Hời. Những gió bay biên địa. Những sầu muộn mong manh. Những ánh tà dương ngăn ngắt. Tất cả đã khiến cho sự hy sinh của nàng công chúa thêm thê lương, mối tình của Huyền Trân thêm ray rứt. Nhân đó tôi cũng có đôi vần ca ngợi bài thơ của BÐ ghi ở phần sau.

Năm 1990, khi liên lạc với nhau tại Mỹ, tôi hỏi lại bài thơ xưa thì được BÐ trả lời tất cả đã mất hết rồi, mất theo hành trình đốt sách của kẻ thù. Chúng tôi rất buồn, rất tiếc.

Bỗng đầu năm 2003 anh gọi điện thoại cho tôi khoe rằng đã tìm thấy bài thơ. Bài thơ này tìm lại được cũng kỳ bí như huy hiệu con Phượng Hoàng(*), biểu tượng đầu tiên của Trung Tâm Quốc Gia Ðiện Ảnh Việt Nam mà BÐ làm giám đốc khi xưa.

Nhận được bài thơ, tôi muốn chia xẻ với các bạn yêu thơ, với bằng hữu. Nhưng nếu chỉ đăng lên không thôi, e rằng không hết ý. Do vậy mới có vài lời dông dài này.

Ðông Anh

Tháng Tư  năm 2016
* Băng Ðình đã viết về biểu tượng Phượng Hoàng qua chuyện Phượng trong Còn Một Chút Này sắp in.

 

 

Mưa Chiều Hời

Huyền Trân một sớm lìa kinh khuyết
Rượu tiễn run môi lạnh tiếng đàn
Ô Lý hai châu còn chật hẹp
Một trời Chiêm Việt mấy quan san
Gió mưa ướt nẻo Ðồ Bàn
Rưng rưng lệ đổ hai hàng máu khô
Ðá tường chìm khuất cung vua
Biết đâu lá biếc mùa thu ngả mình
Quê xưa trời có đẹp
Năm mầu mây thanh bình
Người xưa giờ có chép
Những vần thơ xinh xinh
Một đi là mãi mãi
Mưa rơi vào tâm tình
Mong chi ngày trở lại

Còn chi mộng tuổi xanh
Ðêm đêm nhầu chăn gối
Trăng úa rụng bên mành
Tay Chiêm Vương vội vã
Tình Chiêm Vương mong manh
Thân gửi ngoài biên địa
Hồn mơ về Long Thành
Có mùa xuân minh mị
Có mùa hè nắng xanh
Có mùa thu sầu muộn
Có mùa đông buồn tênh

Mộng đẹp dài canh vắng
Tay ai chuốc chén quỳnh
Tin đâu về náo nức
Chiêm Việt dứt đao binh
Phụ Vương một hẹn sầu đôi trẻ
Ô Lý hoang vu lạt chữ tình
Lịch sử thêm tươi mầu má thắm
Riêng lòng ai chết những mầm xanh
Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi
Mưa bay buồn những chiều Hời
Nhỏ thưa tiếng địch não người biệt ly
Sắc chìm hương lạt thâm khuê
Âm u đá tháp dặm về mù sương
Heo may thổi lạnh đêm trường
Xiêm y sô lệch phấn hương nhạt nhoà
Mây vẫn trôi về Bắc
Sầu chưa thôi nở hoa
Mưa lụt trời Chiêm Quốc
Tơ run trên phím ngà
Ðiệu Nam Bình ai oán
Van mùa mưa mau qua
Gấm the nào ấm được
Những chiều mưa nhớ nhà
Vó câu mờ sắc áo
Chiều dâng tím nẻo xa
Khắc Chung còn ruổi ngựa
Hồn chìm đáy ly ca
Mưa vẫn dài thương nhớ
Ngăn ngắt ánh dương tà
Huyền Trân lệ đổ tràn vai áo
Giữa gấm hoa ngồi khóc tuổi hoa
Mắt lệ mỏi mòn trông hướng cũ
Những ngày qua tiếp những ngày qua
Rừng thu sơ xác lau già
Trong sương nghe vẳng tiếng gà sang canh
Hồn khuya nhẹ gót đầu cành
Lung linh nến cháy sử tình hắt hiu

BĂNG ÐÌNH
 

10-vui-tuoihac   8-chin-nam-tu-nguc   6-hoagiapdong-anh

(Gửi Băng Ðình, người viết Mưa Chiều Hời)

Khắc Chung rong ruổi trên lưng ngựa
Theo bóng Huyền Trân nắng chập chờn
Một mối tình si muôn dặm thẳm
Ngàn trùng gió cát lạnh mưa tuôn
Người đi về phía hoàng hôn
Ðể vầng trăng khuyết mỏi mòn kinh đô
Qua Chiêm đem mối tình hờ
Lược trâm bỏ lại ngẩn ngơ hoàng thành

Lưu lạc xứ người thân lạc bóng
Giữa rừng cây quế nghẹn chua cay
Chiều thu chợt biến thành sương phụ
Ðợi lửa lên giàn hương phấn phai
Bỗng dập dồn vó ngựa
Từ biên địa qua đây
Ðưa nàng về cố quốc
Mưa Hời quyện khói bay
Thuyền chao tình sóng vơi đầy
Lướt đi trong cõi trời mây mịt mù
Ngàn sau tình sử, áng thơ
Lung linh ánh nến đọc Mưa Chiều Hời

ĐÔNG ANH

 




Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

A-NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev

LE MUR NGUYỄN CÁT TƯỜNG :

Mt ha sĩ, mt nhà to mu tài danh ca đt nước

Thanh Thương Hoàng

Thú thực khi còn nhỏ, vào những năm 1942, 1943 (khi đó tôi mới ngoài 10 tuổi) tôi đã mê đọc sách, nhất là những cuốn truyện của các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng và những cuốn truyện Tầu rồi tới kiếm hiệp, trinh thám…vv… Tôi không chú ý ( vì chẳng “hấp dẫn”gì với tôi) những tờ báo nổi tiếng thời ấy                  ( thời tiền chiến trước năm 1945) với nội dung đả phá cái cũ (hủ lậu) quảng bá cái mới trong nếp sống dân tộc như báo PHONG HÓA NGÀY NAY. Thỉnh thoảng ông Bố tôi đem về nhà mấy tờ báo này, tôi chỉ lật vài trang xem mấy cái tranh khôi hài châm biếm (humour) với hai nhân vật chính Lý toét, Xã xệ. Tôi cũng chẳng để ý tới tên tác giả. Ông Bố tôi thường mua cho tôi báo CẬU ẤM CÔ CHIÊU chuyên đăng những bài, những tranh vui về tuổi thơ – mà bây giờ tôi cũng quên mất những mục, những bài đã làm bọn nhỏ chúng tôi (hồi đó) say mê thích thú. Sau này lớn lên tôi cũng chỉ biết tới tên một số họa sĩ nổi danh mà thôi. Tuy nhiên thỉnh thoảng tôi nghe trong đám bạn họa sĩ (cùng lớp tuổi tôi) nhắc tới tên một họa sĩ có tên là Le Mur. Tôi tưởng ông này là “ông Tây” hay ít ra cũng là “dân Tây”nên thú thực tôi không có cảm tình mấy và cũng chẳng tìm hiểu về ông làm gì. Khi bước vào làng văn làng báo Saigon tôi mới được biết nhiều hơn về một số họa sĩ tên tuổi “thời tiền chiến” và tranh của họ quý và mắc hơn vàng như các ông bà Nguyễn Gia Trí, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái vv…nhưng vẫn ít thấy tên ông Le Mur Nguyễn Cát Tường.

Mấy chục năm sau, tôi sang Mỹ sống, mới đây tình cờ được coi một đĩa (DVD) thâu hình buổi trình diễn trang phục phụ nữ của Họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường (do các bà cựu nữ sinh trường Trưng Vương trình diễn) nhân cuộc triển lãm và hội thảo về báo Phong Hoá Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn do Nhật báo Người Việt (Quận Cam) và Đài truyền hình STBN tổ chức. Cuộc triển diễn về trang phục phụ nữ của ông Le Mur Nguyễn Cát Tường được tổ chức nguyên một buổi thật tuyệt vời. Xem hết cuốn băng quả thật là một sự bất ngờ, tôi cứ tưởng những người đẹp VN đang biểu diễn thời trang thế kỷ 21. Đây là một nhân tài của đất nước, một họa sĩ, một nhà tạo mẫu trang phục cho nữ giới nước nhà, đã đi trước thời đại gần một thế kỷ. Ông tên thật là Nguyễn Cát Tường nên lấy bút danh Le Mur (tiếng Pháp cái tường). Về tiểu sử cũng như sự nghiệp của ông xin coi phần cuối của bài này.

Vì sự tò mò và nhất là muốn tìm hiểu một nhân tài trải qua ngót thế kỷ, các “tác phẩm” của ông, các công trình sáng tạo của ông tới ngày nay (qua buổi trình diễn vừa rồi) vẫn “sống” và “sống” một cách huy hoàng lộng lẫy trải rộng khắp nước Mỹ và cả thế giới (vì cho tới bây giờ (năm 2016) những bộ quần áo theo “mẫu” của Le Mur vẫn được các bà các cô trưng diện trong những buổi hội hè đình đám. Những chiếc áo dài tha thướt, những chiếc quần trắng, quần mầu, những chiếc khăn choàng cổ vẫn lộng lẫy duyên dáng gợi cảm, chẳng những không lạc hậu chút nào mà còn tôn cao vẻ đẹp đặc biệt của người phụ nữ VN.

 

Ông Lemur Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, năm “1933” Năm “1932” đã có tranh khôi hài (vui cười) trên báo Phong Hóa. Sau khi ông Nguyễn Tường Tam mua tờ báo, ông vẫn tiếp tục gửi tranh khôi hài đăng trên báo…

Nhà văn Nhất Linh giao cho ông phụ trách mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô”. Tuổi mới ngoài 20 sau khi tốt nghiệp hội họa vào đời ông Tường đã có những tham vọng lớn về cải cách trang phục phụ nữ nước nhà cho hợp với trào lưu phụ nữ thế giới. Chúng ta nên nhớ vào thời điểm đó (những năm đầu thế kỷ 20) các cụ ông cụ bà ta còn chịu ảnh hưởng nặng nề chế độ phong kiến. Các cụ ông trong lễ lạc tết nhất thì mặc áo the dài đầu đội khăn đen xếp, còn các cụ bà thì mặc áo tứ thân mặc váy đầu đội nón quai thao để răng đen. Nếu là nhà giầu thì đi hài, còn thuộc giới trung lưu thì đi guốc gỗ sơn mài đen gót bằng, thấp. Ông đã tạo ra những kiểu giầy cao gót mũi nhọn cho tới ngày nay vẫn thịnh hành, cả Đông và Tây phương. Ông Cát Tường muốn đem cái sở học của mình ở nhà trường kết hợp văn hóa Đông phương với văn hóa Tây phương (mà ông đã học đã đọc được qua sách báo của Pháp) để sáng tạo những “mốt” áo quần giầy dép mới thích hợp với phụ nữ Việt Nam. Phải nói đây là một việc làm táo bạo có thể nói là một cuộc cách mạng về trang phục phụ nữ. Vào thời đại đó việc làm này quả vô cùng khó khăn trở ngại. Nhất là táo bạo khi ông sáng tạo các kiểu “xú-chiêng”, quần lót cho phái nữ. Chỉ dẫn cách luyện tập cho bộ ngực thon gọn đẹp. Theo ông phụ nữ thích làm dáng làm đẹp để  giữ chồng bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chúng ta nên nhớ các bà các cô thời đó, trừ một số nhỏ mà người ta gọi là “phụ nữ tân thời” ở thành phố, còn tất cả đều mang yếm và mặc váy, đầu vấn khăn hoặc chùm khăn mỏ quạ. Ông còn hướng dẫn các bà các cô đánh phấn bôi son thích hợp với da và khuôn mặt mình, cách vấn tóc, chải rẽ đầu ngôi sao cho hợp với khuôn mặt, mặc đồ hai mảnh tắm biển, tập thể dục thể thao. Ông quan tâm rất nhiều đến quần của các bà các cô. Ông cho đây chính là điều cần thiết để tôn vinh cái đẹp và sức quyến rũ của phụ nữ VN. Ông đã tỉ mỉ vẽ những cái nhỏ nhất nhưng cần thiết cho những chiếc quần này. Chính ông là người tạo ra mốt áo hở cổ với hình trái tim, hình lá sen, kiểu hình chéo một bên vai (sau gọi là Raglan), hình hở phần cổ và trên ngực với giải khăn mầu quấn quanh cổ. Thời đệ nhất cộng hòa bà Ngô Đình Nhu phát động phong trào phụ nữ mặc áo dài hở cổ mà người ta gọi là ”áo bà Nhu” do bà “sáng chế”. Thực sự là bà Nhu đã “phác” theo mẫu của họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường. Thời gian đó bà Ngô Đình Nhu cũng bị dư luận đả kích nặng nề (thật oan cho bà). Cả quần ống loe cũng vậy. Ông Tường kết hợp Đông Tây tạo mốt mới thích hợp với cẳng đùi phụ nữ Việt Nam sao cho gọn gàng hấp dẫn. Thế mà mãi tới thập niên 50 (thế kỷ 20) chiếc quần ống loe mới được phổ biến rộng rãi thông dụng trong dân gian. Ông Tường cũng không quên “bầy việc” cho giới mày râu trong những bộ “com – lê” kết hợp Đông Tây tới nay vẫn còn là “mốt” thông dụng sang trọng lịch sự. Phải nói đây là một cuộc cách mạng táo bạo nên ông Tường đã gặp phải các thế lực thủ cựu chống đối dữ dội. Họ diễn thuyết, viết báo, vẽ tranh đả kích ông, chế nhạo ông đủ điều. Ông phải quyết tâm và can đảm lắm mới thoát khỏi trận “đánh phá” này. Ngoài những tài kể trên ông Le Mur còn là người mở phòng trà đầu tiên ở Hà Nội (cũng là cả nước) và ông cũng không quên giới bình dân lao động nghèo khổ phải đạp xe xích lô mưu sinh khi đưa ý kiến và vẽ mẫu cải tiến để “mỹ thuật hóa” chiếc xích lô đạp.

Có thể nói họa sĩ, nhà tạo mẫu tài năng xuất chúng Le Mur Nguyễn Cát Tường đã đi trước thời đại ngót một trăm năm. Những mẫu áo quần ông tạo ra tới ngày nay vẫn còn hợp thời. Từ chiếc áo dài hở cổ, chiếc quần lụa trắng cải cách, chiếc quần tây gọn gàng gợi cảm (nhưng đứng đắn) những chiếc áo ngắn cộc tay có viền “ren” quanh cổ áo, ống tay áo, mặc trong nhà hay làm việc đều mới, lạ, đẹp, gọn gàng sẽ còn tồn tại lâu dài với người phụ nữ VN, và người ngoại quốc cả nam lẫn nữ cũng rất mê những bộ trang phục này.

Tới đây tôi cũng xin có một “nhận xét nhỏ” góp vào bài viết này. Theo tôi nhận xét thì những chiếc áo Bà Ba của nữ giới Miền Nam chúng ta cũng “thoát thai” từ những chiếc áo hở cổ của họa sĩ Le Mur. Bằng chứng: những ảnh phụ nữ miền Nam chụp những năm đầu thế kỷ 20 các áo dài hay áo Bà Ba đều kín cổ cả. Kể cả các quần hai ống từ đùi xuống tới chân khá rộng gọi là “quần Mỹ a”. Sau đó tôi thấy khắp miền Nam các cổ áo Bà Ba của các bà các cô đều hình trái tim hoặc hình vuông hở cổ và một phần ngực.

Họa sĩ Le Mur NGUYỄN CÁT TƯỜng rất xứng đáng để quý bà quý cô và cả chúng ta vinh danh và biết ơn ông.

THANH THƯƠNG HOÀNG

(3.9.2016)

[pdf-embedder url=”http://vantholacviet.com/wp-content/uploads/NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev-copy.pdf” title=”nguyencattuong-hoasi-8-18-2014rev-copy”]




Nhạc Sĩ ANH BẰNG

ns-anh-bang

Anh Bằng (tên thật Trần An Bường (5/5/1926 – 12/11/2015) là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam với số lượng sáng tác khoảng 650 tình khúc để lại cho đời. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu dòng của dòng nhạc vàng và nhạc hải ngoại, là người đã sáng lập Trung tâm Asia vào năm 1980.

Ngoài những tác phẩm của chính ông, Anh Bằng còn là một trong nhóm ba người hợp tác soạn nhạc với bút hiệu Lê Minh Bằng.

Tên thật là Trần An Bường. Sinh năm 1925 tại Hà Nội, sau 1954 sống tại Sài Gòn, hiện định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1965 – 1975 cùng hai nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ lập nhóm sáng tác ký tên chung là Lê Minh Bằng

Anh Bằng tên thật An Bường, sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía Nam. Ông theo học Trung học ở Hà Nội trước khi theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm 1975.

Trong thời kì 1954 – 1975, nhạc sĩ Anh Bằng rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ nhạc. Các tác phẩm như Nếu vắng anh (phổ từ bài Cần thiết của nhà thơ Nguyên Sa), Khúc Thụy du (phổ từ bài thơ cùng tên của Du Tử Lê), Người thợ săn và đàn chim nhỏ… đã được các ca sĩ Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Khánh Ly… thể hiện rất thành công.

Năm 1975, Anh Bằng cùng gia đình di tản sang Mỹ ở độ tuổi 50, và vẫn tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassettes Dạ Lan (1981 – 1990).

Năm 1966, Anh Bằng cùng với hai nhạc sĩ khác là Lê Dinh và Minh Kỳ thành lập một nhóm sáng tác nhạc, kí chung tên là Lê Minh Bằng. Các hoạt động chính của nhóm bao gồm:

Mở lớp dạy nhạc có tên là “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” tại địa chỉ số 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Sài Gòn. Ba nhạc sĩ thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm) và thực hành (luyện giọng, xướng âm).

Thành lập ban nhạc “Sóng Mới”, chuyên trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn.
Cố vấn cho giám đốc hãng đĩa hát Asia là ông Nguyễn Tất Oanh trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ.
Phụ trách trong việc tổ chức chương trình “Tuyển Lựa Ca Sĩ” được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh, do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện.

Sáng tác, xuất bản, và phổ biến nhiều ca khúc mới dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường… Trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là Chuyện tình Lan và Điệp.

Những ca khúc thịnh hành của Anh Bằng :

* Nếu Vắng Anh
* Hẹn Anh Ðêm Nay
* Chuyện Giàn Thiên Lý (theo thơ Yên Thao)
* Bướm Trắng
* Nỗi Lòng Người Ði
* Anh Biết Em Ði Chẳng Trở Về (thơ Thái Can)
* Tango Dĩ Vãng
* Sài Gòn Thứ Bảy
* Nửa Ðêm Buốt Giá
* Tình Yêu Tuyệt Vời
* Lời Tình Băng Giá
* Trả Em Cay Ðắng Mộng Vàng
* Dù Nắng Có Mong Manh
* Nhớ Sài Gòn (cùng Trúc Giang)
* Tâm Hồn Cô Ðơn
* Cô Bé Môi Hồng
* Chuyện Người Con Gái Ao Sen
* Người Thợ Săn Và Ðàn Chim Nhỏ
* Mất Nhau Mùa Ðông
* Từ Ðộ Ánh Trăng Tan (thơ Ðặng Hiền)
* Khúc Thụy Du (thơ Du Tử Lê)
* …

Những ca khúc sáng tác chung dưới tên Lê Minh Bằng:

* Ðêm Ngoại Ô
* Ðêm Nguyện Cầu
* Nó
* Tình Là Sợi Tơ
* …




Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

da dieu 1

Cá chết tại Việt Nam chỉ là mặt nổi của vấn đề đang được che dấu vì thực chất còn nhiều cái chết đang bị che đậy dưới ách thống trị của đảng cộng sản VN đó là những cái chết của tâm hồn VN, cái chết của lương tâm, cái chết của luân thường đạo lý, cái chết của lý trí (nhìn thấy nhưng sợ mất miếng cơm manh áo nên phải ngậm miệng là ngơ) và cái chết của sử lệ thuộc chính trị (lệ thuộc Tầu Cộng lệ thuộc Việt Cộng do đó sẵn sàng làm Hán ngụy, bán nước cầu vinh)

Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

image

 Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt nhận định: “Tôi thấy cái chết của biển cũng như của cá nó chỉ là cái ngọn vấn đề, cái chính gây ra cái chết này là do cái chết của tâm hồn con người. Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.” 

image

 

Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Nhưng khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi. 

Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết đâu là xấu – tốt thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.

image

Lý trí là sự hiểu biết để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao. 

Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Khi việc mưu cầu hạnh phúc cho con người đã chết thì biển chết, cá chết là hậu quả.” Lời nhận định của một nhà lãnh đạo tôn giáo quả thật rất sâu sắc và chí lý.

image

Đất nước VN đang đối phó với cái chết thể lý do nhiễm độc mà ai cũng thấy sờ sờ trước mắt, ngay trên mâm cơm nhà mình mỗi ngày. Nhưng sự nhiễm độc này chưa tàn phá và chết chóc cho bằng sự nhiễm độc trong tâm hồn mà Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp trong bài giảng ngày 13.06, lễ thánh Antôn tại Trại Gáo, Vinh đã nói: “Hôm nay người dân VN với mâm cơm đầy nghi nan, không biết đâu là thực phẩm bẩn – sạch và ranh giới giữa chúng rất mong manh. Một số người ham lợi nhuận, vì đồng tiền đã bán rẻ lương tâm, chế biến những thực phẩm bẩn đem bán trên thị trường.” 

Hai vị chủ chăn cùng chung một nhận định về cái chết trong tâm hồn con người. Đây là thứ chất độc đáng sợ hơn cả! Bởi độc bên ngoài, theo thời gian người ta có thể cùng chung tay loại trừ nó, nhưng độc tố hận thù trong lòng khiến người ta hại nhau, giết nhau một cách thản nhiên thì không còn thời gian để cứu vớt. 

image

Máu độc trong tâm hồn là hậu quả một nền giáo dục độc tôn do Đảng Cộng Sản VN Vô Thần cai trị hơn 70 năm ngoài Miền Bắc và hơn 40 năm trong Miền Nam. Một nền giáo dục mà theo lời nhận định của Đức Cha Phaolô là “đã bị nhiễm bẩn” bởi lòng bạo lực, thù hận và ích kỷ. Bao thế hệ trẻ VN dưới mái trường XHCN đã được “dạy” cho biết về lòng thù hận đối với Mỹ, Ngụy. Tôi còn nhớ như in ngày mình được học về lòng căm thù “thằng Ngụy”. Đầu óc non nớt trẻ thơ chưa hiểu “thằng Ngụy” là thằng nào mà nó phải đáng nguyền rủa như thế! Tôi đem thắc mắc ấy về hỏi Cha tôi, vốn là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, Cha tôi cười chua chát và chỉ vào mình: 

“Là thằng này đó con!”

image

Những khái niệm về sự quảng đại, lòng bao dung, ơn tha thứ là những mệnh đề khó hiểu. Bởi thế, khi cá chết trắng Miền Trung, bao gia đình đớn đau tuyệt vọng, đói khát lầm than, nhiều người đến làm từ thiện thì họ lại nêu ra câu hỏi: “làm từ thiện để làm gì?”, trên một chương trình truyền hình hẳn hoi. 

Sự im lặng, làm ngơ của nhà cầm quyền trước tình trạng nhiễm bẩn môi trường biển, cá chết hàng loạt hơn 70 ngày qua không phải là ngẫu nhiên. Họ thừa cơ sở dữ liệu để có thể tuyên bố nguyên nhân trong 1 ngày, nhưng cố tình che đậy. Đó chính là thứ độc hại trong tâm hồn mà CS đã chủ mưu từ khi lên cầm quyền.

image

Giả như tuyên bố nhanh nhà máy Formosa là thủ phạm thì chẳng khác nào thừa nhận việc làm phi nhân của mình khi vì lợi lộc của một nhóm lợi ích mà gây thiệt hại cho toàn dân. Nếu chỉ mặt Formosa cũng đồng nghĩa việc thừa nhận hối lộ, để làm ngơ cho Trung cộng hoàn toàn thao túng trên đất Việt. 

Vì lẽ, Cộng sản xây dựng học thuyết không phải trên lòng yêu thương, tình đồng loại hay sự dấn thân cho lợi ích cộng đồng mà hoàn toàn ngược lại. Sức mạnh của người Cộng sản hình thành trên nền tảng của lòng ích kỉ, tính thù hận và óc vụ lợi. Lúc mới hình thành, người Cộng sản đã dựa vào hạt gạo tình thương của nhân dân để mà sống, đến khi phát triển, có chỗ dựa thì họ quay sang đề phòng nhân dân và hoàn toàn xa rời nhân dân.

 

water red smoke sea moon

Đến khi nắm quyền lực trong tay, họ tồn tại bằng cách duy trì lòng thù hận, giáo dục về lòng thù hận và phát triển lòng thù hận. Lòng thù hận luân chuyển trong lòng chế độ như một thứ máu độc, nó kích thích tính ích kỉ, sự dửng dưng và vô cảm trước nỗi đau đồng loại. Và chưa bao giờ mà thứ máu độc này lại hoành hành trên dân tộc Việt Nam như bây giờ. 

Và một khi chất độc tâm hồn đã gây cái chết trong lòng người, thì mọi thứ độc tố bên ngoài chỉ còn là phụ tùy.

GNsP

22.06.2016

 
image



Lòng Mẹ Bao La

Lòng Mẹ Bao La – Nguyễn Văn Sâm

Thể chất tôi èo uột ngay từ lúc mới ra đời nên người nuôi rất cực khổ. Ba tôi mất sớm, gánh nặng đó chuyển lên vai của má. Tôi thường bị bịnh ban cua, lưi trắng, bên trong miệng lại có đẹn nên ăn gì cũng đau rát, không muốn nhai nuốt, thường phun nhả. Những ai trông coi thường đánh tôi vì chuyện đó, nhưng má tôi thì không bao giờ, bà xuýt xoa, dỗ dành, khuyên tôi cố gắng ăn uống. 

<!>

Tôi mới 4, 5 tuổi, chẳng hiểu gì nhiều nhưng cảm nhận những lời ngọt ngào và cử chỉ thương mến của bà, thích cái vỗ tay của bà khi tôi cố gắng nuốt nên khoái được má đút cơm. Bà kiên nhẫn, còn tôi thì gượng đau rát. Mỗi bữa cơm là một cực hình cho cả hai má con, tốn nhiều thời giờ ít ỏi của bà, nhưng tôi chưa bao giờ thấy bà bực mình vì chuyện đó.
Người ta nói tôi bị ban khỉ vì bịnh làm cho chưn tay tôi trở nên khẳng khiu và dài sọc, mặt mày ốm trơ xương, giống như mặt khỉ già.
Mỗi tuần hai ngày má cõng tôi trên lưng khom khom đứng đón xe ngựa đi lên nhà thuốc Ông Tạ để được bắt mạch hốt hai thang thuốc đem về. Xe ngựa chật, ngộp, bó rọ trong lòng má, tôi thường khóc giảy khiến bà phải dỗ dành và xoa xoa lưng tôi mới cảm thấy dễ chịu mà nín khóc. Xe ngựa ngừng ở ngoài đường lớn, má lại cỏng đi vô đường đất đỏ cả một đoạn dài, lắm khi trơn trợt sau cơn mưa. Nhiều lần bà té lên té xuống nhưng lúc nào tôi cũng cảm nhận là bà che chỡ cho tôi khỏi ướt, khỏi dơ còn bà sao cũng được, nhiều khi tới nơi rồi thì sình bùn đã hơi khô khô, dính vô cái áo túi của bà từng mảng, từng mảng. Trong khi chờ đợi được kêu tới số thẻ của mình, bà từ tốn lột quăng ra xa. Phòng chờ đợi quá đông nên nóng hầm, tôi thưng đòi chạy ra sân, nhưng má tôi sợ con té, lạc đường hay bị chó cắn, bà thường giằng lại trong lòng, cam chịu sự giảy dụa, bất bình của tôi. Lúc nhỏ mình chỉ biết làm cho đã nư, lớn nên nghĩ lại, nhớ ánh mắt thương mến của bà khi nhìn tôi mà cảm động và thương má muộn màng, nghĩ là có chết cũng chẳng đền bù được.
Vậy đó, tôi sống còn, tuy đau yếu, chậm lớn, nhỏ con, nhưng trong tim tôi chứa đầy ánh mắt bao dung và lòng thương mến bạt ngàn của má mà trời biển cũng còn nhỏ hơn. 
Còn nhớ năm đầu đi học lớp Năm, hầu như mỗi ngày đi học tôi đều khóc, và má phải cỏng tôi tới trường, đứng lúp ló ngoài cửa lớp hèn lâu rồi mới len lén đi về. Trưa tan trường, trống chưa đánh tôi đã thấy bóng dáng má tôi với cái nón lá và cái áo bà bà quen thuộc.
Lúc học năm thứ hai trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn thì ý định đi vào đường nghiên cứu văn học Việt Nam đã rõ nét sau khi đã sưu tập được một số tài liệu quan trọng cũng như đã khởi thảo được một vài tác giả cơ bản. Tất cả tư liệu và bản thảo đều được xếp vào một thùng giấy trước đây người ta dùng đựng sửa hộp, thời đó gọi đơn giản là thùng sửa, đêm đêm tôi lôi ra đọc đọc viết viết cần cù quên mệt mỏi. Má tôi học ít, chỉ đọc được chậm chạp những hàng chữ lớn trên báo hằng ngày mà thôi, thấy con mình quí thùng sửa giấy rách đó và say mê công việc nên bà thường yên lặng đặt kế bên con một ly nước trà đá chanh đường cũng như sẵn sàng xếp lại gọn gàng mỗi khi tôi bày binh bố trận.
Năm đó, khi đang ngồi ở Thư Viện Quốc Gia ở đường Gia Long học bài thì nghe tin lửa cháy bên kia Cầu Ông Lãnh, khu nhà tôi ở phía đó, xóm Vĩnh Hội. Tôi lật đật kiếm đường về mà không được, các cầu đi về hướng có đám cháy đều bị ngăn chặn, đò ngang cấm không được cặp bến để cho lính chửa lửa làm việc và nhân viên công lực ngăn ngừa trộm cắp.
Nóng ruột về tài liệu khó kiếm chắt mót bấy lâu nay, về quyển sách coi như đã hoàn thành được hơn một nữa, lòng tôi bồn chồn, lăng xăng lên xuống bên Bến Chương Dương ngó ngọn lữa mà thở dài, nhiều khi muốn cỗi áo lội qua sông nhưng thấy có nhiều nguy hiểm nên đành đứng trong đám đông bên nầy trơ mắt ngó.
Gần sáng, khi đám cháy tàn, tôi lò mò về khu nhà cũ. Mọi thứ đều hoang tàn, mấy cây dừa xưa lã ngọn nên thơ giờ chỉ còn trơ gốc đen xì giáp mép bùn khô, buồn bã. Cầu khỉ cầu ván đi vào hư vô, ao rạch cạn cùn phơi đáy trơ vơ những góc ván ngựa nám đen ai đó trong khi quính quáng đã chùi vội xuống nước. Tôi nôn nóng tìm má thì ít mà lo cho số phận thùng sách của mình thì nhiều. Biết bao nhiêu công trình tìm tòi và suy nghĩ. Biết bao nhiêu thời gian lục lọi nằn nì. Mất nó chắc tôi bỏ cuộc luôn chuyện viết lách mới nhen nhúm đầu đời.
Khi gặp má tôi đương ngồi đăm chiêu, mệt mõi, gương mặt lấm lem vài vệt lọ nghẹ, câu hỏi đầu tiên của thằng con là thùng sách của mình. Má tôi vui cười chỉ thùng báu vật của con mà bà đương ngồi trên đó, ý chừng để ngăn ngừa bọn hôi của đương hoành hành đâu đó. Tôi nhớ mình vì quá mừng, lính quính nên đã quên hỏi má về những vật dụng của riêng bà.
Gần mười năm sau quyển sách đầu đời của đứa con vô tâm được in thì má nó đã đi vào nơi hằng cữu một vài năm trước. Cầm quyển sách đầu tiên thơm mùi giấy mực tôi không vui mà chỉ buồn nhớ má, mắc cở  cho thái độ của mình ngày xảy ra đám cháy. Tôi nói thầm: Má ơi. Má viết quyển sách nầy chớ không phải con! Nếu má không cứu cái thùng sửa thì ngày nay đâu có sách.. Mỗi khi cầm sách nầy lên là con nhớ hình bóng má với ly nước trà đá chanh hay cử  chỉ  chịu đựng khi dọn dẹp tài liệu  bừa bãi của con ngày trước… Con cám ơn và xin lỗi má dầu muộn màng!
Vậy mà chẳng phải chỉ lỗi lầm đó với má tôi thôi, còn nhiều lỗi lầm khác nữa. Cũng dàng trời mây luôn. Chỉ xin đơn cử một trường hợp.
Từ khi cưới vợ và ra ở bên nhà vợ, tôi ít khi về thăm má mình. Vợ giàu không thích về thăm má chồng nghèo nên tôi chỉ về thăm má một mình, năm khi mười họa.
Một hôm rảnh rang, bỗng nhiên nhớ tới má, tôi lái xe hơi về xóm nhỏ thăm bà. Quẹo vô cái chợ chồm hổm tự phát đầu xóm tôi nhói tim khi thấy má ngồi trước cái ông lò than đỏ đương nướng trỡ  bánh tráng, bánh phồng. Dáng má khẳng khiu, ốm o, hốc hác. Tôi ngừng xe trước hai rỗ bánh đầy ấp của má. Má vội vã giải thích rằng bà kiếm thêm chút đỉnh, ngồi không chẳng ích gì. Đi bán cho vui, ở nhà tù túng thêm bịnh.
Tôi thương má gần như muốn khóc, năn nỉ bà về, bỏ hết ba cái thứ lỉnh kỉnh đó đi, má bán lời bao nhiêu một ngày, con sẽ đưa cho má tiền lời một lần bằng năm bảy tháng bán. Má nói bán lời chút nào hay chút nấy, tiền con để con xài. Năn nỉ hoài má cũng không chịu về, tôi đưa tay đè nhấn bể hết hai rỗ bánh tráng nướng của bà, tôi bắt gặp ánh mắt tiếc rẻ của bà mà xót ruột. Thấy chuyện dằn co, người bán hàng kế bên khuyên má tôi nên về và hứa sẽ đem thúng mũng lại nhà chiều nay. Má tôi về nhưng nhứt định không lên xe hơi. Bà quơ cái khăn rằn choàn lên đầu, trước khi bước đi không quên ngó ngoái lại lò than nướng bánh tráng của mình.
Má tôi vậy đó, không bao giờ đi xe hơi của con, dầu tôi năn nỉ bao nhiêu cũng vậy thôi, nhiều lắm bà chỉ rờ rờ khen xe đẹp mà từ chối lên xe với lý do đi không quen, chóng mặt, khó chịu, nếu đi rồi sẽ nhức đầu cả buổi…
Bữa đó tôi ở nhà má, được ăn bánh tráng nướng, bánh phồng kẹo, những món tôi rất thích khi còn nhỏ mà nước mắt rưng rưng. Tôi đã bỏ bê má mình để chạy theo những công danh phù phiếm bấy lâu nay. Tôi hứa với lòng là sẽ thăm viếng má nhiều hơn. Tôi móc đưa bà tất cả số tiền có trong túi như nhiều lần trước. Má nhận với gương mặt thoáng ưu tư, ngần ngừ, không cười cười như những lần trước.
Nhưng rồi tôi không có dịp thăm viếng má nhiều, má mất sau đó ít lâu. Anh Hai đưa tôi một gói giấy dầu cuộn tròn, mở ra mới thấy từng xấp từng xấp tiền, vẫn còn y nguyên như những lúc tôi đưa cho má mình trước đây. Phía dưới cùng của xấp tiền có tờ giấy xé ra từ tập học trò, chữ rất xấu của má: trịnh má thương con nhiều con không có lỗi gì với má hết. Má tôi viết không chấm, không phết, không viết hoa, chẳng ngay hàng nhưng tôi đọc được trong đó lòng bao la của má tôi, giờ đây kể lại chuyện nầy mà tôi vẫn còn muốn khóc.
Chuyện đời đưa đẩy, tôi vào quân đội, vô Sư Đoàn 7 Bộ Binh, mỗi khi hành quân tôi đều vái van má tôi trước, coi như vị Bồ Tát bổn mạng của tôi. Người ta kẻ đeo bùa cà tha, kẻ mang nanh heo rừng hay ngậm răng cọp, tôi thì mang hình ảnh má mình trong tim với lời xin lỗi muộn màng. Vậy mà đạn tránh tôi nhiều lần, lúc thì trợt trên nón sắt, lúc thì tránh trái tim, chỉ xuyên qua bả vai. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là chuyện lúc tôi linh đinh trên biển mới đáng nói.
Cho nghỉ uống miếng nước thấm giọng nghen! Nói nhiều khô cổ quá! Nhỏ tới giờ mang hình ảnh mẹ trong lòng, hôm nay xin cám ơn Dì Chưởng với Chú Hoạt đã cho tôi có dịp nói lên lòng mình. Nói mà tôi cảm thấy bóng dáng má thấp thoáng trước mặt. Nhiều khi tôi ước ao, dầu thấy rằng vô lý, là phải chi mỗi người có cả chục người má, mới thỏa được cái tình má con. Nói tóm lại, tôi thèm tình mẹ, cho đến ngày nay dầu đầu bạc cổ lai hy, tôi vẫn không hiểu hết chiều sâu trong trái tim của Mẹ.
Trở về chuyện vượt biên.
Năm nào đó tôi được biệt phái về lại nhiệm sở cũ là Trường Trung học nhỏ trong quận Cần Đước. Má tôi quá vảng cũng đâu được mấy năm rồi. Dạy học thì cũng thường thôi, vai trò của thầy giáo dạy Việt Văn tôi làm nhiệm vụ chuyển tải những kiến thức văn học trung thực cho học sinh chẳng liên quan vì đến chánh trị đương thời. Sau biến cố 75 thì tôi bị cho ra ngoài biên chế, không được lưu dụng vì môn dạy của mình. Giữa một đất nước mọi thứ trao đổi kinh tế đều bị cấm đoán, không việc làm có nghĩa là thiếu thốn cùng cực và bị dòm ngó nặng nề. Chứng kiến thêm những bất công hằng ngày chung quanh, tôi phải bỏ đi thôi nếu không thì có ngày mang khổ lụy vì phản ứng trước những bất công.
Và tôi vượt biên. Bốn ngày linh đinh trên biển, một đêm kia trong khi phần đông khách đi tàu đương ngồi ngủ chồm hổm dưới khoang tàu tối đen như mực thì một đóm lửa của cụm nhang do chủ tàu chuyền tay cho khách với giọng ai đó vừa ai oán vừa chịu đựng:
“Bà con cầm một cây nhang cho gia đình mình, còn bao nhiêu chuyển cho người kế bên nha. Ai đạo Phật thì cầu Phật Bà, ai đạo Chúa thì cầu Đức Mẹ, tàu mình bị vô nước, tối quá không thấy chỗ lủng. Tàu sẽ chìm trong vài giờ nữa…”
Có tiếng ai đó nhẹ nhàng nhưng trong hoàn cảnh nầy nghe hơi bi hài:
“Còn tôi đạo Cao Đài thì sao?”
“Thì vái Phật Mẫu!” Tôi vẫn không biết tại sao mình buột miệng mau như vậy. Lại còn nói thêm: “Tên gọi thế nào thì  cũng chỉ là một thôi, cũng là tạo thành bằng yếu tố Tử Bi. Từ Bi mà, bà con biết đó!”
Tôi tiếp nhận cụm nhang, lấy riêng cho mình một cây, trao cho vợ một cây, còn bao nhiêu đưa cho người ngồi kế bên. Nước lên ướt đít lạnh lạnh. Tôi vái Phật Bà, tôi van vong hồn má tôi cho chúng tôi người lớn chết hết cũng được, không ân hận gì, nhưng các con tôi và tất cả con nít khác trên tàu xin được cứu sống, chúng vô tội, chưa từng hưởng điều sung sướng nào trên cỏi đời nầy. Nước từ từ ngập tới háng, tôi cố gắng ngồi nhón chưn cho thân mình cao hơn, buồn ngủ quá, tôi thiêm thiếp trong mơ màng.
Thời gian trôi qua, trong đêm tĩnh lặng chỉ có tiếng gió biển rít trong không gian, tới một lúc tôi nghe văng vẳng chủ tàu nói  mơ hồ là tìm được lổ lủng rồi, yêu cầu bà con có áo quần dư chuyển sang phía bánh lái tàu để bịt lổ. Tôi không còn sức để mở mắt, mà dầu có mở lớn mắt cũng không thấy gì, hầm tàu tối đen như đêm ba mươi, thỉnh thoảng cảm thấy ai đó chuyển quần áo đụng vô mặt mình hôi hám dơ dáy. Trong mơ hồ tôi thấy hình ảnh Đức Phật Bà Quán Thế Âm và gương mặt vui vui của má tôi. Ánh mắt hai người đều hiền từ. Rồi giống như trong kỷ thuật điện ảnh, hình ảnh hai bà từ từ chồng khít lên nhau để rồi cũng một bức hình đó khi thì hiện lên má tôi, khi thì hiện lên đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tôi hứa với lòng là sẽ thờ Phật Bà khi sống sót, lập một cái trang thờ mẹ và kỵ giỗ long trọng hằng năm. Vậy mà suốt thời gian hơn hai mươi năm sống ở đây tôi mãi chạy theo công ăn việc làm lại không làm được cái trang thờ dầu chỉ là một tấm ván nhỏ đóng lên tường có dựng hình mẹ và một lư hương. 
Đứa con trai tôi mua nhà trước khi cưới vợ, hôm đám cưới nó dọn hình ảnh ba má tôi lên chừng độ hơn hai giờ đồng hồ rồi ngay sau khi đàng gái vừa ra về khỏi cửa nó với vợ mới cưới liền đem hình ông bà nội xuống. Nhà là nhà của nó, tôi không thể mở miệng nêu ý kiến gì, nói ra thêm dư lời mà chắc chắn không kết quả. Chúng sẽ xúm lại công kích tôi vụ hình thức, tôi còn quá Việt Nam nên chú ý tới chuyện nhỏ mọn, chuyện tào lao. Nhà của tôi còn bị chê bày biện sao nhà quê giống Việt Nam ruộng, huống chi nhà nó. Tôi chiêm bao thấy má mình nhiều lần nhưng chưa lần nào nghe má tôi nhắc đến lời tôi hứa lập trang thờ.
Khi vô sống ở nhà Dưỡng Lão nầy, ngồi buồn tôi nhớ hình ảnh chồng lấp của má và Đức Quán Thế Âm, tôi nghiệm ra rằng má ta là Đức Bồ Tát của ta, là sự Từ Bi rót lên đời ta ngay từ lúc mới sơ sanh để ta sống sót. Phật Bà nói chung là má của tất cả mọi người. Má của người nào là Phật Bà mà chỉ có đứa con mới cảm nhận được thôi.
Gần đất xa trời tôi mới cảm nghiệm được chơn lý đơn giản nầy. Tiếc quá!
Tiếc nhưng biết làm sao hơn, nhân loại sanh ra để va vướng vào những mê lầm muôn thuở mà dầu ta có học xong bài học và được phép mầu làm cho trẻ lại nhiều lần đi nữa thì cũng mắc mê lầm lại y chang như cũ, cũng hờ hững và không thấu được lòng mẹ bao la…..



Lời cám ơn chân tình của Yên Sơn

Lời cám ơn chân tình của Yên Sơn, gặp cô thầy Nguyễn Thanh Liêm.

Inline image 2

* Buổi hội ngộ sau 4 ngày thì GS Liêm ra đi. Trích một phần bài bút chuyến viếng thăm Orange County, California vừa qua gửi đến tất cả bằng hữu như lời cám ơn chân tình của thi sĩ Yên Sơn.
…Từ giã anh chị Vũ Ngọc Thạch, từ giã tân Linh Mục Dòng Tên Vũ Ngọc Dzao, từ giã Thánh đường Đại học Loyola Marymount, Los Angeles… chúng tôi vội vã đến cái hẹn 1g chiều ở nhà hàng Hồng Ân trên đường Westminster để hội ngộ với một số anh chị em văn nghệ sĩ quen biết đã nhiều năm, do bạn văn Trần Việt Hải và Khiếu Như Long tổ chức.
 
1:30 trưa tới nơi đã thấy một nhóm đang chụp hình, cười đùa rôm rả. Thấy có vợ chồng Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, tôi cảm động đến chào Thầy. Đây là lần thứ hai tôi gặp Thầy (lần đầu gặp Thầy trong Hội Ngộ Liên Trường Trung Học Quảng Ngãi ở Washington DC 2013). So với lần trước, Thầy trông có vẻ gầy ốm và dĩ nhiên già hơn nhiều. Với sức khoẻ như vậy mà Thầy Cô cũng có mặt vui vẻ với anh chị em thật là đáng trân trọng. Trong suốt buổi gặp gỡ, Thầy chỉ ngồi cười nhiều và vỗ tay tán thưởng cùng với mọi người. Theo đề nghị của Việt Hải, tôi đặc biệt hát tặng Thầy một câu Vọng cổ của 6 câu “Đêm Mộng Hồ Tây”. Câu này không có gì đặc biệt chỉ là nhớ đâu hát đó cho vui chứ đâu có ai ngờ đó là câu vọng cổ cuối cùng Thầy nghe được trước khi giã biệt cõi đời!
Inline image 6
Inline image 7
Viết đến đây bỗng dưng xúc động, ngồi một phút lặng yên tưởng nhớ đến Thầy. Dạ thưa Thầy, dù em không có may mắn được học với Thầy, nhưng tiếng thơm của Thầy được sách vở và người đời truyền tụng khắp cả Miền Nam Việt Nam; trong nhiều thập niên Thầy đã dày công đóng góp cho một nền giáo dục của VNCH vô cùng tốt đẹp đầy nhân bản và khai phóng. Em cảm tạ tình nghĩa của Thầy đối với lũ hậu bối chúng em; cảm tạ Thầy đã không ngại nắng gió hôm nay đến chung vui với tụi em trong bầu không khí thân tình. Và em cũng không ngờ, em vô tình hát tặng Thầy Cô bản Thư Tình Cuối Mùa Thu của Phan Huỳnh Điểu khi khi nhớ lại bức tranh Cô dìu Thầy ra xe về trong chiều ly biệt, “…Tình ta như hàng cây đã qua mùa bão gió. Tình ta như dòng sông đã yên ngày thác lũ. Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm, tuổi theo mùa đi mãi chỉ còn anh và em. Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…”
 
Khi chúng tôi tới nhà hàng, ngoài Thầy Cô Nguyễn Thanh Liên, thấy có khoảng mười mấy anh chị em, hầu hết đã quen biết như: Khiếu Như Long, Trần Việt Hải, Nhược Thu, Cò Tuấn và hai cô nương, chị Hồng Vũ Lan Nhi lúc nào cũng tươi vui, chị Bích Huyền vẫn còn khá nhiều nét yêu kiều, Dương Viết Điền, Trịnh Thanh Thuỷ, Quỳnh Hương; bạn quen nhưng mới gặp lần đầu: anh Trần Mạnh Chi, Ngọc Quỳnh, Lâm Dung, chị Gina Nga (phu nhân NS Lê Trọng Nguyễn), nha sĩ Kim Loan, anh chị Huệ, Huỳnh Anh, Băng Tâm, phó nhòm vô cùng dễ thương Nguyễn Thiều Minh, nhạc sĩ keyboard thiên tài David Tòng, anh Thiên Đức… rồi từ từ thêm nhiều người khác đến gồm có anh Đào Ngọc Nhuận, ông bạn hai quần Đồng Văn… Nếu thiếu ai cho tôi xin lỗi nha.
Dù là bạn cũ, bạn mới chúng tôi cũng rất trân trọng tình nghĩa bạn bè. Một lần nữa, xin cùng với các bạn, đốt nén hương lòng tưởng niệm đến Thầy Nguyễn Thanh Liêm, chúc Cô Phương nhiều nghị lực để phấn đấu trong những tháng năm cô đơn sắp tới; xin chân thành cảm tạ Bạn Khiếu Như Long, bạn Việt Hải, không có hai bạn chắc chắn chúng ta không có buổi hội ngộ thân thương và mang nhiều kỷ niệm này.
 
Yên Sơn
Kingwood, 25/8/2016.



Phan Thanh Tâm : Về Việt Nam – Về Mỹ ?

Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa, Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi và Cứ tự mình dán băng keo vào miệng / Yêu tổ Quốc chỉ còn nghe ú ớ. Có thật vậy không? Kỳ này, mắt thấy tai nghe mong sẽ biết VN nhiều hơn là qua thế giới ảo. Nhờ bạn bè, bà con xa gần, tôi đã thực hiện một chuyến đi ta ba lô thích thú viếng Hà nội, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Vũng Tàu, Bến Tre.

Về Việt Nam – Về Mỹ ?

Phan Thanh Tâm

 

Gềnh Ráng – Quy Nhơn 12/12

Đi với Về cũng một nghĩa như nhau?(1) Không. Đi là di chuyển đến một nơi khác Về là trở lại chốn cũ, nơi mình có nhiều quan hệ. Một người Mỹ gốc Việt có hai nơi để về. Về Việt Nam thăm mồ mả cha ông, gặp lại người thân, nhìn lại đường xưa lối cũ; con đò, bờ sông, nón lá, mấy nhịp cầu tre, con trâu, cái cò, núi đồi, đồng ruộng; được ăn những món đặc sản ngay tại địa phương; được hít thở không khí quê nhà và được nghe những âm thanh quen thuộc. Nhưng rồi phải quay về Mỹ. There’s no place like home. Our home is where our heart is. Không đâu bằng mái ấm gia đình. Nơi này có công ăn việc làm, có tự do. Tôi có thể nói những gì tôi muốn nói; làm những gì tôi muốn làm.

Hồi cuối năm 2011 tôi đã về VN một tháng. Bay trên mây, nhìn trời xanh, tôi nghĩ đến mấy câu thơ trên mạng của Bùi Minh Quốc và Thanh Thảo mô tả VN ngày nay: Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa, Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi và Cứ tự mình dán băng keo vào miệng / Yêu tổ Quốc chỉ còn nghe ú ớ. Có thật vậy không? Kỳ này, mắt thấy tai nghe mong sẽ biết VN nhiều hơn là qua thế giới ảo. Nhờ bạn bè, bà conxa gần, tôi đã thực hiện một chuyến đi ta ba lô thích thú viếng Hà nội, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Vũng Tàu, Bến Tre. Tôi cũng đã cùng với gia đình Đỗ Lê Minh, hiện dạy toán ở Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles), theo tour viếng Đế Thiên Đế Thích, một kỳ quan thế giới ở Siem Reap thuộc Campuchia trong ba ngày.

Đây là lần thứ hai về VN vì lý do gia đình. Lần thứ nhất cuối năm 2006. Sau 1975 tôi đành phải rời xa đất nước vì sống không nổi dưới chế độ độc tài toàn trị dù tôi đã yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. Lúc bấy giờ hầu như dân miền Nam đều muốn bỏ xứ ra đi. Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) là thực dân thứ thiệt; rất giỏi trong việc bóc lột, dối trá, bưng bít và còn ngụy biện bằng khẩu hiệu yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Tôi đã vượt biên trong một đêm không trăng sao tối đen như mực. Trên ghe 13 người kể cả một bé nhỏ sáu tháng. Sao lại có người gan liều bồng con trôi giạt một tháng như vậy? Theo nhà văn Phạm Phú Minh các bà mẹ Việt Nam đánh hơi thấy nếu không ra đi thì con mình sẽ bị suy tàn về thể chất, dốt nát về trí tuệ và thui chột về đạo đức.

Phần lớn thời gian về VN tôi ở Saigon. Trước 1975 đây là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) giờ có tên mới viết là TP (thành phố hay tội phạm?) Hồ Chí Minh, thay đổi rất nhiều. Quận nào cũng có xây cất nhưng không được qui hoạch đàng hoàng. Mạnh ai nấy làm, kiểu cách, cao thấp, trồi sụt bất thường. Chỉ có khu bên kia sông là khá qui củ. Sau chầu cà phê với Thân Trọng Minh ở Chợ Lớn tôi theo Vũ Thị Ái đồngnghiệp trước 1975 đến Việt Tấn Xã, sở cũ cạnh Dinh Độc Lập. Chúng tôi đi bộ, ra vẻ thăm dân cho biết sự tình. Tôi như lạc vào chỗ lạ. Không hình dung ra nơi chốn vì mặt tiền mấy nơi đi qua khác hẳn, không còn nhận ra đường nào với đường nào. Buổi trưa trời nắng, nóng nực quá chừng. Saigon bị lây Hà nội rồi. Thành phố không có vỉa hè.

Hồn Việt Nam Cộng Hoà và Phạm Duy

Ngồi bệt ở một cái sạp bán nước bên vệ đường, tôi uống hai trái dừa xiêm, no cành hông, thiệt đã. Vô tình thấy tờ Saigon Giải Phóng, có bài Dành Vỉa Hè Cho Người Đi Bộ trong mục Sự Kiện Vấn Đề của tác giả Phạm Phương Thảo. Đi bộ khó thật vì không phải vỉa hè nào cũng có chỗ đi, có khi phải đi xuống lòng đường và việc đi bộ còn gặp khó bởi không ít vỉa hè dùng vào việc buôn bán, đậu xe. Xe gắn máy cứ lách lên vỉa hè mà chạy. Việc đi bộ qua các ngã tư không dễ dàng cho dù có đèn xanh, đèn đỏ. Mặt khác bộ mặt của vỉa hè có nơi vẫn còn tình trạng tiểu tiện bừa bãi. Nhìn dòng xe chạy chen lấn, len lách tôi thấy dường như ai cũng nghĩ mạnh ai nấy đi. Qua đường là một thửthách. Hà nội cũng y như vậy. Kinh khủng. Terrible. Chữ của một người ngoại quốc nói với tôi và cũng của một người bạn ở Hà nội khi cùng đi qua đường.

Dấu vết Saigon xưa chỉ còn lại chợ Bến Thành, đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Chính quyền mới muốn xóa mọi hình ảnh cũ. Sinh hoạt thời VNCH làm họ bực tức, khiến chữ giải phóng mất ý nghĩa, biến thành phỏng dái. Nhưng hồn VNCH vẫn còn trong lối sống, vương vọng qua mấy bản nhạc trên xe taxi, ở quán đầu hẻm, trong nhà từ nam chí bắc; và ngay cả thủ đô Hà Nội, cái nôi xã hội chủ nghĩa VN. Nhà hát Lớn Hà Nội đã bị làn sóng nhạc “sến” tấn công. Tuấn Vũ chiếm lĩnh hàng chục đêm, rồi các live show của Quang Lê, Mai Quốc Huy (được xem là “truyền nhân” của vua nhạc sến Chế Linh)…gần đây nhất là ca sĩ Thanh Tuyền. Nếu không có những rắc rối trong tổ chức, vua nhạc sến Chế Linh cũng đã cất cao giọng hát tại lâu đài âm nhạc giữa thủ đô. Một tờ báo ở VN đã viết như vậy.

Tại sao có hiện tượng đó? Nhạc cách mạng vừa dở vừa lỗi thời không ai muốn nghe nữa. Tác giả Phan văn Minh trong bài “Đừng Làm vấy bẩn ca từ tiếng Việt” trên Hồn Việt ngày 28/12/11 viết, lời ca một số bản nhạc mới là một sự kém cỏi về văn hóa, trí tuệ; một sự phỉ báng đối với ngôn ngữ mẹ đẻ. Về chuyện Chế Linh bị hủy không cho trình diễn tiếp, theo nhạc sĩ Phạm Duy, họ làm ầm ĩ quá. Khiêm tốn thì được.
Phạm Duy có vẻ không được khỏe lắm, cho biết, những buổi trình diễn của ông rất thành công. Ghé thăm ông tại nhà ở Phú Thọ, nhạc sĩ có cả ngàn bài ca nói, trở về VN là đúng với luật tự nhiện: lá rụng về cội. Ông muốn khi mất sẽ mất ở Saigon. Sau đó, các con sẽ dời mộ bà Thái Hằng về luôn. Giờ không còn sức ngồi máy bay gần 20 tiếng trở qua Mỹ.

Cuộc sống hiện nay thế nào? Nhạc sĩ Phạm Duy cười trả lời, rất thoải mái. Lẽ dĩ nhiên phải có tiền và mũ nỉ che tai. Câu nói của nhạc sĩ 90 tuổi cũng là triết lý sống của nhiều người trong nước. Có đủ tiền chi tiêu; không nghe, không thấy, không bàn về bất kỳ điều gì coi là nhạy cảm có hại đến chế độ. Nhưng Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong những người chủ trương trang mạng Bauxite VN, nói với đài BBC hồi cuối năm rằng nhà cầm quyền đã đối xử với 85 triệu dân như những con bò. Có lẽ vì vậy, khi một số khoa bảng VN được nhà nước đãi ngộ hơn kẻ khác, đươc trao hoa, cho quà, ban chức, phong tước, họ mừng rơn về hùa với chế độ; thay vì phẫn nộ, đòi hỏi công bằng, công lý, cho những người bị phân biệt đối xử, bị nhiều thiệt thòi.

Ngoài ra, để định hướng dư luận, đảng CSVN quyết nắm chặt các phương tiện truyền thông. Tất cả báo chí đều một giọng, một điệu. Coi văn nghệ sĩ như tôi tớ, gọi dạ, bảo vâng. Lâu lâu xoa đầu khen thưởng hay rầy la. Ký giả Đoan Trang trong bài Giọt Nước Mắt Của Lề Phải viết trên mạng, dưới chế độ Cộng Sản nhà báo không khác gì con chó; bảo sủa thì sủa; bảo im thì im. Nhìn chung, có vẻ đảng CSVN thành công trong việc thuần hóa đám đông. Công an có mặt khắp nơi. Con đường tiến thân là nhớ lời Bác. Qua báo chí thấy một xã hội ổn định. Muốn vào Internet, cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài phải vượt tường lửa. Chỉ người nào muốn hiểu biết, có phương tiện mới tiếp cận được với nhiều nguồn tin khác nhau.

Ngô Công Đức Tự Bạch: Hối Hận

Trước khi cái thiện thắng cái ác của thời bao cấp, tức trước khi đổi mới trở về cái cũ hồi cuối thập niên 80, con đường tương lai là đi ra biển. Thời này khác, thay vì vượt biên, cha mẹ cho con du học hay  theo học trường ngoại trong nước. Nền giáo dục VN hỏng lâu rồi. Nhưng thay đổi thế nào? Bỏ bác, bỏ đảng, bỏ mác, bỏ lê? Hồi xưa ra ngõ gặpanh hùng bị gạt. Ngày nay, ra ngõ gặp tiến sĩ giấy, quán cà phê hay trẻ em lang thang bán vé số, đánh giày. Báo Tuổi trẻ (3/12/11) cho biết, theo Nhóm Young Lives (Những cuộc đời trẻ thơ), một chương trình nghiên cứu quốc tế thì có 1,2 triệu trẻ em không đến trường; còn Bộ Giáo Dục Đào Tạo thì chỉ có 200,000 thôi; nhưng cả hai đều đồng ý nguyên nhân chính là vì chán học và kinh tế khó khăn.

Ngô Công Đức (1936 – 2007), dân biểu đối lập thời VNCH, một nhà báo tên tuổi, sáng lập tờ Tin Sáng trước và sau 1975, rồi bị CSVN dẹp luôn năm 1981, trong cuốn Tự Bạch, phổ biến hạn chế viết, Tôi là người ủng hộ Cách Mạng, cảm thấy đau lòng và hối hận trước cảnh khốn khổ của người dân. Quan liêu, tham nhũng, hà hiếp dân có hệ thống mà người ta đổ lỗi cho cơ chế, đã gây tủi hổ cho những ngưòi Cộng Sản chân chính, và tôi cũng hổ thẹn lây vì từng đứng bên cạnh họ. Hai chữ Anh Hùng đã bị bôi bẩn. Thống nhất là một may mắn lớn. Rồi Miền Nam phải rước lấy một chế độ đã từng được áp đặt bao nhiêu thập niên ở miền Bắc, gây nhiều chết chóc đau thương oan uổng, gây nghi kỵ gian dối, gây nghèo đói giữa một dân tộc thông minh và cần cù.

Tập Tự Bạch 16 trang viết xong ngày 21/11/2006 thố lộ thêm, Nếu không thống nhất đất nước ai quả quyết được miền Bắc không giống như CHDCND Triều Tiên. Người Cộng Sản được sống ở miền Nam đã làm thay đổi suy nghĩ của Đảng Cộng Sản. Công cuộc đổi mới đất nước chính là cuộc giải  phóng miền Bắc khỏi một chế độ đã thất bại từ trước và đưa miền Nam về dần với tính năng động đã có trước đây ở miền Nam. Kết quả hôm nay có được sự đổi mới này, chính là nhờ sực đấu tranh của nhân dân cả hai miền. Đức độ của Hồ Chủ Tịch sao không dạy được cấp dưới noi theo? Hôm nay được nghe lời kêu gọi đoàn kết – hòa hợp. Nhưng đoàn kết hòa hợp thật hay chỉ là sự tiếp nối của lời kêu gọi thiếu lòng thành trong 30 năm qua. Để rồi phải tiếp tục kêu gọi đoàn kết? Ngoài tập này, tác giả còn có Cuốn Hồi Ký, chưa ấn hành.

Đến Hànội mà không ngồi ở Hồ Hoàn Kiếm và Hồ Tây là một thiếu sót. Nhìn mặt hồ gợn sóng lăn tăn, in bóng hàng liễu rũ cho ta cái thú của một kẻ nhàn du, tha hồ mơ xa rồi lại nghĩ gần. Thủ đô có hai cái đẹp: mấy viên ngọc bích thủy thiên nhiên, in bóng trời xanh mây trắng và buồng phổi của 36 phố phường, mấy hàng cây cổ đại cành lá xum xuê, phủ mát lòng đường. Hồi niên thiếu, tôi thấy Hà nội lãng mạn trong Tự Lực Văn Đoàn, trong các lời ca của các nhạc sĩ năm 54; rồi thấy Hà nội nghèo khổ, thiếu thốn thời bao cấp qua lời kể của người được ra Bắc sau 75 trong đó có nhà tôi; và Hà nội ngày nay, ầm ầm, ào ào, lúc nào cũng chộn rộn. Hai bản nhạc hay về Thăng Long là Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành và Mùa Thu Hà nội của Trịnh Công Sơn.

Một cái thú khác khi viếng Thủ đô, có hơn 1,000 năm lịch sử, khai sinh từ vua Lý Thái Tổ (1009-1028), là bước vào những tiệm ăn uống xưa cũ, bình dân để biết thêm về văn hóa ẩm thực vùng này. Một người quen, anh B. dân Hànội đưa tôi vào quán Cà phê Lâm, ở phố cổ. Thời bao cấp khách hàng quen thuộc của quán là văn nghệ sĩ Hà Thành. Cà phê đen đặc quánh nổi tiếng từ thập niên 50. Ngồi trên ghế gỗ thấp, tôi hình dung sinh hoạt tiệm; nơi treo nhiều tranh cũ từ nửa thế kỷ trước mà tác giả là những họa sĩ đã để lại vì ghiền mùi cà phê của ông. Tôi cũng đã được ăn phở ở phố cổ vừa rẻ, vừa ăn được, hơn hẳn phở trong khách sạn năm sao ngay tại Hà nội; giá 10$ US một tô. Khunày lúc nào cũng tấp nập từ sáng tinh mơ cho đến quá nửa đêm.

Võ khí mềm: hộ khẩu và cái loa

Sau ngày 30/4/75, Hà nôi là trung tâm quyền lực của cả nước. Phía thắng ai cũng nôn nao muốn vào Nam để nhận hàng khi thấy từng đoàn xe đầy ắp chiến lợi phẩm chở về Bắc. Trong khi đó, dân miền bại trận muốn được yên thân tìm người để nhận họ hay âm thầm nhào ra biển.
Nhằm củng cố việc cai trị, CSVN đem vào hai võ khí mềm: giấy hộ khẩu và loa phóng thanh, gắn khắp phường khóm. Giấy hộ khẩu chủ yếu nắm bao tử. Loa phóng thanh định hướng dư luận. Nó còn dùng để phá đạo.
Nhớ lại, khi viếng chùa Thiên Mụ ngắm cảnh, tìm sự yên tịnh hay tiếng chuông ngân, tôi bị sốc khi nghe từ trong xóm cái giọng Huế nặng nói về công ơn của Bác Đảng. Lải nhải cả ngày kiểu này, Chúa Phật chắc cũng bỏ chùa, bỏ nhà thờ mà chạy huống chi người phàm.

Rời Hà nội, tôi về miền trung đến Huế qua ngõ sân bay Phú Bài. Phi trường này chẳng được sửa sang gì hơn với thời VNCH. Trong ba ngày ở cố đô, tôi đã có dip thả bộ qua lại nhiều lần hai cầu An Cựu, nơi mà dòng sông nắng thì đục, mưa thì trong và cầu Trường Tiền, sáu vài 12 nhịp. Bao nhiêu nước chảy qua cầu từ dạo ấy mà Huế vẫn vậy, ít thay đổi. Cảnh cũ, đường xưa không khác bao nhiêu. Chỉ có các món ăn là dở đi nhiều; còn đâu bánh khoái, bánh bèo, bánh nậm? Người Huế bỏ xứ đã mang theo hết cả nghệ thuật ẩm thực rồi sao? Sau khi thăm mồ mả bà con trong đó có mộ hai ông cố Phan Tôn, Phan Liêm mà chị Phan Thanh Gia Lai đã thêm chữ quốc ngữ trên hai bia xây từ cuối thế kỷ 18 toàn  chữ nho, tôi đã vào thăm trường Quốc Học.

Trường xưa nhưng bạn cũ đâu hết rồi? Đường đời vạn nẻo, ai còn ai mất? Nhìn dãy lớp thuở nào, tôi vừa thấy xa lạ vừa thấy thân thương; bồi hồi nhớ lại một thời đã qua. Ngồi lặng cả giờ ở một ghế đá trong sân trường, được thành lập ngày 23/10/1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, giao cho ông Ngô Đình Khả làm trưởng giáo với tôn chỉ pháttriển giáo dục, đào tạo nhân tài; tôi ở trong trạng thái nhớ nhớ, buồn buồn khi nghĩ tơi một số bạn cùng lứa, cùng lớp và cùng bàn đã ngã xuống trong cuộc nội chiến: Huỳnh Sửa, Huỳnh Sảnh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Đức, Hồ Đắc Cung, Hồng Dũ Thiều… và gia đình Trần Như Thông, mất tích khi vượt biên. Tôi đã chán chường khi thấy tượng Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh cắp sách đi học, ngay chỗ cột cờ.

Tiến sĩ Sử Học Hoàng Ngọc Thành, cưụ học sinh Quốc Học, trong cuốn Công và Tội Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam 1945-2006 Lịch Sử Hiện Đại Việt Nam, in năm 2009 cho rằng, ông Hồ Chí Minh, đã đặt cái không tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa trên quyền lợi quốc gia hay lợi ích dân tộc. Ông Hồ Chí Minh có công rất lớn với Liên sô và Trung Cộng nhưng đối với dân tộc VN, ông và đảng cộng sản phạm tộiphản bội tức phản quốc. Cũng vẫn theo Giáo sư sử nhiều trường Đại học ở Saigon trước 75, thường các vụ thống nhất đất nước là có công, nhưng vụ thống nhất VN sau 18 năm chiến tranh 1957-1975 là có tội vì mục tiêu chính là phục vụ Liên Sô, Trung Cộng và vì ý thức hệ Cộng
Sản. Ông Hồ từng khoác lác, tôi dẫn năm châu tới đại đồng.

Một bạn cũng học ở Quốc học hiện ở Saigon nói quá nhục nhã khi tôi nhắc tới cái tượng và tấm bia ngay ở cổng vào ghi tên các công thần gộc của chế độ. Chế Lan Viên viết: MậuThân 2000 người xuống đồng bằng, chỉ một đêm còn sống có 30, ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó. Tôi! vì những câu thơ tôi làm người ấy xung phong. Năm 1999 Thứ Trưởng Bộ Thương Binh Xã hội Nguyễn văn Quảng cho Đài TruyềnHình Nhật NHK biết có 800,000 đồng chí hy sinh Tết đó. Đến nay, nhiều gia đình vẫn còn tìm kiếm hài cốt người thân. Hỏi ai? Hãy níu áo Võ Nguyên Giáp; ông tướng cầm quân như tay đánh bạc không bao giờ sợ hết tiền. Còn Phạm văn Đồng ký công hàm 14/9/58 về Hoàng Sa, Trường Sa khó thoát tội Việt gian rành rành.

Dẫn xe tăng CSBV ủi Dinh Độc Lập

Một kỷ niệm đáng nhớ là đã cùng đồng nghiệp thời VNCH, Nguyễn Vạn Hồng (NVH) đạp xe dọc bờ biển trên đường Hoàng Sa & Trường Sa, từ núi Sơn Trà đến Ngũ Hành Sơn, còn gọi là núi Non Nước. Tôi đạp lạng quạng không hiểu vì ngây ngất trước cảnh trời biển bao la với từng đợt sóng từ xa ùa vào bờ hay vì mùi muối mằn mặn trong không khí và cái lành lạnh ban mai? Làm sao có chuyện một phóng viên Việt Tấn Xã dẫn xe tăng CSBV ủi cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/75? Theo NVH, trên đường về làng báo chí đón vợ con, khi đến cầu Thị Nghè thì gặp xe tăng tiến qua; nép vô lề. Vài anh bộ đội trên xe hỏi đường trong đó có sĩ quan Bùi Quang Thận, cầm súng lục bắt dẫn tới dinh Độc Lập. Tôi quay xe chạy trước. Họ theo sau đến cổng rồi ủi vào cửa sắt.

Sau 75, NVH nổi tiếng với bút hiệu Cung Văn, làm cho tờ Saigon Giải Phóng; hiện còn giữ cờ lệnh xe tăng của sĩ quan Thận. Người quen nói với tôi, vì thấy toàn là dối trá nên NVH bỏ về Đà nẵng, sống nhờ vợ.
Thành phố này rất phát triển. Chúng tôi viếng Đại Học Phan Châu Trinh, có 1200 sinh viên, lập năm 2007 ở Hội An, một thành phố cổ thu hút du khách nhờ Chùa Cầu, do người Nhật xây từ thế kỷ 17. Tôi gặp nhà văn Nguyên Ngọc, một giới chức của trường, đã có một buổi ăn trưa đáng nhớ bên dòng sông Thu Bồn: món đặc sản cá đối kho dưa gan. Theo nhà văn, cũng là cựu học sinh Quốc Học, cuộc chiến Nam Bắc Mỹ kết thúc đẹp. Có lẽ nhờ vậy, Hoa Kỳ mới là cường quốc; mới là nơi tụ hội của nhiều nhân tài từ khắp năm châu.

 

Chùa Cầu, do người Nhật xây từ thế kỷ 17
Trước khi đưa ra ga xe lửa rời xứ Ngũ Phụng Tề Thi về Qui Nhơn, vợ chồng NVH đã đãi tôi một bữa ăn mì quảng lươn ngon lành. Dù rằng nhà thờ bên ngoại tộc Lê ở Hà nội và bên nội chánh quán ở Bến Tre, và chẳng có kỷ niệm gì về thành phố này, tôi vẫn về đây vì gia đình tôi và mồ mả cha mẹ chị em trước 1945 ở Bình Định. Dịp này, tôi đã không quên đến Ghềnh Ráng viếng Đồi Thi Nhân, nơi an nghỉ rất đẹp của Hàn Mặc Tử. Tuy mất lúc còn trẻ 28 tuổi năm 1940 vì bệnh cùi, ông hãy còn được giới văn nghệ nhắc đến: Đây Thôn Vỹ Dạ, Gái Quê.. Có hai con đường trong hai thành phố Qui Nhơn, nơi trưởng thành, và Đồng Hới – Quảng Bình, nơi sinh ra, mang tên thi sĩ của trăng. Phạm Duy và Trần Thiện Thanh đều có phổ nhạc thơ Hàn Mặc Tử.

Trong một tháng tôi đã đi từ Nam ra Bắc, rồi vào Trung, đã cùng chị Phan Thanh Gia Lai, thuộc nhánh Phan Liêm đi Bến Tre thăm mộ Phan Thanh Giản, được gặp nhiều bà con bạn bè, được đón tiếp nồng hậu với tình cảm thắm thiết, được thăm viếng nhiều nơi, được ăn nhiều món đặc sản quí hiếm; không hề bị phiền nhiễu gì về giấy tờ, tiền bạc; nhưng tôi vẫn thấy không thể sống hẳn ở VN. Về đây ở mình sẽ như chui vào một cái trại; mà đã lọt vô rọ rồi thì phải ngậm mà nghe. Vả lại, thời gian rồi tôi như cỡi ngựa xem hoa. Rất rất nhiều người nói với tôi rằng, để sống dễ dàng phải tập làm quen với những điều chướng tai gai mắt, phải mũ nỉ che tai. Tôi muốn nói với các ông bà nào, còn vọngbác thì hãy về đây đi anh. Đừng có chân trong, chân ngoài.

Chư Hầu rồi?

Chuyến về VN có ba thời khắc chắc tôi nhớ hoài. Đó là một giấc ngủ trưa tuyệt vời, sau bữa cơm chay, nằm trên ghế đá, trong vườn chùa im vắng, dưới bóng mát cây sa la, lơ mơ nhìn trời xanh mây trắng, nghe gió hiu hiu thôi, thỉnh thoảng vọng về tiếng gà gáy nơi xa. Chùa Tuần Chính Thiền Viện nằm giữa một cánh rừng tràm, do Ni Sư Thích Nữ Huệ Niệm trụ trì, xây năm 1986 tại một vùng kinh tế mới thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Lần thứ hai, ngồi lặng trên ghế đá ở sân trường Quốc Học, vào một buổi chiều âm u buồn, nhớ về một thời đã qua. Lần thứ ba, ngồi ở một quán bên bờ sông Saigon, lúc xế trưa, nghe tiếng còi hụ, nhìn đám lục bình bồng bềnh theo dòng nước đục mà không hiểu rồi nó sẽ tấp vào bến bờ nào?

Tôi có một anh bạn, hàng năm đôi ba lần về VN bằng tiền nhà, giúp hoàn thành một số dự án hay dạy học và bảo trợ cho nhiều sinh viên sang Mỹ lấy tiến sĩ. Anh du học thời VNCH, hiện là giáo sư của một trường lớn ở Mỹ, có nhiều bằng sáng chế, một hôm tâm sự, nước mình đánh nhau hàng chục năm để rồi chẳng có điểm nào coi được. Tệ như vậynhưng CSVN vẫn thống trị thì tại sao? Theo tôi, về kinh tế, một phần nhờ chín tỷ đô la, hải ngoại gửi cho gia đình ở trong nước. Phần khác, VN ổn định được vì dựa vào hậu phương lớn phía Bắc như bài hát Việt Nam Trung Hoa có từ thời 1960: núi liền núi, sông liền sông, chung một biển đông, chung một ý, chung một lòng, chúng ta sống chung, nghe tiếng gà gáy cùng; muôn năm Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông.

Thời gian tôi ở VN là thời gian báo chí nói tới sửa đổi Hiến Pháp 1992. Sau hơn 20 năm làm Hà nội xác xơ, rồi sau khi thống nhất đất nước, CSVN để hơn 30 năm cho cán bộ gộc ăn no nê thành tư bản đỏ, giờ mới lập một ủy ban để Tìm Thông Điệp Chung Về Quyền Con Người và Tổ Chức Quyền Lực. Họ bàn tới quyền công dân, vai trò lãnh đạo của đảng, đổi mới chế độ bầu cử. Một người am tường việc này cho tôi biết, chưa chắc Bộ Chính Trị đồng ý với bản dự thảo. Ông tâm sự, ông bị thương khi vào Nam “giải phóng”. Tôi cho ông hay là tôi bị Việt Cộng bắn rớt máy bay. Ông cười: anh em mình bắn nhau. Ông tặng tôi tập san Nhà Nước và Pháp Luật. Tôi hỏi, nếu đảng chịu sửa Hiến Pháp nhưng Trung Quốc không đồng ý thì sao? Ông không trả lời. Như vậy là chư hầu rồì? Ông nhìn tôi, rồi tự nhiên nói: Ngày mai trời lại sáng.

Đương nhiên, có ngày mai nào cứ tối mãi? Nhưng chừng nào 14 ông vua tập thể của Xã Hội Chủ Nghĩa VN mới sáng mắt sáng lòng không còn đồng hoá chế độ và đất nước; vứt bỏ cái cơ chế lỗi thời lai căng Nga Tàu, do Hồ Chí Minh mang về. Thật khó, khi Bộ Chính trị vì quyền lợi, đồng sàng đồng mộng với Trung Quốc, quyết duy trì ngôi vương. Tuy nhiên, nếu họ tiếp tục hèn với giặc phương Bắc rồi sẽ có ngày người dân ở HồGươm nổi dậy như sóng, ở sông Hương xuống đường như lũ và ở Saigon bừng dậy như hỏa diệm sơn; cho dù CSVN có nêu lên 16 chữ vàng: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai; và bốn tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, để nhờ Trung Quốc cứu cũng không ngăn dẹp nổi.

Đền bù đất đai không thực tế; luật pháp không minh bạch; xảy ra nhiều bản án oan sai, Luật sư gặp nhiều khó khăn cùng nạn chạy án của thầy cãi. Đó là tình trạng tư pháp ở VN mà tôi được nghe qua trong cuộc trò chuyện tại Saigon với Luật sư Nguyễn Bính Châu, tác gỉả mấy bài báo trên mạng BBC. Ngoài ra, theo tờ Nhà Nước và Pháp Luật, bằng hành vi pháp lý, người ta tạo ra sư hỗn độn của pháp luật. Các khẩu dụ thành quy tắc xử sự có hiệu lực cả bên ngoài cơ quan nhà nước. Ông Châu cho rằng để Pháp Luật không là cây đèn thần khủng bố, VN cần có Dân chủ. Nhưng tôi chắc CSVN không dám thực hiện điều này vì lúc đó họ sẽ hết còn vừa đá banh vừa thổi còi và sợ ông Hồ có trăm tên ngàn
mặt sẽ bị soi rọi, tênh hênh ra đó thì còn gì nữa đâu?

Dân ca Khmer và Ngậm Ngùi của Huy Cận

Nhân dịp về VN tôi đã đi Siem Reap viếng Đế Thiên Đế Thích, không xa Saigon. Trên phi cơ rời Tân Sơn Nhất, ngồi cạnh chị Phạm BíchThủy, có cuốn Về Sân Khấu Truyền Thống Khmer Nam Bộ của Sở Văn Hoá tỉnh Sóc Trăng; tôi mượn đọc thấy có mấy câu dân ca Khmer: Lời ru thành ngọn gió đưa; Quạt anh ve vuốt giấc mơ vợ hiền; Chìa tay anh, em gối lên; Xoã ngực anh, mái tóc mềm của em, khiến tôi nhớ đến bài Ngậm Ngùi của Huy Cận: Sợi buồn con nhện giăng mau; Em ơi ! Hãy ngủ. anh hầu quạtđây; Lòng anh mở với quạt này; Trăm con chim mộng về bay đầu giường. Ngủ đi em, mộng bình thường; Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ. Thơ Huy Cận in trong Lửa Thiêng năm 1940. Còn mấy câu dân ca của Khmer có từ lúc nào?

Đế Thiên Đế Thích hay Angkor Wat và Angkor Thom có một quá trình kỳ lạ. Hiện nay nó là một cảnh quan thế giới, thu hút rất nhiều du khách. Trước đó nơi này là chốn trú ẩn của Khmer đỏ, đám quân đã giết hơn hai triệu đồng bào mình. Không ai biết tại sao nó bị bỏ hoang 4, 5, trăm năm để cho rừng cây che lấp. Cuối thế kỷ 19 người Pháp mới khám phá ra phế tích và tìm cách bảo tồn. Theo các nhà khảo cổ những điện chính được xây từ thế kỷ thứ VI và tiếp tục cho đến đời vua Suryavarman II (1113-1150). Công trình kéo dài làm tốn biết bao nhân lực, vật lực nhưng cũng thể hiện nghệ thuật tuyệt đỉnh về chạm, đục, khắc và vẽ hình trên đá của nền kiến trúc Khmer. Tất cả chỉ để làm nơi thờ thần hay tổ tiên của vua chúa; rồi sau trở thành linh đền thờ Phật.

 
Viếng thăm Đế Thiên Đế Thích ngoài việc biết dân tộc Khmer đã có một thời hưng thịnh, có một nền văn minh sáng chói; còn cho thấy đời sống tâm linh của dân tộc nước láng giềng thật kỳ bí bởi các hình tượng thần voi, sư tử, bò, rắn, chạm khắc trong các đền đài đầy huyền ảo; tuy hiện phần lớn họ theo đạo Phật, phái tiểu thừa. Hình ảnh in sâuđậm khác trong trí nhớ du khách là rừng cây hùng vĩ ở nơi này đã có thể nuốt trọn cả đền đài. Có những thân cây cổ đại 3, 4 trăm năm to bự ba bốn người ôm cũng không xuể, cao vời vợi, ngự trên đỉnh tháp với hàng chục rễ trắng nhợt, láng cứng như xi măng, dài hàng chục thước thòng xuống đất, ôm xoắn lấy chân tháp như con bạch tuột đang giữ lấy mồi.

Phan Thanh Tâm
Saint Paul, MN.
(1) Đi với Về cũng một nghĩa như nhau là nhan đề một tập thơ của Du Tử Lê

Phan Thanh Tâm
Theo: Diễn Đàn Net




Cụ Nguyễn Văn Tuyết : THƯ TÌNH VIẾT MUỘN!

bác sĩ cũng vừa báo cho biết họ sẽ “búc” vé cho anh. Như vậy là mọi việc đã sẵn sàng tốt đẹp, anh không mang theo gì cả. Khi nào có vé thì anh sẽ gọi phôn cho em biết để mở cửa cho anh vào. Nếu em nghe không rõ tiếng người mà chỉ thoáng phì phò tiếng gió thì biết đó là lúc anh đã cất cánh.Hẹn gặp em một ngày rất gần.Vĩnh biệt các con và các cháu cùng các chắt.


THƯ TÌNH VIẾT MUỘN!

Cụ Nguyễn Văn Tuyết
(cụ vừa mới từ trần ở Paris, hưởng thọ 91 tuổi)

Paris ngày 14 tháng 10 năm 20xx

 

Bà nó à!
À mà thôi, gọi là EM đi cho tình tứ như ngày xưa chúng mình cùng chung giường chung gối, chung cả đường đi lẫn lối về em nhá. Dù rằng nay đôi ta mỗi người một ngả, lại đông con nhiều cháu mà còn xưng hô “anh em” thì e rằng con cháu nó cười. Nhưng đây là tình thư của anh gửi tới em, lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng. Anh viết thư này từ ngày 14/10/20xx, mỗi ngày vài dòng, khổ nỗi mỗi khi viết đến tên em là như có hơi nước che mờ cặp kính nên anh đành phải buông bút, dụi mắt thở dài! Viết lâu rồi đấy mà chưa nói được gì với em! Chuyện tình trong 60 năm dễ gì nói trong vài trang giấy, kể trong vài ngày.
Thôi thì thế này nhá, nếu không xong để gửi qua đường bưu điện thì anh sẽ mang đến nơi em đang ở để trao tận tay. Anh biết nơi em ở rồi, kể từ khi em dọn về bên ấy, anh đã rất nhiều lần đi vòng quanh bên ngoài để ngắm một căn nhà 2 tầng(*) nhỏ-nhắn, xinh-xắn, mà nghe đâu em khoe với hàng xóm rằng:
– “Tôi ở tầng dưới, còn tầng trên để dành cho nhà tôi”…

 

****************
Em à!
Nhớ lại ngày nào em là thiếu nữ 16 tuổi xinh tươi làng Vạn, hoa khôi huyện Yên Phong, còn anh là trai làng Đại Lâm, chúng mình cùng tỉnh Bắc Ninh, nhưng anh theo gia đình ra Hà Nội học nên không có dịp “thả thơ”
Em còn nhớ những vụ “thả thơ” này không? Dì Phách, cô em gái của em nói rằng em đẹp lắm lại là con nhà có của nên trai huyện trai làng nhiều người ngấp nghé, mỗi khi em đi chợ thì họ len lén bỏ thư vào cái làn mây em xách tay, khi về nhà mới biết, thế là mấy chị em đọc thư tỏ tình của các chàng nhát gái mà cười bò ra, nghe cũng vui đấy nhỉ. Nhưng anh thì chưa có dịp thả thơ như thế.
Khi bố anh cần người giúp ông trong việc kinh doanh nên đã bắt anh lập gia đình sớm, anh có quen biết nhiều cô gái ở Hà Nội nhưng không thương ai. Thế rồi một hôm bố anh bảo diện vào rồi đi chợ huyện Yên Phong với ông, anh hỏi bố rằng con đi chợ làm gì thì bố nói:
– Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.
Khi đến chợ rồi mới biết ngày đó em cũng đi chợ, có lẽ người lớn đã sắp xếp cho chúng mình trông thấy nhau. Nghĩ lại cũng buồn cười nhỉ, bây giờ khác xưa rồi, trai gái quen biết và yêu rồi mới dẫn cha mẹ hai bên gặp nhau.
“Anh trông thấy em đi chợ anh thương”. Bố chưa kịp hỏi ý kiến anh có bằng lòng “cô ấy” hay không thì anh vội nói trước:
– Chưa gặp đã bén hơi. Tại duyên số rồi bố ơi!
Thế là bố khuyên anh “cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha” nên anh vội nhờ người đem tặng em “một thúng xôi vò, một con lợn béo một vò rượu tăm. Tặng em đôi gối em nằm, cái chăn em đắp..” năm đó chúng mình vừa tròn 17.
Họ hàng nhà trai khen em xinh gái và có duyên, nhưng bố anh thì nói: “vợ chồng cùng tuổi nằm duỗi mà ăn”, và để cho con đừng có ỷ lại nằm duỗi mà ăn nên ông cụ đã giao cho vợ chồng mình xưởng sửa chữa và cho thuê xe xích-lô.

 

* Yêu em mãi mãi

Nhạc Từ Công Phụng – Cố NT/KQ Vũ Văn Ước trình bầy

 

Khởi đầu là thế, mình sống đầm ấm bên nhau, không vất vả về kinh tế nên năm 1941 em sinh con gái đầu lòng, anh đặt tên con là Trinh. Rồi lần lượt có thêm con Thục, con Thuý, cả ba xinh gái giống mẹ. Sau 3 cô con gái là em sinh liền cho anh 4 cậu con trai, tên các con là Phong, Tuấn, Quang, Anh. Đời sống gia đình đang thanh bình ấm êm, các con đi học có xích lô đưa đón thì bỗng “trời đất nổi cơn gió bụi”, em má hồng chịu nỗi chuân chuyên, bụng mang dạ chửa mà phải cùng gia đình di cư vào Nam. Vừa đến Hải Phòng thì em sinh con gái thứ tư nên mình đặt tên con là Nguyễn Thị Hải, và Hải là đứa con thứ tám cùng theo bố mẹ di cư 1954 vào vùng đất lạ.
Cưới năm 1939 tới 1954 khi di cư mới được có 8 con nên em nói còn ít. Nhớ hôm dẫn em vào bảo sanh viện, anh nắm tay em an ủi thì em mỉm cười nói:
– Anh còn phải đưa em vào bảo sanh viện tám lần nữa, vì thầy tướng số nói em sẽ có 16 người con tất cả”.
Nghe em nói xong anh cười to khiến mấy bà bầu ngồi ở phòng chờ đợi quay sang nhìn vợ chồng mình, chắc họ tưởng mình vui vì mới có con đầu lòng. Nghĩ vậy nên anh ghé vào tai em thì thầm:
– Bao nhiêu cũng được, chỉ sợ vất vả cho em thôi, còn anh thì ..lo tất.

 

************
Vào tới Saigon, gia đình mình ở số nhà 247 đường Thành Thái, Chợ Lớn, gần ngã tư Trần Bình Trọng. Em vẫn tề gia nội trợ, còn anh, xoay đủ nghề. Từ mở trường dạy lái xe hơi lúc mới vào rồi làm tôm đông lạnh ở Rạch Giá, lập trại trồng nấm rơm ở suối Lồ Ồ Dĩ An, thầu xây dựng với anhThúc, làm cho USOM, và như em biết đấy, công việc cuối cùng của anh là làm việc ở tòa Lãnh Sự Pháp Saigon, nhờ đó mà sau 30/4/1975 gia đình ta đi định cư tại Paris.
Tuy nhiên anh đã không giúp em được toại nguyện theo như lời khuyên của thầy tướng số nên trong thời gian ở Saigon, vợ chồng mình chỉ thêm được có 4 “cậu” là Tiến, Thắng, Thụy, Xương và 2 “cô” Loan, Hà, vị chi là 14 mụn con gồm 6 gái, 8 trai, còn thiếu 2 vì thế em mới nuôi thêm 2 cháu ngoại là Yến và Việt, con của Thúy để cho đủ 16 đứa.

Nay tuy không được vuông tròn trọn vẹn nhưng tất cả đã ổn định cả rồi. Hiện tại ở Mỹ có 3 cô 2 cậu, ở Pháp có 4 cậu, 3 cô. Con nào cũng có gia đình hạnh phúc một vợ một chồng và đã tặng cho em rất đông cháu nội ngoại và đã hơn 10 chắt rồi đó. Duy chỉ còn cô út Thu Hà, đẹp, thông minh hoạt bát, nhiều chàng ngấp nghé lắm nhưng con gái út của chúng mình lơ là chuyện này mà lại siêng năng nghiên cứu kinh sách nhà Phật. Tại duyên số thôi.

 

Anh rất hài lòng vì các con, trai gái thì hiếu thảo con dâu nào cũng coi như con đẻ, nhất là Yến, vợ Quang, hiện là chị dâu trưởng, là gương mẫu cho các em. Còn con rể ư? Các cụ xưa gọi con rể là tế-tử nên anh thấy tế-tử nào cũng tử tế cả, các anh ấy là người biết điều, lo toan mọi bề cho vợ con, lại hiền lành. Duy chỉ có chồng của Thúy, tức bố của Yến-Việt là quân nhân nên vất vả và luôn phải xa gia đình, nghèo và hơi ngang. Em nhớ không, lần đầu tiên hắn đến nhà mình thăm con Thúy mà lại ngồi gác chân mang giầy nhà binh lên bàn! Anh giận quá! Nhưng bù lại, nay mỗi lần anh sang Mỹ thăm con cháu, thì bố Việt chở anh ra khu chợ ABC mua bánh ngọt, đi ăn hủ tíu Mỹ Tho, lại còn bảo vợ chồng Việt “niềng” răng cho ông ngoại, anh thấy vui vui nên nói:
– “Khỏi niềng, răng của ông còn rất tốt và đẹp nữa, con chỉ cần bỏ vào ly nước ngâm với thuốc sát trùng cho ông là được

rồi.”
Anh nói tới đâu rồi nhỉ? Thế đấy, còn minh mẫn nhưng hơi lộn xộn nên thư viết cho em cứ chuyện nọ xọ sang chuyện kia. À nhớ ra rồi, tới chỗ vuông tròn.
Anh nói không được vuông tròn trọn vẹn là vì con gái đầu lòng đã ra đi khi vừa tới Mỹ, và hai con trai hy sinh cho Tổ Quốc, cậu cả Phong bị thương ở Ban-Mê-Thuột rồi hy sinh, cậu Tuấn thì tử trận trên biển, chìm theo hộ tống hạm HQ10 trong trận hải chiến để bảo vệ Hoàng Sa chống lại quân xâm lược Trung Cộng vào ngày 19 tháng 1 năm 1974.
Em à, anh không muốn nhắc chuyện xưa làm đau lòng em khi mất đi 2 đứa con trai tuổi còn quá trẻ, nhưng cũng là một đóng góp cho đất nước như biết bao các gia đình khác. Mới đây ông HQ Đặng Thanh Long đã thay mặt Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, Tổng Hội Hải Quân Hải Ngoại đem cuốn Hải Sử Tuyển Tập và Hải Sử HQVNCH đến tặng gia đình ta với bút tích ghi ở trang đầu như sau:
“Kính biếu gia đình liệt sĩ Hoàng Sa HQ Nguyễn Văn Tuấn”.

 

*************
Thấm thoát thời gian mau thế đấy em nhỉ, chả cần nói nhiều thì các con cũng biết từ lúc có đứa con đầu lòng ở Hà Nội rồi có thêm cô Út Hà ở Saigon rồi gia đình ta di tản, bảo lãnh, vượt biển vượt biên mà được thế này cũng là tạ ơn trời đất lắm rồi. Nhưng bất hạnh thay, em lại bỏ anh mà đi! Dễ chừng gần chục năm rồi chứ ít sao? Lúc trước anh nhớ chính xác ngày giờ năm tháng em ra đi, nhưng sau lần anh bị té dập đầu thì trí nhớ không còn tốt. Thôi để anh mở sổ ra xem ngày nào em bỏ anh ra đi. Đây rồi, ngày 14 tháng 10 năm 2002, và anh viết lá thư này cho em cũng vào ngày 14 tháng 10, em đi đã được 8 năm rồi đó.

 

Em à! Anh nhớ rõ là em bị bệnh thận, đang lọc máu thì bị té dập xương chậu và sau một thời gian ngắn thì em ra đi! Ngày đó mắt anh đã khô, khi thấy con cháu vây quanh mẹ, quanh bà nức nở khóc làm anh nghẹn cổ họng.
Thôi thế cũng xong, vì hiện nay em luôn được mạnh khỏe, không còn lo lắng về bệnh tật, cuộc sống mới lại bình an, thảnh thơi mãi mãi. Nhưng cẩn thận nhá, mỗi lần “vân du” em nhớ mang theo áo ấm và gài dây an toàn kẻo gió mạnh lại thổi bay mất thôi.
Em nhớ không? Lúc sinh thời mỗi lần mang thuốc và nước đến cho em thì anh chỉ nói vắn tắt: “thuốc đây, bà uống đi”! Nay anh muốn gọi tiếng EM, nói thật nhiều lời thương yêu thì giọng anh đã khò khè, thở không ra hơi! Hối hận quá!
Khi em đi rồi mà đàn chim bồ câu cứ đúng giờ nó lại bay về đậu trên thành cửa sổ, cái của sổ của căn phòng trên tầng thứ 15 của tòa biu-dinh thuộc thị xã Alfort Ville, ngó ngay ra bờ sông Seine, từng đôi chim gù-gù sát cánh bên nhau chờ những miếng bánh mì mà em bẻ vụn ra rồi rắc cho chúng ăn.

 

Ngày đó anh cằn nhằn em hoài vì cái việc cho chim ăn, nó ăn rồi ị, sương mù và mưa phùn làm bánh mì thừa ướt nhão nhẹt ra rồi mốc xanh lên khiến anh lại phải dọn. Bực mình anh la thì em nhỏ nhẹ nói: “tội nghiệp chúng nó”. Thôi đành cứ để em cho chim ăn rồi anh dọn phân và thức ăn thừa kẻo gió lùa vào phòng mình hôi cứt chim. Khi em về trên đó rồi, mình anh ở lại mỗi ngày phải nhìn từng đôi chim gù gù tỉa cánh cho nhau mà nhớ em vô vàn. Đó là lý do thầm kín anh không muốn rời căn phòng này để về ở với con cháu.

 

************
Có những chiều Hè hoàng hôn nắng úa, đứng ngắm hình em treo trên tường, anh thì thầm: “sao em không nói với anh” rồi ngó qua cửa sổ anh bỗng thấy như có mưa phùn chiều Đông, thì ra mắt anh mờ và anh cảm thấy lạnh lẽo!
Tất cả đồ dùng của em còn để nguyên chỗ cũ, nhìn đâu cũng thấy em vì thế các con xin dọn cho gọn gàng thì anh không cho. Bẩy cô cậu thay nhau thuyết phục bố về ở với các con nhưng anh nhất định không muốn rời xa nơi này, tuy không còn là tổ ấm nhưng còn cái ghế em ngồi, còn cửa sổ mà em đứng rắc bánh mì cho chim ăn. Anh không thổ lộ những điều thầm kín đó mà chỉ nói:
– “Bố còn khỏe, tự lo cho mình được mà, các con cứ yên tâm”.
Mà anh còn khỏe thực, mỗi sáng không còn lái xe ra Paris 13 để ăn hủ tíu và mua báo Văn Nghệ Tiền Phong nữa thì anh đi bộ quanh phòng, đi dăm ba bước anh dừng lại nghỉ dăm phút, cứ như thế mỗi giờ cũng đi được hơn một vòng. Anh cũng vẫn ăn được, mỗi ngày cô Hải mang cơm nóng canh sốt sang cho bố rồi dọn dẹp nhà của, Hải về thì cô út Hà sang lo mọi việc giấy tờ về sức khỏe của bố. Cậu cả Quang tuy ít nói nhưng phân công đâu ra đó cho các em trai Thắng Thụy Xương luân phiên trực đêm bên bố và chở bố đi Paris 13, khu phố Việt, phố Tàu.

 

Tuy sống độc thân nhưng anh không cô độc, mỗi thứ Bẩy và Chúa Nhật là con trai gái dâu rể, cháu nội ngoại kéo nhau về tụ họp trong căn phòng nhỏ này. Khi trước còn khỏe thì anh nấu một nồi phở thật to, nay thì mỗi con mang theo một thứ, căn phòng không chỉ ấm cúng mà còn nóng lên nữa ấy chứ. Những lúc đó thì anh lại nghĩ đến em, để cho con cháu vui chơi, anh lẳng lặng đi nằm, ứa nước mắt vì sung sướng nghe tiếng cười của con cháu nhưng cũng ứa nước mắt khi thiếu tiếng em! Thì ra “con nuôi cha không bằng bà nuôi ông”, ông nuôi bà.
Cách nay khá lâu, anh đang vịn tường để đi vào phòng tắm thì bị té, các con vội đưa đi cấp cứu, bệnh viện khám phá ra một mạch máu trong đầu bị nghẽn khiến anh té chứ không phải tại anh vô ý.
Nhớ mãi hôm ấy thấy em đến thăm anh trong bệnh viện, anh vội vàng ngồi dậy, ba chân bốn cẳng chạy ra đón em và anh bị vấp té, choàng mở mắt thì biết anh vừa nằm mơ và giận quá tại sao mình không cẩn thận để bị té rồi tỉnh lại mà không được nắm tay em. Vừa lúc đó anh nghe cô ý tá nói:
– Từ nay cụ phải dùng cái này.
Ngó xem thì ra là cái gậy chống, ở cuối có 4 chân bịt cao su. Nếu anh chống gậy này mà đi thăm em thì đúng là “ba chân bốn cẳng rồi”.! Anh không thích chống gậy, trông giống ông cụ quá! Đối với anh, em vẫn còn khỏe và còn trẻ, người cõi tiên thì “trẻ mãi không già” mà.

 

Nằm bệnh viện được mấy ngày thì anh đòi về nhà, nhớ căn phòng quá, nhưng các con không cho, lựa khi các con không có mặt, anh “ba chân bốn cẳng” vào phòng bác sĩ trực năn nỉ xin xuất viện và họ “đắc-co”
Về nhà được mấy ngày thì anh lại “ba chân bốn cẳng” mang hoa đến tặng em, nhưng gõ của hoài mà không nghe tiếng ai trả lời, hình như mấy cô tiên đưa em vân du trên cẩu Vồng hay du Nguyệt Điện thì phải. Rõ chán! Cả đời ở bên nhau, anh chưa bao giờ tặng em một cánh hoa, tại anh thấy em là hoa đẹp rồi. Anh mong sớm có ngày được đoàn tụ cùng em nắm tay nhau tung mây lướt gió.

 

* Một mai tôi qua đời

Nhạc Phạm Trọng Cầu – Mỹ Linh trình bầy

 

Sống với nhau hơn 60 năm, “sáu mươi năm cuộc đời” được 14 mặt con mà mình chưa bao giờ “to tiếng” với nhau, cằn nhằn thì có, nhưng chưa một lần em phải buồn phiền vì anh uống rượu, hút thuốc, đánh bạc và lăng nhăng, vì anh không thích những thứ đó, vì anh đã có em. Tính đến nay xa em đã 8 năm, thời gian cũng quá đủ suy ngẫm về thói đời hay coi thường hạnh phúc đang có sẵn trong tay mà không biết vun quén. Anh đang mong ngày tái ngộ.
Cầu được ước thấy, mới tuần trước đây anh đang đứng vịn tường tập thể dục thì tự động ngã, bệnh viện cho biết những mạch máu li ti trên đầu bị vỡ, các con bao quanh lo lắng và bác sĩ họ đang cố gắng nối lại, nhưng anh nói:
_ “Thôi”.
Sống với con cháu như vậy là quá đủ rồi, lo cho các con như vậy cũng tạm ổn, nhìn lên không bằng ai nhưng nhìn xuống thì không ai bằng. Tuy các con không giầu có gì, nhưng đủ ăn và hạnh phúc, nhất là các con một vợ một chồng, như đũa có đôi và anh chị em thương yêu nhau. Anh nói với các con:
_ “Các con như đũa có đôi, để ba về với mợ chứ, căn phòng trên lầu nơi mợ ở dành cho ba đã có sẵn tiện nghi rồi, các con đừng lo lắng và bịn rịn nữa. Chúc các con ở lại bình an, đùm bọc và thương yêu nhau như từ trước tới nay”.

 

Em à! Hôm nay là ngày 14 tháng 9 năm 2010, chỉ còn đúng một tháng nữa là trùng vào ngày em đi, 14/10, bác sĩ cũng vừa báo cho biết họ sẽ “búc” vé cho anh. Như vậy là mọi việc đã sẵn sàng tốt đẹp, anh không mang theo gì cả. Khi nào có vé thì anh sẽ gọi phôn cho em biết để mở cửa cho anh vào. Nếu em nghe không rõ tiếng người mà chỉ thoáng phì phò tiếng gió thì biết đó là lúc anh đã cất cánh.
Hẹn gặp em một ngày rất gần.
Vĩnh biệt các con và các cháu cùng các chắt.
Nguyễn văn Tuyết.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
(*) Mộ 2 tầng, ai đi trước nằm tầng dưới, ai đi sau nằm tầng trên

Cụ Nguyễn Văn Tuyết
Theo: Diễn Đàn Net




LM Nguyễn Trung Tây : dark valley , Thung Lũng Tối

Dù bước đi tới, nơi thung lũng tối,Con không lo lạc lối,Vì có Chúa sánh bước với con.(Thánh Vịnh 23

Nguyễn Trung Tây, SVD
meditation picture
dark valley

Though I walk to the dark valley,
I fear no evil,
For you’re walking besides me.
(Psalm 23)


                                                http://www.nguyentrungtay.com/darkvalley.html
In December 2009, the owner of the spiritual pub in town (whose domain name is www.nguyentrungtay.com) left Melbourne for his new missionary assignment in Alice Springs.

Because of her own charming characters and special location in Central Australia, Alice Springs has become an idea spot for many young people in the world to go on backpack. Some of them, especially guys from the Far East countries, don’t speak English. Noticing that some Asian Catholic who attend Sunday mass are limited with English, the owner comes up with a church project, called English As Second Language, for those would like to learn and improve their speaking skills. The class meets every Saturday between 2 until 3pm in the Presbytery, and is free of charge. Normally there are six or seven students from Korea, Hong Kong, Malaysia, East Timor, India, the Philippines and Viet Nam attend the ESL class.

In August 2010 the class welcomed a Korean student, a Catholic young man in his early twenties. In English the owner calls the new student Coby. Coby later calls the owner Bố Quang (Daddy Quang). When he first came to Alice Springs, Coby worked in Desert Palms Resort during the day and attended the afternoon mass at 5:30pm. On occasion Bố Quang rode Coby to the Indigenous Chapel to attend the Sunday mass at 11am, or took him out for Aussie meals in local restaurants or a glass of Guinness, a thick and flavorful Irish beer, in the pub nearby the Presbytery. Some times on Saturday, the owner invited his friends to the Presbytery for dinner. After finishing cooking meal, Bố Quang texted his son, “R u free for 2nite dinner?” If not committed with overtime schedules, Coby quickly rode his bike to the front door of the Presbytery, calling from his mobile phone, “Bố Quang, here is Coby. Please open the door.” Twice, one time on late Saturday night, another in the late Sunday afternoon, while Coby was with Bố Quang, Alice Springs Hospital sent “distress signals” to the owner, asking for the sacrament of healing for patients in critical conditions. The owner brought Coby along, so Coby could experience life from different aspects, in particular life in hospital.

After the ESL class or the mass, when the situation allowed, Coby stayed behind, having chats with Bố Quang. Coby normally shared with Bố Quang his concerns about life, particularly the new life he now faced in Alice Springs. Bố Quang advised Coby to join the Youth Group that meets every Friday at 6pm in the Presbytery so Coby would make new friends and at the same time to improve his English conversations.

And, out of a sudden, Bố Quang did not see Coby anymore. Just as water evaporating from the scorching heat, Coby disappeared from church activities as if he had never been in Alice Springs.

Christmas’ Eve 2010 came. The OLSH Church again held the Midnight Mass. Nevertheless, being scheduled to celebrate Christmas Mass at 7:30am, the owner excused himself not to concelebrate midnight mass, but retreated to his room about 10pm, locked the door, and spent the rest of the night on bed, ready for having a pleasant dream. Right at the moment the owner began hearing his own snoring sound, he heard another sound as if someone were knocking on his door. The owner almost wanted to ignore the unexpected sound, but he eventually gave up. Opening the door, the owner saw his SVD neighbor who informed him, “Your Korean friend wants to see you.” “Korean friend?”, the owner repeated. “Who’s it?”, he asked himself while carefully stepping down from the staircase to the Presbytery.

And to his surprise there was his son, Coby, who was waiting to deliver the Christmas card to his daddy. Having seen Bố Quang, Coby greeted jubilantly, “Merry Christmas, Bố Quang.” His son scratched his hair, saying recently he worked for three jobs. So busy!!!… Well, well, well! Dad and son exchanged conversations for a while. But, celebrating the Christmas mass tomorrow at 7:30am was still a reality that Bố Quang couldn’t ignore. After promising to contact Coby after Christmas, Bố Quang excused himself and returned to his room to catch up the dream interrupted by his son’s unannounced visit. However, out of curiosity, while lying in bed, he opened Coby’s Christmas card to read the Christmas greetings. Believe it or not, Coby composed to Bố Quang one of the most beautiful Christmas greetings that he had never received in life. Bố Quang’s eyes almost began filling with tears while reading, “Dear Bố Quang, you are the most precious person to me in Alice Springs. Through you I can feel the love of Jesus Christ and my parents. Even after I return to Korea, I will never forget you. Merry Christmas and Happy New Year. Coby”

Three days later, 27 December, as promised, Bố Quang and Coby went out for Christmas and New Year dinner. Before meal, daddy and son rode to Simpsons Gap to enjoy the sunset scenery. The sunlight on that late afternoon seemed to be brighter when discovering Bố Quang and Coby on Darken Drive to the famous gap of Northern Territory. Because the gap was located to the west of Alice Springs, the sun by the late afternoon in the clear blue sky reddened the right hill but darkened the left one of the gap, while transforming the bright green of the grass by the sides of the road to faded yellow; a perfect shot of Simpsons Gap. About five more kilometers from the gap, Bố Quang pulled the car over. Coby asked, “Bố Quang, what happened?”. Bố Quang asked, “Are you ready to be a movie star?”. Bố Quang directed Coby to stand in the middle of the road, to rise up his hands and to smile for a best shot.


Coby Bae, Photographed by NTT

After Coby’s, the owner captured another view of Simpsons Gap.

And the meditation picture of Dark Valley is born to Bố Quang and now displayed in the spiritual pub in town.

 

Thung Lũng Tối

Dù bước đi tới,
nơi thung lũng tối,
Con không lo lạc lối,
Vì có Chúa sánh bước với con.
(Thánh Vịnh 23

Tháng Mười Hai năm 2009, chủ quán nước đầu làng rời bỏ Melbourne cho công tác mục vụ truyền giáo mới tai Alice Springs.

Alice Springs, thị trấn nhỏ nằm giữa Úc Châu, có mật độ dân số khoảng hai mươi tám ngàn người. Thị trấn sa mạc nổi tiếng thị trấn du lịch. Du khách tới Central Australia để thăm viếng sa thạch Uluru hoặc phong cảnh nổi tiếng của Red Centre thông thường bay tới Alice Springs nghỉ ngơi một vài ngày trước khi khởi hành tới Uluru chiêm ngắm kỳ quan thiên nhiên của thổ dân ngời sáng màu đỏ vào lúc hoàng hôn và bình minh. Trong thời gian tạm trú tại thị trấn, du khách cũng có thể thả bộ trên con lộ chính Todd Mall lựa chọn cho mình một vài tranh sơn dầu của người thổ dân, hoặc lái xe tới Alice Springs Old Telegraph tìm hiểu hồi mới tới người Úc liên lạc với nhau và thế giới như thế nào. Du khách cũng có thể giảm bớt độ nóng hừng hực mùa hè bằng cách dìm chân xuống dòng nước lạnh của con lạch Trephina Gorge trên hương lộ Ross, hoặc chuẩn bị tinh thần cho màn trình diễn tuyệt vời của hòn đá Uluru bằng cách chiêm ngắm cảnh chiều hoàng hôn của Simpsons Gap, một trong những núi chẻ tuyệt đẹp đứng đầu của rặng núi phía Đông MacDonnell, được tạo ra bởi trận địa chấn và khí hậu thay đổi của triệu triệu năm về trước…

Bởi nét duyên dáng và vị thế đặc biệt của thị trấn sa mạc, Alice Springs trở thành địa điểm lý tưởng du lịch cho nhiều người trẻ. Một vài người, nhất là thanh niên từ miền Viễn Đông, không nói tiếng Anh. Nhận ra rất nhiều tín đồ Công Giáo Á Châu tham dự thánh lễ Chúa Nhật với tiếng Anh còn giới hạn, chủ quán đề nghị nhà thờ tổ chức một lớp tiếng Anh, dành cho những người muốn trau giồi khả năng đàm thoại. Lớp học ngày thứ Bẩy từ 2 cho tới 3 giờ chiều tại nhà xứ, và hoàn toàn miễn phí. Thông thường lớp có từ sáu tới bẩy học sinh từ Đại Hàn, Hồng Kông, Mã Lai, Đông Timor, Ấn Độ, Phi Luật Tân và Việt Nam tham dự.

Tháng Tám năm 2010 lớp chào đón một học sinh Đại Hàn, người Công Giáo ở tuổi hai mươi. Trong tiếng Anh, chủ quán gọi học sinh mới với tên Coby. Coby về sau gọi chủ quán là Bố Quang. Hồi mới tới Alice Springs, Coby đi làm ban ngày tại Desert Palm Resort, sau đó tham dự thánh lễ chiều cử hành lúc 5:30. Đôi khi Bố Quang mang Coby tới nguyện đường Thổ Dân tham dự thánh lễ Chúa Nhật lúc 11 giờ sáng, hoặc ra những quán ăn địa phương nếm thức ăn nấu kiểu Úc Thòi Lòi, hoặc ra quán bia gần nhà xứ uống một ly bia Guiness đặc như sữa của người Ái Nhĩ Lan. Có những buổi chiều thứ Bẩy, chủ quán mời bạn tới nhà xứ ăn tối. Sau khi nấu nướng xong xuôi, Bố Quang gọi Coby bằng “máy nhắn” di động, “Tối nay có rảnh hay không, tới ăn tối”? Nếu không bận làm thêm vào ngày cuối tuần, Coby nhanh nhẹn lái xe đạp tới trước cửa nhà xứ, gọi điện thoại di động, “Bố Quang ơi, Coby đây. Làm ơn mở cửa”. Đã hai lần, một lần vào buổi tối thứ Bẩy, lần kia vào buổi chiều Chúa Nhật, trong khi Coby đang có mặt tại nhà xứ, bệnh viện Alice Springs gọi chủ quán qua tần số khẩn cấp, xức dầu cho bệnh nhân đang trong tình trạng nguy cập. Chủ quán mang Coby đi theo để Coby học thêm những kinh nghiệm khác về đời sống, đặc biệt đời sống trong bệnh viện.

Sau giờ học ESL hay sau thánh lễ, khi điều kiện thuận tiện, Coby hay ở lại nói chuyện với Bố Quang. Coby chia sẻ với Bố Quang về những băn khuăn trong đời sống, đặc biệt về đời sống mới tại Alice Springs. Bố Quang cũng khuyên Coby nên tham gia nhóm Thanh Niên của giáo xứ để có thêm bạn và đồng thời trau dồi thêm tiếng Anh.

Và thật là bất ngờ, Bố Quang không thấy Coby đâu nữa. Như nước bốc hơi bởi gió nóng sa mạc, Coby biến mất như chưa bao giờ có mặt tại phố Alice Springs.

Chiều Giáng Sinh 2010 đã tới. Nhà thờ OLSH một lần nữa lại tổ chức thánh lễ nửa đêm. Nhưng bởi phải cử hành thánh lễ Giáng Sinh vào sáng ngày hôm sau lúc 7:30, chủ quán kiếu không đồng tế thánh lễ nửa đêm, nhưng khoảng 10 giờ tối rút lui vào phòng, khóa cửa lại, leo lên giường chuẩn bị cho một giấc ngủ say. Sau khi chủ quán nghe được tiếng ngáy của chính mình trong vòng một vài phút, tự nhiên chủ quán nghe có tiếng động giống như có người đang gõ cánh cửa phòng mình. Chủ quán đã muốn làm lơ, nhưng cuối cùng đầu hàng. Mở cửa, chủ quán nhận ra người anh em hàng xóm Ngôi Lời, Sư Huynh nói, “Có người bạn Đại Hàn đang kiếm cha.” “Bạn Đại Hàn”, chủ quán lập lại. “Ai vậy cà?”, chủ quán tự hỏi trong khi bước những bước chân cẩn thận xuống cầu thang dẫn tới nhà xứ. Thật là ngạc nhiên, đó là ông con Coby, đang đợi tặng Bố tấm thiệp Noel. Thấy Bố Quang, Coby reo to, “Merry Christmas, Bố Quang”. Ông con trai của chủ quán gãi gãi tai nói gần đây con phải đi cày ba “job”. Bận ơi là bận!!! Well, well, well!

Bố con nói chuyện một hồi. Nhưng thánh lễ ngày mai lúc 7:30 sáng vẫn là một thực tế Bố Quang không thể làm ngơ. Bố đành hẹn với ông con sẽ gặp lại sau ngày Giáng Sinh, rồi bỏ về phòng đi ngủ. Nhưng, thật sự là bởi tò mò, vừa nằm trên giường chủ quán lôi tấm thiệp ra đọc. Không thể ngờ, Coby viết những hàng chữ chúc mừng Noel tuyệt vời chưa bao giờ Bố Quang nhận được trong đời. Thế là Bố Quang long lanh nước mắt trong khi đọc những hàng chữ, “Bố Quang mến, ở Alice Springs, Bố là người con quý nhất. Bởi Bố, con cảm nhận được tình thương của Chúa Giêsu và Bố Mẹ. Con sẽ không bao giờ quên Bố, ngay cả sau khi đã quay về Đại Hàn. Chúc mừng Giáng Sinh. Coby”.

Ba ngày sau, 27 tháng 12, như lời đã hứa, Bố Quang và Coby ăn Giáng Sinh và Năm Mới. Trước khi ăn, bố và con lái xe tới Simpsons Gap ngắm cảnh hoàng hôn. Những chùm tia sáng mặt trời hoàng hôn ngày hôm đó dường như sáng rực rỡ hơn khi nhìn thấy Bố Quang và Coby trên đường Darken dẫn tới Gap. Bởi địa thế nằm về hướng đông của Alice Springs, từ trên bầu trời xanh mặt trời buổi chiều hôm đó chiếu đỏ rặng núi bên tay phải nhưng bôi tối rặng núi tay trái, trong khi tô vàng những bụi cỏ màu xanh nằm dọc theo hai bên đường; một bức tranh tuyệt vời của Simpson Gap. Khi còn cách rặng núi khoảng năm cây số, Bố Quang bẻ tay lái tắp vào lề đường. Coby thắc mắc, “Bố Quang, sao vậy”? Bố Quang nói, “Đã sẵn sàng làm tài tử màn bạc hay chưa”? Bố Quang đạo diễn Coby đứng giữa đường, hai tay giơ cao, miệng cười tươi cho một tấm hình tuyệt vời.

Sau Coby, chủ quán chụp thêm một tấm nữa, cùng một góc độ. Và hình Chiêm Niệm Thung Lũng Tối ra đời, giờ này được treo trong quán nước đầu làng.

Nguyễn Trung Tây, SVD

Alice Springs, a small town in Central Australia, is populated by approximately twenty eight thousand inhabitants. The desert town has her frame as a tourist town. Tourists who travel to Central Australia to visit the sandstone Uluru and famous sceneries of Red Centre usually fly to Alice Springs and stay here for a few days before departing to Uluru to see the iconic natural wonder of the Indigenous glowing red by sunset and sunrise. While being in town, tourists can walk on Todd Mall to collect for themselves some Indigenous canvases drawn by Aboriginal artists; or ride to Alice Springs Telegraph Station to see how the early Caucasian Australians communicated with the rest of Australia and the world. Tourists can also cool themselves off from the intense heat during summer by dipping their feet into the cold water of Trephina Gorge via Ross Highway, or preparing themselves for the spectacular sunset show of Uluru by contemplating the sunset view of Simpsons Gap, one of the most gorgeous and prominent gaps of the West MacDonnell Ranges, caused by a massive erosion and climate changes over million years ago…

LM Nguyễn Trung Tây
Theo: Văn Thơ Lạc việt




Những Trang Hồi Ký ….

Đám Ăn Cháo Đá Bát. Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG NẰM Thép Đen 1 2 Ði tìm thời gian đánh mất Cái Mốc Lịch Sử

 

Nhng Trang Hi Ký ….

* TT Ngô Đình Diệm

(Đám Ăn Cháo Đá Bát. Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm)

http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/NgoDinhDiem/TTNDDiem.htm

 

* Hoàng Sa …  

http://www.motgoctroi.com/StLichsu/Quansu01/HoangSa.htm

* Tác Giả – Tác Phẩm (Nói về Nguyễn Văn Thiệu)

http://motgoctroi.com/HoiKy/TacGia_TacPham.htm

 

* Phóng Sự

http://motgoctroi.com/Phongsu/Phongsu.htm

 

 

 

TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG NẰM VÙNG   1   2   3

Liên Thành

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/TCS_Lienthanh_01.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/TCS_Lienthanh_02.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/TCS_Lienthanh_03.htm

 

Thép Đen  1  2  (pdf)  Audio

Đặng Chí Bình

http://motgoctroi.com/HoiKy/ThepDen/Thep_Den_1.pdf

http://motgoctroi.com/HoiKy/ThepDen/Thep_Den_2.pdf

Ði tìm thời gian đánh mất

Nguyễn Văn Lục

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NVLuc/Dttgdmat_NVL.htm

Cái Mốc Lịch Sử 

Võ Long Triều

http://motgoctroi.com/HoiKy/VolongTrieu/Hoiky_VLT.htm

Đường ra xứ Bắc (Đỗ Lệnh Dũng)

Lê Thiệp

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/DoLenhDung_LThiep/Hoiky_DLDung.htm

TRẠI KIÊN GIAM (Audio)

Nguyễn Chí Thiệp

http://www.vlink.com/traikiengiam/

Ngàn Giọt Lệ Rơi

Giao Chỉ

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NganGiotLeRoi.htm

VỀ VÙNG CHIẾN-TUYẾN

Lê Xuân Nhuận

http://motgoctroi.com/HoiKy/LXNhuan/VVCTuyen_hk.htm

Tôi Tìm Tự Do

Hữu Nguyên

http://motgoctroi.com/HoiKy/NHuu/ToitimTuDo.htm

NGƯỜI TÙ KIỆT XUẤT

Phan Lạc Phúc

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NtKietXuat_PLP.htm

Tôi Phải Sống

Lm Nguyễn Hữu Lễ

http://motgoctroi.com/HoiKy/NHLe_TPSong/Hoiky_TPS_NHL.htm

MẸ VIỆT NAM ƠI! DÂN TA CÓ TỘI TÌNH GÌ? (VIETNAM, QU’AS TU FAIT DE TES FILS?)

Tác giả: Pierre Darcourt — Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

http://nhd18.esmartweb.com/mevietnam/index.html

 

Dòng Họ NGÔ ĐÌNH, Ước Mơ Chưa Đạt

Nguyễn Văn Minh

 

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmnnnmn1n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

17 năm trong các trại cải tạo  (Audio)

KALE

http://motgoctroi.com/HoiKy/KH_KALE/HK_caitao_KaLe.htm

Biến Động Miền Trung

Liên Thành

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/BienDongMienTrung.htm

Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Nguyễn Văn Tín

http://nguyentin.tripod.com/HieuVMluc-u.htm

Giấc Mơ Lãnh Tụ (Thích Trí Quang)

NVL

http://www.chinhnghia.com/giacmolanhtu.htm

(There are links Giấc Mơ Lảnh Tụ 1 to 62 at the end of this page)

Câu chuyện đời tôi

Nguyễn hữu Hanh

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NHHanh.htm

CẢNH-SÁT-HÓA

Lê Xuân Nhuận

http://motgoctroi.com/HoiKy/LXNhuan/CanhSatHoa.htm

Hà Nội 1945  1  2  3  4  5

Trần Ðỗ Cung

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_1.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_2.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_3.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_4.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_5.htm

 

Ký Ức & Suy Nghĩ  1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

Trần Quang Cơ

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_01.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_02.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_03.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_04.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_05.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_06.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_07.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_08.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_09.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_10.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_11.htm

 

Hồi Ký Lê Xuân Nhuận

http://motgoctroi.com/HoiKy/LXNhuan/VVCTuyen_hk.htm

 

Nhiều tác gỉa
Theo: Diễn Đàn Net




Thanh Thương Hoàng : Chiếc xích lô chở mùa xuân

Mãi Tân mới kiếm được một việc tương đối “độc lập tự do” và hợp với “khả năng” của đa số tù cải tạo về: đạp xích lô. Tuy “lao động” vất vả cực nhọc lại không ”vinh quang” chút nào Tân cũng kiếm được đủ ngày hai bữa ăn và thuê một cái buồng nhỏ trong xóm nhà lá để đêm về có chỗ ngủ.

Chiếc xích lô chở mùa xuân
Tác Giả: Thanh Thương Hoàng

1
Tân ngồi vắt vẻo trên chiếc xích lô ngước nhìn những tảng mây trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh thẫm, lòng bâng khuâng nhớ tới những ngày tháng cũ. Lúc ấy vào khoảng mười giờ sáng. Từ khi đạp xe ra khỏi nhà sáng sớm tới giờ anh vẫn chưa kiếm được một “cuốc” nào. Nếu đến trưa vẫn không có khách thì coi như mất toi nửa ngày tiền thuê xe và tất nhiên phải nhịn ăn luôn bữa trưa.

 

 

Chỗ Tân đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do, anh cho là rất “địa lợi”, vì phía chéo bên kia đường là khách sạn Đại Lục, nơi có nhiều khách ngoại quốc tới ở. Họ thường bao luôn cả xe ngày để đi “tham quan” khắp Saigon Chợ Lớn. Đồng thời nơi này cũng là nơi có nhiều kỷ niệm với Tân – những ngày tháng cũ trước 75 – anh đã gặp “người yêu lý tưởng” của mình và sau đó cưới làm vợ. Cuộc sống lứa đôi tràn ngập hạnh phúc cho tới ngày 30 tháng 4 đen tối sầu thảm. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn một điếu. Vừa phập phèo mấy hơi để dĩ vãng tan theo khói thuốc, thì anh nghe tiếng gọi xích lô bên kia đường. Tân vội quay nhìn. Một người đàn bà đưa tay vẫy gọi. Tân vứt vội mẩu thuốc hút dở, rời khỏi nệm xe, nhẩy phóc lên yên xích lô đạp nhanh tới bên kia vệ đường (vì chỗ này thuộc phạm vi “lãnh thổ” của khách sạn nên họ cấm xích lô đậu. Anh em xích lô chỉ có thể “đột kích” đón khách rồi phóng đi ngay).

“Cô muốn đi đâu?” Tân hỏi bằng tiếng Anh giọng rất chuẩn, rất Mỹ làm cô khách ngạc nhiên. Cô đặt mình lên xe thong thả nói:
”Anh muốn chở tôi đi đâu cũng được. Chạy chậm chậm thôi nhé!”

Tân hỏi lại: “Nghĩa là cô muốn mở một cuộc du lịch bỏ túi trong thành phố?”
“Đúng!”

Trước khi cho xe chuyển bánh, Tân nói: “Cô chưa cho biết sẽ trả tôi bao nhiêu tiền. Chúng ta nên sòng phẳng dứt khoát trước khi bắt đầu.
” Cô khách đáp: ”Tôi sẽ trả anh như đã trả cho những người trước anh.”
“Nghĩa là…?”
“Nghĩa là mỗi giờ tôi trả anh hai đô la.”
“Cô trả vậy hơi nhiều đấy!”

Cô khách nhắc lại câu hỏi của tôi khi nãy:
“Nghĩa là…?”
“Tôi tính cô một đô la một giờ thôi.”

Cô khách một lần nữa tỏ ra ngạc nhiên nhưng không nói gì.

Hôm qua cô trả cho anh xích lô đúng như giá anh ta đòi, thế mà khi trả tiền còn nằn nì xin thêm. Còn anh xích lô này thì lại xin bớt. Con người xứ sở này có vẻ phức tạp, khó hiểu thật.

Tân từ từ đạp xe về phía chợ Bến Thành. Tới nơi, anh hỏi khách:
”Cô đã biết chợ Bến Thành này chưa?” Và không chờ khách khách trả lời, anh nói tiếp:
“Đây là ngôi chợ lớn nhất của thành phố Saigon và có một bề dầy lịch sử.”

Cô khách mỉm cười. Từ lúc lên xe tới giờ. Tân mới thấy khách cười:
“Tôi biết. Hôm trước một người bạn Việt-Nam đã dẫn tôi vào trong chợ ăn món bún thịt nướng, lạ miệng và ngon lắm! Nhất là cái món nước “sốt” mặn mặn với ngọt ngọt và hơi cay.
“Cô ăn được cả nước mắm?”
“Cũng hơi… khó chịu một chút lúc đầu.”

Thấy sự trao đổi nói năng có vẻ thân mật cởi mở, Tân hỏi:
“Tôi hơi tò mò, xin lỗi trước. Cô tới Saigon du lịch hay làm việc?”
“Tôi tới Saigon có chút việc riêng, tiện thể làm chuyến du lịch luôn.”
“Cô tới đây lần đầu?”

Khách khẽ gật và đôi mắt xanh biếc của cô chớp chớp. Bây giờ Tân mới có dịp quan sát người đẹp. Cô khoảng dưới ba mươi tuổi, thân hình thon thả dong dỏng cao bó gọn trong chiếc áo pull trắng và chiếc quần gin mầu xanh đậm. Mớ tóc vàng óng ả của cô chẩy dài buông xõa xuống cái lưng ong. Nước da cô trắng hồng mịn màng. Những sợi lông tơ trên hai cánh tay trần tròn lẳn gợi cảm. Tân cũng đã có dịp vuốt ve những cánh tay như thế, nhưng xa xôi lắm rồi. Theo sự nhận xét sơ khởi của tân thì nhan sắc cô nàng ở mức trung bình nhưng khá quyến rũ ố hình như cô có cái duyên ngầm của các cô gái phương Đông.
“Cô mới từ Mỹ tới?” Tân hỏi.

Khách khẽ gật.
“Tôi đoán cô là người miền Đông nước Mỹ, Nếu không ở Washington DC. thì cũng bang nào vùng đó.”

Lần này cô nàng ngoái hẳn mình về phía sau nhìn Tân:
“Anh căn cứ vào đâu mà đoán tôi là người miền Đông?”

Tân hóm hỉnh cười:
“Giọng nói của cô và nhất là nước da của cô. Chỉ có những người sinh sống ở xứ lạnh mới có nước da trắng hồng như cô.” Tân nói nịnh thêm. “Đúng là nước da lý tưởng các cô gái mơ ước.”

Cô khách càng thêm ngạc nhiên. Một anh đạp xích lô, tức thuộc giới lao động bình dân thất học, mà lại có vẻ hiểu biết những sự việc ngoài tấm mắt của anh ta. Rồi còn biết cả nịnh đầm ố món “võ” của bọn đàn ông có học. Cô cười nhẹ trả lời Tân:
“Anh đoán giỏi đấy! Tôi sinh ra ở thành phố Charlotte bang North Carolina. Lớn lên đi học đi học và sống ở Washington DC.”

Tới chợ bến Thành cô bảo anh ngừng xe để cô vào chợ mua một món gì đó. Cô hỏi anh có đợi được không. Anh gật đầu. Mươi phút sau cô trở ra trên tay cầm một cái gói bọc giấy nhỏ.
“Bây giờ cô muốn tôi chở cô đi đâu?”
“Tùy anh.” Tân suy nghĩ một chút:
“Cô đã vào Chợ Lớn chưa?”
“Hay đấy! Tôi nghe bạn bè nói Chợ Lớn là thành phố của người Hoa như ở Hồng Kông vậy. Nên đi coi cho biết.”
“Cô đã đến Hồng Kông?”
“Tôi đến đó hồi còn là con nhóc đi với bố mẹ.”

Tân có vẻ ngập ngừng trước khi nói:
“Xin lỗi, cô đã lập gia đình?”
“Phải, tôi đã lập gia đình gần mười năm. Vợ chồng tôi có một con gái.”

Nói xong, cô khẽ thở dài, mặt thoáng buồn, đôi mắt xanh biếc đăm đăm như nhìn vào cõi xa xăm mơ hồ nào đó. Tân thấy vậy không hỏi nữa. Anh lặng lẽ đạp xe trên đường Trần Hưng Đạo rộng dài, dưới trời nắng bắt đầu gay gắt. Những chiếc xe gắn máy của bọn trẻ gầm rú phóng vùn vụt, đôi lúc cô khách sợ hãi kêu lên vì tưởng nó đâm nhào vào mình. Từ đường Đồng Khánh, cô bỏ Tân ngừng xe trước một tiệm tạp hóa. Lúc trở ra cô khoe với Tân một vật nhỏ:
”Anh thấy đẹp đấy chứ?” Tân thốt lên:
“Tưởng gì, cái này bên Mỹ đâu thiếu.”
“Phải, bên Mỹ không thiếu, nhưng đây là thứ tôi mua ở Chợ Lớn Việt Nam làm kỷ niệm, đồng thời làm quà tặng con gái tôi.”

Dứt lời cô khách lên xe ngồi, Tân đạp tiếp. Chợt cô quay lại hỏi Tân:
“À, tôi quên hỏi anh. Sao anh biết thứ tôi vừa mua bên Mỹ có nhiều?”
“Vì tôi đã ở bên đó và có mua nước tặng người yêu. Cái cô vừa mua là do người Tàu Chợ Lớn làm nhái theo đồ của Mỹ.”
“Ồ, anh đã ở bên Mỹ?” “Đi du lịch hay du học?”
“Tôi đi học.”

Cô lại thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên và nhắc lại:
“Đi học? Thì ra anh sang Mỹ du học!”
“Không phải! Tôi đi lính được tuyển sang Mỹ học lái máy bay. Tôi sang Mỹ với tư cách sinh viên sỹ quan Không Quân!”

Cô khách người Mỹ đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Cô có vẻ thích thú nghe những điều Tân nói. Cái con người lam lũ nghèo khổ đạp xích lô này đã từng là sỹ quan Không Quân và đã sang Mỹ học? Cô nửa tin nửa ngờ, dò đường:
“Anh sống ở Mỹ lâu không? Bang nào nhỉ?”

Tân đưa tay quệt mồ hôi trên trán. Chiếc áo cũ mỏng mầu đen nhiều miếng vá anh mặc ướt đẫm mồ hôi. Tân cảm thấy bắt đầu mệt và khát nước. Chén xôi bắp nhỏ ăn từ sáng sớm, giờ đã tiêu hết. Anh trả lời khách không mấy hào hứng sốt sắng như lúc đầu:
“Tôi học lái máy bay tại Pensacola bang Louisiana vào năm 1967. Thời gian huấn luyện khoảng năm rưỡi. Tới năm 1972 tôi lại có dịp đi tu nghiệp ở Texas hơn tám tháng.”
“Anh còn nhớ tên khóa huấn luyện?”
“Khóa 67A. Khóa này tôi được huấn luyện cùng với bọn Pilot Hải Quân Mỹ.”

Sau khi thảng thốt kêu lên tiếng “ô”, cô ngưng hỏi và im lặng một lúc lâu.

Tân cũng chẳng quan tâm đến sự im lặng của cô khách. Anh đang mải lo đối phó với những xe cộ chạy hỗn độn, vô trật tự trên đường phố. Chỉ cần sơ ý một chút, có thể gây ra tai nạn thương tích cho người ngồi trên xe. Hai bên lề đường Đồng Khánh, người người đi lại tấp nập. Hàng hóa của các tiệm bầy tràn ra cả lề đường. Rồi những gánh hàng quà rong, những xe bán nước ngọt, trái cây, tạo nên một cảnh hoạt náo vui mắt. Cô khách có lẽ vui lây với không khí nhộn nhịp này, nhất là nhìn những người đàn bà Hoa mặc những bộ quần áo mỏng, giản dị. Cô hỏi Tân:
“Họ chắc không phải là người Việt?”
“Vâng, họ là người Hoa. Thành phố này là thành phố của người Hoa dù dưới thời Việt Nam Cộng Hòa hay thời Cộng sản cai trị cũng vẫn thế. Khó mà thay đổi được họ!”
“Không phải riêng nước anh. Ở bên Mỹ cũng vậy. Một thời gian nào đó, người Hoa sẽ cai trị thế giới.”

Ngưng chút cô nói tiếp: “Cả về chính trị và kinh tế. Vì thời đại chúng ta, kinh tế đang chi phối thống lĩnh toàn cầu!” Tân cãi:
“Tôi không đồng ý với cô. Người ta đã dùng kinh tế để làm cái roi cai trị, nhưng theo tôi nhất định Cộng sản sẽ thất bại cả về chính trị lẫn kinh tế.”
“Tôi nghĩ với Cộng sản thì chỉ có thể dùng vũ lực.”
“Dùng vũ lực, Mỹ đã thất bại ở Cuba trước đây. Chỉ có Cộng sản mới triệt được Cộng sản thôi. Sức tác động bên ngoài không đủ mạnh bằng sự tự hủy hoại từ bên trong.”

Cả buổi trưa hôm đó, cô khách người Mỹ và anh xích lô đạp mải mê tranh luận về nhiều vấn đề thời sự, chính trị, học thuyết, triết lý, chiến tranh, hòa bình, cộng sản, tư bản… quên cả đường phố chật chội xe cộ chen lấn bừa bãi. Năm đó là năm 1985, thành phố Saigon còn nhiều xe đạp, xe gắn máy, ít xe hơi. Riêng anh đạp xích lô quên cả mệt và đói. Anh đang hào hứng. Đã lâu lắm anh không hề dám nói năng thảo luận với bất cứ ai những vấn đề húy kỵ trên. Nói với cô khác lạ này không sợ báo cáo, không sợ xuyên tạc, chụp mũ. Tân yên tâm tự nhủ mình như vậy nên anh “phát ngôn mạnh bạo xả ga”. Gần xế chiều, Tân đạp xích lô chở cô khách Mỹ về khách sạn Đại Lục. Bước xuống khỏi xe khách mới hỏi:
“Nãy giờ tôi cứ thắc mắc mãi. Anh là sỹ quan Không Quân từng sang Mỹ học lái máy bay, sao lại… lại đi đạp xích lô?”

Tân phì cười trước câu hỏi này. Đúng là một người Mỹ ngây ngô, chẳng biết gì về làn sóng đỏ đang tràn ngập tràn phá hủy hoại khốc liệt cả miền Nam. Anh trả lời:
“Vì tôi bị Cộng sản bắt đi tù.”
“À, ra thế!” “Anh bị tù có lâu không?”
“Gần mười năm.”
“Trời! Anh được tha lâu chưa?”
“Mới sáu tháng.”
“Ô là! Ở tù Cộng sản chắc là khổ lắm?”
“Tất nhiên. Chúng tôi đã trải qua những năm tháng sống thời Trung Cổ.”
“Tại sao các anh không vùng lên phản kháng, chống đối? Dân tộc anh là một dân tộc có cả một lịch sử oai hùng về ý chí quật cường, về truyền thống tranh đấu…”

Tân cười nửa miệng:
“Đồng thời dân tộc tôi cũng có truyền thống nhẫn nhục chịu đựng gian khổ.”

Cô khách người Mỹ mở bóp lấy hai tờ giấy năm đô la đưa cho Tân và hẹn sáng mai tới đón cô đi chơi tiếp. Tân cầm hai tờ giấy bạc ngần ngừ. Anh định đưa trả lại một tờ thì cô khách Mỹ đã bước vào trong khách sạn..

Sáng hôm sau đúng chín giờ, Tân đạp xe tới góc đường Lê Lợi – Tự Do đã nhìn thấy cô khách đứng chờ.. Cô giơ tay vẫy chào anh rồi bước lại ngồi lên xe.
“Hôm nay cô muốn đi đâu?”
“Đi đâu cũng được. Tôi muốn có nhiều thì giờ để trò chuyện với anh.”
“Hôm qua cô trả tôi nhiều tiền quá. Công của tôi chỉ đáng nửa số tiền ấy thôi! Thế là hậu hĩnh lắm rồi. Hôm nay tôi sẽ đạp để trừ vào số tiền cô trả dư hôm qua.”

Cô khách Mỹ chỉ cười và chớp chớp đôi mắt xanh biếc không có ý kiến gì, nhưng trong đầu cô nẩy một câu hỏi: sao lại có anh chàng gàn dở thế nhỉ? Đã nghèo khổ mà lại còn chê tiền?

Còn Tân bây giờ mới nhìn thấy đôi mắt xanh mầu ngọc bích và trong sáng như mắt mèo đẹp tuyệt vời của cô. Trong đôi mắt ấy anh đọc thấy nhiều thứ lắm: hiền hòa, dịu dàng, nhân bản và cả nỗi đau tiềm tàng ẩn sâu. Đúng, đôi mắt là linh hồn của con người. Các cụ mình xưa nhận xét thật tài tình tinh vi. Xe chạy ra bờ sông Saigon trước khách sạn Majectic. Cô khách ngỏ ý muốn ngồi chơi nơi vườn hoa. Tân nói đùa:
“Tuy ngồi chơi, tôi vẫn tính tiền cô theo giờ đạp xe đấy!”
“Tốt thôi, không có gì đáng phải bàn cãi!”

Để an toàn, khỏi lo lắng, Tân đặt chiếc xích lô ngay cạnh chỗ ghế ngồi và khóa bánh xe lại bằng dây xích. Anh nói với cô khách Mỹ:
“Cho chắc ăn!”

Cô khách cười: “Xe để sát bên cạnh anh, còn kẻ nào dám cả gan lấy cắp!”
“Bần cùng sinh đạo tặc cô ạ! Dân Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ này. Mà bây giờ thì cả nước đều “bần cùng” nên bất cứ việc gì cũng có thể “sinh đạo tặc”. Họ không ăn cắp nữa mà là ăn cướp. Đã tới mức ăn cướp thì họ đâu còn sợ cái gì. Lão Lê-Nin nói đúng đấy, nếu mất, họ chỉ mất cái cùm thôi!”

Cả hai cùng cất tiếng cười vui vẻ. Bờ sông Saigon lúc nào cũng tụ tập đông người. Thấy khách ngoại quốc, bọn trẻ nhỏ chuyên bán những đồ lặt vặt rẻ tiền cho du khách, xúm lại vây quanh hai người mời mọc, gạ gẫm, nài nỉ. Chúng nói những câu tiếng Mỹ bồi ngây ngô ngộ nghĩnh. Rồi đám bán hàng rong xúm xít như ruồi bu. Tân khó chịu lắm, luôn tay xua đuổi thì bị mắng trả tục tĩu. Còn cô khách Mỹ cứ cười cười lấy làm vui thích hoạt cảnh này. Cô mua một gói đậu phụng rang cho mình, một gói cho Tân và mỗi người một chai côca -cola. Lâu lắm Tân mới uống lại thứ nước ngọt của “đế quốc Mỹ” này. Sao mà ngon ngọt đến thế. Mười mấy năm trời khi ở trong tù và cả lúc về ngoài đời anh chưa một lần được uống lại. Tiền ăn còn lo chưa nổi lấy đâu tiền uống côca -cola. Khi bóc gói đậu phụng, anh thất vọng. Nó đã bị hư từ lâu, nhưng người ta vẫn đem bán. Cô khách nói:
“Nếu ở bên Mỹ, nhà sản xuất bị kiện sặc gạch đấy!”

Vứt hai gói đậu phụng hư xuống sông xong, hai người ngồi nhìn trời đất. Một lúc lâu cô khách chợt hỏi:
“Trong khi ở Mỹ, anh có quen thân người bạn Mỹ nào không?”
“Có chứ! Bạn cùng khóa thì nhiều lắm, nhưng thân thiết thì chỉ một hai người.”
“Anh còn nhớ tên?”
“Nhớ chứ. Một anh tên là Tom Hamilton Một anh tên là Edward Carter. Không biết anh chàng này có họ hàng gì với lão Tổng Thống Jimmy Carter không!”

Cô khách Mỹ nói nhanh: “Edward Carter! Anh có nhớ sai tên không? Anh ta người ra sao?”

Tân vỗ vỗ trán như gọi những hình bóng cũ trở về:
“Anh ta cao lớn hơn tôi một chút và cũng tuổi tôi, năm nay được ba mươi sáu tuổi. Anh em cùng khóa thường nói đùa nếu cái mũi tôi cao một chút, dài hơn một chút, và nước da trắng thì đúng là anh em sinh đôi với Edward Carter.
” Cô khách Mỹ chăm chăm nhìn thẳng vào mặt Tân như quan sát, như dò xét. Rồi cô không giấu được một cái thở dài. Tân ngạc nhiên hỏi:
“Sao, nếu tôi đoán không lầm thì có thể cô quen biết hoặc có họ hàng với anh chàng Edward Carter này.
” Cô khách không trả lời. Cô lơ đãng nhìn sang phía bên kia bờ sông. Miệng cô lầm bầm mấy tiếng gì đó, Tân nghe không rõ. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn hút.
“Anh hút thuốc gì mà có mùi khét thế?” Cô khách Mỹ hỏi.
“Đây là thuốc rê. Thứ thuốc rẻ tiền nhất của người Việt Nam. Lúc ở trong tù, đối với chúng tôi thuốc này là loại quý đấy cô ạ! Chúng tôi còn hút cả lá chuối khô và rễ cây nữa kìa!”
“Khổ cực vậy, thiếu thốn vậy mà các anh chịu đựng được để còn giữ được mạng sống trở về đời, tài thật!”
“Không ai, kể cả chúng tôi cũng không tin là mình sống nổi. Nhưng như vừa nói với cô đấy. Dân tộc tôi có sức chịu đựng gian khổ, bền bỉ dẻo dai. Hơn trăm năm nay chưa lúc nào dân tộc sống trong thanh bình yên ổn, trong no ấm sung sướng. Chiến tranh cứ tiếp diễn liên miên, hết ngoại xâm lại tới nội chiến, rồi cả nước chịu ảnh tù đầy đói rách nhục nhã. Nếu như người Mỹ của cô thì ít ra cũng chết nửa nước.”
“Sao anh không lái máy bay chạy ra ngoại quốc như một số người đã làm?”
“Tôi còn cha mẹ già. Cha mẹ tôi nhất định không chịu rời bỏ quê hương. Biết rằng ở lại sẽ phải chịu cảnh tù đầy và có thể bị giết chết nữa, nhưng tôi không thể bỏ mặc cha mẹ. Hơn nữa tôi còn con nhỏ mới sinh.”
“Bây giờ chắc con anh đã khá lớn. Thế còn vợ anh? Chị ấy vẫn một lòng đợi anh về? Tôi đọc sách báo thấy họ hết lời ca ngợi người đàn bà Á-Đông lúc nào cũng giữ trọn vẹn tình nghĩa vợ chồng. Dù chồng chết, còn trẻ vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con.
” Tân lắc đầu thở dài, vứt mẩu thuốc xuống đất: “Tôi không có cái diễm phúc ấy. Sau khi tôi bị tù, vợ tôi để lại con cho cha mẹ tôi nuôi, đi lấy chồng khác.”
“Ồ, tôi xin lỗi. Tôi không có ý khơi lại sự đau buồn của anh. Nhưng tôi hơi tò mò, thế anh có oán hận người vợ không?”
“Cô ấy còn trẻ nên phải lấy chồng khác, đó là sự thường, có gì mà oán hận. Chỉ có điều hơi buồn là cô ấy lấy kẻ thù của chúng tôi.
” Đôi mắt xanh biếc của cô khách Mỹ chớp chớp. Cô có vẻ xúc động về chuyện riêng tư của Tân.
“Còn cha mẹ anh?”

Tới lượt Tân thở dài nuốt nước bọt như cố nén nỗi đau buồn xuống đáy lòng:
“Cha mẹ tôi đều mất khi tôi còn ở trong tù!”

Cô khách Mỹ kêu lên: “Thế còn đứa nhỏ?”
“May mắn cho nó được ông bà ngoại thương xót đem về nuôi, mặc dù ông bà cũng rất nghèo khổ. Ít ra thì cũng còn có những đốm lửa trong đêm tối phải không? “.

Và lần này chính Tân ngạc nhiên trố mắt nhìn cô khách Mỹ. Cô lấy khăn giấy chậm nước mắt. Cô khóc. Rồi cô đưa đôi mắt xanh biếc đẫm nước mắt nhìn Tân nói:
“Tôi tên Jacqueline Hunter. Còn anh?”
“Tôi là Tân, Đỗ Tân, cựu đại úy phi công Việt Nam Cộng Hòa. Rất hân hạnh được quen biết cô.”

Sau một lúc suy nghĩ đắn đo, Jacqueline nói:
“Anh có thể cho tôi địa chỉ để khi về Mỹ may ra tìm được mấy người bạn cũ của anh. Biết đâu họ chẳng hết lòng lo giúp đỡ can thiệp cho anh.”
“Cám ơn Jacqueline. Tôi ở số nhà…. Hẻm…. Đường…. Thành phố Saigon.”

Họ còn ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Jacqueline có ý mời Tân đi dùng bữa trưa, nhưng anh từ chối, mặc dù bụng đang đói. Xuống xe cô móc bóp rút ra tờ giấy một trăm đô đưa Tân, nói:
“Anh cầm lấy để chi dùng. Rất tiếc tôi không thể giúp anh hơn.
” Tân từ chối ngay: “Cám ơn Jacqueline. Tôi cũng rất tiếc không thể nhận số tiền này. Tôi không muốn nhận một sự thương hại, hay một sự bố thí.”
”Không, đây là một tấm lòng. Anh hãy nhận lấy ở đây một tấm lòng.” Dứt lời Jacqueline nhét tờ giấy bạc một trăm đô vào tay Tân và bước nhanh vào trong khách sạn. Trước khi khuất hẳn, cô quay lại nói với Tân:
“Tạm biệt Tân, người bạn mời quý mến của tôi.”

Tân nhìn tờ giấy bạc một trăm đô nằm trong tay sững sờ. Một số tiền quá lớn và quá bất ngờ đối với anh. Chừng như định thần lại được, Tân phóng mình bước nhanh như chạy vào khách sạn, miệng gọi lớn: “Jacqueline! Jacqueline! Tôi không thể! Tôi không nhận số tiền này. Tôi xin trả lại cô!”

Nhưng Jacqueline đã mất hút. Anh bảo vệ khách sạn thấy gã xích lô chạy xồng xộc vào trong khách sạn miệng la lối ầm ĩ liền chặn Tân lại, nói lớn, giọng hách dịch:
Anh kia! Ra khỏi đây lập tức!”

Tân giơ tờ giấy một trăm đô nói:
“Tôi đưa tiền trả cô khách Mỹ!”
“Cái gì?ạ Cô ta đánh rơi tiền à?”
“Không, cô ấy trả tiền cuốc xe cho tôi một trăm đô, trong khi giá chỉ có năm đô.”

Anh bảo vệ ngẩn người ra nói:
“Lạ nhỉ? Đi cuốc xe có năm đô mà trả một trăm đô? Có khi là đô giả đấy! Đưa đây tôi coi nào!”

Nhưng Tân không đưa làm anh bảo vệ khách sạn nổi giận:
“Thôi, cút cha anh đi. Một trăm đô mà chê à? Anh đạp xe cả năm liệu có kiếm được nổi số tiền này không? Gặp con mụ Mỹ điên khùng vớ món bở thì hãy chuồn mau đi, không nó đổi ý ra đòi lại, thì chỉ có nước ăn cám, anh bạn ạ!”

Tân cầm tờ giấy bạc một trăm đô chậm rãi bước ra khỏi khách sạn. Một trăm đô, đúng là số tiền không nhỏ, nhưng công sức của anh bỏ ra đâu có xứng đáng để nhận sồ tiền này. Thôi sáng mai tới trả cô ta vậy. Cả đêm đó Tân không ngủ được. Anh cứ trằn trọc “đánh vật” mãi với tờ giấy bạc một trăm đô. Tại sao lại có thể như thế nhỉ? Đi cuốc xe áng giá năm đô, cô ta trả một trăm đô. Chẳng lẽ là bạc giả như anh chàng bảo vệ khách sạn nói? Không! Nhất định không phải rồi! Cần gì cô ta phải làm cái việc lươn lẹo dối trá, Vậy tại sao cô ta trả cho mình cả một trăm đô? Thương hại? Bố thí? Một tấm lòng? Dù có là gì đi chăng nữa thì sáng mai cũng vẫn phải trả lại tiền cho cô ấy.

Tân thở dài. Tắt đèn. Bật đèn. Vuốt ve ngắm nghía tờ giấy bạc một trăm đô. Tờ giấy mầu xanh lá cây như sáng rực trong đêm. Một trăm đô đâu có nhỏ. Có khác gì tiền từ trên trời rơi xuống. Nhưng nhất định ngày mai phải trả lại cô ta, cô Jacqueline quý hóa: Tôi rất trân trọng tấm lòng của cô nhưng tôi không thể nhận số tiền này. Chúng ta chỉ mới có hai ngày quen biết, đâu đã có ân tình nghĩa trọng gì. Cám ơn lòng tốt của cô. Cám ơn người đàn bà ở phương trời xa đến. Nghĩ tới những người cùng chung nòi giống sống quanh tôi, cô làm tôi thấy đau đớn tủi nhục.

Hôm sau mới tám giờ sáng, Tân đã đạp xe tới chỗ cũ để đợi Jacqueline, mặc cho một người khách Tây phương đang vẫy tay gọi xe bên kia đường. Anh sốt ruột chờ, đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, thỉnh thoảng thọc tay vào túi quần để yên trí tờ giấy bạc một trăm đô vẫn còn nằm trong đó. Chín giờ đã tới. Rồi chín giờ mười phút. Chín giờ mười lăm phút. Không thấy bóng dáng Jacqueline đâu cả. Chín giờ hai mươi phút. Tân thấy anh bảo vệ khách sạn hôm qua bước lại phía anh. Chẳng lẽ tên này gặp mình kiếm cớ gây sự để đoạt tờ giấy một trăm đô? Tiền bạc làm con người mờ mắt dễ trở thành bất lương. Anh bảo vệ khách sạn tới bên Tân dừng lại và hỏi vẫn giọng hách dịch:
“Có phải anh là người hôm qua chở cô khách Mỹ?”

Tân gật. Anh ta đưa Tân một mảnh giấy:
”Này cầm lấy! Thư của cô ta đấy!” Dứt lời anh ta bước về khách sạn.

Thư là một mảnh giấy nhỏ có in tiêu đề khách sạn. Jacqueline viết bằng tiếng Anh:
“Tân mến! Hôm nay tôi có việc bất thần phải đáp máy bay đi Hà Nội. Chúc vui khỏe. Hẹn gặp lại.”

Cô ký tên một chữ tắt “J”.

 

2
Những ngày và cả những tháng sau đó Tân vẫn thường đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do có ý chờ người đẹp Mỹ Quốc bất thần xuất hiện. Anh biết vô vọng nhưng vẫn cứ mong, cứ đợi. Rồi Tân tự an ủi đó là một giấc mơ, một giấc mơ đẹp có thật và sẽ không bao giờ hiện ra lần nữa. Anh chợt nhớ hai câu thơ của nhà văn Duyên Anh mà anh được nghe trong trại tù: “Đời rất hiếm hoi lần Bụt hiện. Cho nên đoạn kết thảm vô cùng.” Đời mình chưa đến đoạn kết, nhưng đến nước này thì đúng là “thảm vô cùng” rồi, còn chờ còn mong gì nữa “lần Bụt hiện”. Rồi anh lại lẩn thẩn nghĩ tới bốn chữ “Hồn Bướm Mơ Tiên” – tên một cuốn truyện của nhà văn Khái Hưng. Hồn Bướm Đỗ Tân đang mơ tới nàng tiên Jacqueline Hunter. Tiên đã về vùng đất Thiên đường của Hạ giới, còn bướm thì vẫn mơ màng nơi chốn địa ngục trần gian. Buổi tối, lúc ấy gần mười hai giờ đêm Tân mới về tới nhà. Hôm nay xui xẻo chỉ chạy được ba “cuốc” xe ngắn, vừa đủ tiền chi cho hai bữa ăn. Tới trước cửa nhà Tân thấy chị chủ nhà đứng ngay trước cửa có vẻ đợi anh. Tân hơi chột dạ. Hôm nay là ngày mùng năm đầu tháng nhưng anh vẫn chưa có tiền trả tiền thuê buồng. Bà ta đợi mình về để đòi đây. Số tiền Jacqueline cho anh đã tiêu hết, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Tân định cất tiếng xin khất ít ngày thì chị chủ nhà đã tươi cười đưa anh một tờ giấy, nói:
“Chú Tân có tin vui nè!” Tân cười nhạt:
“Tin vui? Tôi làm gì có tin vui. Giỡn làm chi chị Tư?” Chị cho tôi nợ tiền thuê buồng mấy ngày nữa nghe!”

Chị chủ nhà vẫn cười cười nói:
“Tôi nói thiệt mà! Giấy gọi chú lên Tân Sơn Nhứt lãnh quà từ Mỹ gửi.”

Tân sửng sốt: “Quà ở Mỹ gửi? Lạ nhỉ?” Từ ngày ra tù về Tân chưa hề nhận được một lá thư nào từ ngoại quốc gửi về, nói chi đến việc nhận quà! Anh có nghe tin cánh Không Quân bên Mỹ tổ chức quyên góp tiền bạc cứu trợ, nhưng chưa tới tay anh. Có lẽ vì anh chưa liên lạc được với họ. Tân khấp khởi mừng thầm yên trí đây là quà của “các bạn ta” gửi. Anh cầm tờ giấy báo tin vui bước vào nhà đến bên ngọn đèn điện vàng vọt yếu ớt. Chị chủ nhà bước theo sau luôn miệng hỏi:
“Sao? Quà của ai gửi vậy?”

Bỗng Tân đưa tay trái đặt lên ngực. Tim anh đập nhanh, dồn dập. Anh coi lại tờ giấy báo tin lần nữa Thật bất ngờ ngoài cả sức tưởng tượng của Tân. Người gửi quà là Jacqueline. Số quà nặng tới hai mươi ký. Ngày hôm sau Tân phải chạy vạy mới mượn được đủ tiền dự phỏng để đóng thuế. Tất nhiên trong số tiền này có cả tiền của chị chủ nhà. Chị cứ luôn miệng lẩm bẩm:
“Trời đâu có phụ kẻ hiền lành.”

 

3
Washington DC. ngày… tháng… năm….

Tân thân mến,

Khi nhận được thư này tôi hy vọng Tân đã nhận được gói quà tôi gửi. Chắc Tân ngạc nhiên lắm? Những quần áo, vật dụng, radio, cassette không phải của mình tôi đâu mà còn là của một số bạn bè phi công cùng khóa với Tân gửi đấy! Khi ở Hà Nội về nước, tôi liền liên lạc ngay với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth ở Dallas nên có được một số địa chỉ các bạn đồng khóa với Tân. Biết tin anh họ mừng lắm. Sau khi nghe tôi kể hiện cảnh của anh, họ buồn rầu khổ sở và tức tốc hè nhau góp gửi cho anh một số tiền cũng như vật dụng quần áo. Về tiền được hơn một ngàn đô. Tôi đang tìm cách gửi sao cho sớm đến tay anh mà không bị mất. Tôi mong anh sẽ hài lòng về số quà tặng “đó là những tấm lòng của bạn bè” chứ không phải “sự thương hại hay bố thí” như một lần anh đã hiểu lầm. Sở dĩ chúng tôi gửi tiền và mua những món đồ cho anh là do một người bạn Việt Nam chỉ dẫn. Anh ta bảo những thứ này ở Việt Nam đang bán được giá cao. Bây giờ tôi xin nói một chút về tôi chắc anh sẵn lòng nghe? Tôi đến Việt Nam không phải để du lịch. Tôi đến Việt Nam với mục đích duy nhất tìm kiếm tung tích chồng tôi. Chồng tôi chính là Đại Úy Phi Công Edward Carter thuộc Lực Lượng Hải Quân Hoa Kỳ, người học cùng khóa và là bạn thân của anh.”

 

 

Coi tới đây Tân ngừng lại. Bất ngờ quá! Anh cố hình dung lại người bạn phi công cùng khóa Edward Carter. Sau khi mãn khóa về nước, Tân có thư từ qua lại với anh ta, nhưng chỉ được hai năm sau đó mất liên lạc. Anh nhớ mang máng là Edward Carter được thuyên chuyển tới Đệ Thất Hạm Đội ở Thái Bình Dương. Lúc học ở Mỹ, Tân và Edward Carter có nhiều kỷ niệm, nhất là những buổi cuối tuần được nghỉ đi kiếm bồ bịch, mải vui quá ngày phép, hai người bị kỷ luật. Tân thở dài. Mới đó đã mười mấy năm trôi qua. Tân coi tiếp thư:

“Trong một phi vụ oanh tạc vùng Thanh Hóa, máy bay của chồng tôi bị bắn hạ. Anh được báo cáo mất tích.” Tân lại ngưng coi và đặt lá thư xuống cái bàn gỗ nhỏ cũ kỹ đặt nơi đầu giường. Anh chống tay lên cằm, suy nghĩ trong xúc động. Edward bị bắt sống hay bị chết? Nếu bị bắt sống thì nhất định Jacqueline đã biết tin, vì tất cả tù binh Mỹ đều bị nhốt trong “khách sạn Hilton ” ở Hà Nội. Tân cầm thư coi tiếp:

“Tôi không tin thông báo của chính phủ. Bản danh sách quân nhân Mỹ mất tích còn quá dài. Tôi phải tự đi tìm chồng tôi vì tôi tin chồng tôi chưa chết. Chúng tôi mới lập gia đình có một đứa con gái. Khi chồng tôi mất tích nó được hai tuổi.

Tôi đến Việt Nam lần vừa rồi là lần thứ hai. Lần trước tôi đến Hà Nội và đi nhiều nơi, kể cả Thanh Hóa. Mất hơn một tháng chẳng kiếm được tin tức gì. Một người bạn viết thư cho tôi biết ở Saigon có một “tuy-ô” cung cấp người Mỹ mất tích rất đáng tin cậy. Thế là chẳng cần đắn đo suy nghĩ, tôi vội vã book vé bay sang Việt Nam liền. Tôi đã bị lừa nhưng được gặp anh. Đúng như người bạn Mỹ của anh nhận xét. Nếu cái mũi cao thêm một chút, dài thêm một chút, và nước da trắng thì anh đúng là bản sao của chồng tôi. Sao lại có thể có hai người giống nhau như thế và sao lại có sự tình cờ gặp gỡ giữa tôi và anh như thế nhỉ? Hôm đầu tiên ngồi trên chiếc xích lô của anh, tôi ngoái lại nhìn anh, không khỏi giật mình sửng sốt. Suýt chút nữa thì tôi kêu tên chồng. Anh có biết không, trong lúc liên lạc với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth tôi mới biết thêm anh là người đạt số điểm cao nhất ở khóa đó. Ông chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện già đã về hưu vẫn còn nhớ tới anh và không ngớt lời ca ngợi anh một thanh niên thông minh giầu nghị lực, một phi công đầy triển vọng tài ba. Nói để anh mừng nhé. Các bạn người Mỹ của anh đang vận động với chính phủ can thiệp cho anh sang Mỹ định cư đấy. Công việc này tất nhiên rất khó khăn và nhiều trở ngại, nhưng ai có quyền cấm người ta hy vọng nhỉ, có phải thế không? Từ nay tôi sẽ liên lạc thường xuyên với anh qua thư từ. Anh cần những gì có thể cho tôi biết để tôi và các bạn anh cố gắng giúp. Dưới đây là một số địa chỉ các bạn cùng khóa với anh. Anh nhớ viết thư cho họ nhé. Có mấy người mang cấp bậc Đại Tá rồi đấy. Họ sẽ có thư cho anh, nếu không có gì trở ngại về phía anh.

Chúc anh vui khỏe.
J.

Ít ngày sau, đúng như thư Jacqueline viết, có một người lạ đem đến cho Tân hơn một ngàn đô. Tân cầm số tiền trong tay mà vẫn ngỡ như mình nằm chiêm bao. Anh không nén được xúc động, tay cầm cây bút run run khi viết mấy chữ biên nhận tiền. Rồi anh thấy đôi mắt mình cay cay… Anh đã không cầm được nước mắt. Đêm đó Tâm nằm mơ thấy mình chở Jacqueline trên xe xích lô. Tới một quãng vắng vẻ Jacqueline bảo anh ngừng xe lại rồi nàng rời khỏi xe, bất thần ôm chầm lấy anh hôn thắm thiết. Khi Tân giật mình thức giấc anh cảm thấy như mùi nước hoa, mùi da thịt của nàng còn phảng phất đâu đây.

 

4
Tân đi tù khoảng hơn năm thì vợ anh đi lấy chồng khác, một cán bộ ngoài Bắc vào. Chính chị đã dẫn người này lên tận trại tù ép buộc Tân ký giấy ly dị với hứa hẹn sẽ can thiệp cho anh về sớm. Tân chẳng tin vào cái sự hứa hẹn này nhưng với một người vợ sớm thay lòng đổi dạ như vậy, anh không còn gì để lưu luyến cầm giữ. Anh chỉ lo ngại cho đứa con nhỏ mới ba tuổi. Nhưng anh yên tâm phần nào khi biết con mình được ông bà ngoại đem về nhà nuôi. Khi Tân từ trại tù vùng cao nguyên trở về Saigon, anh tới ngay nhà ông bà già vợ. Con gái anh đã hơn mười tuổi, gầy và hơi xanh. Nó ôm chầm lấy bố khóc như mưa. Tân định ở nhờ ông bà già vợ ít ngày nhưng căn phòng quá nhỏ hẹp mà lại chứa những năm người: ông bà già vợ, vợ chồng người em vợ và con gái Tân nên không còn chỗ cho anh. Sau bữa cơm đạm bạc chỉ có rau muống muối mè (để đãi mừng chàng rể ở tù về), Tân phải kiếm cớ đi chỗ khác ngủ, mặc dù ông bà già vợ cố giữ lại “ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”. Đêm đó, đêm đầu tiên được sống tự do ngoài đời, Tân đã phải nằm ngủ trong mái hiên của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô và phải chen chúc với đám ăn mày, xì ke ma túy. Sáng dậy gói quần áo nhỏ Tân mang từ trại tù về cũng bị “chôm” mất. Tân đi kiếm nhà một người bạn tù về trước anh và được người này giới thiệu việc làm: rửa chén đĩa một tiệm phở. Làm được mấy ngày chưa kịp lãnh lương tuần Tân bị thôi việc. Anh đã làm sứt mẻ và vỡ quá nhiều chén đĩa trong khi rửa.

 

 

Mãi Tân mới kiếm được một việc tương đối “độc lập tự do” và hợp với “khả năng” của đa số tù cải tạo về: đạp xích lô. Tuy “lao động” vất vả cực nhọc lại không ”vinh quang” chút nào Tân cũng kiếm được đủ ngày hai bữa ăn và thuê một cái buồng nhỏ trong xóm nhà lá để đêm về có chỗ ngủ. Hôm nào chạy được khá tiền một chút, anh mời cả gia đình bố mẹ vợ và cô con gái đi làm một chầu phở bình dân. Cuộc sống khó khăn chật vật nhưng Tân vẫn lấy làm hài lòng vì dù sao vẫn còn hơn gấp trăm lần trong trại tù cải tạo, có làm không có ăn. Tân cho rằng khi con người đã trải qua cuộc sống trong tù cải tạo của cộng sản rồi thì tất cả mọi sự trên cõi đời này đều… nhẹ như lông hồng!

Có được số tiền “ngoại viện” Tân đem một nửa “phân phối” cho bố mẹ vợ, bạn bè và cả chị chủ nhà. Riêng cô con gái Tân dẫn đi may một lúc mấy bộ quần áo và mua cho chiếc xe đạp để đi học. Tân viết thư gửi Jacqueline bầy tỏ lòng biết ơn. Với các bạn bè người Mỹ cũng vậy. Và cứ thế mỗi tháng Tân nhận được một lá thư của Jaqueline cùng một số tiền hoặc hàng hóa, có lần có cả đồ hộp thức ăn, sữa. Tạm thời qua cơn bĩ cực nhưng Tân vẫn không chịu rời chiếc xích lô. Hàng ngày anh vẫn đạp xe ra phố, không phải để chở khách như trước mà là phương tiện để anh đi đó đây thăm bạn bè ăn nhậu. Thỉnh thoảng anh đạp xe tới góc phố Lê Lợi – Tự Do tưởng nhớ tới Jacqueline và những ngày đầu gặp gỡ. Đôi mắt xanh biếc và mái tóc vàng óng ả chẩy dài xuống lưng của Jacqueline hình như lúc nào cũng hiển hiện trước mắt Tân. Có lý nào cô nàng yêu mình? Tân băn khoăn, thắc mắc, khắc khoải mãi với câu hỏi này. Và đôi lúc anh thấy nhoi nhói nơi tim khi nghĩ rằng chẳng qua cô nàng thương hại mình thôi. Trong những lá thư gửi Jacqueline, Tân đã bóng gió viết về tình cảm của mình đối với nàng, nhưng có lẽ nàng không hiểu sự tế nhị này của người Á Đông. Trong thư hồi âm, Jacqueline vẫn viết nhiều về những ngày ở Việt Nam và hỏi Tân về lịch sử, phong tục, tập quán, phong cảnh và những món ăn của người Việt. Rồi cô hỏi Tân thích nhất món ăn gì của Mỹ và nếu được sang Mỹ định cư thích sống ở đâu. Mỗi lần nhận được thư Jacqueline là buổi tối hôm đó Tân nằm mơ thấy mình sống trên đất Mỹ. Lúc thì lái máy bay, có lúc thì đi hộp đêm với bạn bè người Mỹ nhẩy đầm nhậu nhẹt say khướt. Nhưng nhiều nhất vẫn vẫn là mơ thấy sóng đôi với Jacqueline, hết đi ngắm tuyết ở vùng đồi trắng xóa miền Đông, tới shopping ở các chợ miền Nam Cali nắng ấm. Khi thức giấc Tân thấy tiếc và muốn giấc mơ cứ thế kéo dài mãi.

Buổi sáng hôm đó Tân sửa soạn đạp xích lô đi “tiếu ngạo giang hồ” có một anh công an tìm gặp. Anh ta trố mắt ngạc nhiên khi thấy người mình đi tìm gặp lại là một anh đạp xích lô. Anh ta hỏi đi hỏi lại mãi có đúng tên là Đỗ Tân không rồi mới cho biết lý do. Có ông dân biểu Mỹ muốn gặp. Tân choáng người. Một dân biểu Mỹ muốn gặp anh? Rồi trực giác bén nhậy của Tân cho biết đây là một tin lành. Tân đạp xích lô theo anh công an đến khách sạn Đại Lục nơi trước đây Jacqueline ở. Mọi người làm trong khách sạn đều nhìn Tân với cặp mắt nghi ngờ và kiêng nể. Thì ra ông dân biểu Mỹ là cựu phi công học cùng khóa với Tân. Máy bay của ông bị bắn trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc và bị nhốt “khách sạn Hilton ” hơn năm năm thì được thả. Về Mỹ ông ứng cử và đắc cử dân biểu. Jacqueline đã gặp ông trình bầy hoàn cảnh Tân và nhờ ông can thiệp với chính phủ cộng sản Việt Nam. Ông sang đây với một phái đoàn bàn thảo chương trình viện trợ nhân đạo cho Việt Nam, trong đó có “chút việc riêng tư” là can thiệp cho Tân sang Mỹ định cư. Trước khi gặp nhà chức trách, ông muốn gặp Tân để “nhận diện” người bạn đồng khóa năm xưa.

 

5
Anh Hoàng thân quý,
Sau khi chia tay anh ở phi trường Tân Sơn Nhất. thấm thoát thế mà đã hơn ba tháng trôi qua. Sở dĩ hôm nay mới viết thư cho anh vì khi đặt chân tới đất Mỹ, khỏi kể nhiều anh cũng thừa biết là tôi bận lắm. Sau khi nghỉ ngơi cho tỉnh người, đồng thời cũng là để gột sạch “bụi bậm xã hội chủ nghĩa” (còn bám chút đỉnh nơi thân thể), tôi và Jacqueline lo tổ chức lễ cưới. Rồi chúng tôi đi Washington DC tới bức tường đá đen ghi tên các chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam.Chúng tôi dành ít phút cúi đầu tưởng niệm dưới hàng chữ ghi tên Carter.Sau đó chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật ở Honolulu. Tiếp theo chúng tôi đi thăm chỗ tôi học lái máy bay năm xưa ở hai bang Lousiana, Texas và các bạn phi công cùng khóa. Ông bạn cựu phi công đương kim dân biểu đã giới thiệu cho tôi một job hợp với khả năng: lái máy bay cho một đồn điền. Còn Jacqueline vẫn tiếp tục nghề cũ y tá bệnh viện. Con gái tôi được Jacqueline và con gái cô quý mến lắm. Hai đứa ngoài giờ học cứ quấn quýt bên nhau như hai chị em ruột. Như anh biết đấy, khi ra đi tôi đã mang theo chiếc xích lô mà tôi phải mua lại với một giá mắc người chủ mới chịu bán. Cứ chủ nhật hoặc những ngày nghỉ lễ, tôi đạp xích lô chở Jacqueline và hai đứa nhỏ chạy lòng vòng trên các đường nhỏ trong thành phố. Đây là một chiếc xe độc đáo duy nhất có ở thành phố này, nên đạp tới đâu cũng được người Mỹ vui vẻ ngắm nghía và trầm trồ giơ tay chào. Có nhiều người bắt tôi xuống xe để cho họ đạp thử và suýt nữa thì làm lật cả xe. Lâu dần người Mỹ quen mắt với chiếc xe xích lô của tôi. Chúng tôi đặt chiếc xích lô ngay trong phòng khách. Nhờ nó, tôi và Jacqueline thành duyên chồng vợ nên chúng tôi vô cùng quý và trân trọng giữ gìn nó.

Hiện tại chúng tôi đang sống tràn trề hạnh phúc. Mùa xuân của cuộc đời tuy đến muộn nhưng chúng tôi bằng lòng lắm với những gì mình đang có, đang sống. Thiên đường có thật anh Hoàng ạ! Và chúng tôi đang tắm trong suối nguồn tươi mát của Thiên Đường.

Xin chúc anh và gia đình mọi điều tốt đẹp. Thỉnh thoảng rảnh rỗi anh nhớ viết thư cho tôi nhé.

Quý mến,
Đỗ Tân.

Thanh Thương Hoàng
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




Joyce Anne Nguyen : BÀI VIẾT KHÔNG CÓ TỰA

Nhưng.. Đừng bảo tôi im vì tôi sống ở Na Uy. Đừng bảo tôi im vì tôi 16 tuổi. Đừng bảo tôi im và bảo tôi chưa đủ trải nghiệm. Đừng bảo tôi im và bảo tôi thiếu hiểu biết. Đừng bảo tôi im và kết tội tôi chỉ copy và paste. Đừng bảo tôi im vì bạn im.

BÀI VIẾT KHÔNG CÓ TỰA

 

Joyce Anne Nguyen

 

 

Wednesday, March 3, 2010 at 2:42am

 

Có đôi khi suy nghĩ, tôi chợt cảm thấy có lẽ mình nên bỏ tất cả. Bỏ tất cả việc viết lách này. Có rất nhiều lý do để tôi ko nên tiếp tục viết.
Tôi 16 tuổi, ở tuổi này như những người đồng trang lứa tôi nên chú tâm học hành và có những mối quan tâm phù hợp với lứa tuổi.
Tôi ko bị ép buộc phải lên tiếng, và tôi ko đủ tư cách để lên tiếng và kêu gọi người khác phải đứng dậy tranh đấu cho quyền lợi cá nhân và thay thế 1 chế độ khác với những nhà cầm quyền khác, bởi dù gì tôi cũng đang sống ở nước khác, tôi là kẻ hèn nhát đứng từ xa hò hét kêu gọi, khi có chuyện tôi ko phải cam chịu gì cả, và tôi nói gì cũng được, gào gì cũng được.
Có đôi khi tôi cảm thấy nhục nhã và ghê tởm với bản thân. Và có lẽ sự im lặng là lựa chọn tốt hơn cho tôi. Có nhiều lúc tôi cảm thấy như vậy. Dù tôi có viết hàng trăm, hàng ngàn bài, cũng ko có điều gì xảy ra. Mọi việc đều diễn ra như vậy. Vô số người đã viết, vô số người đã lên tiếng, vô số người đã đấu tranh và cống hiến cho phong trào đấu tranh dân chủ, nhưng cũng ko có gì thay đổi. Việc viết lách của tôi nói chung cũng ko có lợi gì. Ko tạo nên 1 sự thay đổi. Cũng ko thuyết phục hay lôi kéo được ai. Rất nhiều người cũng đã bảo VN ko cần những người như tôi, và thay vì chê bai chế độ, ko đóng góp, có lẽ tôi nên ngậm họng và sống cho đất nước tôi đang sống.
Có đôi khi tôi cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Dĩ nhiên khi ở VN, tôi ko viết, ý tôi là tôi có viết về những bức xúc trong xã hội nhưng ko viết về chính trị chẳng phải vì tôi sợ, mà trong nước tôi chưa kịp thấy nhiều để ý thức được người dân trong nước ko may mắn như thế nào. Chỉ khi được đến 1 đất nước khác và đi 1 số nơi, tôi mới thấy 1 số điều và so sánh, tôi mới bắt đầu viết về chủ đề này. Nhưng có lẽ tôi nói chung cũng vẫn là 1 kẻ hèn nhát to miệng, kêu gọi người dân trong nước đứng lên phản kháng, trong khi mình đã an toàn.
Có lẽ tôi nên im lặng. Và mọi người cùng im lặng.
Chúng ta hãy cùng ngồi yên và chấp nhận hoàn cảnh, với suy nghĩ mọi nước đều có vấn đề, khó khăn riêng, và mỗi chế độ đều có cái tốt cái xấu của nó.
Chúng ta hãy cùng im lặng và lờ đi những vấn nạn của đất nước, với an ủi rằng đất nước dù sao cũng đang tiến bộ.
Chúng ta hãy cùng im lặng và tin tưởng rằng việc im lặng chấp nhận sẽ giúp đất nước bình yên.
Chúng ta hãy dùng từ “nhạy cảm” để né tránh mỗi khi bất kỳ ai đề cập đến vấn đề an ninh lãnh thổ.
Chúng ta hãy tập trung học hành, làm việc và đừng quan tâm đến chính trị.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ kéo sang tiến hành dự án bauxite ở Tây Nguyên, hủy hoại môi trường sống, giết chết sinh vật, gây bệnh tật cho đồng bào ta, và từ từ chiếm phần trung tâm của đất nước ta.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ thuê rừng đầu nguồn và chấp nhận tất cả những hậu quả của nó như sự ảnh hưởng đến sinh thái và lũ lụt, và để dân TQ kéo sang VN sống.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, và để đồng bào ta bị đánh cướp hoặc giết chết ngoài biển Đông.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để tấm bản đồ lưỡi bò đi khắp TG, và mọi người dần dần tin rằng biển Đông thuộc về TQ, HS- TS thuộc về TQ.
Chúng ta hãy nhắm mắt lại, và ngưng việc đọc báo đi, để tưởng tượng rằng ko có điều gì tồi tệ xảy ra và đất nước vẫn đang phát triển.
Nhưng liệu tôi, và bạn có thể làm được thế ko?
Nếu muốn, tôi có thể quên VN đi. Tôi có thể chỉ nên sống cho Na Uy. Và bất kỳ cái gì khác. Bạn cũng vậy. Nhưng liệu chúng ta có thể làm được như thế ko?
Mọi chuyện có lẽ sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều nếu ko có những vấn đề với TQ. Bây giờ ai cũng biết tình hình giữa TQ và VN đã nghiêm trọng như thế nào. Ko, đừng nói với tôi VN là nước nhỏ. Ko, đừng nói với tôi VN xui xẻo nằm quá gần 1 đất nước đầy tham vọng bá quyền như TQ. VN ko phải là nước nhỏ duy nhất phải chống chọi với 1 nước lớn. VN ko phải là nước duy nhất nằm gần TQ. Tôi biết tôi ko thể làm được gì cả. Tôi là 1 cá nhân, và 1 cá nhân chỉ là được những việc nhỏ nhặt trong giới hạn của 1 cá nhân. Nhưng nếu nhiều cá nhân gộp lại? “Don’t wait for leaders; do it alone, person to person.”- Mother Teresa. Nếu VN phải đối mặt với TQ, nếu nhân dân VN phải đối mặt với nguy cơ mất nước, ai sẽ cứu VN ngoài chính người dân VN? Mỹ ư? Ồ ko bạn ạ, người Mỹ chỉ làm những gì tốt nhất cho nước Mỹ, đừng quên Mỹ đang mắc nợ TQ, và đừng quên ko có lý do cụ thể nào để Mỹ phải giúp đỡ VN. Hay 1 vị Bụt hiện ra hỏi “Vì sao con khóc?” và phẩy cây phất trần biến điều ước trở thành hiện thực? Phật có câu “No one saves us but ourselves. No one can and no one may. We ourselves must walk the path.”
“It’s a dirty world out there, but if no one agrees to do the cleaning, the whole country goes down a shit house.”- Vikas Swarup.
Tôi đủ tỉnh táo để hiểu những bài viết của tôi ko đem lại 1 sự thay đổi cụ thể nào. Có 1 số người đã hỏi thẳng, tôi nhận được bao nhiêu tiền để viết. Tôi cảm thấy hổ thẹn cho họ. Tôi sẽ ko giải thích, tôi chỉ đơn giản trích 1 câu của Isabel Allende “How can one not write about war, poverty and inequality when people who suffer from these afflictions don’t have a voice to speak?” Nếu bạn hoàn toàn cho rằng việc viết lách là vô bổ, đừng quên trong chiến tranh ko phải ai cũng tham gia chiến đấu, có những người chiến đấu bằng ngòi bút. Có những người đóng góp theo cách riêng của họ.
Mọi người biết việc viết lách ko đem lại ích lợi gì nhiều. Vô số người đã viết. Vô số người đã lên tiếng. Ko có gì được thay đổi. Bản kiến nghị phản đối dự án bauxite được rất nhiều người ký tên cuối cùng cũng bị bỏ mặc. Những người biểu tình phản đối TQ bị bắt. Blogger bị bắt và bỏ tù. Ko có gì được thay đổi. Nhà nước vẫn tiếp tục làm việc của họ. Họ vẫn chặn facebook. Họ vẫn kiểm soát thông tin. Họ vẫn cấm nhắc tên Hoàng Sa Trường Sa trên game online. Họ vẫn treo băng rôn chúc mừng quốc khánh TQ. Họ vẫn xử tù người bất đồng chính kiến. Họ vẫn tiến hành dự án bauxite Tây Nguyên. Họ vẫn tiến hành dự án điện hạt nhân. Họ vẫn cho thuê TQ thuê rừng đầu nguồn. Họ vẫn.. Họ vẫn…
Nhưng thay vì đặt câu hỏi tại sao tôi lại viết dù biết việc lên tiếng ko đem lại ích lợi, tại sao bạn ko hỏi vì sao đã rất nhiều người lên tiếng nhưng vẫn ko có điều gì thay đổi? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ hoàn toàn ko quan tâm đến nhân dân? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko cho phép nhân dân biểu tình hoặc chỉ đơn giản là cất tiếng nói? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ gạt ngang ko đếm xỉa đến bản kiến nghị phản đối 1 dự án gây tác hại trầm trọng đến môi trường, sự sống, và cả an ninh, lãnh thổ đất nước? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ chặn blog, chặn website? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi dân oan khiếu kiện, họ ko bao giờ giải quyết? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko đầu tư công sức vào nền giáo dục, tiếp tục những trò cải cách chạy vòng quanh ko cần thiết, bằng cách lấy kiến thức năm này đắp vào năm khác và quay vòng? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko giải quyết vấn đề tham nhũng trầm trọng và giải thích VN ko phải là nước tham nhũng nhất TG và quốc gia nào cũng có? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko màng đến vấn đề giao thông, để hàng chục ngàn người chết mỗi năm vì tai nạn giao thông, và phần lớn vì đường sá chật chội, đầy “lô cốt”, kém chất lượng và gây ra nhiều cái chết phi lý? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ xem nhân dân là con cái ko được phép cãi lời và “hàng xóm” ko cần can thiệp? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ lên nắm quyền khi nhân dân ko biết họ là ai để bầu cho họ? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ dù làm bất kỳ điều gì, vẫn tiếp tục giữ cái ghế của mình? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ e ngại mọi sự so sánh và kết luận đó là vọng ngoại và phản quốc? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và huyễn hoặc nhân dân rằng mọi đất nước đều có vấn đề riêng và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ?
Ở đây tôi chỉ muốn nói lên vấn đề ý thức. Tôi ko có ý định tung hô nước ngoài như nhiều người sẵn sàng chụp mũ. Tôi chỉ đưa ra 1 vài so sánh. Trong ý thức người dân cũng như người lãnh đạo ở những quốc gia có tự do dân chủ, nhà nước được nhân dân bầu lên, và tồn tại vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Nhân dân đóng thuế nuôi các ông lãnh đạo, và khi các ông làm việc ko tốt, các ông phải nghe phê bình, và có thể bị phế truất. Có rất nhiều người vẫn thường lầm lẫn giữa khái niệm yêu nước và yêu nhà nước. Tất cả đơn thuần chỉ là trò chơi đánh tráo khái niệm. 1 kiểu áp đặt thường thấy. Quốc gia dân tộc là cái trường tồn. Nhà nước là cái tồn tại tạm thời. Khi 2 cái đi ngược nhau, tôi ko nghĩ tôi nên chọn cái ngắn thay vì cái dài. Có nhiều người sẽ bảo tôi là kẻ vô ơn. Rằng tôi sinh ra và lớn lên dưới chế độ này, tôi ăn cơm trong chế độ này, tôi đi học trong chế độ này, tôi phải mang ơn thay vì phản chủ. 1 lần nữa phải nhấn mạnh, đây chỉ là vấn đề ý thức. Ko biết vì lý do gì, dường như người dân VN có thói quen thường sợ hãi và mang ý thức mình đang mang ơn nhà nước. Trong khi thực tế nhà nước lập ra để lèo lái đất nước, và đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Tôi phải biết ơn à? Tôi đã nhìn thấy các ông lãnh đạo như thế nào. 1 tờ báo chính thức trong nước từng viết, phải mất 175 năm để VN đuổi kịp Singapore, với điều kiện Singapore đứng yên- điều này là ko thể. GDP cũng tụt hàng trên TG. Tôi phải biết ơn đất nước vì đã độc lập, tự do, hạnh phúc à? Ta độc lập mà ta ko dám nhắc đến mối quan hệ VN- TQ? Ta độc lập mà ta ko dám biểu tình chống TQ? Hạnh phúc? Hạnh phúc mà sau này vô số người vẫn tìm cách bỏ đi, bằng cách này hay cách khác, hôn nhân, du học, lao động hợp tác, làm giấy tờ giả…? Hạnh phúc mà đa phần những người đã đi đều ko muốn về nước sống?
Tôi sẽ bị xem là kẻ hèn nhát. Tôi ko dám ở ngay trong nước hô hào. Tôi thừa nhận, có nhiều lúc tôi đã tự cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Tôi đi. Tôi ko ở lại. Nhưng cách đây ko lâu, ở trường tôi có buổi giới thiệu về 1 số trường ĐH ở Na Uy và ở những nước khác như Anh, Úc, Mỹ, New Zealand… có 1 tấm bảng có dòng chữ lớn: “Do something for your country: LEAVE.” May mắn được đi, tôi có những quyền tôi ko thể có trong nước. May mắn được đi, bằng những bài viết, dù có thể là vô bổ, tôi đóng góp 1 phần nào đó. May mắn được đi, tôi có cơ hội mở rộng tầm nhìn, và so sánh sự khác biệt giữa 2 TG (tôi thích nói là 2 TG). Những người e ngại sự so sánh ko thể nhìn thẳng vào những khuyết điểm và hạn chế của bản thân để chỉnh sửa và tiến bộ. So sánh là cần thiết. So sánh dẫn đến cạnh tranh. Cạnh tranh giúp phát triển. Thử tưởng tượng, nếu cả 1 khu vực bạn sống chỉ có 1 tiệm giày. Bạn ko còn lựa chọn nào khác, dù đẹp dù xấu bạn cũng phải vào đó mua giày. Nhưng nếu có khoảng chục tiệm giày, à ko nhất thiết, có 2 tiệm giày thôi cũng được, bạn được quyền lựa chọn vào tiệm A hay tiệm B, và để thu hút khách hàng, mỗi tiệm dĩ nhiên phải cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tương tự với chính trị. Ồ vâng bạn sẽ nghĩ tôi là đứa tâm thần khi so sánh chính quyền với tiệm giày, nhưng tôi chỉ đang phân tích. Nếu có nhiều đảng, các đảng phải cạnh tranh nhau, đưa ra nhiều chính sách vì nhân dân và đất nước, và người dân dĩ nhiên sẽ bỏ phiếu cho cái đảng có nhiều chính sách tối ưu hơn. Nhưng nếu chỉ có 1 đảng duy nhất, và đặc biệt những người lãnh đạo ko bao giờ bị bắt lỗi, ko bao giờ bị phê bình, ko bao giờ bị phế truất, các ông muốn làm bao lâu cũng được, ngồi đó bao lâu cũng được. Ko phải rõ ràng là trong trường hợp đó, cái đảng duy nhất này có thể làm bất kỳ điều gì, kể cả những việc có hại cho đất nước sao?
Trong bài viết “Ai ko muốn được tự do?”, tôi đã có đề cập đến sự tự do. Vấn đề chỉ là khái niệm về tự do. Khi con người đã sống quá lâu trong 1 xã hội nơi họ ko được phép có tư duy độc lập và phát biểu ý kiến thực sự của mình, họ dần dần quên mất lẽ ra là con người, họ nên có quyền cất tiếng nói. Trong nghệ thuật, nếu có khuôn mẫu định sẵn và 1 dây xích kìm hãm, người nghệ sĩ ko thể làm việc với toàn bộ khả năng của mình. Thiếu tự do, con người bị kìm hãm, khả năng bị giới hạn. Cũng như trong đời sống. Albert Camus từng nói “A free press, of course, can be good or bad, but most certainly, without freedom, a press will never be anything but bad.” Nói mỗi nước đều có tự do dân chủ, chỉ là chế độ khác biệt nên sự dân chủ có màu sắc khác nhau chỉ là lối né tránh cái thực tế chẳng có tự do dân chủ. Nói mỗi nước đều có vấn đề, ko có chế độ nào hoàn hảo chỉ là 1 lối lấp liếm ko dám nhìn thẳng vào những khuyết điểm của mình.
Đúng, ko có chế độ nào 100% hoàn hảo. Nhưng cho đến nay, qua thời gian, đến sự tiến bộ hiện nay của loài người, chế độ dân chủ được xem là lựa chọn tốt nhất. Nhưng có lẽ con chim bị nhốt quá lâu trong lồng khi nhìn thấy cửa mở cũng rụt lại ko dám bay ra TG rộng lớn bên ngoài. Có lẽ con người sợ hãi sự thay đổi. Thay vì góp sức vào 1 sự thay đổi, thay vì đứng lên bảo vệ cho quyền lợi của chính bản thân mình, họ ngồi yên chấp nhận thực tế và họ cách lơ đi những vấn nạn của đất nước. Erich Fried có câu nói nổi tiếng được viết ngay trên phần còn sót lại của bức tường Berlin tôi đã may mắn có dịp thấy tận mắt: “He who wants the world to remain as it is doesn’t want it to remain at all.”
Nếu muốn, tôi có thể đáp máy bay về nước, có thể để bị bắt và ngồi tù, lúc đó mọi người sẽ biết đến tôi, sẽ cuối cùng công nhận tôi chứng minh được những gì mình đang nói thay vì khoác lác phô trương, sẽ cuối cùng ban cho tôi 1 danh hiệu, hay 1 tấm bằng khen để sau này ra tù tôi treo trong nhà và tự hào giới thiệu mỗi khi khách đến, nhưng liệu điều ấy có giúp ích được gì ko? Ý tôi ko phải bảo việc ngồi tù là vô bổ. Tôi rất nể trọng và kính phục những người đã dám lên tiếng và chấp nhận việc ngồi tù là 1 cái giá của việc tranh đấu của mình. Tôi thực sự rất nể trọng họ. Và cảm thấy những gì mình làm chẳng là chút gì so với những gì họ đã làm. Và nhiều lúc cảm thấy bản thân là 1 kẻ hèn nhát đáng ghê tởm.
Nhưng..
Đừng bảo tôi im vì tôi sống ở Na Uy.
Đừng bảo tôi im vì tôi 16 tuổi.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi chưa đủ trải nghiệm.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi thiếu hiểu biết.
Đừng bảo tôi im và kết tội tôi chỉ copy và paste.
Đừng bảo tôi im vì bạn im.

Joyce Anne Nguyen
2/3/2010

Joyce Anne Nguyễn

Uploaded with ImageShack.us

Cách đây vài ngày tôi đọc lại 1 bài viết cũ của mình, “Bài viết không có tựa”, hay còn được biết đến với tên “Đừng bảo tôi im” do bác Hoàng Cơ Định đặt. Và nhận ra đã 1 thời gian rồi tôi gần như không viết gì. Nhìn sang xung quanh, tôi cũng thấy rất nhiều người đã ngưng bút, và bỏ cuộc. Tôi không nói về những người khác, nhưng riêng phần tôi, tôi biết tôi không có quyền than thở. Tôi không có quyền nói mình mệt mỏi. Hiện tại tôi không còn ở VN, nhưng tôi vẫn luôn mang dòng máu VN, và nhìn chung tôi không làm được gì nhiều, thế nên tôi không thể bỏ cuộc. Tôi sẽ tiếp tục viết. Và làm gì đó, theo cách này hay cách khác.
Tôi không cần viết, hiển nhiên. Tôi có thể chỉ đơn giản tiếp tục học và làm những việc đúng với tuổi tôi, tiếp tục đời sống tại Na Uy, đôi khi đi chơi đây đó tìm hiểu những đất nước khác, như lúc này đang lang thang Roma trước khi trở lại trường. Thế nhưng, nói như Isabel Allende, làm sao 1 người có thể không viết về những nghèo khổ và bất công trong xã hội khi những người đang cam chịu những điều đó không có quyền cất tiếng nói? Viết không chỉ cho bản thân. Viết cho những người bị buộc phải im lặng. Viết cho những người mất gần như mọi thứ chỉ vì khát vọng tự do. Viết cho những người đã ngã xuống. Viết cho những người đấu tranh cô độc. Viết cho những người còn đang sống và không biết mình bị thiệt thòi và thiếu các quyền sống cơ bản của con người. Viết cho những người đang vô cảm hoặc không biết nhiều về tình hình đất nước. Viết cho dân tộc. Viết cho những phần lãnh thổ lãnh hải đã mất. Viết cho lịch sử. Viết cho những người đã khuất, đang sống và những thế hệ tiếp sau. Viết không phải là tuyên truyền. Viết không phải là hô hào nhân dân xuống đường còn mình an toàn ngồi ở nước khác. Viết là viết ra cảm xúc và sự thật. Viết là viết những gì đã nhìn thấy. Viết là nói về những bất công đang diễn ra. Viết là viết về những khác biệt giữa nước ta và nước khác, để thay đổi, tiến bộ và đấu tranh cho những quyền sống cơ bản. Viết là làm thức tỉnh, là kêu gọi sự quan tâm.
Hãy trả lời tôi.
Bạn cảm thấy gì khi mỗi ngày ra đường thấy kẹt xe, khói bụi, “lô cốt” khắp nơi và các hệ thống làm đường kéo dài từ năm này sang năm khác? Bạn cảm thấy gì khi ngày ngày mở báo ra đọc, nhìn thấy hàng loạt thông tin về tai nạn giao thông (do kẹt xe, vấn đề đường sá…), sập cầu, cháy nhà…? Bạn cảm thấy gì khi những nhà cầm quyền thản nhiên tiến hành dự án bauxite tại Tây Nguyên bất chấp các tác hại và bản kiến nghị? Bạn cảm thấy gì khi biết các ông lãnh đạo cho TQ thuê rừng đầu nguồn? Bạn cảm thấy gì khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói VN và Cuba canh giữ hòa bình cho thế giới? Bạn cảm thấy gì khi bà Tôn Nữ Thị Ninh so sánh nhân dân với con cái khi tuyên bố tại buổi họp mặt với Hoa Kỳ “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”? Bạn cảm thấy gì khi người ta bảo bạn phải biết ơn Đảng, Đảng là chân lý, bạn không được quyền phê bình, dù cha mẹ bạn nuôi bạn ăn học, đóng học phí cho bạn, bạn đi học lên lớp nhờ công sức bạn học và thi đậu, rồi lớn lên cũng chính bạn kiếm việc kiếm tiền nuôi chính bạn và gia đình bạn, nhà nước không cho giáo dục miễn phí và cũng không có chế độ y tế nào đảm bảo cho bạn, khi thất nghiệp bạn chẳng có trợ cấp, khi bạn già chẳng ai nuôi bạn ngoài con cháu, khi thình lình bạn chết gia đình cũng chẳng có 1 xu hoặc rất ít, trong khi đó ở nhiều quốc gia khác người dân được trợ cấp rất tốt nhưng không bao giờ xem những người lãnh đạo là cha mẹ? Bạn cảm thấy gì khi bạn được học là nước ta có thừa dân chủ, nhưng sau 1 ngày vừa nói về sự kiện 2 nhà báo bị bắt do vụ PMU18, ngày hôm sau tất cả các báo đồng loạt im lặng, bản thân thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gần đây phát biểu “Nước ta không có phản biện, phản biện là phản động”, những người bất đồng chính kiến chưa gây nguy hại cụ thể nào đã bị bắt giam, các bloggers mất việc, 1 tờ báo du lịch khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa bị đình bản và khi bạn thử đứng trong lớp hỏi về Hoàng Sa, Trường Sa thì câu trả lời bạn nhận được là “Đây là vấn đề nhạy cảm không nên bàn tới.”? Bạn cảm thấy gì khi trong trường lớp bạn luôn được dạy là chế độ tư bản đang giãy chết bên bờ vực thẳm nhưng các nước tư bản vẫn đang phát triển giàu mạnh và các nước theo chế độ cộng sản đều đã sụp đổ ngày nay chỉ còn lại TQ, VN, Bắc Hàn, Cuba? Bạn cảm thấy gì khi chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng công ty Than và Khoáng sản, ông Đoàn Văn Kiểng, nói về dự án bauxite:“Lỗ hay lãi chỉ là dự đoán. Chúng tôi nói có lãi, các nhà khoa học bảo không. Khoa học và thực tế bao giờ cũng là 50:50. Vậy thì tốt nhất hãy làm đi, rồi mới kiểm nghiệm được. Thực tế sẽ trả lời.”? Bạn cảm thấy gì khi bạn du lịch sang nước khác và người ta chỉ nói “Ni hao” hoặc “Konnichiwa” với bạn? Bạn cảm thấy gì khi đọc tin công an đánh chết dân? Bạn nghĩ sao khi 1 ủy viên chi bộ tuyên bố “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa.”? Bạn cảm thấy gì khi đọc tin ngư dân bị hải quân TQ đánh cướp và giết chết, báo chí VN ban đầu chỉ nói là tàu lạ, rồi sau đó mới thừa nhận? Bạn cảm thấy gì về bài báo phân tích VN phải mất 175 năm để theo kịp Singapore, với điều kiện Singapore không phát triển? Bạn cảm thấy gì khi thử so sánh sự chênh lệch trong mức tiền thưởng Tết của 1 công nhân bình thường và 1 quan chức ở nước ta? Bạn cảm thấy gì và theo bạn vì nguyên do gì người VN luôn tìm cách ra khỏi nước dù phải chịu cực khổ và tủi nhục khi sang nước người bằng những con đường kết hôn với chồng Đài Loan, sang lao động tại Malaysia hay Đông Âu, hoặc du học và ở lại?…
Bạn nhìn thấy cả. Những bất công đang diễn ra và bạn nhìn thấy tất cả. Nhưng bạn đã lựa chọn: im lặng. Bạn im lặng vì những người khác im lặng. Bạn im lặng và bạn muốn mọi người đều im lặng. Bạn cũng muốn tôi phải im lặng. Bạn chất vấn tôi, hỏi tôi nhận bao nhiêu tiền để viết, và tại sao tôi phải viết khi tôi hoàn toàn có quyền quên đi và bắt đầu 1 cuộc sống mới tại nước khác, nhưng tôi tin bạn đã biết câu trả lời tại sao.

Gần 1g sáng, 8/8/2010, Roma, Ý.
Viết tặng những người bạn trên facebook, những bloggers đang viết, đã ngừng viết và những bloggers sẽ bắt đầu viết.

Joyce Anne Nguyen
Theo: Diễn Đàn Net




Phạm Thắng Vũ : Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975

Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra cả miền Nam không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội… mô tả

Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975

 

Bài dưới đây là tâm tình của anh H, một người bà con trong họ đã kể cho nghe, PTV chép lại.


Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi đang ngồi trong căng tin của nhà máy Hoá Chất Việt Trì thì tai nghe những tiếng la hét ầm ĩ vui nhộn từ phòng thông tin của Công Đoàn nhà máy.    “Thắng rồi… Ta thắng rồi… Dương Văn Minh đầu hàng rồi.”  Tôi bỏ dở cốc nước chè và cùng vài người chạy vội ra xem chuyện gì. Một nhóm công nhân đang vây chung quanh anh Minh, thư ký Công Đoàn cho biết tin vừa nhận được qua đài Tiếng Nói Việt Nam là quân ta đã chiếm được Dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Nghe vậy, những tiếng hét lớn vui mừng một lần nữa lại vang lên. Những ngày trước đây, kể từ sau trận đánh vào Buôn Mê Thuột, Đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí Minh của nhà máy đã làm một áp phích lớn vẽ bản đồ của 44 Tỉnh miền Nam Việt Nam Cộng Hòa và dựng nó gần cổng ra vào. Trên tấm áp phích đó, cứ mỗi khi được tin quân ta giải phóng thêm tỉnh nào thì lập tức tỉnh đó được vẽ một lá cờ Đỏ sao Vàng ngay. Tôi đã thấy càng lúc càng nhiều lá cờ Đỏ sao Vàng xuất hiện trên tấm áp phích chỉ trong một thời gian ngắn đến nỗi phải hoài nghi, dù không nói ra mặt. Bây giờ, điều nghi ngờ đó đã thật rồi, mừng quá đi. Thôi từ nay là hết chiến tranh và những thanh niên miền Bắc sẽ không còn phải xuôi Nam chiến đấu trong chiến trường B nữa. Và điều quan trọng tôi sẽ gặp lại người cha ruột đã xa cách gia đình tới 21 năm rồi. Hôm đó, như để cùng chào mừng với niềm vui lớn của đất nước, trừ những khâu cần phải vận hành máy chạy liên tục còn tất cả các khâu lao động trong các phân xưởng và các phòng ban khác được ban lãnh đạo nhà máy cho nghỉ việc sớm để mang tin vui về cho gia đình biết. Tôi phóng nhanh xe đạp về nhà báo tin cho mẹ tôi biết ngay tin vui này.

Về đến nhà, đắt xe vào trong, chưa kịp khoe tin thì mẹ tôi đã nói: “Sao nay con về sớm vậy? Bộ đội vào tới Sài gòn rồi con biết chưa?”.  Tôi trả lời mẹ là đã biết, được nhà máy cho về sớm định kể mẹ nghe đây. Mẹ tôi ngồi ở bàn sát cửa sổ như đang suy nghĩ điều gì. Tôi cởi áo đi ra giếng nước sau nhà múc nước tắm sau đó quay trở vào mà vẫn thấy mẹ tôi ngồi yên tại chỗ. Tôi bước lại bên bà, hỏi: “U sao vậy?”  và đặt tay tôi lên trán bà, tiếp: “U cảm hay sao nói cho con biết với”. Nhưng bà nhìn tôi, miệng cười mỉm, trả lời:

– Không con. Mẹ khoẻ mà… có điều mẹ đang nghĩ về thầy con thôi. Không biết thầy con bây giờ trong đó đang như thể nào?

Nghe thế, tôi đi mở cái tủ gỗ gụ cũ, lục lọi rồi lấy ra tấm ảnh đen trắng chụp chân dung cha tôi đã cũ, ố vàng. Trong ảnh, một người đàn ông mặc bộ đồ trận rằn ri, ánh mắt nghiêm nghị, đứng cạnh lề đường một khu nào đó trong thành phố Sài Gòn của miền Nam. Tấm ảnh này là tấm duy nhất, gia đình nhận được từ cha tôi, khi hai miền Nam-Bắc còn liên lạc được bằng thư từ.

 

Cha tôi, một chiến binh trong lực lượng Dù thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp. Những ngày cuối cuộc chiến năm 1954, đơn vị ông được máy bay thả xuống tiếp sức cho căn cứ Điện Biên Phủ đang bị vây hãm để không lâu sau đó, căn cứ nầy lọt vào tay bộ đội Việt Minh. May mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh rồi ông được trả tự do và theo đơn vị quay về Hà Nội. Những ngày cuối của Hiệp Định Geneva, ông đã cho người về quê Sơn Tây đón mẹ con tôi lên để cùng ông vào miền Nam nhưng chuyện không thành, ông phải theo đơn vị vô Sai Gòn trước. Thực ra chuyến đi ra Hà Nội khi đó, đoàn người làng có hai mẹ con tôi đã bị cán bộ Việt Minh lừa đưa vào tạm trú trong khu rừng vắng. Khi đoàn người được phép ra khỏi rừng thì thời hạn di cư đã qua, gia đình bị chia cắt từ đó lúc tôi mới được gần một tuổi.

Hai mẹ con quay trở về Hà Nội sống trong gian nhà của ông ngoại tôi. Là dân thành thị, mẹ tôi biết cắt may quần áo rất khéo và nhờ cái khéo tay này mà bà đã nuôi tôi ăn học. Tôi được nghe kể là các cán bộ đã tìm bà để đặt may quần áo cho họ rồi khi các Hợp Tác Xã May Mặc giải thể, bà đã tìm mua sở hữu thực thụ được một máy may cũ và nhờ vậy mà cuộc sống đỡ vất vả so với nhiều người khác. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với thành phố Hà Nội từ những làn sương mờ buổi ban mai trên mặt Hồ Tây, mùi không khí đường phố quyện với lá cây sau các cơn mưa rào. Những buổi trưa mùa Hè, trốn mẹ đi chơi, tôi cùng chúng bạn đi lang thang vào vườn bách thú, quanh bờ hồ hoặc trèo lên những cây bên vệ đường để tìm bắt các chim non trong tổ. Có khi rình ném đá vào nhà hàng xóm buổi nghỉ trưa để rồi cả bọn ù té chạy khi chủ gia mở cửa ra nhìn. Khi tuổi lớn hơn, tôi mới nhận ra những khác biệt giữa mình và các bạn đồng trang lứa mỗi lần nghe chuyện chiến tranh về miền Nam. Có những buổi sinh hoạt chung mà người phụ trách không cho tôi tham dự. Lúc đó, tôi cũng không hiểu tại sao? Có khi về hỏi mẹ thì bà chỉ nói:        “Thôi con, họ không cho thì về nhà với mẹ”. Rồi những năm chiến tranh lan ra miền Bắc. Máy bay Mỹ ném bom nhiều nơi và ngay ở cả Hà Nội nữa. Những đợt bom chùm tuốt từ trên mây rải xuống đã phá huỷ nhiều khu phố lớn. Cảnh người chết mất xác trong các đống gạch vụn cùng lửa khói cháy nghi ngút khiến ai cũng sợ. Đành phải kéo nhau đi sơ tán về các miền quê cho an toàn. Hai mẹ con tôi về quê nội trong một làng ở tỉnh Sơn Tây cũ. Đây là vùng bán sơn địa có ruộng có vườn cùng các núi đồi rất đẹp. Trong làng có nhiều đứa thiếu niên trạc tuổi tôi và tôi rất muốn làm bạn cùng chơi với chúng nhưng họ không thích tôi ra mặt. Trẻ em đã vậy mà người lớn cũng nói xấu, dèm sau lưng mẹ tôi mỗi khi họ gặp mặt nhau trên đường hoặc trong phiên chợ. Tôi đành kết bạn với mẹ thôi, không ai khác.

 

Đến tuổi trưởng thành, thấy nhiều thanh niên xung phong vào bộ đội, tôi cũng giơ tay xung phong nhưng bị cán bộ trong Ban Tuyển Quân từ chối. Tuổi thanh niên, hình ảnh người lính với cây súng cuốn hút tôi lắm nhưng họ không nhận thì đành chịu. Về kể lại cho mẹ tôi biết, bà chép miệng nói làm sao họ cho con vào bộ đội được rồi trách khẽ: “Có mỗi một mình mẹ mà con định bỏ đi sao!”. Tôi rất chật vật khi xin một việc làm. Đơn gửi tận tay nhiều nơi mà không hề có chút hồi báo làm tôi buồn. Không lẽ thân đã lớn lại cứ để mẹ phải nuôi mình mãi nhưng đi xin việc không ra. Tôi có lúc nhủ thầm chắc số mình đến phải làm ruộng nhưng ruộng, nhà cũng không có. May mắn làm sao, mẹ tôi tình cờ gặp lại một người bạn học cũ với bà năm xưa khi còn trẻ. Người này nay là một cán bộ cao cấp và nhờ sự giúp đỡ của ông ta, tôi đã vào làm việc trong nhà máy Hoá Chất Việt Trì. Rồi cũng nhờ ông ta giúp mà tôi mới được công đoàn nhà máy phân cho một phòng nhỏ trong khu tập thể. Tôi đưa mẹ lên đó cùng sống chung.

Hai tháng sau cái ngày chiến thắng, mẹ tôi về lại Hà Nội để dò hỏi tung tích cha tôi. Trong họ hàng bên nội, có người vào miền Nam công tác và qua đó đã tìm được các thân nhân theo các địa chỉ cũ năm xưa. Khi quay trở lại miền Bắc, người bà con này gặp bà và cho biết các tin tức về cha tôi. Theo đó, ông là một sĩ quan quân đội cao cấp của chính quyền miền Nam và đã phải bị học tập cải tạo. Thêm một tin nữa, ông đã lập gia đình khác và có được hai người con gái. Quay về nhà mẹ tôi cho biết tin và khi kể chuyện, không hiểu vì nghĩ đến việc học tập cải tạo rồi liên tưởng những cảnh tù tội của cha tôi năm xưa lúc bị bắt làm tù binh hay vì cám cảnh thân phận mà mẹ tôi khóc rất nhiều.

 

Tôi dỗ mẹ đừng khóc nhưng rồi tôi cũng khóc theo mẹ.

Mẹ tôi rất muốn đi vào miền Nam ngay để biết thêm các tin tức về thầy tôi nhưng khi đó giao thông hai miền còn khó khăn lắm, vẫn còn hạn chế chỉ ưu tiên cho những cán bộ đi công tác. Đường xuyên Việt nhiều nơi phải sửa chữa và đường sắt nhiều vùng đã mất hẳn từ lâu. Chiến tranh bao năm trời đâu phải một sớm một chiều thông đường ngay được. Cơn háo hức vào miền Nam để tìm gặp cha tôi cùng gia đình riêng của ông cũng dần nguôi ngoai trong lòng mẹ tôi. Tôi vẫn tiếp tục đi làm, cũng không hề nghĩ là có ngày mình đặt chân vào miền Nam và thành phố Sài gòn. Nhà máy Hoá Chất Việt Trì tổ chức một cuộc họp lớn có sự tham dự của cán bộ Tổng Cục Hóa Chất từ trung ương về chủ trì. Theo đó, nhà nước cần khá đông cán bộ và công nhân viên trong ngành xung phong vào tiếp quản các nhà máy hóa chất trong miền Nam. Tin về một xã hội miền Nam đói nghèo, lạc hậu do chính miệng những bộ đội miền Bắc từ chiến trường miền Nam trở về kể lại trong các tháng trước đã làm con số người xung phong chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng sợ khổ, sợ phải xa gia đình để đến công tác trong vùng đất đói nghèo đến nỗi cả bát ăn cơm cũng không có. Kết quả, công đoàn nhà máy phải họp và xét hoàn cảnh từng người một để chỉ định bắt buộc. Tên tôi đã được họ chọn, đành phải chuẩn bị hành lý để theo đoàn vào Nam dù tôi không muốn.

Đường sắt vẫn chưa sửa xong, chúng tôi 18 người ngồi nằm chung với hành lý trong chiếc xe tải Molotova cũ kỹ của đoàn xe vào miền Nam. Trên xe tuy mệt nhưng có cái thú ngồi ngắm cảnh hai bên dọc đường. Chúng tôi qua nhiều vùng, địa danh trước giờ chỉ nghe tên trên báo. Hố bom, cầu sập, đường bị bóc từng tảng nhựa, các khu dân cư, chợ… xuất hiện đây đó dọc theo các đoạn đường xe qua. Ở các vùng xa thủ đô, người dân lam lũ, nghèo khổ, thiếu thốn lộ rõ trên ánh mắt, quần áo và khung cảnh sống. Miền Bắc quê hương xã hội chủ nghĩa còn như vậy thì miền Nam chắc chắn phải nghèo, thiếu thốn ghê gớm. Tất cả cũng do chiến tranh, do đế quốc Mỹ reo rắc mà ra…, người đi chung trên xe kết luận.

 

Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hoà. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này và tuy không ai nói với ai nhưng đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam. Rồi chúng tôi được phân công vào công tác trong một nhà máy có cái tên VICACO. Một nhà máy sản xuất chất Sút (NaOH) từ muối biển và cả Acid Chlohidric (HCL) nữa. Một nhà máy bề ngòai trông rất nhỏ mà không ngờ bên trong lại lắp đặt các máy móc tối tân, sản xuất được các hóa chất với sản lượng, hàm lượng rất cao gấp nhiều lần so với công nghệ tại miền Bắc. Chúng tôi ngạc nhiên và ngầm thán phục trong bụng. Nhìn những công nhân miền Nam đang làm việc tại đây rồi sau đó làm việc chung với họ, tôi mới thấy người dân miền Nam khác xa người dân miền Bắc. Kiến thức chuyên môn và xã hội của họ hơn hẳn chúng tôi. Kỹ sư hơn hẳn kỹ sư ở miền Bắc và công nhân cũng vậy. Một sự rụt rè, cẩn thận tự nhiên nẩy sinh trong đoàn tiếp quản chúng tôi. Ai cũng sợ người trong nhà máy tại miền Nam này biết trình độ thực sự của cả đám chúng tôi. Sợ họ cười, nỗi lo chính trong lòng vì dầu gì mình cũng thuộc phía chiến thắng. Về nằm nghỉ trong căn phòng mà được biết trước đây là các phòng dành cho công nhân ngủ qua đêm nếu phải ở lại tăng ca, tôi suy nghĩ xã hội miền Nam không hề lạc hậu về công nghệ về con người… như lời nói trước giờ vẫn được nghe. Ngay cả trong buổi họp khi chọn người xung phong vào tiếp quản, cán bộ ngành từ trung ương cũng đã nói như vậy khi động viên cán bộ công nhân viên. Những dãy nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi từ các trang bị như bàn ghế, giường ngủ, quạt trần, phòng vệ sinh, đèn chiếu… Ở đây, trong khu vực khép kín của khu công nghệ còn được như vậy thì trong thành phố Sài gòn chắc chắn phải rất đẹp. Tôi cũng chưa nghĩ sẽ ra sao khi tìm gặp được hai cô em gái tôi.

 

Rồi một ngày tôi theo đoàn vào làm các thủ tục công tác trong một toà nhà Tổng Cục Hoá Chất vừa tiếp quản nay trở thành trụ sở của Công Ty Hóa Chất Cơ Bản miền Nam nằm gần chợ Bến Thành. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thang máy khi lên một phòng tuốt trên tầng thượng. Sau khi làm xong các giấy tờ và thụ tục, chúng tôi được thoải mái đi thăm phố xá. Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài gòn tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam. Giờ đây đi bộ trên các con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền Bắc quá sức lạc hậu, nghèo nàn… từ bộ cánh (quần áo) trên người. Tôi rõ ràng xa lạ với các tiện nghi đang được người dân trong thành phố này sử dụng. Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang trọng đầy ắp hàng hoá thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi được thấy. Có tiền cứ việc vào mua thoải mái khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số hàng ít ỏi như cảnh thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc. Phố xá thì thôi, những tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường. Khung cảnh y như ở nước ngoài, một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe. Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam nói chính xác là cô gái Sài gòn đang dạo bước trên đường. Họ đẹp quá sức, như tiên… từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ lộ rõ vẻ sung túc đài các so với những nữ cán bộ trẻ trong đoàn chúng tôi. Tôi mỉm cười, nghĩ thầm hai cô em gái tôi trong này cũng vậy. Tôi âm thầm tách ra khỏi đoàn để tự mình đi theo ý muốn. Tôi đi rảo qua nhiều con phố Sài Gòn rồi thấy mỏi chân, tôi lấy can đảm bước vào một hàng nước thật đẹp gần một giao lộ lớn, có tên là Cafe Minirex. Chọn một bàn sát khung cửa kính trong suốt có thể nhìn rõ người đi bên ngoài, tôi quan sát chung quanh. Bàn ghế, các bình hoa, quầy thu ngân, khách cùng vách tường trang trí cảnh một rừng cây thật đẹp… thật không khác một tiệm ở nước ngoài trong phim ảnh. Chợt một người hầu bàn bước đến, gật đầu chào tôi rồi hỏi:

– Thưa ông, ông dùng chi?

Trời ơi! Người hầu bàn này quá lịch sự khi tiếp xúc với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của mậu dịch viên trong các tiệm ăn ngoài miền Bắc. Tôi lại nghĩ, hay ông ta biết tôi là cán bộ chế độ mới qua quần áo mặc trên người nên xưng hô như vậy? Tôi gọi nước uống và ngầm để ý xem sao. Nhưng không, bất cứ có khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một cách tiếp đón như vậy. Rất tự nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch.

 

Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra cả miền Nam không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội… mô tả về con người và xã hội của chế độ Ngụy quyền tay sai đế quốc Mỹ. Đây là mô hình của một xã hội văn minh và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc.

 

Tiếc thay! Một xã hội như vậy lại vừa bị cướp mất đi.
Phạm Thắng Vũ

Phạm Thắng Vũ
Theo: Diễn Đàn Net




Tô Hải : MỘT LINH HỒN CHẾT

 

MỘT “LINH HỒN CHẾT” XIN LÊN TIẾNG !”

Vâng! Tôi, một “linh hồn chết” đã bỏ cái thân xác của “Hắn” ra đi từ những ngày “Cách mạng long trời lở đất”, mặc xác “Hắn” sống trong lo âu, sợ hãi.Mặc xác  “Hắn” lo cho vợ con “Hắn” không có bát cơm ăn, ” Hắn” sợ vì tính mạng “Hắn” chẳng biết lúc nào sẽ vào tù, đi cải tạo hoặc bị sát hại. ” Hắn” sống trong khắc khoải ,lo âu, sống giả vờ để làm tròn trách nhiệm của một đảng viên, của một cán bộ, của một cây kèn chuyên cất lên những giai điệu hào hùng,, thúc giục mọi người tiến lên đánh thắng mọi kẻ thù giai cấp một cách bất đắc dĩ.! Tôi ghét “Hắn”! nên.. kệ thây “Hắn” …Nhưng dù sao vì “tình nghĩa thể xác- linh hồn” thỉnh thoảng tôi cũng trở về nhập vào “Hắn” để xem “Hắn” suy nghĩ gì. Thì ra, “Hắn” vẫn còn dấu vết của linh hồn là tôi. Đặc biệt sau gần 40 năm tôi bỏ “Hắn” ra đi, “Hắn” đã có những hành động và việc làm đáng cho tôi phải nhập hồn giúp “Hắn” khỏi những “cơn đau thế kỉ”….

Kể từ khi “Hắn” đã xa rời mọi trách nhiệm, mọi toan tính cuộc đời để về ở ẩn tại một nơi xa vắng thì đầu óc của hắn  đã làm tôi muốn nhập hẳn về lại xác thịt Hắn. Và tôi đã làm đúng cái cương vị của một linh hồn, tuy chết rồi nhưng nay sống lại để nâng hắn đứng dậy, truyền thêm sức mạnh cho cái thể xác đã tàn úa, hom hem, tồn tại đúng như một cái xác không hồn suốt hơn 40 năm qua….

Mấy hôm nay, “Hắn” cặm cụi xem ti vi, đọc báo, lên mạng rồi băn khoăn chẳng biết nói gì trước những ý kiến của những lão thành cách mạng hơn “Hắn” cả về thành tích vào tù ra tội, xung phong nơi chiến địa ngoài Bắc, trong Nam, bên Lào, bên Căm,quyết tâm chống trả máu xương vì bài học của Đặng Tiểu Bình nơi biên cương Tổ Quốc…….”Hắn” đọc những trang lí luận dài dòng,Hắn” phân tích những tài liệu của các ông mà “Hắn” phục lăn như Đặng Quốc Bảo, Trần Độ… “Hắn”  gõ keyboard để xem lại các tài liệu từ Đông sang Tây, từ cổ chí Kim để ấp ủ một văn kiện gì đó mà “Hắn” sẽ công bố thật hoành tráng chăng? Tôi thấy thương “Hắn” quá, chỉ còn 5 ngày nữa là “Hắn” chính thức bước sang tuổi 84. Vậy mà “Hắn” vẫn ăn không ngon, ngủ không yên với những công việc mà chẳng ai cần hắn dính tới. Do đó, tôi- linh hồn chết của “Hắn” sống lại xin thay mặt “Hắn” làm cái việc mà tôi nắm được (vì tôi là linh hồn của “Hắn” mà) cái việc mà hắn vẫn luôn ngập ngừng khi phải gọi đúng chữ đúng nghĩa khi cần góp ý phản biện hoặc xây dựng một vấn đề gì liên quan tới vận mệnh của đất nước.

Vậy thì, tôi, là linh hồn của Hắn  ,cao hơn thể xác Hắn một cái đầu , nhân dịp này thay mặt Hắn phát biểu một ý kiến duy nhất mà nếu :hơn 3.000.0000 đảng viên đảng công sản VN kể cảcác vị lãnh đạo ,chịu lắng nghe và chịu thực hiện thì mọi vấn đề băn khoăn  của “Hắn” và hàng ngàn sĩ phu đất Việt khỏi tốn công lí luận dài dòng ! Đó là:

GIẢI TÁN NGAY CÁI ĐẢNG CỘNG SẢN ĐI

-Thực tế cái chủ nghĩa cộng sản do 2 ông Mác , Lê  nguỵ tạo ra một cách điên khùng đã làm đảo lộn thế giới loài người gần 1 thế kỉ qua ,làm chết cả trăm triệu con người nhân danh đấu tranh giai cấp…. Chẳng lẽ các ông không biết ?

-,Thực tế cái chủ nghĩa cộng sản bị toàn thế giới loài người lên án. Sang Tây, sang Mĩ, ở đâu cũng thấy những  đài tưởng niệm ,những nạn nhân và lên án những kẻ giết người .Gần đây nhất là sự thú nhận tội lỗi của ông cha mình gây ra vụ thảm sát hơn 20. 000 sĩ quan Ba Lan tại rừng Katyn bởi chính tổng thống Medvedev nước Nga đến dự lễ tưởng niệm phải liều mạng vượt dưới làn bụi tro khiến mọi vận chuyển hàng không phải đình chỉ…Chẳng lẽ các ông cũng không biết ?

– Thực tế là chủ nghĩa cộng sản đã xụp đổ ở những nước “thành trì cách mạng vô sản” và những  tượng đài cuối cùng  của 2 anh Mác ,Lê đã bị đập tan và vất vô bãi  rác ngay đúng giữa ngày ông Nguyễn Minh Triết có mặt tại Nga kỉ niệm ngày chiến thắng Phát Xít Đức Chẳng lẽ các ông  cũng không không biết ?

-Thực tế là ngay cái “chủ nghĩa xã hội” phát minh “ảo” của chủ nghĩa cộng sản làm người đời lầm tưởng với chủ nghĩa xã hội dân chủ hay chủ nghĩa quốc gia dân chủ (quốc xã của Hitler),nên  trên thế giới ngày nay,ngay đất nước anh “Kim điên” hay anh “Phi đen xồm”, anh Săm-béc Hun-sen, anh Cù Mông chi chít gì đó bên nước Lào,đặc biệt bên nước đàn anh “láng giềng 4 tốt”, cũng chẳng ai dám lấy nó để đặt tên nước .Vậy mà giữa lúc bị tứ bề bao vây,cấm vận,giữa lúc toàn dân ăn bo bo, cái tên Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được chiềng làng một cách liều lĩnh,vô duyên! Ai quyết định? Vì sao phải thay đổi tên Đảng ,tên Nước ? Chẳng lẽ các ông không biết nốt ?

–  Thực tế là trên các văn kiện Đảng của nước bạn “16 chữ vàng”, họ đã chối bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin thậm chí gần đây lên án nó, loại bỏ hình ảnh 2 ông Tây điên này cùng chủ tịch Mao của họ ra khỏi hội trường các đại hội Đảng gọi là cộng sản Trung Hoa của họ  Chẳng lẽ các ông cũng không  biết ?

–  Hồ Cẩm Đào nói những gì về việc “thay đổi cơ chế chính trị sớm nếu không muốn thành quả về kinh tế sẽ bị xụp đổ “trong chuyến viếng thăm Thâm Quyến vừa qua,… Tướng Lưu Á Châu , con rể Lý Tiên Niệm ,trong một tài liệu cực dài hi hữu được phổ biến công khai bên Tầu ,phủ nhận tất cả những thành quả thậm chí đạo đức tư cách của người Trung Hoa cộng sản và khẳng định con đường duy nhất tốt đẹp là đi…. theo con đường của Mỹ!. 16.000 ý kiến phản đối chế độ chính trị phản dân chủ ,sau khi có đường liên hệ bằng web thẳng từ 20 triệu công dân mạng tới Hồ Cẩm Đào Chẳng lẽ các ông không biết ?

– Anh em nhà Castro vừa giờ nói gì, làm gì ở bên kia bán cầu giữa lúc ông Nguyễn Phú Trọng đang có mặt tại Cuba chứng kiến việc mời gần 1.000.000 công chức nhà nước nghỉ việc ,ra khỏi biên chế ăn lương nhà nước mà buôn bán, kiếm sống bằng ….kinh tế thị trường đến nỗi cuộc gặp của ông Trọng và Fidel chẳng được chụp ảnh,quay phim ,và báo chí lề phải thì…im thin thít… Chẳng lẽ ông Trọng và tất cả các ông cũng không biết ?

Còn ở trong nước:

+ Cộng sản gì mà lại có hàng tỉ đô la, có hàng vạn công nhân ,có máy bay riêng, có du thuyền riêng, có thể tung ra hàng tỉ đồng để mua vui khen thưởng trong một kì thi hoa hậu, một trận bóng đá! Đây là chủ nghĩa cộng sản kiểu gi? Chẳng lẽ các ông không biết?

+ Chủ nghĩa cộng sản gì mà ruộng đất của nông dân trở thành của các tập đoàn tư nhân nước ngoài , nhà cửa đất đai của cá nhân kể cả các cựu chiến binh, của các bà mẹ anh hùng đều bị dỡ bỏ để cho họ hàng anh em các vị lãnh đạo thực hiện “dự án”, xây nơi ăn chơi nghỉ dưỡng , sân golf…Uất ức đi khiếu kiện hăng quá có khi vào tù ! Chẳng lẽ các ông cũng không biết ?

+ Giai cấp “công nhân tiền phong”  của quý vị được trả mỗi tháng mấy đồng lương và đồng lương đó có thể nào giúp họ kiếm được một miếng thịt ăn mỗi tuần, may được cái áo mỗi tháng, nuôi được đứa con mấy năm Chẳng lẽ các ông không biết ?

+ , Một ông giáo sư,một bác sỹ mới ra trường quý vị trả cho họ bao nhiêu đồng để đến nỗi họ phải làm thêm, mở phòng mạch thêm, dạy thêm … và cả ăn cắp thuốc, khai man bệnh nhân . Tại sao? Chẳng lẽ các ông không biết ?

+  Những cán bộ có quyền cao chức trọng, đặc biệt quyền kí cho ngân sách chi tiêu bạt mạng, cho vợ  con, anh em họ hàng nắm những “quả đấm thép kinh tế nhà nước”như Vinashin ,như các Ngân Hàng,các thị trường chứng khoán,các Tập Đoàn Dầu Khí,Than,Khoáng Sản, điện Lực …Họ là những ai! Làm và phá như thế nào? Chẳng lẽ các ông không biết ?

+ Những vụ quan tham làm vua ở mọi “sứ quân”, thậm chí chủ tịch xã com lê cà vạt đi thăm đồng nay cũng cưỡi cả xe Lexus, cũng chơi gái tập thể, cũng vẫn thao thao giảng dạy đạo đức tư cách Hồ Chí Minh. Hàng ngàn tiến sĩ giáo sư chẳng một ngày đi học ,đi dạy, chẳng bao giờ có đề án nghiên cứu hay công trình khoa học nhưng vấn được cấp văn bằng thật, được giới thiệu om sòm trên báo trên đài với những cái tên lạ hoắc, mặt mũi ngớ ngẩn, ăn nói lắp bắp, “L” thành “N”. Ở đâu ra? Chẳng lẽ các ông không biết?

+ Văn học nghệ thuật lai căng, đồi truỵ, phụ thuộc nước ngoài thậm chí “bán nước về văn hoá” như phim “Lí Công Uẩn…. đường về Bắc Kinh”. Giới khoa học ,lịch sử ,văn nghệ sĩ đang vạch trần cái mưu đồ Hán Hoá văn hoá Việt này thì ở bên nước “bạn” người ta cũng cho công bố những văn bản “Chiếu dời đô” bằng chữ  Hán và tuyên bố ngay trên báo chí là “Lý Công Uẩn chính là người Tàu” cho nên vở “kịch phim sân khấu” nói trên là một sự hợp tác ngay từ đầu để khẳng định một lần nữa là “người Việt Nam là dân Bách Việt của người Tàu,(!?) đất, biển Việt Nam chính là đất biển của người Tàu, nền văn hoá Việt Nam chính là văn hoá của người Tàu” Chẳng lẽ các ông không biết?

Chỉ kể qua mấy thực tế trong vài ba nước còn sót lại do chủ nghĩa cộng sản đẻ ra đang “chuyển hoá” về ý thức hệ cũng như về kinh tế xã hội.

Chỉ nói đến thực tế của xã hội Việt Nam, từ khi ông Đỗ Mười chúc mừng”toàn dân làm giàu” bắt chước  lời tuyên ngôn bất hủ của một Đảng viên cộng sản Trung Quốc (bốn lần bị khai trừ Đảng) nhưng khi nắm được chính quyền rồi  thì mới mạnh miệng : “Mèo trắng hay mèo đen đều tốt, miễn là bắt được chuột” rồi sang Mỹ đội mũ cao bồi, cưỡi ngựa sánh vai cùng tổng thống Hoa Kỳ thì mọi lý thuyết của cái chủ nghĩa cộng sản phản khoa học đã bị chính những người cộng sản chính thức gạt bỏ.

Cho nên, là một “linh hồn chết” nhưng tôi đã sống lại và “nhập” vào thân xác”Hắn” để nói lên hộ hắn những điều này:

– Chủ nghĩa cộng sản với cái Đảng của nó chưa hề và không thể có ở xã hội Việt Nam

–  Nó chỉ ra mặt chính danh bởi những vị lãnh tụ kiêu binh sau khi người Mĩ rút lui và  Việt Nam cộng hoà xụp đổ tưởng chừng “một nước nhỏ mà đánh thắng hai Đế Quốc to” thì làm gì cũng được, cái tên nước CHXHCN Việt Nam và đảng cộng sản Việt Nam mới vênh vang thay thế VNDCCH và Đảng lao động.

– Với sự thay đổi bốc nhằng này, các vị lãnh đạo cao nhất ,nhưng quá trẻ để  chẳng dám làm điều gì ngược ý tiền nhân đành cứ “anh đã phóng lao thì em phải theo lao”. Đành bày ra những Viện nọ Ban kia , cố gắng xây nên một nền lí luận tả pí lù vẫn theo chủ nghĩa cộng sản nhưng đổi mới bằng mảng kinh tế thị trường nghĩa là vẫn có tư bản bóc lột.. Vẫn đề cao ông Mác ông Lê nhưng vẫn bắt tay hợp tác những người đã vứt ông Lê ông Mác vào sọt rác.

Quý vị đều biết những gì mà chúng tôi biết ,và chúng tôi cũng biết quý vị biết chúng tôi biết những cái gì ! Chứ chẳng ai không biết những gì mà quí vị cũng như triệu triệu người khác biết mà không tiện nói ra đâu. Vậy mà quý vị cứ lúng ta lúng túng mãi trong những rừng rậm rịt chữ nghĩa của hết văn kiện này đến văn kiện khác mà nội dung cốt làm người đọc bị gỡ không ra trong cái mớ bòng bong chữ nghĩa để rồi chẳng hiểu nó nói cái gì vì toàn những con số , những phần trăm, những phương hướng , những dự án,những kế hoạch ,những tầm nhìn do những tiến sĩ không phải văn chương mà là tiến sĩ chính trị Mác Lê nin ảo soạn thảo cốt để làm nản lòng người đọc càng nhiều càng tốt.

Có một cái điều mà nhân dân mong đợi kể cả đảng viên mong đợi nhất đó là tuyên bố( hoặc không tuyên bố cũng được) : xoá bỏ chủ nghĩa mác Lê Nin, bỏ tên Đảng cộng sản mà ai cũng muốn cũng biết thì lần này lại… Không !Không !và Không!.

Cái gì đã làm cho quý vị không dám nói , không dám hành động như một Gorbachev,một Eltsine? Phải chăng là do quyền lợi, ngôi vị? Phải chăng vì chẳng ai tin ai  sợ…. Tổng cục 2  ,hay sợ một thế lực nào?

Riêng tôi ,thì tôi nghĩ, khi có một nhóm lãnh đạo cao nhất can đảm đứng lên như Khrút xốp vạch trần trội ác của Stalin tại đại hội Đảng cộng sản Liên Xô lần thứ 20 thì những người đó sẽ được toàn thể đảng viên cũng như nhân dân tung hô nhiệt liệt vì chính từ những ngòi nổ đó sẽ tạo thành cả chuỗi nổ tiếp theo, giải quyết mọi vấn đề mà các nước Nga,Đức, Tiệp, Hung đã “diễn biến hoà  bình” ,đã tự hoàn chỉnh để đi lên độc lập thật sự, hạnh phúc thật sự và giàu mạnh thật sự.

Vạn chuyện trên đời sẽ tiến lên hay thụt lùi cũng nhờ vào sự “mở miệng” của các ông Đảng viên cộng sản đó!. Có đi trước thì làng nước mới theo sau. Và lần này điều kiện để theo sau đang có đầy đủ không đến nỗi bị đơn độc, bị trừng trị, trấn áp như thời các ông Đặng Quốc Bảo, Trần Xuân Bách, Trần Độ, Quế Dương, Vũ Cao Quận, Hoàng Minh Chính… nữa  đâu. Mấy lời gọn gàng khó nghe nhưng dễ hiểu, nhân danh linh hồn chết của “Hắn”gửi tới các vị .

Xin vái các ông mớ bái, mong các ông ghi vào văn kiện: Giã từ chủ nghĩa Mác Lê Nin, vĩnh biệt chủ nghĩa cộng sản cho toàn dân nhờ!

Sài Gòn 16-9-2010

Tô Hải




Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán : Huế, Mậu Thân và Tôi

 

Huế, Mậu Thân và Tôi

Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

Từ Cai Lậy về thủ đô, nhập ngay vào đánh giải tỏa trại Cổ Loa của Thiết Giáp và Xóm Mới Gia Ðịnh xong xuôi, Quái Ðiểu Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến về nằm dọc theo đường Ngô Tùng Châu. Mười hai giờ họp Tiểu Ðoàn, hai giờ sáng có mặt tại Tân Sơn Nhất, bốn giờ sáng lên máy bay đi, đi đâu không biết. Lương khô và tái trang bị không lãnh kịp. Cứ lên phi cơ rồi hay. Ðó đây những loạt pháo kích, những loạt đại liên rời rạc, những đốm hỏa châu lủng lẳng trên bầu trời. Tôi để lại Sàigòn mang nặng bộ mặt chiến tranh. Những chiếc phi cơ C.130 khổng lồ nuốt trọn tám trăm Quái Ðiểu và đưa chúng tôi lên cao trong đêm tối mịt mùng.

– Ði đâu vậy?

– Nha Trang, tao nghe Nha Trang đang có đánh nặng.

Lượm Ðại đội trưởng Ðại đội 2, dân Ðà Lạt, cãi:

– Ðà Lạt.

Phán Phu Nhân nói:

– Ði đâu cũng được, đổi vùng là khoái rồi.

(Khi vào Quân trường, Phán trình diện: Tui chánh quán làng Phú Nhơn, ở gần Hồ Tịnh Tâm, quận Thành Nội, Huế. Thế là sau đấy, giữa lửa đạn và thịt đổ xương rơi, và qua tiếng thét trong máy truyền tin, cái tên ngụy trang “Phu Nhân” ra đời, nghe thật lạ tai).

– Máy bay chi bay mãi ri bây?

Thời tiết thật xấu, và rồi bánh xe phi cơ cũng chạm đất, những cặp mắt đổ dồn ra khung cửa sổ phi cơ. Phú Bài ! Cơn gió cắt da, bãi cát trắng trải dài, mưa nặng hột. Thiếu áo lạnh, tất cả đều quấn Poncho đứng ngoài nhìn đoàn người gánh gồng xuôi ngược, hấp tấp và lo sợ, một số về Truồi, một số lên Gia Lê, An Cựu.

Phú Bài đó, Tịnh Tâm đó, Cầu Kho đó, Mạ, dì, chị và em mình đó mà không liên lạc được. Tình hình không biết làm sao, ruột như lửa đốt. Trách nhiệm nặng nề, tôi nằm trằn trọc suy nghĩ thật nhiều để chờ sáng mai. Kỷ niệm thời đi học kéo về trong trí tôi, đẹp quá, nhẹ nhàng quá, vụng dại quá.

Mười giờ sáng đoàn quân xa GMC đưa chúng tôi về Huế. Qua Gia Lê, đồng bào hổn loạn, nét lo âu hiện rõ trên mặt. Tới An Cựu, dân chúng thưa thớt, nhà hai bên đường đóng kín cửa. Dọc quốc lộ 1 từ Huế về Phú Bài,binh sĩ Nhảy Dù từng toàn dìu nhau âm thầm đếm bước. Những cái nhìn như nhắn gửi, như lo sợ giùm cho chúng tôi. Mạnh, Ðại úy Nhảy Dù, cùng khóa cho tôi biết:

– Huế tang thương và điêu tàn lắm Phán ơi. Thừa (cùng khóa) chết, Phạm Như Ðà Lạt bị thương…..

Mạnh khắp người băng bó đang được hai đệ tử dìu đi bộ về phi trường Phú Bài. Mạnh tiếp:

– Phán, mày cẩn thận. Không yểm trợ, không thực phẩm, không tiếp liệu, thời tiết quá xấu. Tụi nó chiếm hết Thành phố, Ðại Nội, Gia Hội. Tụi nó chốt rất kỹ, chỉ còn lõm nhỏ ở Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 tại Mang Cá.

Sau nầy được nghe nói: Vì nghe tin Tướng Trưởng kẹt nặng nên Ðại Bàng Lê Quang Lưỡng Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn Nhảy Dù đã xua quân đi bộ từ cây số 17 về Huế để cứu Tướng Trưởng. Tôi xin Tướng Lưỡng cho tôi được nghiêm mình chào một cách đầy kính phục cho cái tình nghĩa huynh đệ không bút mực nào tả nổi. Ðể đáp trọn tình nghĩa, Lữ Ðoàn của Ðại Bàng Lưỡng cũng hao hụt nặng nề.

Ðoàn xe dừng lại bên hông Ðại học Văn Khoa, cách con đường là trường Kiểu mẫu mới xây, đối diện là Ðài Phát Thanh Huế. Và trước mặt là cầu Trường Tiền, chiếc cầu tượng trưng cho xứ Huế, chiếc cầu đã hàng ngàn, hàng vạn lần qua lại, đầy ấp kỹ niệm.

Nhìn qua chợ Ðông Ba và phố Trần Hưng Ðạo mà lòng quặn thắt. Một mái chợ đã sập. Những cột khói ngút trời cách khoảng. Từ đầu đường đến cuối đường Trần Hưng Ðạo không một bóng người. Nhìn bên phải là cầu Gia Hội vắng tanh. Những cột khói khác vươn lên…. Cả thành phố đã chết, Huế tôi tang thương đến thế sao ! Một nhịp cầu đã sập, tôi nghĩ vành khăn tang đã cuốn lấy Huế.

Xuống tàu tại chân cầu Trường tiền, xuôi giòng Hương xanh biếc ngang Gia Hội, quẹo trái sang Hàng Bè. Cầu Ðông Ba đó, có tiệm La Ngu chúng tôi thường mua dụng cụ học trò. Tiếp tục xuống tiệm gạo Mụ Ðội, có người con gái đẹp não nùng tên Xuân mà con trai Huế lứa tuổi tôi đều hơn một lần đi quá đó để nhìn người con gái trời cho đẹp. Qua trường Bình Minh, nơi tôi học năm đệ tam, nhiều kỷ niệm đẹp. Ðến Bao Vinh, dân chúng nhốn nháo khi thấy một đơn vị lớn đang đổ bộ tại bến đò.

Tôi hướng dẫn đơn vi vào Mang Cá nhỏ để tới bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Ðịch chào đón bằng hàng loạt hỏa tiển 107 và 122 ly. Tất cả nằm sát bờ tường để tránh pháo và tìm chỗ phòng thủ. Tôi cho lệnh Sự, Trung úy Ðại đội phó kiểm soát con cái và chuẩn bị cơm chiều. Trung úy Sự là sĩ quan trẻ, có tài và đầy nhiệt huyết, xuất thân khóa 19 Vỏ Bị Ðà Lạt, thủ môn hội tuyển túc cầu Nha Trang, đúng là đa năng, đa hiệu. Tôi dự buổi họp Tiểu Ðoàn khẩn cấp và quan trọng. Tiểu Ðoàn trưởng ra lệnh:

“Phu Nhân hiểu rành địa thế dẫn đầu, Tám giờ sáng xuất phát. Kế tiếp là Tôn, Ðại đội 1, Lượm Ðại đội 2. Tiếp theo BCH Tiểu Ðoàn cùng Ðại đội Chỉ huy, sau cùng là Tổng đài 4. Mục tiêu Phu Nhân phải chiếm là Trường tiểu học Trần Cao Vân. Trước Trường có đơn vị Quân Cụ, Vào khoảng một Ðại đội bạn đóng ở đó không biết còn hay mất”.

Phán hỏi:

“Còn Phi trường Thành Nội thì sao? Tình hình trong Ðại Nội, Thiếu tá có nắm vững không?”.

“Không rõ, tụi nó chiếm hết, chốt rất kỹ. Tất cả các cửa Thành Nội tụi nó đều kiền và chốt rất chặt. Cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa Sập, cửa An Hòa, cửa Ðông Ba, Kỳ Ðài Phú Vân Lâu…..tụi nó đều chiếm hết”.

Trong óc tôi, một bản đồ chi tiết hiện ra rất rõ cho một cuộc hành quân mà tình hình tôi nắm không được vững. Tôi cố tìm một con đường ngắn và an toàn cho đơn vị để tới mục tiêu. Có rất nhiều đường đưa tới Trường Trần Cao Vân, nơi từ 9 đến 19 tuổi tôi đã bao nhiêu lần đi lại. Con đường nào cũng đầy hoa và mộng. Nay tôi đang tìm một con đường không có nhiều máu để cho anh em chúng tôi đi.

Tám giờ sáng , tất cả đã gọn gàng, sẵn sàng di chuyển. Ba trăm thước từ Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài. Bồn chồn, nóng ruột vì nơi đó Mạ tôi, dì tôi, chị tôi và em trai út của tôi đang trông ngóng. Không biết có bị gì không? Thiếu úy Duật, Trung đội trưởng Trung đội 2 dẫn đầu. Duật xuất thân khóa 21 Võ bị Ðà Lạt, hăng say, gan, thích sóc đĩa và gái đẹp, uống rượu rất ít, chỉ phá mồi. Phán và Bộ Chỉ Huy kế tiếp. Thiếu úy Nghênh xuất thân từ “Commando du Nord”, nhiều kinh nghiệm, gan lỳ, thích đánh phé nhưng đánh nhỏ, rượu rất ít và không thích gái. Kế đến Thượng sĩ Mã Khên, Trung đội trưởng Trung đội 3, xuất thân Commando trong Nam, rất gan lỳ, ít nói, mê rượu, không mê gái. Sau cùng là Thượng sĩ nhất Hải, Trung đội trưởng Trung đội súng nặng, Hải xuất thân Commando du Nord, người Nùng, lỳ lợm già dặn chiến trường, không rượu, không gái và không thuốc lá.

Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hở thật tội nghiệp cho họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào, nào mụ Ðội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping Pong….Những tiếng nói đó đây:

“Anh Phán đó tề ! Anh Phán! Anh Phán …”

Tiếng gọi lớn dần và lan dài suốt con đường tôi đi. Con hẻm sát Hồ Tịnh Tâm là đường vào nhà tôi. Mạ tôi đó, dì, chị và em tôi đó. Xao xuyến quá ! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, dì và chị tôi khóc như mưa. Thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt:

“Mi chạy vô nhà lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi”.

Mạ tôi dụi vào tay tôi chai dầu Nhị Thiên Ðường:

“Con xức cho khỏi gió”.

Lính đi ngang hỏi nhau:

“Mạ Ðại úy sao đầu trọc lóc vậy bây?”.

“Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy”.

Phán và âm thoại viên vẫn còn dừng lại:

“Nhà có răng không Mạ? Bà con thân có ai bị chi không”.

“Nhà ông Quế chủ quán Chiều bị trúng hai trái nhưng người thì không răng. Nhà mình bị ngói đổ một góc, cây đào bị gãy ngọn. Còn thằng Chỉ không biết đi mô”.

Chỉ là bạn tôi xuất thân khóa 17 Võ Bị Ða Lạt. Tôi xót xa đắng miệng:

“Thôi con đi, Mạ và gia đình đừng lo cho con”.

Mạ tôi khóc òa, tôi thật não lòng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán tiếp tục vang lên cho đến giữa Hồ Tịnh Tâm, tôi cho lệnh quẹo tay mặt theo đường lên nhà ông Như Ðạt. Như vậy bên hông mặt của con cái tôi lúc nào cũng có bức tường Thành và cái hồ che chở. Cuối đường Tịnh Tâm quẹo trái là Trường tiểu học Ðoàn Thị Ðiểm, nhưng tôi không đi con đường nầy. Tiếp tục đi thẳng qua con đường hẻm nhỏ, con đường đã bao lần đi lại, nào ăn cấp me, nào ăn trộm sấu, nào hái soài, nào đào sen, nào học thi, nào thăm người yêu…. Con đường nào cũng nhắc tôi bao kỷ niệm yêu dấu không quên.

Ðến Canh Nông, chưa thấy phản ứng nào của địch, gần sân bay Thành Nội dân chúng thưa thớt và kinh hãi. Tôi cho dừng quân bên này đường, một ông già mách:

“Con đường ni bắn rất rát, từ trong cửa Hòa Bình ở Ðại Nội bắn ra”.

“Con đường sân bay Thành Nội ra sao ông, có ai không?”.

“Ðánh nhau mấy ngày ni dữ lắm, mà tui không biết răng, không biết mình hơn hay thua nữa”.

Tôi chỉ con đường và hướng dẫn Duật:

“Băng qua khỏi con đường nầy, đến một xóm nhà, qua một cái cống thì bên trái là đơn vị Quân Cụ”.

Nghênh và Mã Khện yểm trợ bên mặt cho Duật, và sau đó băng qua đường theo tôi. Con đường có năm thước mà hơn một giờ mới vượt qua với sáu thằng em rơi rụng trên mặt đất. Lần mò theo mép đường tới sát ống cống, tôi cho dừng lại, Phi trường vắng tanh. Tôi bảo Duật:

“Mày cho một thằng con nhỏ qua trước làm đầu cầu bên kia cống, sau đó cho tất cả con cái mày qua rờ vào Thành Quân Cụ, chờ tao lên”.

Thành Quân Cụ cao khỏi đầu người, không liên lạc được với bên trong. Tất cả con cái nằm sát Thành để tôi và đám cận vệ bò tới cổng chính. Loáng thoáng thấy nón sắt, Field Jacket, giây ba chạc … Không phải tụi nó đâu, chắc chắn là bạn rồi. Thằng đệ tử tôi gọi lớn:

“Ê, Thủy Quân Lục Chiến đây”.

Một loạt đạn bay qua khỏi đầu một cách rùng rợn. Bò lết vào trong Thành, ông Ðơn vị trưởng Quân Cụ nói tiếng Huế đặc sệt, ông là Trung úy Cát, thủ môn nổi tiếng của Huế:

“Ðại úy ơi, bảy ngày không ra vào nổi, nó bao hết. Trường Trần Cao Vân, Ðại Nội, xóm nhà trước mặt và bao quanh doanh trại tụi nó chốt hết. Nhà Bảo Sanh sau lưng Trường cách cái hồ tụi nó chiếm luôn. Dân chúng chạy hết rồi, không còn ai cả. Tụi nó pháo liên miên, không cho ngóc đầu được, đủ loại: 61, 82, hỏa tiển 107, 122. Tôi ráng cố thủ đây được ngày mô hay ngày nấy, còn ngoài nớ tôi không liên lạc được nên không biết tình hình các nơi khác ra răng”.

Tôi trở ra báo cáo về Tiểu Ðoàn, lệnh của Tiểu đoàn trưởng:

“Phu Nhân chiếm bằng được trường Trần Cao Vân, dọn sạch chung quanh. Tiểu đoàn trưởng và BCH sẽ lên ở trại Quân Cụ”.

Quan sát địa thế thêm một lần nữa, trước mặt trường là cái Am lên đồng, bên cạnh là chỗ hớt tóc lợp bằng tranh chỉ có một cái ghế ngồi. Sát đó là ngã ba đường, một đường chạy lên cửa Sập, một đường chạy về trường Ðào Duy Từ và Một chạy đến trường Trần Cao Vân. Có bốn năm cái đầu lô nhô trong trường.

Duật phải chiếm Am trước, trong trường bắn ra mãnh liệt, có cả B. 40. Tôi ra lệnh cho Nghênh và Mã Khện cầm chân hỏa lực trong trường học. Duật chiếm xong Am không một tổn thất. Tôi gọi Thương sĩ Hải đưa hai đại liên và một 57 không giật lên tăng cường cho Duật yểm trợ cho Mã Khện vào trường học. Sau 45 phút dùng mưu kế cùng với hỏa lực và sự gan dạ, kinh nghiêm, Mã Khện đã chiếm được một lớp trong Trường học. Nghênh tràn vào cùng với Mã Khện lục soát và làm sạch sẽ. Hỏa lực từ góc Thành Nội đổ dồn về phía trường học. Không sao, có tường của các lớp học che chở. Tôi kêu Sự:

“Pháo binh có chưa? Kêu về Ðại Bàng Thanh Hóa cứ bắn vào góc Thành cho tao”.

Ðến chiều vẫn không có một trái pháo bắn, anh em tôi có bảy đã lót đường cho mục tiêu đầu và ba bị thương nặng. Tôi lên sát Duật và bảo đem cây 57 ly không giật đến:

“Nhắm ngay vào góc Thành, tụi nó bắn rát quá cứ phơ cho tao, trật trúng gì không cần, chỉ cần tiếng nổ”.

Qua một vạt đất trống, trong ngôi nhà gạch có bóng người lấp ló. Duật quay 57 nhắm thẳng:

“Nhột quá, cho em bung cái nhà nầy đi”.

Tôi bỗng thấy có người đàn bà, tôi la lớn:

“Khoan bắn, nhà Thầy Tiềm”.

Rồi tôi băng qua một khoảng đất trống đến nhà gặp cô và các cháu. Không thấy Thầy tôi chào cô và giới thiệu tôi học Sử địa với Thầy ở Trường Bồ Ðề và khuyên cô về dưới phố. Tôi trở lại vị trí mà lòng nao nao buồn. Giờ nầy vẫn chưa có pháo, làm sao khóa góc Thành đó lại. Duật bảo các con cái đào hầm hố thật kỹ, tôi dặn:

“Mày cố thủ tại đây cho Tiểu Ðoàn lên”.

Rồi cùng các đệ tử lúp xúp chạy đến chỗ tiệm hơt tóc để quan sát ngã ba đường và góc Thành Nội. Tôi chợt nghe tiếng đàn bà rên la quằn quại, sau cùng chỉ còn tiếng rên nho nhỏ. Nơi góc quán tối tăm, một người đàn bà máu me khắp nữa phần thân thể, vừa bị thương nặng lại vừa xảy một bào thai lờ mờ tượng hình đứa bé, trong giống như con rắn mốùi. Xót xa, chịu không nổi, tôi ra lệnh đem chôn đưa bé ngay và chuyển người mẹ về trại Quân Cụ cho bác sĩ Tựu cứu giúp. Ðến đây mười ba anh em đã hy sinh và ba bị thương nặng để trải thảm trên đường tiến quân của đơn vị.

Tối đó BCH Tiểu Ðoàn đến trại Quân Cụ. Sáng hôm sau, Tiểu Ðoàn trưởng cho Ðại đội 2 của Tôn và Ðại đội 1 của Lượm dưới sự chỉ huy của đại ca Ðã, Tiểu Ðoàn phó, chiếm nhà Bảo Sanh. Ðoạn đường có 30 thước mà phải trả bằng 50 đứa con thân yêu. Sau tám tiếng đồng hồ mới chiếm được nhà Bảo Sanh, Tôn bị thương ngay từ phút đầu. Lộc Ðại đội phó lên thay.

Mười ngày tiếp theo, nhìn nhau qua một con đường rộng năm thước vừa đủ cho xe chạy mà hai bên đều khựng. Mưa vẫn rơi ray rức lê thê, thỉnh thoàng cơn gió thật lạnh thổi qua. Có những cuộc tấn công chớp nhoáng của địch vào Ðại đội của Lượm và Lộc đều bị đánh bật lui. Ngược lại ta cũng nhiều lần cố tràn qua bên kia nhưng cũng không chiếm được thêm một tấc đất nào. Hai bên tải thương đều thấy nhau rất rõ. Lượm bị hao hụt nặng. Phu Nhân lên thay thế. Tôi và con cái bò lên từng toán một, địch và ta đã sát nhau, ngóc đầu lên là đạn bắn xuyên nón sắt ngay. Hơn nửa ngày mới trám hết vị trí của Lượm. Lượm và Tòng về phòng thủ cho Tiểu Ðoàn. Tối đến, pháo địch nổ vang trời. Xác chết của anh em nằm trên mặt đường, sình lớn mà không lấy được. Phía bên kia bốn năm xác địch vẫn để yên, tụi nó cũng không dám lên lấy xác về. Cố giữ đất, giữ vị trí và làm vài cuộc tấn công nhỏ vẫn không qua đường được.

Từ căn nhà hai tầng cuối đường nhìn xéo từ nhà Bảo Sanh, một thượng liên và một trung liên nồi của tụi nó kiểm soát con đường rất kỹ, dưới sự chỉ huy của một đứa con gái mặc áo choàng màu xám, tóc xỏa dài nhưng không thấy rõ mặt. Tay đứa con gái chỉ tới đâu thì đạn nổ dồn về hướng đó. Tôi nhắm bắn hai phát M.16 nhưng hụt, nó trốn nhanh vào sau cửa và mất luôn.

Hai mươi ngày nằm chịu pháo và bắn sẻ, tối nào hai bên cũng rà máy và chưởi nhau. Theo dõi máy, đột nhiên tôi bắt được một câu báo cáo của tụi nó: “Bồ câu hết thóc!” và nghĩ ngay tụi nó đang thiếu đạn. Nếu cứ nằm như thế này, một lúc nào đó tụi nó chỉ cần ho một tiếng thật to mình cũng bị mất vị trí ngay, chỉ vì áp lực quá nặng nề, tổn thất nhiều, tinh thần anh em quá mệt mỏi. Tôi đi đến kết luận riêng: nếu mình không đánh nó, chắc chắn nó sẽ tấn công mình. Tôi trình với Tiểu Ðoàn trưởng:

“Thiếu tá cho tôi luôn thằng 2 để tôi tấn công tụi nó. Tôi thấy tinh thần anh em xuống quá và sức khỏe ngày càng hao hụt”.

Tiểu Ðoàn trưởng không cho, bắt ráng giữ vị trí. Phu Nhân năn nỉ:

“Nếu không thì cho tôi đột kích, tôi cùng vài toán nhỏ tràn qua đường đánh đột kích rồi rút về. Mình phải chứng minh cho tụi nó thấy mình còn đủ sức chơi tụi nó, thời tụi nó không dám tấn công mình”. Tiểu Ðoàn trưởng nói:

“Làm kế hoạch xong cho tôi hay”.

Tại hầm của tôi anh em đang chờ, họ gồm: Lộc Ðại đội 2, Sự Ðại đội phó của tôi, Duật, Nghênh, Mã Khện. Tôi nói:

“Nằm chờ lâu tao chán quá, chỉ muốn đột kích tụi nó rồi rút về”.

Tất cả im lặng, tôi tiếp:

“Bốn giờ sáng mai mình đột kích. Nếu giữ được vị trí tao cho tràn qua luôn. Bây giờ tao chọn 4 toán:

– Toán 1 : Phán, Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy.

– Toán 2 : Duật và ba người thật nhanh,gan dạ.

– Toán 3 : Nghênh và ba người.

– Toán 4 : Thượng sĩ Hải và ba người. Trang bị thật nhẹ: mỗi người 20 trái lựu đạn và hai băng đạn cong ráp ngược cho M.16. Sự và Lộc dẫn con cái ra sát bờ đường. Khi thấy khói xanh thì đưa tất cả tràn qua. Nếu thấy khói màu vàng, yểm trợ tối đa cho tụi tao dọt về. Sự và Lộc hãy về lo cho con cái, đúng bốn giờ sáng sẵn sàng tại vị trí”.

Duật, Nghênh và Hải ở lại, tôi nhìn anh em thật lâu rồi cho biết:

“Tao theo dõi tụi nó báo cáo qua máy, hình như tụi nó thiếu đạn. Do đó tao quyết định cuộc đột kích hôm nay”.

Tôi nghiêm mặt và lạnh lùng nói:

“Hai ông Duật và Nghênh tôi chỉ định phải đi với tôi. Riêng Hải, tôi cho ông suy nghĩ lần nữa. Lần nầy đi khó trở về, ông con cái đông, muốn ở lại vị trí tôi cho phép và tôi hứa rằng tôi không nghĩ ông thiếu can đảm”.

Suy nghĩ một lát, Thượng sĩ Hải trả lời:

“Ðại úy cho tôi ở lại vị trí”.

Tôi vui vẻ bằng lòng và gọi Mã Khện đến, Mã Khện đồng ý đi và xin đem theo Hạ sĩ nhất Mười. Tôi tiếp:

“Bây giờ các ông về chọn người xong lên gặp tôi”.

Tôi ngồi suy nghĩ miên man, liều, phải liều mới cứu được đơn vị.

Chiều hôm đó, lúc bốn giờ, các toán trưởng lên gặp tôi, có thêm Trung úy Sự. Tôi hỏi lần chót:

“Có ai xin ở lại cho tôi hay”.

Không ai trả lời. Tôi căn dặn Sự nhắc Lộc khi thấy khói xanh thì sao và khói vàng thì sao, phải nhớ kỹ. Tôi đưa ba toán trưởng bò đến hầm trú ẩn của nhóm tiền đồn ở sát ngã tư đường. Tôi chỉ từng căn nhà bên kia đường:

“Cái thứ nhất gần ngã tư đường là mục tiêu của tao, cai thứ hai kế tiếp có hàng rào là của Nghênh, căn thứ ba cũng có hàng rào và cây nhãn cao là của Mã Khện, căn thứ tư có mấy bụi chuối lớn là của Duật. Tất cả hay quan sát cho kỹ và cố chọn một con đường tiến quân thích hợp, không cần báo cáo miễn sao thích hợp thôi”.

Tiếp tục quan sát mục tiêu của tôi. Căn nhà bằng gạch có nhà trên và nhà dưới, kế đó là câu tiêu xây bằng đá lợp tôn, sát đường là cái giếng xây bằng xi măng. Trước sân có hai cây vú sữa cao và sai trái. Tôi biết phải làm gì để chiếm căn nhà đó. Tôi quay lại nói:

“Lần chót tôi hỏi các ông có ý kiến gì không? Ðúng bốn giờ sáng mai tôi sẽ chiếm trước, sau đó tùy các ông bằng mọi cách phải hốt cho bằng được các mục tiêu tôi ấn định”.

Trở lại vị trí, tôi dặn dò Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy:

“Tối nay miễn gác, ba giờ sáng mai gặp tao ở đây”.

Sau đó tôi đi gặp Tiểu Ðoàn trưởng để trình bày kế hoạch Ông nói:

“Nguy hiểm quá, không được, chết cả lũ !”.

Tôi nói:

“Nếu Thiếu tá không làm bây giờ, một vài ngày nữa tụi nó ho là lính mình chạy hết !”.

Cuối cùng ông chấp nhận:

“Nhớ có gì thì trở về liền, càng sớm càng tốt”.

Tôi dạ nhưng trong đầu tôi nghĩ khác. Trước mắt tôi bây giờ không có cái gì ngoài đường từ tiền đồn qua cái giếng, lên cầu tiêu, tới nhà dưới rồi chiếm nhà trên. Tôi nằm suy nghĩ triền miên cho đến ba giờ sáng.

Trước khi bò ra tuyến xuất phát, tôi nhắc Sự và Lộc một lần nữa cho chắc ăn. Bốn giờ sáng kém mười, toán tôi có mặt tại tiền đồn. Trời vẫn mưa, mưa xứ Huế có dư âm cái lạnh của ngày Tết. Trời tối không thấy gì, tôi ngại bắn lầm nhau. Gắng chờ một chút nữa, đến 5 giờ sáng mưa vẫn không tạnh, trời vẫn tối mù. Năm giờ rưỡi, cái giếng đã nhìn thấy được. Chuẩn bị! Tôi cảm thấy hồi hộp. Chỉ cần bốn cái nhảy vọt là qua bên kia đường nhưng khó hơn đi lên trời vì con đường nầy là con đường của tử thần làm ranh giới bên ta và địch, hai mươi ngày trời không nuốt nổi năm thước đất. Rách nát bao nhiêu cũng vẫn không qua được. Bây giờ mình cắt băng khánh thành, phải làm để cứu đơn vị, phải hy sinh để cứu đồng đội. Vừa suy nghĩ xong, tôi phóng vụt qua ôm bờ giếng. Kế tiếp là Ðiểu , Việt, Can Dư băng theo. Tất cả ngồi ôm thành giếng, mồ hôi ra như tắm mặc dù trời lạnh như cắt. Ðiểu và Can chiếm cầu tiêu. Bỗng một loạt đạn thật gần, tôi quay nhìn ra đường. Phúc và cái máy nát mình nằm trên đường nhựa, dưới làn đạn mịt mù của địch. Tôi hét lớn:

“Dư, Việt chiếm nhà bếp”.

Tôi theo sát lên cầu tiêu bên cạnh Ðiểu và Can . Súng và pháo nổ dồn dập, một B.40 nổ ngay trên đầu mái tôn cong, cả ba thầy trò đều bị miễng nhỏ đâm đầy mặt, tóc râu và lông mày đều bị cháy. Cầu tiêu nhỏ quá nên tôi cùng Ðiểu và Can lên nhà bếp. Tôi ra lệnh:

“Ðiểu và Dư chiếm nhà trên, lục soát thật kỹ”.

Ðể Việt ở lại, tôi và Can cùng lên nhà trên. Ðiểu và Can giữ cửa chính nhìn ra sân, tôi và Dư giữ cửa sau nhìn ra vườn có nhiều luống khoai lang.

Trời sáng hẳn, tôi lắng tai chẳng nghe nhà bên cạnh có gì cả bèn bò trở ra bờ giếng và thấy Duật và Nghênh, Mã Khện vẫn còn bên kia đường. Tôi toát mồ hôi. Tôi nhìn thẳng vào mặt mấy ổng rất nghiêm và lấy ngón tay ngoắc. Tôi không dám gọi lớn tiếng, mấy ông kia gặt đầu. Tôi bò trở lên nhà trên. Lựu đạn, súng nhỏ, súng lớn nổ khắp nơi và nhất là bên phía tay mặt tôi. Tôi biết rằng tụi tôi đã băng được qua đường. Tôi hỏi khẽ:

“Thấy không Dư?”.

Dư lắc đầu, tôi nghe tiếng thì thào sát vách tường phía ngoài. Tôi đoán khoảng 7-8 người đang ở trong cái hầm, tôi dùng ngón tay đẩy nhẹ cửa sổ. Một loạt đạn từ phía nhà đối diện xuyên ào ào qua cửa sổ. Bỗng Dư chỉ tay về phía luống khoai, tôi đếm đủ mười một người đang bò qua, kaki Nam Ðịnh, súng AK và B.40, cách vách tường khoảng hai chục thước, 15 thước rồi 10 thước. Tôi đưa súng lên định bóp cò thi Dư kéo lại và ra dấu đừng bắn dùng lựu đạn. Tôi dựng cây súng xuống thật nhẹ, hai tay rút hai trái lựu đạn miệng cắn chốt. Dư cũng thế, bốn lựu đạn ném cùng một lúc, tiếng nổ xé trời, rồi bốn trái tiếp theo. Bên ngoài tường,tiếng hét lớn rồi tiếng rên và sau đó im lặng, tụi còn lại bò sát vào chân tường.

Nhìn ra cửa, năm xác địch nằm vắt trên luống khoai. Một loạt đạn nổ và tôi nghe:

“Chết em Ðại úy”.

Tôi sững sờ nhìn Dư, tay trái ôm ngón út của bàn tay phải đầy máu, ruột của Dư đổ ra lòng thòng. Dư ngã vật ra chết tại chỗ, nơi Dư đứng có nột lỗ hổng nhỏ ở vách tường. Vì mãi nhìn qua cửa sổ mà không để ý ở phía dưới: nguyên một họng AK thọc qua lỗ tường để sát bụng Dư mà nhả đạn. Tôi bắn một loạt M.16 ra cửa sổ, và cứ thế hết quả nầy qua quả khác tôi ném tất cả lựu đạn của tôi ra ngoài bờ tường. Hai thằng em đã hy sinh, còn bốn thấy trò phải giữ vững vị trí. Phía bên tay phải của tôi súng vẫn nổ dữ dội. Ðến mười giờ rưỡi sáng tôi cho Ðiểu liên lạc với Nghênh, Duật và Mã Khện. Ðiểu băng người ra đi, bốn căn nhà cách nhau mười phút đi bộ mà hơn một tiếng đồng hồ sau Ðiểu mới về báo cáo là tất cả chiếm được mục tiêu. Có đoạn đường nào xa và xấu hơn đoạn đường tôi đang đi! Toán Duật: một chết, một bị thương. Toán Mã Khện: hai chết. Toán của Nghênh một chết, một bị thương. Tất cả là 6 chết 2 bị thương, chúng tôi còn lại mười một người tại tuyến.

Ðiểu bò ra giếng cố đem qua cho tôi cái máy. Cột cái máy vào đầu dây và quang đầu dây kia qua cho Ðiểu kéo. Can mở máy liên lạc với Tiểu Ðoàn:

“Trình Ðại Bàng, tôi sẽ tràn ngập ví trí địch với thằng 2 của Lộc và thằng 3 của tôi”.

Ðại Bàng hỏi:

“Tai sao từ sáng đến giờ không chịu liên lạc với tôi? Tôi ra lệnh rút về ngay”.

Phán nài nỉ:

“Ðây là dịp may, tinh thần anh em đang lên, tôi xin Ðại Bàng cho làm luôn!”. Ðại Bàng Thanh Hóa nói bằng bạch văn không ngụy trang:

“Nếu anh không rút về, tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự”.

Khí giận bừng bừng, tôi tắt máy không trả lời, trên tay vẫn cầm trái khói xanh. Suy nghĩ thật kỹ! Suy nghĩ thật kỹ! Hơn mấy giờ để đánh mục tiêu, bốn căn nhà và một con đường ngập máu. Mưa vẫn lạnh như cắt da mồ hôi vẫn ra như tắm. Cuối cùng tôi đành bảo Ðiểu chuyển lệnh cho các toán:

“Rút về ngay, mạnh toán nào rút toán nấy, không chờ đợi. Mang thương binh theo, xác chết bỏ lại”.

Năm thước đường đi đã khó, về còn khó hơn. Mỗi bóng người nhúc nhích là đạn nổ hàng loạt, liên hồi, đạn bắn chéo bao phía, đan lưới thật dày trên mặt đường và khắp vị trí. Làm sao trở về đây! Con cái bên kia đường đưa mắt theo dõi. Toán tôi bò ra giếng, bỗng mấy bóng đen vụt qua đường như sao xẹt, nhào vào bờ lề và được anh em kéo ra sau. Ðạn nổ dòn tan cày nát mặt đường. Ðây là mấy đứa bi thương nặng, tưởng là di chuyển không nổi, nhưng khi nghe lệnh rút chúng thu hết tàn lực vùng chạy về, chớp mắt không kịp thấy.

Hỏa lực ba phía nổ vùi vào vị trí chúng tôi. Các toán đột kích không liên lạc với nhau. Ðiểu và Can vẫn giữ căn nhà. Ðịch kiểm soát con đường bằng mấy cây thượng liên và trung liên, chúng bắn liên miên. Bên kia đường, Sự và Lộc đáp lễ bằng hỏa lực cơ hữu của khăn tím và của 2. Tôi lấy chân đạp vào thành giếng phong người băng qua đường, lăn mình, nhảy, chạy và té ào vô bờ lề. Anh em kéo vội tôi ra sau, tôi dừng lai bảo Lộc và Sự bắn từng loạt một để tụi nó dọt về. Nhìn thấy Việt ngồi thành giếng trổ mắt ngó về mà tội nghiệp. Sống và chết cách nhau có một con đường. Tôi hồi hộp xót xa cho mấy thằng em. Tôi vừa quay mặt hét: “Bắn kèm mấy cây thương liên”, thì một bóng bay vọt qua đường. Tim tôi thắt lại, đạn nổ mịt mù. Lần lượt tôi gặp Nghênh, Duật, Mã Khện và tất cả anh em. Tôi ôm ghì từng đứa, tụi nó còn sống cả. Can và Việt nhào đến ôm tôi dữ dội mà đậm đà trìu mến. Lính với tay sờ người, nắm nhẹ áo tôi:

“Ðại úy, tóc và râu cháy hết rồi, mặt bị dăm vài chỗ”.

Cả Ðại đội bất chấp đạn địch, đứng dậy nhìn nhau hãnh diện và sung sướng. Tôi báo cáo Tiểu Ðoàn:

“Tất cả đã về vị trí”.

Bỗng thấy thiếu một cái gì, tôi nhìn Can và Việt hỏi:

“Thằng Ðiểu đâu?”.

Tụi nó nói:

“Lần cuối cùng em thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm xác Ðại úy ở bên ấy”.

“Thôi chết tao rồi, tao phải cứu nó, hai thằng bây theo tao”.

Tôi, Can và Việt bò trở ra đường. Bỗng nhiên một bóng người nhảy qua khỏi hàng rào, nhảy qua khỏi miệng giếng, phóng nhanh qua đường, nhào lăn rào rào vào vị trí và la lớn:

“Ê, tụi bây thấy anh Hai đâu không?”

Ðiểu đứng dậy nước mắt đầm đìa, tôi lao đến ôm Ðiểu:

“Tao định qua kiếm mày đây!”.

“Trời anh Hai, tụi nó nói anh chết rồi. Em đi lục hết căn nhà mấy chục lần, chỉ không dám ra ngoài hè mà không thấy xác anh Hai đâu. Hôm trước Mạ có dặn nhỏ với em, phải sát bên cạnh anh Hai, nếu có gì cũng phải nhớ đem anh Hai về cho Mạ …”.

Tóc tai mặt mày râu ria Ðiểu cháy nám, áo quần rách buôm, nó khóc mùi mẫn vì thấy tôi còn sống. Rồi nó lại bẻn lẻn cúi đầu hai hàng nước mắt lã chã nhỏ giọt xuống đất. Trong cuộc chiến bạc bẽo lại có chút tình nghĩa trao nhau qua mấy giọt nước mắt nóng hổi.

Sáu giờ chiều, xuống trình diện Tiểu Ðoàn trưởng, ông nói ngay:

“Ông làm những chuyện nguy hiểm quá, lỡ kẹt bên đó thì nói làm sao với Lữ Ðoàn?”.

Tôi dạ dạ vâng vâng cho qua rồi nghiêm mặt đề nghị:

“Thưa Thiếu tá, ngày mai cho tôi tấn công, tôi tin chắc sẽ tràn ngập vị trí chúng nó. Cho tôi thằng 2 của Lộc, để thằng 1 của Lượm đi sau thu dọn chiến lợi phẩm. Chỉ xin Thiếu tá cho tôi xin hai chiếc Tank kèm hai bên hông của tôi”.

Ông hỏi:

“Có chắc ăn không Phán?”.

Tôi cương quyết:

“Chắc, và nếu tràn được vị trí địch Thiếu tá cho phép tôi đánh thẳng lên Kỳ Ðài nếu còn thời gian”.

Tôi theo Tiểu Ðoàn trưởng lên trình diện ông Già Hự – Ðại tá Yên Tư Lệnh Phó. Ông già chấp thuận.

Trở về tôi hợp các Trung đội trưởng:

“Ngày mai, tám giờ sáng, Ðại đội 3 khăn tím bên trái, Ðại đội 2 của Lộc bên phải, dàn hàng ngang lấy con đường lên cửa Sập làm chuẩn tiến song song. Sau khi hai chiếc Tank yểm trợ bằng hỏa lực xong, cả hai Ðại đôi xung phong tràn ngập vượt qua mỗi chốt thật nhanh, không cần thu lượm chiến lợi phẩm, để cho Ðại đôi 1 đi sau làm chuyện đó. Tất cả ba lô và đồ ăn để lại, trang bị thật nhẹ. Khi tới xóm nhà sát cửa thành thì dừng lại tại chỗ chờ tôi”.

Ðúng tám giờ sáng ngày hôm sau, dàn quân, hai chiếc Tank Ontos hạng nặng tiến lên, mỗi chiếc trang bị sáu cây đại bác 106 ly. Tôi chỉ vị trí tác xạ cho hai Trưởng xa người Mỹ rồi ra lệnh khai hỏa. Hy vọng 12 cây 106 ly nầy sẽ san bằng mục tiêu trước mắt cho con cái tôi được dễ dàng đôi chút. Nhưng mỗi chiếc Tank chỉ bắn một phát đạn duy nhất rồi chạy lùi biến mất, không biết chạy về đâu. Tôi hết hồn, quân đã dàn xong, bắt buộc tôi phải ra lệnh xung phong. Tôi hét thật lớn, hét khan cả cổ: Xung Phong! Cả một đoàn quân dàn hàng ngang, không một ai nhúc nhích. Con đường trước mặt, con đường của hai mươi mốt ngày đầy máu và nuớc mắt của những người lính mũ xanh can cường, con đường tráng nhựa đẹp đẽ nhưng băng qua là đi vào cõi chết. Tôi tức giận chưởi thề lung tung rồi chụp lấy cây đại liên M.60 của người lính bên cạnh bắn một loạt dài rồi một mình vừa bắn vừa băng qua đường cùng với toán cận vệ: Can, Việt, Ðiểu và hai người mang máy. Qua khỏi đường xông tới trước, tiếng đại liên của tôi nổ dòn. Ðúng lúc ấy cả đoàn quân đồng thanh hô to “Xung Phong” và ào qua đường. Sau đó đoàn quân vượt nhanh qua mặt tôi và lướt tới trước. Súng nổ vang rền, đoàn quân tiến đều, M.16 bắn vãi vào chốt, lựu đạn ném vào chốt, đạp chốt, bang chốt, lướt qua, cố giữ đội hình. Tiếng nổ inh tai liên tục, tấn công thật mãnh liệt và chạy ào tới trước như vũ bão. Ðến ba giờ chiều, chúng tôi đến xóm nhà sát cửa Sập.

Lính vỗ vai nhau cười làm tôi bật cười lớn vì xóm nhà nầy rất quen thuộc với họ. Lính thường hay đến xóm nầy rồi về kể nhau nghe con nầy đẹp, con kia chân dài, con nọ…. Nào khăn, nào thau vứt bừa bãi khắp nơi. Lính vui vẻ kể chuyện tục cho nhau nghe và hồn nhiên đùa nghịch. Những tiếng cười đầy ham muốn thèm thuồng, hơn 40 ngày, từ Vùng IV về giải tỏa Sàigòn rồi ra đây, không thấy mặt một người đàn bà thật đàn bà, chỉ thấy toàn máu, nước mắt và mồ hôi.

Tôi ra lệnh:

“Lộc và Sự mỗi ông cho một toán 10 người băng thật nhanh đến áp sát mặt Thành xong ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán nầy, đôn lên mặt Thành. Khi bám được mặt Thành thì tác xạ tối đa và bằng mọi cách giữ vũng vị trí trên mặt Thành để làm đầu cầu”.

Con cái tôi hành động còn đẹp hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn nhỏ nổ rền, hai toán lên Thành chiếm xong vị trí. Tôi cho tất cả con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn và pháo địch vẫn mãnh liệt trên nóc Thành, phải khóa lại. Một chặn đường xương máu đã vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hãnh diện, mục tiêu của ơn sâu và nghĩa nặng: Kỳ Ðài Huế. Ðây là nơi tượng trưng cho Hồn Thiêng Dân Tộc nói chung và cho Huế nói riêng. Duật và 20 anh em tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mã Khện đánh chiếm Kỳ Ðài. Ðịch bắn trả rất rát. Con cái tôi dùng hỏa lực tối đa và thần tốc tiến vào Kỳ Ðài. Phản ứng của địch bắt đầu yếu, năm giờ mười phút chiều, màu áo rằn ri TQLC đã làm chủ Kỳ Ðài. Lá cờ xanh đỏ sao vàng đầy hận thù còn trên không. Một anh em Lính rút đâu trong người ra lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ thật lớn. Tôi gọi về Tiểu Ðoàn:

“Tất cả đã sạch sẽ, xin Thiếu tá cho tôi treo cờ lên”.

Tôi nhớ rõ lệnh của Trung Tướng Lê Nguyên Khang:

“Một người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ tại Phú Vân Lâu”.

Trong niềm vui sướng tột cùng, Hạ sĩ Hạnh hét lớn: Thủy Quân Lục Chiến! Xong lấy hỏa châu đập mạnh định bắn pháo bông lên trời ăn mừng. Trong cơn say chiến Thắng, Hạnh xoay ngược đầu hỏa châu vào mình, hỏa châu nổ xuyên bụng. Hạnh cười nói:

“Em không sao Ðại úy”.

Phán nghĩ thằng em nầy tỉnh táo quá, chắc nó chết. Và nó chết thật.

Tiểu Ðoàn trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ. Sau nầy tôi được nghe: “khi báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1, Chuẩn Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến dành vinh dự thượng kỳ cho Sư Ðoàn 1. Sáng hôm sau ngày 24 tháng 2 Phạm Văn Ðịnh dẫn một đơn vị của Sư Ðoàn 1 từ cửa Thượng Tứ lên làm lễ thượng kỳ.

Nhìn lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hãnh diện thật sự vì thằng con của Huế đã góp phần dựng lại ngọn Cờ nầy. Trung úy Sự trình tôi:

“Thằng Hạnh chết, mình còn 67 anh em”.

Ðại đội ra đi hơn 170 người, sau 24 ngày và sau bao nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có ba mục tiêu: Con đương, cửa Sập và Kỳ Ðài mà bây giờ chỉ còn 67 người.

Sáng hôm sau tôi về phối trí đóng quân lục soátỉ ở khu vực cửa Ðông Ba, nhà Thương Nhỏ, chợ Xép, ngã tư anh Danh. BCH của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệâm nầy có Tôn và Lưu cùng học một lớp hồi còn nhỏ. Trong nhà không còn ai cả. Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. Tình hình chưa được an ninh hoàn toàn nhưng đóng ở đây chúng tôi nhẫn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và cho lục soát tàn quân địch. Lính canh gát bắt về một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm ăn mặc lếch thếch, áo vét nhàu rách, tóc tai rối bù và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.

“Lệnh giới nghiêm, đã mười một giờ đêm sao ông này còn lang thang trên hè phố, em nghi quá”, người lính nói.

Tôi sững sờ nhìn người đàn ông.

“Thầy Cao Hữu Triêm! Trời ơi Thầy!”

Tôi gọi mấy tiếng lớn mà Thầy vẫn không nghe, Thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ. Tôi cầm tay mời Thầy ngồi:

“Con là học trò cũ của Thầy đây”.

Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:

“Ờ, ờ sao con khoẻ không. Thầy mấy ngày nay chưa ăn chi cả”.

Lính tôi kiếm cơm trắng và đĩa gà luộc về mời Thầy xơi. Tụi nó còn kiếm được một bình trà nóng mời Thầy. Sau một hồi Thầy tỉnh táo, và cho biết: Cô và sắp nhỏ vào Ðà Nẵng, thằng con lớn chết rồi, Thầy không muốn về nhà nữa. Rồi Thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo.

“Thôi Thầy ở đây với con cho yên”, tôi nói.

Lính của tôi thay nhau hầu hạ Thầy ân cần, đến ngày thứ tư Thầy đòi đi, tôi thu xếp để Thầy vô Ðà Nẵng. Từ đó, tôi mất tin tức của Thầy. Cầu mong Thầy được bình an.

Ðược sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả bọn giặc thù cộng sản để dựng lại ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ trên Kỳ Ðài tượng trưng cho dân tộc Việt. Hai mươi ba năm sau, hồi tưởng lại,máu và xương kia đã theo giòng sông Hương Giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển bắt làm người biệt xứ. Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Ðô đó, cũng Kỳ Ðài đó, cho tôi được góp một phần dựng lại ngọn cơ một lần nữa để đền đáp ơn sâu nghĩa nặng, nơi tôi đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người trong lòng Dân Tộc Việt Nam./.




Bài viết hay của hai học sinh Trung học, tại vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn…

1/ Davis Trần : HAI QUÊ HƯƠNG – TWO HOMELANDS 2/ Ngọc Nguyễn : When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”

 HAI QUÊ HƯƠNG – TWO HOMELANDS

 

Davis Trần

“Vẫn thấy quê hương đêm ngày réo gọi
Vẫn thấy trong tim canh cánh đường về
Vẫn thấy nơi đây chỉ là đất tạm
Thầm hẹn ngày về chết giữa quê hương”


Nhật Ngân

DAVIS TRẦN
WINNER OF THE “GIẢI KHUYẾN HỌC” 2010
FROM THE VIETNAMESE COMMUNITY OF DC, MD,VA

April 30, 1975: a day long to be forgotten but forever imprinted within the mind of every Vietnamese American. It was on this day when countless Vietnamese citizens gave up their daily lives to become boat refugees, waving good-bye to their homeland in hopes of a better life and a brighter future. I could never wrap my head around the dark events of that day as my mom retold her “vượt biên” account, nor could I imagine the rippling effect that would entail a mass exodus of Vietnamese immigrants for the next 35 years.

Sitting here in America, in a land where the principle of freedom is so sacredly held, offers me a distinct perspective on the war and its aftermath. As part of the 1.5 generation, reading about the war in American textbooks and watching historic clips did nothing to fill that empty void, to better connect myself with the communal suffering of my heritage. Music filled that void, thanks to the many Vietnamese composers that transcribed their feelings. From Trần Thiện Thanh’s “Rừng Lá Thấp” that brought me the emotions of a solider to Duy Khánh “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” of nostalgic feelings, these songs bridge the gap of my generation and that of my mother’s. This genre of music not only captures the feelings of those that directly experienced such tragedies, but enables me, the later generation, to truly grasp what occurred. Just listening to the emotional lyrics provokes me to think about how fortunate I am, to think of the men and women who have endured so much, and to be proud of my Vietnamese roots. The Vietnam War has left a scar, but the Vietnamese community is thriving, transforming such adversity and pain into inspiration for success- something I long admire and follow.

My mom not only lives by this mantra, but exemplifies it to the fullest. Starting her life anew on foreign soil, without knowing a word of English to communicate, demonstrates the utmost sacrifice and perseverance more than any song. She speaks little of the war, only asking that I do well in school. As a child, I considered myself a spy in training, and only through my eavesdropping skills did I hear her retell her journey. I remember asking my mom why. Why would she give up her youth, jump into a boat among 60 others, and risk her life at sea when she couldn’t swim. She looked at me, stared into the void space and said, “vì tự do.” This made me think about my life, how I really don’t have an excuse to whine or complain about anything for the rest of my life. Only a few years ago, my mom dropped her barber profession to take care of my bed-stricken grandmother, a stroke survivor. My mom is truly the embodiment of the Vietnamese fighting spirit. Her account, along with other stories of suffering and endurance through both songs and tears, has taught me the true value of freedom as well as the meaning of sacrifice.

As Lan Cao ends her novel, Monkey Bridge, she’s reminded of home by the crescent moon in the shape of a dangling seahorse, the shape of Vietnam. I, too, am constantly reminded of my ethnic heritage thanks to the songs and stories. While I call America my home, I know my mom does not see it that way, but yearns to return back to her home, the land she calls quê hương, Việt Nam.

 

KÍNH TẶNG MẸ TÔI VÀ NHỮNG PHỤ NỮ VIỆT TRONG NGHỀ NAILS NHÂN NGÀY VU LAN 2010

 

Nguyễn Kim Ngọc

 

Những sự khó nhọc mà gia đình tôi đã đi qua chỉ vì họ muốn đem lại cho thế hệ sau một tương lai tươi đẹp. Vào lúc đó thì tôi chợt nghĩ rằng: Nếu ai đó đã cố gắng làm một công việc mà bị nhiều người khác chê cười, chỉ vì tương lai của con cái họ, thì người đó thật là đáng khen ngợi, đáng được tôn trọng. Người mà hy sinh bản thân và cuộc sống của mình để con cái được hạnh phúc thì thật là đáng nể. Bởi vì gia đình tôi đã can đảm làm những việc mà người khác coi thường, tôi đang sống nơi đây. Tôi đang có cơ hội để hiểu biết thêm về kiến thức. Tôi đang đi đến một tương lai sáng ngời. Và tôi đã tìm ra câu trả lời mà cô giáo Anh đã hỏi hồi năm xưa: Khi tôi lớn lên, tôi sẽ đem đến những sự đổi mới cho cuộc đời. Và hiện tại, tôi là một người không hề sợ hải hoặc e ngại khi nói lên, “Tôi rất tự hào là gia đình tôi làm nail vì họ làm điều đó cho tương lai của tôi.”

 “I want to be a person who changes the ordinary”

 

Ngọc Nguyễn

.

 

NGUYỄN KIM NGỌC
THÍ SINH ĐOẠT GIẢI KHUYẾN HỌC CDVN HTD, MD, VA

When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”

Nguyễn Kim Ngọc

Just a few years ago, my English teacher asked her class who each person would like to be when he or she grows up. Some wanted to be doctors, scientists, and some wanted to be lawyers, engineers… When she asked me, I looked around and asked myself, “What do I want to be in the future?” A classmate yelled out, “Maybe you can work at a nail salon!” It was as if that was a joke, the class burst out in laughter. I felt hurt and discriminated. But most of all, I felt angry because in an attempt to make fun of me, that classmate has denoted something shameful about the job of a nail technician and about my own background.

My grandfather is a veteran from the Viet Nam war to gain independence for our beloved country. Though we had the help from American troops, after the war ended, grandpa was sent to an internment. Long after the suffering that grandpa endured, he and his family were finally brought to America by the American government to enjoy the freedom that he well deserves.

I’ve heard of many stories told by my dad about the struggle my grandpa’s family went through when they first came here, and I’ve always admired them because of their strength, their bravery, but most of all, their hard work. My grandpa entered the United States along with my grandma, and my five aunts and uncles. My uncles and aunts were no older than thirteen at that time, and so as the breadwinners of the family, my grandpa and grandma took on many jobs to support the family.

Life was hard because they had to learn English as a second language, alongside with finding jobs that would require no prior knowledge, training, or education. Yet to add on to the hardship, they had no relatives and no friends in America to lend a hand of support. My grandpa was a labor worker, my grandma worked as a nail technician, while my uncles took on part-time jobs as dishwashers at a restaurant near home.

I vividly remember my mom told me one day, “Con nhớ là phải học giỏi, để rồi mai mốt, con sẽ có tương lai tốt đẹp. Người Việt như mẹ với bà ngoại đây qua Mỹ trễ quá, mù chữ, nên phải làm nail, cực lắm con ơi.” That was when I realized that Vietnamese migrate to the United States to look for opportunities; opportunities, not for themselves, but for the future generation. I realized that my mom would withstand it when people criticized her position as a nail technician only to bring me a better future.

All the hard work my family has done was to develop a better and brighter future for the next generation to come. At that point, I realized that no matter what path people take in life, everyone deserves respect. Someone who is willing to work a job that people look down upon to support his or her children should deserve to be respected because that person is selfless; that person is willing to make sacrifices for the ones he or she loves. Because my family was brave enough to take on those jobs that are considered to be “low in standard”, I stand where I am today. I am getting an education. I am making a brighter future.

I found the answer to my teacher’s question: When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”


Vài năm về trước, cô giáo dạy Anh của tôi hỏi tất cả học sinh rằng họ muốn làm gì khi họ lớn lên. Có bạn thì muốn làm bác sỹ, nhà khoa học. Bạn khác thì muốn làm luật sư, kỹ sư.. Khi cô giáo hỏi đến tôi thì tôi nhìn quoanh và tự hỏi mình, “Tôi muốn làm gì trong tương lai?” Có một ai đó la lên, “Bạn có thễ làm nail đấy!” Cứ thể như điều đó là một trò cười, ai ai trong lớp cũng bật cười. Tôi cảm thấy buồn và tức giận vì họ đã coi thường những người làm nail, và họ đã coi thường địa vị của gia đình tôi.

Ông ngoại tôi là cựu chiến binh từ hồi chiến tranh dành sự tự do cho nhân dân miền Nam. Việt nam đã có sự giúp của quân đội Hoa Kỳ, nhưng sau khi chiến tranh kết thúc thì phần thắng lại chẳng thuộc về những người đấu tranh cho sự tự do chính nghĩa. Và những chiến sĩ như ngoại tôi đã bị quân thắng trận giam giữ sau những năm tháng từ đấy. Nhiều năm gian khổ thì ông ngoại tôi lại được trở về nhà với gia đình và được chính phủ Hoa Kỳ đưa đến đất nước Mỹ để được hưởng sự tự do thật sự mà bao nhiêu năm đã bỏ biết bao công sức và tuổi thanh xuân để bảo vệ.

Năm 2003 chính là năm mà ngoại bảo lảnh gia đình tôi qua Mỹ. Tôi đã nghe ba tôi kể thật nhiều chuyện về sự khó khăn mà gia định ngoại đã trải qua khi họ bước lên đất nước Mỹ. Ông ngoại tôi sang Mỹ cùng với bà ngoài và 5 cậu, dì của tôi. Tôi luôn luôn khâm phục họ vì họ thật là mạnh mẽ, can đảm, và kiên trì. Ông ngoại làm việc lao động trong hảng, bà ngoại làm nail, còn các cậu thì rửa chén trong nhà hàng. Cuộc sống sao thật gian khổ vì ngoại vừa phải học tiếng Anh, vừa phải làm những công việc lao động – những công việc mà không cần đến sự hiểu biết tiếng Anh. Và để thêm vào nỗi đắng cay ấy, ngoại tôi chẳng quen biết ai trên đất nước Mỹ xa lạ này. Ngoại chẳng có ai để chia sẻ nỗi buồn, chẳng biết nương tựa vào ai khác trừ hai bàn tay trắng của mình.

Tôi nhớ có một ngày mẹ bảo tôi, “Con nhớ là phải học giỏi, để rồi mai mốt, con sẽ có tương lai tốt đẹp. Người Việt như mẹ với bà ngoại đây qua Mỹ trễ quá, mù chữ, nên phải làm nail, cực lắm con ơi.” Khi đó tôi mới biết rằng: Người Việt mình qua Mỹ để tìm cơ hội; một cơ hội không phải cho họ, mà cho con cái, cho thế hệ trong tương lai. Tôi biết rằng mẹ tôi đã nghiến răng chịu đựng khi mọi người chê báng nghề làm nail của mình chỉ để đem lại cho chị em tôi một tương lại sáng đẹp.

Davis Trần & Ngọc Nguyễn
Theo: Diễn Đàn Net




Đông A : Hương Ngọc Lan và Định Kiến

Ở nơi đây một cành hoa mai trắng mong manh trong vườn, một nụ cười thân thiện, những tiếng cám ơn giữa hai người không quen biết đã và đang biến mất dần. Làm thế nào để sống với Hà Nội mà không có những thứ đó ? Tôi chợt nghĩ đến một câu nói nổi tiếng mà không nhớ chính xác của ai: « Văn hóa là những gì học suốt đời vẫn không đủ. Văn hóa là những gì còn sót lại khi tất cả đã bị lãng quên ».

Hương Ngọc Lan và Định Kiến

Đông A

Hồi bé tôi thường được nghe câu ca dao « Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ». Tôi được nghe giải thích rằng nó tượng trưng cho nếp sống người Hà Nội, thanh cao mà dịu dàng như hoa nhài. Tôi thích hoa ngọc lan hơn, dù hoa nhài cũng thơm một cách rất dễ chịu và khó quên. Tuy vậy mỗi khi nghe câu ca trên, tôi luôn cảm thấy bị dị ứng. Trước hết là vì khen lối sống của người Hà Nội, mà lại nói Tràng An, kinh đô cũ của nước Tầu: thật là vô lý. Giử thử nói câu này khen người Trung Quốc ở Tràng An lịch sự, thì dù rằng chẳng biết đúng sai, ít ra còn có thể thông cảm về mặt ngữ nghĩa. Đằng này, viết Tràng An mà lại bảo Hà Nội vì « cùng là kinh đô », thì quả là một sự nhập nhằng, thậm chí một sự nhận vơ đáng xấu hổ. Huống hồ, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, tôi thấy đây chỉ là một định kiến vì người Hà Nội không luôn thanh lịch như lời ca dao dẫn.

Nếu nói đúng, phải nói là người Hà Nội có những nét thanh lịch không thể phủ nhận, nhưng cũng còn có nhiều thứ khác, khá lủng củng và đôi khi không thể giải thích. Để dẫn chứng, mời bạn đi dạo chợ Đồng Xuân từ khu ba mươi sáu phố phường. Tôi tin bạn sẽ phải dựng tóc gáy vì văn hóa chợ búa ở đây. Mua hàng bị cân thiếu và được ăn chửi là chuyện bình thường. Mà đã lăng mạ nhau thì rất lắm khi giữa cả người bán lẫn người mua. Thời kỳ bao cấp, cứ chỗ nào có vui chơi là có ăn trộm tụ tập, nổi tiếng nhất tại Bờ Hồ và vườn hoa Giám. Ngày hôm nay Bờ Hồ đã được « giải phóng », vườn hoa Giám được quy hoạch khang trang thành khu Văn miếu, nhưng vô số tệ nạn khác lại phát sinh ở khắp nơi. Các công viên buổi đêm vẫn là những tụ điểm của xì ke, nghiện hút, những người không lương thiện. Các con đường vẫn là những nơi xả rác vô tư, và các bờ hồ buổi tối bị biến thành những « chợ tình » bất đắc dĩ. Với tôi, Hà Nội đã và luôn là nơi chất chứa của vô số các tầng văn hóa, từ vô công rồi nghề, đến chợ búa, tiểu thương, hàn lâm, học sỹ. Nó chưa bao giờ thể hiện một sự thanh lịch tinh khiết, nhưng cũng không thể vì thế mà có thể đánh đồng nó với một thói xấu hoàn toàn. Tuy tồn tại và có thể cảm nhận được, nhưng nếp sống Hà Nội chỉ là một khái niệm không định hình. Khái niệm ấy vẫn bị tha hồ nhào nặn để người ta có thể chê bai hoặc khen khống nó, tùy theo tâm lý người nói chuyện với mình. Ôi, thành phố của tôi, thủ đô ngàn năm văn hiến.

Những người có đủ dũng cảm để viết ôn hòa về những thói xấu của Hà Nội vẫn là rất hiếm. Thông tin về Hà Nội luôn nằm giữa hai thái cực. Một bên là những bài văn lung linh hoành tráng mà trong đó Hà Nội hiện lên với những nét mờ ảo thiêng liêng, hào hùng, không đợm tì vết. Bên kia là vô số những tin vặt, tin giật gân, tin 3 dòng viết về những tệ nạn thành phố. Trong những mẩu tin này, chẳng ai nêu đích danh Hà Nội, chẳng ai dám gắn nó với nếp sống người Hà Nội, tất cả đều là tự hiểu. Tệ hơn nữa, có thể bắt gặp cả những lời chê bai cũng đầy định kiến của những người không sống tại Hà Nội. Nhưng để hiểu Hà Nội, và yêu nó, cần phải biết vứt bỏ các định kiến.

Dẫu không phải là người Hà Nội gốc, nhưng tôi vẫn thích mùi ngọc lan, hương thơm dịu dàng rất dễ chịu, khó quên mà hồi bé tôi vẫn được nghe giải thích là trượng trưng cho Hà Nội, nếp sống người Hà Nội thanh lịch, cũng giống như hoa nhài. Thật khó cho một đứa trẻ như tôi hình dung được nếp sống thanh tao ấy.

Nhưng lớn lên rồi, tôi vẫn không tài nào định hình được nét thanh lịch trong dòng ngỗn ngang đủ thứ tạp nhàng của Hà Nội hôm nay. Nếp sống người Hà Nội mang đầy chê bai, định kiến, từ chính những người ngược xuôi trong lòng Hà Nội và cả những người không ở Hà Nội.

Cố công tìm hiểu bề dày lịch sử của Hà Nội để hiểu thêm về nếp sống người Hà Nội, để định nghĩa được thế nào người Hà Nội, và rộng hơn là để biết điều gì làm nên văn hóa Nội thành, tôi chợt nhận ra rằng khái niệm nếp sống Hà Nội là một điều bí ẩn vì thiếu cơ sở lịch sử minh chứng, biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền ; và như thế, tạo nên định kiến đối với những người di cư vào Hà Nội đang làm nên Hà Nội. Và một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch…(*)
***
Hà Nội có một bề dày lịch sử mà không phải ai cũng cố công tìm hiểu. Do đó nếu nhận xét nó mà không đặt vào một cái nhìn bao quát lịch sử, thì nhầm lẫn sẽ là chuyện thường tình. Là thủ đô được vinh danh rồng bay thời vua Lý, là nơi thành không nhà trống chống quân Nguyên thời Trần, là nơi phế đô bị quên lãng ngắn ngủi đời nhà Hồ, rồi là nơi hội tụ hiền tài và tinh hoa đời vua Lê, Hà Nội đã ghi lại những biến động lịch sử lớn nhất của nước Việt. Đây là nơi hoàng đế Quang Trung đã đánh tan hơn hai mươi vạn quân Tàu, dạy cho chúng biết nước Nam là có chủ. Đây cũng là nơi Hoàng Diệu tử tiết, đánh dấu cho việc người Pháp thôn tính Việt Nam làm thuộc địa kéo dài suốt 80 năm. Hà Nội đã không ngừng thay đổi, không ngừng được xây dựng và phát triển. Nếu như nền văn hiến được thật sự đánh dấu bằng việc mở Quốc tử giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nét thanh lịch của người dân được dần dần quy tắc hóa trong suốt nhiều thế kỷ sau đó để trở thành môt tập hợp các cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày. Đó, trước hết, là đạo đức của sự hiếu học và văn hóa tôn trọng người thầy, được rèn rũa trong tiến trình văn minh của Hà Nội. Tôi vẫn nghe kể, và chính mình đã được học những quy tắc lễ nghi gia giáo. Phải lễ phép với người lớn, phải vâng dạ rõ ràng, đi đâu phải chào hỏi, khách đến nhà phải mời ngồi, mời nước …vân vân và vân vân.

Tập hợp các quy tắc này hẳn đã phải chịu thất lạc và thay đổi để thích ứng với các giao đoạn lịch sử. Cũng như địa giới hay dân số, nếp sống ở Hà Nội luôn thay đổi và không phải bao giờ cũng nằm trong khuôn thanh lịch. Do đó nói người Hà Nội thanh lịch có nguy cơ gặp phải hai lần lỗi. Lỗi thứ nhất là vì Hà Nội không hề là duy nhất, trước sau như một. Nó luôn là nó mà lại không phải là nó. Cũng như thế, thành phần dân số nơi đây luôn biến động. Vì thế khái niệm người Hà Nội cũng còn là một khái niệm mập mờ và không được nắm bắt kỹ lưỡng. Không hề có người Hà Nội chuẩn mực. Lỗi thứ hai là vì những người sống tại Hà Nội cũng không hoàn toàn thanh lịch, mà cũng còn có vô số thói hư tật xấu khác. Kết quả của hai yếu tố này là ta hoàn toàn có thể:

a. bị sốc vì người Hà Nội không thanh lịch, đơn giản vì trót có định kiến họ thanh lịch và,

b. khen người Hà Nội thanh lịch mà không biết rằng họ chưa chắc đã là « người Hà Nội » theo cách hiểu đơn phương và chủ quan của chính mình.

Câu hỏi được đặt ra là cần xác định Hà Nội như thế nào, để sau đó xác định thế nào là người Hà Nội ? Để có thể trả lời, chúng ta cần biết hai yếu tố. Thứ nhất là không gian địa lý của Hà Nội. Trong suốt thời gian tồn tại của mình, đô thị Hà Nội không ngừng được xây dựng, được thay đổi. Quá trình đô thị hóa lan dần từ hoàng thành, trung tâm Hà Nội ra các không gian sản xuất và trao đổi xung quanh, biến chúng thành các khu dân cư. Từ đó hình thành bộ mặt của thành phố. Cho đến tận cuối thế kỷ XIX, Hà Nội vẫn rất ít được xây dựng và bao gồm vô số các làng cổ. Xác định được không gian sống của người Hà Nội là điều không hề đơn giản. Thứ hai là phải dùng đối tượng dân cư nào để xác định người Hà Nội ? Liệu chỉ có thể tính những người dân đã sống tại đây từ nhiều đời, hay có thể tính cả những cư dân từ nơi khác dời đến đây sống ?

Trước hết hãy nói về yếu tố địa lý. Một thói quen thường thấy khi nói về Hà Nội cổ xưa, là dẫn chiếu đến khu 36 phố phường, khu hoàng thành, và Hồ Gươm, nghĩa là không tính các khu sản xuất. Chúng ta biết rằng sau khi được khai sinh, Thăng Long vươn ra từ các khu phụ cận với hoàng thành. Giảng võ đường, là nơi huấn luyện võ nghệ cho binh sỹ, Quốc tử giám, là trường đại học đầu tiên của Việt nam. Bản đồ 1 (trang 69, Papin). Ngày hôm nay, Hà Nội cổ ở mức ấy chỉ còn là vết tích các công trình xây dựng cũ: một mảnh tường thành cửa Bắc, cổng Ô Quan Chưởng, và rùa đá ở Văn Miếu. Khu hoàng thành cũ bị sử dụng làm là doanh trại quân đội. Hồ Gươm và 36 phố phường vẫn còn đó, nhưng bị biến thành những khu buôn bán và du lịch. Nhà cửa chật hẹp, cổ lỗ, các điều kiện vệ sinh và điện nước không đảm bảo một không gian sống. Nếu dừng lại ở giới hạn công trình xây dựng, thì Hà Nội quả là quá nhỏ hẹp. Nó chỉ là sự tập hợp của một nhúm người sống trong những địa điểm có chiều dày kiến trúc lịch sử. Khó lòng có thể tưởng tượng được nếp sống của họ thanh lịch như hoa nhài, và nhất là liệu có thể chấp nhận họ là đại diện cho những người Hà Nội gốc ?

Một khuynh hướng thứ hai là dẫn chiếu đến Hà Nội bao gồm tất cả các khu kiến trúc nói trên, và thêm vào đó Hồ Tây và các làng cổ phụ cận phục vụ sản xuất hàng hóa sinh hoạt thiết yếu. Đây hẳn phải là một cách dẫn chiếu hợp lý nhất vì nó làm cho đô thị (agglomeration) hiện hữu một cách tự thân đầy đủ. Đây cũng là cách dẫn chiếu được các nhà quy hoạch hiện đại sử dụng nhiều nhất, theo đó một đô thị có thể bao gồm thành phố trung tâm và các không gian kinh tế và không gian sống phụ thuộc vào nó. Các không gian này cung cấp hàng hóa, dịch vụ và sức lao động cho khu vực trung tâm.

Nếu sử dụng cách dẫn chiếu này thì Hà Nội sẽ bao gồm tất cả các làng cổ và làng nghề thủ công. Bản đồ của người Pháp vẽ Hà Nội vào thế kỷ XVIII, cuối thế kỷ XIX cho thấy các làng này còn chiếm một phần rất lớn địa giới của Hà Nội. Ngoài khu 36 phố phường, Hà Nội sẽ bao gồm lên các làng hoa ở Ngọc Hà, Quảng Bá, làng đào ở Nhật Tân, các làng mai ngày nay không còn tồn tại nhưng dễ dàng được nhận ra nhờ tên gọi cũ : Bạch Mai, Hoàng Mai, Mai Động…, các làng trồng rau ở Láng, làm giấy ở Yên Thái, Cầu giấy, làm lụa ở Nghi Tàm, đúc đồng Ngũ Xã. Nếu đi xa hơn nữa, ra hẳn ngoài ranh giới chính thức của nội đô, ta có thể tìm thấy ở Bát Tràng, Thanh Trì, Định Công, Vạn Phúc, Ngọc Hồi, dấu tích các làng cổ khác. Sự hình thành các làng cổ này tương ứng với thời điểm mà Hà Nội trở thành một điểm giao thương lớn của cả nước, nguồn gốc của cái tên Kẻ Chợ.

Khó khăn lớn nhất ở đây là phải biết liệu các làng này có tồn tại như những quần thể tương đối độc lập ? hay bị hòa nhập với toàn bộ Hà Nội như là một bộ phận của đô thị ? Nghĩa là nếu tính các làng cổ này, thì phải chỉ ra được chúng là những làng nào? được coi là Hà Nội từ những thời điểm nào ? Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày hôm nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. Đấy là chưa kể các làng nghề khác ở xa hơn chỉ trở thành một phần Hà Nội rất lâu sau này. Bao nhiêu người liệu có thể nói được các làng cổ cổ đến mức nào ? Tự bao giờ chúng là một phần chính thức của Hà Nội? Đến khi nào chúng không còn giữ những chức năng ban đầu của mình – Nghi Tàm thôi dệt lụa, Giảng võ ngừng thao luyện và Ngọc Hà hết đất trồng hoa ? Vào những thời điểm đó, những người sống tại các làng này đến từ đâu ? và có được coi là người Hà Nội hay không ? Sự thiếu vắng cơ sở xác định những yếu tố trên đã góp phần biến khái niệm nếp sống Hà Nội trở thành một điều bí ẩn, và biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền.

Một điều có thể chắc chắn là nếu tính những làng cổ, thì số dân trồng hoa, trồng rau và làm thủ công phải lớn hơn nhiều lần số người thanh lịch biết uống trà thưởng hoa thanh nhã. Điều này thiết tưởng cũng không lấy gì làm lạ vì về bản chất, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp. Trong quá khứ, Hà Nội có thể đã là một nơi đô thị sầm uất hơn hẳn nơi khác, nhưng tránh khỏi nếp sống nông nghiệp là điều không thể. Đành rằng các làng trồng hoa không hẳn đã là nông dân như người kéo cày trồng lúa, nhưng cũng không vì thế mà không có sự nhọc nhằn vất vả. Sự vất vả của nghề nông có lẽ chính là một nguyên nhân đã làm biến mất nghề trồng hoa ở nội đô. Nhìn từ góc độ xã hội và với sự tôn trọng rất lớn những nghề nghiệp này, người ta không thể không nghi ngờ hai chữ thanh lịch khi chúng đại diện cho người Hà Nội. Đấy là chưa kể sự phát triển của chợ sẽ kèm theo sự ra đời của những hệ lụy không hay như rác rưởi bừa bãi, và các tệ nạn như cò con, lừa đảo, và trộm cướp.

Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ có một đoạn rất thú vị viết về nạn lừa đảo và trộm cướp, xin được trích dẫn ở đây. « Phường Diên Hưng (Hàng Ngang) và phường Đồng Lạc (Hàng Đào) là nơi phố hàng áo, bán các thứ tơ lụa vóc nhiễu rất nhiều. Phiên chợ là những ngày: mồng một, mồng sáu, mười một, mười bốn, rằm, hai mươi mốt, hai mươi sáu, ba mươi. Phiên chợ phường Bạch Mã (Hàng Buồm) cũng là một chỗ buôn bán rất huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm cho ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc áo người ta, hoặc khuân đồ vật hàng hóa. Có khi chúng huyên truyền là voi lồng ngựa sổ để các người chợ búa và người đi đường xô nhau chạy, hàng hóa đồ vật vứt bừa bãi; lúc biết là chúng huyên truyền láo thì quân kẻ cắp đã phỗng hết cả rồi. Một hôm, ở phường Đông Các (Hàng Bạc) có một bà lớn đi võng mành mành cánh sáo, đầy tớ lính hầu rậm rịch, đến trước cửa một nhà hàng bạc, truyền thị tỳ dừng võng lại để hỏi mua mấy chục nén bạc. Mà cả giá chưa xong, bà lớn ngồi trên võng truyền vú già hãy cầm chục nén bạc đem về dinh, trình quan lớn xem qua, sẽ định giá. Chủ nhà hàng cũng không ngờ gì. Một lát, thị tì và lính hầu lẻn dần đi hết, hai tên lính khiêng võng cũng cút mất. Trời đã gần tối, chờ mãi chẳng thấy người vú già cầm bạc trở lại, nhà chủ mới đến trước võng hỏi bà lớn để đòi bạc. Mở mành mành xem thì té ra là một mụ lão ăn mày, mù cả hai mát, mặc áo nhiễu điều, ngồi chễm chệ trong võng, mơ màng không biết nói ra sao. Nhà chủ cho đi tìm hết mọi nơi, không còn thấy tăm hơi đâu cả, chỉ bắt được có cái võng cũ nát, giá không đáng mấy quan tiền. Ấy, những lối ăn cắp lừa dối như thế rất nhiều, không thể kể hết được. Cái tài giỏi của kẻ gian cũng lắm lối rất buồn cười, xem thế đủ hiểu cái thịnh suy của đời thăng bình vậy ».

Ngày hôm nay, việc xác định Hà Nội chỉ còn có thể dựa vào tiêu chí cuối cùng là mốc địa giới của Nhà nước. Vấn đề là tiêu chí này chỉ làm việc nhận chân nếp sống Hà Nội là càng không thể. Trước kia, Đống Đa hoàn toàn là nơi ngoại ô (nằm ngoài cửa ô), hôm nay là một quận đông dân nhất thành phố. Sóc sơn, Gia Lâm trước là ngoại tỉnh, nay đã là những huyện ngoại thành. Và Hà Nội sẽ còn phải mở rộng nhiều để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia. Khi chính phủ vừa quyết định đưa địa giới Hà Nội về Hà Tây và Hòa Bình, liệu chúng ta đã sẵn sàng để coi người dân những vùng này là người Hà Nội? Nếp sống Hà Nội càng lúc càng trở thành một khái niệm không thuần nhất. Bạn đọc xin đừng cho rằng tôi phê phán điều đó. Tôi chỉ muốn nói rằng không hề có một nếp sống thuần Hà Nội để có thể gọi nó là thanh lịch. Xin đừng quên Hòa Bình và Hà Tây cũng có những nét văn hóa riêng, và dù tốt, dù xấu trong mắt nhiều người, những luồng văn hóa này chưa chắc đã cần phải gắn mác Hà Nội để có thể tồn tại.

« Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. »

Bây giờ xin đề cập đến yếu tố dân số. Dân số Hà Nội vào ngày tiếp quản thủ đô là 53,000 người, vào năm 1990 là 2,6 triệu người, vào năm 2009 là hơn 6 triệu người. Số chênh lệnh di dân hơn 10 000% đó đã làm nên sự thịnh vượng của thủ đô. Họ từ đâu đến ? Từ một vùng quê nào đó của nước Việt. Họ có phải người Hà Nội không ? Làm sao có thể nói không khi cuộc sống của họ gắn liền với cuộc sống của thủ đô ? Những con số này buộc chúng ta phải nghi vấn khái niệm người Hà Nội ? phải là người Hà Nội gốc ư ? Hay chỉ cần sống một thời gian đủ dài tại Hà Nội. Tôi ngả về tiêu chí thứ hai bởi vì lịch sử của Hà Nội là lịch sử của sự hội tụ. Những người đã làm nên Hà Nội đâu phải đều là người Hà Nội. Lịch sử của mảnh đất này được viết nên bằng máu của tất cả những người đã gìn giữ nó, và gìn giữ đất nước. Đó là những anh hùng dân tộc như Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương. Hay những danh nhân như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Lương Văn Can. Trong số này, không có ai là người Hà Nội « gốc ».

Suy nghĩ rằng người Hà Nội thanh lịch phải là người xuất thân từ phố cổ và làng cổ, cứ như thể chỉ những nơi này mới là chuẩn mực cho một nếp sống Hà Nội, như vậy rõ ràng không có tính thuyết phục xã hội. Có người nói muốn biết có phải người Hà Nội gốc hay không, phải xem gốc gác 3 đời. Theo tiêu chí này nếu đời ông bà là người Hà Nội, bố mẹ là người Hà Nội, và bạn sinh ra lớn lên ở Hà Nội, thì mới được tính là người Hà Nội. Đây quả là một kiểu phân loại lố bịnh và đầy ý niệm giai cấp, được lịch sử phong kiến để lại. Ông bà ngoại tôi là người Hải Dương, ông bà nội tôi ở Nam Định, mẹ tôi sinh ở Hà Giang và bố tôi ở Thái Lan. Sinh ra tại Hà Nội, nếu tôi không phải người Hà Nội thì sẽ là người ở đâu bây giờ?

Ở Hà Nội còn có bao nhiêu người vô danh không thể « đếm mặt, đặt tên ». Đó là những người bán hoa, bán hàng rong, bán quà sáng, những em bé đánh giày, bán báo, những anh xe ôm, đạp xích lô. Họ không phải người Hà Nội ư ? Cũng có thể. Vấn đề là một khi cuộc đời họ đã gắn bó với Hà Nội, nếp sống của họ sẽ hòa vào dòng chảy văn hóa nơi đây. Vì sao chối bỏ nó, vì sao ruồng rẫy nó ? Nếu thiếu nó thì Hà Nội cũng đâu còn là Hà Nội. Có hề hấn gì không khi ta không phải người Hà Nội gốc, nhưng hàng ngày vẫn sống cùng với nhịp đập của thành phố ?

Hà Nội, thành phố ở trong sông, cái tên ấy thật đẹp. Nhưng ngày hôm nay, Hà Nội không còn là thành phố ở bên trong sông. Con sông Hồng bãi lở bãi bồi đã từ lâu rồi lọt vào tầm ngắm quy hoạch dự án xây dựng. Những vườn hoa đào đang mất dần, thay vào đấy là những dự án lấy đất làm chung cư và khu giải trí. Một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ. Nó sẽ phủ rộng từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ doanh nghiệp đến tiểu thương, từ thất nghiệp đến văn phòng, từ ăn mày đến hàn lâm, nghệ sỹ. Nó đang bị biến trở thành một thứ văn hóa của siêu đô thị trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nó trộn vào cuộc sống hiện đại sự du nhập của văn hóa tiêu thụ phương Tây, văn hóa hào nhoáng lòe loẹt của Trung Quốc, văn hóa gia phong khép kín của lịch sử, văn hóa chợ búa lừa đảo. Trong cái đống hỗn độn ấy của tắc đường, của chen lấn và khói bụi ấy, làm sao giữ được mùi hương ngọc lan? làm sao gìn giữ được những nét thanh lịch hào hoa mà chúng ta đang cố định hình ?
***
Tôi có quen một người Pháp đã giúp đỡ rất nhiều sinh viên Việt Nam du học tại Paris. Vốn sẵn máu phiêu lưu lại làm về quan hệ quốc tế nên ông đã có dịp đặt chân lên rất nhiều nơi trên thế giới. Thuộc týp người chỉ cần một balô trên vai và một chiếc máy ảnh trên cổ để đi từ những cánh đồng tuyết Siberi tới những đỉnh cao của dãy Himalaya, ông chụp rất nhiều ảnh. Ông đã cho tôi xem những bức ảnh của phố cổ Hà Nội những năm 1990, ngay đầu thời kỳ đổi mới. Ông có hơn 1500 bức ảnh chụp Hồ Gươm cũng vào cùng giai đoạn. Tôi thích lắm vì nó gợi lại cả một ký ức tuổi thơ khi tôi mới lớn, những thứ mà tôi đã được nhìn, nhưng chẳng bao giờ còn được nhìn lại. Ông thản nhiên nói với tôi rằng, Hà Nội là thành phố đẹp nhất châu Á không thể bàn cãi. Câu nói đó vô tình làm sống lại trong tôi tình yêu và kỷ niệm của quê hương. Tôi nhớ cái lạnh đầu đông Hà Nội. Tôi nhớ mùi hương ngọc lan. Tôi nhớ những con phố phủ đầy lá rụng trên vết rêu phong. Tôi nhớ chiều 30 Tết, tôi và em được cô đơn chiêm ngưỡng những vườn hoa đào bạt ngàn không bóng người ở Nhật Tân, những luống violet, hoa hồng, hoa cúc, hoa layơn muôn sắc. Cả Hà Nội đã bỏ trốn, để lại mình chúng tôi trên cánh đồng.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch như Paris, London hay những thành phố lớn khác mà tôi đã đi qua. Nhưng tôi chán ngán với những sự thanh lịch giả dối. Kết cục của sự giả dối là sự pha trộn tạp nham những điệu bộ kịch cỡm, những cái bắt tay hững hờ và những ngôn ngữ cử chỉ trần trụi, vô học. Và tôi không muốn nhìn thấy một Hà Nội là con rồng cất cánh vật vờ thiếu bản sắc giữa một thế giới của quy luật tư bản đơn điệu. Những kiến trúc hào nhoáng, những trung tâm shopping liên hoàn, và những ngọn tháp chọc trời không biến sa mạc Arập Xêút thành nơi hội tụ văn hóa. Những cây phong, cây bàng, cây cơm nguội, những mái nhà rêu phủ, những cô gái xinh đẹp như hoa lan, nụ cười trong như nước, với tôi đấy mới là Hà Nội. Ở nơi đây một cành hoa mai trắng mong manh trong vườn, một nụ cười thân thiện, những tiếng cám ơn giữa hai người không quen biết đã và đang biến mất dần. Làm thế nào để sống với Hà Nội mà không có những thứ đó ? Tôi chợt nghĩ đến một câu nói nổi tiếng mà không nhớ chính xác của ai: « Văn hóa là những gì học suốt đời vẫn không đủ. Văn hóa là những gì còn sót lại khi tất cả đã bị lãng quên ».

Đông A

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hà_Nội
Vũ Trung tùy bút, Phạm Đình Hổ. Bản dịch của NXB văn học 1972
http://www.sachxua.net/forum/index.php?topic=74.0
– Lịch sử của Hà Nội, Philippe Papin – Trường Viễn đông Bác Cổ, NXB Fayard, 2001 (Nguyên văn : Histoire de Hanoi)
(*) lời dẫn do biên tập viên thêm vào.

Đông A
Theo: Diễn Đàn Net




Phùng Nhân : Con Chó Với Người Mù

              Phùng Nhân

Hôm nay như thường lệ, hằng tháng tôi phải đi đến bịnh viện Concord NSW để gặp vị bác sĩ đặc biệt của mình; mặc dầu căn bịnh của tôi nay đã hết, có lẽ chỉ còn tái khám trong vài tháng nữa rồi thôi. Sau đó tôi sẽ tái khám định kỳ, có thể 3 tháng một lần, hay 6 tháng, hay một năm thì tôi chưa được biết. Vì mỗi lần sau khi khám vị bác sĩ thường mỉm miệng nở nụ cười, khi tìm đọc trên bảng kết quả thử máu của tôi, rồi bắt tay chúc mừng cho tôi đang chịu thuốc…

Sau mỗi lần tái khám như vậy thì tôi đi ra ngồi trước cổng bịnh viện đón xe đi ra ga xe lửa Strathfield, đón chuyến xe lửa đi trở ngược trở về ga xe lửa Cabramatta, rồi đón xe Bus đi thêm một chặn nữa mới tới nhà, nên thường thì một lần tái khám là tôi phải đi gần hết một ngày trời chớ không có ít!

Nhưng hôm nay trên băng ngồi đợi, tôi lại thấy một người mù trạc chừng 30 tuổi, cùng với một con chó dẫn đường đang nằm gác mỏm đợi xe, mà trên gương mặt rất thản nhiên chớ không có điều chi lo lắng. Làm cho tôi chạnh lòng nhớ lại một câu chuyện cách nay cũng hơn 20 năm rồi chớ không có ít, đã xảy ra ở trên đất nước Việt Nam của tôi vào giữa năm 1976…

     Hồi đó sau khi miền nam thất thủ, tôi vẫn còn là một thanh niên khỏe mạnh yêu đời, cho nên tôi không hề nề hà bất cứ công tác nào nếu được cấp chĩ huy phân công chỉ định, nhờ vậy tôi mới có cơ hội lội đi chích ngừa bịnh dịch tả khắp cả một vùng khi đất nước miền Nam khi vừa im tiếng súng. Toán chích ngừa của tôi gồm có 3 người, bắt đầu từ xã Tân Hiệp quận Bến Tranh, chích ngừa dài vô tới tận xã Phú Mỹ, rồi từ kinh Nguyễn Văn Tiếp bọc ra đụng xã Bà Tồn, nhưng tổ chích ngừa chúng tôi phải tự túc đóng ở nhà dân, nhờ vậy mà chúng tôi mới có dịp tiếp xúc với những người dân, đã từng đội bom đội đạn trong suốt 21 năm trời chiến tranh giặc giả.

Nhưng ở ngay trong xã Bà Tồn nằm cạnh quốc lộ 4 Miền Tây làm cho tôi phải chứng kiến một cảnh quá đau lòng, đó là một ông lão mù và một con chó mực lông tuyền. Ngày nào cũng vậy khi mặt trời sắp lặn xuống khỏi chòm cây trước sân trường học, thì ông lão và con chó cũng dắt nhau về trường học đó để đóng đô. Thoạt đầu chắc mấy người du kích xã cũng không ai để ý, vì hằng ngày họ còn phải bận tâm để xét xe đò, xe Lam, xe Honda, xe đạp để chận bắt gạo và tôm khô, cùng với hằng trăm thứ mặt hàng khác mà chánh quyền mới họ đang ngăn cấm. Cho nên ông lão mù và con chó rất ung dung, hằng ngày vẫn sống với cái lon nhôm từ tâm của những người bố thì, khi thì vắt xôi, khi thì trái bắp, khi thì củ khoai cũng tạm nuôi sống qua ngày, nước da của ông lão mù cũng bắt đầu mỡn ra, vì ăn uống có phần tạm đủ. Còn con chó thì lông lá vẫn mượt mà, có lẽ đó là loại chó lông tuyền nên rất dễ bắt mắt cho những người ăn nhậu say sưa, nên trong đám du kích đã có người dòm ngó.

Rồi vào một buổi chiều như thường lệ sau khi hùn gạo lại để nấu cơm ăn xong, tôi và thằng Tài rủ nhau đi dạo mát. Khi chúng tôi đi ngang qua trường tiểu học Bà Tồn, thì thấy có hai người du kích đang sân si với ông lão mù một cách rất dã man; động tánh hiếu kỳ bất chấp hiểm nguy, tôi và thằng Tài rủ nhau ghé lại xem coi việc gì đang xảy ra cho biết.

Trước mắt tôi là ông lão đang quỳ ôm con chó, để van lạy hai thằng du kích xin được sự sống còn, vì nếu hai ông mà bắt con chó đem đi, thì tôi đâu còn ai để dẫn đường xin ăn độ nhựt. Nhưng hai thằng du kích vẫn với gương mặt lạnh như tiền, đã hườm sẵn khẩu súng trên tay, dường như tụi nó đang đối phó với kẻ thù thuộc loại ác ông thứ dữ. Hai bên cứ lời qua tiếng lại một hồi, ông lão mù thì nhứt định lấy sinh mạng của mình ra để che chở con chó trong lúc nguy nan, còn hai thằng du kích thì cứ đứng canh chừng đợi con chó hở ra thì nổ súng. Cuối cùng rồi một thằng du kích đã phán xuống một câu:

– Chúng tôi đã theo dõi ông lâu lắm rồi. Ông là nhân viên CIA của Mỹ, làm bộ giả đui để đi dọ thám, cho nên ở trên chỉ thị xuống phải bắt giết con chó của ông, để xem ông còn đui nữa hôn cho biết.

  Ông lão mù nói qua màn lệ:

– Tôi đui nay cũng đã mười mấy năm rồi trong một tai nạn xe hơi, chớ tôi đâu có biết CIA là cái gì mà mấy ông nói vậy. Nếu không nhờ có con chó Mi Nô nầy dẫn đường thì tôi đã chết đói từ lâu, vậy mấy ông thương mà tha cho làm phúc. Chớ tôi là một kẻ tật nguyền, không vợ không con, thì tôi biết làm nghề gì để mà nuôi sống!

Một thằng du kích gằn giọng nói:

– Ông muốn sống bằng nghề gì đó là chuyện của ông, nhưng chế độ nhà nước của chúng ta không cho phép ông đi ăn xin ngoài đường, chúng tôi báo cho ông biết trước có ngày thì ông sẽ bị hốt đi lên vùng kinh tế mới.

Sau khi nghe qua những lời đối đáp, làm cho máu nóng trong người tôi lại bốc lên, nên tôi vội vã bước tới che ngang rồi nói nhỏ:

– Xin hai ông thương dùm ông lão mù nầy, nếu bắt con chó mực nầy đi, thì ông lão đâu còn ai dẫn đường để đi xin ăn, vì ông ta đã mù lòa đâu có biết làm gì để mà sinh sống!

Nhưng thằng du kích đầu đội nón tai bèo, chân mang giép lốp vỏ xe nhìn tôi nói lớn:

– Ông mà biết cái gì mà cũng xen vô, lạng quạng chúng tôi nổi nóng còng ông luôn mới báo.

Nhưng tôi không sợ, tôi vẫn trả lời:

– Việc đó thì tùy ông, nhưng chánh sách của nhà nước hiện nay chưa có bắt mấy người mù đi về vùng kinh tế mới, cũng như chưa có lịnh cấm mấy người mù nầy không được xin ăn, vì đó là phương cách kiếm sống cuối cùng của những người tàn tật!

Hai thằng du kích lườm tôi một phát, rồi bọn chúng xốc khẩu súng lên vai, sau đó đi một hơi ra chợ, làm cho tôi cũng ngơ ngác hết vài vây, vì tôi cũng không ngờ trên thế gian lại có những con người độc ác như thế nầy, nên tôi ngồi xuống cạnh ông lão mù an ủi:

– Thôi ông cũng đừng buồn, ngày mai lo kiếm chỗ khác để xin ăn, chớ còn nấn ná ở đây tôi e bất tiện. Vì bọn chúng đã muốn bắt con chó của ông, cho nên nó mới kiếm chuyện chụp mũ lên đầu, vậy ông hãy đề phòng đừng tranh cãi với bọn chúng mà không có lợi.

Ông lão mù sau khi lấy tay chặm mắt rồi nói:

– Nhưng tôi lại biết đi đâu, trong khi bốn bề đều săn đuổi, còn tôi thì hai mắt bị mù, bây giờ tôi biết phải lam sao, chỉ có con chó để dẫn đường, vậy mà họ cũng nỡ toan bắt đem đi làm thịt!

Tôi an ủi tiếp:

– Hay là ông đi về bến xe Mỹ Tho, ở nơi đó khách thập phương lại nhiều, có thể mình dễ kiếm miếng ăn hơn. Chớ còn ở nơi đây là vùng quê hẻo lánh, rủi có bề gì chỉ khổ thân ông, vì thời buổi bây giờ đâu có ai dám bận tâm mà binh vực…

Ông lão mù sau vài giây trầm ngâm rồi nói nhỏ:

– Hồi trước giờ tôi vẫn sống ở đó chớ ở đâu, nhưng bây giờ ở ngay bến xe có ông trung úy Thông hiện làm trưởng đồn công an rất là độc ác. Chẳng những ông ta đã cấm mấy người mù ăn xin, mà ông ta còn lấy cây đờn guiltar của tôi đập bễ, rồi còn bắt nhốt tôi hết một đêm, làm cho tôi bị muổi cắn sần mình, bây giờ nhớ lại tôi đây còn kinh hãi. Cho nên bây giờ tôi chỉ còn có một con chó mực nầy, nếu ở đây người ta bắt nó đem đi làm thịt, thì tôi biết sống với ai. Nói xong rồi ông lão mù lại sa nước mắt lưng tròng, làm cho tôi cũng phải chạnh lòng thương hại muốn khóc theo, khi chợt nhìn thấy trong hai hóc mắt dường như đang sâu thăm thẳm muôn trùng, để chứa đựng cả một cuộc đời vất vã gian truân, mà ông lão mù phải cam tâm gánh chịu cho đến ngày nhắm mắt!

Tôi chép miệng thở dài rồi nói nhỏ:

– Vậy đêm nay ông phải cẩn thận, đừng để cho con chó nầy chạy ra ngoài, vì sợ họ đang rình rập quanh đây, rôi ông cũng không có cách gì để mà bảo vệ.

Ông lão mù nhìn tôi rồi hỏi lại:

– Vậy chớ chú là ai mà lại dám tỏ lòng tốt với tôi trong lúc nầy, chú không sợ họ thù ghét hay sao, chính nghĩa cử của chú làm cho tôi vô cùng cảm động.

Tôi bàng hoàng trong giây lát, rồi nói nhỏ:

– Chúng tôi cũng như ông đã sanh ra và lớn lên ở miền Nam nầy, nhưng bây giờ phải đành cúi mặt để nín thở qua sông, phải mang một túi thuốc đi xuống xã để chích ngừa dịch tả cho đồng bào, chớ tôi cũng không phải là một người cán bộ nằm vùng, nên tôi không có quyền hạn để bảo vệ cho ông như lòng tôi mong ước.

Sau đó tôi và thằng Tài đứng dậy ra về với tấm lòng bàng hoàng xúc động, nhưng chúng tôi cũng không biết phải làm sao; vì chúng tôi là những người công chức của chế độ cũ đang bị chế độ mới bắt đi đày, lẽ ra với những mảnh bằng mà tôi đang có, tôi không thể bị điều về xã để làm một công tác như một người cán bộ y tế nông thôn. Nhưng nếu tôi không chấp hành thì tôi phải hồi cư về quê làm ruộng, hoặc đi về vùng kinh tế mới trên xã Bà Bèo, mà ở đó hiện tại đất phèn chưa có thể trồng xuống một thứ cây gì sống nổi!

Sáng hôm sau toán chích ngừa chúng tôi bắt đầu đi chích vào trong xóm nhỏ, cặp hai bên bờ kinh Bà Tồn nhà cửa san sát khang trang, để chứng tỏ nơi đây là vùng đất rất là trù phú. Nhưng phần đông dân chúng ở nơi đây họ đang thờ đạo Hiếu Nghĩa rất hiền hòa, hằng đêm họ phải tự nguyện ngồi cúng một thời kinh, cho nên trên gương mặt của họ rất là bình thản, chớ không có dấu hiệu lo toan, khi cuộc sống xung quanh mỗi ngày đang vây khổn.

Rồi một ngày làm việc chích ngừa cũng qua mau, khi bóng mặt trời đã ngả lần về tây, thì toán chích ngừa của chúng tôi rút lần ra lộ đá. Tôi và thằng Tài thì được ông chủ tịch xã gởi cho ở tạm tại nhà ông Bảy có đầu tóc cũng đang thờ đạo Hiếu Nghĩa, còn cô Loan thì được gởi đến ngủ nhờ ở nhà của bà chủ tịch hội phụ nữ xã Bà Tồn, nhờ tấm thân con gái có chút nhan sắc mặn mà, nên cô Loan lúc nào cũng sung sướng no nê, khi đã lọt vào cặp mắt thèm thuồng của những đứa con trai đang làm du kích xã.

Tắm rửa vừa xong thì trong dạ tôi lại bồn chồn khó chịu, dường như tôi đã linh cảm có một chuyện gì đang xảy đến cho ông lão mù, nên tôi biểu thằng Tài thôi bữa nay mầy ở nhà lo nhúm lửa nấu cơm, còn tao phải lội ra ngoài trường học một chút. Thằng Tài biết ý nhìn tôi rồi căn dặn:

– Mầy đi ra ngoài đó nếu thấy chuyện gì trái tai gai mắt thì cũng phải ráng dằn xuống nghe hôn, chớ mầy mà can thiệp ẩu thì có ngày nó bắt mầy đi cải tạo mút mùa lệ thủy. Tới chừng đó chỉ còn có nước cầm cây cuốc kêu trời; vì thời buổi bây giờ thân ai nấy lo, lạng quạng thì chết chùm mới khổ!

Tôi không nói không rằn, nhét vội gói thuốc lá thương nghiệp vào trong túi áo ra đi, mà trong lòng lại vẫn vơ lo sợ. Từ nơi nhà ông Bảy, rồi tôi leo lên móng cầu Bà Tồn mới quẹo trái vào trường tiểu học. Nhưng khi tôi tới nơi thì ông lão mù đang ngồi khóc hu hu, còn con chó mực ở nơi đâu mà tôi không nhìn thấy, làm cho tôi cũng chạnh lòng, khi đoán được một phần của hoàn cảnh ông lão mù đã xảy ra.

 Đợi cho qua cơn xúc động, rồi tôi ngồi xuống bên ông hỏi nhỏ:

– Con chó mực đâu rồi, tại sao ông khóc?

Ông lão mù nức lên một tiếng lớn rồi nói:

– Tụi nó đã bắt con chó của tôi làm thịt rồi!

Tôi hỏi tiếp:

– Ai bắt?

Ông lão mù đáp:

– Mấy thằng du kích…

Tôi hỏi nữa:

– Chúng nó bắt hồi nào?

Ông lão mù ngó qua tôi rồi kể:

– Hồi sáng nầy khi tôi và con chó đang ăn xin trong chợ Bà Tồn, khi đó chắc cũng được vài củ khoai, thì bất ngờ có mấy tên du kích xuất hiện, tiếp theo sau đó là một loạt đạn nổ vang, con Mi Nô rên lên vài tiếng rổi dảy chết!

Kể xong ông lão mù lại khóc rống lên vô cùng thảm thiết, khiến cho tôi cũng phải chạnh lòng nhưng không biết phải làm sao, nên tôi xoa lên vai ông rồi nói:

– Tôi cũng đoán trước chuyện đó phải xảy ra, vì tụi nầy đang thèm thịt chó, nên ông cũng khó lòng bảo vệ trước những cơn đói khát thèm thuồng. Thôi ông hãy ráng dằn lòng lại, đợi mai mốt đi kiếm một con chó khác về nuôi. Chớ còn bây giờ ngồi đây khóc lóc, rồi đêm tối tụi nó nhậu say, tìm đến ông để giết luôn thì uổng mạng!

Ông lão mù lại nức lên rồi nói:

– Nhưng con Mi Nô nầy đã ở với tôi từ nhỏ cho tới bây giờ, mất nó là tôi mất thêm nửa phần thân thể. Không phải con chó nào cũng khôn và trung thành như con Mi Nô nầy đâu, tội nghiệp cho nó hồi sáng nầy dường như nó đã linh cảm một điều gì, cho nên nó muốn dắt tôi đi vào trong xóm nhỏ. Nhưng tôi nghĩ buổi sáng sớm mình tạt vào chợ xin ăn thì chắc dễ dàng hơn, đến trưa thì mình đi xin trong xóm cũng được chớ không có gì gấp gáp. Tôi cũng không ngờ đó là một lần đi vĩnh biệt với tôi, nên bây giờ nhớ lại tôi vô cùng ân hận!

Tôi ngồi nói chuyện với ông lão mù thêm một hồi nữa rồi đứng dậy ra về, tôi cũng không quên gởi lại cho ông một chút đỉnh tiền, và khuyên ông ta hãy tạm thời gắn gượng để sống qua lúc nầy, vì ông có khóc lóc than van, cũng không làm động lòng cho những con người cuồng tín.

Tôi đã thất thểu đi trở ra bờ lộ, nhưng trên khóe mắt tôi giòng lệ nóng đã dâng trào, khi nghĩ tới cái cảnh quạnh hiu của một ông lão mù, rồi đây còn ai để dắt đi ăn xin trong xóm nhỏ. Không biết cuộc sống của ông lão rồi sẽ ra sao, khi đất nước hiện giờ đang đói khổ, thì làm sao người ta xúc động được mối từ tâm, để bố thí cho những kẻ ăn mày, thì ông lão mù nầy làm sao sinh sống!

Khi về đến nhà tôi và thằng Tài vừa và được vài miếng cơm, thì cô Loan lại đến nhìn chúng tôi vui cười rồi nói:

– Hai anh bữa nay ăn cơm với gì đó?

Tôi cười mỉm trả lời:

– Khô cá lù đù với rau lang luộc của ông Bảy mới cho. Còn cô Loan ăn cơm với gì mà trông vui thế?

Cô Loan ngồi xuống kế bên tôi rồi nói:

– Bữa nay em được bà chủ tịch hội phụ nữ đãi cho một bữa thịt chó hon, ăn với cơm nếp nên ngon thôi hết biết…

Vừa lúc đó thì ông Bảy chủ nhà lại xen vô nói:

– Hèn chi. Hồi sáng nầy tôi đi lại đằng ủy ban để xin một giấy phép đi đường, thì đã thấy mấy ổng đang thui một con chó coi mòi mập quá.

Tôi nhìn ông Bảy, rồi nhìn qua cô Loan nói nhỏ:

– Đó là con chó của một ông lão mù, đã từng dắt ông ta đi ăn xin trong mấy năm qua, bây giờ hiện tại ông lão đang nằm vật mình khóc than nơi trường tiểu học.

Ông Bảy ngạc nhiên nhìn tôi hỏi lại:

– Bộ chú Năm đã biết trước việc đó rồi hả?

Tôi buồn bã trả lời:

– Cháu mới vừa ở đằng trường tiểu học để an ủi ông ta, vì cháu đã biết trước khi ngày hôm qua đã tình cờ đi ngang qua đó.

Ông Bảy bập thêm một hơi thuốc nữa rồi nói:

– Hèn chi hồi sánh nầy trong lúc đang thui, thì ông chủ tịch xã với ông bí thư chi bộ, cùng với mấy người cán bộ ban ngành, họ đang chia thịt vơi nhau, có người lại còn kỳ kèo với nhau một khúc lòng, để đem về làm món rựa mận…

Tôi cố và thêm vài chén cơm lạc nữa rồi thôi, chớ tôi không còn lòng dạ nào để lo ăn uống. Qua ngày hôm sau toán chích ngừa của chúng tôi được lịnh gọi về điều xuống chích ngừa dịch tả ở dưới Gò Công, rồi 4 năm sau tôi tìm đường vượt biển, không biết ông lão mù giờ đã ra sao, chắc là ông ta đã hóa ra người thiên cổ, còn ông Bảy đạo Hiếu Nghĩa bây giờ có còn mạnh giỏi hay không, hay là ông đã nhắm mắt xuôi tay về với ông bà, đã để lại cho đời bao sự tiếc thương với một tấm lòng nhân hậu.

Còn tôi thì phải trôi dạt đến sống ở đất nước Úc Đại Lợi nầy, tuy tuổi tác cũng chưa hẳn là già, nhưng vì làm việc quá vất vã bây giờ đã mang trong người quá nhiều bịnh tật. Ngày hôm nay tôi phải ngồi đây, để đón một chuyến xe Bus để đi ngược ra ngoài ga xe lửa Strathfield, rồi đón tiếp xe lửa đi về Cabramatta mới tới nơi cư ngụ, đã che chở cho tôi sống hết một quảng đời thừa, mà nhiều khi gần tết tôi nhìn cây mận, cây xoài, rồi nhớ về xã Lộc Thuận huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre, nơi chôn nhao cắt rốn bâng khuâng không sao ngủ được!

Trong lúc tôi còn đang hoài niệm để nhớ về quê hương đất nước của mình, thì người mù và con chó cứ thản nhiên ngồi đợi, dường như ông ta không cần biết đến thời gian đang lặng lẽ trôi qua. Thỉnh thoảng ông ta lại hát lên một bài hát bằng tiếng Anh rất là quen thuộc, rồi ông ta lấy tay rờ xuống đầu con chó, dường như đó là một cử chỉ nựng nịu mỗi ngày, nên con chó cũng lim dim, rồi đôi mắt hiền từ mơ màng nhắm lại.

Cũng có vài bà mở giỏ xách lấy vài cái bánh lạt đem đến cho con chó nằm ăn, rồi họ lại rờ đầu để cho con chó ngoắt đuôi tỏ ra thân thiện. Còn người mù thì thỉnh thoảng nói tiếng cám ơn, khi anh ta đã biết được con chó đã gây được sự cảm tình tốt đẹp với mọi người, nên trên gương mặt lại nở một nụ cười rất là mãn nguyện.

Thấy vậy tôi muốn làm quen nên hỏi nhỏ:

– Con chó nầy thuộc giống chó gì mà trông nó đẹp quá vậy ông?

Ông ta cười mỉm trả lời:

– Giống Lambardore khôn lắm…

Tôi lấy tay rờ lên mình con chó rồi hỏi tiếp:

– Ông bạn đi xe số mấy?

 Người mù trả lời:

– Xe số 461. Còn ông?

Tôi vỗ vai ông ta nói:

– Cùng một số xe với anh. Tôi xuống tại ga xe lửa Strathfield, rồi từ đó tôi lên xe lửa đi tiếp về ga Cabramatta.

Hai chúng tôi ngồi làm thinh một hồi, rồi ông ta hỏi:

– Vậy chớ bạn đến đây từ nước nào?

Tôi chậm rãi trả lời

– Đến từ Việt Nam. Còn anh?

Người mù sau vài tiếng thở ra dường như để nhớ về dĩ vãng, rồi ông ta nói nhỏ:

– Tôi là người Úc, sanh lớn lên ở đây. Nhưng đã bị mù lòa, từ khi tôi vừa lên 9 tuổi.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Anh bị bịnh, hay là bị trong trường hợp nào?

Ông ta ngước lên rồi nói nhỏ:

– Trong một tai nạn xe hơi…

Hai chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau thêm một hồi, thì chiếc xe Bus đã chạy tới rồi stop ngay tấm bảng. Tôi còn đang dự định để nhìn xem, làm thế nào người mù sẽ biết được chiếc xe Bus đó mà ông ta đang đón, thì con chó lại kêu lên tiếng kêu hư hử, dường như đó là một tín hiệu rất quen thuộc cho nên người mù cũng chuẩn bị đứng lên, rồi ông ta nói:

– Chắc ông bạn cũng đi chuyến xe nầy chớ?

Tôi vỗ vai ông ta rồi nói nhỏ:

– Vâng…

 Khi hai chúng tôi bước lên chiếc xe Bus, tôi mới để ý thấy con chó dắt người mù rất khôn ngoan, luôn tỏ ra vẩy đuôi để tỏ dấu thân thiện với tất cả mọi người, rồi nó dắt người mù tìm đến một băng ghế còn trống, rồi nó nằm xuống dưới gầm xe một cách hiền từ. Thấy còn một chỗ ngồi, nên tôi bước theo rồi ngồi xuống; con chó ngước mỏ lên rồi liếm vào tay tôi, trong giây phút đó làm cho tôi thật xúc động bùi ngùi. Khi tôi nghĩ tới hoàn cảnh của một người mù, chỉ có sống với trực giác xung quanh, chớ không thể nào nhìn thấy cuộc sống ở bên ngoài, vậy mà họ cũng vẫn thản nhiên vui sống.

Ngồi trên chiếc xe Bus chạy được một hồi, tôi hỏi:

– Con chó nầy được bao nhiêu tuổi rồi ông?

Ông bạn mù vui vẻ trả lời:

– Chắc trên 5 tuổi…

Tôi rờ đầu con chó rồi hỏi tiếp:

– Ông mua nó ở đâu, mà nó khôn quá trời quá đất dữ vậy?

Người mù dường như đang thỏa mản với một vật sở hữu của mình, nên ông ta mỉm cười rồi nói:

– Trong hội người mù họ cấp cho mình đó chớ. Chớ giống chó nầy nó mắc lắm ông ơi, muốn nuôi nó để trở thành một người bạn dẫn đường, thì phải bỏ vô trong trường huấn luyện rất là nhiều khóa…

Tôi hỏi tiếp:

– Còn chế độ nuôi dưỡng thì sao?

Anh ta nhỏ nhẹ trả lời:

– Cũng ở trong hội họ lo cho mình, từ việc chích ngừa cho tới dắt đi khám hằng năm, nên những con chó loại nầy đã có hồ sơ về bịnh án. Nếu nó bị cảm cúm hay đau yếu bất thường, mình gọi phone tới nhà thương thú y thì sẽ có người ta đi đến nhà chăm sóc.

 Chiếc xe Bus vẫn chạy trên một lộ trình nhứt định, con chó cũng yên phận mình nằm ở dưới sàn xe, thỉnh thoảng hàng lông bờm của nó cũng rung lên theo nhịp lắc. Còn đôi mắt thì cũng muốn lim dim, khi cơn gió từ bên ngoài cửa xe đang hiu hiu thổi tới, nên trông gương mặt của nó thật hiền từ, chớ không có dữ dằn như những con chó ở phi trường đang hửi hơi để tìm những gói xì ke, mà mỗi lần tôi có dịp đi ra phi trường cũng đều nhìn thấy.

Rồi chiếc xe Bus cũng chạy về tới nới bến đậu, tôi vội vàng bắt tay từ giả ông ta. Rồi tôi bước xuống đường hầm, để đi qua đường lane số 5 đón xe về lại ga Cabramatta, còn ông ta thì đi ngược trở lại đường lane số 3, để đi về một vùng ngoại ô nào khác.

Bỗng dưng trong lòng của tôi lại dưng lên một niềm xúc động bồi hồi, khi tôi bắt gặp hai hóc mắt sâu hoắm đang ẩn dấu sau cặp kiếng râm, mà ông ta phải chịu đựng đến suốt đời, cũng có thể ông ta đang tìm niềm vui riêng bên con chó!

Trên đường trở về nhà tôi cầu mong cho ông ta được bình an, mỗi khi đi đâu hay bước qua đường con chó phải biết khôn ngoan chờ đèn xanh rồi mới dắt. Đừng có một kẻ nào lại nỡ nhẫn tâm, khi nhìn thấy con chó đẹp rồi nổi lòng tham rình bắt trộm. Mặc dầu ở trên cái xứ nầy người da trắng không ai ăn thịt chó, nhưng thỉnh thoảng cũng thấy đăng báo tìm chó lạc đó sao, đó là trong những phút tủi lòng, tôi thật sự cầu mong cho ông ta tìm được nguồn vui trong cuộc sống tối tăm.

Trong phút giây bàng hoàng đó làm cho tôi nhớ lại cách nay chừng một tháng. Tôi đã có xem một cuốn phim với tựa đề : Sàigòn – Hà Nội Dân Chơi Thứ Thiệt. Từ vỉa hè cho đến mấy chỗ cao lâu, ở đâu cũng thấy người ta lo ăn nhậu, mà phải nhậu thịt rừng, toàn là những con vật sắp bị diệt chủng tới nơi, mặc dầu hội bảo vệ thú vật thế giới đã nhiều lần lên tiếng can thiệp. Nhưng có lẽ cũng không hiệu quả được bao nhiêu, vì hiện nay những kẻ làm ăn phi pháp có chức có quyền, thì họ cứ cho rằng hễ càng ăn thịt những con vật hiếm quý hiện giờ, thì sẽ giúp cho họ tăng cường thêm sinh lực trong việc gối chăn, cho nên họ cứ việc vung tiền qua cửa sổ…

Rồi cuốn phim đó chiếu qua cảnh đảo khỉ ở Nha Trang, thì ở nơi đây tôi được chứng kiến một cảnh rất hãi hùng, đó là một tốp cán bộ cao cấp của nhà nước đang ăn óc khỉ. Con khỉ được trói thúc ké hai tay chỏng ngược về lại phía sau, rồi họ bỏ vào trong một cái hộp bằng cây vừa khích, để cho con khỉ lòi cái sọ khỉ ra ngoài. Sau đó người bồi bàn họ đem lại bàn một dĩa muối tiêu chanh, rồi họ khoa lưỡi dao bén lên vớt ngang qua sọ khỉ. Những người khách man rợ đó, họ thong thả lấy cái muỗng đưa vào, rồi họ múc từng muỗng óc khỉ đưa lên miệng để ăn; rồi họ uống từng hớp rượu trắng mà trên gương mặt của họ trông rất là thú vị. Nhìn cảnh đó tôi thấy buồn lòng, dân tộc tôi bây giờ dã man đến độ vậy sao? Hay là mấy ông lớn đang ỷ có chức có quyền, rồi họ đòi hỏi phải có những món ăn như thời vua chúa!

Thế mà ngày hôm nay bỗng dưng mấy thước phim đó, lại làm sống trong ký ức tôi một cách mãnh liệt rất tình cờ, làm cho tôi chạnh nhớ lại cảnh một người Úc mù cùng với một con chó dắt đi đường, sao lúc nào tôi cũng thấy mọi người dành cho một cảm tình rất là nồng ấm, chớ chưa bao giờ có một người nào đó ao ước có được củ riềng, cùng với một cặp dừa khô, để đủ bộ tam xên đưa linh con chó đi đầu thai làm kiếp khác!

Ngồi suốt trên chuyến xe lửa mà đầu óc tôi cứ suy nghĩ vẫn vơ, tôi cầu mong cho dân tộc tôi hãy bỏ đi cái tật ăn thịt chó. Vì đó là một con vật có nghĩa rất trung thành, nó đã biết mừng rở vẩy đuôi, khi thấy người chủ nhà mỗi khi đi đâu về khuya khoắt. Cũng như với người mù hồi nãy, nếu không nhờ con chó dẫn đường thì ông ta không biết phải làm sao, trong khi đó trước mặt của cuộc đời chỉ là bóng tối. Chỉ có con chó mới thật sự trung thành, bất kể thời tiết nắng mưa, hễ người mù muốn đi đâu thì nó mừng rở vẩy đuôi rồi dắt người mù đi đến nơi về đến chốn. Một con vật khôn ngoan như vậy mà nỡ ăn thịt sao đành, đó là một điều nhức nhối mà tôi vừa mới chợt nhận ra, nhưng tôi cũng chỉ biết nén tiếng thở dài, khi nghe mấy người bạn nhậu tranh nhau kể về mấy món ngon thịt chó./-

                                                                                                                                Phùng Nhân




Phùng Nhân : HẦM CÁ VỒ VỚI MARY

HẦM CÁ VỒ VỚI MARY
Phùng Nhân

Anh Mai Cồ Tửng (Michael) lần đầu tiên về lại Việt Nam, anh nghe lạc lõng bơ vơ như một người ngọai quốc. Bởi vì ngày anh rời khỏi đất nước Việt Nam ở lứa tuổi 15, cho nên anh chưa ý thức được chế độ chánh trị và đời sống hiện giờ, mà anh đi vượt biển theo kiểu ăn có với người Hoa Kiều, khi gia đình anh đóng vàng cho người chủ ghe, rồi họ dắt anh đi như một người Ba Tàu chánh hiệu.

Sau những năm học trung học ở xứ Úc Châu nầy, anh bắt đầu ăn quen với những cái bánh Mc Donald, hay KFC mà họ quảng cáo đầy đường, nên cái tuổi như anh ăn vài lần thì bén mùi bén vị.

Rồi anh nghỉ học, đi làm như bao nhiêu người khác hiện đang tạm cư ở đây. Bởi tiếng Anh một khi học nó hết vô rồi, cho dù có nhồi nhét bao nhiêu cũng đều quên hết. Nhưng rồi sức vóc mỗi ngày một lớn, việc đòi vợ cũng là một việc hết sức tự nhiên của con người. Nhưng ai đã từng sống ở nước Uùc vào những năm 1975 cho tới năm 1985, thì mới thấy việc lấy được một cô vợ Việt Nam đâu phải dễ. Có khi chỉ có một đứa con gái, mà có tới cả chục thằng giành. Mấy ông già nào ở vào thời đó, nếu may mắn có được một đứa con gái, thì  sẽ được mấy đứa thanh niên vác bia tới nhà mời “bác” nhậu vậy thôi mệt nghỉ…

Trong khoảng thời gian đó, mấy đứa thanh niên người Việt tỵ nạn tới tuổi muốn vợ cũng không biết lấy ai, thôi thì lấy đại một con vợ Úc hay thổ dân cho rồi. Chớ còn muốn lấy con gái Việt Nam, thì biết ở đâu mà kiếm!

Cũng chính vì niềm đau thầm kín đó, mà cậu Mai Cồ Tửng phải đành lấy vợ Úc, cho nên gặp cảnh ngôn ngữ bất đồng. Nhưng được có cái con nhỏ nầy nó cũng chẳng so đo, nhờ vậy mà cuộc sống của gia đình cũng ấm êm hạnh phúc.

Cái ngày mà hai đứa quyết định sống chung vô cùng quan trọng, con Mary nó bắt buộc Mai Cồ Tửng phải tiến hành thủ tục như Tây. Là hai đứa phải dắt nhau ra ngòai Park, rồi nó ngồi dựa ngữa trên một cái ghế đá công viên, còn anh ta thì qùy gối đầu cúi xuống đất để xin được cưới em và đeo nhẩn. Thủ tục như vậy mà cũng rầy rà, bởi thằng con trai mà qùy gối cầu hôn, thì sau nầy thế nào cũng mang trong người chứng bịnh sợ vợ suốt đời là cái chắc.

Thế rồi trong năm nay má anh gởi thơ qua thúc giục biểu về, để cho bà được gặp mặt con dâu, thì bà mới yên lòng mà nhắm mắt mà lià xa dương thế. Cho nên anh phải quyết định dắt Mary về Việt Nam thăm lại mẹ già. Cũng chính vì thế mà anh đi mua vé máy bay không một chút đắn đo. Trong khi đó thì khối cộng đồng người Việt hải ngoại hiện giờ lên án rất gắt gao, cho rằng những người đi du lịch về Việt Nam là đã phản bội lại quốc gia dân tộc. Chớ họ có biết đâu rằng, đã là con người sinh ra, thì làm sao quên được quê hương nguồn cội của mình, thì việc trở về thăm lại mẹ già, đó cũng là một điều nói lên tấm lòng hiếu thảo của một người con.

Trước khi đi thì Mai Cồ Tửng có mời bạn bè lại nhà để làm một tiệc tẫy trần. Có người khuyên anh nên để dành tiền gởi về cho bà gìa xài, hoặc cất nhà hay mua xe cộ thì lợi hơn, chớ còn đi về bển trở qua rồi hối hận. Bởi vì ngoài tiền vé máy bay ra, sẽ còn vô số tiền phí tổn khác nữa…

Trong một bữa tiệc vui đang hồi bốc khói, bởi hơi Beer đang phả kín một vùng, thì thằng Tấn Bộng đang làm chung một hãng với Mai Cồ Tửng cất tiếng hỏi:

– Vậy chớ mầy có đánh điện về Việt Nam, biểu bà gìa làm sẵn cai Toilet cho vợ mầy chưa? Chớ còn tụi đầm mũi lỏ mắt xanh nầy, thì nó làm sao đi cầu trên hầm cá vồ cho được. Lạng quạng thì nó bị cá vồ táp rụng lông háng như chơi, cả vùng Cái Bè của mầy tao biết hết, tìm đâu ra được một cái Toilet trong nhà. Chi bằng mầy đánh điện về bên đó, biểu lo làm trước để sẵn đó đi, chớ đợi tới mầy đem con vợ đầm về tới xứ rồi, thì việc ỉa đái cũng rất là phiền phức.

Mai Cồ Tửng cười ruồi, rồi đáp nhỏ:

– Bữa nay cận quá, có làm cũng không kịp. Về tới bển có kẹt quá, thì tao cho bả đi bô, hay là tao biểu bà chị của tao, làm ơn dắt con Mary tập đi cầu cá vồ dùm tao chắc được.

Cả bàn tiệc cưới lên như đàn ong vở tổ. Thằng Tấn Bọng nói tiếp:

– Tối nay mầy phải sinh hoạt trước với bả, là bên xứ của mầy hiện nay bà con mình còn đi cầu trêân hầm cá vồ, chớ khôâng phải như ở bên nây, đi cầu tiêu máy xong rồi bấm nút xả nước là xong. Còn đi cầu cá vồ khi ngồi xuống, rặn xong thì phải coi chừng, mấy con cá thấy cái đít của vợ mầy trắng quá, tụi cá giành coi rồi quẩy nước văng lên, biểu nó phải liệu hồn mà xách cái quần đứng lên cho kịp lúc…

Mai Cồ Tửng bưng ly Beer lên hớp, rồi để xuống nói:

– Tao đã dạy cho bả nhiều thứ lắm, nhứt là tiếng Việt. Nhưng bình thường khi nói chuyện với tao, có lúc bả nói nghe cũng được. Tao chỉ sợ khi đụng chuyện, bả xổ toàn là tiếng ăng lê khôâng quá…

Vợ Mai Cồ Tửng là Mary nghe lén được, bèn nói:

– Cám ơn mấy ông anh đã có lòng tốt lo cho em. Nhưng anh Tửng đã lo cho em nhiều thứ lắm, thương chồng em phải lụy cùng chồng. Mắm nêm mà em còn ăn được, thì hà tất gì đến việc đi cầu cá vồ. Khôâng chừng tới chừng đó, em còn thích thú nữa là khác.

Cả bọn cười ồ lên, rồi đồng thanh bắt buột mỗi thằng phải uống cạn một lon, để ăn mừng văn hoá chồng chuá vợ tôi của mình còn được phát triển trêân nước Úc. Càng về khuya, tiếng mở nắp Beer nghe lắt cắt nhiều hơn là tiếng nói. Những lon Beer khôâng xếp lớp trong thùng, đã tạo ra một bầu khôâng khí vô cùng thân thiết, cho những người đã lìa bỏ xứ sở quê hương. Ông thì say mèm ngồi gục tới gục lui, ông thì âm thầm lấy chìa khóa ra mở cửa xe vọt lẹ.

Đợi cho mọi người ra về hết. Mai Cồ Tửng lo dọn dẹp lại bàn ăn. Bởi người Việt Nam mà lấy vợ Úc, thì kể như mọi việc trong nhà đều do thằng chồng làm hết. Còn con vợ đầm, thì nó chỉ có việc nằm đó phơi nây chờ Sex, chớ đời nào mà nó chịu dọn dẹp như người đàn bà Việt Nam bổn xứ của mình, mỗi khi trong nhà có mở ra đám tiệc. Căn nhà về khuya cũng lặng lẽ âm thầm, khi sương khuya bắt đầu nặng hột. Mai Cồ Tửng nằm xuống thì ngủ một giấc mê mang, còn Mary thì đang lo lắng trong lòng. Bởi cô ta đã nghĩ, chỉ còn có một tuần lễ nữa thì sẽ về tới Việt Nam, một đất nước mà chiến tranh đã xảy ra trên hai mươi năm mới vừa chấm dứt. Liệu rồi đây, mấy người chánh quyền ở đó, họ sẽ nhìn những người như cô ta bằng cặp mắt như thế nào. Nhưng rồi cô ta cũng phải đi thôi, bởi đó cũng là tiếng gọi thiêng liêng, của đạo vợ chồng mà cô ta đã vừa nếm trải.

***

Sau những ngày chờ đợi, thì hai vợ chồng Mai Cồ Tửng cũng ngồi trêân chuyến bay Qantas đi từ phi trường Sydney về thẳng tới Việt Nam. Khi chiếc máy bay vừa quay mũi hướng ra biển thì cũng được nửa đường, nên mấy người chiêu đãi họ lo cho bữa ăn trưa, khiến cho mấy trăm hành khách trêân chuyến bay bắt đầu thức giấc. Mary và Mai Cồ Tửng tự nãy giờ đã bàn tính với nhau rất nhiều chuyện gia đình, chẳng hạn như con dâu khi gặp bà gìa chồng thì phải làm sao, chớ không phải như ở cái xứ Úc Châu nầy, chỉ cần nói Hello thì kể như xong cái màn thưa thốt. Nhưng Mary trong dạ vẫn lo âu, bởi những hình ảnh người phụ nữ Á Đông ăn trầu, và cái đầu bới tóc làm cho cô ta hơi ngờ ngợ.

Rồi chiếc máy bay cũng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn một cách bình an, sau đó thì mọi người hành khách lật đật bước xuống cầu thang, leo lên chiếc xe Bus đang đậu sẵn để chạy vào ga trình giấy tờ xong rồi đứng sắp hàng chờ nhận hành lý.

Đây là lần đầu tiên Mary mới chứng kiến cái cảnh nầy, mọi người ai nầy cũng sắp hàng rồi móc cuốn sổ Passport cầm tay, nhưng phần đông họ đều có nhét một tấm giấy $10 hay nhiều hơn vào cuốn sổ Passport tùy theo hoàn cảnh mỗi người đang đứng sắp hàng chờ đợi. Trong số nầy lại có Mai Cồ Tửng cũng phải bắt buộc làm theo, bởi số phận người Việt Kiều vượt biển năm xưa, bây giờ chánh phủ Việt Nam họ đang dụ khị nâng lên là khúc ruột xa ngàn dặm trở về, nhưng đâu có người nào không sợ công an, khi nhìn thấy gương mặt của họ hầm hầm tỏ ra không thiện cảm.

Mary đứng nép sau lưng chồng một hồi, rồi cái hàng dài cũng lần lượt tới phiên. Người công an hải quan kiểm soát phi trường, sau khi lật cuốn sổ Passport ra thấy tấm giấy $20 thì ông ta lật đật đùa xuống nằm yên trong hộc bàn. Sau đó ông ta lại ngước lên mỉm cười, rồi hướng dẫn Mai Cồ Tửng điền thêm những ô còn trống. Có lẽ ông ta cũng hơi ngạc nhiên, khi thấy cái ông Việt Kiều nầy nhỏ con, vậy mà lấy được con đầm cao lớn chưn dài nầy cũng lạ…

Khi hai vợ chồng anh vừa bước ra khỏi phi trường, thì cơn nắng miền nhiệt đới dội xuống như một chão lửa than, làm cho Mary thấm mệt. Bởi không quen với khí hậu như vầy, nên Mai Cồ Tửng vẩy chiếc Taxi, rồi biểu tài xế chất valy lên cốp xe, sau đó biểu chạy về khách sạn Hữu Nghị tại bến Bạch Đằng.

Qua ngày hôm sau thì Mai Cồ Tửng đi ra sở bưu điện đánh điện tín về huyện Cái Bè để báo tin cho bà già ngày mai anh về đến. Suốt đêm hôm đó, làm cho anh thao thức trong giấc ngủ chập chờn, khi anh nhớ lại từng con đường làng dẫn vào vườn cây rợp bóng. Ở nơi đó, ngày xưa đã có những con trâu nghé chạy giỡn tung tăng dưới cây rơm còn thơm mùi rạ mới. Bây giờ biết có còn không, bởi đã trải qua bao nhiêu năm vật đổi sao dời. Trong phút giây bùi ngùi, làm cho anh nhớ nôn nao. Vì anh đã bó xứ ra đi kể ra cũng hơn 10 năm trời rồi chớ đâu có ít…

Sáng bữa sau thức dậy, Mai Cồ Tửng nghe nơi vùng thái dương hơi nằng nặng. Anh dắt Mary xuống Canteen uống Café và ăn điểm tâm. Mùi Café Buôn Ma Thuột tỏa ra thơm ngát một vùng, hình như trong hương vị còn nồng mùi đất đỏ cao nguyên, còn thơm muì mồ hôi dầu dải của người dân sơn cước. Mary sau khi hớp vài ngụm Café, rồi hỏi:

– Café nầy họ nhập cảng ở đâu về mà ngon quá vậy anh?

Mai Cồ Tửng đáp với vẻ tự hào:

– Café nầy là thổ sản của quê hương anh. Đâu Mary thử so sánh, coi có bằng của tụi Brasil không?

Mary hớp thêm một ngụm nữa, để nó thấm qua đầu lưỡi một hồi rồi nói:

– Café ở đây ngon hơn Café Brasil nhiều. Vị nó thơm mà dịu chớ không chát. Như vậy thì tại sao họ không xuất cảng ra bên ngoài thế giới hả anh?

Đây là một câu hỏi bất ngờ, nên Mai Cồ Tửng ậm ừ một hồi rồi nói:

– Hôm trước đọc báo. Anh nghe nói có hãng Café Trung Nguyên trụ sở ngoài Buôn Ma Thuột, cũng đang xin thủ tục xuất cảng nhưng không biết đến bao giờ mới xong.

Rồi anh ta nhìn xuống đồng hồ đeo tay, đoạn ngước lên giục:

– Nhanh lên đi Mary. Trễ lắm rồi, trả phòng xong thì mình nhờ bồi phòng kêu dùm một chiếc Taxi. Chớ từ đây về tới huyện Cái Bè, mình đi xe đò thì không tiện…

Trên đường đi từ Sài Gòn ra tới Phú Lâm, Mary thấy cái gì cũng lạ. Dân chúng họ cỡi xe Honda chạy trên đường như mắc cửi, chiếc nầy muốn đụng chiếc kia, vậy mà trên gương mặt của họ vẫn thản nhiên chớ không có gì là sợ hãi.

Chiếc máy chụp hình hiệu Canon được Mary đưa lên bấm liên tục, nhưng khi chiếc xe vừa chạy tới huyện Thủ Thừa thuộc tỉnh Long An, thì cô ta lại reo lên trong niềm vui thích thú, khi thấy một người nông dân đầu đội nón lá tơi, đang đánh cặp trâu cổ đi vòng quanh trên đụn lúa. Mary day qua Mai Cồ Tửng hỏi:

– Vậy chớ họ đang làm gì, mà đánh cặp trâu đi vòng tròn vậy anh?

Mai Cồ Tửng mỉm cười, rồi đáp:

– Người nông dân họ đang đánh trâu đạp lúa…

Mary nói với vẻ ngậm ngùi:

– Thời buổi nầy sao chánh phủ Việt Nam, không cải tiến nông nghiệp cho nó được tiến bộ hơn. Chớ còn bắt ông già, dang nắng như vầy mà năng xuất có được bao nhiêu!

Xe chạy thêm một đoạn đường nữa, bỗng nhiên có một hình ảnh hiện ra trước mắt làm cho Mary rất đổi xốn xang. Đó là một cảnh của hai vợ chồng nông dân, họ đang ngồi ăn cơm trong chòi vịt đã căng lên bằng tấm Nylon nơi mé lộ. Trong chòi vịt đó, đã có nhốt khoảng vài trăm con. Bộ lông ức vừa mọc ra lúng phúng, chung quanh được bao lại với những tấm liếp bện bằng phên tre vuốt mỏng, để giữ cho đàn vịt khỏi bị sút chuồng. Ông chồng ngồi ăn cơm trông mệt mỏi, có lẽ họ đang lo tới bầy vịt nầy khi nuôi lớn chừng một tháng nữa bán có lời hay không. Còn bà vợ thì ngồi thản nhiên, vạch vú ra cho con bú. Thằng nhỏ trong khẳng khiu, da nám đen nhíu lại nhưng chắc cũng hơi lớn tháng. Mary quay qua hỏi nữa:

– Họ sao trông khổ quá vậy anh? Đứa bé sao không gởi trong nhà trẻ, mà phải bồng theo dang nắng như vầy, và nó nút như vậy thì còn gì vú móm của người mẹ?

Mai Cồ Tửng buồn bã nói:

– Chắc gia đình đơn chiếc. Tháng nầy ai nấy cũng ra đồng, nếu đem gởi con, hay mướn người ta giữ thì tiền đâu mà trả. Bởi cái xứ nầy còn nghèo lắm em ơi!

Mary chặc lưỡi, than:

– Tội quá hả anh. Bên nước Úc Châu của mình, một con hưu con, một ngày tiêu chuẩn của nó là 16 lít sữa tươi, đó là chưa nói tới mấy thứ phí tổn khác…

Chiếc xe vẫn chồm lên lướt qua những ổ gà, quốc lộ 4 nầy là huyết mạch nối liền từ vùng Hậu Giang lên tới Sài Gòn. Tuy chính quyền hiện nay, có nới rộng ra, có tu sửa thêm nhiều chỗ. Nhưng hiện thân của nó, cũng là con đường quốc lộ ngày xưa. Nghe nói chánh quyền, đang có dự án để nâng cấp nó lên thành xa lộ…

Trong lòng Mary đang hổn độn, vừa thương cho đất nước Việt Nam sau hơn 10 năm thống nhứt chấm dứt chiến tranh, vậy mà đời sống của dân chúng cũng vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Mai Cồ Tửng vẫn nhắm mắt, dựa đầu vào nệm ghế. Thỉnh thoảng anh ta cũng hé mắt ra nhìn lại đất nước sau mười năm xa cách. Tình trạng vẫn y nguyên, có khi còn tồi tệ hơn nữa là khác.

Mary để yên cho chồng nằm nhắm mắt. Chị ta bắt đầu nhìn đất nước Việt Nam qua lăng kính của bà đầm. Khi chiếc Taxi chạy tới xã Tân Hội, ranh giới Mỹ Tho – Long An thì dưới ruộng nước có một bầy trâu và vài con nghé, xa xa còn có vài cánh cò bói cá thật nên thơ. Trên lưng trâu đưá bé trạc 12 tuổi ngồi vắt vẻo với chiếc roi tre, đầu đội cái nón đệm rộng vành bẻ cúp xuống bít phần gương mặt. Thích quá, Mary đưa máy hình lên bấm. Hy vọng đây là một tấm hình đồng quê sống động, mà cô ta đã từng mơ ước, xem đó là một tác phẩm nghệ thuật của mình. Bởi ở bên nước Úc chỉ có xa lộ và đồi núi mênh mông, chớ làm sao nhìn thấy một đứa trẻ đang ngồi trên lưng trâu trông nhàn nhã.

Khi chiếc xe Taxi vừa chạy tới thị trấn Trung Lương, Mai Cồ bừng tỉnh mắt. Anh ta biểu tài xế Taxi tốp lại, rồi anh hỏi Mary có muốn đi tiêu, tiểu gì không. Bởi đã ngồi trên xe Taxi tới mấy giờ đồng hồ rồi, chắc bây giờ cũng đang tới cử.

Nhưng Mary lại lắc đầu, chiếc xe Taxi tiếp tục chạy trên quốc lộ. Hai bên vườn cây, ruộng lúa lùi dần lại phía sau như một cơn sóng chạy dài. Khi chiếc xe chạy ngang qua huyện lỵ Cai Lậy, làm cho Mai Cồ Tửng nhớ lại ngày xưa. Trong lúc anh ta còn đang học bậc tiểu học ở đây, thì bỗng dưng có một trái hoả tiển 22ly không biết từ đâu bay tới, rồi nổ một tiếng long trời, làm cho học trò, cô thầy giáo lớp chết lớp bị thương không biết bao nhiêu mà kể!

Chiếc xe Taxi vẫn chạy với tốc độ đều đều, khi qua khỏi cầu Bà Tồn thì ngọn gió chướng thổi lồng lộng thốc vào mạn xe, bật ra những tiếng kêu u u như tiếng dều giấy thả bay trong mùa chướng.

Người tà xế Taxi hảm chiếc xe cho chạy chầm chậm, rồi quẹo theo hướng chỉ mũi tên vô huyện Cái Bè. Chạy thêm một đổi nữa, thì Mai Cồ Tửng day qua nói với người tài xế:

– Căn nhà ngói trước mặt là căn nhà tôi, vậy anh coi cho xe đậu chỗ nào cho tiện, để tôi xách mấy cái valy, vì cái cửa ngỏ hẹp chắc xe vô không lọt…

Tiếng con Vện già cất tiếng sủa khô khan, khi nó ngó thấy có mấy người lạ mặt toan bước qua cửa ngỏ. Trong khi đó; thì có mấy người ngồi trong nhà, đã nhìn thấy chiếc Taxi nên chạy vội ra mừng vui ríu rít. Có người còn la lớn. Trời ơi thằng Sáu Tửng nó đã về tới nơi rồi nè. Vậy mà trong nhà mắc lo nói chuyện không hay, nhờ có con Vện nó sủa vang lên mới biết…

Mai Cồ Tửng dúi vào tay người tài xế $20 đô tiền bo. Hiểu ý, anh ta noí tiếng cám ơn, rồi lễ phép chào hỏi mọi người, sau đó bước trở ra xe, để còn tiếp tục một cuộc hành trình của một người tài xế Taxi, tối ngày cứ quần trên đường để mà bắt khách.

Ở đây, ngay lúc nầy. Chỉ có Sáu Tửng, chớ không có mai Cồ Tửng, nên anh ta vòng tay ôm chầm lấy bà già trong tiếng khóc nghẹn ngào. Mới ngày nào má anh còn mạnh khỏe tần tảo nuôi con, vậy mà ngày hôm nay già yếu. Chân bước đi thật là yếu ớt, phải có một cây gậy để nương vào, lại thêm đôi mắt đã phủ một lớp mây mù, mọi cảnh vật bây giờ đối với bà mờ mờ nhân ảnh.

Sáu Tửng ngước mắt nhìn lên bàn thờ cha, một bình nhang khói toả, làm cho quang cảnh quá đổi lạnh lùng. Họ hàng mỗi lúc thêm đông, họ hỏi thăm anh về đời sống của người Việt tha hương bên nước Úc. Nó sung sướng ra sao, mà phong trào vượt biển đang dâng cao rầm rộ. Có người còn nói, tao nghe thiên hạ họ bàn tán, là nếu cột đèn đi được thì nó cũng đi. Còn mầy làm ăn gì có khá hôn, mà dám cả gan bợ con vợ đầm rồi dẫn về đây, không sợ bà già bả giận, rồi mầy đứng cửa giữa làm sao đây hả!

Trong số họ hàng ngồi nghe anh nói, người ta ngạc nhiên từ điểm nầy đến điểm khác. Xe hơi gì mà lền như bánh canh, vợ một chiếc, chồng một chiếc của ai thì nấy chạy. Nhưng họ khoái nghe nhứt là vấn đề cư trú tự do và “an sinh xã hội”, muốn ở đâu cũng được, chớ không có cái cảnh phải trình với ông trưởng khóm, hay ông xã trưởng gì đâu, vậy mà người nào phạm tội thì đừng mong gì trốn tránh…

Người dân ở đây đã bị chế độ cộng sản kềm kẹp họ từ tháng 4 năm 1975 đến nay, thấm thoát cũng đã hơn 10 năm rồi, nên họ đâu có biết rằng trong thế giới nầy đã có những nước có quyền tự do như nước Úc. Cho nên họ hỏi những câu nghe qua thật là tội nghiệp. Còn vợ anh là Mary cũng bắt đầu làm quen với gia đình bên nhà chồng, nên cô ta cũng nói những câu tiếng Việt nghe lơ lớ. Cô ta nhìn thấy cái bếp tro cũng rất lạ kỳ, chỉ cần kê mấy cục gạch chụm đầu vào nhau cũng thành cái bếp. Vậy mà họ cũng nấu ăn, nấu uống cho tới hết đời nầy qua tới đời kia, chớ đâu có thấy họ than phiền điều gì lộ ra ngoài trên khuôn mặt.

Qua ngày hôm sau, sau bữa cơm trưa thì Mary mắc đi cầu, nên cô ta đi tới đứng kế bên cô giáo Phụng hỏi:

– Bây giờ em muốn đi cầu, thì phải làm sao?

Cô giáo Phụng là chị thứ Tư của sáu Tửng, sau khi mỉm cười rồi đi vô buồng cầm ra một cuộn giấy Toilet Tissue rồi nắm tay Mary dẫn đi vòng ra sau vườn cách nhà chừng 20 thước. Nơi đó có một cái ao cá vồ cũng tới lứa ngoài kí lô 1 con, nhưng vì biết thằng Sáu Tửng sắp dẫn vợ nó về, nên bà già nuôi thúc để dành nấu canh chua chớ không có bán.

Về phần cô giáo Phụng nhìn thấy cái quần Jean cuả Mary đang mặc mà phát sợ, nó chật gần căng cái mông đít. Như vậy thì khi ngồi xuống đi cầu, bầy cá tra quẩy nước, thì làm sao nhóng cái đít lên cho kịp để tránh nước văng lên. Trong lúc đang chần chờ như vậy, tụi con nít ngó thấy con đầm tóc vàng sắp sửa đi cầu cá vồ thì bu lại cũng đông, nhưng tụi nó cũng đứng cách xa canh me chớ không dám tới gần, làm cho cô giáo Phụng thật là khó xử.

Thôi thì đàng nào cũng lở, phải dạy con Mary biết cách đi cầu lúc nầy. Chớ còn không, thì làm sao giải quyết. Bởi trong lòng đã quyết như vậy, nên mới đưa cuộn giấy Tissue cho Mary, rồi nắm tay dắt lên cầu chớ không thì bị té.

Bởi thông thường cây cầu cá vồ gia đình nào cũng vậy, họ làm rất là sơ sài. Chỉ có bắt một cây đòn đi lên không tay vịn, còn bốn phiá thì họ chỉ che có mấy miếng lá chầm, để khi ngồi xuống nó che khuất cái mông đít mà thôi, cho nên mỗi khi đi cầu cá vồ người ta đều ngồi thủ thế. Khi thấy bầy cá giành ăn, thì họ nhóng cái đít lên một chút. Sau đó họ tiếp tục bình thường, cứ nhóng xuống nhóng lên, chừng nào sạch ruột thì thôi, chớ cũng không thì thế nào cũng bị văng nước ướt mông đít.

Đàn cá vồ bắt đầu lượn dữ, sóng gợn từng hồi. Có con lại chạy nổi lưng, vì cái giống cá vồ từ lúc nhỏ cho tới bây giờ, nó thấy hơi người ta thì trừng đầu lên kiếm chác. Có con còn hả họng ra tác hoác để chực chờ, nếu không lanh lẹ thì làm sao no bụng.

Cô giáo Phụng ra dấu cho Mary kéo dây con rít trật ra ngồi xuống, trên bờ vườn phía bên kia, cái đám con nít bắt đầu chỉ trỏ. Bởi đây là lần đầu tiên tụi nó mới thấy một con đầm tóc vàng mà đi iả trên ao cá vồ, nên tụi nó mới hú hí bu lại coi chơi. Trong khi đó thì con Mary vẫn thản nhiên với bầy cá vồ, nhưng nào ngờ bầy cá vồ lại giành ăn với nhau phơi kỳ nổi lên như cá nằm trong rổ xúc. Có con lại hả họng ngước lên nhìn, dường thể nó muốn phóng lên để táp miếng mồi trước khi rơi xuống nước. Sợ quá Mary vội vả đứng lên mà quên kéo cái quần, cứ đứng như vậy mà xổ tiếng ăng lê tới mấy phút đồng hồ, để mặc cho mấy đứa con nít nhìn qua rồi cười ngất…

Vô tới nhà Mary oà lên khóc, khiến cho không khí trong nhà cũng bớt vui. Sáu Tửng ngồi kế bên an ủi, anh ta hứa chắc là nội ngày mai, anh ta sẽ rước thợ hồ đi lại nhà xây một cây cầu vệ sinh giựt nước đàng hoàng, chớ không thể để cho em đi cầu cá vồ nữa đâu, thôi em đừng sợ…

Cùng lúc đó, trong xóm nhỏ miền quê ở huyện Cái Bè, có một tốp con nít chạy đi khoe khắp xóm. Là tụi nó quả quyết, đã nhìn thấy con chim của con đầm nó không giống con chim ở đây, lông lá của nó vàng khè mà còn oăn như râu bắp nữa.

Khiến cho nhiều ông già nhậu vô cửng cửng, rồi đưa tay vuốt râu ngạnh trê nói phỏng. Tao biết trước hết rồi mà, như đám mạ cháy chớ có khác gì đâu. Bởi vậy tao đâu có thèm coi, ngồi nhà nhưng tao đây đều biết hết./-

Phùng Nhân




Nguyễn Thị Thanh Dương : Giấc Mộng Dài

Khiến cho nhiều ông già nhậu vô cửng cửng, rồi đưa tay vuốt râu ngạnh trê nói phỏng. Tao biết trước hết rồi mà, như đám mạ cháy chớ có khác gì đâu. Bởi vậy tao đâu có thèm coi, ngồi nhà nhưng tao đây đều biết hết./-

HẦM CÁ VỒ VỚI MARY
Phùng Nhân

 

Anh Mai Cồ Tửng (Michael) lần đầu tiên về lại Việt Nam, anh nghe lạc lõng bơ vơ như một người ngọai quốc. Bởi vì ngày anh rời khỏi đất nước Việt Nam ở lứa tuổi 15, cho nên anh chưa ý thức được chế độ chánh trị và đời sống hiện giờ, mà anh đi vượt biển theo kiểu ăn có với người Hoa Kiều, khi gia đình anh đóng vàng cho người chủ ghe, rồi họ dắt anh đi như một người Ba Tàu chánh hiệu.

Sau những năm học trung học ở xứ Úc Châu nầy, anh bắt đầu ăn quen với những cái bánh Mc Donald, hay KFC mà họ quảng cáo đầy đường, nên cái tuổi như anh ăn vài lần thì bén mùi bén vị.

Rồi anh nghỉ học, đi làm như bao nhiêu người khác hiện đang tạm cư ở đây. Bởi tiếng Anh một khi học nó hết vô rồi, cho dù có nhồi nhét bao nhiêu cũng đều quên hết. Nhưng rồi sức vóc mỗi ngày một lớn, việc đòi vợ cũng là một việc hết sức tự nhiên của con người. Nhưng ai đã từng sống ở nước Uùc vào những năm 1975 cho tới năm 1985, thì mới thấy việc lấy được một cô vợ Việt Nam đâu phải dễ. Có khi chỉ có một đứa con gái, mà có tới cả chục thằng giành. Mấy ông già nào ở vào thời đó, nếu may mắn có được một đứa con gái, thì sẽ được mấy đứa thanh niên vác bia tới nhà mời “bác” nhậu vậy thôi mệt nghỉ…

Trong khoảng thời gian đó, mấy đứa thanh niên người Việt tỵ nạn tới tuổi muốn vợ cũng không biết lấy ai, thôi thì lấy đại một con vợ Úc hay thổ dân cho rồi. Chớ còn muốn lấy con gái Việt Nam, thì biết ở đâu mà kiếm!

Cũng chính vì niềm đau thầm kín đó, mà cậu Mai Cồ Tửng phải đành lấy vợ Úc, cho nên gặp cảnh ngôn ngữ bất đồng. Nhưng được có cái con nhỏ nầy nó cũng chẳng so đo, nhờ vậy mà cuộc sống của gia đình cũng ấm êm hạnh phúc.

Cái ngày mà hai đứa quyết định sống chung vô cùng quan trọng, con Mary nó bắt buộc Mai Cồ Tửng phải tiến hành thủ tục như Tây. Là hai đứa phải dắt nhau ra ngòai Park, rồi nó ngồi dựa ngữa trên một cái ghế đá công viên, còn anh ta thì qùy gối đầu cúi xuống đất để xin được cưới em và đeo nhẩn. Thủ tục như vậy mà cũng rầy rà, bởi thằng con trai mà qùy gối cầu hôn, thì sau nầy thế nào cũng mang trong người chứng bịnh sợ vợ suốt đời là cái chắc.

Thế rồi trong năm nay má anh gởi thơ qua thúc giục biểu về, để cho bà được gặp mặt con dâu, thì bà mới yên lòng mà nhắm mắt mà lià xa dương thế. Cho nên anh phải quyết định dắt Mary về Việt Nam thăm lại mẹ già. Cũng chính vì thế mà anh đi mua vé máy bay không một chút đắn đo. Trong khi đó thì khối cộng đồng người Việt hải ngoại hiện giờ lên án rất gắt gao, cho rằng những người đi du lịch về Việt Nam là đã phản bội lại quốc gia dân tộc. Chớ họ có biết đâu rằng, đã là con người sinh ra, thì làm sao quên được quê hương nguồn cội của mình, thì việc trở về thăm lại mẹ già, đó cũng là một điều nói lên tấm lòng hiếu thảo của một người con.

Trước khi đi thì Mai Cồ Tửng có mời bạn bè lại nhà để làm một tiệc tẫy trần. Có người khuyên anh nên để dành tiền gởi về cho bà gìa xài, hoặc cất nhà hay mua xe cộ thì lợi hơn, chớ còn đi về bển trở qua rồi hối hận. Bởi vì ngoài tiền vé máy bay ra, sẽ còn vô số tiền phí tổn khác nữa…

Trong một bữa tiệc vui đang hồi bốc khói, bởi hơi Beer đang phả kín một vùng, thì thằng Tấn Bộng đang làm chung một hãng với Mai Cồ Tửng cất tiếng hỏi:

– Vậy chớ mầy có đánh điện về Việt Nam, biểu bà gìa làm sẵn cai Toilet cho vợ mầy chưa? Chớ còn tụi đầm mũi lỏ mắt xanh nầy, thì nó làm sao đi cầu trên hầm cá vồ cho được. Lạng quạng thì nó bị cá vồ táp rụng lông háng như chơi, cả vùng Cái Bè của mầy tao biết hết, tìm đâu ra được một cái Toilet trong nhà. Chi bằng mầy đánh điện về bên đó, biểu lo làm trước để sẵn đó đi, chớ đợi tới mầy đem con vợ đầm về tới xứ rồi, thì việc ỉa đái cũng rất là phiền phức.

Mai Cồ Tửng cười ruồi, rồi đáp nhỏ:

– Bữa nay cận quá, có làm cũng không kịp. Về tới bển có kẹt quá, thì tao cho bả đi bô, hay là tao biểu bà chị của tao, làm ơn dắt con Mary tập đi cầu cá vồ dùm tao chắc được.

Cả bàn tiệc cưới lên như đàn ong vở tổ. Thằng Tấn Bọng nói tiếp:

– Tối nay mầy phải sinh hoạt trước với bả, là bên xứ của mầy hiện nay bà con mình còn đi cầu trêân hầm cá vồ, chớ khôâng phải như ở bên nây, đi cầu tiêu máy xong rồi bấm nút xả nước là xong. Còn đi cầu cá vồ khi ngồi xuống, rặn xong thì phải coi chừng, mấy con cá thấy cái đít của vợ mầy trắng quá, tụi cá giành coi rồi quẩy nước văng lên, biểu nó phải liệu hồn mà xách cái quần đứng lên cho kịp lúc…

Mai Cồ Tửng bưng ly Beer lên hớp, rồi để xuống nói:

– Tao đã dạy cho bả nhiều thứ lắm, nhứt là tiếng Việt. Nhưng bình thường khi nói chuyện với tao, có lúc bả nói nghe cũng được. Tao chỉ sợ khi đụng chuyện, bả xổ toàn là tiếng ăng lê khôâng quá…

Vợ Mai Cồ Tửng là Mary nghe lén được, bèn nói:

– Cám ơn mấy ông anh đã có lòng tốt lo cho em. Nhưng anh Tửng đã lo cho em nhiều thứ lắm, thương chồng em phải lụy cùng chồng. Mắm nêm mà em còn ăn được, thì hà tất gì đến việc đi cầu cá vồ. Khôâng chừng tới chừng đó, em còn thích thú nữa là khác.

Cả bọn cười ồ lên, rồi đồng thanh bắt buột mỗi thằng phải uống cạn một lon, để ăn mừng văn hoá chồng chuá vợ tôi của mình còn được phát triển trêân nước Úc. Càng về khuya, tiếng mở nắp Beer nghe lắt cắt nhiều hơn là tiếng nói. Những lon Beer khôâng xếp lớp trong thùng, đã tạo ra một bầu khôâng khí vô cùng thân thiết, cho những người đã lìa bỏ xứ sở quê hương. Ông thì say mèm ngồi gục tới gục lui, ông thì âm thầm lấy chìa khóa ra mở cửa xe vọt lẹ.

Đợi cho mọi người ra về hết. Mai Cồ Tửng lo dọn dẹp lại bàn ăn. Bởi người Việt Nam mà lấy vợ Úc, thì kể như mọi việc trong nhà đều do thằng chồng làm hết. Còn con vợ đầm, thì nó chỉ có việc nằm đó phơi nây chờ Sex, chớ đời nào mà nó chịu dọn dẹp như người đàn bà Việt Nam bổn xứ của mình, mỗi khi trong nhà có mở ra đám tiệc. Căn nhà về khuya cũng lặng lẽ âm thầm, khi sương khuya bắt đầu nặng hột. Mai Cồ Tửng nằm xuống thì ngủ một giấc mê mang, còn Mary thì đang lo lắng trong lòng. Bởi cô ta đã nghĩ, chỉ còn có một tuần lễ nữa thì sẽ về tới Việt Nam, một đất nước mà chiến tranh đã xảy ra trên hai mươi năm mới vừa chấm dứt. Liệu rồi đây, mấy người chánh quyền ở đó, họ sẽ nhìn những người như cô ta bằng cặp mắt như thế nào. Nhưng rồi cô ta cũng phải đi thôi, bởi đó cũng là tiếng gọi thiêng liêng, của đạo vợ chồng mà cô ta đã vừa nếm trải.

 

***

 

Sau những ngày chờ đợi, thì hai vợ chồng Mai Cồ Tửng cũng ngồi trêân chuyến bay Qantas đi từ phi trường Sydney về thẳng tới Việt Nam. Khi chiếc máy bay vừa quay mũi hướng ra biển thì cũng được nửa đường, nên mấy người chiêu đãi họ lo cho bữa ăn trưa, khiến cho mấy trăm hành khách trêân chuyến bay bắt đầu thức giấc. Mary và Mai Cồ Tửng tự nãy giờ đã bàn tính với nhau rất nhiều chuyện gia đình, chẳng hạn như con dâu khi gặp bà gìa chồng thì phải làm sao, chớ không phải như ở cái xứ Úc Châu nầy, chỉ cần nói Hello thì kể như xong cái màn thưa thốt. Nhưng Mary trong dạ vẫn lo âu, bởi những hình ảnh người phụ nữ Á Đông ăn trầu, và cái đầu bới tóc làm cho cô ta hơi ngờ ngợ.

Rồi chiếc máy bay cũng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn một cách bình an, sau đó thì mọi người hành khách lật đật bước xuống cầu thang, leo lên chiếc xe Bus đang đậu sẵn để chạy vào ga trình giấy tờ xong rồi đứng sắp hàng chờ nhận hành lý.

Đây là lần đầu tiên Mary mới chứng kiến cái cảnh nầy, mọi người ai nầy cũng sắp hàng rồi móc cuốn sổ Passport cầm tay, nhưng phần đông họ đều có nhét một tấm giấy $10 hay nhiều hơn vào cuốn sổ Passport tùy theo hoàn cảnh mỗi người đang đứng sắp hàng chờ đợi. Trong số nầy lại có Mai Cồ Tửng cũng phải bắt buộc làm theo, bởi số phận người Việt Kiều vượt biển năm xưa, bây giờ chánh phủ Việt Nam họ đang dụ khị nâng lên là khúc ruột xa ngàn dặm trở về, nhưng đâu có người nào không sợ công an, khi nhìn thấy gương mặt của họ hầm hầm tỏ ra không thiện cảm.

Mary đứng nép sau lưng chồng một hồi, rồi cái hàng dài cũng lần lượt tới phiên. Người công an hải quan kiểm soát phi trường, sau khi lật cuốn sổ Passport ra thấy tấm giấy $20 thì ông ta lật đật đùa xuống nằm yên trong hộc bàn. Sau đó ông ta lại ngước lên mỉm cười, rồi hướng dẫn Mai Cồ Tửng điền thêm những ô còn trống. Có lẽ ông ta cũng hơi ngạc nhiên, khi thấy cái ông Việt Kiều nầy nhỏ con, vậy mà lấy được con đầm cao lớn chưn dài nầy cũng lạ…

Khi hai vợ chồng anh vừa bước ra khỏi phi trường, thì cơn nắng miền nhiệt đới dội xuống như một chão lửa than, làm cho Mary thấm mệt. Bởi không quen với khí hậu như vầy, nên Mai Cồ Tửng vẩy chiếc Taxi, rồi biểu tài xế chất valy lên cốp xe, sau đó biểu chạy về khách sạn Hữu Nghị tại bến Bạch Đằng.

Qua ngày hôm sau thì Mai Cồ Tửng đi ra sở bưu điện đánh điện tín về huyện Cái Bè để báo tin cho bà già ngày mai anh về đến. Suốt đêm hôm đó, làm cho anh thao thức trong giấc ngủ chập chờn, khi anh nhớ lại từng con đường làng dẫn vào vườn cây rợp bóng. Ở nơi đó, ngày xưa đã có những con trâu nghé chạy giỡn tung tăng dưới cây rơm còn thơm mùi rạ mới. Bây giờ biết có còn không, bởi đã trải qua bao nhiêu năm vật đổi sao dời. Trong phút giây bùi ngùi, làm cho anh nhớ nôn nao. Vì anh đã bó xứ ra đi kể ra cũng hơn 10 năm trời rồi chớ đâu có ít…

Sáng bữa sau thức dậy, Mai Cồ Tửng nghe nơi vùng thái dương hơi nằng nặng. Anh dắt Mary xuống Canteen uống Café và ăn điểm tâm. Mùi Café Buôn Ma Thuột tỏa ra thơm ngát một vùng, hình như trong hương vị còn nồng mùi đất đỏ cao nguyên, còn thơm muì mồ hôi dầu dải của người dân sơn cước. Mary sau khi hớp vài ngụm Café, rồi hỏi:

– Café nầy họ nhập cảng ở đâu về mà ngon quá vậy anh?

Mai Cồ Tửng đáp với vẻ tự hào:

– Café nầy là thổ sản của quê hương anh. Đâu Mary thử so sánh, coi có bằng của tụi Brasil không?

Mary hớp thêm một ngụm nữa, để nó thấm qua đầu lưỡi một hồi rồi nói:

– Café ở đây ngon hơn Café Brasil nhiều. Vị nó thơm mà dịu chớ không chát. Như vậy thì tại sao họ không xuất cảng ra bên ngoài thế giới hả anh?

Đây là một câu hỏi bất ngờ, nên Mai Cồ Tửng ậm ừ một hồi rồi nói:

– Hôm trước đọc báo. Anh nghe nói có hãng Café Trung Nguyên trụ sở ngoài Buôn Ma Thuột, cũng đang xin thủ tục xuất cảng nhưng không biết đến bao giờ mới xong.

Rồi anh ta nhìn xuống đồng hồ đeo tay, đoạn ngước lên giục:

– Nhanh lên đi Mary. Trễ lắm rồi, trả phòng xong thì mình nhờ bồi phòng kêu dùm một chiếc Taxi. Chớ từ đây về tới huyện Cái Bè, mình đi xe đò thì không tiện…

Trên đường đi từ Sài Gòn ra tới Phú Lâm, Mary thấy cái gì cũng lạ. Dân chúng họ cỡi xe Honda chạy trên đường như mắc cửi, chiếc nầy muốn đụng chiếc kia, vậy mà trên gương mặt của họ vẫn thản nhiên chớ không có gì là sợ hãi.

Chiếc máy chụp hình hiệu Canon được Mary đưa lên bấm liên tục, nhưng khi chiếc xe vừa chạy tới huyện Thủ Thừa thuộc tỉnh Long An, thì cô ta lại reo lên trong niềm vui thích thú, khi thấy một người nông dân đầu đội nón lá tơi, đang đánh cặp trâu cổ đi vòng quanh trên đụn lúa. Mary day qua Mai Cồ Tửng hỏi:

– Vậy chớ họ đang làm gì, mà đánh cặp trâu đi vòng tròn vậy anh?

Mai Cồ Tửng mỉm cười, rồi đáp:

– Người nông dân họ đang đánh trâu đạp lúa…

Mary nói với vẻ ngậm ngùi:

– Thời buổi nầy sao chánh phủ Việt Nam, không cải tiến nông nghiệp cho nó được tiến bộ hơn. Chớ còn bắt ông già, dang nắng như vầy mà năng xuất có được bao nhiêu!

Xe chạy thêm một đoạn đường nữa, bỗng nhiên có một hình ảnh hiện ra trước mắt làm cho Mary rất đổi xốn xang. Đó là một cảnh của hai vợ chồng nông dân, họ đang ngồi ăn cơm trong chòi vịt đã căng lên bằng tấm Nylon nơi mé lộ. Trong chòi vịt đó, đã có nhốt khoảng vài trăm con. Bộ lông ức vừa mọc ra lúng phúng, chung quanh được bao lại với những tấm liếp bện bằng phên tre vuốt mỏng, để giữ cho đàn vịt khỏi bị sút chuồng. Ông chồng ngồi ăn cơm trông mệt mỏi, có lẽ họ đang lo tới bầy vịt nầy khi nuôi lớn chừng một tháng nữa bán có lời hay không. Còn bà vợ thì ngồi thản nhiên, vạch vú ra cho con bú. Thằng nhỏ trong khẳng khiu, da nám đen nhíu lại nhưng chắc cũng hơi lớn tháng. Mary quay qua hỏi nữa:

– Họ sao trông khổ quá vậy anh? Đứa bé sao không gởi trong nhà trẻ, mà phải bồng theo dang nắng như vầy, và nó nút như vậy thì còn gì vú móm của người mẹ?

Mai Cồ Tửng buồn bã nói:

– Chắc gia đình đơn chiếc. Tháng nầy ai nấy cũng ra đồng, nếu đem gởi con, hay mướn người ta giữ thì tiền đâu mà trả. Bởi cái xứ nầy còn nghèo lắm em ơi!

Mary chặc lưỡi, than:

– Tội quá hả anh. Bên nước Úc Châu của mình, một con hưu con, một ngày tiêu chuẩn của nó là 16 lít sữa tươi, đó là chưa nói tới mấy thứ phí tổn khác…

Chiếc xe vẫn chồm lên lướt qua những ổ gà, quốc lộ 4 nầy là huyết mạch nối liền từ vùng Hậu Giang lên tới Sài Gòn. Tuy chính quyền hiện nay, có nới rộng ra, có tu sửa thêm nhiều chỗ. Nhưng hiện thân của nó, cũng là con đường quốc lộ ngày xưa. Nghe nói chánh quyền, đang có dự án để nâng cấp nó lên thành xa lộ…

Trong lòng Mary đang hổn độn, vừa thương cho đất nước Việt Nam sau hơn 10 năm thống nhứt chấm dứt chiến tranh, vậy mà đời sống của dân chúng cũng vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Mai Cồ Tửng vẫn nhắm mắt, dựa đầu vào nệm ghế. Thỉnh thoảng anh ta cũng hé mắt ra nhìn lại đất nước sau mười năm xa cách. Tình trạng vẫn y nguyên, có khi còn tồi tệ hơn nữa là khác.

Mary để yên cho chồng nằm nhắm mắt. Chị ta bắt đầu nhìn đất nước Việt Nam qua lăng kính của bà đầm. Khi chiếc Taxi chạy tới xã Tân Hội, ranh giới Mỹ Tho – Long An thì dưới ruộng nước có một bầy trâu và vài con nghé, xa xa còn có vài cánh cò bói cá thật nên thơ. Trên lưng trâu đưá bé trạc 12 tuổi ngồi vắt vẻo với chiếc roi tre, đầu đội cái nón đệm rộng vành bẻ cúp xuống bít phần gương mặt. Thích quá, Mary đưa máy hình lên bấm. Hy vọng đây là một tấm hình đồng quê sống động, mà cô ta đã từng mơ ước, xem đó là một tác phẩm nghệ thuật của mình. Bởi ở bên nước Úc chỉ có xa lộ và đồi núi mênh mông, chớ làm sao nhìn thấy một đứa trẻ đang ngồi trên lưng trâu trông nhàn nhã.

Khi chiếc xe Taxi vừa chạy tới thị trấn Trung Lương, Mai Cồ bừng tỉnh mắt. Anh ta biểu tài xế Taxi tốp lại, rồi anh hỏi Mary có muốn đi tiêu, tiểu gì không. Bởi đã ngồi trên xe Taxi tới mấy giờ đồng hồ rồi, chắc bây giờ cũng đang tới cử.

Nhưng Mary lại lắc đầu, chiếc xe Taxi tiếp tục chạy trên quốc lộ. Hai bên vườn cây, ruộng lúa lùi dần lại phía sau như một cơn sóng chạy dài. Khi chiếc xe chạy ngang qua huyện lỵ Cai Lậy, làm cho Mai Cồ Tửng nhớ lại ngày xưa. Trong lúc anh ta còn đang học bậc tiểu học ở đây, thì bỗng dưng có một trái hoả tiển 22ly không biết từ đâu bay tới, rồi nổ một tiếng long trời, làm cho học trò, cô thầy giáo lớp chết lớp bị thương không biết bao nhiêu mà kể!

Chiếc xe Taxi vẫn chạy với tốc độ đều đều, khi qua khỏi cầu Bà Tồn thì ngọn gió chướng thổi lồng lộng thốc vào mạn xe, bật ra những tiếng kêu u u như tiếng dều giấy thả bay trong mùa chướng.

Người tà xế Taxi hảm chiếc xe cho chạy chầm chậm, rồi quẹo theo hướng chỉ mũi tên vô huyện Cái Bè. Chạy thêm một đổi nữa, thì Mai Cồ Tửng day qua nói với người tài xế:

– Căn nhà ngói trước mặt là căn nhà tôi, vậy anh coi cho xe đậu chỗ nào cho tiện, để tôi xách mấy cái valy, vì cái cửa ngỏ hẹp chắc xe vô không lọt…

Tiếng con Vện già cất tiếng sủa khô khan, khi nó ngó thấy có mấy người lạ mặt toan bước qua cửa ngỏ. Trong khi đó; thì có mấy người ngồi trong nhà, đã nhìn thấy chiếc Taxi nên chạy vội ra mừng vui ríu rít. Có người còn la lớn. Trời ơi thằng Sáu Tửng nó đã về tới nơi rồi nè. Vậy mà trong nhà mắc lo nói chuyện không hay, nhờ có con Vện nó sủa vang lên mới biết…

Mai Cồ Tửng dúi vào tay người tài xế $20 đô tiền bo. Hiểu ý, anh ta noí tiếng cám ơn, rồi lễ phép chào hỏi mọi người, sau đó bước trở ra xe, để còn tiếp tục một cuộc hành trình của một người tài xế Taxi, tối ngày cứ quần trên đường để mà bắt khách.

Ở đây, ngay lúc nầy. Chỉ có Sáu Tửng, chớ không có mai Cồ Tửng, nên anh ta vòng tay ôm chầm lấy bà già trong tiếng khóc nghẹn ngào. Mới ngày nào má anh còn mạnh khỏe tần tảo nuôi con, vậy mà ngày hôm nay già yếu. Chân bước đi thật là yếu ớt, phải có một cây gậy để nương vào, lại thêm đôi mắt đã phủ một lớp mây mù, mọi cảnh vật bây giờ đối với bà mờ mờ nhân ảnh.

Sáu Tửng ngước mắt nhìn lên bàn thờ cha, một bình nhang khói toả, làm cho quang cảnh quá đổi lạnh lùng. Họ hàng mỗi lúc thêm đông, họ hỏi thăm anh về đời sống của người Việt tha hương bên nước Úc. Nó sung sướng ra sao, mà phong trào vượt biển đang dâng cao rầm rộ. Có người còn nói, tao nghe thiên hạ họ bàn tán, là nếu cột đèn đi được thì nó cũng đi. Còn mầy làm ăn gì có khá hôn, mà dám cả gan bợ con vợ đầm rồi dẫn về đây, không sợ bà già bả giận, rồi mầy đứng cửa giữa làm sao đây hả!

Trong số họ hàng ngồi nghe anh nói, người ta ngạc nhiên từ điểm nầy đến điểm khác. Xe hơi gì mà lền như bánh canh, vợ một chiếc, chồng một chiếc của ai thì nấy chạy. Nhưng họ khoái nghe nhứt là vấn đề cư trú tự do và “an sinh xã hội”, muốn ở đâu cũng được, chớ không có cái cảnh phải trình với ông trưởng khóm, hay ông xã trưởng gì đâu, vậy mà người nào phạm tội thì đừng mong gì trốn tránh…

Người dân ở đây đã bị chế độ cộng sản kềm kẹp họ từ tháng 4 năm 1975 đến nay, thấm thoát cũng đã hơn 10 năm rồi, nên họ đâu có biết rằng trong thế giới nầy đã có những nước có quyền tự do như nước Úc. Cho nên họ hỏi những câu nghe qua thật là tội nghiệp. Còn vợ anh là Mary cũng bắt đầu làm quen với gia đình bên nhà chồng, nên cô ta cũng nói những câu tiếng Việt nghe lơ lớ. Cô ta nhìn thấy cái bếp tro cũng rất lạ kỳ, chỉ cần kê mấy cục gạch chụm đầu vào nhau cũng thành cái bếp. Vậy mà họ cũng nấu ăn, nấu uống cho tới hết đời nầy qua tới đời kia, chớ đâu có thấy họ than phiền điều gì lộ ra ngoài trên khuôn mặt.

Qua ngày hôm sau, sau bữa cơm trưa thì Mary mắc đi cầu, nên cô ta đi tới đứng kế bên cô giáo Phụng hỏi:

– Bây giờ em muốn đi cầu, thì phải làm sao?

Cô giáo Phụng là chị thứ Tư của sáu Tửng, sau khi mỉm cười rồi đi vô buồng cầm ra một cuộn giấy Toilet Tissue rồi nắm tay Mary dẫn đi vòng ra sau vườn cách nhà chừng 20 thước. Nơi đó có một cái ao cá vồ cũng tới lứa ngoài kí lô 1 con, nhưng vì biết thằng Sáu Tửng sắp dẫn vợ nó về, nên bà già nuôi thúc để dành nấu canh chua chớ không có bán.

Về phần cô giáo Phụng nhìn thấy cái quần Jean cuả Mary đang mặc mà phát sợ, nó chật gần căng cái mông đít. Như vậy thì khi ngồi xuống đi cầu, bầy cá tra quẩy nước, thì làm sao nhóng cái đít lên cho kịp để tránh nước văng lên. Trong lúc đang chần chờ như vậy, tụi con nít ngó thấy con đầm tóc vàng sắp sửa đi cầu cá vồ thì bu lại cũng đông, nhưng tụi nó cũng đứng cách xa canh me chớ không dám tới gần, làm cho cô giáo Phụng thật là khó xử.

Thôi thì đàng nào cũng lở, phải dạy con Mary biết cách đi cầu lúc nầy. Chớ còn không, thì làm sao giải quyết. Bởi trong lòng đã quyết như vậy, nên mới đưa cuộn giấy Tissue cho Mary, rồi nắm tay dắt lên cầu chớ không thì bị té.

Bởi thông thường cây cầu cá vồ gia đình nào cũng vậy, họ làm rất là sơ sài. Chỉ có bắt một cây đòn đi lên không tay vịn, còn bốn phiá thì họ chỉ che có mấy miếng lá chầm, để khi ngồi xuống nó che khuất cái mông đít mà thôi, cho nên mỗi khi đi cầu cá vồ người ta đều ngồi thủ thế. Khi thấy bầy cá giành ăn, thì họ nhóng cái đít lên một chút. Sau đó họ tiếp tục bình thường, cứ nhóng xuống nhóng lên, chừng nào sạch ruột thì thôi, chớ cũng không thì thế nào cũng bị văng nước ướt mông đít.

Đàn cá vồ bắt đầu lượn dữ, sóng gợn từng hồi. Có con lại chạy nổi lưng, vì cái giống cá vồ từ lúc nhỏ cho tới bây giờ, nó thấy hơi người ta thì trừng đầu lên kiếm chác. Có con còn hả họng ra tác hoác để chực chờ, nếu không lanh lẹ thì làm sao no bụng.

Cô giáo Phụng ra dấu cho Mary kéo dây con rít trật ra ngồi xuống, trên bờ vườn phía bên kia, cái đám con nít bắt đầu chỉ trỏ. Bởi đây là lần đầu tiên tụi nó mới thấy một con đầm tóc vàng mà đi iả trên ao cá vồ, nên tụi nó mới hú hí bu lại coi chơi. Trong khi đó thì con Mary vẫn thản nhiên với bầy cá vồ, nhưng nào ngờ bầy cá vồ lại giành ăn với nhau phơi kỳ nổi lên như cá nằm trong rổ xúc. Có con lại hả họng ngước lên nhìn, dường thể nó muốn phóng lên để táp miếng mồi trước khi rơi xuống nước. Sợ quá Mary vội vả đứng lên mà quên kéo cái quần, cứ đứng như vậy mà xổ tiếng ăng lê tới mấy phút đồng hồ, để mặc cho mấy đứa con nít nhìn qua rồi cười ngất…

Vô tới nhà Mary oà lên khóc, khiến cho không khí trong nhà cũng bớt vui. Sáu Tửng ngồi kế bên an ủi, anh ta hứa chắc là nội ngày mai, anh ta sẽ rước thợ hồ đi lại nhà xây một cây cầu vệ sinh giựt nước đàng hoàng, chớ không thể để cho em đi cầu cá vồ nữa đâu, thôi em đừng sợ…

Cùng lúc đó, trong xóm nhỏ miền quê ở huyện Cái Bè, có một tốp con nít chạy đi khoe khắp xóm. Là tụi nó quả quyết, đã nhìn thấy con chim của con đầm nó không giống con chim ở đây, lông lá của nó vàng khè mà còn oăn như râu bắp nữa.

Khiến cho nhiều ông già nhậu vô cửng cửng, rồi đưa tay vuốt râu ngạnh trê nói phỏng. Tao biết trước hết rồi mà, như đám mạ cháy chớ có khác gì đâu. Bởi vậy tao đâu có thèm coi, ngồi nhà nhưng tao đây đều biết hết./-

Phùng Nhân

Phùng Nhân
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




Mầu Hoa Khế : Ông Tư Đờn

Bây giờ tóc trên đầu cũng đôi ba sợi bạc, tấm lòng vàng của hai vợ chồng ông tôi cứ thấy nặng mãi ở trong tim. Thôi thì cứ theo dòng đời đưa đẩy, nếu kiếp này không cho tôi gặp lại hai người, hai vị ân nhân giúp người không cần báo đáp. Cho tôi hẹn lại kiếp sau bởi nợ gì cũng trả được chứ nợ ân tình làm sao mà trả cho xong !?… Mầu Hoa Khế Oct. 28. 2009 *Tôn Tẩn: nhân vật trong Tam Quốc Chí

Ông Tư Đờn

  • Có một chuyện cứ để nằm trong bụng , lâu lâu lại thấy như có lỗi với người ta vậy đó. Dễ chừng đã hai mươi lăm năm, nhớ hồi dẫn con Cà Na đi vượt biên nó mới hai tuổi đui. Hai má con theo sự sắp đặt của mấy người tổ chức. Chạng vạng cở đâu sáu bảy giờ tối, có chiếc xe Honda chạy xề tới nhà, người đàn ông mặt mày lạ hoắc bước vô nhà lấm la lấm lét như đi ăn trộm đưa ra tờ giấy xếp tư được nhét sâu trong túi quần. Tôi đọc thì mới hay là phải đi theo người này tới chỗ “ém gà “là địa điểm của một căn nhà trong đường giây tổ chức vượt biên, đặng khuya lên “taxi” là cái thuyền máy nhỏ, ém cở mười người để đưa ra thuyền lớn đang đậu núp ở một cái góc khuất nào đã được ăn chia với công an địa phương. Hai giỏ đồ được chuẩn bị cả tuần lễ trước, gồm mấy bộ đồ, ít lương khô, con Cà Na còn nhỏ nên mua thêm một ống sửa giống như ống kem đánh răng, rủi khi lên tàu nó có đói thì nặn ra cho có chút chất bổ dưỡng. Quan trọng là phải có thêm cái áo ấm dày, chứ trên biển cả làm gì có lửa củi mà hơ. Tôi bồng con Cà Na trên tay, con nhỏ ngơ ngơ hai mắt tròn đen tưởng má bồng đi chơi, nó đâu biết từ giây phút này hai má con đang giao số phận cho ông trời định đoạt. Bà ngoại con Cà Na rưng rưng nước mắt, còn ông ngoại nó quay ngoắt lưng để che giấu sự xúc động mãnh liệt ,bởi tôi nhìn cái bờ lưng ốm nhách của ông già như đang run rẩy .Tôi bồng con mạnh dạn đi bương ra cửa leo lên xe HonDa của người ta mà mắt không dám nhìn ngoái vô nhà, mà có nhìn vô chắc tôi cũng chẳng thấy gì bị nước mắt đã oà ra như mưa . Tới điểm hẹn , thì có người đàn bà ra dấu bảo đi theo sau bằng khoảng cách xa xa, bả làm người tốt xách dùm hai giỏ đồ mà tôi đã để hết tâm trí lo lắng. Nào là mang cái này hay mang cái kia, thêm cái này, bớt cái nọ . Vậy mà ác nhơn hết sức, khi tôi xuống cái ghe nhỏ thấy có thêm tám người nữa ngồi sẵn ở đó. Thì con mẹ lách mình ở ngõ nào đem theo luôn hai giỏ đồ sinh tử của tôi. Tôi sững sờ có miệng cũng không nói ra lời, nghẹn đắng họng, đắng hầu. Người đi cùng chuyến cũng lặng câm, ai nấy đều có chung một sự lo lắng không biết phong hiểm ra sao, nhưng tâm sự thì mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau nên cứ ngồi im mà ôn lại những gì đã có, đã qua trước giờ phút chia ly. Trời tối thật mau, tội con Cà Na không có chi ăn nằm trong lòng tôi khóc rấm rức, tôi thấy con khóc muốn đứt ruột rồi còn bị người cùng đi trừng mắt, khó chịu . Tôi thiệt là không biết kêu đâu cho thấu, chỉ biết ôm con dỗ sao cho mau nín , mà nó đói quá thì cũng lã người ra ngủ trên tay tôi . Chiếc ghe máy đi độ mấy tiếng thì ra tới sông Thủ Thiêm, chỉ chừng mười giờ đêm nhưng trên sông mênh mông thì thấy tối thui. Đang chạy ngon lành, trên ghe ai nấy cũng còn im thích chưa ai nói gì với nhau thì bỗng đâu nghe tiếng súng nổ, ban đầu nghe chừng ba phát, sau nghe thêm đùng đùng như đang tới gần chiếc ghe. Trên ghe bắt đầu hổn loạn, tôi nghe cái cậu trẻ lái ghe nói . – Chết mẹ rồi, công an tới rồi. Cả ghe nhốn nháo tròng trành như muốn lật nhào úp xuống nước, tôi quá hãi hùng càng ôm con chặt hơn. Tiếng cậu lái ghe lớn hơn giữa trời lồng lộng gió: – Bà con nghe tui , tui lủi vô chỗ cạn ai nấy nhanh chân nhảy xuống nhớ núp xuống xình nghen. Miệng chưa dứt câu cái ghe đã là là vô cái đám xình lau sậy ven sông. Trời tối không ai nhìn ra mặt ai, mọi người nhảy tủm xuống nước biến mất trong bóng đêm. Trên ghe chỉ còn hai má con tôi, thêm một ông già và một cô gái. Vừa lúc thuyền công an trờ tới bắc loa gọi bằng cái giọng bắc 75 đanh thép: – Mấy người bên kia bước ra lên thuyền mau. Vừa gọi vừa rọi đèn pha, họ thòng cho cái ván, cũng may khoảng cách gần xịch nên tôi ôm con bước lên không mấy khó khăn. Họ đưa vô một căn nhà giữa đồng không mông quạnh . Khi tới nơi thì tôi mới biết nơi đây đã có một số người cùng chung số phận với má con tôi. Cái đám người bắt chúng tôi nói có gì trong người phải nộp sạch . Cứ giống như mấy cuốn phim kiếm hiệp tôi coi trước đây là gặp phải bọn thảo khấu. Ai nấy đều lột ra hết bỏ trong cái nón lá .Còn tôi cái lá gan cũng to, dấu hai chỉ vàng cột trong đuôi tóc nhất định không lấy ra, ngẫm nghĩ nếu họ tìm thấy thì cứ giả ngu giả khờ kiểu Tôn Tẩn giả điên cho qua phà . Qua một đêm họ gọi là “mần việc”, sáng ra họ chở tới bến đò đưa ra trại giam ở Cần Giờ . Trên chuyến đò chúng tôi khoảng hai mươi người được 4 người công an đi theo canh giữ. Cùng đi trên tàu cũng có những người thường dân đi buôn bán. Họ thấy con Cà Na khóc vì đói nên có người hảo tâm cho nó cái bánh ú, tôi phải mâm mâm rồi đút cho con, hai tuổi mà ăn bánh ú dễ mắc nghẹn như chơi . Cả nhóm bị nhốt ở Cần Giờ mười ngày, thì nghe đâu tổ chức bỏ vàng ra xin chuộc, bị tôi đi cũng đã đóng trước 3 cây vàng, chờ tới đảo hay đâu đó thì đưa tiếp 3 cây vàng nữa . Ở tù thì ai mà chẳng biết nó cơ khổ tới mức nào, cũng nhờ có con nên tôi được châm chế cho mấy chuyện gọi là lao động . Nhà tù chưa xây cất thêm, nên nhóm người vượt biên được lùa chung ở một góc trại, chỉ có mái che chứ chung quanh trống rốc. Đêm trong tù lạnh lẽo, muỗi mòng, ai thấy con bé nhà tôi cũng thương, họ cho mượn cái khăn quấn kẻo bị muỗi cắn. Còn tôi thức trắng mấy đêm nằm đập muỗi cho con, phần lạnh buốt da không sao ngủ được . Có bà cụ cho mượn bộ đồ để thay , chứ đã năm ngày không tắm rữa hôi hám như ăn mày. Còn con Cà Na, thì có cái khăn quấn, nên hai Má con mang hai bộ đồ đi xã nước lạnh câu từ cái giếng nhỏ, chỉ có nước lên vào buổi sáng chứ tới trưa là cạn queo rồi mang ra phơi ở hàng rào kẽm gai để có mà thay đổi . Suốt mười ngày trong trại tù ở Cần Giờ, con Cà Na dễ thương hay không biết má nó dễ thương mà nó ngày được trái chuối, ngày được củ khoai. Lúc đi lấy cơm tù phần cơm cũng nhiều hơn người khác. Tối tối được nghe một người tù hát cải lương, hát hay như Út Trà Ôn nên ông trưởng trại tù cũng nghiền nghe. Sau mười ngày cam khổ, cả nhóm vượt biên được thả ra cùng một lúc, một số người có người nhà đến đón. Lúc này thì tôi mới biết là cùng một đường giây tổ chức. Hai má con được thả ra khỏi trại giam vào lúc 5 giờ chiều, bơ vơ nơi đất Cần Giờ, có hai chỉ vàng mà đâu dám lấy ra bán sợ này sợ nọ. Cũng may mắn số người được ra cùng ngày họ có gì thì đưa hết cho tôi, trong giỏ đồ có ít bánh. Tôi nghĩ thôi đêm nay ra sạp chợ ngủ đại một tối, bị sáng sớm mới có chuyến tàu về Vũng Tàu vào lúc 6 giờ sáng. Đang lúc bồng con trên tay lơ ngơ đi tìm coi chợ nằm ở đâu. Lúc đi ngang qua một tiệm may đồ, thì thấy có hai vợ chồng tuổi chừng bốn mươi đưa tay ngoắc hỏi: – Phải mới trỏng ra hôn? Nhìn gương mặt hiền lành chất phát của họ, tôi gật đầu xác nhận. Người vợ đứng lên ra nắm tay tôi dắt vô cửa tiệm. Nói là cửa tiệm chứ căn nhà rất nhỏ độ bề ngang 4 mét bề dài 6 mét , họ ở trên gác còn bên dưới thì mở tiệm may. Vô tới nơi ông chồng lên tiếng: – Tối nay tui cho ở rồi sáng mai ra bến đò mà về. Ông quay qua bà vợ dặn dò cơm nước rồi chỉ ra mé sau cho hai má con được tắm một bữa thoả thích. Nước ngọt ở xứ này cũng phải mua, chứ giếng đào chỉ có nước lờ lợ không dùng được. Tối đến được ăn cơm trắng, canh chua với tôm thẻ kho rim. Bữa ăn hôm đó tôi nhớ suốt đời, cái tài nấu nướng của hai vị ân nhân và khắc sâu ân tình của họ. Sau bữa cơm họ giăng cho tấm mùng thật lớn trên gác, họ nhường chỗ ngủ cho hai má con, còn họ thì ngủ dưới nhà. Đúng 5 giờ sáng họ lên đánh thức, không thôi tôi đã bị ngủ mê, một giấc ngủ ngon kể từ lúc bị bắt mới có được . Ông chồng đưa hai má con ra bến đò, tôi nắm tay bà vợ mà nước mắt muốn trào nói lời cám ơn tận đáy lòng. Ra tới bến đò vị ân nhân mua cho tôi ly cà phê đen uống cho ấm bụng, mua cho con Cà Na cái bánh giò chéo quảy. Tàu cũng vừa trờ đến, tôi loay hoay định nhờ ông bán dùm chỉ vàng để làm lộ phí. Ông xua tay cầm ít tiền dúi vô tay rồi hối thúc tôi lên tàu cho kịp chuyến. Tới giây phút đó tôi mới thấy mình đoảng hậu ghê, tên của hai vợ chồng ông tôi chưa hề biết, chỉ nghe kêu là ông Tư. Người miền Nam tên theo thứ tự thì quá nhiều tên gọi như thế làm sao sau này tìm mà trả lại cái ơn nghĩa này. Tôi đứng vô tàu ngoái mặt ra ngoài hỏi: – Ông Tư ơi.. ông tên là gì ? Ông cười sảng khoái nói – Ở đây ai mà không biết ông Tư Đờn . Con tàu nổ máy lướt ra khỏi bến, trời lờ mờ sáng tôi vẫn còn thấy bóng ông Tư Đờn đứng im trên bến nhìn theo . Ông Tư Đờn, đã trên hai mươi lăm năm tôi chưa hề trở lại Cần Giờ. Bây giờ tóc trên đầu cũng đôi ba sợi bạc, tấm lòng vàng của hai vợ chồng ông tôi cứ thấy nặng mãi ở trong tim. Thôi thì cứ theo dòng đời đưa đẩy, nếu kiếp này không cho tôi gặp lại hai người, hai vị ân nhân giúp người không cần báo đáp. Cho tôi hẹn lại kiếp sau bởi nợ gì cũng trả được chứ nợ ân tình làm sao mà trả cho xong !?… Mầu Hoa Khế Oct. 28. 2009 *Tôn Tẩn: nhân vật trong Tam Quốc Chí

Email được gửi lúc: 23:34:18 – 19/07/2010

Màu Hoa Khế
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN”

miền quê đó hôm nay lại hun đúc một con người, Giuse Ngô Quang Kiệt, một gương mẫu mới của lòng yêu mến và quả cảm, sao miền quê đó lúc này im ắng quá. Không im ắng đâu, bởi vẫn còn những bà mẹ nghèo nhưng giàu lòng quảng đại, vẫn còn những bạn Taxi, xe ôm và đồng nát kiên cường. “Các cha cứ gọi, chỉ vài phút sau chúng con sẽ có mặt tại Thái Hà

NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN”

Tôi về quê tôi trong một ngày đầu xuân, ngày xuân có gió nhẹ nhàng, có những cành đào tươi nở và có cả lòng người chờ mong thương yêu. Lâu lắm rồi tôi không về, kể từ lần đầu về bây giờ đã 15 năm, con đường vạn lý cứ mãi giằng kéo bước chân tôi xa quê, mải mê với bước “giang hồ” nên quê cũ vẫn là một nơi chốn chỉ để nhớ để thương.

Thật ra với một người như tôi mà thương nhớ quê là rất lạ, vì trang lứa tôi sinh ra trên đường vào nam ( 1954 ) lớn lên ở miền Nam, có mấy ai nhớ về quê cũ đâu. Khác với những người như vậy, tôi gắn bó với quê một cách sâu đậm và hằng nhung nhớ trong lòng.

Lần đầu tiên về quê, chỉ một mình mà tôi dám về quê, những bất ngờ mà quê dành cho mình càng làm tôi càng thương nhớ quê hơn, người “nhà quê” đã đón tôi bằng cả một tấm lòng thương mến. Tôi đã về để đi trên con đường “dong nhà mình”, cứ ngỡ đâu đây cha mẹ mình vừa đi qua, vào nhà “cụ xã” ( ông nội tôi ), ngồi ở bậc thềm nhìn ra cầu ao trước nhà, tôi vụt đứng lên bước vội ra cầu ao, đúng rồi, mẹ tôi bảo: “Cầu ao nhà ông Xã có ba bậc, bậc thứ hai mẻ một miếng ở bên phải”.

Bà con hàng xóm đến thật đông để chào và nghe tôi nói chuyện, tôi chợt nhớ một điều bèn hỏi: “Ai là… con Nga, con bà Nguyệt ?” Một bà cụ khoảng 70 tuổi móm mém đứng lên: “Con ạ !” Mọi người bật cười còn tôi bối rối. Tôi vẫn thường nghe mẹ tôi kể rằng “Con Nga, con bà Nguyệt” hay bện rơm xoắn lại, dọa anh tôi: “Tao bắt mẹ mày” thế là anh tôi sợ và khóc chạy về quấy mẹ, câu chuyện đã lâu lắm rồi, anh tôi năm nay đã tròm trèm 70, thế mà tôi quên mất !

Lần đầu tiên tôi dâng lễ ở Nhà Thờ họ tôi ( Giáo Xứ quê tôi có họ nhà xứ và 4 họ lẻ ), những gì cha tôi kể như hiển hiện ngay trước mắt tôi, từng cái cửa, cái bàn, cái ghế cũ kỹ, cái Cung Thánh sơn son thếp vàng, cái rương gỗ của cha già Trúc để ở phòng thánh… Tất cả còn hết, còn nguyên vẹn. Tôi ứa nước mắt ra khi nhìn mọi sự vật cha tôi đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe, mọi cái còn đó, chỉ có cha tôi, người con đi biệt xứ kể từ cái đêm bị ruồng bắt năm 1945, ôm ấp mãi trong lòng ước muốn một lần về thăm quê, thăm mọi người, thăm mồ ông mả cha, thắp cho ông nội tôi một nén nhang tạ tội mà không được. Cha tôi đã mất để lại cho chúng tôi nỗi nhớ quê nhà…

Ông nội tôi chết ở đình làng khi bị giam cầm chờ ngày mai xét xử trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất. Nghe kể lại rằng, đêm đó cô tôi bò vào mang theo nắm cơm cho bố ăn, nhưng khi vào đến nơi sờ vào người cha mình thì ông tôi đã chết rồi, ông tôi chết một cách uất ức vì ông tôi có phải là địa chủ đâu, chân lấm tay bùn quanh năm. Mẹ tôi bảo: “Ông cả đời nhịn ăn nhịn mặc, chẳng bao giờ dám hoang phí một đồng, cả ngày lặn lội ngoài ruộng, thế mà bị gán là địa chủ !”

Sau năm 75, có một người trong số những người đấu tố ông nội tôi vào Nam tìm đến gặp cha tôi, họ nói lời xin lỗi cha tôi, hôm đó cha tôi không trả lời câu nào hết, ông lặng người đi, gục đầu vào bàn thờ ông nội tôi, khi quay ra, tôi thấy mắt cha tôi đỏ hoe. Hôm đó, cha tôi bảo làm cơm đãi người ta ăn và khi chia tay, cha tôi lấy một ít tiền chia sẻ với ông ta, hình như mẹ tôi rất khó chịu về điều này, sau này tôi được biết, ngày đó cha tôi cũng gật đầu chấp nhận cho ông ta tiếp tục sống trên cái “thổ nhà mình”, vì cha tôi bảo: “Mình có về nữa đâu mà giữ !” Hôm tôi ở quê, đứa em con bà cô, đứa em còn cố giữ được thổ nhà ông tôi gợi ý: “Anh sang thăm thổ nhà bác”. Tôi ngần ngừ rồi trả lời: “Thôi em ạ !”

Dĩ nhiên là người “nhà quê” đã không để tôi yên, tình cảm yêu thương dồn nén, một ngày phải dâng ba lễ, bao nhiêu loại lễ mừng, lễ giỗ họ, đem cả vào hai ngày tôi ở quê mà yêu cầu tôi “ban” cho, đành vậy. Những giờ khác, chú tôi, ông “tiên chỉ làng” dẫn tôi đi thăm các nhà có liên hệ, danh sách đã được ông định trước và không ai dám cãi ông.

Ông dẫn tôi đền nhà cụ Trùm Bát, cụ Trùm Bát ốm liệt nằm trên giường đã mấy tháng nay, cụ chẳng xa lạ gì với tôi vì cha tôi hay kể về cụ, kể về người bạn hiền lành và thân thiết năm xưa ở quê nhà, thậm chí tôi còn biết nhiều chuyện khá riêng tư của hai cụ nữa, nhưng có một chuyện mà tôi không biết, bất ngờ trong lần đầu tiên về quê được cụ bà tiết lộ, đó là: “Thưa cha, con là bạn của bà cố, ngày xưa con đi phù dâu cho bà cố !” Lần ấy, tôi về lại Sài-gòn, hỏi mẹ tôi, cụ nhăn mặt suy nghĩ rồi trả lời: “Chẳng nhớ nữa, chắc vậy”.

Lần này cụ bà bị điếc nhưng vẫn còn khỏe, cụ bà loay hoay bên tôi, người co rúm lại cười cười nói nói rất hồn nhiên. Cụ ông nằm liệt giường, việc đầu tiên là “ăn mày phép giải tội”, cụ thở giốc nói được vài lời, họ quấn quanh cụ những chăn bông, những áo len, những mũ len, tất cả cũ kỹ cáu bẩn, mùi hôi, mùi ẩm mốc…

Sau những “lời khuyên bảo“, cụ đưa tay run rẩy luồn vào tấm áo trong, tìm kiếm phía trên ngực, “Thưa cha, con có chút tiền dâng cha lo việc Nhà Thờ”. Cụ tiếp tục run rẩy tìm kiếm, tôi đã nói lời từ chối không nhận tiền vì nghĩ rằng cụ rất nghèo, chẳng có là bao, để cụ lấy tiến đó mà lo thang thuốc, nhưng cụ nhất định không chịu. Khi tôi sang nhà bên cạnh, người ta cầm sang cho tôi một “nắm” tiền và cho biết đó là tiền của cụ. Tôi đã bật khóc khi tối về xem xét lại “nắm” tiền đó, 20 tờ 1.000 đồng mới tinh và 6 tờ 5.000 đồng cũng mới tinh.

Tôi biết cụ đã cho tôi tất cả cái cụ có, khi kể lại câu chuyện này cho một người quen, chị ấy thốt lên: “Hai đồng tiền bà góa !” Cám ơn Chúa đã cho con được cảm nghiệm Tin Mừng một cách rất cụ thể, và con đã có được cảm nghiệm đó khi con đi gặp người nghèo.

Có một “vị Anh Hùng Nhân Dân” mà tôi đã hân hạnh được viếng thăm, bất ngờ hơn, lại là người mà tôi “còn có họ”. Bà đáng được phong danh hiệu như vậy. “Nhân Dân” bởi chính bà là người dân hiền lành chất phác, căn nhà nhỏ bé ba gian lợp ngói kiểu đồng bằng Bắc Bộ, khung cảnh cuối đông ảm đạm càng làm cho cái vẻ nghèo nàn tăng thêm.

Trời rét lạnh nên tuổi già còn phải chịu quấn quanh người cái áo len dầy cộm, ông chồng của bà vẫn tươi cười chia sẻ: “Con đau yếu chẳng làm gì được, đành ở nhà nội trợ, còn nhà con phải lên Hà Nội ‘lội chợ’ kiếm ít tiền”. Thế nhưng khi lao mình vào chốn thành thị ấy, thì người đàn bà chân quê nhận ra cái lẽ phải và sự thật, cái nhận thức rất đơn giản của người nhà quê yêu mến Giáo Hội và kinh nghiệm thế nào là sự giảo quyệt. Bà luôn có mặt ở hàng ngũ những người đi đầu trong các cuộc đòi chân lý. Trong những ngày tháng căng thẳng, có một người đàn bà nhỏ bé duy nhất lọt vào Tòa Khâm Sứ cũ, quỳ trước tượng Đức Mẹ Sầu Bi cầu nguyện một mình, hình ảnh đó được phát đi khắp nơi cho mọi người chiêm ngưỡng, hình hài nhỏ bé đó là chính bà. Bà hồn nhiên cho biết: “Thưa cha, con cầu nguyện với Đức Mẹ thì con sợ gì ai ?” Người mẹ “Anh Hùng Nhân Dân” ấy là mẹ của một Linh Mục.

Có một “Anh Hùng Nhân Dân” khác tôi cũng được gặp khi về quê, người đàn bà quả cảm ôm tượng Đức Mẹ vào đặt tại bể nước trong khu “linh địa Đức Bà”, cũng như người mẹ Anh Hùng kia, người này cũng xuất thân từ chuyên ngành “đồng nát” ( ve chai ), kể từ khi vụ việc Thái Hà xảy ra, bà nhận ra cái “lạnh lẽo đạo nghĩa” của mình, bôn ba khắp thiên hạ rồi cũng chẳng đi đến đâu, bà dừng chân ở linh địa, khởi viết lại trang sử đời mình từ những ngày đi đòi chân lý và nguyện gắn bó sống chết với điều đã chọn lựa, bà nói: “Có bắt con đi tù thì phải lo mà nuôi cơm con, con vẫn cứ đi đòi cho đến khi nào có được chân lý và sự thật”.

Có một ai đó đã viết về quê tôi, miền quê có truyền thống gìn giữ và bảo vệ Đức Tin mạnh mẽ, miền quê nghèo nhưng không nghèo lòng quả cảm, miền quê đã sản sinh ra nhân vật nổi tiếng của Giáo Hội một thời, Đức Cha Phạm Năng Tĩnh, một anh hùng của Đức Tin, miền quê đó hôm nay lại hun đúc một con người, Giuse Ngô Quang Kiệt, một gương mẫu mới của lòng yêu mến và quả cảm, sao miền quê đó lúc này im ắng quá. Không im ắng đâu, bởi vẫn còn những bà mẹ nghèo nhưng giàu lòng quảng đại, vẫn còn những bạn Taxi, xe ôm và đồng nát kiên cường.

“Các cha cứ gọi, chỉ vài phút sau chúng con sẽ có mặt tại Thái Hà”…

Lm. VĨNH SANG DCCT, 7.2.2009

LM. Vĩnh Sang, DCCT

LM. Vĩnh Sang
Theo: VietCatholic News