MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY

Nhân chuyện phim Mulan (Hoa Mộc Lan) dự kiên công chiếu vào tháng 3-2020 tại Việt Nam với Lưu Diệc Phi, nữ diễn viên từng công khai ủng hộ “đường lưỡi bò” đóng vai chính. Như vậy không chỉ Thành Long, Triệu Vy, Chân Tử Đan… mà cả một đám nghệ sĩ Tàu cộng luân phiên xâm lược nền văn hóa nước ta với sự tiếp tay của bọn bán nước từ hệ thống cầm quyền. Tôi đã báo động về chuyện này cách đây 10 năm qua bài thơ MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY, bài thơ được cố nhà báo Bùi Tín đánh giá :”có sức mạnh tương đương với hàng chục quân đoàn dã chiến không cần tới súng ống và thuốc nổ”. Nay đăng lại để mọi người cảnh báo trước tình hình Việt Nam đang dần biến thành “An Nam Đô Hộ Phủ” hiện nay…

BÙI CHÍ VINH

MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc
Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”
Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Đọc báo thấy cha ông mất hút
Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…
Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng

Chào một ngày đất nước tự lưu vong
Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc
Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc
Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười

Chào một ngày phát triển giống đười ươi
Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ
Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ
Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền

Chào một ngày vong bản vì… hèn
Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm
Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm…
Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu

Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu
Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh
Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh
Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều

Chào một ngày hình chữ S tong teo
Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít
Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết
Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng

Chào một ngày long mạch bị xới tung
Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo
Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo
Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng

Chào một ngày giống hệt cõi âm
Những xác chết anh hùng bật dậy
Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy
Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền

Chào một ngày soi rõ mặt anh em !
Bùi Chí Vinh




BIỂN ĐỘNG

Bùi Chí Vinh

Đã lâu lắm rồi tôi không quay lại biển. Nếu Đà Lạt bị “hói đầu” vì mất dần rừng thông thì Vũng Tàu, Cần Giờ cũng “trần truồng” bởi rừng dương bị đốn sạch. Không còn lá chắn xanh thì tất nhiên môi trường bị hủy diệt. May ra chỉ còn vài bài thơ BIỂN ĐỘNG, CON MẮT CỦA BÉ, CÂY DƯƠNG ỐM lãng mạn một thời đọc lại để ngậm ngùi….

BIỂN ĐỘNG

Lên đến biển là nhớ em
Kỷ niệm như sóng làm nghiêng con đò
Con đò nghiêng chỉ bốn giờ
Tôi nghiêng ít nhất cũng là bốn năm

Tôi nghiêng lên cát tôi nằm
Cái vai còn ấm hương thầm em ơi!
Tôi nghiêng xuống biển tôi bơi
Cái lưng sao lạnh tình tôi em à

Mình tôi trên bãi khuya… ca
Lỡ ai nghe được chắc là yếu tim
Tôi ca như thể tôi điên
Tôi điên như thể tôi tìm bóng ai

Sau tôi: dương mọc thành cây
Trước tôi: chim xếp thành bầy lẳng lơ
Và tôi cô độc như thơ
Quạnh hiu như nhạc, sững sờ như tranh

Dã tràng xe cát chung quanh
Tôi lặng yên để tan tành tôi đi
Vái trời em hóa cái ly
Tôi thành giọt rượu cấp kỳ cho xem

Vái trời em hóa cơn ghen
Cho đầu tôi mọc sừng thêm cũng đành
Vái trời em hóa cọng hành
Tôi thành tóp mỡ nêm canh ái tình

Vái trời đang đứng một mình
Có người bịt mắt thình lình… ai kia?
Ai kìa? Chỉ có sao khuya
Em ơi, sao rụng tim lìa ngực tôi

Là nơi em áp đôi môi
Là nơi tôi biết nói lời tương tư

CON MẮT CỦA BÉ

Con mắt của bé như con ghẹ
Mà anh mua hai ký mười đồng
Rang muối sao mà thơm thấy… mẹ
Như cái nhìn của bé phải không?
Có lẽ cần phải nêm gia vị
Lúc lai rai cũng đỡ lạnh lòng
Con mắt có bò như con ghẹ
Sao gắp vào đũa cóng tay run?

Con mắt bé còn như con ốc
Anh bỏ quên ở biển Vũng Tàu
Có lẽ cần một cây kim gút
Để khều thì con mắt mới đau
Có lẽ cần phải ra quán nhậu
Gọi dĩa mồi cho đỡ nhớ nhau
Anh sẽ luộc ốc lên mà nhắm
Không mời con mắt bé ăn đâu

Nói chung, con mắt là con gái
Tắm biển dòm chơi đủ nhức đầu

CÂY DƯƠNG ỐM

Sẽ tìm được một cây dương ốm nhất
Cởi áo ra ta đứng tựa trời trồng
Tiếp tục cởi hết quần dài quần cụt
Các em nhìn ta có giống cây không?

Sẽ đứng vậy bởi vì chiều lắm gió
Chiều im hơi ta sẽ duỗi chân nằm
Đàn ông nằm thô tục hơn thiếu nữ
Các em nhìn ta giống bóng cây không?

Sẽ xuống biển nếu cây dương bật gốc
Cây dương quyên sinh ta phải tự trầm
Kể từ đó sóng buồn như khóc
Các em nhìn ta giống rễ cây không?

Sẽ không chết nữa nếu cây dương mập
Nếu các em cũng từ khước áo quần
Nếu các em đừng nhìn ta lén lút
Ôi, biết biển còn nhớ đến cây không?

Thì ta cứ là cây dương ốm nhất
Cho các em nhìn suốt bốn ngàn năm

BCV

Ngày đó với Hương Lan ở Vũng Tàu…

Image may contain: 2 people, people smiling, ocean, sky, outdoor, water and nature



Này Em – thơ

Xin mời quý vị yêu thích thơ, đọc cho vui. Bài thơ này tôi mới viết,
khi lái xe, vừa nghe một ca khúc thật buồn viết về thân phận người con
gái. Tôi nghĩ không biết có ai, sẵn sàng cùng em nâng chén rượu cay, để
uống cho chạm đáy, đổi thay thói đời.

Này Em

Nếu em là chiếc lá bay
Anh là cơn gió thổi đầy ước mơ
Nếu em chỉ là sợi tơ
Con thoi anh sẽ, dệt tơ lụa mềm.

Nếu em, hoa nở về đêm
Đèn hoa thắp sáng bên thềm chờ ai
Anh là đom đóm nối dài
Dẫn đưa em đến lâu đài tình yêu.

Nếu em duyên nợ trớ trêu
Anh là chỗ dựa, cho nhiều đêm say
Cùng em nâng chén rượu cay
Uống cho chạm đáy, đổi thay thói đời.

Lê Tuấn

Image may contain: 2 people, people sitting and outdoor
Image may contain: 1 person, sitting, outdoor and water
Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: 1 person, sitting, plant, flower, tree and outdoor



NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO

NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO
MƯA Ở ĐÂU VỀ NHƯ VẾT THƯƠNG

Phương Tấn

Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN mất ở Canada ngày 27.9. 2019. Nhà thơ DU TỬ LÊ mất ở Mỹ ngày 7.10.2019. Nhà thơ TRẦN TUẤN KIỆT mất ở Việt Nam ngày 8.10.2019. Các anh nối nhau rời bỏ chúng ta. Sự ra đi đột ngột của các anh làm tôi sửng sốt, tiếc thương, buồn rũ rượi và đỗ bệnh suốt tháng nay.

1.
* Anh NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN từ Canada qua Cali thăm tôi vào đầu tháng 8 năm 2018. Buổi gặp gỡ thân mật hôm đó còn có các nhà thơ, nhà văn, nhà báo Hà Nguyên Du, Nguyễn Lương Vỵ, Trịnh Y Thư, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần. Không những tôi thích thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn vì thơ anh gần như là hơi thở, là sự sống khổ lụy của tôi mà tôi còn thích nhân cách của anh. Anh bộc bạch: “Thơ đến với tôi như ám chướng, viết vì không thể không viết”. Anh làm thơ trước 1975, đăng thơ khá nhiều, các tác phẩm của anh được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Canada. Anh định danh qua tài năng thi ca của anh chứ không định danh qua hội nhóm hay hình bóng người khác. “An Vi” là một trong vài bài thơ cuối cùng anh viết trước khi mất: “Em phơi phới trên bốn mùa thanh vắng / nhen lửa tình hong ấm cõi âm ti / anh là gió nên trọn đời thức trắng / giữa ta bà tâm hớn hở an vi.”

2.
* Anh DU TỬ LÊ và tôi thân nhau từ năm 1962 lúc anh còn ở ngã Bảy, Chợ Lớn. Tôi, anh Du Tử Lê, họa sĩ Phan Ngọc Diên, họa sĩ Động Đình Hồ thường gặp nhau và chúng tôi cũng thường kéo nhau ăn cơm trưa bình dân ở góc đường Lý Thái Tổ – Phan Thanh Giản. Anh Du Tử Lê có nụ cười hiền lành, dễ thương và sống rất thật với anh em. Anh cộng tác trong các tạp chí văn nghệ mà tôi phụ trách.

Tôi nhớ nhất một kỷ niệm vào khoảng năm 1971, một hôm anh Du Tử Lê bảo tôi cho nhà văn Thế Nguyên, chủ nhiệm bán nguyệt san Trình bầy một bài thơ để đăng trong tuyển tập do Trình bầy chủ trương. Tôi trao bài thơ 5 chữ cho anh Du Tử Lê. Vài hôm sau, anh Du Tử Lê gặp tôi nói anh Thế Nguyên đề nghị tôi sửa 2 câu. Tôi viết: “Bộ đội ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”, sửa thành: “Quân đôi ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”. Tôi không đồng ý sửa và xin không đăng bài thơ này. Không lâu sau, tôi biết Trình bầy là một tạp chí khuynh tả và nhà văn Thế Nguyên là ai? Gần đây, trong bữa cơm trưa cùng anh Du Tử Lê và họa sĩ Phan Ngọc Diên trên đất Mỹ, tôi kể kỷ niệm xưa cho anh nghe. Anh cười vẫn nụ cười thật hiền: “Mình nhớ. Bài thơ thật hay!” Thỉnh thoảng tôi có gửi thơ đăng trên trang dutule.com của anh và mới đây, ngày 2 tháng 10 anh có đăng bài viết của nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên viết về “Lục bát Phương Tấn”, tôi chưa kịp cám ơn anh thì anh đã mất.

Sáng Chủ Nhật ngày 27 tháng 10 năm 2019, tôi đến chia tay anh Du Tử Lê trước giờ anh đi xa, thật xa. Tôi ngồi nghe những phát biểu thâm tình cùng những tiếng hát được phổ nhạc từ thơ Du Tử Lê của các anh chị văn nghệ sĩ quá quen tên: Doãn Quốc Sĩ, Nhã Ca, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Kiều Chinh, Trịnh Cung, Lệ Thu, Đỗ Quý Toàn, Trúc Hồ… 4 giờ chiều. Tôi tiễn anh Du Tử Lê đến tận mộ và gửi xuống lòng đất cùng anh một bông hoa hồng trắng. Trời trở lạnh và gió nhiều như sắp mưa. Tôi chợt nhớ hai câu thơ của anh: “Nhớ ai buồn ngất trên vai áo. Mưa ở đâu về như vết thương”.

3.
* Anh TRẦN TUẤN KIỆT với tôi rất thâm tình. Trên “Tạp chí Phổ Thông Xuân 1962” của nhà báo Nguyễn Vỹ kèm theo mỗi bài viết hay sáng tác là một ảnh chân dung của cộng tác viên của tạp chí. Năm ấy, tôi vừa 16 tuổi, nhỏ tuổi nhất và học thấp nhất bên cạnh các nhà văn, nhà thơ, nhà báo… tên tuổi lừng lẫy cả trong nước và ngoài nước. Cũng từ sự mến mộ, sau này khi du học 2 năm tại Hoa Kỳ, nhà báo Nguyễn Vỹ đã mời tôi phụ trách chuyên mục “Lá Thư Hải Ngoại”.

Thời gian này, anh Trần Tuần Kiệt gần như là “người nhà” của tạp chí Phổ Thông, tuần báo Thằng Bờm và nhật báo Dân Ta của nhà báo Nguyễn Vỹ nên tôi rất thân với anh. Tôi hay đến nhà anh ở khu vườn Chuối, quận 3 ăn cơm trưa. Anh là dân Nam Bộ, hết sức dễ thương, sống nghèo nhưng thật giàu tình nghĩa với mọi người. Sau năm 1975, anh dời nhà về Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, tôi vẫn thường ghé trò chuyện văn thơ và lấy bài viết về võ thuật của anh cho tạp chí võ thuật mà tôi phụ trách.

Trong một lần từ Mỹ về, tôi không còn nhớ địa chỉ nhà anh nên mãi miết tìm kiếm trong các hẽm khu Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh nhưng không được. Khi trở về Mỹ, tôi vui mừng nhận được địa chỉ của anh nhưng chưa kịp gặp lại anh thì anh đã mất. Vâng, bây giờ: “Thánh thần Tiên Phật xa rồi / Lấy ai bằng hữu giữa trời vân du” như thơ của anh đã viết. Anh Trần Tuấn Kiệt ơi, thương quá!

PHƯƠNG TẤN
(30-10-2019)

Image may contain: 6 people, people sitting and outdoor
@ PHƯƠNG TẤN – nhà thơ HÀ NGUYÊN DU – nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN – nhà văn TRỊNH Y THƯ – nhà thơ NGUYỄN LƯƠNG VỴ – nhà báo PHAN TẤN HẢI – nhà văn LÊ GIANG TRẦN.
Image may contain: one or more people and text
Nhà thơ DU TỬ LÊ ký tặng PHƯƠNG TẤN tuyển tập thơ DU TỬ LÊ (1957 – 2013).
Image may contain: 8 people, people smiling, people standing
PHƯƠNG TẤN cùng nhà thơ DU TỬ LÊ và các nhà văn, nhà thơ, nhà báo ĐẶNG PHÚ PHONG – HẠ QUỐC HUY – PHẠM QUỐC BẢO – NGUYỄN LƯƠNG VỴ… tại nhật báo NGƯỜI VIỆT.
Image may contain: 2 people, people smiling, indoor
PHƯƠNG TẤN TRONG TANG LỄ NHÀ THƠ DU TỬ LÊ SÁNG NGÀY 27-10-2019 TẠI WESTMINSTER, CALIFORNIA, USA.

Theo FB




Rồi mẹ Nấm sẽ về

 

Đỗ Cao Cường

Chú lênh đênh trên biển

Cô thuyền cứ lắc lư

Chú lại bị say sóng

Phải làm sao bây giờ?

Chú dạt tới Nha Trang

Thăm hai người bạn nhỏ

Nhưng trong lòng thấy sợ

Vừa mừng lại vừa lo

Vì trong đôi mắt cháu

Có ngọn lửa căm hờn

Thôi đừng buồn nữa nhé

Tuổi thơ không có tội

Lịch sử còn ghi sai

Người đời sao biết được

Mẹ cháu là anh hùng

Tội lắm tuổi thơ ơi!

Cố gắng lo học bài

Bơm đầy mực vào nhé

Đừng để nhòe trang sách

Còn địu em tới trường

Thế giới này buồn lắm

Sống một mình cho vui

Gặp bạn tốt ta chơi

Bạn xấu thì ta tránh

Nửa đêm đừng tỉnh giấc

Đòi mẹ: mẹ, mẹ ơi!

Lệ đầm đìa trên gối

Mẹ ở đâu bây giờ?

Các cháu có làm sao

Mẹ Nấm sao sống nổi

Sẽ chẳng ai mua thuốc

Chỉ có mẹ có bà

Mẹ Nấm ở bên kia

Bốn bức tường lạnh ngắt

Cơm chan cùng nước mắt

Thèm một tiếng gọi Con

Thôi đừng buồn nữa nhé

Tuổi thơ chỉ có một

Màn đêm rồi sẽ tắt

Để nhường ánh bình minh

Mai dân mình tỉnh giấc

Rồi mẹ Nấm sẽ về

 

Ngày 17/11/2016

 

(Quán Cafe Trịnh – 50 Xuân Thủy – Sài Gòn)




Một Thời Viết Lách

 

Ngô Viết Trọng

15/11/2017

Tác giả bắt đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2017. Ông sinh năm 1944 tại Thừa Thiên, Huế, cựu học sinh Nguyễn Tri Phương, Quốc Học. Trước 1975, là cảnh sát quốc gia. Cựu tù cải tạo. Làm rẫy vùng kinh tế mới. Đến Mỹ theo diện HO từ 1993, ông có 12 cuốn sách đã xuất bản. Bài viết mới là tự truyện của một “ông nhà văn kiêm thằng bỏ báo” như bạn hữu thân tình gọi tác giả.

 

***

 

Tôi đến đất Mỹ lúc tuổi đã ngoài năm mươi. Sau khi hưởng trợ cấp xã hội được một thời gian, cơ quan xã hội yêu cầu những người chưa tới tuổi 65 muốn được tiếp tục hưởng trợ cấp phải kiếm một việc làm hoặc phải đi học một lớp học nào đó. Trình độ Anh ngữ của tôi quá kém, tuổi tác lại cao nên rất khó kiếm ra việc. Đành phải chọn việc đi học thôi!

 

Nhưng đi học lại khổ theo nỗi đi học! Trí óc tôi lúc bấy giờ như đã cùn lụt, cứ học trước quên sau. Tôi đã cố gắng hết mình để đọc bài vở, để luyện giọng nhưng vẫn như không. Cái lưỡi lẫn đôi tai của tôi đều bất lực tệ hại. Cũng tú tài, cũng mang danh sĩ quan một thời như ai mà giờ lâm tình cảnh như vậy tôi làm sao khỏi tủi thân! Không còn đói rách, không bị chèn ép, đày đọa như hồi sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng tâm trí tôi vẫn chẳng mấy khi được thoải mái.

 

May sao, tình trạng ấy đã không kéo dài. Không lâu sau đó tôi đã kiếm được một công việc ít cần đến Anh ngữ. Đó là việc dọn rác ở một warehouse xe lunch do một người Việt trẻ làm chủ. Công việc hàng ngày của tôi là dọn dẹp rác ở sân bãi đậu xe. Đây là một sân bãi rộng, đậu gần một trăm xe lunch – xe đi bán đồ ăn trưa ở các công sở, công trường hay trường học. Các xe đi bán sớm, muộn, gần, xa, nhiều, ít khác nhau nên họ cứ đi đi về về lai rai khiến công việc của tôi thường kéo dài suốt ngày. Vất vả nhất là những ngày nắng gắt và những ngày mưa gió lạnh lẽo. Còn may là nỗi vất vả ấy cũng có chút đền bù. Ngoài lương hàng tháng, tôi được độc quyền lượm lon nhôm, vỏ chai ở warehouse đem bán. Món lợi tức phụ này đủ cho tôi đổ xăng nhớt và mua sách báo giải trí. Nhờ có việc làm, tinh thần tôi dần ổn định trở lại. Những ngày nghỉ thỉnh thoảng tôi cũng đi dự những buổi tiệc tùng do những bạn cũ hay những người làm xe lunch mời. Sau mỗi bữa tiệc như thế thường kéo theo một buổi chơi văn nghệ bỏ túi như hát karaokê, ngâm thơ, kể chuyện hài… Dần dần tôi đã làm quen với các buổi ra mắt truyện hoặc thơ của một số văn nghệ sĩ. Lúc bấy giờ Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại mới thành lập ở Sacramento đã nâng cảnh sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng người Việt ở đây rộn ràng phấn chấn lên nhiều. Nguồn sinh khí văn nghệ từ những buổi sinh hoạt này đã khơi dậy trong tôi nhiều cảm hứng. Qua những tác phẩm ấy tôi đã gặp những mẩu truyện, những vần thơ rất gần gũi với mình. Nó cũng tương tự những chuyện tôi từng gặp thời đang ở tù và mười mấy năm sống ở vùng kinh tế mới. Tôi cũng từng gánh chịu nhiều cay đắng, uất ức như mấy tác giả trên, sao không trang trải những nỗi niềm đó với thiên hạ cho lòng nhẹ bớt? Thế là tôi cũng muốn trở thành một văn nghệ sĩ tài tử.

 

Từ thời học trò tôi đã là một tay nghiện đọc sách. Tôi mê nhất là các loại sách lịch sử và truyện Tàu. Thấy bất cứ cuốn sách lạ nào, kể cả sách truyện tranh, tôi đều tìm cách đọc cho được. Tôi cũng từng thử viết truyện, làm thơ nhưng lơ mơ chưa thành. Nay có cơ hội trở lại với cái thú văn chương đó tôi mừng lắm. Bước đầu tôi sáng tác vài bài thơ, kế đến tôi ghi lại vài đoạn bút ký về những ngày tháng tù tội sau 30/4/1975 gởi đăng trên vài tờ báo địa phương. Nội dung những bài viết này dựa trên những chuyện thật đã xảy ra nên cũng được một số độc giả ưa thích. Sự cổ võ, khích lệ của những người quen biết khiến tôi càng hứng chí. Nhưng suy nghĩ lại tôi không khỏi tự thẹn: Đã quá nửa đời người, sống ở Mỹ trải mấy năm mà chưa nói được tiếng Mỹ, chưa hội nhập được với xã hội mới còn đòi làm nhà văn nhà thơ cái nỗi gì? Lâu lâu viết một bài cho vui theo kiểu tài tử còn được chứ muốn trở thành một văn nghệ sĩ thứ thiệt thì quả là ảo mộng! Chút năng khiếu viết lách đâu đã đủ? Trước hết là làm sao khỏi bận tâm chuyện áo gạo, chuyện bệnh tật… Kế đến là phải có thì giờ. Không có thì giờ để chọn lời lựa lẽ, trau chuốt câu kéo mạch văn sẽ vụng về, rời rạc!

 

May thay, cuối cùng tôi cũng kiếm được một công việc như ý: nghề bỏ báo! Ở Sacramento lúc ấy có tờ nhật báo Sacramento Bee là nhật báo phổ biến rộng rãi nhất. Người bỏ báo (carrier) thường chỉ làm việc về đêm, ban ngày được rảnh rỗi hoàn toàn. Có điều bất tiện là nghề này quanh năm không có ngày nghỉ, không có phép thường niên. Những ngày thứ bảy, chủ nhật và các ngày lễ lớn công việc lại nặng gấp rưỡi, gấp đôi ngày thường. Do đó, rất trở ngại cho người bỏ báo khi cần việc phải đi đâu xa. Mặc kệ nó, tôi chẳng cần đi đâu nữa! Miễn sao hằng ngày có nhiều thì giờ rảnh để viết lách là thỏa nguyện rồi! Thế là tôi giã từ việc dọn rác để gia nhập nghề bỏ báo.

 

Từ đó, cứ một hai giờ khuya tôi đến một warehouse báo để nhận báo rồi đem phát tận nhà cho những khách hàng được liệt kê sẵn trong một danh sách do warehouse ấy cung cấp. Tiền công tính theo số lượng báo đã giao nhiều hay ít. Vì muốn kiếm được một số tiền tương đương với việc dọn rác, tôi phải gắng nhận bỏ nhiều báo. Do đó, công việc tôi lúc nào cũng vất vả, gấp gáp. Hằng ngày, tôi phải giao báo xong trước 6 giờ sáng để nhiều khách hàng kịp đọc trước khi đi làm. Thời gian còn lại trong ngày tôi có thể chở vợ đi chợ, chở con cái đi học và lai rai viết lách. Thay thế món lợi tức phụ “lượm lon chai”, việc bỏ báo lại cho tôi một món lợi tức phụ khác vào dịp lễ Noel và Tết Tây – một khoản tiền “tip” cũng kha khá.

 

Thật ra đó chỉ là cái nhìn chung chung. Vì ham có nhiều thì giờ để viết lách tôi đã hấp tấp khi quyết định thay đổi việc làm. Bước vào thực tế tôi mới rõ cái thời huy hoàng của nghề bỏ báo đã hết. Nó đã trở thành một nghề “ăn lưng đọi làm lọi lưng” và đang trên đà tuột dốc.

 

Hồi ấy, tiền công bỏ một tờ báo khoảng 11, 12 xu trong khi một gallon xăng giá khoảng một đồng. Mười năm sau công bỏ một tờ báo chỉ nhích lên khoảng 13, 14 xu trong khi một gallon xăng đã tăng lên gần ba đồng. Trước kia khách hàng mua báo rất nhiều. Càng về sau, khi ngành internet càng phát triển, khách hàng mua báo càng giảm xuống. Họ chuyển sang theo dõi tin tức trên internet vừa nhanh vừa sớm vừa đầy đủ hơn. Khách hàng càng thưa thớt tất nhiên việc giao báo càng mất công hơn.

 

Một sự thay đổi khác, trước kia khi bỏ báo nếu bị khách hàng phàn nàn báo thiếu, báo rách hay báo ướt liền có người của warehouse đi bỏ bổ khuyết ngay, carrier không thiệt hại gì. Sau này hễ carrier nào bị khách hàng phàn nàn bất cứ lý do gì warehouse đều khấu trừ của carrier ấy 2 đồng mặc dù tờ báo chỉ có giá trị 25 xu hay 45 xu. Nhiều carrier nản quá, lần lượt bỏ đi tìm nghề khác. Cuối cùng chỉ còn hạng yếu kém ngôn ngữ, đặc biệt là trường hợp của tôi còn quá tiếc rẻ “thời gian rảnh để viết lách” đành phải bám nghề.

 

Về mặt an ninh, tôi cũng phạm một lỗi lầm đáng kể. Ban đầu tôi cứ tưởng việc bỏ báo chỉ cực bởi vụ thức khuya dậy sớm thôi. Vào cuộc rồi tôi mới biết nghề này không phải chỉ cực khổ vì chuyện thức khuya dậy sớm mà còn rất dễ gặp nguy hiểm nữa. Ông HO Triệu Văn Tú đã bị đâm chết khi đang bỏ báo. Một người khác bỏ báo xong trên đường về nhà buồn ngủ quá đâm xe vào một gốc cây mà chết.

 

Chuyện bị cướp xe thường xảy ra đều đều… Nhưng lỡ rồi, việc dọn rác đã có người thay, mình rút lui thì càng lâm vào ngõ bí! Tôi đành tự trấn an có người có ta ngại nỗi gì? Đã làm việc trong bóng tối mình cứ luôn đề phòng là xong! Họa hoằn lắm mới xảy chuyện rủi ro một lần, chẳng lẽ mình cũng mang số con rệp?

 

Nhưng dè dặt cẩn thận mấy tôi vẫn không sao thoát khỏi sự quấy nhiễu của đám vạc ăn sương. Để giữ mình, lúc nào tôi cũng phải lấy tinh thần “nể tình Mỹ đen” làm phương châm ứng xử. Khi bị chận xin một điếu thuốc lá, khi bị xin một đồng bạc, khi lại bị xin một hai tờ báo. Lần nào cũng dùng dằng mất khá nhiều thì giờ. Dĩ nhiên khi đã “phải” cho vài tờ báo sau đó tôi phải ráng chạy xe trở về warehouse xin tờ khác để bỏ bù cho khách hàng. Vì thế, cứ thấy bóng người xuất hiện là tôi đã hoảng. Tôi sợ luôn cả những người đi thể dục buổi sáng…

 

Đề phòng con người đã đành, carrier còn phải đề phòng luôn cả những con chó nữa. Chuyện carrier bị những con chó lạc quấy nhiễu kể không xiết. Tôi cũng một lần bị nó cắn vào chân, phải đi khám bác sĩ, chích thuốc ngừa.

 

Chuyện gây ấn tượng mạnh nhất trong tôi là 2 lần bị cướp xe.

 

Thói quen của carrier là luôn nổ máy xe trong thời gian bỏ báo cho đỡ mất thì giờ. Đêm đó khoảng 2 giờ khuya, tôi ngừng xe trước nhà một khách hàng . Khi bước lại gần bậc cửa để quăng tờ báo tôi chợt thấy một bóng người đang chạy vụt lại xe tôi. Chưa kịp hô hoán tiếng nào chiếc xe của tôi đã phóng chạy. Tôi sững sờ giây lát rồi đành gõ cửa nhà khách hàng mượn phone báo tin sự việc cho warehouse biết đồng thời nhờ họ báo cào với cảnh sát.

 

Nhiều ngày sau đó tôi phải vất vả dùng các phương tiện tạm để tiếp tục làm công việc. Chừng nửa tháng sau cảnh sát gọi báo cho tôi biết chỗ để đến nhận xe về. Cuối cùng, tiền thuê thô xe, tiền trả chỗ đậu, tiền sửa chữa xe bị hư hại do kẻ cướp phá phách cộng lại cũng mất hết vài tháng lương bỏ báo.

 

Sáu tháng sau, một đêm khác cũng khoảng 2 giờ khuya, xe tôi lại bị cướp một lần nữa. Lần này tôi mới rời xe được mấy bước bỗng thấy một chiếc xe chạy ngược chiều sà lại sát xe tôi. Tôi giật mình quay lại nhưng một tên cướp từ xe kia đã phóng lên ngồi vào ghế tài xế của xe tôi. Với phản ứng tự nhiên, tôi mở được cánh cửa sau của xe nhưng tên cướp vẫn phóng xe chạy. May tôi buông tay kịp, nếu không, ít lắm cũng gãy tay dập mặt! Nay nhớ lại chuyện đó tôi vẫn còn rùng mình.

 

Gần một tháng sau chiếc xe ấy cũng được “hoàn cựu chủ” và tôi lại phải gánh chịu một khoản phí tổn tương đương khoản phí tổn lần trước!

 

Thế mà mọi người còn cho như vậy là còn tôi có phước vì cả hai lần của mất mà thân vẫn an. Họ khuyên tôi nếu gặp lại những trường hợp như thế tốt nhất là “xuôi tay cho mệ nuốt” để tránh tai họa.

 

Ngoài vấn đề an ninh bản thân bị đe dọa, tôi cũng còn gặp nhiều chuyện cười ra nước mắt, xin kể vài vụ sau đây:

 

Mới bước vào nghề bỏ báo được mấy tháng tôi đã gặp một trận lụt. Chiếc xe tôi đi cũ kỹ, móp méo nhưng máy xe lại rất tốt. Hôm ấy mưa rất lớn, trời có bão. Các đài truyền thông, truyền hình đều thông báo ai không có việc cần thiết không nên ra đường. Với tinh thần trách nhiệm, tôi vẫn lái xe đến warehouse làm việc. Khi ra ngoài thấy cây cối nghiêng đổ nghênh ngang, nước lên lênh láng, nhiều đoạn đường bị ngập, tôi đã chột dạ. Nhưng tôi vẫn tiếp tục đi. Tới warehouse tôi thấy báo cũng vừa chở tới. Lúc đó chỉ mới có vài ba carrier. Đã có báo, làm xong sớm nghỉ sớm chứ ngần ngại gì nữa? Tôi cẩn thận bọc từng tờ bằng bao nylon cho khỏi ướt rồi xuất hành. Trời vẫn tiếp tục mưa gió và nước vẫn tiếp tục lên.

 

Tới địa điểm bỏ báo tôi mới thấy những lối vào nhà khách hàng đều khác hẳn ngày thường. Những nhà hơi thấp đều có chất quanh bao cát để ngăn nước. Nhiều đoạn đường nước lên cao gần lút bánh xe. Tôi rất lo sợ vì xe tôi có thể bị tắt máy giữa đường. Nhưng may, chiếc xe méo mó của tôi vẫn hiên ngang vượt qua mọi trở ngại. Khi bỏ báo cho khách hàng cuối cùng xong, tôi mừng lắm. Cũng lúc đó tôi mới để ý đến thân thể mình đang ướt đẫm từ trong ra ngoài dù tôi vẫn mặc áo mưa. Khi lái xe về tới nhà, tôi sung sướng quá, vội tắt máy, vô nhà rửa ráy sơ sài, thay áo quần rồi lên giường đắp mền ngủ một giấc.

 

Tới chiều thì mưa gió đã ngừng, nước đã hạ. Tôi chợt nhớ có một chút việc cần phải ra ngoài. Khi đề máy xe tôi ngạc nhiên thấy nó cứ kêu rẹt rẹt mà không chịu nổ. Thế là tôi phải nhờ thợ máy đến coi. Người thợ coi xong cho biết máy xe đã bị hỏng hoàn toàn vì bị ngâm nước lâu quá. Anh ta nói “Khi mới về nếu ông cứ để máy tiếp tục nổ một hồi cho các cơ phận khô ráo thì đâu đến nỗi!”. Sự thiếu hiểu biết về máy móc của tôi đã làm chiếc xe máy còn rất tốt trở thành chiếc xe phế thải.

 

Mấy hôm sau tôi nhận được một giấy khen của tòa báo kèm cái check “25 đồng tiền thưởng”. Hôm bão lụt ấy ngót một nửa số carrier đã không đi giao báo. Số còn lại hầu hết giao báo rất trễ. Tôi là người duy nhất bỏ báo đầy đủ, không bị khách hàng nào phàn nàn! Mỗi lần nhớ lại cái phần thưởng “đặc biệt” đó tôi không khỏi tức cười!

 

Một chuyện khác, tôi vốn có tật riêng là hay mắc tiểu vô trật tự. Ban đầu, nhờ bỏ báo ban đêm, tôi đã lợi dụng bóng tối để giải quyết nỗi rắc rối của mình. Nhưng cầm dao lâu ngày cũng đứt tay, có một lần tôi đã bị một khách hàng bắt quả tang. Tuy được thông cảm bỏ qua nhưng từ đó tôi không dám sử dụng quái chiêu ấy nữa. Tôi đã nghĩ ra một cách giải quyết khác kín đáo hơn. Bình thường, trong khi bỏ báo, gặp lon nhôm chai nhựa tôi đều lượm bỏ vào xe. Lúc cần thiết, tôi tắt đèn ngồi trong xe tiểu vào một cái lon. Xong việc lại bật đèn, quay kính xe xuống đổ nước ra đường. Không ngờ lần kia có một viên cảnh sát đậu xe dọc đường mà tôi không để ý.  Có lẽ thấy tôi tắt đèn ngồi trong xe hơi lâu, ông ta đã âm thầm theo dõi. Chưa đổ xong lon nước thì chiếc xe cảnh sát đã trờ tới. Khổ nỗi cái lon tôi dùng lại là cái lon bia! Tôi phải ấm ớ giải thích một hồi, may có sẵn một đống vỏ lon trên xe làm chứng việc mới ổn. Sau vụ này tôi luôn cảnh giác với cảnh sát và biết được họ vẫn luôn tắt đèn đậu xe ở những nơi khó ngờ hoặc chạy xe ban đêm không bật đèn nữa…

 

Lại một lần khác, khi đang bỏ báo tôi bị đau bụng bất ngờ. Trong khu vực route báo tôi không quen nhà nào nên không biết đi tiêu nhờ vào đâu. Nhà tôi xa quá, đành phải liều nín nhịn để tiếp tục làm công việc. Nhưng rồi không may tức nước vỡ bờ. Tôi đang khốn khổ với cái quần dơ dáy, gắng bỏ cho xong những tờ báo cuối cùng thì một khách hàng nữ xuất hiện vừa nhặt báo vừa vẫy gọi tôi:

 

-Boy, boy, come here!

 

Khách hàng mua báo đa số chẳng biết mặt mũi người bỏ báo lớn nhỏ trẻ già thế nào nên vẫn gọi là “boy” cả. “Boy tôi” lúc bấy giờ đang ở hàng ngũ sáu bó, thuộc lớp “boy ông nội ông ngoại” rồi. Vì trong mình đang dơ dáy quá, tôi giả lơ như không nghe. Nhưng người đàn bà vẫn tiếp tục miệng kêu “boy, boy” tay vẫy lia lịa. Sợ bà ta có thể hiểu lầm mình đã làm điều gì mờ ám sinh rắc rối, tôi đành phải quay lại. Tới gần tôi mới biết bà ta gọi tôi lại chỉ để tặng 10 đồng tip. Tôi nhận tiền, cám ơn rồi vội phóng đi ngay. Không biết bà ta có cảm nhận được “nỗi khổ” của tôi lúc đó không…

 

Vụ làm khổ tôi lâu nhất là vụ xe lấy rác đình công. Trong khu vực tôi bỏ báo, xe rác vẫn thường lấy rác mỗi tuần một lần như các nơi khác. Thùng rác thường chứa đồ hư, đồ bỏ đã mốc meo, đôi khi có cả thịt cá, xác súc vật… nên rất dễ sình thúi. Vì thế, khi các thùng rác đã được trưng ra đường thì chẳng ai muốn lại gần. Kể cả những người hay đi bộ thể dục đến ngày lấy rác họ cũng phải nghỉ để tránh. Nhưng bọn bỏ báo chúng tôi thì không thể tránh được! Lần đó chúng tôi dính phải vụ công nhân lái xe rác đình công đấu tranh đòi tăng lương! Ngày đầu ngày thứ hai còn gắng chịu được, sang ngày thứ ba thứ tư  chúng tôi phải mang khẩu trang để xông trận! Mùi rác nó lợm tởm đến độ bỏ báo xong về nhà nuốt cơm cũng không vô! Hơi thúi bốc khắp vùng đến nỗi những kẻ hay lang thang về đêm thời gian đó cũng biệt tăm. Đã có vài carrier chịu không nổi đành liều bỏ việc. Cũng may tình trạng dở khóc dở cười đó chỉ kéo dài đúng một tuần lễ!

 

*

 

Từ khi bước vào nghề bỏ báo, nhờ rảnh nhiều nên tôi đã viết được nhiều hơn. Những việc xảy ra trong thời gian bỏ báo ấy đã nhiều lần trở thành những đề tài ngộ ngộ để tôi khai thác. Khi đưa một truyện lên báo xong, hôm sau thế nào tôi cũng được trực tiếp nghe những người trong cuộc nhận xét, bình phẩm.

 

Trong đám đồng nghiệp của tôi có khá nhiều dân trí thức. Nhà giáo, viên chức hành chánh, sĩ quan cấp tá, cấp úy trong quân đội VNCH đều có đủ. Chính nhờ lĩnh hội được những lời nhận xét, bình phẩm trực tiếp này mà tôi đã bổ khuyết, sửa chữa được khá nhiều sai sót. Họ cũng gợi ý, bổ túc giúp tôi hoàn thành những truyện ký trong tù, những truyện ngắn xã hội. Có người còn khuyến khích tôi ra một cuốn sách để kỷ niệm. Đó cũng là điều mong ước của tôi. Những lời khuyên ấy đã khiến tôi càng hứng chí. Mới viết được tám chín truyện tôi đã ướm thử độ dày của nó. Qua nhiều lần ướm đi ướm lại, thấy nó vẫn còn quá mỏng, tôi càng thấy nôn nóng.

 

Trong lúc loay hoay tìm kiếm đề tài, tôi sực nhớ đến môn học lịch sử – môn sở trường của tôi.

 

Từ thuở nhỏ tôi đã ham đọc sách sử ký. Tôi đã tìm đọc hầu hết các bộ chính sử của Việt Nam của các sử gia xa xưa như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ… cho đến các bộ sử của các sử gia gần đây như Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn… Ngoài ra, thấy bất cứ cuốn sách nào liên quan đến các nhân vật lịch sử tôi đều tìm cách đọc cho được. Do đó, những nhân vật phi thường, những chiến công lừng lẫy… và cả những vết tích ô nhục trong sử Việt hầu như còn in đậm trong trí óc của tôi. Tại sao không khai thác những điều hiểu biết ấy?

 

Ai cũng biết một số điển tích tự nó đã chứa sẵn những ý nghĩa sâu sắc, cao xa. Nó có thể là một tấm gương cao đẹp của một bậc anh hùng vì nước quên thân. Nó cũng có thể là một hành vi đê tiện của một tên bán nước hại dân bị người đời nguyền rủa. Tô vẽ, khơi sáng lại những tấm gương cao đẹp hoặc xấu xa ấy để thiên hạ noi theo hoặc xa lánh cũng bổ ích cho đời lắm chứ! Thế là tôi thử phóng tác vài truyện ngắn lịch sử.

 

Không ngờ những truyện sử này còn được nhiều độc giả hoan nghênh, lưu ý hơn cả những truyện tôi viết trước đó. Được chú ý nhất là truyện “Chú Tiểu Chùa Cổ Pháp” viết về nhân vật Lý Công Uẩn. Những truyện này chính là nhân duyên nối kết tôi với anh Tô Hòa Dương, một người anh tinh thần, người sau này đã hết lòng giúp đỡ tôi trên con đường sáng tác văn học.

 

Nhờ thêm mấy truyện sử này, tôi đã nâng tập truyện tương lai lên khoảng 250 trang. Thế là hết lo chuyện “nửa đường đứt gánh”, mừng ơi là mừng! Tôi bèn chọn tựa đề của một truyện ngắn đắc ý nhất để làm tựa đề tập sách: “Vết Hằn Mùa Xuân.”

 

Sau đó tôi nhờ người vẽ bìa, lay out, trình bày cuốn sách để đem đi in. Ban đầu tôi chỉ có ý định in khoảng ba trăm cuốn. Mình yếu tài chánh, nhà cửa lại chật, nếu in nhiều không tiêu thụ hết biết chứa vào đâu? Khi hỏi nhà in, họ tính một cuốn khoảng năm sáu đồng khiến tôi đâm hoảng. May sau đó họ lại cho biết nếu in số lượng lớn hơn thì tiền công in sẽ được giảm xuống. Sau khi bàn nghe mấy người bạn góp ý hơn thiệt, tôi quyết định in luôn một ngàn hai trăm cuốn. Biết mình còn cơ hội khác nữa không? Phải liều bị đòn thôi!

 

Chi phí trước sau cho việc in cuốn sách đầu tiên của tôi  ngót nghét 3.000 đồng!

 

Đã lỡ chi một số tiền khá lớn so với hoàn cảnh eo hẹp của gia đình, tôi phải lo tìm cách gỡ gạc ít nhiều. Sách chưa in xong tôi đã nhờ Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị VN ở Sacramento và một số bạn bè giúp đỡ. May mắn là hội CTNCT đã sốt sắng nhận lời đứng ra tổ chức một buổi ra mắt sách. Các báo Việt ngữ ở địa phương cũng sốt sắng hỗ trợ các phương tiện cổ động, giới thiệu tác phẩm. Tuy vậy, tôi vẫn luôn bồn chồn lo lắng mất ăn mất ngủ suốt thời gian ấy.

 

Đầu năm 2001, tập truyện Vết Hằn Mùa Xuân của tôi đã được ra mắt độc giả ở Sacramento. Buổi ra mắt sách đã thành công ngoài dự tính. Hơn hai trăm đồng hương đã tham dự ủng hộ. Số tiền mua sách thu được cũng khá, sau khi trừ chi phí cho cuộc tổ chức, số còn lại cũng vượt trên một nửa số tiền vốn đã bỏ ra. Sự thành công này là một niềm khích lệ lớn giúp tôi thêm tự tin để hăng hái tiếp tục viết lách.

 

Thiết tưởng cũng nên nói sơ lược vài dòng về việc xuất bản sách tiếng Việt ở đất Mỹ. Khác với ở VN, xuất bản một cuốn sách tiếng Việt ở Mỹ, rất hiếm có tác giả nào thu lại được vốn nếu chỉ gởi nhờ các nhà sách bán. Ai không có một chỗ dựa “thiết thực” mà xuất bản một tác phẩm tức là đã chấp nhận một sự hi sinh. Những người đủ khả năng thì hi sinh một chút cũng không sao, hi sinh để thỏa mãn niềm vui riêng, hi sinh để giải tỏa tâm tình… Ở Mỹ có người Việt nào sống nổi bằng công việc sáng tác văn chương thuần túy đâu? Để thu lại được ít nhiều số vốn đã bỏ ra, các tác giả phải được sự ủng hộ của độc giả qua các buổi ra mắt sách. Nhưng muốn tổ chức một buổi ra mắt sách không dễ dàng gì. Trước hết, phải có một bộ sậu ít nhất cũng bốn năm người phối hợp cùng nhau làm việc. Trong số đó ít nhất cũng phải có một người có tài tổ chức điều hành tổng quát, phải có một người ăn nói lưu loát nắm vững được nội dung tác phẩm ra mắt để giới thiệu với độc giả. Và cũng cần có một địa điểm thuận tiện cho độc giả đến dự. Phần đông số văn nghệ sĩ vẫn xuất bản sách được là nhờ họ may mắn có sẵn một công việc làm ăn khác. Thuận lợi nhất là người làm việc ở các ngành truyền thông, báo chí, tác phẩm của họ dễ dàng được rao truyền rộng rãi. Hoặc ít nhất, người viết sách cũng phải có nhiều bạn bè thuộc hạng mạnh thường quân hoặc hạng có uy tín với đồng hương tiếp tay. Những người này có thể tạo phương tiện giúp tác giả đi ra mắt sách bất cứ nơi nào thuận lợi.

 

Hoàn cảnh của tôi chật hẹp hơn nhiều. Nghề bỏ báo không có ngày nghỉ. Muốn đi đâu năm bảy ngày phải cậy người bỏ báo thế. Phải trả tiền công gấp ba tiền công của mình vẫn chưa chắc kiếm ra người giúp. Nếu người bỏ báo thế sơ suất, lôi thôi chuyện gì carrier cũng có thể bị mất việc. Khi liều lĩnh tổ chức một cuộc ra mắt sách ở xa, dù thành công về mặt tài chánh đi nữa phần thu vào cũng khó bù đắp nổi phần chi ra. Suy tính như vậy nên tôi đành thủ phận “gà què ăn quẩn cối xay”.

 

May một điều, tôi vốn hiền lành chất phác, ăn ở rất ít mất lòng ai. Khi sinh hoạt trong cộng đồng tôi cũng được nhiều người mến chuộng. Do vậy, các hội đoàn, đoàn thể ở địa phương đã nhiều lần giúp tôi tổ chức các buổi ra mắt sách. Nhờ bà con thương, lần ra mắt nào cũng tương đối thành công. Lúc này hai tiếng “nhà văn” đã quen gắn liền với tên tuổi tôi. Đối với tôi, được kèm hai tiếng “nhà văn” đáng hãnh diện ấy cũng có chút khá tức cười. Thực tế tôi vẫn là một anh bỏ báo lam lũ phải chạy hộc gạch đêm này qua đêm khác để kiếm sống.

 

Thật khó quên những hình ảnh trái nghịch ngộ nghĩnh trong những ngày ra mắt sách ấy. Buổi khuya tôi là một anh bỏ báo lôi thôi lếch thếch, lượm từng cái lon hoặc ngửa tay nhận vài đồng tiền tip của khách hàng, buổi chiều tôi lại thành một nhà văn mặc veston đàng hoàng, trịnh trọng đóng vai chính trong một buổi sinh hoạt văn hóa! Cũng truyền thông báo chí phỏng vấn, cũng văn nghệ ca nhạc rềnh ràng như ai! Cảnh đó lâu lâu tái diễn một lần – cũng là kỷ niệm đẹp đấy chứ! Vì những hình ảnh trái nghịch ngộ nghĩnh đó, các đồng nghiệp của tôi vẫn hay gọi đùa tôi là “ông nhà văn – thằng bỏ báo”! Cách gọi đó cũng làm tôi thích thú. Tiếng “thằng” ở đây không có ý chế diễu, khinh lờn mà chỉ hàm ý thân thương, đùa bỡn đầy khích lệ. Thực tế khách hàng mua báo không hề biết mặt mũi carrier ra sao, lớn nhỏ thế nào nên khi cho tiền tip hay dặn bảo điều gì họ đều gọi “boy, boy” ráo trọi. “Boy” diễn ra “thằng” đâu có sai lệch mấy!

 

*

 

Như trên đã nói, chính những truyện sử đầu tiên của tôi đã giúp tôi gặp được một người bạn tri kỷ, một người anh tinh thần tuyệt vời, đó là anh Tô Hòa Dương.

 

Anh Tô Hòa Dương là con trai của nhà văn Bình Nguyên Lộc. Sau khi đọc các truyện ngắn lịch sử đầu tay của tôi, anh hết sức khen ngợi. Anh bảo tôi viết truyện sử rất hấp dẫn và khuyên tôi nên chuyển hướng viết về thể loại tiểu thuyết lịch sử.

 

Tiểu thuyết lịch sử là thể loại tiểu thuyết viết về các nhân vật hay các sự kiện quan trọng đã xảy ra thật trong lịch sử. Nội dung các tác phẩm này thường tái hiện bối cảnh xã hội của một thời kỳ đặc biệt nào đó, hoặc khơi sáng công lao của một vị anh hùng chống ngoại xâm hay dẹp nội loạn, hoặc tán dương lòng tiết liệt của một bậc anh thư, hoặc vạch trần cái ác, cái xấu của một chế độ cai trị, một bạo chúa, một gian thần v.v… Ngoài mục đích phục vụ văn học nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử còn có thể tải theo một thông điệp khác. Nói chung, viết tiểu thuyết lịch sử là vẽ lại những bức tranh của quá khứ, trong đó hai thái cực thiện và ác, chính và tà thường được tô đậm nét để người đời nhìn vào mà noi theo hay xa lánh.

 

Theo anh Dương, thể loại tiểu thuyết lịch sử hiện nay rất cần thiết cho việc giáo dục công dân. Nó có thể trở thành nhịp cầu đưa độc giả đến gần với chính sử – một môn học thuở nhỏ chúng ta vẫn ít ưa vì nó khô khan khó nuốt. Một vị anh hùng, một bậc anh thư, một nghĩa cử cao thượng, một hành động hi sinh vì dân vì nước trong tiểu thuyết lịch sử nếu được diễn tả sống động có thể gợi ý khiến độc giả phải tìm hiểu sự thật qua chính sử. Khi đã gần gũi với chính sử, đã biết được sự hi sinh xương máu to lớn của các bậc tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước, chắc chắn lòng yêu nước của ta sẽ bị khơi động, sẽ mạnh mẽ, thiết tha thêm! Người càng hiểu biết lịch sử nước nhà thì tinh thần yêu nước càng sâu đậm.

 

Người Tàu đã sử dụng những tiểu thuyết lịch sử của họ như một phương tiện để xâm nhập văn hóa vào các nước khác. Các tiểu thuyết lịch sử của họ như Tây Du Ký, Đông Châu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng, Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Thủy Hử v.v… đã được phổ biến rộng rãi khắp Việt Nam. Từ các rạp hát cố định đến các gánh hát lưu diễn cũng chuyên diễn các tuồng Tàu… Nó ảnh hưởng mạnh đến nỗi có nhiều người Việt, nhất là trong giới bình dân, có thể kể chuyện về Hàn Tín, Quan Công, Nhạc Phi, Võ Tòng rất rành rọt mà lại không biết gì về Trưng Trắc, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… Đó là một điều đáng buồn cho người Việt mình. Nước ta không thiếu anh hùng, liệt nữ từng xả thân vì nước vì dân, tạo nên không biết bao nhiêu trang sử hiển hách, tại sao chúng ta không khai thác điều đó? Tại sao không tái hiện, không điểm tô, mỹ thuật hóa những trang sử đó để dễ đưa tên tuổi những anh hùng liệt nữ của ta thâm nhập vào lòng quốc dân?

 

Những ý tưởng của anh Tô Hòa Dương nêu ra đều quá đúng. Để đáp ứng tinh thần đó, tôi đã cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu và sáng tác.

 

Năm 2002 tôi khai sinh được tập tiểu thuyết lịch sử đầu tiên: “Tình Hận” (tái bản năm 2005 đổi thành “Lý Trần Tình Hận”). Tập truyện này nói về những cuộc tình cực kỳ éo le giữa các nhân vật nổi tiếng của họ Lý và họ Trần đã diễn ra trong giai đoạn chuyển tiếp ngai vàng giữa hai họ này. Tiêu biểu là cuộc hôn nhân đầy bi kịch giữa vị vua cuối cùng của nhà Lý (Lý Chiêu Hoàng) và vị vua mở đầu cơ nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh).

 

Năm 2003 tôi xuất bản tập truyện ngắn “Ngõ Tím” viết về chuyện tù, chuyện vùng kinh tế mới.

 

Năm 2004 tôi cho ra đời tập tiểu thuyết lịch sử thứ 2: “Công Nữ Ngọc Vạn”. Công nữ Ngọc Vạn là con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau khi kết hôn với vua Chân Lạp là Chey Chetta 2, bà đã khéo léo thuyết phục vị vua này thu nhận và biệt đãi di dân người Việt. Sự sai lầm của ngài đã tạo điều kiện cho di dân Việt đâm chồi mọc rễ trên phần đất Thủy Chân Lạp (vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh). Chính đám di dân này đã trở thành hạ tầng cơ sở vững chắc để về sau giúp các chúa Nguyễn trên bước đường Nam Tiến. Kết quả là toàn bộ vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh, trong đó có vựa lúa lớn nhất Đông Nam Á gồm các vùng châu thổ sông Cửu Long và châu thổ sông Đồng Nai đã được thu về cho Tổ quốc Việt Nam!

 

Năm 2005 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ 3: “Dương Vân Nga: Non Cao & Vực Thẳm”. Truyện viết lại cuộc đời thăng trầm của một giai nhân đa tình đã làm hoàng hậu hai triều vua. Khi vị vua đầu Đinh Bộ Lĩnh bị ám sát, hoàng hậu vì yêu một viên tướng giỏi là Lê Hoàn, bà đã không ngần ngại đem cơ nghiệp của chồng – tức là ngai vàng mà người con trai nhỏ của bà đang ngồi – dâng cho viên tướng này. Thế là viên tướng này trở thành vị vua mới, bà lại được phong làm hoàng hậu một lần nữa. Tuy vậy, vị vua mới đã không quên tìm cách tiêu diệt hết dòng họ vị vua cũ – trong số đó có cả con trai của bà – để phòng hậu hoạn! Vực thẳm của Dương Vân Nga chính là ở điểm này.

 

Năm 2006 tôi cùng ba bạn văn khác ra tập truyện “Khuấy Bụi Thời Gian”.

 

Năm 2007 tôi khai sinh được tập truyện dài xã hội “Thăm Thẳm Trời Xanh” là tập truyện đắc ý nhất của tôi.

 

“Thăm Thẳm Trời Xanh” dày ngót 500 trang, viết về nỗi oan khiên tày trời của một cô giáo sau cuộc đổi đời 1975. Chồng cô là một sĩ quan VNCH không may bị thương vào cuối cuộc chiến, được đưa về điều trị ở bệnh viện Cộng Hòa. Vì vướng bận công vụ cùng mấy đứa con dại, cô chưa kịp đi thăm chồng thì miền Nam sụp đổ. Sau đó tin tức về người chồng của cô cũng biệt mù luôn. Cô giã từ nghề giáo, ôm ba đứa con trở về sống với cha mẹ chồng ở xã Thiện Trường. Nhưng lúc đó cha mẹ chồng cô cũng lâm tình trạng kiệt quệ. Vì áp lực của chính quyền, cô phải tham gia làm việc với Hợp tác xã nông nghiệp ở địa phương. Cô luôn bị cán bộ hợp tác xã kỳ thị, chèn ép. Dù phải thức khuya dậy sớm làm việc hết mình nhưng cô vẫn không sao đủ nuôi nổi lũ con. Nhờ có chút vốn do chính cha mẹ ruột giúp, cô giáo liều đi buôn mong kiếm thêm chút ít. Nhưng vốn tính thật thà, cô đã bị sa bẫy công an, vừa bị sạch vốn vừa bị làm nhục. Cô định tự tử nhưng rồi nghĩ đến lũ con thơ nên lại phải ráng sống. Cha mẹ chồng cô đã lần lượt qua đời. Một thời gian sau bất ngờ người chồng của cô trở về trong khi cô đang đi làm với hợp tác xã. Lúc đó cô mới rõ chồng cô đã bị cụt cả hai chân. Sau đêm ở lại nhà, nửa đêm anh biến mất chỉ để lại một mảnh giấy với mấy lời mắng nhiếc cô vợ không đoan chính. Cô không thể tìm lại được chồng để thanh minh đành nuốt nước mắt chịu khổ mà sống để nuôi các con. Một thời gian sau, nhờ một người bạn cũ đang cặp bồ với một cán bộ lớn giúp đỡ, cô đã đem các con vượt biển thành công. Sống ở quê người, cô đã gắng quên chuyện cũ để xây dựng tương lai cho các con. Khi các con đã trưởng thành, cô đề nghị với các con hợp tác để về VN tìm lại người cha bất hạnh của chúng. Không ngờ các con của cô đều tỏ ra hững hờ. Thất vọng quá, cô định tự lo một mình với sự giúp đỡ của một người bạn ở Việt Nam. Thế nhưng khi cô đi khám sức khỏe để về quê tìm chồng thì người ta phát hiện cô đã mắc bệnh ung thư gan thời kỳ cuối. Cô đành uất nghẹn kêu trời vì không còn cơ hội nào để giãi bày nỗi oan với người chồng nữa…

 

Tôi cho đây là tập truyện đắc ý nhất của mình vì ngoài những tình tiết đã lược thuật trên, tôi còn ghi lại được những sinh hoạt khá trung thực (do những người trong cuộc kể lại) về cái Hợp Tác Xã Nông Nghiệp ở chính quê tôi. Chính quyền xã đã vì cố tranh cho được cái danh “tiên tiến” mà làm toàn những việc “trời ơi” gieo rắc không biết bao nhiêu cảnh đói rách, đau khổ cho dân…

 

Năm 2009, tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ tư: “Trần Khắc Chung”. Năm 1306 vua Trần Anh Tông đã gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Chiêm đã dâng châu Ô và châu Rí (Thừa Thiên ngày nay) để làm sính lễ. Nhưng chỉ một năm sau thì vua Chế Mân qua đời. Vua Anh Tông nghe tục Chiêm Thành thường hỏa thiêu hoàng hậu cùng vua khi vua mất nên rất sợ công chúa Huyền Trân cũng sẽ bị hỏa thiêu. Vua Trần bèn sai Trần Khắc Chung sang Chiêm lập mưu cướp công chúa về. Chung vốn là một viên quan có tài nhưng thiếu đạo đức nên nhiều người không ưa. Vì thời gian sang Chiêm lo tính việc này hơi lâu nên những người ghét Trần Khắc Chung lên án ông đã lợi dụng dịp này để làm chuyện mờ ám. Không ngờ chuyện đó về sau càng được thêu dệt để trở thành huyền thoại một cuộc tình lãng mạn Khắc Chung – Huyền Trân. Thật ra đó là một nỗi oan lớn của Huyền Trân công chúa! Không thể có chuyện một người đàn bà mới sinh đẻ, chồng mới chết chưa được mấy tháng đã chạy theo trai! Một chuyện hoàn toàn bịa đặt. Tôi đã nghiên cứu các tài liệu chính sử, đã đối chiếu về tuổi tác và sự liên hệ giữa Trần Khắc Chung với Huyền Trân công chúa để chứng minh điểm này hầu minh oan cho công chúa.

 

Năm 2010 tôi lại ra tập truyện ngắn “Lãng Đãng Hồn Xưa”. Cũng viết về chuyện tù, chuyện xã hội.

 

Năm 2011 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ năm: “Chế Bồng Nga: Anh Hùng Chiêm Quốc”. Tái hiện lại một thời kỳ oanh liệt của dân tộc Chiêm, một bộ phận không thể tách rời của nước Việt ngày nay. Lịch sử đã chứng minh đa phần dân Việt ở miền Trung đều có pha trộn ít nhiều dòng máu Chiêm trong huyết quản. Hiểu được điều đó, ta cũng nên coi lịch sử Chiêm Thành chính là một phần của lịch sử Việt Nam vậy. Thể hiện tinh thần đó cũng là một cách chận đứng âm mưu xúi giục chia rẽ giữa các thành phần dân tộc để thôn tính nước Việt của giặc Tàu.

 

Năm 2013 tôi ra tập tạp bút “Xưa Và Nay” gồm các đoạn hồi ký, các bài tiểu luận “đọc chuyện xưa xét việc nay” và một số truyện ngắn.

 

Năm 2014 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ sáu: “Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng”. Tập truyện này tái hiện cuộc khởi nghĩa chống giặc Đông Ngô rất bi tráng của vị nữ anh hùng họ Triệu. Người Tàu vốn có tinh thần tự cao tự đại, luôn coi khinh các dân tộc khác, hay dùng các tiếng Di, Địch, Man, Rợ để gọi các dân tộc ấy. Ngoài ra, người Tàu còn hay xuyên tạc về đức hạnh, về hình hài của các lãnh tụ các dân tộc chống lại họ. Người Tàu đã gọi xách mé Bà bằng cái tên “Triệu Ẩu” – đồng nghĩa với “Mụ Triệu”. Họ đã miêu tả Bà giống như một quái nhân vô đạo: nào hung dữ giết hại chị dâu, nào vú dài ba thước… với mục đích hạ uy tín của Bà đối với dân Việt. “Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng” ngoài việc khơi sáng cuộc khởi nghĩa oai hùng của Bà Triệu còn tìm cách để hóa giải những điều xuyên tạc vô lý của người Tàu đối với vị nữ anh hùng này!

 

Hầu hết các tiểu thuyết lịch sử của tôi đều được anh Tô Hòa Dương góp ý bổ túc, điểm xuyết thêm. Anh đã không ngại bỏ công viết một số lời tựa hoặc bài giới thiệu những tác phẩm đó với độc giả bốn phương.

 

Tính đến năm 2014, tôi đã sáng tác được 12 tác phẩm gồm các truyện ký trong tù, truyện xã hội, truyện lịch sử và tiểu luận. Trong số này có 7 tập truyện dài gồm 6 tiểu thuyết lịch sử và 1 truyện dài xã hội. Hai tập tiểu thuyết lịch sử Lý Trần Tình Hận và Công Nữ Ngọc Vạn được phổ biến khá rộng, đến cả trong nước.

 

Nhưng lẽ đời có lúc lên dốc tất phải có lúc xuống dốc. Cảnh sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng người Việt ở Sacramento rộn ràng phấn chấn được một thời gian rồi cũng xìu xuống. Nhiều văn nghệ sĩ đã lần lượt gác bút. Các cuộc ra mắt văn thơ càng về sau càng thưa thớt người tham dự…

 

Khi tôi ghi lại đoạn bút ký này thì người anh tinh thần của tôi – anh Tô Hòa Dương – không còn nữa. Tôi cũng đã giã từ nghề bỏ báo. Trước kia hầu như tôi luôn chật vật với công việc. Đêm lo bỏ báo, ngày lo chở con đi học, chở vợ đi chợ, thế mà tôi lại sáng tác khá đều tay. Gần như mỗi năm ra được một tác phẩm.

 

Bây giờ tôi đã hoàn toàn rảnh rỗi, vậy mà ba bốn năm nay tôi vẫn chẳng ra thêm được một cuốn sách nào! Một phần do số độc giả từng ủng hộ, khuyến khích tôi trên con đường viết lách nay đã tiêu mòn khá nhiều. Kẻ đã vào lòng đất, kẻ đã vào nhà dưỡng lão, kẻ đã di chuyển đi nơi khác… Lớp hậu bối thì chẳng mấy ai còn quan tâm tới dòng văn chương tiếng Việt! Phần khác là ngành Internet đã cung cấp những phương tiện đọc và nghe quá thuận lợi khiến độc giả càng xa rời cái thú cầm một quyển sách để đọc như trước. Đó là một thực tế mà những người viết lách phải đối diện! Viết được gì cũng đành để đó đã. In sách lúc này có mà ốm đòn! Tôi lúc này đọc nhiều hơn viết. Thỉnh thoảng tôi đọc lại chính những tác phẩm của mình. Cũng là dịp để tôi bổ túc, sửa chữa lại những khiếm khuyết trong các tác phẩm đó. Tôi mong khi đất nước Việt Nam thanh bình trở lại, các tác phẩm của tôi sẽ được trở về với cố quốc, đóng góp một phần nhỏ trong công cuộc xây dựng lại nền văn hóa dân tộc.

 

Ngô Viết Trọng




Người thi sỹ tài hoa trong “Vang bóng một thời”

Khuất Bình Nguyên

Không phải ngẫu nhiên mà cậu Sen kẻ Bưởi – cái biệt danh thân thiết người đời gọi Tô Hoài, lại chọn Nguyễn Tuân làm nhân vật chủ chốt trong thiên hồi ký Cát bụi chân ai nhiều dí dỏm, chua cay và không biết bao nhiêu là não nùng trần ai của ông. Thảo nào mà tôi cũng như bao người khác đã và đang mê đọc Nguyễn Tuân, đặc biệt là Vang bóng một thời ngay từ khi còn trẻ. Nhưng càng về già, khi thấu hiểu lẽ đời và ở cái tuổi người ta ai nấy đều muốn tìm lại sự thanh bình của quá khứ giữa thời buổi ồn ã của xã hội thị trường, lại càng muốn đọc. Sự trải nghiệm dư vị đắng cay của lòng trung thực cũng như sự thật phũ phàng về tráo trở của người đời thì càng yêu thêm những giá trị nhân bản trong văn chương Nguyễn Tuân tỏa ra từ cái ánh sáng lấp lánh yêu thương và nhiều khi mờ tỏ của cái ngày xưa dường như mới xảy ra ngày hôm qua và cái ngày nay của lương tâm con người, làm nên vẻ đẹp kỳ lạ có một không hai trong văn chương Việt Nam hiện đại.

Tôi đọc sách Tùy viên thi thoại của Viên Mai ở quyển 2 thiên thứ 28 thấy ông ấy kể lại trong mơ một kẻ ăn mày bận áo mão đời xưa nói rằng: Văn các đời Ngụy, Tấn là thơ trong văn.Thơ các đời Tống, Nguyên là văn trong thơ. Nhiều nhà văn lớn cổ kim đông tây, trong văn của họ có thơ và họ là nhà thơ trữ tình đích thực trên chiếu trải văn xuôi mọi thời đại. Nguyễn Tuân là một người như thế trong Vang bóng một thời.

Nghe nói lúc sinh thời, ông Nguyễn Tuân cũng làm thơ. Kịp khi người bạn vong niên tóc trắng da đồng của tôi – nhà thơ Ngô Thế Oanh có chép tay cho ba bài thơ của ông Nguyễn lên trên mặt sau của mấy tờ lịch cũ. Bài SayKhúc tương tư viết theo thể lục bát, song thất lục bát đăng trên tờ An Nam tạp chí số 5 ngày 1 tháng 12 năm 1932. Và bài Giăng liềm viết về sự hồi sinh của Điện Biên Phủ theo thể thơ tự do đăng trên báo Văn học số 22 ngày 25 tháng 12 năm 1958. Cách nhau đúng 26 năm! Tôi giật mình sửng sốt vì không nghĩ đó là Nguyễn Tuân. Nếu như ông Nguyễn lấy nghiệp viết thơ làm chính thì không biết có được ngồi gần cùng chiếu với ông Tản Đà để mà nợ men gấp mấy nợ tình, cõi trần ướm hỏi Lưu Linh mấy chàng hay không ? Nhưng sự đời lại không bao giờ có chữ nếu như thế xảy ra. Cái mệnh của ông Nguyễn là làm thơ trên những dòng văn xuôi chải chuốt vô tiền khoáng hậu mà tôi được thấy.

Trên đường đi tìm cái đẹp của thời xưa yêu dấu như những áng mây cách xa chừng vài chục năm thôi, từng trang của Vang bóng một thời được viết nên bởi một tâm hồn thi sỹ tài hoa. Nguyễn Tuân viết truyện ngắn của ông không phải bằng sự lạnh lùng thường thấy của người viết văn xuôi mà bằng cảm xúc thiết tha hòa quyện tự nhiên với nghệ thuật lựa chọn ngôn từ điêu luyện vốn là đòi hỏi nghiêm cẩn và trước tiên của thi ca đã làm nên chất thơ vừa dạt dào cảm xúc vừa kiêu bạc sang trọng mà trang nhã một cách quý phái. Người ta thường nhấn mạnh cái chất khinh bạc cùng với biểu hiệu ông vua tùy bút. Nhưng trong văn ông còn đậm đà cảm xúc trữ tình say đắm của một thi nhân. Hãy xem một đôi dòng ông viết trong truyện Thả thơ: Và trên trần, có một gia đình đang lúng túng vì sự hiu quạnh … Trời đất ôi! Trên mấy gốc tre cằn không đủ gây thành bụi ấm, trận gió thanh bạch cứ lào rào thổi mãi và cảnh cô quạnh ấy của cha con quan phủ vào buổi xế chiều bên cạnh cái lâu đài quyền lực với tường thành, lầu canh đang phai tàn giống như chính cuộc đời của họ. Tiếng trống phủ trên lầu canh cứ điểm những tiếng vô vị vào một tư thất lạnh lẽo … Có những đêm mưa to gió lớn làm nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Vâng. Nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Đã như một câu thơ nguyên vẹn mất rồi.

Văn chương Nguyễn Tuân là sự trang trải giữa cái sang trọng với sự tràn ngập của cảm xúc trữ tình được đặt trên nền tảng và sự soi sáng của chủ nghĩa nhân văn.

Có người chê Bạch Cư Dị hồi ở Hàng Châu, thơ nhớ nhung kỹ nữ nhiều hơn là thơ nhớ nhân dân. Lời bàn người xưa cho là thô lậu ấy chẳng thể cản trở được sự trường tồn của văn chương Hương Sơn cư sỹ! Văn của Vang bóng một thời cũng thế. Nghệ thuật thi ca của Nguyễn Tuân là đi tìm cái đẹp thanh cao ở những kiếp đời trần tục cay đắng nhất. Nguyễn Tuân nâng niu trân trọng với cảm xúc về cái đẹp thanh nhã và sự lương thiện ở những phận người thất thế, đen bạc và cùng cực. Người hỏng thi. Lại là của Khoa thi cuối cùng. Thấy dặm hòe vùng Sơn Nam Hạ ngả màu vàng thì lòng bắt đầu bận bịu. Dưới mảnh trời sụt sùi hoa hòe nở đều, làm ấm lại lòng người sỹ tử đi thi trên những con thuyền nhỏ li ti đi về như lá tre rụng mùa thu giữa xứ đồng chiêm nước ngập nuốt hẳn bờ. Cảnh sắc tựa như san sẻ, neo về nỗi buồn không lấy lại. Tại nhà trọ ở thành Nam, người hỏng thi vẫn chơi sang bằng việc uống hết ba bình rượu cúc vào một đêm dài nhất trong một đời người … Với người tử tù chờ thi hành án chết thì hỏi còn vương vấn và khí phách nỗi gì? Vậy mà Nguyễn Tuân đã tìm ra vẻ đẹp vừa ngang tàng vừa khoáng đạt của một bậc nho gia. Chữ viết đẹp lắm, vuông lắm như nhân cách của ông Huấn Cao vào lúc đời thường thường rất khảnh. Chỉ viết chữ cho người tri kỷ. Mà có chữ ấy treo lên là một vật báu trên đời. Tôi đọc nhiều lần Chữ người tử tù, chẳng hiểu sao lại bâng khuâng nhớ nhà thơ được đời gọi là bậc thánh Cao Bá Quát mà cách đây đã lâu tôi về tận quê ông ở làng Sủi, bên kia sông Hồng, trèo lên bệ cao đánh chiếc khánh đá cổ phát ra cho đủ 9 tiếng trầm buồn, cũng như leo lên núi Sài Sơn tìm bài thơ Cao Chu Thần đã viết. Nguyễn Tuân dựng lại cảnh người tử tù Huấn Cao viết chữ mang một giọng điệu sử thi: Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ vẳng tiếng mõ trên vọng canh, dưới ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu, Người tử tù đã viết chữ trên khuông lụa trắng để viên cai ngục phải chắp tay vái với dòng nước mắt nghẹn ngào cảm phục về tài năng và nhân cách. Người tử tù trở thành người bề trên dạy bảo kẻ đương quyền kia hãy tìm nơi lương thiện mà sống. Chữ người tử tù là bài thơ hay nhất về chữ tượng hình. Cũng như thế, ông Nguyễn Tuân dựng lên khung cảnh huyễn hoặc trong sự chuẩn bị và đối thoại hết sức bình thản của những kẻ cướp giang hồ với những cái tên dân dã: bọn Huần, Cai Xanh, Phó Kinh, Lý Văn … mà ông thân ái gọi là Những kẻ bất đắc chí được gói gọn trong 3 chữ Nghèo – Cực – Khái đi lấy chỗ tiền bạc của bọn bất nghĩa đem chia cho anh em khác nghèo như mình. Cả những thứ vũ khí cũng được gọi bằng những tên thật nhã: bút chì, bút chùng… Nguyễn Tuân không mô tả trực tiếp vụ cướp mà chỉ muốn người ta nhìn thấy cái vẻ đẹp tình người của tiếng bạc ấy.

Tìm ra cái đạo lý làm người và vẻ đẹp dung dị mà cao sang của những việc sinh hoạt đời thường như uống trà, đúng hơn là uống trà tàu và việc đánh bạc bằng thơ; cảm hứng thi ca của Nguyễn tìm thấy vẻ đẹp của những kẻ hết thời, thất thế. Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm. Đánh Thơ, Thả Thơ … Những quan viên đang tại vị bây giờ, những người mà Nguyễn Tuân gọi là cái xã hội đàn ông mặc áo xanh ẩm ướt, không hiểu có giật mình và đỏ mặt khi đọc những truyện ấy trong sự thích thú ngấm ngầm hay không?

Có người so sánh Edgard. A. Poe với Nguyễn Tuân và cho rằng văn của Poe cảm xúc sơ sài thôi. Văn của Nguyễn Tuân cảm xúc lại vô cùng tinh tế. Tôi không dám chắc điều này. Bởi sự kinh dị đầy linh ứng của Poe trong nguyên bản tiếng Anh. Có điều rõ ràng là hầu hết các câu chuyện của Vang bóng một thời thật giản dị. Nguyễn Tuân tựa vào cái cốt chuyện giản dị không khêu gợi bằng những tình tiết éo le ấy để từ đó dọc theo con đường đi tìm cái đẹp phần nhiều trong nỗi hoài nhớ ngày xưa nhằm bày tỏ và đôi lúc dâng lên như lên đồng cảm xúc thi ca về vẻ đẹp muôn thuở của con người mà ta lại dễ dàng nhận thấy đó là cảm xúc và tình yêu đôi khi thiên vị cho văn hóa của cả một vùng đất với những đặc trưng riêng không gì pha trộn được. Vì lẽ ấy, văn của Nguyễn Tuân sẽ còn lại mãi.

Tôi đọc Vang bóng một thời thấy dường như phảng phất văn hóa xứ Đoài ở đâu đây. Cái xứ sở nghèo túng nhàn nhạt pha trộn giữa cái xưa cũ của mới ngày hôm qua với cái bóng dáng nghìn năm chưa mất của sông núi và cõi đời đâu đó vẫn còn ẩn hiện tới bây giờ. Đó là bài thơ ẩn chứa một tiếng thở dài của nơi tôi sinh ra và bị nhiễm vào cái đó từ buổi thiếu thời. Không có ở đâu nhiều đình chùa cổ và sự tích làm người như ở nơi đây. Đó là nơi muôn năm của cái cũ. Cái tàn lọng của quá khứ cứ che bóng người đi ở xứ sở này. Nguyễn Tuân thật kỳ tài khi viết về điều đó. Mặc dù ông không phải là người Sơn Tây. Văn hiến xứ Đoài chính là cái tàn lọng của quá khứ ấy che cái bóng nhiều huyền thoại và lãng tử trong văn chương Vang bóng một thời. Trên đỉnh non Tản. Chữ người tử tù và nhất là Ngôi mả cũ.

Hồi năm 1940, nhà văn Thạch Lam coi Ngôi mả cũ là truyện hay nhất của tập. Tôi không đồng với ý đó của ông. Nhưng rõ ràng câu chuyện ấy mang đậm phong vận xứ Đoài, trên cái chiếu đất dằng dặc mùi côi cút ở rừng Hưng Hóa. Ở thành Sơn Tây, người ta vẫn thường nghe thấy tiếng kèn tàu, loa đồng và trống trận nổi lên trong thành xây đá tổ ong của tỉnh Sơn, nơi quân cờ đen tế cờ thu quân. Rồi thì cái đoạn đường vỏn vẹn chừng trên dưới 30 dặm bây giờ vẫn còn đó mà xa xôi hoài niệm quá chứng với những cái tên xóm tên làng đến giờ còn chưa đổi. Làng Vòng. Làng Nhổn. Trạm Trôi. Phủ Hoài. Sơn … Qua con mắt thi sỹ Nguyễn Tuân mà hình dung ra cái đằng đẵng của con đường xứ Đoài cát bụi và xiêu diêu ấy. Cả cái bến đò sông Hát cổ xưa đã bị đất và cỏ vùi kín tự bao giờ mà sao Vang bóng một thời còn cho các nhân vật của mình đi qua thật là chậm chạp trong thấp thoáng bóng nước, bóng mây của thời xưa cũ. Cũng phải thôi. Vì cách thời ấy không xa, trong một cuốn du ký có tên là Một chuyến du hành đến đàng ngoài của một người phương Tây – William Dampiere viết năm 1688 nói rằng từ phố Hiến phải mất 2 ngày mới lên được Kẻ Chợ. Có người bảo với tôi truyện ngắn Trên đỉnh non Tản là thiên tùy bút, là bài thơ đặc sắc nhất về đồng đất xứ Đoài, nơi con người trong mỗi thôn làng sống chung với huyền thoại ngấm vào giọng nói của họ còn lại mãi từ ngàn xưa. Là bởi vì theo Nguyễn Tuân, trong bốn vị tứ bất tử của nước Nam ta thì người hay biến hóa nhiều nhất và tàng hình lẫn vào đám người trần mắt thịt là thánh Tản Viên. Và ông Phủ Quốc chỉ lỡ miệng nói mấy câu: đứng ở mái Nam đền Thượng nhìn xuống trông được cả khói của kinh thành Thăng Long… mà thánh phạt vì lộ thiên cơ phải lăn đùng ra chết. Viên đá cuội vô tri đã hai lần mang sứ mệnh con người trong Vang bóng một thời. Lần trước là Hương cuội làm cái cớ cho mấy vị hàn nho uống rượu ngâm thơ. Lần này đá cuội mang trộm từ đỉnh núi Tản về trong tay viên Phủ Quốc vừa lăn ra chết đập ra có mùi hương đượm của quả men rượu ủ trấu … Vỏ đá cuội còn lại đem thả vào bát nước mưa kinh niên uống thấy say ngát vô cùng! Rõ thật là Nguyễn Tuân. Và tôi biết trong mỗi người đàn ông xứ Đoài bây giờ vẫn còn giấu một mảnh vỏ đá như thế, mỗi khi họ bước vào một cuộc thành bại ở đời. Chao ôi! Bóng dàng thời xưa của văn hiến xứ Đoài cư như che lọng trong Vang bóng một thời. Văn chương của thi sỹ Nguyễn Tuân đã bảo tồn giá trị văn hóa của cả một dải đất phía tây Kinh thành Thăng Long giờ đã ít nhiều mai một. Sực đến khi Cát bụi chân ai ra đời, ông Tô Hoài viết: Cuộc đời phóng túng và nếp nhà quan các cụ nội đại thần trị nhậm đất Sơn Tây, đã in đậm, đã mờ chồng lên ngày tháng đời con đời cháu tự bao giờ … Chữ người tử tù, Đỉnh non Tản và tất cả vang bóng của ông đều phảng phất Sơn Tây. Tôi không chắc hẳn là như thế. Lúc sinh thời, không thấy nói cụ tú Hải Văn, tú tài khoa thi sau cùng, thân phụ Nguyễn Tuân đã từng trị nhậm ở đất này … Chỉ thấy Nguyễn hay cùng Tô Hoài, Nguyên Hồng lên Sơn, thường ngồi bên hào nước của tòa thành đã đổ nát dưới thời gian và dưới gốc cây sữa đã quá nhiều cằn cỗi quên cả nở hoa theo mùa ở nơi nửa tỉnh nửa quê. Nhưng tìm làm chi cái nguồn gốc xa mờ đó của văn chương. Hãy để quá khứ yên lặng như thế. Cũng giống như chúng ta không còn ai tìm nữa ai là người nguyên mẫu của Tóc chị Hoài. Mặc dầu, ở Sà Goông, có người đàn bà nhận thầm qua bao nhiêu mưa nắng năm trường trong đời người và trong cách trở Bắc Nam là bóng dáng ấy đấy thôi. Cũng như thân phận của cô đào Chu Thị Năm, người cùng thời với ca nương Quách Thị Hồ, dõi theo chàng Nguyễn lên chiến khu Việt Bắc thời kháng Pháp. Chàng đi đâu nàng cũng biết và thường gửi vàng cho chàng tiêu pha … Người ấy đã mờ hẳn, đừng có mà tìm ở phố Khâm Thiên vì cuộc bể dâu, ta chỉ còn tên phố bây giờ …?

Trở về với văn chương Nguyễn Tuân, đâu chỉ để yêu một thời đã qua. Cuối thế kỷ 20 và tràn sang thế kỷ 21, một số người muốn đi tìm góc tối của cái ban ngày. Vết sẹo sau lưng của bức tượng thờ muôn thuở. Mùi xú khí giả tưởng của hoa tử đinh hương. Treo cái tục tĩu vào cổ tượng đài vốn được coi là thiêng liêng … Tức là mỹ học của việc đi tìm cái xâú xí trong cái đẹp. Một con đường khác ngược lại với con đường của Nguyễn Tuân. Mặc dầu con đường của Nguyễn không phải lúc nào cũng êm xuôi cả. Ví như tôi hơi ngờ ngợ khi người ta cố gắng gắn vào cái ý nghĩa xã hội nào đấy của Bữa tiệc máu hay Chém treo ngành. Trong Vang bóng một thời, chỉ có một lần duy nhất, ông Nguyễn Tuân đã để chủ nghĩa duy mĩ của mình đi hơi xa một chút. Xa đến mức thiếu chút nữa người đọc cảm thấy cái đẹp của Chém treo ngành ở cái đoạn đao phủ Bát Lê tập chém người bằng cách vừa chém chuối vừa hát, hay việc mô tả chẻ đôi cây tre đực dài ra cặp cổ người tử tù như lối cặp gắp chả chim mà nướng … Nói thế để cho hết nhẽ. Không ai phản đối và cũng không việc gì phải phản đối mỹ học đi tìm cái xấu xí trong cái đẹp. Nhưng văn chương tuyệt đối không phải là nơi tôn thờ sự tục tĩu tầm thường, đi ngược lại những giá trị  nhân bản của con người. Người xưa từng nói: Nhờ văn mà kinh luân được quốc gia. Chỉnh lý được pháp độ. Làm vẻ vang cho sự nghiệp. Làm giàu đẹp cho văn tự… Sự tục tĩu tầm thường mang dáng vẻ của sự phá cách, liệu có làm được những điều ấy chăng? Người viêt văn chưa kịp làm được việc góp phần chấn hưng đất nước mà có thể, rất có thể lại làm trầm trọng thêm những tai ương của thời cuộc trong cơn bế tắc của chính người viết. Tất cả người cầm bút không ai mong muốn điều  đó.

Sang năm 2017, đúng 30 năm Nguyễn Tuân trở về giời. Cuộc đời ông xê dịch bốn biển là nhà mà lại còn thiếu quê hương nữa. Không biết giờ này ông đang ở đâu? Cái tín ngưỡng của người Việt chúng ta muôn đời quan niệm rằng: người cõi âm ở chung với người trên dương thế.Ngày tết lễ, họ ở ngay trong nhà ngày xưa. Nhưng Nguyễn Tuân có biết bao nhiêu nhà.

Nhà số 49 Hàng Bạc. Bao lâu rồi nó vẫn khép nép đứng ở góc này bởi số 47 nhô ra một chút. Cạnh đó, nhà 51 lại được trùng tu bởi một dự án giữa tỉnh Toulouse-Pháp với Ủy ban Hà Nội. Có treo biển đồng hẳn hoi. Không hiểu họ có nhớ sát vách 51 là nơi sinh thành của một trong những văn tài đặc sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại hay không? Phía trước tầng trệt của rìa bên phải nhà 49 là quầy bán ngọc và sửa chữa đồ trang sức bằng bạc. Rìa bên trái là lối nhỏ đi vào phía trong sâu lắm. Một lối kiến trúc đặc sản của nhà phố cổ Hà nội. Có chừng 5 hộ dân đang ở. Không một  ai biết được cái vinh dự họ được ở trong ngôi nhà, cách đây hơn 100 năm-năm 1910- Nhà văn Nguyễn Tuân đã cất tiếng khóc  chào đời ở đây. Một đôi vợ chồng già ở ngay phòng đầu tiên của số 49. Như là nghiệp chướng của chủ nghĩa xê dịch, chủ nhân của 12 thước vuông ấy nghe nói là người Nam Bộ. Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc từ 1954-1955; Giờ lại trở thành dân phố cổ của kinh thành Thăng Long xưa, ngày ngày chắp nối quãng đời còn lại bắc cầu cho hai thế kỷ mịt mù sương khói. Đối chính diện bên kia đường là đình Kim Ngân – Số 42 Hàng Bạc. Ngôi đình được lập ra mấy thế kỷ trước làm nơi thu bạc nén cho sinh hoạt Hoàng Thành. Bây giờ ở ngôi đình này, cứ 20 giờ đêm thứ 4, thứ 6 và chủ nhật hang tuần đều có hát ca trù – lối hát thơ đặc biệt của người Việt, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 15 gắn với sự ra đời của cây đàn đáy. Người ta có hẳn một tờ bướm màu rượu vang đỏ giới thiệu ca trù bằng tiếng Anh. Cái thứ tiếng không có dấu – phương tiện của mấy ông thực dân, giờ đây rất quen thuộc với người phố cổ. Chẳng khác gì trẻ con mặc váy thổ cẩm, đeo vòng bạc ở phố núi gần nhà thờ đức mẹ Mân Côi trên Sa pa nói sõi tiếng Anh như tiếng Mèo. Catru – a form of Vietnamese traditional music, was recognized by UNESCO in 2009 as a world intangible culture heritage. Dường như, một lần nữa, trời đất lại chiều lòng cái xê dịch của ông Nguyễn mang tiếng tom chát bị ngắt quãng đến mức xót xa bởi 3 dây đàn đáy, nghe như nhấc lên đặt xuống của thân phận con người; cái thứ nghệ thuật vừa thượng lưu vừa trần tục đời thường lúc sinh thời ông Nguyễn rất thích, về ngay trước cửa nhà nơi ông đã sinh ra.

Cách một ngày nữa là rằm tháng 8. Không khí tết trung thu đã có mặt dểnh dang ở sân đình Kim Ngân. Người ta treo những chiếc nón quai thao với quai nón là những rải lụa buông dài đủ màu mà phần nhiều là màu hồng và màu thanh thiên. Đây đó, đặt một vài đầu sư tử nhiều màu theo kiểu truyền thống có nhẽ có từ thời Nguyễn Tuân. Tôi bước vào trong đình đặt mấy đồng bạc lẻ lên bàn thờ lễ, cầu may được thấy Nguyễn Tuân. Dường như, ở bên số 49, Nguyễn Tuân tay cầm gậy song, mặc bộ áo cánh lụa màu cậy nhà Phật, vốn là quà tặng của một người nhận thầm là Tóc chị Hoài tặng cho nhà văn sau năm 1975. Trời mùa này ở phố cổ Hà Nội dâng lên một màn sương khói của tiết thu se lạnh. Từ đình Kim Ngân này, sớm mai trời còn nhạt mặt người, nhà văn của chúng ta có thể đi bộ ra Ô Quan Chưởng để đợi bóng những cô hàng rượu từ bến Bồ Đề sang đây. Nhà văn sẽ nhập vai vào nhân vật của mình có tên gọi Bố Ô làm người ăn mày rượu đáng yêu trong truyện Yêu Ngôn như ông đã viết. Bây giờ ông không phải sang sông đến xóm Thượng Cát nghe đào nương hát ca trù trong những quán bình dân rách rưới và ẩm ướt của Một đêm họp đưa ma Phụng nữa. Uống rượu bằng bát gỗ ở Ô Quan Chưởng xong, lại về đình Kim Ngân nghe con cháu Quách Thị Hồ hát ca trù nhấc lên đặt xuống phận người như những ngày xưa. Có tiếng hỏi. Bốn biển là nhà. Ngài thường ngự tại đâu? Ông Nguyễn bảo. Cũng tùy. Nhưng thường ở bên số 90 Trần Hưng Đạo. Ở bên ấy còn để chiếc va li da cũ màu nâu nhạt trên nóc tủ sách. Dường như đó là chiếc va li trong thiên tùy bút cùng tên viết tặng bà Tuệ, vợ Ông từ hồi ở tỉnh Thanh. Cả những chiếc ấm đất đặt dưới sàn gỗ và trên những bức họa đang phôi pha dần theo năm tháng. Thi thoảng đi taxi qua mặt hồ Hoàn Kiếm lên Hàng Bạc nghe hát ca trù.

106 năm. Kể từ khi ông sinh ra. Cuộc đời có biết bao nhiêu xê dịch – Cái con người có lúc đã không biết sợ thời gian nữa. Tự nhận là kẻ không có dĩ vãng. Lắm khi lặng lẽ nhìn vào buổi chiều trơ trẽn mà cảm thán hình như buổi chiều nào cũng đều không có hoàng hôn. Nhưng lại mắc bệnh chơi mưa như thiên tùy bút Chiếc va li mới đã viết: Mỗi lần ở đâu đó gặp mưa lại tưởng như mình già thêm một ít. Con người tưởng như sớm nắng chiều mưa ấy, lại là người ngay từ khi mới cầm lấy sự bút nghiên đã cảm nhận sâu sa cái cao cả và lương tâm của người viết văn đi tìm cái đẹp. Một người viết văn để yêu sống, để tìm nhân loại, đi tìm mình trong nhân loại, để được thấy nhân loại trong mình mình. Đó là lời tâm sự nghề văn say đắm và trang trọng nhất mà ông Nguyễn đã từng nói. Nguyễn Tuân đã ra đi xa lắm. Ba mươi năm rồi. Chỉ còn lại văn chương ghi dấu ấn nhà văn như là một thi sỹ trong Vang bóng một thời đã không mệt mỏi tụng ca và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống như một phần nhân loại mang tên Việt Nam vẫn còn lại mãi cho muôn đời sau.

Mùa thu, 2016




Có những nỗi buồn

 

Thơ Lê Tuấn

Inline image 1

Có những nỗi buồn đến không tên
Chợt nói cùng ta lúc lên đèn
Bóng chiều vừa tắt bên khung cửa
Ta thấy em về, dáng thân quen.

Có cả nỗi buồn đuổi không đi
Nó ở bên ta, sống thật lì
Nỗi hờn vong quốc, đau thân phận
Uất nghẹn trong lòng lúc phân ly.

Có những nỗi buồn đến êm ru
Như khói nhẹ vương bóng sương mù
Lá bay theo gió, chiều thu tím
Lặng lẽ cùng ta bước phiêu du.

 




Tô Kiều Ngân và “mặc khách Sài Gòn”

 

Nhà thơ ngâm sĩ Tô Kiều Ngân (1926-2012).

Trong thập niên 80’ thế kỷ trước, khi phụ trách một chương trình sinh hoạt văn học nghệ thuật cho đài phát thanh – lúc ấy ông Vũ Quang Ninh là giám đốc chương trình đài Việt Ngữ của cơ sở truyền thông đầu tiên của người Việt hải ngoại tại miền Nam California – tôi có làm một chương trình 15 phút gọi là Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật, ngoài phần tin tức mỗi chương trình có mục nói về một nhân vật nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ tại miền Nam trong khoảng 20 năm lịch sử 1954-1975; hai người phụ trách chính, vừa viết bài vừa trình diễn, là Viên Linh và Khúc Lan. Chương trình rất giản dị: ngoài phần tiểu sử người nghệ sĩ được nói đến, ví dụ nghệ sĩ Hồ Điệp – giọng ngâm vàng trong không gian âm thanh – chúng tôi nhắc đến tiểu sử của bà, nói đến một hay hai chương trình bà đã là nhân vật chính, ví dụ Ban Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng, chúng tôi còn phát thanh lại ít nhất là một đoạn thơ do bà đã trình diễn, đã ngâm lên.

Chương trình bắt đầu và tiến triển mỗi tuần một lần, một năm khoảng 50 lần, và kéo dài khoảng hai năm, và chúng tôi đã có một bộ vừa văn bản vừa băng nhựa, đĩa nhựa, chân dung ngâm vịnh với thơ và nhạc, của gần trăm văn nghệ sĩ. Có thể gọi bộ đó là một cuốn sổ nhân văn, gồm tiểu sử và tác phẩm nhiều văn nghệ sĩ, ngày nay, khi những dòng chữ này được viết ra, có ít ra là 108 nhân vật trong giới văn học nghệ thuật Việt Nam trong và ngoài nước, phần lớn cho tới ngày nay, là những người đã quá cố.

Nhìn lại sinh hoạt văn học nghệ thuật của hơn 40 năm ở hải ngoại, và nhân đó, 20 năm ở miền Nam, thật là đồ sộ, chỉ tiếc là người Việt hải ngoại không có một hàn lâm viện, không có một hội văn nghệ sĩ có gốc nguồn lâu bền từ quá khứ, đó là một điều vô cùng đáng tiếc. Nét chính của sự thiếu sót này căn nguyên lớn là là lực phá hoại tự thân của lưu dân, và nhất là chủ trương và hoạt động được tài trợ của những kẻ gây ra cuộc lưu vong. Nhưng không vì thế mà không có những người yêu văn hóa, cộng với các thành phần xã hội ngưỡng mộ tiền nhân vì nước, không hành động hay kém đi hoạt động. Có nhiều công trình vẫn thành hình.

 

Hãy xét về Tháng Mười, chỉ trong Tháng Mười, nhiều tài liệu cho thấy chúng ta có thể tìm ra được và kể ra được công trình của những trí thức văn nghệ sĩ như sẽ kể ra dưới đây.

Chỉ trong Tháng Mười, chúng ta có:

Tạ Trọng Hiệp, Tháng Mười 1996

Bùi Giáng, Tháng Mười 1998

Hà Thượng Nhân, Tháng Mười 2011

Tô Kiều Ngân, Tháng Mười 2012

Xa hơn nữa chúng ta nếu đã có tuổi, có thể còn biết đến những người đã ra đi lâu hơn:

Bàng Bá Lân, Tháng Mười 1988

Quang Dũng, Tháng Mười 1988

Trần Văn Tuyên, Tháng Mười 1976

Đỗ Tốn, Tháng Mười 1973

 

Cứ làm như thế từng tháng một, chúng ta sẽ có việc làm cả năm. Trong tám người kể trên có 5 thi sĩ.

Mục này đã từng viết về các thi sĩ Bàng Bá Lân, Hà Thượng Nhân, lần này chúng ta nhớ đến một người song hành vừa trình diễn thơ, ngâm thơ, và cũng làm thơ nhưng không nhiều, đó là Tô Kiều Ngân.

 

Người ta gọi ông là thi sĩ, cũng thường gọi ông là ngâm sĩ, vì ông làm cả hai việc, mà ngâm thơ trên làn sóng đài phát thanh là việc ông làm thường xuyên mỗi tuần. Ông tên khai sinh là Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926 tại Huế, khoảng giữa thập niên 50 nổi tiếng qua làn sóng phát thanh bằng giọng ngâm thơ và tiếng sáo của ông hơn là bằng ngòi bút. Đó là một người hoạt động thi ca hơn là sáng tác thơ văn. Những năm đó Ban Tao Ðàn là một hiện tượng sinh hoạt văn nghệ rất được hâm mộ, không riêng với một Tô Kiều Ngân mà còn với những người trong ban, ngoài Đinh Hùng còn có Thanh Nam giữ phần biên tập, còn có Quách Đàm, Hồ Điệp, Hoàng Thư, Hoàng Oanh. Ngoài tiếng sáo và giọng ngâm, Tô Kiều Ngân còn cùng nhà văn Thanh Nam chủ trương tờ tuần báo Thẩm Mỹ và cộng tác thường xuyên với tờ Tiểu Thuyết Thứ Năm hay Tiểu Thuyết tuần san. Về thơ ông xuất bản được thi phẩm “Ngàn Năm Mây Trắng.”

 

Sau 1975 và thật muộn màng, phải hai năm sau khi ra đi vĩnh viễn Tháng Mười, 2012, tác phẩm “Mặc Khách Sài Gòn” của ông mới được ra đời. Đây là một ấn phẩm trang nhã do Nhã Nam xuất bản, bìa mộc mạc màu gỗ, với chân dung các nhân vật nghệ sĩ được viết đến ở bên trong, Tô Kiều Ngân may mắn thay còn để lại cho bằng hữu và người đọc người nghe, nói chung là giới thưởng ngoạn và yêu chuộng nghệ thuật còn lại, tác phẩm tâm huyết của ông nhan đề “Mặc Khách Sài Gòn.”

Ông giải thích như sau trong “Lời Nói Đầu:”

“Mặc Khách Sài Gòn” là từ chỉ các văn nhân thi sĩ cùng những người hoạt động nghệ thuật, mong muốn đem tài hoa, tim óc ra tô đẹp cho đời. Chữ “khách” hàm ý chỉ những người của đám đông, được nhiều người lưu tâm hay ngưỡng mộ. Mặc Khách Sài Gòn khá đông, mỗi người một vẻ, không chỉ một lúc mà viết hết được, nên chỉ xin giới hạn trong một số người mà tác giả may mắn quen biết, giao du hoặc cùng hoạt động chung trong một môi trường nghệ thuật.” Những người được thể hiện qua ngòi bút của Tô Kiều Ngân qua những bài viết nhan đề như sau. Nhan đề mang tính văn nghệ, nên người điểm sách sẽ ghi chú bên cạnh cho rõ hơn:

 

-Nhà văn An Nam khổ như chó: Viết về nhà thơ Nguyễn Vỹ (trang 7)

-Ai xuôi vạn lý: Viết về nhạc sĩ Lê Thương, tác giả ba bản Hòn Vọng Vu.

-Để ta tròn một kiếp say: Viết về Vũ Hoàng Chương.

-Trời cuối thu rồi em ở đâu: Viết về thi sĩ Đinh Hùng.

-Thương về năm cửa ô xưa: Viết về họa sĩ Tạ Tỵ, tác giả bài thơ nổi tiếng về Hà Nội.

-Tấm thân với mảnh hình hài: Viết về thi sĩ Bùi Giáng.

-Cho tôi về Ký Con: Ký Con là tên con phố ở Sài gòn, nơi Mai Thảo sống trong căn nhà phố dùng làm tòa soạn tạp chí Sáng Tạo.

-Chưa bao giờ buồn thế; Một lời nhạc của Cung Trầm Tưởng.

-Về yêu hoa cúc: Một nửa câu thơ của Nguyên Sa: Tóc nàng vàng tôi về yêu hoa cúc.

-Gối đầu trên đại bác: Hoàng Trúc Ly

-Lao vào lửa: Thụy Vũ

-Cánh đồng con ngựa chuyến tàu: Một câu thơ của Tô Thùy Yên.

 

Ba bài sau cùng trong tập sách viết về Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng và Phạm Thiên Thư.

Tác giả Tô Kiều Ngân tên thật là Lê Mộng Ngân, ra đời tại Huế năm 1926, mất tại Sài Gòn, Tháng Mười 2012.

Cuốn “Mặc Khách Sài Gòn” dày 270 trang, do Hồng Đức xuất bản, Nhã Nam tổng phát hành, trình bày nhã nhặn, giản dị mà phong cách rất sang. Cảm ơn cô Quỳnh Hương, con gái tác giả Tô Kiều Ngân, đã gửi cho chúng tôi cuốn sách này từ 2014, nay mới có dịp nói đến.

 

(Viên Linh)

https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vien-linh-kieu-ngan-va-mac-khach-sai-gon/




Tác Giả Đoàn Tuyết Thu (TT/VTLV 2016)

doan-tuyet-thu

Tuyết Thu Đoàn, sinh ngày 17 tháng 11 tại Nha Trang,

vào Sài Gòn từ năm 1970.
Cựu giáo sư tại Việt Nam.
Hiện đang sinh sống tại Arizona, USA. 

 

 

Những Mùa Trăng

Mùa trăng cuối cùng cuả tháng chạp năm âm lịch. Trong chúng ta chắc ít ai đếm thử có bao nhiêu muà trăng ý nghĩa trong cuộc đời mình?

… Trở về muà trăng năm nào, nơi ngôi nhà cuả gia đình tôi ở thành phố biển Nha Trang. Ngôi nhà lớn hướng ra mặt biển. Từ khoảng sân phủ sỏi trắng, ôm quanh căn nhà, trời xanh trải xa tít trong tầm mắt. Vào đêm trăng sáng tôi lắng nghe đựơc tiếng sóng vỗ ì ầm của biển nằm cách quãng ngắn trước mặt, về phía hướng đông.

Mùa trăng Trung Thu, mấy anh chị em tôi, trừ anh cả đã vào quân đội, chuẩn bị rất nhiều chiếc lồng đèn để chờ trăng lên phá cỗ. Đèn bươm bứơm, đèn tàu bay,đèn ngôi sao to thật to. Có cả những chiếc đèn xếp đủ màu với hình dáng khác nhau được cô tôi mua về. Hai hàng cây nối dài từ cổng lớn vào đến cuối sân trước là nơi chúng tôi giành nhau chỗ treo đèn cuả mỗi đứa.

Trăng lên, tròn to, sáng vằng vặc. Trăng lên từ biển. Ánh trăng trải rộng trên khắp ngọn cây làm những chiếc lồng đèn như những cô vũ công đỏm dáng lắc lư nhè nhẹ trong chiếc áo màu xanh đỏ.Trăng lấp lánh ánh bạc trên mặt biển thăm thẳm. Chúng tôi bắt đầu thắp sáng những chiếc lồng đèn. Mừơi mấy anh chị em, cả những đứa em con cô, con chú bắt đầu nối đuôi nhau hát vang dưới ánh trăng vàng. Muà trăng cuả tuổi thơ tôi. Ký ức về muà trăng năm nào ở ngôi nhà lớn ấy, chắc chắn không một ai trong anh chị em tôi có thể quên. Có lẽ, đấy là thời gian hạnh phúc nhất đối với lũ trẻ chúng tôi.

…Và rồi cũng dưới ánh trăng. Vuông sân nhỏ ở ngôi nhà cuối cùng gia đình tôi sống trước khi rời xa quê hương. Tiếng đàn guitar, tiếng hát, tiếng đuà vui cuả chị em tôi. Dẫu trong cảnh gian nan, đói kém cuả khoảng đời nhiều thay đổi. Ở tuổi mười sáu, mười tám, các em tôi đã thoát ra khỏi những hạn hẹp cuả cuộc sống để cất vang tiếng hát. Trăng.Tiếng đàn dặt dìu những khúc tình ca nổi tiếng, em tôi hát say sưa. Cuốn sách chép nhạc bià đen được cô em tài hoa cuả tôi nắn nót chép từng nốt nhạc. Các em tôi kẻ đàn, người hát cùng các bạn một thời hoa niên khiến cung bậc nên những khúc hát ru hôm nay sưởi ấm miền kỷ niệm. Khúc tình ca dưới trăng cuả một thời đầy dấu ấn tươi đẹp.
Đã qua rồi bao nhiêu muà trăng sáng trên cuộc đời cuả mỗi chị em chúng tôi. Mỗi đứa mỗi phận. Đứa còn, đứa nay về cõi xa xăm. Những muà trăng ngày cũ trở thành chứng nhân cho quãng đời thanh xuân đằm thắm cuả chị em tôi.

…Hôm nay, muà Trăng cuối cùng cuả năm

Trăng vẫn như muôn muà cũ. Trăng hồn nhiên buông lơi ánh vàng trên cây cỏ. Trăng có đếm dùm tôi bao kỷ niệm đã ở cùng trăng? Nhớ cô em nay khuất bóng thiên đường cuả tôi cười thật to. Khi có lần về thăm quê nhà, nghe cậu em con người dì ngây ngô hỏi :”Chị Nguyệt ơi, trăng ở Mỹ ,trăng Việt Nam có cùng là một không?”

…Có lẽ, bây giờ tôi có thể thay em trả lời câu hỏi ấy, em nhỉ? Trăng ngày xưa đã thành vầng trăng muôn đời cuả kỷ niệm Trăng vằng vặc ánh vàng hôm nay buồn hơn, ngậm ngùi hơn vì thiếu mất em!

Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già ôm một mối mơ… Cuội già có ôm dùm tôi giấc mơ đầm ấm năm xưa để tôi còn nghe dưới trăng tiếng guitar dìu dặt năm nào?

 

 

Kể cho cháu nghe

Kể cho cháu nghe chuyện ngày xưa ở quê hương của bà nhé!

Cháu ạ!

Mai này khi cháu đã lớn bằng mẹ cháu bây giờ, có lẽ quê hương cuả chúng ta thay đổi nhiều lắm. Cháu sẽ không thấy được những chiếc cầu cheo leo, bắc qua con lạch đưa dòng nước đậm phù sa đến các khu vườn cây trái trĩu quả.

Ngày còn bé, bà từng vừa sợ, vừa tò mò thích thú bước theo nhịp lắt lẻo cầu tre trên sông nước quê ngoại của bà. Mấy anh chị em cười nắc nẻ theo từng bước ngập ngừng cuả dân thành thị về quê. Quê ngoại bà sông lạch dẫn nước đến tận đất vườn nhà. Bà đã cùng các ông bà ngày ấy lội xuống đià đầy cá, rồi cũng tham gia tát đìa. Cá nhiều vô kể cháu ạ! Chính vì được thiên nhiên ưu đãi, đất miền tây trù phú cá sông, tôm ngọt nên tâm tình người miền nam cũng rất đỗi hào phóng, sởi lởi.

Mấy mươi năm qua nhanh quá,thế hệ đi trước ở quê xưa cũng chẳng còn lại mấy người. Ngôi nhà lớn, xây cất bằng gỗ quý theo kiểu ba gian hai chái của tổ tiên bên ngoại cũng không còn nguyên vẹn qua bể dâu thời cuộc. Nhưng cháu ạ, bà vẫn nhớ mồn một trong trí những bữa cơm chiều đầy tiếng cười, đầy yêu thương của những ngày hè bà theo cha mẹ về thăm quê ngoại Sau hàng mấy mươi năm dài, bà vẫn nhớ như in bữa tiệc tôm càng sông tươi xanh, nướng trên bếp lửa hồng được nhen từ vỏ, gáo dừa khô. Khi hoàng hôn vừa chập choạng bóng dưới các tán cây, than đã kịp đỏ hồng, nổ tí tách, tung toé những tàn lửa nhỏ như pháo hoa. Bếp than nhen trên khoảnh đất rộng trước cửa bếp, đối diện hồ chứa nước mưa nhà ngoại của bà. Tôm vừa lưới về, còn ngoe nguẫy càng, đem nướng than toả thơm nức mũi, lan khắp vườn. Ánh lửa bập bùng soi chưa rạng mặt người nhưng ấm áp trong tiếng nói cười râm ran. Bà như được tắm trong tình yêu chan chứa của những tấm lòng quê mộc mạc. Mùi thơm tôm nướng trên than gáo dừa đặc sắc theo bà mãi đến hôm nay. Không những bà lưu giữ trong tâm món ngon quê nhà nay không sao tìm lại được nơi xứ người. Bà còn nâng niu, gìn giữ những hình bóng thân quen xưa cũ và dư âm tiếng tình yêu ở mảnh vườn một thời xum xuê trái ngọt quê ngoại trong ký ức, như tài sản tinh thần vô giá không phải ai cũng có được.

Bà sẽ kể cho cháu nghe nhiều câu chuyện ngày bà còn thơ nơi quê cũ . Bà mong cháu thấm đẫm tình yêu quê hương qua câu chuyện của bà. Vì dẫu cháu không sinh ra trên mảnh đất quê nhà nhưng nơi cháu, dòng máu Việt vẫn ấm nóng tuôn chảy trong tim mỗi ngày, phải không cháu của bà?

Đoàn Tuyết Thu 

 

 

 

NẮNG CÓ CÒN VÀNG.

Vẫn nắng đầu ngày sao dường như chẳng ấm.
Còn gió ngang trời mà sao tóc thôi bay.
Mười ngón tay ngoan choàng qua từng cơn nhớ
Chỉ thấy trống không ùa vào tận cuối trời.

Nắng vẫn còn quanh trên đường bay của gió.
Héo chiếc lá khô vừa rơi xuống đêm qua.
Nắng vẫn chưa đủ xua tan ngàn sương đọng.
Nên tưởng rằng ai vừa khóc cạn đêm thâu.

Nắng chắc tắt rồi phía sau lưng quên lãng
Khi người mang đi chiều nhạt của một ngày.
Sao chẳng giữ nắng hong vơi dần nỗi nhớ
Người có về không để sưởi ấm tay buông.

Chắc tại nắng thưa nên yêu thương chợt vắng.
Chỉ còn mùa đi lặng lẽ giữa phố chờ.
Chỉ còn dáng xưa phai mờ trong trí nhớ.
Khi trâm lược buồn bỏ hờ hững bên gương

Đoàn Tuyết Thu

 

 

TÔI … 

Tôi nằm ngủ quên trên chiếc sô-pha trắng.
Mơ thấy một đời tôi chẳng có nỗi buồn.
Mơ thấy tôi ngày tóc bím đôi xinh xắn.
Tay ôm gấu bông ngồi hát dưới hiên nhà.

Tôi mơ thấy tôi hồn nhiên như mây trắng.
Lòng như trời xanh trải ngát bốn mùa trôi .
Tôi nghe tiếng tôi nhẹ nhàng như hơi thở.
Của cánh vàng bay con bướm nhẹ vào đêm .

Tôi tìm thấy tôi ngây ngô như thuở tóc.
Cắt ngắn ngang mày che lúng liếng mắt trong.
Tay thuôn tháp bút giữ lời tình chân thật.
Môi chẳng ngại ngần trao câu nhớ tinh khôi.

Rồi nhận ra tôi đang ngồi im lặng khóc. .
Thấy bóng thời gian pha trắng lọn tóc phai.
Tay thôi níu giữ bao nhiêu điều mộng mị.
Tôi thấy cuối trời quạnh quẽ buổi sang đông

 

Đoàn Tuyết Thu

 

 

 

 

RẤT LÂU, EM ĐÃ CHỜ… 

Anh biết không,
Ngoài kia mùa hạ về, đang nồng oi lắm.
Mặt trời chói chang hong cháy chiếc lá vàng.
Gió chiều bay bay ghé ngang thềm nắng hắt.
Bất chợt thấy lòng ai nhớ ai…

Anh biết không ,
Em gặp giữa hạ vàng bóng ngày xưa hai đứa.
Con phố hun hút dài thưa vắng ngựa xe.
Cây cao phượng đỏ, cây bằng lăng nở tím.
Chầm chậm thả nghiêng tình rơi xuống đời nhau.

Anh biết không,
Mùa hạ nơi xa, vạt nắng tàn nhắc hoài mùa hạ cũ.
Quán nhỏ cà phê, anh và em lặng lẽ bên nhau.
Tiếng yêu thương chân tình mà anh trao rất khẽ.
Em nghe ngoài trời mùa hạ bỗng sang thu.

 

Anh biết không,
Bốn mùa luân chuyển mang hạ xưa xa mất.
Mang đi yêu thương vừa mới bước vào tình.
Em cứ vẫn đợi mai này mùa trở bước.
Mang trả phượng hồng mùa hạ, thưở ta yêu.

 

Đoàn Tuyết Thu

 

 




EAST MEETS WEST

Xin click vào link đê đọc ĐÔNG GẶP tÂY (EAST MEETS WEAST)

 

Lời giới thiệu: Giới thiệu Sách VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM BẰNG NGOẠI NGỮ cho các thế hệ trẻ VN ở hải ngoại đọc, tham khảo, để hiểu rõ hơn về nhiều mặt của của cuộc chiến nghiệt ngã đã từng giày xéo quê hương tàn phá đất nước, mà CSVN đã giết hàng chục triệu sinh linh, làm băng hoại xã hội đã có nề nếp văn hóa và phong tục tập quán tốt đẹp khiến cho hàng triệu gia đinh gồm thuộc mọi tầng lớp đã bỏ quê cha đất tổ băng rừng, vượt biển đi tìm tự do ở bốn phương trời. Hàng trăm ngàn người đã chết mất xác trong rừng sâu, biển cả. Nhưng đã có hàng triệu người đã đến được bến bờ tự do, phần lớn là các nước phương Tây, Âu, Mỹ châu. Vấn đề hội nhập giữa cuộc “gặp gỡ Đông Tây” trở thành then chốt cho mọi gia đình. Vấn đề sinh sống và học vấn trở thành thiết yếu. Nhiều người thuộc thế hệ 1 đã thành công, hơn nữa nhiều gia đình đã đào tạo được thế hệ thứ 2 và 3, thành những nhà trí thức nổi danh trên nhiều phạm trù: chính trị, quân sự, kinh tế và khoa học kỹ thuật rất đáng được khen ngợi và cổ suý vì đã làm rạng danh người Việt Nam ở hải ngoại.




Nhà thơ Trường Giang (TT/VTLV 2016)

Nhà thơ Trường Giang.

Sinh năm 1928 tại Bắc Việt Nam
* TRƯỚC NĂM 1975 Sĩ Quan QLVNCH từ năm 1951 đến 1975
* SAU NĂM 1975 :
– Bị ở tù Cộng Sản 12 năm 2 tháng 25 ngày (4,464 ngày)
– Biết sáng tác Thơ từ ngày ở tù Cộng Sản  (30-4-1975)
– Đến Hoa Kỳ năm 1992. – Hiện định cư tại San Jose, California.
– Giải Nhất đồng hạng thi Thơ Hội Tết  QÚY DẬU 1993 tại SAN JOSE CALIFORNiA.
– Đã có thơ đăng trên một số Nhật Báo, Tuần Báo, và Đặc Đặc San tại California và Texas HOA KỲ.

* THƠ ĐÃ IN CHUNG trong các Tuyển Tập :
– Bốn Biển Thơ Chung Nối Nhịp Cầu (1995)
– Một Phía Trời Thơ (1995) – Xuân Thu (1998)
– Một Hướng Đi (2000)
– Hoa Giáp Đông Anh (2000)
– Một Phía Trời Thơ 5 (2002)
– Tuyển Tập Hoa Vàng (2003)
– Thi Văn Viễn Xứ  (2005)
– Hoa Thơ Bốn Phương 1 (2005)
– Thơ Văn Bốn Phương 2 (2006)
– Vui Tuổi Hạc (2007)
– Vịnh Sử Việt Nam (2007)
– Quê Hương Qua Thi Ca Việt Nam (2009)
– Thơ Văn Bốn Phương 3 (2009)

*TỰ XUẤT BẢN : Một Rừng Chính Khí (2000)

truong-giang-1

SĨ  KHÍ  (MỘT  HƯỚNG  ĐI)
1/4-Đấu tranh gian khổ chẳng hoang mang,
Lấy máu mà tô đậm sử vàng.
Giải thoát quê hương bằng nghĩa khí,
Vun bồi đất nước với trung cang.
Trách người luồn cúi như cun cút,
Tôn kẻ hiên ngang tựa phượng hoàng.
Lửa hận ngút trời ghi đáy dạ,
Kết đoàn, giặc Cộng phải tan hoang.
2/4- Kết đoàn, giặc Cộng phải tan hoang,
Già trẻ vùng lên giữ xóm làng.
ẤT MÃO toàn dân mang mũ mấn, (1)
MẬU THÂN cả nước chít khăn tang. (2)
Trui rèn ý chí, lòng như thép ,
Tôi luyện tâm hồn, dạ tựa gang.
Luật tắc đất tuần, nhân có vận,
Diệt thù khôi phục lại giang san.
3/4- Diệt thù khôi phục lại giang san,
Gian khổ bao nhiêu cũng chẳng màng.
Vận hội đắc thời, kèn thổi giục,
Thời cơ đáo hạn, trống khua vang.
Thề phô dạ sắt, trai tranh đấu,
Nguyện tỏ gan vàng, gái đảm đang.
Rực rỡ Quốc Kỳ, Ba sọc đỏ,
Nghìn sau vang dội cõi Viêm – Bang.
4/4- Nghìn sau vang dội cõi Viêm Bang,
Nước bốn nghìn năm rạng sử vàng.
Diệt Mãn kinh hồn phường thảo khấu,
Bình Mông táng đởm bọn sài lang.
Giặc Minh bao độ mang u uất,
Quân Pháp nhiều phen chịu bẽ bàng.
Bón bể, năm châu vang chính khí,
Muôn đời dân Việt tiếng trung cang.
BC THÁNG 8/2003 TRƯỜNG – GIANG
GHI CHÚ : (1) Năm 1975, Việt Cộng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam.
     (2) Năm 1968,Viêt Cộng tấn công toàn bộ các Tỉnh Miền Nam, đặc biệt

              Cố Đô Huế với hàng nghìn người bị chúng chôn vùi tập thể.

 

 

 

Trả Ta Sông Núi

Nước ta tên gọi Việt Nam,
Danh lam Bản Dốc, Nam quan (1) Sông Hồng.
Hoàng, Trường hải đảo phía Đông,
Giặc Tầu cưỡng chiếm của giòng giống Tiên
Bắc Nam ngàn dặm vẫn liền,
Tài nguyên vàng bạc vô biên, muôn đời.
Biển Đông bát ngát trùng khơi,
Mỏ than, tôm cá ngất trời bao la.
Giang sơn cẩm tú, ôi là !!
Núi cao, rừng thẳm ngọc ngà tiếng thơm.
Đồng bằng ruộng lúa xanh rờn,
Bắc Nam một giải giang sơn dặm ngàn.
Khắp nơi núi bạc, rừng vàng, (3)
Bao quanh bờ biển sóng tràn mọi nơi
Hạ Long cảnh đẹp vùng trời,
Hải Phòng trù phú tuỵêt vời thông thương.
Cam Ranh quý địa phi trường, (4) (5)
Quân nhu chuyển vận, liệt cường kết thân.
Nha Trang bờ biển riêng phần, (6)
Đông Tây giao hảo xa gần xông pha.
Hoàng, Trừơng hải đảo bao la,
Thiên thư định phận nguy nga lộc trời.
Vũng Tàu bát ngát trùng khơi,
Giao thương khắp bốn phương trời chứa chan.
Kiến An đất quý như vàng,
Thương trường gom lợi dễ dàng quanh năm.
Miền Nam nhờ nước Cửu Long,
Phù sa tưới bón ruộng đồng nuôi dân.
Hà Tiên cảnh đẹp bội phần,
Xanh um Phú Quốc, trắng ngần Bãi Dương.
Trời ban cảnh đẹp yêu thương,
Vi vu Thạch Động, mù sương Đông Hồ.
Ngư dân trù phú Bãi Nô,
Nước tràn Chông, Phụ, sóng xô Hòn Rùa.
Gió hòa, mưa thuận bốn mùa,
Nhà Thờ, Miếu Mạo, Đình Chùa cao sang.
Việt Nam núi bạc, rừng vàng,
Từ Nam Quan đến xóm làng Cà Mâu.
Kết đoàn trấn ải địa đầu,
Quyết tâm tiêu diệt giặc Tầu xâm lăng…

 TRƯỜNG GIANG.

 

 

 

Xây Dựng Lại Quê Hương 

 

Ba mươi năm sống trong chinh chiến,
Nước Việt Nam tai biến khổ-đau.
Hy sinh từ trước đến sau,
Trời cao khôn sánh, biển sâu khó lường.
Trai tuấn kiệt kiên cường chiến đấu,
Gái anh thư trung hậu đảm đang.
Xả thân bảo vệ xóm làng,
Không ham quyền lợi, chẳng màng công danh.
Trong cuộc chiến nghiêng thành đổ núi,
Quyết một lòng sớm tối hi sinh.
Khi nao đất nước hòa bình,
Khắp Trung, Nam, Bắc kết tình tương thân.
Từ  Cộng Sản vô thần ngự trị,
Cả tập đoàn ma quỷ múa may.
Tác oai, tác quái đêm ngày,
Tàn dân, hại nước, đọa đầy cùm gông.
Khi chúng đã bế bồng lên núi,
Để ăn năn đền tội Mác Lê.
Non sông rách nát trăm bề
Lấy ai dựng lại thói lề Cha Ông ?
Nhà phải có gia phong, nguồn cội,
Quốc Pháp là giềng mối nghìn xưa.
Nhà thờ, Thánh Thất, Đình, Chùa,
Khắp nơi trống gióng, chuông khua vang rền.
Phải bồi đắp vững nền Dân Chủ,
Xây Tự Do thói cũ Rồng Tiên.
Canh nông, Kỹ nghệ ba Miền ;
Giao thông, Thương mại thảy toàn xác xơ.
Khi muốn dựng cơ đồ vững chãi,
Thiếu nhân tài mình phải kết liên.
Muốn xây chắc móng, vững nền,
Dân nghèo, nước yếu hỏi tiền đâu ra?
Đồng hương Việt Quốc Gia hải ngoại,
Nối vòng tay dựng lại quê hương.
Nhân tài, vật lực bốn phương,
Chung lo gây dựng quê hương mạnh giàu
Rồi bốn Bể, năm Châu khét tiếng,
Khách từng đoàn thăm viếng nước ta.
Việt Nam một giải sơn hà,
Bốn nghìn Văn hiến chói loà Rồng Tiên.
Cả dân tộc oan khiên đã hết,
Nắm tay nhau đoàn kết Bắc Nam.
Xây nền Nhân Bản phi phàm,
Tự Do, Hạnh Phúc để làm gương chung.
Việt Nam khét tiếng anh hùng,
Nghìn sau con cháu lẫy lừng vang danh.

TRƯỜNG GIANG.

 

 

 

Xứ Địa Linh Nhân Kiệt

 

Quảng Nam tỉnh : Địa Linh Nhân Kiệt,
Khắp năm Châu đều biết danh xưng.
Bao nhiêu hào kiệt anh hùng,
Thương dân, yêu nước lẫy lừng còn ghi.
Sắc Ngũ Phụng Tề Phi chỉ một, (1)
Bảng Tứ Hùng uy liệt không hai. (2)
Đồng khoa Năm vị đua tài,
Cổ Kim độc nhất còn ai thể ngờ.
Bậc khoa bảng văn thơ trác tuyệt,
Danh vang lừng tuấn kiệt nhường ai.
Chung linh, tú khí anh tài,
Chấn hưng đạo đức, an bài kỷ cương.
Khi đất nước bốn phương tơ rối,
Quyết chuyển xoay rường mối phân minh.
Trần Cao Vân quá bất bình,
Chống Tây vì nỗi dân mình đau thương.
Dân thông suốt luân thường, đạo lý,
Khắp trẻ già ý chí nâng cao.
Phong trào yêu nước hô hào,
Lấy câu Quốc hận đặt vào trong tim
Người người trọng thảo hiền, nghĩa khí,
Thương nước nòi đang bị chia phân.
Quyết phò ấu chúa Duy Tân
Chống xâm luợc Pháp cứu dân thoát vòng.
Trần Quý Cáp uy phong lẫm liệt,
Cùng Cao Vân tiêu diệt ngoại xâm
Uy danh lưu đến muôn năm,
Thái Phiên ý chí cao thâm nghìn trùng.
Đã chống giặc quyết không hàng giặc,
Án tử hình phó mặc trời cao.
Vì dân chịu cảnh lao đao,
Dấn thân dù đổ máu đào xá chi.
Khi đất nước suy vi rường mối,
Sức mạnh nào chống nổi bão giông.
Gươm đao sánh với súng đồng,
Bó tay đành phải quặn lòng thua cơ..
Vì cứu nước giương cờ, gióng trống,
Quyết diệt Tây thỏa mộng Hải Tần.
Khốn thay, khí nhuệ cơ tân,
Súng đồng, bộc phá trăm lần hơn ta…
Mộng diệt giặc dẫu là chưa đạt.
Bọn Lang Xa cũng bạt vía rồi.
Nghìn sau lịch sử tô bồi,
Ghi công Chính khí vùng trời Quảng Nam.

TRƯỜNG GIANG

 

ĂN CÀN NÓI RỠ  42

Người ta nhìn bằng hai con mắt,
Để thấy điều có thật hay không.
Kẻ khôn nói tự đáy lòng,
Dại thì liến thoắng tựa nhòng nói ngay.
Người có học trình bày lẽ phải,
Chẳng nói điều bại hoại nhân luân.
Phải nên uốn lưỡi bảy lần,
Một lời khỏi miệng là cần đắn đo.
Có những kẻ mặt mo trơ trẽn,
Nói điêu ngoa không thẹn lương tâm.
Nhàm tai nghe lũ chết đâm,
Nghe buông lời, đã tím bầm ruột gan.
Quê tôi có tên gàn bố láo,
Toàn buông lời vô đạo, bất nhân.
Nói xuôi, nói ngược xa gần,
Đặt điều, bia truyện trăm phần trái ngang.
Y cũng thuộc vào hàng cấp chức,
Đã một thời nẩy mực cầm cân,
Đòi phen bố đức, thi ân,
Một lời khỏi miệng là dân “TÉ ĐÀI”
Khi vận nước chẳng may tan rã,
Hắn ở tù phải nhá bo bo.
Sắn khoai từng bữa không no,
Khổ sai đầy ải, giày vò ngày đêm.
Nay y đã ấm êm, đầy đủ,
Lại quên câu nhiễu phủ giá gương.
Những người tranh đấu kiên cường,
Thì y chửi đổng : “điên cuồng, cực đoan”.
Nằm một xó vu oan, giá hoạ,
Viết lăng nhăng, bậy bạ đáng khinh.
Nòi bất nghĩa, giống lưu manh,
Thay hình, đổi dạng quên tình nước non.
Vì canh cặn bán hồn cho quỷ,
Bởi cơm thừa chẳng nghĩ trước sau.
Cam tâm gục mặt, cúi đầu,
Ra luồn, vào cúi để cầu lợi riêng.
Tình Dân Tộc thiêng liêng gác bỏ,
Nghĩa đồng bào xếp xó một nơi
Đen đầu cũng kể là người,
Uống ăn chi tổn cơm trời nước sông!!
Đã làm điếm nhục cha,ông,
Sao không chết quách cho xong,ĐỒ GÀN !!!!!

TRƯỜNG GIANG




Nhà Thơ Huệ Thu (VTLV)

Nhà Thơ Huệ Thu

hue-thu-2  huethu-1hue-thu-4

 

Sinh trưởng tại Đà Lạt, Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1980
Hiện sống cùng gia đình tại San Jose, California
Làm thơ từ thời trung học với bút hiệu Trần thị Tiên, Trần Bích Tiên
Hiện giữ mục Thơ Ðường trong tạp chí Nguồn
Có bài trên các tạp chí tại hải ngoại:t ạp chí Thơ, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học , Hợp lưu….
Hiện cộng tác với các trang điện báo: vantuyen.net – quantho.net – saimonthidan.com- trasonthidan.net.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Thơ Huệ Thu 1987
– Sương Chiều Thu Đọng (thơ, 1991)
– Mở Ngõ Phù Vân (thơ,1995)
– Lục Bát Huệ Thu (1997)
– Đầu Non Mây Trắng (thơ, 1998)
– Tứ Tuyệt Huệ Thu (thơ,1998)
– Khúc Ca Quy Ẩn (thơ, 2005)
– Hương Mùa Cũ (thơ Đường in chung, 2006)

Sắp xuất bản :
(nhưng đã post trên saimonthidan.com & quantho.net)

Khúc Ca quy ẩn I gồm 400 câu lục bát
Khúc Ca quy ẩn II gồm 400 câu thất ngôn
Cõi thanh bình (Ðầu non mây trắng III) 432 c âu lục bát
Cuối biển mù sương (Ðầu non Mây Trắng II) 424 câu lục bát
Thơ Chuyển thể huệ thu (từ một bài chuyển đủ thể loại)
Ðường thi của huệ
Thơ Ðường Xướng họa

Những tác phẩn của nhà thơ Huệ Thu:

2ht3ht4htsuong-chieu


Hôm Nay Tôi Làm Bài Thơ Này Tự Do

1,

Việt Nam!  Việt Nam!
chưa một lần tôi hô vang
tên Đất Nước tôi với lòng hân hoan trìu mến!
Tôi là người vượt biển
Ngay xưa tôi vượt biển
Đại Dương!  Đại Dương!
biết bao nhiêu thương biết bao nhiêu hờn biết bao nhiêu oán
nhất là những tháng tù nằm ở đảo Côn Sơn!
Việt Nam yêu thương!  Việt Nam yêu thương!
tôi ít nhất có một lần đứt gánh
tôi từng cỡi áo đắp cho con tôi kẻo lạnh
tôi từng nhịn cơm cho con tôi no lòng…
Việt Nam núi sông…nước mắt hai dòng quá ít!

2,
Năm 1979, lần thứ hai, ra tù, tôi đi, đã đến
mấy mươi năm làm én liệng quê người
Việt Nam tôi mây trôi Việt Nam tôi mây trôi…
tôi phải sống để con tôi được sống
con tôi thì cười đâu thấy mẹ khóc đêm đêm?
Ở đây cuộc sống bình yên
tôi có việc làm, con tôi có nơi để học
tôi vẫn nghĩ về Quê Hương khổ nhọc
Má tôi chờ có một ngày tôi về…
Má tôi chờ và Má tôi đã đi
Đi vĩnh viễn đến với Ba đã nằm ngoài nghĩa địa
Việt Nam Việt Nam hỡi ơi biển lệ
Đà Lạt hỡi ơi tôi mất hết rồi!

3,
Suốt ba năm nay, tôi đứng, tôi ngồi
rất ít khi bởi tôi thường nằm liệt chiếu
tuổi ngày một cao chưa có một thời niên thiếu
hồn nhiên như con tôi, quả thật rất buồn
cũng tại vì mình có một Quê Hương
cũng tại vì mình có rất nhiều người thương ở đó!
có những chiều tự dưng trời trở gió
tôi nghĩ đến Má tôi, nghĩ đến bà con
thèm một chén cơm, thèm một bát bún
thèm nghe tiếng dép động hiên nhà
Má ơi con vẫn còn xa…

4,
Trời không cho ai trẻ mãi, ai cũng phải già
nước non tôi bốn mươi năm hơn rồi sao ai cũng thèm thời con nít?
Chưa một người lớn khôn
Chưa một chút buồn nào phai nhạt
phải chăng tại vì mất mát?
Tôi mất Ba tôi trong Chiến Tranh
Tôi mất Má tôi trong Hòa Bình
Tôi mất ngay cả chính mình Tuổi Hồn Nhiên Mơ Mộng
vậy mà tôi phải sống
Tôi muốn con tôi thành người
có nụ cười khi gặp bè gặp bạn!
Tôi thèm một nụ hôn đặt trên vầng trán
của Ba tôi, chẳng hạn, mà…Ba ơi!
đó, thuở tôi thiếu thời…

5,
Cả tháng nay hình như tôi đau nặng
tin quê nhà gửi qua cay đắng…
– người chết ở nhà thương bó chiếu chở về bằng xe gắn máy
– người chết ở trên đường dịp lễ nghỉ về thăm nhà
– người chết vì hút cần sa cho đỡ đói
– người chết không kịp nói…tôi là dân oan!
Tin Trịnh Xuân Thanh giàu nhờ tham ô, trốn mất rồi
Tin về cá chết …tới bây giờ vẫn còn cá chết
Tin Formosa đền cho ngư dân năm trăm triệu đô la làm ô nhiễm môi trường
nhưng được nhà nước trả hoàn gần một tỉ đô la tiền thuế
Dân được gì đâu giữa thời dâu bể!
Ở Yên Bái có người bắn lầm hai cán bộ cốt cán rồi tự sát
Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Fuck, Nguyễn Thị Kim Ngân mừng chết hụt!
Độc Lập, Tự Do, Ấm No, Hạnh Phúc
bọn Tàu ô lúc nhúc đầy đường
Đà Nẵng, Hải Phòng, Nha Trang dễ thương xí xào xí xố…
Bí Thư Thanh Hóa không xấu hổ khi trút tiền cho gái dài chân…
Đại Thắng Mùa Xuân bốn mươi năm hơn đầy tiếng oán tiếng hờn!
Việt Nam Việt Nam Đau Thương Đau Thương!

6,
Tôi biết làm Thơ Đường
Tôi biết làm thơ Lục Bát
Tôi biết làm thơ tám chữ…
Nhưng hôm nay, tôi làm bài thơ này, Tự Do
Tôi cảm ơn Trời đã cho tôi gần hai phần ba đời người được No được Ấm
Tôi san sớt cho quê nhà nhiều lắm, cảm ơn Phật Trời, con vẫn còn dư!
Tôi ước tôi mơ Con Tôi Đọc Bài Thơ Này Tiếp Thêm Sức Mẹ
lau cho mẹ giọt lệ ngày Mẹ lìa đời …!

huệthu




Nhà thơ Song Linh (TT/VTLV 2016)

Nhà thơ Song Linh 

song-linh

Tên : Vũ Đình Long
Bút  hiệu: Song Linh
Sinh năm Kỷ Mão, Bắc Ninh.

Làm thơ từ năm 1960 tại Sài Gòn
Cộng tác với một số báo như : Chiến Sĩ Cộng Hoà, Tiền Phong, Hành Động, Chính Luận, Báo Sống, BA Quân, và Hải Quân.

1975 đi tù
1993 qua Mỹ sang tác lại
1995 dến 2005 phụ trách Tổng Thư Ký Văn Thơ Lạc Việt.
Tác phẩm : Thân phận và tình yêu (thơ) – Nửa đời còn đó (thơ) Ngoài ra còn cộng tác chung với nhiều tác gỉa. Nhóm Cụm Hoa Tình Yêu – Cội Nguồn –  M.P. thi tập 1,2,3,4 v..v..
01  DVD thơ phổ nhạc – 01 CVD – 03 CD Thơ Phổ.
HIện là cố vấn cho Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.

——————————————————————————————–

Dáng Xưa

Riêng tặng Áo Tím.
Gặp người cứ tưởng hoa xưa
Cũng nghiêng tóc xõa chiều vừa sang đông
Lời ai ngọt ấm bềnh bồng
Đưa ta lạc chốn cõi bồng đêm nao
Bên tôi em tựa vai vào
Bóng đêm mờ nhạt đêm chàovô ngôn
Bây giờ vàng là hoàng hôn
Tóc đôi sợi bạc nửa hồn thương đau
Bên em áo sợi hoa cau
Tay thon tháng chạp cõi sầu nở hoa
Chiều về dáng nhỏ kiêu sa
Thêm say tình vội … hồn ta cõi hồng
Cuộc đời bên có bên không
Tình ta theo bong… chất chồng nỗi đau
Đêm về trải mộng canh thâu
Mi cong cánh phượng … Gối đầu tâm tư
Người về thơ cũng tương tư
Cám ơn chiều mộng tạ từ dáng xưa.

Song Linh
 San Jose 12/2015

Có  Phải TìnhTa Là Khói Sương

Có phải tình yêu là nỗi đau.
Đời hoa từ đó khóc thương sầu
Làm sao và được trăng vừa khuyết
Xin tạ ơn em buổi hẹn đầu

Có phải em về trong giấc mơ
Bước chân nhè nhẹ dưới trăng mờ
Tóc em gói cả hồn thu lại
Mà giọt sương mai mở cánh chờ

Có  phải mùa xuân trong mắt nai
Đường xa dáng mộng , nét trang đài
Gặp nhau sao lại buốn như lá
Phố mở vòng tay, đất thở dài

Có phải tình ta như khòi sương
Mà anh  còn đứng đợi bên đường
Ngày mai mốt nọ đâu là thế
Gió buị mưa nào đong nhớ thương

Anh mãi để lòng mở cánh hoa
Chúa về nói nhỏ… Thế nhưng mà
Anh dang tay với… cầu chư phật
Thượng đế mỉm cười… thôi thứ tha

Song Linh
2016

Tình Khúc 1998

Tháng giêng đội nón vào đông
Tôi xa thành phố tay không sương mù
Tháng hai nhận một lá thư
Quê hương xuân đến lòng nhừ xót xa
Tôi vế nhận việc thángg ba
Mùa xuân còn đó chan hòa nắng tơ
Tháng tư một phút tình cờ
Em qua phố chợ không ngờ gặp nhau
Nhìn em không dám nhìn lâu
Sợ cơn đau đến bắc cầu tháng năm
Hạ về tháng sáu qua thăm
Cơn mưa tháng bẩy chỗ nằm có đôi
Tháng tám tình đã lên ngôi
Ngực thơm bông bưởi gọi mời đăng quang
Đâu ngờ tháng chín vừa sang
Tim tôi khoác áo mầu tang cuộc tình
Tháng mười cô quạnh một mình
Đêm thu hiu hắt tâm tình với trăng
Tháng mười một chút nắng hanh
Hàng cây thở hắt đau cành lá bay
Tôi đi nhặt là đầy tay
Mười hai tháng cuối theo mây bềnh bồng.

Song Linh.

 

 

 

 

Ngày Tháng Tám, Mùa Thu

Ngày tháng tám mùa thu về rất lạ
Em mắt buồn theo cỏ lá heo may
Đường thở dài, vàng nắng áng mây bay
Tình cúi mặt để sầu rêu nhánh lá

Ngày tháng tám mùa thu xanh biển cả
Cánh chim về hong ấm nụ môi hôn
Bài thơ yêu nhung nhớ lại gần hơn
Căn gác nhỏ mở lòng vui đất lạ.

Ngày tháng tám, mùa thu vàng đất trắng
Tay em mềm gối mộng ngát trùng dương
Con sóng vỗ thềm trăng mòn vách núi
Gọi xuân về, mây trắng đẹp trời hương

Ngày tháng tám, Mùa thu trùng xuống thấp
Đất khóc thầm tan vỡ mối tình hoa
Em nói dối, ta buồn như muốn khóc
Con thuyền nào chở hết nỗi lòng ta

Ngày tháng tám, mùa thu về thêm tuổi
Đất mẹ nghèo mọc cách vỗ trời hoang
Và tình ta từ đó cũng lang thang
Khi trước mặt, cuộc đời chưa đáp số.

Song Linh.




Nhà Văn Trịnh Bình An (TT/VTLV 2016)

Nhà văn Trịnh Bình An 

trinh-binh-an

Sinh năm 1962 tại Sài Gòn. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1990. Hiện cư ngụ tại tiểu bang Maryland (USA). Hành nghề kỹ sư công chánh. Bắt đầu viết từ năm 2008 trên trang báo điện tử DCVOnline.net.

Hiện cộng tác với Tủ Sách Tiếng Quê Hương trong nhóm phụ trách Tin Sách. Liên lạc: tinsach.trinhbinhan@gmail.com

Vẫn Một Ngọc Cờ

 

 

 

Mến gởi quý Anh Chị bài viết  để nhớ tới ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Và như lời CẢM TẠ CHÂN THÀNH NHẤT tới quý Anh Chị .

Những người đã trải qua gian đoạn đau thương nhất thay cho đứa em này.

Thân mến tba

(Nếu đã đọc rồi, xin vui lòng bỏ qua cho)

Hồn Việt Nào Cho Em

Trịnh Bình An

Có những cuốn phim sau khi coi xong khiến tôi thích thú hoặc bực bội, nhưng cũng có cuốn phim khiến tôi băn khoăn, dường như vui, cũng dường như buồn, cuốn phim đó chính là phim “Hồn Việt”.

“Hồn Việt” là một bộ phim trình bày lịch sử Quốc Kỳ và Quốc Ca của Việt Nam Cộng Hòa – nơi tôi đã sinh ra và lớn lên cho tới ngày mất nước. Đấy chỉ là một bộ phim tài liệu với những dữ liệu thực tế. Lá cờ vàng ba sọc đỏ, quốc kỳ của một chính thể đã bị xóa sổ, không ngờ có ngày tung bay phất phới, đứng ngang hàng với những lá cờ quốc gia khác tại nhiều nơi trên thế giới. Đáng lẽ tôi, một người từng sống trên 10 năm dưới lá Cờ Vàng, phải cảm thấy xúc động và tự hào chứ?  Nhưng không hiểu sao tôi chỉ cảm thấy vui buồn lẫn lộn?

Nếu bảo Việt Nam là người mẹ khổ đau qua những năm tháng chiến tranh, thì Việt Nam Cộng Hòa là cha, người cha đã bị bức tử, người cha tôi đã phải xa khi còn tấm nhỏ. Quá nhỏ để hiểu được chiến tranh đang xảy ra khốc liệt chung quanh, quá nhỏ để hiểu đang có rất nhiều người ngày đêm chiến đấu bảo vệ miền Nam, bảo vệ cuộc sống yên ổn cho hàng triệu sinh mạng trong đó có tôi.

Sẽ chẳng ai trách cứ một đứa con gái nhỏ ngượng ngùng với cha nếu nó đã bị lìa xa cha ngay từ lúc nhỏ.  Cũng thế, hẳn không ai trách nếu tôi thú thực rằng giờ đây, sau hơn 20 năm trên xứ người, tôi cảm thấy chẳng có mấy rung động trước lá cờ ấy dù lý trí vẫn biết rằng đó là lá cờ Tổ Quốc của mình.

Cho tới khi xem Phim “Hồn Việt”, tới đoạn trình bày về lược sử hình thành Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam, tôi bỗng cảm thấy dâng lên trong lòng một nỗi chua xót xen lẫn giận hờn.

Tôi tiếc ngày ấy đã không được dạy bảo kỹ lưỡng về nguồn gốc Quốc Kỳ và Quốc Ca trong những giờ Công Dân Giáo Dục. Tôi chỉ biết chào cờ và hát quốc ca như một thói quen. Giống như một đứa con, chỉ được nguời ta chỉ vào ảnh cha mà bảo “Cha con đó!” chứ không giải thích thêm cha là ai, cuộc đời cha như thế nào, cha đang chiến đấu nghiệt ngã trong những hoàn cảnh nào…

May mắn thay, trong đại gia đình dân tộc, vẫn còn những người anh, người chị đã từng sống với cha, đã từng biết đến cha. Những anh chị ấy đã giữ cha trong trái tim họ cho đến cuối đời. Tôi muốn nói tới những người Việt lưu lạc khắp nơi trên thế giới, những người đã kiên quyết giữ vững lá cờ Việt Nam tự do, đã đấu tranh không mệt mỏi để cuối cùng lá cờ ấy tung bay cùng với những lá cờ khác tại nơi họ cư ngụ.

Những anh chị ấy đã cống hiến tuổi thanh xuân để xây dựng và bảo vệ miền Nam để những đứa trẻ như tôi được thảnh thơi đến trường.  Trên xứ người, những người anh người chị ấy vẫn miệt mài tìm mọi cách gìn giữ những di sản tốt đẹp của đất nước để một ngày nào đó khi chúng tôi – những đứa trẻ đi lạc, muốn quay về sẽ thấy vẫn còn đó mái nhà xưa.

Ngày hôm nay, mỗi khi có những dịp tụ họp đông người, việc chào cờ hay không chào cờ vẫn là một đề tài nhạy cảm, có khi gây tranh cãi. Bên muốn chào cờ cho rằng không thể hưởng niềm vui họp mặt trên xứ sở tự do mà quên đi công lao to lớn của những người đã nằm xuống. Còn bên không muốn chào cờ thì bảo việc cử hành quốc kỳ và quốc ca là nghi lễ trang trọng, nếu làm trong một tiệc dịp tiệc tùng vui chơi sẽ mất đi ý nghĩa và giảm lòng tôn kính.

Cả hai phía đều có lý của họ. Riêng tôi, tôi cho rằng những người thực tâm giữ gìn sự tồn tại của Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam không quanh quẩn trong lý lẽ mà họ chỉ muốn hành động từ tiếng gọi của trái tim.

 

Nếu không là tiếng gọi từ trái tim, Đại Tá Phạm Bá Hoa đã không kiên trì sưu tầm mọi tin tức và hình ảnh về các cuộc tranh đấu của người Việt khắp nơi để cho Quốc Kỳ Việt Nam được công nhận tại các thành phố trên khắp thế giới. Mỗi một chiến thắng là một tin vui làm nức lòng người Việt hải ngoại, và là kiểu mẫu cho những nơi khác noi theo, để rồi chiến thắng nối tiếp chiến thắng. Kết quả là cho tới nay, trên đất nước Hoa Kỳ đã có 16 tiểu bang, 8 quận hạt, 103 thành phố công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là đại diện của Việt Nam đã công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là đại diện của Việt Nam.

Nếu không là tiếng gọi từ trái tim, ông Chu Lynh đã không quyết tâm bắt tay vào việc thực hiện cuốn phim “Hồn Việt” dù biết sẽ rất khó khăn, lấy ý nghĩ từ chuyến đi thăm nghĩa trang Biên Hoà năm 2003. Nhìn tấm bia mộ của một người lính, lá cờ nhỏ bé khắc trên ấy bị đục nát chỉ còn dấu vết lờ mờ, ông đau thắt lòng.  Người lính, người đồng đội của ông, cả một đời hy sinh chẳng được gì, đến khi chết chỉ có mỗi lá cờ, vậy mà người ta vẫn nhẫn tâm tước đoạt.

Và nếu không từ tiếng gọi từ trái tim, nhạc sĩ Lê Văn Khoa, người đã đưa âm nhạc Việt Nam đến với thế giới, đã không thể soạn hòa âm phối khí cho bản quốc thiều Việt Nam trở nên sống động tha thiết đến thế. Và những nhạc sỹ Ukraina – những người vừa thoát khỏi địa ngục cộng sản, đã cảm thông, đã bắt nhịp cùng tiếng gọi trái tim ấy để tấu lên một bản quốc thiều hùng tráng gây rúng động lòng người.

Tôi muốn ngừng lại một chút để kể một câu chuyện lý thú về lá cờ hiện nay của nước Nga mà lịch sử của nó có đôi điều tương tợ với lá Cờ Vàng VNCH.

Bắt đầu từ năm 1896, Quốc Kỳ Nga có ba màu: trắng, xanh dương và đỏ. Sau Cách Mạng Tháng Mười 1917, lá cờ ấy bị bỏ đi, thay bằng cờ đỏ búa liềm. Đến năm 1991, khi chế độ cộng sản tan rã, Liên Bang Xô Viết (Soviet Union) trở thành Liên Bang Nga (Russian Federation), cờ đỏ búa liềm bị dẹp bỏ, người Nga quay về với lá cờ ba màu -Триколор (Tricolor) lúc trước.

Có nhiều giải thích cho nguồn gốc ba màu trên quốc kỳ Nga. Một giả thuyết cho rằng đó là huy hiệu trên khiên của vương quốc Grand Ducchy of Moscow. Huy hiệu này có hình thánh Saint George mang giáp bạc, cỡi ngựa trắng, choàng khăn và cầm khiên màu xanh trên nền đỏ. Một gỉa thuyết khác lại cho rằng đấy chính là ba màu trên khăn áo Đức Mẹ Maria.

Như thế, nước Nga – cái nôi sản sinh ra chủ nghĩa cộng sản, cuối cùng đã quay về với lá cờ truyền thống. Một lá cờ với ba màu hòa dịu, ẩn chứa những niềm tin thiêng liêng, có thể đó là lòng dũng cảm quên mình của thánh St. George, cũng có thể là lòng từ ái bao la của Đức Mẹ.

So sánh với lá cờ nước Nga, lá cờ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ cũng có màu sắc hòa dịu với những ý nghĩa nhân ái:  Màu vàng tượng trưng cho dân tộc Việt. Ba sọc đỏ là ba miền Nam Trung Bắc. Tuy người dân thuộc ba miền (ba sọc đỏ) nhưng vẫn sống chung một nhà (nền vàng). Dưới mái Nhà Việt Nam, con dân muôn đời thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Màu đỏ trên nền vàng còn là màu của nhiều lá quốc kỳ Việt Nam qua nhiều triều đại khác nhau.

Khi kể câu chuyện nước Nga tìm về lá cờ dân tộc phải chăng tôi muốn nói đến việc phục hoạt lá cờ vàng truyền thống của nước Việt Nam?

Hoàn toàn không. Lá Cờ Vàng đã được chính quyền của môt số thành phố và tiểu bang Hoa Kỳ công nhận là “Lá Cờ Tự Do và Di Sản” (Heritage and Freedom Flag). Người Việt tị nạn sau khi nhập tịch là nguyện đứng dưới lá cờ của đất nước thứ hai. Việt Nam tuy vẫn là tổ quốc thân yêu nhưng không còn thuộc quyền quyết định của những người chúng tôi. Việc chọn lá cờ nào, bài hát nào cho Việt Nam tương lai sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào một chính phủ và một quốc hội không còn cộng sản.

Những người ấy sẽ hiểu biết thấu đáo về lịch sử của những lá cờ để nhìn cho ra lá cờ nào mang “Hồn Việt”, còn lá cờ nào chỉ mang giả trá và thương đau.

Nếu đã nói tới quốc kỳ thì không thể không nhắc tới quốc ca. Nghe ban nhạc Ukraina hòa tấu Quốc Thiều Việt Nam, tôi mới thấy Quốc Ca Việt Nam có giai điệu thật phong phú, khi hùng tráng, khi du dương như một nhắn nhủ thiết tha.

Là một học sinh qua hai chế độ, tôi vẫn không thể quên bài hát Tiến Quân Ca của cộng sản.  Nhạc điệu quân hành nhưng khá nhạt nhẽo, chưa kể trong đó có những lời lẽ khát máu đến ghê người. Một ca khúc tầm thường, thậm chí vô nhân có thể nào xứng đáng làm biểu tượng cho một dân tộc lãng mạn và hiếu hòa như người Việt chăng? Nhưng công bằng mà nói, bài hát Tiến Quân Ca có lịch sử riêng của nó và xứng đáng được ghi nhận như ca khúc của một thời. Những người dân Việt trong tương lai sẽ tìm ra quyết định cho quốc ca cũng như quốc kỳ vậy.

Phim “Hồn Việt” ra đời, hai năm tôi sau mới biết, cũng như tôi đã không biết rõ về Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam sau hơn hàng chục năm.  Thật khá trễ tràng. Cảm giác buồn vui lẫn lộn, vui vì biết được thêm quá khứ anh dũng của cha anh, buồn vì suốt bao lâu nay lơ đãng trước những hy sinh cao cả ấy.

 

Mong sao bộ phim tài liệu “Hồn Việt” sẽ giúp cho những thế hệ sau hiểu rõ về quốc kỳ và quốc ca, từ đó thấy rõ tính cách Việt, mơ ước Việt, tâm hồn Việt thể hiện thế nào qua quốc kỳ và quốc ca, để rồi có quyết định sáng suốt về con đường đi tới của dân tộc.

Tổng Thống Woodrow Wilson từng nói:

The things that the flag stands for were created by the experiences of a great people. Everything that it stands for was written by their lives. The flag is the embodiment, not of sentiment, but of history.

(Những gì một lá cờ biểu tượng, đó là những kinh nghiệm đã được tạo dựng bởi một dân tộc tuyệt vời. Tất cả những gì lá cờ biểu tượng đã được viết nên từ chính mạng sống của họ. Lá cờ là hiện thân, không phải của cảm xúc, mà là của chính lịch sử).

Qua phim “Hồn Việt” tôi thấy lời của Tổng Thống Wilson thật đúng, Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam thực sự đã được viết nên từ mạng sống của biết bao người con dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu vì Đất Nước, vì Hòa Bình, vì Tự Do. Tôi dù biết điều ấy trễ nhưng vẫn còn chưa quá muộn. Khi hiểu ra được như thế tôi chợt thấy mình tháo gỡ được mối băn khoăn.

 

Người cha bị bức tử của tôi chưa bao giờ chết. Người vẫn còn đó cùng Lá Cờ Vàng lồng lộng bay trong gió như chuyển trao mọi nỗi bi thương nhưng đồng thời cũng là niềm hân hoan về một Đất Việt, một Dân Việt, và một Hồn Việt muôn đời.

 

Trịnh Bình An – 9/2014

 

Sơ lược về phim “Hồn Việt”

“Hồn Việt” là một phim tài liệu dài 57 phút về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam do Vietnam Film Club thực hiện vào năm 2012. Phim gồm có 9 đề mục:

– Lược sử hình thành Quốc Kỳ Việt Nam (cờ vàng ba sọc đỏ)

– Lược sử hình thành Quốc Ca Việt Nam

– Quốc Kỳ theo mệnh nước (đi theo người tỵ nạn sau biến cố 1975)

– Quốc Kỳ Việt Nam tại hải ngoại

– Quốc Kỳ Việt Nam trên thế giới

– Những câu chuyện về Quốc Kỳ Việt Nam

– Quốc Kỳ trong tim người Việt

– Quốc Kỳ và người ngoại quốc

– Trình tấu Quốc Thiều Việt Nam tại Kiev, thủ đô của Ukraina.
Sơ lược về “Viet Nam Film Club”

Vietnam Film Club được thành lập tháng 9 năm 2010 sau một thời gian dài vận động. Nhằm đáp ứng nhu cầu đi tìm sự thật của người Việt, đặc biệt người dân trong nước về lịch sử Việt Nam giai đoạn cận đại, Vietnam Film Club thực hiện các phim tài liệu lịch sử liên quan đến Chiến Tranh Việt Nam, Đảng CS Việt Nam, và những hệ lụy của cuộc chiến. 

VFC website vnfilmclub.com

www.youtube.com/watch?v=ahEblKNhUVw

VFC – “Hồn Việt – Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam”

https://www.youtube.com/watch?v=fGzhDXipo30

VFC – “The Soul of Vietnam – The Vietnamese National Flag and Anthem”

*   Cuốn phim tài liệu có sự đóng góp cuối cùng của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đang đi vào giai đoạn cuối: phim Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, dự trù sẽ phát hành bằng DVD vào tháng 7 năm 2016. Xin mời xem Trailer dưới đây

(8 phút):

https://www.youtube.com/watch?v=7t2P-vBPsnY

*   Nhân tưởng niệm 49 ngày mất của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Vietnam Film Club đã thực hiện Video Nguyễn Ngọc Bích: Tấm Lòng Cho Quê Hương, được phổ biến theo Link dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=CCHdAzTzhec

 


co-vang

 

Lòng yêu nước bắt đầu từ đâu?

Thỉnh thoảng tôi hỏi chính mình. Mỗi khi đọc tin về những con người dấn thân hy sinh cho đất nước, tôi thấy mình lại phải đối diện với câu hỏi: Thật ra, lòng yêu nước bắt đầu từ đâu?

Rất nhiều năm, tôi chỉ có được những cảm xúc mơ hồ về lòng yêu nước, cho đến khi được xem phim Hồn Việt: Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam. Phim Hồn Việt đã cho tôi hiểu tình yêu nước – tình yêu của những con người đã hy sinh mạng sống để bảo vệ ngọn cờ Dân Tộc.

Tôi may mắn có cơ hội gặp gỡ những anh chị trực tiếp thực hiện phim Hồn Việt. Mỗi người mỗi câu chuyện khác nhau, nhưng dường như đều có chung một điều: dù ở đâu, làm gì, họ luôn canh cánh bên lòng một mối ưu tư về vận mệnh đất nước. Rồi một cơ duyên kỳ lạ đã đưa họ tới với nhau để cùng thực hiện phim Hồn Việt.

Nhờ những anh chị ấy, tôi thấy ra một điều: lòng yêu nước quả có thật!

Có thể ví lòng yêu nước như một thứ cây, bắt đầu từ một hạt giống và sẽ nảy mầm nếu đủ điều kiện. Nhưng cái cây sẽ chết yểu hay lớn mạnh còn tùy thuộc vào việc có được chăm sóc kỹ lưỡng hay không.

Bài viết này xin được coi như cố gắng của một người muốn có một cái nhìn thấu đáo hơn bằng cách đặt câu hỏi với những người đi trước. Tuy những câu hỏi chỉ giới hạn trong khuôn khổ phim Hồn Việt, nhưng vẫn hướng về một tình cảm rộng rãi hơn – tình yêu quê hương.

Phim Hồn Việt có được là nhờ vào sự đóng góp công sức của rất nhiều người, cả người Việt Nam lẫn người ngoại quốc. Tuy nhiên, các câu hỏi sẽ được dành cho bốn người có vai trò quan trọng nhất trong việc thực hiện: Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích và ông Chu Lynh.

***
van-mot-ngon-co

pham-ba-hoaPhạm Bá Hoa:

Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là tác giả của những hồi ký chính trị: Đôi Dòng Ghi Nhớ: hồi ký chính trị Việt Nam Cộng Hòa 1963-1975, Ký Sự Trong Tù, Tôi Là Một HO, Quê Hương & Quân Ngũ, Việt Nam 2001-2006. Ông đã viết Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ (2004) liệt kê các thành phố, tiểu bang Hoa Kỳ đã chính thức công nhận và vinh danh Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa là Lá Cờ Tự Do và Di Sản – Heritage and Freedom Flag của cộng đồng người Việt. Ông cũng là người viết kịch bản cho phim Hồn Việt.

Trịnh Bình An (TBA):  Ông đã bỏ công sưu tập lịch sử Quốc Kỳ và thành lập một trang báo điện tử lưu trữ những tài liệu liên quan đến Quốc Kỳ tại hải ngoại. Ông có thể cho biết nhờ đâu mà “trận chiến dựng lại quốc kỳ” đã thắng trận vẻ vang như thế?

Phạm Bá Hoa: Đầu tiên là Nghị Quyết số 3750 ngày 19/2/2003, thành phố Westminster chánh thức công nhận quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ của Cộng ĐồngViệt Nam tị nạn cộng sản. Sự khởi đầu nào cũng có những khó khăn, nhưng với sự vận động từ âm thầm đến công khai, và cuối cùng là thành công rực rỡ. Thành phố thứ nhì là Garden Grove công nhận ngày 11/3/2003 với Nghị Quyết số 8486-03. Hai thành công trên đây được phổ biến rộng rãi trên internet, giúp Cộng Đồng chúng ta tại nhiều địa phương nỗ lực vận động với cơ quan dân cử. Chỉ 5 tháng sau, Louisiana là tiểu bang đầu tiên công nhận ngày 15/7/2003 bằng Luật số 839. Tính đến ngày 4/12/2014, có 134 cơ quan hành chánh Hoa Kỳ công nhận quốc kỳ chúng ta, gồm: 18 tiểu bang, 8 Quận hạt và 108 thành phố.

Sau khi hai thành phố đầu tiên công nhận, tôi tiếp tay phổ biến và cổ vũ cho công cuộc này. Tôi cho rằng, đấy là một trong hai trận chiến mà Cộng Đồng tị nạn cộng sản chúng ta đang chiến đấu. Trận Chiến Nhân Quyền đang diễn tiến, trong khi Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ vừa mới bắt đầu nhưng khí thế mạnh hơn. Với tôi, sự thành công có thể nói là ngoạn mục này bắt nguồn từ tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân đối với quê hương Việt Nam, dẫn đến tinh thần tự phát đấu tranh dù sống xa quê hương đến nửa vòng trái đất. Mỗi khi nhìn thấy lá Quốc Kỳ tung bay trong gió – tôi nghĩ – không ai nén được sự xúc động mạnh mẽ từ sâu thẳm tâm hồn, bởi đó là biểu tượng của Hồn Thiêng Sông Núi, của Dân Chủ Tự Do.

TBA: Là một người cựu tù nhân từng chịu nhiều năm trong các trại lao động khổ sai của cộng sản, có khi nào ông nghĩ tới ngọn cờ vàng, và lúc đó ông cảm nhận thế nào về câu hát “dù cho thây phơi trên gươm giáo” trong Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa?

Phạm Bá Hoa: Ngày 2/9/1975, khi bị giam tại trại tập trung Long Giao (tình Long Khánh), họ bắt chúng tôi dự lễ chào cờ ngày quốc khánh của họ. Khi họ hát câu “thề phanh thây uống máu quân thù..” tôi liền so sánh với câu trong Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa “dù cho thây phơi trên gươm giáo, thù nước lấy máu đào đem báo…”, nhận thấy sự tàn bạo của họ ngay trong lời hát.

Bài quốc ca của chúng ta tiêu biểu ý chí của người công dân hy sinh vì tổ quốc, trong khi cộng sản buộc công dân của họ phải mổ bụng và uống máu quân thù. Tàn bạo quá! Ghê tởm quá! Cộng Sản Việt Nam chiến đấu không vì con người, mà họ chiến đấu theo lệnh của Cộng Sản Quốc Tế, mà cộng sản quốc tế có tham vọng thống trị toàn thế giới, và tất cả chỉ biết tuân lệnh họ. Nói cách khác, lãnh đạo cộng sản quốc tế là chủ, cả nhân loại chỉ là những bầy thú vật không hơn không kém.

Hiện nay, hầu hết báo giấy cũng như báo online cho rằng, Nhà nước Hồi Giáo ISIS là tàn bạo. Tôi cho rằng nhà nước Hồi Giáo đúng là rất dã man, nhưng các chế độ cộng sản còn dã man tàn bạo hơn nhiều, mà Cộng Sản Việt Nam là trường hợp điển hình. Trong những năm 1945-1946, chỉ riêng tại Nha Mân tỉnh Sa Đéc, lúc đó tôi 15-16 tuổi, làm thư ký cho đại đội trưởng du kích xã, người này hoàn toàn mù chữ. Đại đội có hai trạm gác dọc theo sông Nha Mân, khám xét tất cả người ngoài xã và các ghe xuồng qua lại. Hễ nhìn thấy ba màu xanh trắng đỏ (màu của quốc kỳ Pháp) dù rải rác bất cứ trên áo quần hay đồ vật, lập tức họ trói ngay người có vật ấy lại. Ngay đêm đó hoặc đêm hôm sau, những con người này bị giết chết, xác liệng xuống sông hoặc cột vào dọc cây tre rồi thả trôi sông. Trong thời gian dài, người dân hai bên sông không dám ăn tôm tép vì loại này háu ăn thịt người chết. Ghê tởm quá!

Đầu năm 1947, tôi trốn lên Sài Gòn…

***
le-van-khoaLê Văn Khoa:

Hơn 60 năm phục vụ nghệ thuật và giáo dục, nhạc sĩ / nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa đã làm việc với nhiệt tâm và tận tụy hiếm có. Ông đã dấn thân vào sáng tác nhạc giao hưởng với nguyện vọng đưa âm nhạc Việt Nam giới thiệu ra thế giới. Ông là người soạn hòa âm và phối khí cho Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa và thu xếp việc trình diễn với ban nhạc Ukraine. Đây là một phần quan trọng của phim Hồn Việt.

TBA:  Được biết Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa đã được trình diễn tại Ukraine năm 2012. Xin ông cho biết ai là người đã khởi xướng việc này?

Lê Văn Khoa:  Anh Chu Lynh, hay nói rộng ra là anh em trong nhóm thực hiện phim Hồn Việt: Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam.

TBA:  Ông đã trình diễn bản Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa tại những nơi nào khác nữa? Nếu so sánh với buổi trình diễn tại Ukraine thì có gì khác biệt?

Lê Văn Khoa: Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa đã trình diễn nhiều lần ở California từ năm 1982, ở Texas, Washington D.C. và ở Úc. Chúng tôi dùng bài Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa làm lễ chào quốc kỳ trước khi bắt đầu chương trình âm nhạc ở các nơi này. Quốc Thiều đã được tôi soạn cho dàn nhạc giao hưởng (symphony orchestra). Hai ban nhạc diễn hành của trường trung học La Quinta và Bolsa Grande đã trình diễn trên mẫu hạm Midway nhân ngày kỷ niệm 30 tháng Tư năm 2010. Cùng năm đó Kyiv Symphony Orchestra trình diễn ở Washington D.C. Nhưng ở Ukraine thì khác, vì là ban quân nhạc chính thống, nên âm thanh và hào khí có khác nhau.

TBA:  Tại sao chọn ban quân nhạc?

Lê Văn Khoa: Nhiều người Việt Nam khắp nơi khi nghe bài Quốc Thiều trong phim Hồn Việt đã rơi lệ, nhưng ít ai biết những tình tiết bên trong của việc thực hiện. Tôi xin kể lại sơ lược như sau.

Khi anh Chu Lynh gọi điện thoại đề nghị tôi việc thực hiện bài Quốc Thiều, có lẽ anh chưa có ý niệm rõ rệt về cách trình diễn của các ban nhạc.  Nó không đơn giản như mình đi nghe nhạc trong phòng trà. Hơn nữa, đây là bản Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa! Tôi hỏi anh: “Anh muốn trình diễn với dàn nhạc giao hưởng hay ban quân nhạc?”

Tôi nghĩ bất cứ người nào gặp câu hỏi này cũng ngập ngừng với nhiều đắn đo. Cá nhân tôi cũng nghĩ tới các khó khăn nên mới hỏi câu đó. Một mặt, tôi muốn anh chọn dàn nhạc giao hưởng vì nhạc tôi có sẵn, liên hệ cũng có sẵn vì tôi có mối giao tình tốt đẹp với giới nhạc giao hưởng Ukraine từ năm 2005. Mặt khác, tôi lại muốn anh chọn ban quân nhạc. Nhưng nếu chọn ban quân nhạc, gánh nặng tôi sẽ nhiều hơn bội phần. Sau khi cân nhắc, chúng tôi quyết định nhờ ban quân nhạc. Thời gian thực hiện khá gấp rút nên tôi dồn hết nỗ lực vào việc hòa âm, phối khí và tìm kiếm ban nhạc.

TBA: Việc tìm kiếm ban nhạc và trình diễn sau đó thế nào?

Lê Văn Khoa: Viết nhạc giao hưởng thì tôi quen hơn quân nhạc, nhưng tôi cố vận dụng sự hiểu biết của mình để làm tròn nhiệm vụ. Với ước muốn không thực tế, tôi muốn được một ban quân nhạc tầm vóc quốc gia để trình diễn quốc thiều của một quốc gia, nên đề nghị Taras Myronyuk (người giúp tôi thực hiện nhiều chuyến thu thanh ở Ukraine với Kyiv Symphony Orchestra and Chorus) thử tiếp xúc với ban nhạc của Phủ Tổng Thống Ukraine (The Ukrainian National Presidential Orchestra).

Không ngờ lời đề nghị của Taras được chấp thuận. Tôi rất mừng, nhưng cũng rất lo biết đâu sẽ có bàn tay phá hỏng. Do đó, một mặt yêu cầu những người liên hệ giữ kín việc này, mặt khác đánh lừa sự chú ý của phe muốn phá, nên cùng lúc tôi thực hiện một chuyến thu thanh với dàn nhạc của Hội Hiếu Nhạc Kyiv (Kyiv Philharmonic Orchestra). Việc lo xa của tôi không phải là thừa! Ngay buổi chiều trước ngày trình diễn, Taras báo cho tôi biết ban nhạc có ý muốn hủy bỏ buổi trình diễn. Họ không nêu rõ lý do nhưng có đề cập đến bài Quốc Thiều của mình. Tôi linh cảm có bàn tay thọc gậy. Không thể để thất bại, tôi bàn thảo với Taras cách nào để “thoát hiểm”.  May sao, cuối cùng mọi sự cũng được giải quyết êm thắm.

TBA:  Là nhạc sĩ soạn hòa âm, phối khí Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa cho ban nhạc giao hưởng, ông thấy bản nhạc ấy có thật chuyển tải được Hồn Việt?

Lê Văn Khoa: Về bài quốc ca, tôi có vài ý nghĩ rất nhỏ. Quốc ca của bất kỳ nước nào trên thế giới, nguyên thủy nó chỉ là một bài hát, có thể hào hùng, có thể nghiêm trang, có thể bi ai. Khi bài hát ấy được chọn làm quốc ca, người ta ban cho nó cái hồn thiêng của dân tộc. Bài Tiếng Gọi Sinh Viên của Lưu Hữu Phước được ban cho Hồn Việt ngay lúc được chọn làm bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó nó trở thành biểu tượng bằng âm thanh của người Việt tự do. Khi viết hòa âm cho bài Quốc Ca, tôi thêm âm thanh vào giai điệu đơn như người ta tô màu cho bức tranh trắng đen. Tôi dùng âm thanh để chuyển tải những yêu thương, trân quý, nêu những nét hòa nhã lẫn hào hùng của dân tộc đến người nghe.

Tuy nhiên âm nhạc là môn nghệ thuật trừu tượng nên không phải ai cũng có nhận thức giống nhau. Hơn nữa, người nghe quốc ca hay quốc thiều mà xúc động hay thờ ơ, theo tôi, còn tùy lòng yêu thương đất nước của người đó tới mức độ nào. Ta nghe bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, sự xúc động dâng lên ngút ngàn. Những gắn bó với quê hương, nhất là quê hương không còn ở trong tầm với, đã làm cho ta tức tưởi, quặn thắt tâm hồn. Có người yêu quê hương, sẵn sàng chết để bảo vệ quê hương mình. Cùng lúc đó có người đem bán đất nước để mưu cầu lợi riêng, vì họ không có tình, không có hồn đối với quê hương họ.

Hồn Việt chỉ có trong lòng người yêu nước Việt.

Quốc Ca, Quốc Thiều chỉ có thể khơi dậy tình yêu quê hương khi con người thực lòng yêu quê hương.

***
nguyen-ngoc-bichGiáo sư Nguyễn Ngọc Bích:

Từng là giáo sư tại nhiều đại học Hoa Kỳ và Quyền Tổng Giám đốc Giáo Dục Song Ngữ trên toàn Hoa Kỳ (1991-1993). Ngoài dạy học và làm truyền thông, ông còn là một nhà biên khảo và dịch giả có uy tín về văn thơ Việt Nam. Là tác giả của khoảng 40 cuốn sách nhiều thể loại, và có mặt trong gần 50 tập thơ và sách giáo khoa. Ông cũng là producer cho phim Hồn Việt.

TBA:  Ông từng giữ chức vụ Giám Đốc Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA). Với kinh nghiệm lâu năm trong ngành truyền thông, ông đánh giá thế nào về khả năng phổ biến rộng rãi của phim “Hồn Việt” với những thế hệ trẻ trong khi họ không lớn lên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa?

Nguyễn Ngọc Bích:  Có người cho cái cờ chỉ là một biểu tượng.  Đúng!  Nhưng tôi tuyệt đối không khuyên ai nên coi nhẹ một biểu tượng như lá cờ của một quốc gia.  Cộng Hòa Pháp tính đến nay đã là nền Đệ Ngũ Cộng Hòa (Cinquième République), tại sao lá cờ “tam tài” xanh trắng đỏ của Pháp vẫn chỉ là một lá cờ từ năm 1789 đến giờ? Lá cờ, hay đúng hơn là chữ “màu cờ,” định nghĩa chúng ta là ai.  Nó hiển nhiên không thể chỉ là một miếng vải với các màu sắc trên đó. Nó đánh động đến một cái gì thật là sâu thẳm ở trong ta.

Trước nhất, khi có ai hỏi: Màu vàng và ba gạch đỏ nghĩa là gì, chúng ta không thể bảo là nó vô nghĩa được.  Chúng ta cần phải tìm hiểu, và tìm rồi, sẽ có người nói: màu vàng là màu đất và màu đỏ là màu máu, ba vạch là ba miền Trung-Nam-Bắc, dòng máu của ba miền đi song song, hòa hợp trên mảnh đất của cha ông.  Đó có thể là một câu trả lời khá ý nghĩa. Song cũng có thể có người trả lời chi tiết hơn: Ba vạch liền là quẻ “càn” trong Kinh Dịch, tức tượng trưng cho Trời.  Mà Trời trên nền vàng thì rõ ràng là “Trời Nam”, một tên gọi của nước ta có từ thời nhà Lê thế kỷ XV (“Thiên Nam” như trong Thiên Nam Dư Hạ Tập hay Thiên Nam Ngữ Lục). Màu vàng còn là màu cờ truyền thống của Việt Nam, có ít nhất từ đời Hai Bà Trưng (40-43 theo Công Nguyên). Đến đời Bà Triệu cũng “đầu voi phất ngọn cờ vàng” (Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca). Rồi đến thời Lê Lợi với khởi nghĩa Lam Sơn, chúng ta vẫn còn bài hát: “Nước non Lam Sơn, nước non Lam Sơn. Bóng cờ bay phấp phới! Khắp nơi cờ vàng, khắp nơi cờ vàng. Muôn hồn quân Nam!” (*)

Như vậy, Hồn Việt đi với Cờ Vàng đã không phải chỉ có từ thời Bảo Đại, hay từ thời Thành Thái, như một vài người chủ trương, mà nó bàng bạc trong tiềm thức của dân ta từ cả hai ngàn năm nay rồi.  Một sự gắn bó như vậy gần như trong cốt tủy, trong xương máu của chúng ta rồi.

Lá cờ với một lịch sử hàng ngàn năm như vậy tự nó đã có giá trị trường tồn của nó.  Phim Hồn Việt của Vietnam Film Club chỉ là tiếp nối vào một câu chuyện mà không gì hủy được.  Tuổi trẻ Việt Nam sau này, dù không sống một ngày nào với chế độ Việt Nam Cộng Hòa, sẽ thắc mắc về nó, và một khi tìm hiểu ra rồi thì sẽ yêu thương nó thôi.  Đó là trường hợp một Lê Trung Thành, một Nguyễn Phương Uyên, một Đặng Chí Hùng,… dù các em đó được sinh ra nhiều năm sau 1975, trong một môi trường được học tập để ghét bỏ nó. (**)

TBA:  Ông cũng là người sáng lập Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ với nhiều cuốn sách có đóng góp lớn vào nền văn học người Việt hải ngoại, trong đó có bộ lịch sử “Nhìn Lại Sử Việt”5 Tập của Lê Mạnh Hùng. Ông có nghĩ rằng tới một lúc nào đó, trong những bộ sách lịch sử VN, sẽ cần một chương dành riêng cho Quốc Kỳ và Quốc Ca VNCH?

Nguyễn Ngọc Bích:  Theo tôi nghĩ, một chương sách dành riêng cho quốc kỳ và quốc ca có lẽ nên nằm trong chương trình công dân giáo dục của nước đó thì hơn.  Chứ riêng lịch sử thì phải khách quan và nói đến lá quốc kỳ qua nhiều giai đoạn khác nhau, thậm chí có lúc đối nghịch nhau, như khi đất nước bị chia đôi thì có hai lá cờ khác nhau, hai bài quốc ca khác nhau.  Chưa nói đến cái khôi hài của người Cộng Sản mà có lúc, như vào tháng 8 năm 1975, họ xin vào Liên Hiệp Quốc dưới danh nghĩa hai nước CS Việt Nam, một ở miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và một ở miền Nam (Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam), với hai lá cờ khác nhau và hai bài quốc ca khác nhau. Nghĩa là chính họ sẵn sàng duy trì sự xẻ đôi đất nước, cốt chỉ nhắm được hai phiếu cho khối Cộng Sản ở LHQ.  Và tới ngày nào chúng ta có một cuốn công dân giáo dục mới thì chúng ta đã có sẵn tài liệu do giáo sư Nguyễn Ngọc Huy sưu tầm và viết mang tên Tiến Trình Hình Thành Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam.

***

chu-lynhChu Lynh:

Là một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từng đi tù qua 15 trại tập trung của cộng sản. Ông là editor cho các cuốn phim: Di Sản Nguyễn Ngọc Huy, A Fighter for Democracy in Vietnam, Sự Thật về Hồ Chí Minh, Ho Chi Minh the Man and the Myth, Đại Họa Mất Nước, Hồn Việt, The Soul of Vietnam, và gần đây là các phim tài liệu trên Youtube của Vietnam Film Club, và trong năm 2015 sẽ là phim Thảm Họa Bắc Thuộc hiện đang trong giai đoạn hoàn tất.

TBA: Điều gì đã khiến Vietnam Film Club khởi sự cuốn phim đầu tiên với đề tài về Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam?

Chu Lynh: Năm 2003, tôi có về Việt Nam và ghé thăm nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà. Tôi không có tin tức chính xác về tình trạng nghĩa trang nên khi vào đã bị bộ đội canh giữ làm khó dễ. Nhưng cuối cùng tôi cũng đã tìm cách chụp hình và quay phim mà họ không biết được. Thời điểm đó, nghĩa trang là một cảnh tượng hoang phế và bị tàn phá khắp nơi, một sự tàn phá có chủ đích mang tính thù hận. Điển hình là trên ngôi mộ của một người lính, nơi sơn lá cờ vàng đã bị đục nát. Hình ảnh đó đi vào tâm trí tôi khi trở lại Hoa Kỳ.

Đúng 10 năm sau, ngay sau khi vận động thành lập được Vietnam Film Club, thì đề tài về Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam được các thành viên hưởng ứng cho cuốn phim đầu tiên của tổ chức. Với tôi, phim Hồn Việt ra đời không phải là chuyện tình cờ. Có một tương quan nào đó thật khó hiểu, như một trợ lực vô hình theo sát và giúp đỡ chúng tôi suốt chặng đường thực hiện khá gian nan.

TBA: Xin ông cho biết đôi nét về Vietnam Film Club: nhân sự điều hành, vấn đề tài chánh, và nhất là phương hướng hoạt động?

Chu Lynh: Chúng tôi không phải là một tổ chức được đào tạo chuyên nghiệp hay được chính thức tài trợ chi phí. Cho tới nay, Vietnam Film Club chưa kêu gọi đóng góp tài chánh trong cộng đồng hải ngoại, cũng chưa tổ chức gây quỹ. Tất cả thành viên đều tự nguyện và tự túc về mọi phương diện. Về nhân sự, chúng tôi có một số thành viên cốt cán. Tuy nhiên, chúng tôi quan tâm đến việc thiết lập một sự liên kết như một mạng lưới với những nhân vật trong cộng đồng Việt Nam khắp nơi, để được hỗ trợ về tài liệu, phương tiện di chuyển, giới thiệu phỏng vấn các nhân chứng, các nhà nghiên cứu, hay tổ chức các buổi ra mắt phim tại địa phương. Như thế, mặc nhiên cuốn phim sau khi hoàn tất là tổng hợp của những đóng góp từ nhiều người trong cộng đồng người Việt hải ngoại và cả người trong nước. Khi thực hiện các phim tài liệu, chúng tôi nhắm vào đối tượng trong nước, những người đã bị chế độ cộng sản bưng bít sự thật lịch sử hơn nửa thế kỷ nay.

TBA: Là editor cho Vietnam Film Club, điều gì đã thôi thúc ông đi cho đến bước cuối cùng của cuốn phim?

Chu Lynh: Khi về thăm nghĩa trang Biên Hoà, nhìn hàng chục ngàn ngôi mộ hoang phế trong một khung cảnh rộng lớn, không ai không thấy quặn lòng. Tình đồng đội, sự hy sinh của những người lính. Xin mượn lời nhà văn Huy Phương đã viết trên blog của anh sau khi xem phim Hồn Việt: “Họ đã chết cho mình được sống. Họ bị tàn phế để mình được lành lặn. Họ ở lại trong đau khổ và đói khát để mình được ra đi sống sung túc nơi xứ người”. Chúng ta mang món nợ lớn với họ, và nhất là món nợ với đất nước. Việc làm này có thấm vào đâu so với sự hy sinh máu đào của những người lính đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh vừa qua.

TBA:  Theo ông, thông điệp chính của phim Hồn Việt gởi đến người xem là gì?

Chu Lynh: Những gì đã thuộc về lịch sử phải được tôn trọng. Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam được hình thành từ trong lịch sử xa xưa, nhờ công lao của tiền nhân, nhờ những người đã nằm xuống để bảo vệ đất nước. Không thể chối bỏ lịch sử, để vay mượn một lá cờ của ngoại bang làm Quốc Kỳ hay sáng tác một bản nhạc sắt máu làm bản Quốc Ca cho đất nước Việt Nam như cộng sản đã làm. Vừa nhục mạ tồ tiên, vừa phản bội quê hương.  Đó là những gì mà phim Hồn Việt mong được gởi đến mọi người.

TBA: Riêng với cá nhân ông, sau khi phim Hồn Việt hoàn tất, được phổ biến rộng rãi với kết quả rất đáng mừng, thì điều gì còn đọng lại trong ông?

Chu Lynh: Phim Hồn Việt sau khi ra mắt, đã được đón nhận nồng nhiệt như một hiện tượng hiếm có trong cộng đồng người Việt hải ngoại và cả trong nước, thể hiện qua các email, điện thoại, các nhận xét trên trang YouTube, và các bài viết trên internet. Đặc biệt, khá nhiều người đã khóc khi nhìn lá Cờ Vàng trong phim mà cứ tưởng đã chết theo số phận của Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975, nay lại tung bay khắp thế giới. Tôi hy vọng, phim Hồn Việt đã đốt nóng ngọn lửa tình tự quê hương trong tim họ và ít nhiều đã thắp sáng lịch sử khi trưng dẫn những tài liệu và nhân chứng lịch sử quý giá.

Điều gì còn lại trong tôi sau cuộc bể dâu của dân tộc?

Đó là niềm lạc quan về tuổi trẻ Việt Nam. Với kiến thức và lương tri, biết dựa vào những bài học của quá khứ, tuổi trẻ Việt Nam sẽ biết cách kiến tạo một tương lai tốt đẹp cho đất nước.

***

40 Năm – Vẫn Một Ngọn Cờ

Phạm Bá Hoa, Lê Văn Khoa, Nguyễn Ngọc Bích và Chu Lynh, bốn người, bốn góc độ khác nhau nhưng cùng hướng về Lá Cờ Vàng. Nguyên do nào đã thúc đẩy cả bốn người cùng quyết tâm thực hiện cho bằng được bộ phim về Quốc Kỳ – Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa?

Do lòng yêu nước thôi thúc, hay do Hồn Việt trong họ đã lên tiếng?

Riêng với tôi, một người lớn lên sau cuộc chiến rồi trôi dạt đến xứ người, những câu chuyện của họ là những đốm sáng chỉ đường trên con đường đi tìm về cội nguồn dân tộc. Tôi biết mình sẽ chẳng bao giờ hiểu hết tâm tư của những người đi trước, nhưng từ đây, mỗi khi hướng về Lá Cờ Vàng, tôi thấy ở đó những cố gắng không ngừng của những người con đất Việt: Suốt 40 năm, họ đã chung tay giữ vững một Ngọn Cờ, giữ vững một tinh thần Tự Do, giữ vững một nền đạo đức truyền thống, và hơn hết, giữ vững một Tâm Hồn Việt Nam.

***

Phụ Chú:

(*) Ca khúc “Nước Non Lam Sơn” của nhạc sĩ Hoàng Quý (1920 – 1946).

(**) Sinh viên Lê Trung Thành trong một bài viết năm 2008, sau khi đã tìm hiểu cội nguồn của Quốc Kỳ VNCH đã kết luận: “…đó đã từng là một Quốc Kỳ của nhiều chế độ trước đó, đồng thời mang đầy đủ nguyện vọng dành độc lập, ý thức chống giặc ngoại xâm và yêu chuộng tự do của cả một dân tộc.”

Uyên sử dụng giấy trắng A4, dùng bút sáp màu và màu đỏ tô thành lá cờ; phía dưới lá cờ có ghi chú thích bằng bút sáp màu đen dòng chữ: “1890 – 1920: Đại Nam quốc kỳ từ thời vua Thành Thái tới vua Khải Định; 1948 – 1975: Cờ quốc gia Việt Nam” (trích “Bài bào chữa của luật sư Hà Huy Sơn cho Nguyễn Phương Uyên 16/5/2013”)

Đặng Chí Hùng – một người trẻ dấn thân đấu tranh, đã phát biểu về Lá Cờ Vàng: “Lá cờ vàng ba sọc đỏ chính là lá cờ của Việt Nam Tự Do, đó không phải là của riêng một chế độ hay của riêng một chính phủ nào mà là của chung cho cả dân tộc Việt. Lá Cờ Việt Nam Tự Do là linh hồn của cả dân tộc Việt.

 




Nhà Thơ Lê Tuấn (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Lê Tuấn

letuan

Sinh năm 1948 tại Hà Nội.
1954 theo gia đình di cư vào miền Nam.
Năm 12 tuổi theo học tại trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu
Năm 18 tuổi chính thức vào quân đội.
Thích làm thơ và thường hay viết lách từ khi còn đi học, làm thơ rất nhiều nhưng chưa bao giờ in sách.

Sau năm 1975

Cùng nổi trôi theo vận nước, đi tù 8 năm từ miền Nam ra miền Bắc.
Năm 1994
Định cư theo diện HO tại San Jose cho đến ngày nay.

Hiện tại “Retire”
Sinh hoạt văn học nghệ thuật cho vui.

  image-4 image-3 image-2 image-1                        

 

Nợ Em 

Anh vẫn còn nợ em
Lá thu rơi bên thềm
Hàng cây nghiêng bóng đổ
Buổi chiều vàng nhẹ êm.

Nợ em thoáng mây bay
Vòng ôm nhánh sông đầy
Bãi bờ xưa gặp lại
Nỗi đau nào có hay.

Nợ em ngày rong chơi
Tiếng phố vui gọi mời
Ly cà phê từng giọt
Nhỏ xuống đời chơi vơi.

Anh vẫn còn nợ em
Nụ hôn quen gợi thèm
Chiều công viên ghế đá
Bài tình ca êm đềm.

Nợ em cả vần thơ
Mênh mông một mặt hồ
Hắt hiu rừng lá đổ
Sương khói nhẹ như mơ.

Nợ em nỗi u hoài
Tìm đâu bóng tương lai
Xót xa đời hiu quạnh
Anh nợ em. Tình dài.

Aet. Lê Tuấn 

 

 

Ta và Em 

Ta và em, cùng đau lòng uất hận
Hận chiến tranh, hận Cộng Sản vô thần
Hận những tháng ngày lưu đầy biệt xứ
Em bơ vơ giữa nhịp sống nhân quần.

Ta và em, bao chua xót đắng cay
Đau nỗi đau của thân phận làm người
Tim ưá máu, nhìn lá cờ cuốn lại.
Tự Do mất đi, để lại kiếp lưu đầy.

Ta và em, bao ngăn cách đường về
Bị tù đây nơi điạ ngục trần gian
Nơi loài người, với trái tim nhuộm đỏ
Khối óc mù loà, vì chủ nghĩa Mác Lê.

Ta và em, đã vượt qua ngàn dậm
Qua đau thương, qua cả nỗi âu lo
Vượt biển Đông, vượt muôn trùng bão táp
Đến bến bờ, một đất nước Tự Do.

Ta và em, cùng quay đầu nhìn lại
Nắng Sài Gòn, sao mờ bóng tương lai
Hồn Sông Núi, cơn đau tim rướm máu
Mơ Tự Do. Trong đêm vắng thở dài.

AET. Lê Tuấn 

                          

 

 

 

Bóng người xưa Hồn đá vẫn tôn thờ.

Bước khẽ thôi cho đất nằm yên nghỉ
Để rừng hoang che khuất bóng trong mưa
Hồn phế tích, ngả nghiêng trong thành cổ
Bom đạn thu tàn phá chiến tranh xưa.

Chiều phố núi ta về thăm chốn cũ
Rừng hoang vu thoáng hiện bóng chinh nhân.
Chiến trường đó nơi địa đầu giới tuyến
Nén nhang buồn lan tỏa ngọn phong vân.

Chiều giới tuyến, sau bao năm cách biệt
Ta về thăm, bia một đá hoang sơ
Đất im lặng, cỏ buồn phơi sắc úa
Bóng người xưa, hồn đá vẫn tôn thờ.

Người nằm đó, nghe hồn thiêng sông núi
Chợt bồi hồi, ngọn gió núi khóc than.
Người chiến sĩ, người trai hùng bất diệt
Sáng muôn đời. Hồn Vị Quốc Vong Thân.

AET Lê Tuấn

Truyện Ngắn của nhà thơ Lê Tuấn.

Những tháng cuối năm 1972.

Chiến dịch: Dành Dân Lấn Đất.

AET. Lê Tuấn
Những tháng cuối năm 1972. Tình hình chiến sự trở nên rất sôi động. Cả hai bên tham chiến đang chuẩn bị cho một chiến dịch Dành Dân Lấn Đất. Trên những trang báo hàng ngày, những bản tin thời sự nóng bỏng nhất vẫn là những gì liên quan đến Hiệp Định Paris. Một hiệp định 4 bên, nhưng trên thực tế đó chỉ là một hiệp định hai bên, đang bàn thảo gay go giữa Mỹ và Cộng Sản Bắc Việt.
Theo tinh thần căn bản của Hiệp Định Paris là chấp nhận một giải pháp da beo, bằng những vùng đất trái độn, vùng đất nào được cắm cờ đại diện của phe nào thì vùng đất đó thuộc quyền của bên đó chiếm đóng.
Cuối cùng thì Hiệp Định Paris đã được ký kết vào tháng 1 năm 1973. Đây cũng chính là một cơ hội để người Mỹ tháo chạy khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam.
Chính vì giải pháp da beo của hiệp định Paris, cho nên những tháng cuối năm 1972 tình hình chiến sự đã trở nên rất sôi động. Trong địa bàn hoạt động của Đại đội 3, Tiểu đoàn 338 Địa phương Quân, trực thuộc Tiểu Khu Hậu Nghĩa, bao gồm 4 Chi Khu rất nổi tiếng đó là Trảng Bàng, Củ Chi, Đức Hòa và Đức Huệ.
Tháng 6 năm 1972, Đại đội 3/338 ĐPQ, do Trung úy Phi làm đại đội trưởng và tôi đại đội phó. Đơn vị chúng tôi được tiểu đoàn điều động đến đóng quân tại Ấp Bình Thủy 1, nhầm bảo vệ vành đai cho Chi Khu Đức Hòa. Trên con đường Hương lộ nối dài từ Đức Hòa đến Hốc Môn, con đường này chạy xuyên qua một địa danh cũng khá nổi tiếng trong sử học, đó là khu vực (Mười Tám Thôn Vườn Trầu), và con đường này cũng chạy ngang qua một vùng rộng lớn đó là bưng Mũi lớn (vùng nước ngập hoang dại, đầy cỏ năng, một loại cỏ ống thân tròn, rất thích nghi trong vùng đầm lầy ngập nước. Cỏ năng thường được người dân gặt hái bằng ghe xuồng, đem về phơi khô đập dập để đan thành những tấm đệm cói, hình thức như chiếc chiếu, hay những túi xách, những bao tải, đây là một việc làm rất phổ biến của người dân địa phương).
Địa danh Mũi Lớn đã gợi nhớ lại trong tôi một trận chiến mà chính tôi đã tham dự. Vào cuối năm 1969 hay đầu năm 1970, lâu ngày tôi đã quên mất. Một hôm tôi được lệnh cùng với hai trung đội nằm ứng chiến tại một bãi đáp trực thăng trong Chi Khu, anh em chúng tôi đang nằm dài trên bãi cỏ nghỉ ngơi, vừa hút thuốc lá vừa nói chuyện tếu, nhìn đồng hồ đã gần 2 giờ chiều, tôi nghĩ chắc không có chuyện gì xẩy ra, lâu lâu có một ngày nghỉ thoải mái. Gần 2 giờ trưa tôi đang nằm mở màng vừa định chợp mắt một chút, thì tôi chợt nghe Trung Sĩ Tốt truyền tin gọi tôi.
-Ông thầy có lệnh chuẩn bị hành quân.
Tôi cầm lấy ống nghe và được biết đây là lệnh của BCH Tiểu Đoàn.
Thiếu tá tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho đơn vị tôi sẽ dưới quyền điều động của Phòng 3 Tiểu Khu, người trực tiếp ra lệnh cho tôi chính là Thiếu Tá trưởng phòng 3 Tiểu Khu.
Ông ra lệnh cho đơn vị tôi phải sẵn sàng, sẽ có trực thăng đến bốc.
Tôi ra lệnh cho 2 trung đội trưởng chuẩn bị hành quân trực thăng.
Khoảng 15 phút sau, hai chiếc trực thăng đáp xuồng sân Chi Khu Đức Hòa.
Trực thăng đã bốc đơn vị tôi, bay thẳng đến bưng Mũi Lớn.
Từ trên cao chúng tôi đã nhìn thấy một vùng nước bao la và những đám cỏ năng mọc
um tùm từng khu vực. Trực thăng hạ xuống thấp dần, sức mạnh của cánh quạt đã hất tung mặt nước và làm cho đám cỏ năng nằm rạp xuống.
Tiếng của Thiếu tá trưởng phòng 3 từ trên trực thăng quan sát.
Ông ra lệnh như hét vào trong máy.
-Anh có thấy VC đang nhảy xuống nước.
Tiếng súng bắt đầu nổ, tiếng cánh quát của trực thăng vần vũ, viên phi công cho trực thăng hạ thấp xuống sát mặt nước đổ quân.
Tôi và tất cả anh em đều nhảy ra khỏi trực thăng.
Vừa nhảy xuống, nước đã ngập lên tới ngực. Chúng tôi đã xác định mục tiêu phía trước. Vì tiếng ồn của trực thăng, tôi phải hét lên ra lệnh cho tất cả lính giàn thành hàng ngang. Tất cả đơn vị đã tản ra thánh một hàng ngang, trườn người trên cỏ năng và tiến lên.
Những tràng đạn M16 đã nổ liên tục, cánh quạt của trực thăng bay vần vũ trên đầu, sức mạnh của nó đã thổi tung mặt nước và những ngọn cỏ năng nằm rạp theo.
Những tên du kích VC lặn dưới nước không chịu được lâu đã vội ngoi đầu lên, họ chưa kịp lên tiếng đầu hàng thì đã gục ngã trước lằn đạn M16.
Tiếng của Thiếu tá trưởng phòng 3 từ trên trực thăng quan sát.
Ông hét lên trong máy truyền tin ra lệnh cho tôi phải bắt sống
Tôi một tay cầm ống nghe truyền tin, một tay cầm súng.
Tôi đã hét muốn bể cả cuống họng, ra lệnh bắt sống nhưng không một người lính nào nghe theo, vì tiếng ồn của trực thăng vì tiếng súng, tất cả đã tạo thành một âm thanh hỗn loạn, tiếng nói của tôi không đủ sức, chỉ một số anh em đứng gần tôi nghe lệnh, họ đã cùng tôi hét to lên, lệnh bắt sống.
Tiếng trực thăng, tiếng súng và mùi khói của thuốc súng đã tạo thành một tình huống thật phấn kích. Người lính chỉ còn biết tuân theo một phản xạ tự nhiên đó là bóp cò súng, khi bất ngờ nhìn thấy đối phương vừa chồm lên khỏi mặt nước.
Tất cả đã quá muộn, một trận chiến xẩy ra quá bất ngờ, quá nhanh gọn, không đầy một tiếng đồng hồ. Tổng số có 8 du kích bị thiệt mạng, một vùng nước trong xanh mầu da trời, bây giờ đã nhuộm đỏ mầu máu.
Đó cũng là quy luật rất vô tình của chiến tranh.
Tiểu đội du kích này đã thiết lập một căn cứ trú ẩn tại nơi đây từ lâu. Họ đã khéo léo chui vào giữa bụi cỏ năng (một bụi năng có một chu vi rất lớn, đôi khi 4 người vòng tay nhau mới ôm hết một bụi năng). Từ giữa đám cỏ năng, họ đã cắt sát mặt nước tạo thành một khoảng trống, họ sử dụng cây chàm cắm xuống nước và phía trên làm thành một cái xạp có thể nằm ngủ từ 2 dến 3 người, trên xạp cũng là nơi để nấu ăn.
Những cọng cỏ năng ở chung quanh còn xanh tươi, họ khéo léo kéo hai bên vào nhau
rồi đan bện lại, tạo thành một mái che mưa che nắng, hình thức như một tổ chim.
Nhìn từ phía ngoài thì bụi năng vẫn xanh tươi, rất khó phát hiện ra bên trong là nơi chú ẩn. Thật là không may cho họ lần này vì máy bay trực thăng bay thấp, sức gió của cánh quạt đã làm lộ rõ nơi trú đóng, vì vậy đơn vị du kích này đã bị xóa sổ.
Thiếu Tá trưởng phòng 3 Tiểu Khu tỏ ra bực bội vì đơn vị tôi không bắt sống được du kích nào, ông ra lệnh cho trực thăng bay về Tiểu Khu.
Bỏ lại tôi và 2 trung đội ở lại thu dọn chiến trường, chúng tôi lục lạo mọi nơi, lặn cả xuống nước mò tìm súng AK47 và B40. Tổng kết lại trận chiến, đơn vị tôi đã tịch thu được 6 khẩu AK47 và 2 khẩu B40, một số đạn và tài liệu, ngoài ra còn hai chiếc ghe nhỏ, mà toán du kích này sử dụng làm phương tiện di chuyển, đã bị bắn gần bể nát không sử dụng đươc.
Phải lội nước tìm đường trở vế đơn vị. Để tránh bị địch tấn công bất ngờ và cũng để giữ an toàn cho đơn vị, tôi ra lệnh cho anh em đi hàng một, chọn ra hai người lính bơi lội giỏi đi trước dẫn đường.
Sự im lặng lại trở về giữa đất trời bao la, mênh mông một vùng nước trong xanh, chúng tôi mò mẫm trong vùng nước ngập và cỏ năng mọc qua đầu, thỉnh thoảng tôi lại nghe tiếng người lính dẫn đầu nói: “coi chừng có hố bom rất sâu”, chúng tôi lại phải đi vòng theo miệng hố bom. Vùng đất này là vùng oanh kích tự do, đôi khi đã bị B52 trải thảm, vì vậy nơi đây có nhiều hố bom rộng lớn và khá sâu, nếu sơ ý có thể lọt xuống hố bom, vướng rễ cây và cỏ năng, rất khó bơi thoát thân.
Trời càng về chiều ánh nắng càng dịu đi, tạo thành một bầu không khí rất thoáng mát, và thật thanh bình. Những âm thanh hỗn loạn và mùi thuốc súng của trận chiến vừa qua gần như tan biến mất, không còn để lại dấu vết nào, chỉ còn nghe tiếng lội nước bì bõm, và thỉnh thoảng nghe tiếng chim le le và tiếng vịt trời vỗ cánh bay, bầu trời càng lúc càng mờ dần, anh em chúng tôi đã nhìn thấy mập mờ, một gò đất và thấp thoáng những ngọn tre xanh.
Cuối cùng chúng tôi đã lội bộ về tới đơn vị. Sau khi kiểm tra lại quân số tôi bàng hoàng đau sót vì thiếu mất một người lính.
Tôi hỏi Chuẩn úy Tính trung đội trưởng
-Anh biết tên ai không, Chuẩn úy Tính cho tôi biết người lính mất tích là binh nhất Vận (biệt danh Hai đen). Vận là người dân địa phương rất quen thuộc với đồng ruộng và bơi lội giỏi, thường hay lội theo những con rạch để bắt cá bằng tay không.
Sáng hôm sau tôi cho người, mượn ghe của dân trở lại vị trí hôm qua để tìm.
Trong thời gian này người dân trong Ấp cũng biết tin về trận chiến hôm qua.
Chính quyền Ấp đã thông báo cho dân đi lấy xác các du kích, đem về cho thân nhân nhận dạng và chôn cất. Thật là đau buồn khi anh em đã phát hiện dưới hố bom nơi binh nhất Vận đã tử trận. Hai Đen đã chết ngồi dưới hố bom sâu, chân và ba lô sau lưng bị vướng chằng chịt cỏ năng và rễ cây, chính những bụi cỏ này đã giữ chặt thân xác anh ở lại để cùng chết với 8 người du kích Việt Cộng.
Sau này anh em còn cho tôi biết thêm một chi tiết về cái chết của Hai Đen. Lý do chính là Hai Đen quá tự tin vào khả năng bợi lội của mình, nên đã tự ý tách ra đi riêng một bên không theo hàng một,  cho nên khi bị sụp xuống hố bom, không ai nhìn thấy vì khi ấy trời qúa tối.
Vào khoảng xế trưa người dân dã đem tất cả 8 du kích về Ấp Bình Thủy cho thân nhân nhận dạng và chôn cất.
Kể từ hôm ấy, tôi không có cảm tình với Thiếu tá trưởng phòng 3 Tiểu Khu, lâu ngày tôi đã quên tên ông. Tôi biết sau trận chiến này, ông đã được gắn những huy chương danh dự. Riêng cá nhân tôi cũng được Tiểu Khu ban thưởng một Anh Dũng Bội Tinh, cái huy chương này tôi đã quên nó từ lâu, sau cái chết của người lính ngồi dưới hố bom.
Tôi nghĩ nếu huy chương này mang một ý nghĩa thật sự của nó, thì nó phải được gắn một cách long trọng trên nắp quan tài của người lính chết trận.
Đó cũng chính là quy luật của chiến tranh, mà cả hai bên tham chiến đều phải tuân theo. Súng đạn thì vô tình, chỉ có những chủ thuyết, những ý thức hệ lệch lạc mới đem con người đến chiến tranh để rồi tàn sát lẫn nhau.
Như tôi đã viết ở phần đầu câu chuyện. Những ngày tháng cuối năm 1972,tình hình chiến sự rất sôi động. Ban đêm đơn vị tôi phải đi phục kích, nằm bờ ngủ bụi canh phòng cho người dân được một giấc ngủ bình yên không bom đạn. Ban ngày đơn vị tôi phải đi phá mô, do VC ban đêm lén lút đắp mô ngăn chận giao thông, gây tâm lý bất ổn trong dân, công việc thường làm nhất trong giai đoạn này là đi tháo gỡ cờ của Việt Cộng. Trong giai đoạn dành dân lấn đất, VC thường lén lút cắm cờ trên các vị trí cao nhất trong khu vực, chúng thường cắm cờ trên ngọn cây Cau và trên những ngọn Tre.
Với mục đích tranh dành lãnh thổ, để hy vọng rằng sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, chúng sẽ nhận đây là vùng đất của Cộng Sản. Ngoài việc cắm cờ chúng còn thường  xuyên đắp mô trên Hương Lộ, ngay cả những con đường đất trong Ấp, nhầm mục đích gây hoang mang trong dân.
Mỗi khi phát hiện khu vực bị cắm cờ, tôi thường đem một đơn vị nhỏ đến tháo gỡ, cách thức thường làm nhất của tôi là nhắm bắn từng phát cho lá cờ gẫy đổ rơi xuống đất.
VC thường gài lựu đạn và mìn bẫy dưới lá cờ, và cả gốc cây chung quanh khu vực, tốt nhất là phải bắn thăm dò trước khi bước đến, đây cũng là biện pháp bảo vệ an toàn cho lính và cho dân chúng.
Âm mưu dành Dân Lấn Đất mà VC đang thực hiện trong thời gian chuẩn bị ký kết
Hiệp Địng Paris, đã bị lực lượng ĐPQ và Nghĩa Quấn dẹp tan.
Tôi chợt nghĩ vào thời điểm năm 2013. Nếu như Việt Nam có một hiệp địng nào tương tự như Hiệp Định Paris 1973. Chấp nhận một giải pháp trái độn, một hình thức da beo. Phía bên nào cắm lá cờ của mình, thì vùng đất đó sẽ được thừa nhận là vùng đất của bên có lá cờ làm biểu tượng. Tôi nghĩ tất cả người dân Việt Nam, sẽ đồng loạt cắm cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, khi đó lá cờ VNCH sẽ tung bay trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Để nói cho Cộng Sản biết rằng.
Nơi đây chính là vùng đất Tự Do.
Một buổi sáng sớm tôi đang ngồi trên bao cát của bờ thành hút thuốc lá, nhìn làn khói thuốc bay tỏa vào không gian, một làn gió lành lạnh nhẹ lướt qua, thời tiết tháng 12 trời sẽ lạnh nhiều hơn vào ban đêm và buổi sáng. Tôi nhìn xa về cuối thôn, những khoảng ruộng đã gặt hái xong, bây giờ chỉ còn lại những gốc rạ vàng khô, và phía xa kia là những hàng tre xanh thắm, cả một vùng rộng lớn không một bóng người dân.
Chiến tranh đã cướp mất, sự thanh bình yên ấm của một vùng thôn quê hiền hòa.
Tôi đang suy nghĩ miên man, thì người lính gác cổng chạy vào báo tin.
-Ông thầy có người đẹp đến thăm.
Tôi hỏi ai vậy. Người lính trả lời:
-Em gái hậu phương, ông cứ ra ngoài sẽ biết.
Tôi bước ra ngoài phía cổng.
Thấp thoáng một bóng dáng thôn nữ, tay cầm nón lá đang tiến về phía đơn vị.
Bóng dáng người con gái đi dần về phía cổng, tôi đã nhận ra hình bóng đó là ai. Lan thường mặc bộ áo bà ba, hôm nay nàng mặc một chiếc áo bà ba mầu mạ non, hai bên hông xẻ hơi cao để lộ một làn da trắng mịn, cái quần đen bóng láng, ôm sát đôi mông căng tròn, biểu lộ một sức sống mãnh liệt của tuổi con gái dậy thì. Hôm nay nàng rất đẹp, cái đẹp tự nhiên của một thôn nữ, chen lẫn với cái đẹp xuân thì rất gợi tình, đầy nữ tính của con gái.
Đã gần 2 tháng nay Lan không đến thăm tôi, hôm nay không hẹn trước Lan bất ngờ đến thăm. Cứ mỗi lần đến thăm Lan thường ở lại với tôi vài ngày, và cả hai chúng tôi lại có dịp quấn quít bên nhau.
Tôi đón Lan từ cổng đi vào trong đồn, ngang qua hầm chỉ huy đại đội.
Lan mỉn cười và gật đầu chào mọi người.
Trung úy Phi đang ngồi chơi Domino với 2 Chuẩn úy trung đội trưởng.
Phi vừa nói vừa cười.
-Tối nay thằng Tuấn nó sẽ pháo kích, tụi mình phải chui vô hầm né đạn.
Mọi người cùng cười.
Tôi và Phi là hai người bạn, chúng tôi quen thân nhau từ những ngày đầu, khi cả hai vữa thuyên chuyển về Tiểu Khu Hậu Nghĩa, và cả hai cùng về Tiểu Đoàn 338, khi ấy BCH Tiểu Đoàn 338,  đang đóng quân tại Chi Khu Đức Huệ. Nằm ngay trong khu vực của nhà máy đường Hiệp Hòa, một nhà máy rất lớn từ thời Pháp để lại, nhưng đã ngưng hoạt động từ lâu.
Tôi đưa Lan vào trong căn hầm trúng ẩn của tôi, vừa bước qua cửa hầm tôi đã vòng tay qua lưng nàng, ôm chặt vòng eo thon gọn và quay người Lan về phía mính, tôi ôm chặt Lan và đặt lên mồi nàng một nụ hôn thật say đắm.
Lan đẩy nhẹ tôi ra và nói:
-Làm gì gấp vậy anh.
Tôi vừa cười vừa trả lời:
-Lính mà em.
Buổi chiều tối hôm đó, chúng tôi có một bữa nhậu thật ngon, một nồi cháo gà do Lan nấu và mấy xị rượu đế loại ngon. Và dĩ nhiên tối hôm đó chúng tôi lại nằm bên nhau như một đêm tân hôn.
Qua câu chuyện tâm tình, Lan cho biết gần hai tháng qua, nàng phải lên Tây Ninh ở nhà người bà con. Vì tình hình chiến sự càng ngày càng gay go hơn. Lan cho tôi biết 3 ngày nữa Lan phải rời xa tôi không biết bao giờ mới gặp lại. Tôi hỏi tại sao nhưng Lan không trả lời câu hỏi. Lan chỉ nói:
-Thôi đừng nhắc đến, chúng ta cứ vui như không có chuyện gì xẩy ra, em sẽ ở lại bên anh 2 ngày, đến ngày thứ 3 thì em phải về nhà.
Trong đêm cuối cùng nằm bên tôi, hình như Lan ôm tôi chặt hơn, nàng đòi hỏi nhiều hơn, như cố níu kéo một điều gì đó sắp tan biến đi. Tôi có một linh tính như, đây là lần cuối chúng tôi được nằm bên nhau.
Tiếng con gà trống nuôi trong đồn cất tiếng gáy vang, hình như nó đã gân cả cổ, để cất lên một tiếng gáy nghe rất oai hùng. Từ những bụi tre xanh thẳm trong thôn xóm, tiếng gà gáy vang vọng đáp lại.
Chúng tôi cùng thức dậy, đun nước sôi pha café. Trời còn mờ sáng, tôi ngồi trên cái thùng đạn pháo binh cũ, đốt một điếu thuốc đầu tiên trong ngày, trên tay là ly café còn bốc khói, lan tỏa một hương vị thơm phức, mặc dù đây chỉ là loại café hạng bét.
Lan nhìn tôi, rồi lên tiếng:
-Hôm nay em phải về nhà vì tối mai. Nàng bỏ lửng câu nói.
Tôi vội hỏi:
-Tối mai làm sao?
Lan bưng ly café bước đến ngồi cạnh bên tôi, nàng ngồi im lặng nhìn xa xăm, một lúc sau Lan nói thật khẽ vào tai tôi:
-Tối mai ba em cho người về nhà bắt em phải ra mật khu. Em không muốn, nhất là em không muốn xa anh, nhưng cả gia đình em đếu muốn như vậy.
Nghe đến đây tôi thật bàng hoàng, tự nhiện nỗi buồn lại chợt đến.
Nhà Lan không đâu xa, chỉ cách nơi tôi và Lan đang ngồi vài thửa ruộng. Tôi nhớ lại những ngày đầu chúng tôi mới quen nhau. Một buổi sáng tôi cùng đơn vị, sau một đêm đi phục kích, trên đường trở về đồn, chúng tôi dừng chân bên Hương Lộ, nơi đây dân địa phương gọi là Quán Đôi, bởi vì tại ngã 4 này có hai quan lợp tôn nằm gần nhau, cả hai đều bán tạp hóa và dĩ nhiên có bán rượu đế, beer, nước giải khát và café .
Tôi đang ngồi hút thuốc uống café bên trong quán, thi một chiếc xe lôi (loại xe Honda, hay xe đạp, có kéo theo một cái thùng xe phía sau, có thể chở được nhiếu người) Chiếc xe lôi dừng lại trước quán, cho vài người bước xuống xe, trong đó có bóng dáng một thiếu nữ, mặc bộ bà ba mầu xanh da trời, nhìn thoáng qua tôi đã nhận ra một cô thôn nữ còn quá trẻ, đang ở tuổi dậy thì, đôi tám trăng tròn. Dáng người hơi thấp, mái tóc đen óng xõa ngang vai, thân hình đẫy đà cân đối, nét mặt thật tươi với ánh mắt trong sáng và nụ cười luôn nở trên môi. Cô gái bước vào quán, một vài người lính trầm trồ nhìn theo, cô gái hình như quá quen thuộc với chủ quán, nên hai người nói chuyện với nhau.
Tôi đưa mắt nhìn Tư người lính mang máy truyền tin ngồi cạnh tôi, ngụ ý như hỏi ai đó?
Tư cho tôi biết đó lá cô Lan, nhà ở gần đồn của mình, Tư còn nói nhỏ với tôi.
-Cô Lan chưa có thẻ căn cước nghe ông thầy.
Tôi hỏi:
-Nghĩa là sao Tư.
Tư cười nhìn tôi rồi trả lời, cổ mới 16 tuổi, chưa đến 18 làm sao có căn cước.
Tôi chợt hiểu ý ghĩa mà Tư muốn nhắc cho tôi biết, nên thận trọng.
Tôi vừa nhìn về phía Lan thì bất chợt Lan cũng đang nhìn tôi.
Tôi mỉm cười và gật đầu chào. Cô gái bẽn lẽn quay đi nơi khác.
Kể từ hôm đó mỗi lần có dịp ghé Quán Đôi, tôi thường hỏi thăm về Lan.
Rồi từ đó chúng tôi quen nhau. Tôi đến với Lan thật tình cờ và Lan đã đón nhận tình yêu này cũng thật tình cờ. Như một tiếng xét ái tình, hay một trận cuồng phong của dục vọng mà cả hai đều trong giai đoạn hưng phấn nhất của tuổi trẻ.
Em là bóng đổ chiều rơi
Là chai rượu cạn chơi vơi lối về.
Tôi đã đến với Lan thật nhẹ nhàng, như một cơn say đầy cảm hứng vào một buổi chiều mưa, tại một vùng thôn quê thật thanh bình.
Tôi đang suy nghĩ miên man về những ngày đầu mới quen biết Lan.
Lan đứng lên cầm lấy chiếc nón lá và nói:
-Thôi em phải đi về.
Tôi chợt giật mình nhìn Lan. Tôi cầm lấy tay Lan, như muốn níu kéo, như muốn cố giữ lấy một cái gì đó sắp tuột khỏi tầm tay.
Tôi đưa Lan ra cổng. Bóng Lan đi, mờ khuất dần như tan biến vào hàng tre xanh thẫm cuối thôn.
Tình hình hành quân lại sôi động, những tin tức VC đắp mô, cắm cờ đang liên tục xẩy ra. Càng về cuối năm Cộng quân lại càng đẩy mạnh chiến dịch Dành Dân Lấn Đất mạnh mẽ hơn. Hôm nay Đại Đội tôi nhận lệnh từ BCH Tiểu Đoàn cho biết, theo như tin tình báo của Chi Khu. Đêm nay sẽ có khoảng một trung đội Chính quy của VC, sẽ phối hợp với du kích địa phương, về hoạt động trên Hương Lộ, rất gần với vị trí Quán Đôi. Chúng sẽ đào đường đắp mô và cắm cờ, mục đích ngăn chận giao thông trên con đường huyết mạch này, đó là Hương Lộ nối liền từ Đức Hòa với quận lỵ Hốc Môn. Chúng muốn tạo  tiếng vang trong dân.
Đêm nay, tất cả Đại Đội sẽ hành quân từ đồn Bình Thủy tiến về vị trí Quán Đôi , bố trí nằm phục kích trên đoạn đường này. Chúng tôi chỉ để một trung đội ở lại giữ đồn, cùng với khẩu súng cối 60 ly và khẩu đại liên M60.
Trời vừa chạng vạng tối đại đội chia làm 3 cánh quân tiến về hướng Quán Đôi.
Chúng tôi cố gắng di chuyển một cách bí mật, nhưng tôi tin chắc, không thể nào qua được mắt người dân và nhất là bọn nằm vùng. Bọn du kích địa phương biết chắc là đêm nay, ở quanh khu vực đồn Bình Thủy sẽ không còn người lính nào. Có nghĩa là bọn du kích đã nắm vững được tình hình trong đêm nay.
Khi ra đến vị trí phục kích nằm dọc theo Hương Lộ (con đường từ Đức Hòa chạy về Quận Hốc Môn) . Chúng tôi vừa ngồi nép mình vào một bụi tre bên vệ đường.
Bảy Lì đem ra một bi-đông rượu đế, rót một ly. Bảy vừa nói vừa đưa cho tôi.
-Uống một ly cho ấm bụng ông thầy ơi!
Tôi nhìn Bảy nói:
-Mày lúc nào cũng rượu.
Nói vậy nhưng tôi cũng cầm ly rượu uống một hơi. Chất rượu hình như đã làm dòng máu trong tôi bừng cháy lên, tôi và Bảy Lì cùng với Tư truyền tin, người mang máy cho tôi đêm nay, cả 3 chúng tôi uống thêm vài ly rượu.
Tôi chợt nhớ đến Lan, người bạn gái đã đến và thông báo cho tôi biết.
Đêm nay VC, sẽ cho người về bắt Lan đem ra vùng mật khu. Họ bắt Lan phải từ bỏ vùng đất tự do. Mặc dù Lan không thích.
Tôi nghĩ tại sao mình lại hèn nhát, không dám đứng ra ngăn chận hành động này. Tại sao những người lính Quốc Gia, lại không dám đương đầu với Cộng Sản, để dành lại những người dân yêu chuộng tự do.
Tôi càng nghĩ đến điều này, thì dòng máu nóng của một sĩ quan, dòng máu hào hùng của một Thiếu Sinh Quân trong QLVNCH, càng sôi sục bởi ngọn lửa căm hờn.
Không cho phép tôi hèn nhát, tôi phải làm một điều gì đó để ngăn chận hành động này của VC, không cho phép họ bước chân đến vùng đất Tự Do, để dành dân lấn đất.
Tôi đứng dậy hỏi:
-Ê hai đứa có chịu chơi không, cùng đi với anh trở về nhà cô Lan.
Bảy Lì nói:
-Sợ gì ai.
-Tôi sẽ đi với ông
Cả Tư cũng lên tiếng.
Từ suy nghĩ này, tôi đã trình bày hết mọi sự việc cho Trung Úy Phi.
Tôi không ngờ là Phi đã đồng ý với kế hoạch này của tôi. Phi hứa với tôi là sẽ yểm trợ hết mình nếu có gì xẩy ra.
Kế hoạch của tôi rất táo bạo, tôi sẽ về lại nhà Lan. Nghĩa là tôi phải lội bộ hơn 3 cây số, đi trong đêm nay để trở lại gần đồn Bình Thủy.
Cùng đi với tôi chỉ có hai người lính. Tư mang máy truyền tin và Bảy Lì, cả hai người lính này đều gan dạ và liều lĩnh.
Tôi căn dặn cả hai đứa, mang thêm lựu đạn và thêm băng đạn M.16.
Tôi cũng mang theo cây súng M16 ngoài cây súng Cold 45 lúc nào cũng mang bên hông
Tôi kiểm tra lại hệ thống truyền tin, liên lạc với BCH và Trung đội trừ bị đang phòng thủ trong đồn.
Ánh trăng khuyết, đang tỏa sáng mập mờ trong đêm. Ba người chúng tôi hiên ngang tiến bước, len lỏi trong các bụi tre trong thôn. Tiếng chó sủa nối tiếp nhau vì bóng dáng chúng tôi xuất hiện trong đêm.
Trời càng về đêm ánh trăng càng tỏa sáng hơn, mặc dù đêm này không phải ngày trăng rằm, nhưng ánh sáng của nó cũng đủ soi rọi một vùng thôn dã, đang chìm lắng trong giấc ngủ bình yên.
Tôi liên lạc trung đội trưởng ở trong đồn, thông báo cho Chuẩn úy Hào biết, 3 người chúng tôi đang tiến gần vế hướng đồn và gần nhà cô Lan.
Chuẩn úy Hào trả lời:
-Anh yên tâm tụi này sẵn sàng yểm trợ khi cần.
Tôi nhắc lại:
-Anh biết vị trí nhà cô Lan.
Hào trả lời tôi:
-Mọi người đều biết 5/5.
Bảy Lì vẫn lầm lũi, tay cầm khẩu M16 đi trước, tôi và Tư theo sát phía sau.
Đôi lúc 3 người chúng tôi, phải chui qua những bụi tre rậm rạp, mà tàn lá của nó đã che khuất cả ánh trăng, tạo thành một khoảng tối không nhìn thấy gì. Tôi chợt nghĩ nếu ngay lúc này. VC tấn công thì chúng tôi không thể nào trở tay kịp.
Chúng tôi vừa đến vuông tre trong khu đất nhà Lan.
Tôi ra hiệu dừng lại, nói nhỏ với Bảy:
-Em quan sát thật kỹ trước khi đột nhập vào trong. Coi chừng tụi nó đã có mặt bên trong nhà.
Nhà của Lan, là một căn nhà mái ngói lâu đời. Nằm giữa một vuông dất hơi cao hơn những thửa ruộng quanh nhà.
Chung quanh vuông đất, trồng cây tre làm hàng rào, những bụi tre già này, đã mọc ở đây từ bao đời, nên gốc tre rất lớn và rất rậm rạp. Nó tạo thành một bức tường thành bằng tre khà vững chắc.
Bên hông nhà là cổng ra vào, đi thẳng ra là mấy thửa ruộng khô, Phía bên phải lối ra vào   là một cây rơm lớn, và một chuồng trâu. Phía sau nhà là chuồng heo và gà, vịt.
Tôi ra lệnh cho Bảy ra phía cổng, đứng ở vị trí đó quan sát và canh gác.
Tôi nói với Tư truyền tin án ngữ phía sau. Còn tôi sẽ vào trong nhà.
Từ phía sau bước vào trong nhà, ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu, cũng đủ soi sáng cảnh vật trong phòng. Sự xuất hiện bất ngờ của tôi, đã làm cho hai Mẹ con Lan thật sự hốt hoảng.  Chỉ một thoáng qua Lan nhận ra tôi, nàng nở một nụ cười và trong ánh mắt của Lan, tôi đã nhận ra một niềm vui bất ngờ. Riêng bà Má của Lan, bà đang tròn xoe đôi mắt nhìn tôi, với ánh mắt thật sự hốt hoảng và đầy lo sợ, bởi vì hơn ai hết, bà đã biết chỉ một thoáng chốc nữa thôi. Chồng bà hay con trai của bà sẽ trở về, gia đình bà sẽ tràn ngập niềm vui đoàn tụ, bà sẽ thật sự hạnh phúc.
Bà không ngờ rằng làm sao tôi có thể biết được tin tức này, để rồi xuất hiện đúng vào giờ phút này. Bà cũng không thể biết được, chính cô con gái của bà, đã thông báo cho tôi. Bà rất lo sợ, vì Bà biết chắc rằng chỉ một thời gian ngắn nữa thôi.
Một trận chiến sẽ nổ ra ngay tại nơi đây, máu sẽ tuôn chảy trong căn nhà này, dòng máu đó không biết là của bên nào. Có thể là của người Chồng hay con Trai của bà, hay dòng máu này là của chính tôi.
Bà ngồi sững sờ trên bộ ván gỗ, bộ ván có một bề dầy, gần cả gang tay, bộ ván này cũng chính là nắp căn hầm trú ẩn của gia đình. Ở vùng này mỗi nhà dân đều có một căn hầm trú bom đạn. Bà ngồi trên bộ ván, hai chân buông thòng xuống trước cửa hầm, như một tư thế sẵn sàng chui xuống hầm bất cứ lúc nào.
Tôi lên tiếng chào Bà, với lời hỏi thăm, coi như không có truyện gì xẩy ra.
Bà không trả lời, vẫn im lặng nhìn tôi, và nhìn chung quanh như quan sát xem, tôi đến đây với bao nhiêu người lính. Tôi nghĩ chắc là bà rất ngạc nhiên, vì không thấy người lính nào ngoài tôi, tôi mặc kệ Bà với những âu lo riêng tư.
Tôi và Lan bược ra trước cửa chính, chúng tôi ngồi trên bực thềm nhà.
Lan khẽ nói:
-Sao anh liều quá vậy.
Tôi mỉm cười trả lời:
-Anh không sợ, vì dù sao cũng có em bên cạnh.
Mặt trăng đêm nay chỉ là vầng trăng khuyết trên bầu trời, nhưng ánh trăng cũng đủ soi sáng cảnh vật.
Tôi nhìn Lan, nàng ngồi dựa sát bên vai tôi.
Tôi nói với Lan:
-Phải chi đừng có chiến tranh.
Nhũng buổi tối trăng sáng như thế này chắc là vui lắm. Những đôi tình nhân, có thể đi dạo dưới ánh trăng thật đẹp, và thật nên thơ như đêm nay.
Bất ngờ một tràng đạn M.16 nổ vang, xé tan màn đêm yên tĩnh.
Tiếp theo là một loạt đạn AK.47. Tiếng súng nổ vang trời.
Lan băng mình qua cửa ra vào, chui ngay xuống hầm trú ẩn cùng với bà Mẹ.
Tôi vụt đứng lên, nấp bên cây cột nhà.
Tôi đưa khẩu M.16 về hướng bụi tre, bắn một tràng đạn, yểm trợ cho Bảy.
Tôi nhìn thấy Bảy chạy về hướng tôi. Bảy nói thật nhanh:
-Tôi bị thương rồi.
Tôi nói:
– Đưa súng đây Bảy, chạy rút về đồn ngay.
Bảy phóng mình qua bụi tre, chạy trên thửa ruộng khô phí sau, vế hướng đồn.
Tôi cầm hai khẩu M.16 kẹp vào hai bên hông, lia một tràng đạn về phía cổng.
Tôi vừa bắn vừa rút lui. Lúc đó Tư truyền tin cũng theo sát bên tôi.
Cả hai chúng tôi cùng chui qua bụi tre phóng ra phía thửa ruộng khô.
Tôi và Tư chạy băng qua một thửa ruộng, phóng người qua một bờ ruộng khá cao.
Tôi và Tư truyền tin nằm lại, tiếp tục bắn yểm trợ cho Bảy rút về đồn.
Một loạt đạn AK.47 bắn về hướng chúng tôi.
Tôi cầm ống nghe truyền tin, thông báo cho BCH Đại Đội là tôi đang chạm địch.
Tôi ra lệnh cho khẩu súng cối 60 ly, trong đồn bắn cho tôi vài trái sáng.
Đồng thời ra lệnh cho khẩu Đại Liên trong đồn bắn một tràng về phía bưng.
Cánh dù hỏa châu của súng cối vừa bung ra, ánh sáng soi rõ mọi cảnh vật.
Tôi không thấy bóng dáng một tên VC nào.
Tôi bắn thêm vài tràng đạn về hướng bụi tre nhà Lan.
Tôi và Tư truyền tin rút quân về đến đồn.
Trong lúc vừa chạy, tôi vừa phải trả lời những câu hỏi liên tiếp từ BCH Đại Đội và
BCH Chi Khu Đức Hòa. Tất cả đã vào chung một tần số liên lạc với tôi.
Tôi thông báo là không cần tăng viện, chúng tôi đã rút về đồn an toàn.
Trung úy Phi có ý định xin lệnh Chi Khu, cho rút quân vế yểm trợ, nhưng tôi trả lời là không cần, vì chúng tôi đã vào trong đồn an toàn.
Do đó Đại Đội 3/338 vẫn nằm im tại vị trí phục kích.
Tôi xin pháo binh Chi Khu, bắn yểm trợ cho tôi vài trái hỏa châu.
Bảy Lì đã chạy về đồn trước tôi, Bảy đang được Y Tá Hội băng bó vết thương.
Một viên đạn AK47 đã xuyên qua bàn chân của Bảy Lì, vết thương đã được cầm máu
và băng bó.
Tôi hỏi Bảy:
-Có sao không?
Bảy rít một hơi thuốc lá, vừa cười vừa nói:
-Không sao đâu ông thầy. Sáng mai em đi bệnh viện là ổn thôi. Tôi nghe Bảy nói như vậy thì cũng yên tâm.
Tôi trình bày qua tình hình địch, và đề nghị pháo binh Chi Khu bắn chận, vài trái
105 ly, loại đạn nổ chụp về hướng bưng Mũi Lớn. Vì tôi nghi ngờ là VC sẽ rút quân chạy vế hướng này.
Hai trái hỏa châu 105 ly của pháo binh Chi Khu vừa thắp sáng trên khu vực đồn.
Chúng tôi có thể quan sát rất rõ tình hình địch quân, tất cả rất im lìm không một động tĩnh nào. Tôi nghe từ hưởng bưng tiếng nổ của pháo 105 ly vọng về.
Trời sáng dần, tiếng con gà trống nuôi trong đồn lại gân cổ gay một tiếng rất hùng dũng.
Xa xa từ những rặng tre già trong thôn, tiếng gà gáy vang lên nối tiếp nhau.
Một làn sương mù, xuống thấp là đà trên mặt ruộng khô, làn gió hơi lạnh thổi về, thời tiết vào những ngày cuối năm, cũng khá lạnh vào buổi sáng sớm. Tôi khoác thêm một chiếc áo trận, châm lửa đốt điếu thuốc RuBy quân tiếp vụ, một làn khói thơm phức lan tỏa vào không gian.
Trung sĩ Hội, ý tá đại đội, lấy xe Honda 67, chở Bảy Lì vô bệnh viện.
Sau này Bảy đã tường thuật lại đầu đuôi câu truyện cho tôi nghe.
Bảy nói:
-Em đứng núp trong bóng tối của bụi tre ngay cổng ra vào. Từ trong bóng tối em quan sát phía ngoài rất rõ, trên tay là khẩu M16, choàng dây ngang vai, mũi súng luôn hướng vế trươc, và ngón tay luôn đặt trên có súng.
Không ngờ VC, nó di chuyển rất êm, nó cũng men theo khoảng tối dọc theo bụi tre.
Bất ngờ VC xuất hiện ngay trước mặt, một phản ứng tự nhiên là bóp cò súng.
Tên VC cũng bóp có súng, nhưng rất may, là mũi súng của nó đang chúi xuống đất.
Cả hai làn đạn đều bắn ra cùng một lúc.
Tên VC này chắc đã lãnh đủ những viên đạn M.16 gim vào người. Còn Bảy Lì, bị đạn AK47 gim vào chân.
Tôi đã hiểu tại sao, toán du kích này khi đến nhà Lan, họ lại thiếu đi cảnh giác. Bởi vì họ đã tin vào tình hình khu vực, chính họ cũng nhìn thấy tất cả đại đội của tôi đã đi xa.
Họ yên trí rằng, không còn một người lính nào trong khu vực này.
Họ không thể hiểu được, chính tôi là một yếu tố bất ngờ, đã đem họ đến một tình huống bất lợi. Họ đã không thực hiện đươc ý định ban đầu, mà còn nếm thêm mùi thất bại.
Theo tin tình báo của Chi Khu, đơn vị du kích này đã bị tổn thất nặng. Một chết tại chỗ đươc đồng bọn mang đi, một chết trên đường rút lui và một số bị thương, có thể do đạn pháo binh của Chi Khu bắn nổ chụp.
Sau này tôi còn biết thêm chi tiết nữa: Căn nhà ngói cổ của gia đình Lan, đã không bị thiệt hại nào, do cả hai phía tham chiến đều không muốn gây ra.
Vài tháng sau đó BCH/Tiểu Đoàn thuyên chuyển tôi về đóng quân tại Chi Khu Đức Huệ. Trong thời gian này, tôi nhận được tin Lan đã theo gia đình vào mật khu.
Hiệp Định Paris đã được ký kết vào tháng 1 năm 1973. Mấy tháng đầu tình hình chiến sự có vẻ lắng động đôi chút. Nhưng sau đó bản Hiếp Định này gần như đã bị xé bỏ, tình hình chiến sự càng ngày càng gay go hơn.
Tôi đã được BCH Tiểu Đoàn 338/ ĐPQ. Thuyên chuyển về làm Đại Đội trưởng ĐĐ.4/338. Bảo vệ vòng đai cho Chi Khu Đức Huệ. ĐĐ.4 do tôi chỉ huy, đóng quân tại một tiền đồn hẻo lánh, nằm về phía bên kia sông Vàm Cỏ Đông, một vùng đất hoang vu không một bóng người.
Hết. 

Inline image 1    Inline image 2
Hậu Nghĩa

Tôi viết câu chuyện ngắn này, như một kỷ niệm khó quên trong đời lính.

          Một người lính Địa Phương Quân. Không phải là những đơn vị hào hùng trong QLVNCH. Tuy nhiên người lính ĐPQ, luôn gắn bó rất chân tình với người dân.

Trăm năm trong cõi vô thường.
Ta ngồi viết lại đoạn trường vô thanh.
Cho người chiến sĩ vô danh
Bước vào huyền thoại, hóa thành vĩ nhân.
Vòng quay Nhật, Nguyệt xoay vần.
Ta đem viết lại, bao thân phận người.

Tôi xin mượn ý tưởng của bài thơ này, để nói lên ý nghĩa vô thường của đời sống. Đời nhà binh sớm họp tối tan. Chiến tranh thật là vô nghĩa, chỉ vì những chủ thuyết lệch lạc, vô thần mà Cộng Sản đã đem đến, gây chia rẽ, huynh đệ tương tàn, cho dân tộc Việt Nam. Có biết bao chiến sĩ vô danh, họ đã phải hy sinh, để rồi họ bị quên lãng, không để lại một âm vang nào trong chiến sử. Đây chính là đoạn trường vô thanh, không ngôn từ diễn đạt. Tôi muốn cùng các bạn, chúng ta hãy viết ra những cảm nghĩ của mình, để đem người chiến sĩ vô danh, vào trong huyền thoại của lịch sử. Cho những thế hệ mai sau, còn tìm lại niềm tự hào của người lính QLVNCH.

CTSQ. Lê Tuấn.

          Inline image 5                Inline image 6
Lê Tuấn ĐĐ/Trưởng/ĐĐ 4/TĐ 338 ĐPQ/Hậu Nghĩa                            AET. Lê Tuấn

Mùa hè đỏ lửa 1972




Nhà Văn Ninh Thuận (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn Ninh Thuận.

 

Tên thật : Nguyễn Tâm Thuận, sinh sống tại Nam Cali.

Cựu nử Sinh Đồng Khánh Huế- Ra Trường SPQN năm 1970 ( XLTV Hiệu Trưởng Trường An Thường/ Bình Định- 1971 vào Sài Gòn Phụ Tá GS Tâm trông coi Hồ sơ Thăng Thưởng của các GS các trường Trung Tiểu Học Tư Thục Sài Gòn Gia Định. Sau 75 làm Giám Thị Marie Curie- Năm 77 về Trường cấp 1,2, 3 Thánh Mẫu Gia Định (Lam Sơn)

Năm 87 sang định cư tại Litlle Sài Gòn làm nghề tự do buôn bán và theo học Golden West College

Năm 2005 sau khi con cái thành tài ra viết sách báo và hàng năm ra mắt sách để lấy tiền giúp TPBVNCH, đồng môn SPQN ở quê nhà gặp hoàn cảnh khó khăn.

Những tác phẩm đã ra mắt:

-Truyện Ngắn ” Những Mảnh Đời 1,2,3,4 ” và Audio Books, Tình Yêu Của Biển, Đời Song Quanh Ta

– Truyện Dài: Nước Mắt Buồn Vui; Hồi Ký Mảnh Đời Của Minh-Nỗi Lòng & Khát Vọng ( Song ngữ Anh Việt)

– Thi Phẫm : Mảnh Đời; Vào Đời: Quê Hương; Sử Việt.

Những tác phẩm sẽ ra mắt:

– Truyện Ngắn : 5,6,7…

-Truyện Dài : Đời; Bạn Tri Âm, Nỗi Lòng của Thúy.

Đã là phóng viên các báo: Việt Satelite,Việt Herald, Sài Gòn Times; Việt Báo, Viễn Đông, Việt Mỹ, Thời Luận …

ninhthuan_nhungmanhdoi4rsm-ninh-thuan

Những Đoản Khúc Nursing Home

-Ông cụ vì tuổi già sức yếu, nên toàn thể cơ thể rất suy nhược. Chúng tôi sau một thời gian điều trị đã tìm ra căn nguyên, thời gian chữa trị rất lâu, chính sách Medicare không kham nổi trả tiền cho nhà thương. Vậy chúng tôi quyết định chuyển hồ sơ bệnh lý và cụ xuống Nursing Home ở Santa Ana điều trị. Tại đó Bác sĩ sẽ tiếp tục chữa tri. Nhân viên, y tá sẽ săn sóc tập luyện cho cụ từ từ đi đứng lại, nhưng với điều kiện chính đương sự phải hợp tác tích cực với nhân  viên thì việc đi đứng mới tiến triển thuận lợi…Sau gần hai tháng chữa trị tại bệnh viện, bệnh tình chú Lịnh, chú của Loan vẫn không ngồi dậy đi đứng được và không được khả quan cho lắm. Bác sĩ đưa đến quyết định khi gặp người nhà của Loan:

Thế là sau đó chú Lịnh được chuyển đến Nursing Home điều trị. Bận rộn nhiều việc, và hơn nữa lo chuẩn bị nhà cửa đón Tết, nên mấy hôm sau theo địa chỉ người nhà cho biết, Loan mới lái xe đi thăm chú. Khu Nursing Home nằm sát mặt đường, chỗ đậu xe rất khó khăn. Sau mấy vòng lái xe qua lại, nàng mới tìm được chỗ đậu xe. Bước vào văn phòng hỏi thăm, Loan được hướng dẫn lối đến phòng chú Lịnh một cách rõ ràng. Nàng đi qua một hành lang dài giữa hai dãy phòng, rồi quẹo phải mới đến phòng chú Lịnh bên trái… Tò mò Loan nhìn vào các phòng ăn, thấy các ông bà cụ đủ sắc dân, nào là Mỹ, Mễ, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tàu… và nhiều nhất vẫn là Việt Nam, ngồi trên những chiếc xe lăn trước những bàn ăn đang chuyện trò, ăn uống. Thỉnh thoảng Loan bắt gặp những cử chỉ trìu mến, những ánh mắt thân thương của con cháu đang vỗ về hay đút từng muổng thức ăn cho các cụ. Loan tự nhủ:

-Các cụ vào đây mà con cháu dành thì giờ đến săn sóc, thì cảm động quá! Chắc các cụ cũng được ấm lòng trước sự hiếu để của con cháu. Xứ Mỹ này vì sinh kế và không có điều kiện chăm sóc cho các cụ, thì ít nhất cũng phải thường xuyên đến thăm viếng các Người cho đở tủi tuổi già và bệnh tật ập đến là hay vô cùng!

Qua đây, Loan nhớ đến anh Bác Sĩ  tên Đức quen thân với ông anh của Loan tâm sự:

-Tôi được nên vóc nên hình, học tới nơi tới chốn như ngày hôm nay là nhờ sự hy sinh vô bờ bến của mẹ tôi đã dành trọn cho tôi. Khi ba tôi mất sớm, mẹ tôi đã một đời buôn tảo bán tần nuôi tôi nên người, rồi lo cho tôi sang xứ Mỹ hít thở không khí Tự Do. Mẹ vừa là cha vừa là mẹ đùm bọc nuôi nấng tôi mấy chục năm nay. Sau một thời gian tôi học hành thành tài, tôi ra làm việc, có địa vị danh vọng với đời. Nay mẹ tôi đau ốm bệnh tật, tôi là một Bác sĩ, nên tôi có thể chăm lo thuốc thang cho Người. Vì vậy tôi thu xếp công việc, tạm nghỉ một thời gian để phụng dưỡng mẹ già. Mẹ tôi như ngọn đèn trước gió, không biết tắt lúc nào. Đây là dịp tôi làm phận sự người con trả ơn công sinh thành dưỡng dục của Người để khỏi ân hận về sau. Vì thế dù làm bao nhiêu tiền, tôi tạm gác lại… Xứ Mỹ là xứ của cơ hội, nay mình tạm gác lại, rồi sau này khi tròn chữ hiếu mình tiếp tục làm cũng không muộn! To thuyền thì to sóng, chạy theo vật chất, biết mấy cho vừa lòng mình. Mình cảm thấy đủ và yên ổn với suy nghĩ của mình là hạnh phúc rồi! Mỗi người có một cách sống riêng, như một thi sĩ tiền bối đã nó

  Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

  Người khôn, người  đến chốn lao xao!…

-Thời xưa theo tích Tàu mình học có các gương Nhị Thập Tứ Hiếu thì nay tại xứ Mỹ tất bật này với câu nói thường nhật  Xứ của tiền bạc, của việc làm, của những cái bills chờ thanh toán,  tình người thì khan hiếm, nhưng đâu  phải không có những gương hiếu hạnh mà mình mới bắt gặp?!  Loan tròn mắt thán phục ý chí đạo hiếu của  Bác Sĩ Đức trong ý nghĩ…

Mãi suy tư, Loan đi qua những cụ già bản xứ đang rên xiết trên những chiếc xe lăn cô độc, hay những cụ già như không còn sức sống nằm rũ xuống trên những cánh tay ốm yếu, già nua khẳng khiu…Những khuôn mặt ngơ ngác, tóc tai rũ rượi tay chân buông xuôi, những đôi mắt thất thần… theo chân và ám ảnh Loan suốt quãng đường đến phòng chú Linh đưa nàng nhớ đến câu thơ của Nguyễn Công Trứ…

   Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe,

        Trần có vui sao chẳng cười khì?!…

Thật vậy, con người sinh ra là phải chịu không nhiều thì ít cảnh khổ ở đời… Nhỏ thì lo học, lớn lên lo làm ăn kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình. Nếu gia đình được toại nguyện hạnh phúc thì dù chịu trăm đắng ngàn cay ngoài đời và trong việc làm cũng là người sung sướng. Nhưng nếu hoàn cảnh trớ trêu, không như ý thì vui là vui gựợng kẻo mà! Theo thời gian, đau ốm bệnh tật tuổi già kéo đến sồng sộc khi nào không biết! Nếu tuổi già có gia đình chăm sóc là phước đức ông bà để lại. Còn buồn nào hơn khi sống trong bức tường chỉ biết nói chuyện với chăn mềm giá lạnh, cô đơn vây kín… Sống trong buồn tủi và rồi nhắm mắt xuôi tay không có người thân bên cạnh cũng xong một kiếp người! Loan thở dài ngao ngán…

Bước chân vào phòng, Loan bắt gặp một khuôn mặt hốc hác, tay chân khẳng khiu với những vết xanh tím đen trên tay ông chú thân yêu, đó là dấu tích những lần vô thuốc và nước biển. Chú nằm trên giường thiêm thiếp mắt nhắm nghiền, miệng há hốc với hơi thở nặng nề. Nếu không nghe hơi thở yếu ớt, đứt quảng… thì đó chỉ là một con người hồn lìa khỏi xác mất rồi! Loan tần ngần đứng bên cạnh giường, đưa đôi mắt nhìn chú xót xa. Yên lặng bao trùm căn phòng, khiến Loan nghe rõ tiếng nhịp đập của con tim mình. Mười phút nặng nề trôi qua, một bà đứng tuổi đẩy xe lăn một người vào phòng…

-Không biết bệnh nhân này là đàn ông hay đàn bà để mình tiện xưng hô và hỏi chào?! Loan tự nhủ. Thật vậy, một hình hài khô đét, tóc cắt ngắn, khuôn mặt xương xẩu với đôi mắt sâu hoắm như không còn sức sống trong bộ áo quần xanh rộng thùng thình của bệnh viện nằm rũ trên xe. Xe đến bên chiếc giường trống, người đàn bà xốc nách đở bệnh nhân lên giường một cách khó khăn. Loan nhanh nhẹn bước tới phụ một tay với bà ta cho bệnh nhân nằm ngay ngắn. Sau khi ổn định, Loan lên tiếng bắt chuyện:

-Xin lỗi, bà là người thân của bệnh nhân!

– Dạ không phải, tôi chỉ là người trông coi bệnh nhân thôi! Trước đây, tôi ở trong chương trình săn sóc tại gia, ăn lương nhà nước săn sóc cho bà Hai được hơn năm nay. Nhưng nay bà ấy đau ốm nhiều, gia đình đưa bà Hai vào đây chạy chữa thuốc men, chính phủ không trả lương cho tôi. Con gái bà ấy bận đi làm, không thường xuyên săn sóc cho mẹ được, nên mướn tôi chăm lo cho bà Hai suốt ngày, đến chiều tối tôi mới về. Chiều đi làm về, cô ấy bới thức ăn, và vào thăm bà Hai ở lại mãi đến tối mới về. Tội nghiệp, cô ấy có hiếu với mẹ lắm. Cô đã mua đủ thứ nài ép bà cụ ăn, nhưng bà ấy đâu ăn uống gì được!

Xây qua nhìn Loan, và liếc nhìn chú Linh, người đàn bà tò mò lên tiếng nói một hồi…

-Cô bà con với ông cụ hả? Tội nghiệp ông cụ lắm! Cứ nằm thiêm thiếp không nhúc nhích ăn uống gì được! Cô Trâm, con gái ông cụ cũng hiếu hạnh lắm. Chiều đi làm về là đều đặn ghé thăm cụ. Buổi trưa cô ấy bảo chồng lấy giờ ăn trưa thăm cha già bệnh tật. Nghe đâu cậu Hòa, chồng cô Trâm làm gần đây nên chạy tới chạy lui hoài. Cô Trâm cho tôi tiền ăn quà và nhờ tôi ghé mắt thăm chừng ông cụ. Nhưng tôi từ chối nhận tiền, vì tôi đâu có nặng nhọc gì giúp ông cụ đâu, người đồng hương giúp đỡ nhau chút đỉnh có hề hấn gì cho cam!

-Tôi là cháu gọi ông cụ bằng cậu. Thôi trăm sự nhờ bà ghé mắt trông hộ cậu tôi với . Thật là quý hoá và cám ơn bà rất nhiều… Tôi cũng bận bịu công ăn việc làm, nên thỉnh thoảng mới vào thăm cậu được!

Hai người đang to nhỏ trò chuyện thì một chị sồn sồn ùa vào phòng góp chuyện:

-Tôi mới nghe loáng thoáng cô là cháu vào thăm ông cụ há? Mấy người nằm phòng này thật có phước. Con cháu hiếu hạnh, ngưòi thân và bạn bè tấp nập đến thăm viếng. Không như cái phòng xéo xéo phòng này, lạnh ngắt như tờ, nghe đâu bà cụ có mấy người con là bác sĩ,  kỷ sư gì đó mà lấy vợ có con rồi lập trang thờ bà, bỏ bê mẹ già đau yếu bệnh tật mỏi mòn trông ngóng tin con thăm viếng… Với giọng bùi ngùi, chị Hoa tiếp lời:

-Bà cụ tâm sự với tôi, chồng bà chết khi bà mới 28 tuổi, nhưng bà ở vậy nuôi ba đứa con trai. Bà đã hy sinh thời xuân sắc để nuôi dưỡng các con học hành và lo cho chúng vượt biên. Khi thành tài chúng lấy vợ có con rồi quên bà luôn ! Trước khi vào đây, bà còn mạnh khỏe muốn bồng ẩm cháu, nhưng mấy cô con dâu học thức đỏng đảnh chê bà già vụng về không cho bà đụng đến cháu. Bà sống âm thầm bên lề cuộc sống con cháu . Thế rồi bà ngã bệnh, chúng tống khứ bà vào viện dưỡng lão. Chúng viện cớ bận công ăn việc làm, không săn sóc cho mẹ già được! Bà đã buồn rầu than thân trách phận -vô phước, vô phần… Nghe đâu các ông các bà trí thức ấy không có thì giờ vào thăm mẹ già vì chanh đã hết nước. Nhưng đi du lịch, đàn đúm thì nhanh chân đi liền! Những người vô học, không biết đạo lý, cư xử không trọn nghĩa thì có thể tha thứ được! Nhưng cha mẹ một đời hy sinh nuôi cho ăn học thành tài mà cư xử với đấng sinh thành không trọn nghĩa, trọn tình thì như loài cầm thú, đáng cho người đời nguyền rủa, Trời tru, đất diệt! Sao Trời chưa trừng phạt cái thứ trí thức rõm, cái thứ bất hiếu như thế sống nhởn  nhơ như vậy cho chật đất!

-Có thể kiếp này họ được hưởng thành quả kiếp trước. Lưới Trời tuy cao lồng lộng, nhưng không bỏ sót ai làm trái với luân thường đạo nghĩa đâu! Con trai nghe lời vợ thì là chuyện thường nghe. Tôi còn nghe bà cụ nằm cách đây hai phòng bị con gái nghe lời chồng đối xử tệ bạc với mẹ mình là điều hiếm đấy nhé! Bà cụ đã tức tối khóc lóc kể chuyện… số là bà cụ có một mẹ một con, bà đã từ chối bao nhiêu đám thanh niên ve vãng… Bà ở vậy ôm nuôi con khi chồng chết trận, lúc bà Tám mới nửa chừng xuân. Bà đã bương chải lo làm ăn và có một số vốn kha khá. Sau 30 tháng tư 75, hai mẹ con đi vượt biên. Trời thương, chuyến đi trót lọt. Sang đây bà Tám tiếp tục lao động chân tay thật cật lực, và cho con ăn học thành tài. Con ra trường mới có cơ hội đứng tên mua nhà với số tiền bà đã dành dụm được. Ngày tháng êm ả trôi qua, con gái bà đến tuổi lấy chồng- một kỷ sư cầu đường, nhưng bà đâu ngờ, đúng là thằng kỷ sư  đào mỏ… Sau một thời gian sống chung với bà, nhiều bất hòa thằng rể quý cố dàn dựng… Hương, con gái bà nghe lời thằng chồng yêu qúy đã nhẹ nhàng mời bà ra khỏi nhà một cách tàn nhẩn, không một chút lòng nhân! Thằng rể còn vênh váo mặt nói không biết có phải tiền của bà down mua nhà hay không? nhưng Hương, vợ nó đứng tên, và hàng tháng vợ chồng nó trả tiền nhà là nhà của chúng nó thôi! Bà lặng lẽ khăn gói ra khỏi nhà đứa bất nhân, và đi mướn phòng ở. Nay bà đau yếu nên vào đây tá túc, xem như không có con cháu thăm viếng. Bà Tám nay hơi mạnh có thể một thời gian ngắn nữa sẽ về phòng trọ của bà, nhưng không biết ai đón bà về đây?!

-Đây số địện thoại của tôi, khi nào bà Tám về, chị gọi điện thoại báo trước tôi một ngày, tôi sẽ thu xếp công chuyện đón bà ấy về! Nghe mấy chị kể chuyện ở đây nhiều hoàn cảnh trái ngang mà đau lòng ghê! Loan mau mắn lên tiếng.

-Ở đây nhiều chuyện thương tâm lắm, kể mấy ngày cũng không hết chuyện. Không những người Việt Nam mình có con tệ bạc, mà bà Phi bên kia cũng bị con đưa vào đây bỏ chợ. Nghe đâu con bà ấy cũng dân học thức, họ không thèm tới thăm viếng, nhưng được cái thỉnh thoảng có gởi quà bánh vào nên cũng được an ủi phần nào !

– Ông Mỹ đằng kia, nghe đâu con cũng bác sĩ mà cũng để ông ấy nằm thở dốc, không vào đây chăm sóc cha già bệnh hoạn, lại viện cớ bận chăm sóc bệnh nhân.

Tiếng nói chuyện lao xao làm chú Lịnh mở mắt ra nhìn quanh… Loan nhanh chóng đến bên chú cầm tay Người hỏi thăm sức khỏe thật ân cần, nàng chỉ mấy gói quà bánh lỉnh kỉnh, và bình Hoa Lan xinh đẹp như muốn đem không khí Tết đến với người chú thân thương…

-Cháu đem tí quà chú dùng tạm trong mấy ngày Tết, cháu thấy chú không có cái radio để nghe tin tức cho vui; hôm sau cháu sẽ mang cái radio nhỏ vào biếu chú.

-Cháu vào thăm là chú vui rồi, đừng bày đặt quà bánh làm gì mất công, chú chưa muốn ăn gì cả, sau này sẽ hay! Không biết ở đây, người ta có cho mang hoa vào không, vì sợ bệnh nhân bị dị ứng, cháu mang về để chưng Tết đi ! Và nữa, chú còn mệt lắm, nên không dậy nổi mở đài được, cháu đừng bày đặt mua bán gì mà tốn tiền vô ích! Với giọng thều thào, Loan ghé sát vào mặt chú mới nghe rõ lời chú nói.

Hai chú cháu, chuyện trò một lát, Loan thấy chú còn mệt nên để chú nghỉ ngơi. Gần một giờ sau, Loan chào chú ra về và không quên chào hai người đàn bà:

-Xin chào hai bà, hai bà đừng buồn chuyện thiên hạ mà mệt ! Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, con người cũng thế, kẻ xấu người tốt khôn cùng. Gieo gió thì sẽ gặt bão, tôi về sẽ viết những câu chuyện hai bà kể, và lần sau vào thăm chú tôi, tôi sẽ tặng sách hai bà đọc.

-Cô về bình yên, hẹn gặp cô sau, hai người đàn bà tranh nhau nói.

-Tôi thích đọc sách lắm, hy vọng lần sau sẽ đọc sách cô viết. Chúng tôi sẽ kể thêm nhiều chuyện cho cô viết!

Tiển Loan về là những khuôn mặt ốm yếu, xanh xao của các cụ già thất thần trên những chiếc xe lăn và những nỗi buồn của thế tục:  sinh, lão, bệnh, tử và của ái, ố, hỷ, nộ vây quanh cuộc sống…

Cuộc đời cõi tạm chẳng bền đâu!
Mới tuổi thanh xuân đã bạc đầu.
Vạn vật  sắc không rồi biến hóa.
Mờ mờ ảo ảo có gì đâu! 

Nhân tình thế sự cõi phù du,
Chớ để cho nhau nỗi hận thù.
Lão bệnh tử sinh vòng lẩn quẩn,
Ai rồi cũng đến chố thiên thu.

Vợ chồng con cháu nghĩa ân sâu,
Trọn đạo thủy chung đạt nguyện cầu.
Vật đổi sao dời dù khổ nạn,
Sắt son một dạ chớ quên nhau…

Nguyễn Ninh Thuận

 




Nhà Văn Chu Tấn (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn Chu Tấn

 

chu-tan
Sinh năm 1939 tại Nam Định Bắc Việt
1958 Theo học khóa 7 sĩ quan trừ bị Thủ Đức
1963 Từ binh chủng pháo binh đổi sang quân chủng không quân
1968 -1969  Giám đốc tại bộ Thông Tin- Chủ bút nguyệt san Lý Tưởng  Bộ Tư Lệnh Không Quân
1972 Tốt nghiệp đại học văn khoa Sài Gòn.
1973 Cấp bậc Trung Tá không quân- Tham mưn phó chiến tranh chính trị sư đoàn 4 KQ Cần Thơ.
1975-1984 Tù cộng sản Việt Nam, qua nhiều trại cải tạo từ Nam ra Bắc.
1987 Vượt biên đến định cư tại San Jose Hoa Kỳ
1989 Sáng lập viên Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính trị Việt Nam
1990- 1996  Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Tự Do (2 nhiệm kỳ)
1995 Sáng lập viên Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại
1997-2000 Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu Cộng Đồng Việt Nam Bắc California
Tác Phẩm đã xuất bản:- Tiếng hát trên cánh đồng xanh 1972 (Tuyển tập truyện ngắn)
– Thắp Sáng Quê Qương 1991(-Tuyển Tập Thơ Văn Hội Văn Nghệ Sĩ  Việt Nam Tự Do- Viết chung)
–  Vận Động Lịch Sử 1991 (Biên Luận Chính Trị -Viết chung)

Tác Phẩm sẽ xuất bản:

Tuyển Tập  Chu Tấn  – Đạo Học -Văn Hóa- Chính Trị.
Sống thuyết Nhân Chủ Việt Nam.
Đạo Sống Việt
Sống Việt Tinh Hoa
Sống Việt Thông Luận.
Sống Việt Đại Toàn.

*****

Nhận Định Về Hai Bài Thơ Ghen  Trên Thi Đàn Việt Nam

 

Nửa thế kỷ trước đây, “Thi đàn” Việt Nam đã xuất hiện một bài thơ “Ghen” của thi sĩ Nguyễn Bính đã từng làm say mê người đọc, thì ở cuối thế kỷ 20 và đầu  thế kỷ 21 này, cũng nẩy sinh một bài thơ “Ghen” của thi sĩ Chu Toàn Chung là cháu nội của Danh Sĩ Chu Mạnh Trinh ,người nổi tiếng trong văn học nước nhà ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.Trong bài này xin quí vị yêu thơ và thích thơ và nhất là những “tâm hồn đồng điệu” cùng thưởng thức 2 bài thơ “ghen”, một của thi sĩ  Nguyễn Bính  và một của thi sĩ Chu Toàn Chung.

BÀI THƠ GHEN CỦA THI  SĨ NGUYỄN BÍNH:

Trong thất tình của con người (Hỷ Nộ,Ái Ố Lạc, Ai,Dục=Mừng, Giận,Yêu, Ghét,Vui,Buồn, Tham muốn) chúng ta không thấy người xưa đề cập đến ghen, có lẽ vì “Ghen” là một phạm trù tình cảm đặc biệt .Ghen tuy bắt nguồn từ “Yêu”-Có Yêu nên mới ghen,-nhưng ghen lại chi phối  gần như trọn vẹn cả thất tình ! Thực vậy, khi đã ghen,thì người ta dễ nổi cơn “thịnh nộ” ,ghét cay ghét đắng kẻ tình địch! Và đồng thời lo sợ kẻ tình địch cướp mất người yêu của mình! Nếu thắng được tình địch thì vui mừng,(Hỷ lạc) nếu bị thua kẻ rình địch thì bi ai buồn khổ suốt đời, có khi đi đến tự tử! Nhưng động cơ chính yếu của ghen lại chính là “Tham dục”muốn chiếm hữu trọn vẹn người mình yêu!.

Bài thơ Ghen của thi sĩ Nguyễn Bính hầu như ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần đọc qua và đều cảm thấy thích thú và mỉm cười vì thấy thi sĩ sao mà ghen quá đỗi,quá thể.

Tác giả mở đầu bài thơ ghen bằng cách nói thẳng với người tình:

“Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi”

Đã là người yêu của thi sĩ thì không được quyền “cười” với ai, và cũng không được “nhìn” ai và chỉ được quyền cười, được quyền nhìn ngắm thi sĩ mà thôi…Điều này cũng dễ hiểu,vì tâm lý những kẻ đang yêu đều không muốn người tình của mình cười nói thân mật với những người khác .Như vậy là em chưa yêu tôi sao?Em chưa trân trọng với tình yêu của chúng ta sao? Em đừng cười với ai nữa nhé! Nụ cười của em đáng gí hơn ngàn vàng sao em lại có thể cười với“thế nhân”như thế được? tia nhìn của em mới trìu mến làm sao! Ai được em nhìn ngắm thì quả là một đẵc ân mà ngoài anh ra, còn ai xứng đáng với cái nhìn đó của em?

Thi sĩ Nguyễn Bính nổi tiếng về những bài thơ bình dị,chất phác nói lên tâm hồn của những người “nhà quê” .Có người chê thơ Nguyễn Bính dễ dãi “như vè”, nhưng đây là một sai lầm lớn.Tuy thơ Nguyễn Bính không gọt rũa chau chuốt,bong bẩy, nhưng tác giả  có bút pháp và cách nhìn riêng đi thẳng vào tâm hồn  người đọc, nên rất nhiều người đọc thơ Nguyễn Bính ,say thơ Nguyễn Bính, thuộc nằm lòng thơ Nguyễn Bính.Nêu chỉ là “vè”thì làm sao cảm được lòng người sâu đến như thế ?T

Trong thơ Nguyễn Bính còn chứa cả một cái hồn của quê     hương dân tộc ,điển hình như bài thơ Chân Quê:

Hoa chanh nở ở vườn chanh
Thày u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.Hai nhà phê bình thơ khá nổi tiếng là Hoài Thanh và Hoài Chân trong cuốn Thi Nhân Việt Nam đã viết về Nguyễn Bính như sau: “Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta vẫn thấy trong vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình đơn giản của ta. Giá Nguyễn Bính sinh ở thời trước, tôi chắc người đã làm  những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm…”

Nhà văn Vũ Bằng thì cho rằng: “Nguyễn Bính là một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư như chính thi sĩ đã xác nhận:

 “Nắng mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Theo nhà văn Vũ Bằng thì thi sĩ ăn ở 2 điểm:

Anh đã nói lên tiếng nói chân thật của lòng với lời lẽ bìnhthường của dân gian không úy kỵ  không kênh kiệu.

Anh đã nhắm đúng vào một cái bệnh chung của loài người là cái bệnh tương tư, người dân mất nước tương tư quê hương,người con gái lấy chồng tương tư dòng sông cũ, người đàn ông không được yêu thương tương tư người yêu lý tưởng, người bị tình phụ tương tư người đã phụ mình …Có thể nói tất cả văn thơ tiền chiến của Nguyễn Bính đều nhắm vào bệnh đó và anh nổi bật cũng vì bệnh đó .Sở dĩ như thế chính vì anh mắc cái bệnh đó thật,vì ai biết Nguyễn Bính đều không chối cãi được điều này: Bắt gặp ai anh cũng mê, mê người thương mình, mê luôn cả người không thương mình,mê người có thể yêu thương được, và mê luôn cả người không  có quyền yêu thương! Yêu quá lố, mê quá xá, rút cuộc không làm gì được thì tương tư…”

Bản chất Nguyễn Bính là người nhà quê, song Nguyễn Bính cũng là người “trót dan díu với kinh thành” nên cái ghen của nguyễn Bính cũng rất thành thị:

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
 Đừng hôn dù thấy bó hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm ngừơi

Cái ghen của Nguyễn Bính là cái ghen của người thành thị, song cũng chính người thành thị khó mà chấp nhận dược cái ghen qúa lố  của tác giả! Đã đành là thi nhân có quyền hư cấu hay cường điệu, nhưng ở đây tác giả đã đi quá xa, ghen gì mà ghen đến độ “cấm” người yêu không được ôm bó hoa tươi, không được “ôm gối chiếc” khi ngủ, nhất là không được tắm biển, khi đông người, thì cái ghen đó đã trở thành quá lố, phi lí hoàn toàn không thể chấp nhận được

Có người lại cho rằng cái ghen của Nguyễn Bính không thực , hay chỉ là cái ghen của thời phong kiến kiểu “chồng chúa vợ tôi”! Chứ thời đại vệ tinh chúng ta thì lối ghen kể trên đã trở thành lạc hậu! Nếu bài thơ này được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp thì người ngoại quốc sẽ chê người Việt Nam quá cổ hủ lỗi thời.

Đối với những người sống cùng thời với Nguyễn Bính,hay biết Nguyễn Bính quá rõ thì lại mỉm cười cho rằng: Nguyễn Bính một con người đa cảm một thi nhân theo triết thuyết “đam mê” thì chỉ có thơ tình của Nguyễn Bính là thực thôi còn ngoài ra có cái gì thực nữa đâu!

Nguyễn Bính lại là người mắc bệnh tương tư chỉ vì chàng quá nghèo, lại quá đam mê nên không ai dám yêu chàng (Vì không ai yêu nên suốt đời mắc bệnh tương tư?) mà đã không có người yêu thì TÌNH YÊU của tác giả chỉ là “ái tình bản thảo” có thực bao giờ đâu! Người yêu đã không có thực hay không thực có thì “ghen” chẳng qua cũng chỉ là cái “ghen tưởng tượng” “ghen bản thảo” đó mà! Đối với ái tình bản thảo, đối với “cái ghen trong thơ” mà chúng ta cho là “phi lý” hay “không thực” nếu tác giả còn sống chắc tác giả cũng lấy làm lạ : “Thơ của mình chỉ là sản  phẩm của tưởng tượng mà người đời lại cho là thật ,để rồi tranh cãi nhau giữa chân và  giả! Chẳng lẽ thơ mình hay đến thế sao?”

Theo đa số người vẫn cho rằng: “Đàn bà hay ghen hơn đàn ông” vì vậy mới có câu:

“Ớt nào mà ớt chẳng cay

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng”

Nhưng khi đọc thơ ghen của Nguyễn Bính mới thấy rằng: cái ghen của đàn ông mới là cái ghen tối đa:

Tôi muốn mùi hương của nước hoa
Mà cô thường sức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẫu chỉ qua đường khách lại qua
Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn khuất bên cô
Bằng không tôi muốn cô đừng gặp
Một trẻ trai nào trong giấc mơ”

Cái ghen của Nguyễn Bính không dừng lại ở chỗ đó mà còn tiến xa hơn nữa :

Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa que.
Chân cô in gót trên đường bụi
Chẳng đấu chân nào được dẵm lên!

Ghen mà cả đến làn hơi của người yêu cũng giữ độc quyền! Ghen đến mức dấu chân người yêu trên đường bụi cũng không cho ai được dẵm lên thì cái ghen đó đã trở thành cực kỳ phi lý hay trở thành tuyệt đối rồi!

Chính tác giả cũng biết mình ghen như thế là “quá lố” “ quá phi lý” quá sai ! Nhưng thi sĩ không phải như người tỉnh cơn mơ, cơn say “Tỉnh cơn ghen” …Ở đây  tác giả giải nghĩa cái ghen của mình  và đi đến đúc kết  lớn hơn:

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi!

Điểm lại bài thơ ghen của Nguyễn Bính từ đầu ta thấy tác giả đua ra một loạt những mệnh lệnh nào tôi muốn…cô đừng…..

Từ chỗ không được cười, không được ngắm nhìn người khác…đến không được nghĩ đến ai, không được ôm hôn bó hoa tươi, không được ôm gối chiếc ngủ…không được tắm khi biển đông ngừoi, không được sức nước hoa… hay nếu có, thì nước hoa đó không làm ngây ngất người qua lại, dù họ chỉ là khách qua đường…cũng không được luôn!Ban đêm ngủ ngừơi yêu không được quyền mơ…, nếu mơ …thì cấm không được gặp một chàng trai trẻ nào trong…mộng! Thậm chí làn hơi cô thở nhẹ …cũng không được làm ẩm áo khách chưa quen….và dấu chân người tình đi trên đường…không ai được dẵm lên!

Sở dĩ có những đòi hỏi quá quắt ,những mệnh lệnh tình yêu buộc cô nhân tình của thi sĩ khắt khe như vậy…chỉ vì QUÁ YÊU, QUÁ SI TÌNH.Nguyễn Bính  quan niệm NGƯỜI YÊU LÀ TẤT CẢ Nhưng tất cả của riêng chàng thôi!

Nói tóm lại, cái ghen của Nguyễn Bính là “CÁI GHEN TUYỆT ĐỐI” VÀ CHIẾM HỮU HOÀN TOÀN NGƯỜI YÊU TRÊN CÁC MẶT TƯ TƯỞNG,TÌNH CẢM VÀ TRONG MỌI SINH HOẠT HÀNG NGÀY.

BÀI THƠ GHEN CÓ NHAN ĐỀ NHẮC NHỞ EM CỦA CHU TOÀN CHUNG:

Cũng một đề tài “GHEN” song thi sĩ Chu Toàn Chung có lối diễn tả khác:

          “Em giờ bên ấy có vui không
          Nhớ giữ dùm anh cặp má hồng
          Đừng để nắng hè vương mái tóc
          Hay buồn vời vợi mắt mùa đông

Mở đầu bài thơ, tác giả đã thăm hỏi người yêu ,thi sĩ tỏ ra rất “ga lăng” săn sóc người yêu.Nếu Nguyễn Bính gọi người yêu bằng “Cô nhân tình”  thì trái lại Chu Toàn Chung thương yêu trìu mến  gọi người yêu bằng em hay trang trọng hơn gọi là Người (chữ người viết Hoa).

Văn hào Victor Hugo quan niệm:” Yêu là tin một nửa” vì có ai yêu mà không băn khoăn thắc mắc, không phập phồng lo sợ mất người yêu? Khi đang yêu cho dù tự tin đến đâu những kẻ yêu nhau vẫn e ngại một người thứ ba, một tình địch nào đó đến tán tỉnh người mình yêu, nhất là xa mặt cách lòng…

Nếu Nguyễn Bính “ghen” bằng cách đưa ra những mệnh lệnh tình yêu thì Chu Toàn Chung chỉ khéo léo tế nhị đưa ra ngững lời nhắc nhở, cho dù là điều tối kỵ chăng nữa, thi sĩ cũng không bao giờ có lời nói, cử chỉ làm “phật ý” người yêu hay làm người yêu “tự ái” .Trái lại còn tôn vinh người yêu nữa.

“Cẩn thận nghe em cả nụ cười
              Đề phòng kẻ lạ ngắm môi tươi
              Và điều tối kỵ anh thường nhắc
              Đừng để cho ai tán tụng người

Từ những kiếp xa xôi nào,Thi sĩ và Giai nhân bao giờ cũng là kẻ “NÒI TÌNH ĐỒNG ĐIỆU” ( Chũ dùng của Thi Sĩ Chu mạnh Trinh)

               Giai nhân danh sĩ mấy người
               Bốn phương tâm sự một trời cố đô

(Thơ Vũ Hoàng Chương)

Thi sĩ có người yêu tuyệt vời nhan sắc, khi nàng đi ra ngoài biết bao nhiêu người chiêm ngưỡngNàng chẳng là “vưu vật” của thế gian sao? Nhà thơ thầm lo lắng là phải:

Những lúc em đi dạo một mình
               Sơ sài trang điểm đủ vừa xinh
               Vì em lộng lẫy anh thừa biết
               Đá cũng thầm ghen chuyện chúng mình

Như tất cả mọi người yêu trên thế gian “có yêu nên mới ghen” có yêu nên sợ mất người yêu! Yêu là tham lam ích kỷ, yêu là phập phồng lo sợ,yêu là tham dự vào một cuộc hành trình không biết có nguy hiểm không nhưng đầy bất trắc! Nàng Kiều khi xưa yêu Kim Trọng cũng hết sức lo lắng:

“Bây giờ tỏ mặt đôi ta
                Biết đâu rồi nữa chẳng làchiêm bao?

(Kiều)

Theo quan điểm và thi pháp giữa Nguyễn Bính và chu Toàn Chung có khác biệt song cả hai thi sĩ có một điểm giống nhau là không muốn người mình yêu đêm nằm mơ thấy một “đối tượng” khác .

“Em cũng đừng ra tựa gố mai
                Kẻo anh hàng xóm ngó sang hoài
                Về đêm khi ngủ em đừng để
               Giâc mộng thiên thần nhập bóng ai

Với Chu Toàn Chung yêu không phải là ích kỷ, mà còn là “DÂNG HIẾN VÀ TÔN VINH” người mình yêu.Đây là điểm rất đẹp và cũng rất nhân bản, rất người của Chu Toàn Chung .Nhưng đâu phải chỉ một mình thi sĩ biết ngưỡng vọng người yêu, biết đâu một tình địch nào khác cũng đang tìm đến để tán tỉnh ngưỡng vọng người mình yêu thì sao? Nếu yêu đồng nghĩa với ân cần nhắc nhở …như sợ tình yêu chắp cánh bay cao…Tình càng say đắm, càng trở nên mong manh ….Thi sĩ như sợ mất đi nhũng gì quí báu nhất đời:

Này nữa Anh cần nhắc nhở thêm
                     Phòng Em thường trực nhớ buông rèm
                     Bởi Anh không muốn người qua lại
                     Dừng bước nghiêng mình ngưỡng vọng Em”

Nhắc nhở thì vẫn nhắc nhở, song thi sĩ Chu Toàn Chung vẫn tràn đầy tin tưởng là một ngày không xa người yêu sẽ cùng mình tái ngộ. Thi sĩ tự hỏi mình, không biết nhắc nhở như vậy có là một hình thức ghen hay không? Hình như mình cũng đang “Ghen”?

 

“Nhắc nhở em yêu thế đủ rồi
                      Chờ ngày Hoàng hậu trở về ngôi
                      Hình như anh cũng ghen rồi đấy
                      Ghen để em cười nở ngát mội.”

Điểm lại toàn bài thơ “NHẮC NHỞ EM” của thi sĩ Chu Toàn Chung tuy nhan đề bài thơ có khác, nhưng thực chất vẫn là bài thơ “GHEN”

Nếu cái ghen của Nguyễn Bính là cái ghen có tính cách “phi lý không thực” không thể đem áp dụng ngoài đời mà chỉ là sản phẩm của tưởng tượng….cái ghen lãng mạn ,hướng về Tyết Đối chiếm hữu toàn diện người mình yêu …thì trái lại cái ghen của Chu Toàn Chung không cực đoan, không phi lý, hay quá lố mà là cái ghen tiềm ẩn bên trong của tất cả mọi người chúng ta …Cái ghen của Chu Toàn Chung là cái ghen rất tế  nhị, khéo léo, Thi sĩ không hề cấm đoán đe dọa người yêu vi yêu theo thi sĩ là ngưỡng vọng, dâng hiến và tôn thờ …thì làm sao dám cấm đoán người mình yêu?Và cấm đoán người khác?Tác gỉa chỉ khéo léo nhắc nhở thôi. Đặc biệt thơ Chu Toàn Chung mỗi lần nhắc nhở là một lần tôn vinh….

Nếu chúng ta đặt mình vào phái nữ là người yêu của tác gỉa  chẳng hạn ta sẽ thấy rất cảm động ví có người yêu biết đến giá trị mình ,biết trân quí tình yêu (và còn biết ghen nữa…) nhưng là cái ghen tế nhị, đáng yêu và đáng tư hào biết mấy!

Trong phạm vì bài này, chúng tôi mời độc giả thưởng thức 2 bài thơ cùng một chủ đề “GHEN” song có nhiều điểm khác nhau ngoài ra người viết không làm công việc so sánh đối chiếu xem “ai tài hơn ai”? Vì trên phương diện nghệ thuật, thi hứng,bút pháp, cách cấu tứ,cách xử dụng từ hoa,mỗi người một khác,nhất là khi quan điểm sáng tác,mỗi người lại không giống nhau thì thật khó nếu không muốn nói là không thể nào, định giá người này hơn người kia, khi không có tiêu chuẩn nào để định giá! Làm như vậy là bất công và bất kính với tất cả cả các thi sĩ! Nói cách khác,ai thích bài thơ nào là tùy ý mỗi người. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói, cùng một  đề tài ghen, song thi sĩ Nguyễn Bính và Chu Toàn Chung đứng trên hai quan điểm khác nhau: một bên lãng mạn, tuyệt đối hóa và chiếm hữu toàn diện,một bên tương đối,cận nhân tình, dâng hiến  ngưỡng vọng và tôn vinh tình yêu….

Hai bài thơ‘GHEN”như hai bông hoa Quívà Đẹp đầy sắc hương của nền Văn hóa Văn Nghệ Việt Nam.

San Jose Thung Lũng Hoa Vàng

CHU TẤN

 




Nhà Thơ Hồng Hà (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Hồng Hà.

 

Tên thật Vũ Hồng Hà, bút hiệu Hồng Hà, Thu Hoài
Tốt nghiệp trường sư phạm văn Nha Trang – Việt Nam
Tốt nghiệp trường bác sỹ chỉnh xương  tại San Jose, CA
CEO công ty Nutrition & Beauty, LLC,  San Jose, CA – USA

_ak38381

Ngõ Cụt

Tôi lạc bước vào ngõ hẻm
Vừa hẹp vừa sâu,
nghe đâu cuối đường là quán nhỏ
không bán đường, nước ngọt hay hoa quả

Vài cuốn sách
cái xe cũ – hình như là đồ hiệu
lắm kẻ ngó vào nhưng ngại dừng chân
Người cao, sợ phải uốn éo cho vừa
đành quay lui trong nuối tiếc
Người thấp, không biết nên mang guốc hay giày da cao
để không dị hợm
Ngõ hẻm hay ngõ cụt?
khi âm thanh, ánh sáng nơi đó rất lung linh
và nội thất cũng đầy huyền ảo
Ban ngày hé mở chào bình minh
tối về lạc lối giữa màn đêm
với vườn thơ đầy mộng ảo
Cuối cùng tôi gặp em
như nàng tiên cá trong cổ tích
Nàng hiện lên chòang vai ôm hôn tôi thắm thiết
rồi chuồi xuống vẫy vùng,
và chìm lặn vào đại dương cách biệt.
Tôi rã rời
bước đi khật khưỡng
lòng vòng trong ngõ cụt…
02/05/2013
Hồng Hà

 

 

 

 

Sự Sống Không Chỉ Là Hơi Thở

Anh ơi,
Nhớ làm gì quá khứ nhục nhằn
để tương lai phủ lấp mây đen!
Quá khứ nhục nhằn
đã kết chấm hết lúc nửa đêm của ngày hôm qua rồi anh ạ.

Khi cuộc sống quanh ta,
nàng thơ gối đầu ngủ vùi trên cánh tay vệ sỹ
Và anh có biết
sau lớp mây kia còn lấp ló một vầng trăng?
Là vầng trăng khuyết giữa bầu trời đầy sao, lung linh, lơ lửng….

Nhưng anh ơi, xin đừng say
Vì say ham bắt bóng trăng mà dương gian sớm mất một thi tài Lý Bạch
Hãy là một phi hành gia vững chải
vượt không gian,
đi vào trong Trăng
ghì lấy chị Hằng
để minh chứng sự sống không chỉ là hơi thở

Nếu không có một phi thuyền,
xin hãy trộn xi măng nhiều vào trong cát
để xây một lâu đài
Đặt cửa chính ở Đông Nam, cửa sổ hướng về Tây Bắc
để mỗi sáng mùa hè,
chào đón mặt trời từ hừng đông trên bãi biển
và đêm đông ôm nàng thơ xinh đẹp cùng ngắm nhìn trăng soi bên cửa sổ
Lâu đài hạnh phúc muộn màng giữa trần gian bội bạc
Và lần nữa minh chứng sự sống không chỉ là hơi thở.

Hồng Hà 

 

Tôi Rất Muốn


    Tôi rất muốn đến thăm miền sa mạc
Cùng nô đùa giữa trời nắng chang chang
Co ro lạnh khi đêm khuya sương xuống
Thò đầu ra (Ngoài lều), đếm sao dưới trăng vàng

Tôi rất muốn lang thang chiều phố lạ
Bên ai, nhìn lữ khách… bụi đường xa
Tựa vai nhau bước đều trên biển vắng
Ngắm hoàng hôn, mây tím bóng chiều tà

Tôi rất muốn lên tận cùng đỉnh dốc
Từ nơi đây nhìn xuống phố người đông
Vẽ trong trí từng cành hoa, khóm  cỏ
Và thu hình đâu đó một dòng sông…

    Tôi rất muốn bên ai cùng thi họa
Đuổi khó, xua đau, ca khúc nghê thường
Diù bước nhật khoan du dương tiếng nhạc
Ngây ngất say tình, ân aí yêu thương

Thứ tôi muốn chỉ là điều giản dị
Biết bao người có được chẳng thiết tha
Xài hạnh phúc như món hàng xa xỉ
Trong khi tôi, quí hơn cả ngọc ngà!!!

Hồng Hà

 

 

 

 

Vô Đề II

Nhớ lần tôi trở lại quê xưa
Cảm xúc sao nói hết cho vừa
Hình ảnh trẻ thơ ngày đến lớp
Nay giữa sân trường phảng phất đưa

Mấy chục năm xưa cũng lối này
Người đi kẻ ở ai có hay
Đường xưa ngõ cũ nay khác lạ
Xa rồi thuở ấy, tuổi thơ ngây

Ngắn ngủi làm sao hỡi cuộc đời
Sang, hèn, đẹp, xấu … bạn hiền ơi
“Ngày đi” ví được mang tiền nhỉ
Sẽ mua tấm vé, chốn Nước Trời

“Thế giới vô thần” vẫn thế thôi
“Trần gian-Địa ngục” quá đủ rồi
Chúng ta hiệp ý…. chung lòng nhé
Yên bình quê mẹ……. ấm bạn, tôi.
10-10-2016
Hồng Hà

 

 




Nhà Thơ Thư Khanh (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Thư Khanh

thu-khanh

Thư Khanh (bút hiệu) sinh tại NAM ĐỊNH – miền Bắc Việt Nam. Bố là công chức ngành Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp .

-Bố đi tù Lý Bá Sơ. Ông Nội trong danh sách đấu tố ! –

May mắn nên đã trốn thoát lên Hà Nội và cả nhà di cư vào Nam năm 1954 .

– Vào Nam : Thư Khanh học tại trường Trưng Vương Sài Gòn – Sư Phạm Sài Gòn . Rồi được bổ đi dạy học tại các trừờng Công Lập Sài Gòn .

Kết hôn với PHAN LẠC GIANG ĐÔNG – có hai con trai và1 cháu nội  ( trai ) .

Sang Mỹ theo diện H.O của chồng

* THƯ KHANH đã tập tành làm thơ từ khi mới quen với Phan Lạc Giang Đông . Nhưng sáng tác nhiều là sau năm 2001 – sau khi Phan Lạc Giang Đông mất ( năm 2001)  : THƯ KHANH nhận phụ trách chương trình  Đọc Thơ Cho Nhau Nghe trên đài phát thanh : Sài Gòn HD Radio của thi sĩ Quốc Nam tại Seattle . Số thơ Hiện nay có trên 1412 bài thơ posted trên Web vantholacviet .org và Sài Môn Thi Đàn ,và báo giấy ĐẤT ĐỨNG của nhà văn NHẬT THỊNH& KHUÊ DUNG tại Nam CALIFORNIA .

Thơ đã in: TRĂN TRỞ

————————————————————————————————–

Ngắm Em 

 Ngắm em …- không rượu mà say ,
Bởi khuôn mặt ngọc nét mày liễu cong .
Bởi say đôi má căng hồng ,
Làn da tuyết điểm cổ tròn kiêu sa …
Miệng cười hoa vỡ thiết tha ,
Vòng eo tròn lẳn – nhấp nhô trái đào .
Mắt tình lóng lánh  vì  sao ,
Làn mi xanh  …tả biết bao cho vừa .
Nói năng “ Ngọc thốt “ : dạ thưa ,
Từng lời dịu ngọt như thơ anh làm .
*

Từ ngày anh gặp được Nàng ,
Anh say …- Say cả Sắc Hương mất rồi !!!

THƯ KHANH ( Seattle- 12- 13- 2015 )

 

 

Sáng Tinh Khôi 

Sáng sớm mở cửa ra
Thấy mình như trẻ lại
Vạn vật thay áo mới
Mặt trời dạo trên đồi .
-Đôi chim ca lảnh lót
Thông đánh nhịp cùng vui
Cành đào đang chớm nụ
Gió rì rào đơm hơi .

*

Nhánh sông dài trong vắt
Đôi mắt Ai chờ Ai …
Ta bỗng nhìn ngây dại
Buồm căng về xa xôi …
Biển xanh  hoa sóng nở
Khuôn mặt ngọc …Ai chờ …

THƯ KHANH

( Seattle- 12- 1st– 2015

                                                                                                                                                 

Ngày Sinh Nhật Em Anh Không Về Được

 

Ngày sinh nhật em – anh không về được .
Nắng quân trường thao tác …rã mồ môi
Đôi giày đinh ba tháng trời – lau vội
Áo treizy bụi bám đỏ – lên mùi
Chiếc khăn thêu em tặng anh ngày nọ
Kỷ niệm đầu – anh vẫn để ba lô
Quyển nhật ký ghi từng ngày thương nhớ
Vẫn dầy thêm dòng mực tím mong chờ
– Ngày cuối tuần anh mừng vui như Tết
Về Sài Gòn là tức tốc thăm em
Dưới gốc me … bóng Nàng đợi chung tình
Em kiều diễm – nhoẻn nụ cười má lúm …
– Dang đôi tay cho hôn vào má lúm
Gió thì thầm khen đôi bạn uyên ương
Ơi Tình yêu ! Trời đất cũng nghê thường
Chùm mây trắng bỗng dưng như trẻ lại
Đôi chim trên cao …hát bài hát mới
Đậu trên cành ríu rít chẳng bay đi …
– Thương quá đi em …Chiều tắt gần kề
Nắng hoàng hôn Sài Gòn …tuyệt đẹp …
Gió hiu hiu níu hoài không muốn tắt
Quán nước dừa … cô bé đợi đôi ta
Áo bà ba cô bé rất hiền hoà
Nụ cười mỉm mang theo nhiều dí dỏm
Cô bé Miền Nam vừa ngoan vừa đảm
Thay mẹ nuôi em vất vả từng ngày
Đôi mắt Nàng vướng vất chút thơ ngây
Già trước tuổi bởi chiến tranh tan nát !
Rồi …
– Chả lẽ chúng ta không vào quán
Suốt cả tuần HUẤN NHỤC khát mang theo
Khát môi em – hương vị ngọt tình yêu
Và khát cả ly dừa xiêm  mát lịm …
*
Ơi em yêu !
Ngày Quân Trường HUẤN NHỤC
Lỡ không về mang quà tặng cho em
Ngày sinh nhật em …
Nào có bao giờ quên
Và càng nhớ khi anh không về được !
THƯ KHANH-

(Seattle – 5- 18- 2013 – gửi về Phan Lạc Giang Đông với kỷ niệm xưa 1968)

 

 

 

DĂM VẦN THƠ

(Kính tặng thi sĩ CHINH NGUYÊN và thi sĩ Quốc Nam – Trưởng Ban tổ chức :

Quốc Tế Đại Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam – vào ng ày 14+15+16 th áng 4- 2016 t ại San Jose nước Hoa Kỳ )
Đầu đã bạc nhưng lòng chưa bạc
NỢ  VĂN CHƯƠNG còn gắn bó keo sơn .
Từng Ngày Đêm – MÓN NỢ VĂN CHƯƠNG
Cùng NỢ NƯỚC THÙ NHÀ chưa trả được .
*
Chưa trả được lòng ta còn áy náy .
Còn chập chờn trong giấc ngủ – chưa say .
-“ Này chị này anh – Này Em …
chung một bàn tay

Thề Quyết Chí thành công – Giương cao cờ Chiến Thắng !”.

THƯ KHANH ( Seattle – 9- 23- 2016 )

 




Nhà Văn TS Nguyễn Hồng Dzũng (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn TS Nguyễn Hồng Dzũng

 

hongdung

Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng sinh tại Quảng Ngãi, định cư tại Hoa Kỳ theo diện Tỵ nạn Chính trị. Tốt nghiệp Electronics Engineer in San Jose State University & Doctor of Philosophy in Business Administration in Southern California University. Công việc: SMT & QA Engineer & Product Manager cho các hãng Solectron Inc, Wellex Manufacturing Company, Pemstar Electronics Inc. Giảng sư Trường Đại học California State University Hayward, Project Diversity Screening Committee choThành phố San Jose, Quản Trị hệ Thống Vegetarian Di Lac. Sinh hoạt Cộng đồng: Phó Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành NgườiViệt tại miền bắc California (Federation of Vietnameses American in Northern California), Phó Chủ Tịch Hội Văn Thơ Lạc Việt Hải Ngoại; Chủ Tịch Tổ Chức Văn Hóa Việt Mỹ (Vietnamese American Culture Foundation VACF), Sáng lập viên Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng (The Practical Buddhism College). Chủ bút Báo Hoa Cành Nam. Chủ biên và bình luận thời sự về Chính trị, Văn hóa, Giáo dục trênHệ thống Direct T.V truyền hình Viên Thao. Và  hệ thống truyền thông Calitoday Media.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

-Nước Mắt của Biển (1992)
-PhápVũ (2008)
-TườngVân (2010)
-Búp Sen Hừng Sáng (2011)
-Chuyến Đi Biền Biệt (2012)
-Quang Trung Hồn Việt (2013)
-Kinh Thơ Diệu Pháp Liên Hoa (2015)
-Lam Sơn Hồn Việt (2016)
-Ngàn bài bình luận
-Lịch Sử Việt Truyền Hình

Tác phẩm sẽ in:

-Thân Chứng
-Hoa Nghiêm Trường Thi
-Duy Ma Cật Trong Thời Đại Kỷ Thuật Số
-Kim Cang Kinh Thi Phẩm

 

tac-pham-nhdung_6  tac-pham-nhdung_4  tac-pham-nhdung_3  tac-pham-nhdung_1

CHỮ NHO

PHƯƠNG TIỆN CHỐNG ĐỒNG HÓA TỪ THỜI BẮC THUỘC

Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng

 

Đất nước, con người, văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ hay đình chùa miếu mạo xưa nay nếu không nằm trong quy luật vô thường, ẩn hiện, tương đối thì không bao giờ có cái thường và tuyệt đối. Nếu không có cái thường và tuyệt đối, thì ngày nay ta chẳng bao giờ được gặt hái một kết quả  cao thượng, vì vậy mà sự vô thường và cái tương đối là sự tiến hóa của muôn loài, bao gồm Tổ quốc và Dân tộc từ ngàn xưa đến tận ngày nay.

Nếu chúng ta lấy mốc thời gian khởi thủy dòng Việt tộc từ họ Hồng Bàng với mười tám đời vua Hùng Vương truyền ngôi trên đất nước Văn Lang (1) thì năm tháng khởi thủy nhất định vẫn là một sự bàn cãi của các sử gia chưa được thống nhất. Theo sách sử ghi chép thì vua Hùng Vương thứ mười tám có người con gái Mị Nương xinh đẹp đến tuổi cập kê nên Thục Phán là vua nước Âu Lạc muốn hỏi làm vợ, Vua Hùng không gả khiến cho Thục Phán tức giận gây chiến, Vua Hùng Vương cậy mình có tinh binh dõng tướng mà lơ là việc quốc phòng liền bị Thục Phán khởi binh đánh thắng năm 257 trước Tây lịch, sát nhập Văn Lang vào Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương đóng đô ở Phong Khê, xây thành Cổ Loa tại Đông Anh, Hà Nội.

Bấy giờ ở nước Tàu có vua Tần Thỉ Hoàng thống nhất thiên hạ khắp phương Bắc nên muốn bành trướng đất nước về phương nam bèn sai tướng Đồ Thư đem binh đánh lấy đất Âu Lạc cùng các bộ tộc Bách Việt. An Dương Vương chống cự không lại nên chấp nhận thần phục nhà Tần. Đồ Thư chia đất vừa lấy được ra làm ba quận là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận; người dân Bách Việt không quy phục nên chống lại người Tàu, giết chết Đồ Thư. Bấy giờ vương triều nhà Tần phương bắc suy vi, giặc giã nổi lên chống triều đình và quan quyền nên loạn lạc xãy ra khắp cùng trong thiên hạ.

Đất Âu Lạc của An Dương Vương phát triển trở lại và cậy có nỏ thần trong thành Cổ Loa nên ỷ y không lo canh phòng, Quan Thái Úy quận Nam Hải là Triệu Đà lập mưu với ý đồ thôn tính Âu Lạc mà không thành công nên dùng kế kết nghĩa hòa thân bằng cách cho con trai là Trọng Thỉ sang cưới Mị Châu tức con gái An Dương Vương để làm nội gián. Sau khi biết nỏ thần là bảo vật chống giặc nên Trọng Thỉ tráo đổi và quay về Nam Hải tường trình việc quân bị. Triệu Đà biết rõ cơ mật liền đem quân đánh lấy Âu Lạc năm 207 trước Tây lịch, lập ra nước Nam Việt, xưng là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung.

Thời điểm Triệu Đà lập quốc thì nhà Tần suy yếu, Lưu Bang nhà Hán đang phát triển vương triều, nước Tàu đại loạn, bản thân Triệu Đà là người Tàu, làm quan cho nhà Tần nhưng muốn kiến tạo Nam Việt là quốc gia độc lập tự chủ ở phương nam nên thiết lập triều chính, pháp luật, văn hóa, chữ viết giống với người phương bắc. Trong suốt 70 năm trị vì, Triệu Đà đã áp dụng những tập tục phong hóa gần như tương đương với vương triều nhà Tần, nhà Hán bên Tàu, đặc biệt là cách viết chữ Hoa  [花] một loại chữ tượng hình, tượng thanh vuông vức rất đẹp như các đóa hoa nên được gọi là chữ Hoa. Năm 137 trước Tây lịch thì Triệu Đà băng hà hưởng đại thọ 121 tuổi, truyền ngôi cho Triệu Văn Vương, Triệu Minh-vương, Triệu Ai-vương và cuối cùng là Triệu Dương-vương cả thảy được bốn đời. Triệu Dương Vương làm vua được chừng một năm thì vua Vũ Đế nhà Hán bên Tàu sai Phục ba tướng quân Lộc Bác Đức và Dương Bộc đem năm đạo quân đánh lấy Nam Việt, triều đình chống lại mãnh liệt nhưng bị thua và bị sát hại tất cả, nước Nam Việt bị người Tàu đô hộ từ năm 111 trước Tây lịch, đổi tên là Giao Chỉ Bộ.

Mục đích của triều đình nhà Hán là muốn thôn tính Nam Việt, sát nhập vào nước Tàu hay còn gọi là đồng hóa cùng dòng tộc nhà Hán với nhau. Đây là tính tự nhiên của một dân tộc nhỏ hơn về diện tích, ít dân hơn về chủng tộc, thiếu văn minh hơn về nhân văn trong sự giao tiếp thường nhật. Tuy nhiên người Hán không đủ sức để làm việc này bởi lẽ số binh lính và quan lại người Tàu không nhiều để áp đảo số lượng dân chúng tại địa phương nên thiểu số phải phục tùng đa số, do vậy mà cuối cùng là những kẻ xâm lược muốn tồn tại phải chấp nhận theo học, thực hành những gì mà dân bản xứ đang sử dụng tại địa phương. Người Nam Việt chẳng những không mất đi bản sắc dân tộc mà còn được tiếp nhận thêm một số tập tục, cách thức hay ho của những kẻ muốn sang đồng hóa.

Các quan lại người Hán dùng Hán [漢]tự trong các văn kiện, sớ sao, ấn chỉ v.v..nhưng không cần phải cưỡng bức bởi vì chữ Hán bấy giờ tức chữ Hoa trước kia đã được lưu chuyển, giao dịch công văn, ngôn tự truyền đạt từ thời vua Vũ vương Triệu Đà nên từ tầng lớp thượng lưu trí thức đến các hương mục, sĩ tứ thứ dân đều không bị áp lực cưỡng chế, thỏa mái trong thông tri và phát âm theo địa phương mà kẻ xâm lược lại ngẫn ngơ không hiểu nỗi.

Trên thực tế đồng hóa giữa hai dân tộc với nhau diễn ra trong hình thức hòa trộn nền văn hóa, kẻ nào mạnh hơn, nền văn hóa hấp dẫn hơn, đông dân hơn thì đối tượng kia ít dân hơn, lạc hậu, không có bản sắc văn hóa riêng sẽ bị phụ thuộc. Tiếng nói là một công cụ quan trọng nhất để định hình một dân tộc, trong cùng một nhóm, một bộ tộc hay một cộng đồng thì ngôn ngữ gốc là một sợi dây vô hình nhưng thiêng liêng thần thánh tuyệt vời trói buộc những con dân của bộ tộc thành một sắc thái đặc thù riêng biệt. Mất đi ngôn ngữ chính gốc sẽ là hiện tượng đồng hóa với dân tộc mà mình đang sử dụng ngôn ngữ đó, nên bản sắc dân tộc gốc sẽ bị mai một và biến mất theo thời gian. Do đó, tiếng nói là một thành tựu của văn hóa, bảo tồn tiếng Việt là bảo tồn giống nòi, bảo tồn văn hóa và con người thuần chủng.

Từ năm 111 trước Tây lịch người Hán thực hiện ý đồ thôn tính Nam Việt bằng nhiều kiểu xuyên qua ngành học thuật, văn hóa, cách sống v.v.. nhưng ngôn ngữ vẫn là phương tiện truyền đạt dễ dàng làm cho sự đồng hóa giữa hai dân tộc tiến nhanh hơn; tuy vậy tổ tiên chúng ta đã phát hiện thâm ý này sớm hơn những mưu mô của đám quan lại nhà Hán, bởi lẽ từ thời Triệu Đà, tiếng Hoa được sử dụng trong nền giáo dục đại chúng như sổ sách, công văn, chiếu chỉ đều được viết bằng tiếng Hoa, ông cha ta đã dùng văn tự mà không phát âm theo Tàu, ngược lại nói và đọc theo âm Nam Việt thuần chủng. Ví dụ chữ “Việt Nam” khi viết đều giống nhau nhưng lúc phát âm thì chỉ có người Nam Việt đọc là Việt Nam còn người Tàu có nghe cũng không hiểu, trừ khi đọc theo âm Quảng Đông là “Dụyt nàm”.

Trước khi người Hán muốn đồng hóa dân tộc Nam Việt thì chữ viết theo hình vuông được người dân đặt tên là chữ Nho [儒], nghĩa là chữ của kẻ có học hành, có kiến thức. Cũng nên lưu ý rằng chữ Hoa có từ thời thượng cổ, đời nhà Thương, chế tác qua các triều đại trước đời nhà Hán cả năm bảy thế kỷ theo sự  cấu tạo bởi sáu nguyên tắc gọi là lục thư gồm Tượng hình, Chỉ sự, Hình thanh, Hội ý, Chuyển chú, Giả tá.

-Tượng hình là dùng phương pháp vẽ sự vật và hình ảnh để tạo ra chữ viết. Ví dụ chữ mục [目] là mắt phải vẽ sao cho giống con mắt.

-Chỉ Sự là ta suy tưởng ra rồi theo khái niệm trừu tượng về những sự vật vô hình. Ví dụ chữ tam [三] là ba có ba gạch ngang.

-Hội ý là chữ được nối từ hai loại Tượng hình và Chỉ sự ở trên, thêm vào nét chấm, phết thì ra chữ mới. Ví dụ chữ vương [王]có thêm dấu chấm trên đầu là chữ chủ [主] hay dấu chấm bên phải là thành chữ ngọc [玉]. Chữ lâm [林]là rừng dùng hai chữ mộc [木] ghép lại ngụ ý nhiều cây hợp lại tạo thành rừng.

Hình thanh là dùng phần dấu hiệu chỉ ý nghĩa và phần khác thì chỉ âm. Khi muốn viết chữ khác thì có thể thay đổi hình và giữ âm lại. Ví dụ chữ hà [河] là sông gồm bộ thủy cọng với chữ khả thành ra chữ hà.

-Chuyển chú là những chữ cùng chung bộ chữ, có ý nghĩa tương đồng, bổ sung cho nhau.  Ví dụ các loại chim bay đều dùng bộ điểu [鳥] rồi thêm vào cho ra các chữ thuộc về loài có cánh, biết bay như chim phụng [鳳]hoàng. Chữ trường [張]là dài và chữ trưởng [長]là lớn tức là trưởng thành. Do đó hai chữ trường và trưởng cùng một ý nhưng thêm nét cho rõ nghĩa.

– Giả tá là loại chữ mượn âm của chữ đã có sẵn để đặt ra chữ mới cho một sự vật vừa xuất hiện, nói lên ý nghĩa mới chứ không tạo chữ mới. Ví dụ chữ lệnh [令] trong mệnh lệnh mượn làm chữ huyện lệnh. Chữ đạo [道]là con đường cũng viết thành chữ đạo lý [道理]hay đạo đức [道德].

Người Nam Việt từ thời Triệu Đà đã mượn lối viết lục thư nêu trên làm phương tiện truyền thông giao dịch từ triều đình trung ương đến các quan lại địa phương và dần dần lan rộng ra quần chúng. Chữ Nho chính là chữ Hoa nghĩa là chữ đẹp đẽ, vốn chỉ những người học hành, những người có kiến thức, thường được dùng để nói về Nho gia, Nho giáo, Nho học, Nho sinh. Từ khi đạo Khổng, đạo Lão truyền bá vào nước ta với các pho sách Tứ thư(2), ngũ kinh(3), người Việt gọi là sách Nho bởi vì văn hóa Việt bị ảnh hưởng về tôn chỉ của đức Khổng Tử để xây dựng con người và xã hội qua việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; và muốn đạt mục đích trên, ta cần giữ luân lý Tam cương (vua đối với quân thần, cha đối với con, vợ đối với chồng), nam giới cần có Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), nữ giới cần có Tam tòng (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) và Tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh). Bởi vậy mà người theo học thuyết này cũng được gọi là đạo Nho.

Từ thời đại Hồng Bàng, nước ta cũng có những ký hiệu để biểu thị truyền thông như hình chim cò, hoa sao, nhật nguyệt. Tuy nhiên chúng ta chưa có đủ thời gian phát triển chữ viết thành một hệ thống riêng lẽ thì thời kỳ Triệu Đà từ năm 257 trước Tây lịch lại phổ biến chữ Hoa nên dân ta có được một phương tiện giao dịch phong phú, còn gì tốt cho bằng. Hơn nữa tổ tiên chúng ta cần giao thiệp, buôn bán qua lại với nước Tàu nên chữ Nho phát triển rất nhanh để dùng làm phương tiện đàm thoại bằng chữ viết là chuyện bình thường. Có thể ý muốn của Triệu Đà phổ biến chữ Hoa cho dân chúng sử dụng mang mục đích đồng hóa và đô hộ toàn dân thành một khối, nhưng sức mạnh văn hóa của Nam Việt đã khiến cho triều đình và quan lại phải nương theo phong tục, tập quán, ngôn ngữ và cả niềm tin của tòan dân mà giao thoa trong cai trị để hòa nhập, cuối cùng con cháu Triệu Đà bị Việt hóa và trở thành dòng giống bách Việt.

Từ khi Hán Vũ Đế bên Tàu sai Phục ba Tướng quân Lộc Bác Đức và Dương Bộc đánh chiếm Nam Việt, nước ta bị nhà Hán đô hộ từ năm 111 truớc Tây lịch, đổi tên là Giao Chỉ Bộ nên có người gọi chữ Hoa hay chữ Nho thành ra chữ Hán, thói quen đó đã thành thông lệ cho đến ngày nay, bởi dòng tộc Hán lớn mạnh ở phương Bắc do Lưu Bang hình thành nên mặc nhiên người đời cho đó là chữ của Hán tộc.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao từ năm 111 trước Tây lịch nước Nam Việt bị các triều đại phương bắc thay nhau cai trị, dân tộc Hán đã muốn đồng hóa người dân phương Nam thành một quận huyện của Tàu, muốn biến cả một đất nước thuộc dòng họ Bách Việt thành một bộ tộc trong đại gia đình Hán tộc, muốn xóa sổ dòng giống Lạc Hồng trên bản đồ thế giới, nhưng rốt cuộc sau một ngàn năm thống trị, người dân Nam Việt lại nổi lên giành lấy chủ quyền mà điển hình là Bà Trưng năm 39 sau Tây lịch, Bà Triệu năm 258; đến cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm của Ngô Vương Quyền năm 938 đuổi quân nam Hán về lại phương bắc, lập nên một thời kỳ tự chủ lâu dài với bản sắc dân tộc không hề thay đổi. Cả một ngàn năm cai trị dân Nam, đáng lẽ nền văn hóa Nam Việt dễ  thường bị nền văn hóa Hán tộc đồng hóa; nhưng điều kỳ diệu là dân tộc Nam Việt chẳng những không hề suy suyển mà còn tiếp thụ cái hay của các tập tục, phong hóa, nghệ thuật để biến thành cái rất “Ta”, rất nhuần nhuyễn hợp người phương Nam, lưu truyền được phong tục và tiếng nói riêng biệt, giữ được hồn dân tộc không bị lai căn.

Chiếc chìa khóa thần kỳ này chính là tổ tiên ta đã khai dụng chữ Nho để học hỏi và truyền tin với nhau, nhưng khi phát âm luôn dùng tiếng thuần Việt, vì vậy mà cả ngàn năm đó tổ tiên chúng ta vẫn giao tiếp thỏa mái với người Hán bằng loại chữ Nho, tức chữ Hán theo cách gọi phổ thông, nhưng khi nói chuyện thì dứt khoát là dùng tiếng Việt phiên âm hay còn gọi là âm Hán Việt; kẻ sĩ có học trong trường ốc hay chiếu chỉ văn sớ cung đình cũng sử dụng âm Hán Việt chứ chưa bao giờ dùng ngôn ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến hay Triều Châu để đối thoại lẫn nhau. Các quan lại người Tàu sang cai trị nước ta cũng dùng bút đàm để liên lạc chứ cũng ít kẻ siêng năng ráng sức học ngôn ngữ bản xứ. Do đó mà hai dân tộc dù có ở chung nhau trong một quận huyện cũng chẳng bao giờ hòa hợp với nhau, giống như nước với dầu có khi nào mà dung hòa thể nhập? Đồng hóa thì tương tự như nước với sữa, nhưng dân Nam Việt là nước còn Hán tộc là dầu mà lại là dầu lửa thì muôn đời khó hòa quyện lẫn nhau. 

Các đế quốc thực dân chiếm những nước thuộc địa đều áp chế sự đồng hóa ngôn ngữ, bởi vì chừng khoảng vài trăm năm sau thì các đế chế đó sẽ xóa ngôn ngữ bản địa mà thay thế bằng ngôn ngữ thực dân. Chúng ta nhìn nước Phi Luật Tân sau thời kỳ đô hộ bởi Tây Ban Nha và Hoa Kỳ thì ngôn ngữ dân tộc là Tagalog, một loại ngôn ngữ chính thống Filipino cũng bị thay thế bằng tiếng Anh. Nước Ba Tây bị Bồ Đào Nha chiếm làm thuộc địa từ thế kỷ thứ XV, sang thế kỷ thứ XVII cả nước nói tiếng Bồ Đào Nha mà tiếng bản địa Ba Tây trở thành cổ ngữ!. Một số quốc gia Châu Phi như Togo, Sénegan bị Pháp đô hộ và tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính thống, các loại ngữ tộc Togo, Sénegan ngày nào không một ai nhắc tới. Riêng với dân tộc Việt Nam đã bị Pháp đô hộ từ năm 1858, tiếng Pháp đã phổ biến trong các trường học sơ cấp, trung cấp từ sau khi thế chiến thứ nhất chấm dứt năm 1918; Lớp thanh niên đã bắt đầu sử dụng tiếng Pháp trong sinh hoạt, học hành, buôn bán lên đến 50%; nếu như không có những cuộc đối kháng chống Pháp nổ ra như các phong trào Văn Thân (4), Cần Vương (5),  Đông Kinh Nghĩa Thục (6), cuộc Tổng khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng (7) nổi lên chống lại thực dân Pháp thì việc đồng hóa ngôn ngữ do Phú Lang Sa (8) đề xướng dễ gì thất bại chua cay?

Tổ tiên của chúng ta từ miền nam sông Dương Tử di cư xuống phương nam nên rất hiểu những ý đồ thâm độc của bọn người phương Bắc. Chính sự hiểu biết đó mà cha ông chúng ta đã đề ra những phương cách hữu hiệu ngăn ngừa kiểu đồng hóa ngôn ngữ trước khi đồng hóa dân tộc, các kế sách hay ho dùng để gìn giữ được tiếng nói riêng biệt của nước Nam trong suốt chiều dài hơn ngàn năm bị ngoại bang thống trị là sự khôn ngoan tuyệt vời bảo toàn trọn vẹn lãnh thổ đến hôm nay.

Cũng từ sự hiểu biết đó mà trong huyết quản sâu thẳm của người phương Nam ít chịu sự khuất phục hay điều động từ người phương Bắc, vì vậy mà ý thức đối kháng đã chảy trong từng động mạch, từng sớ thịt của từng người dân Nam khiến cho dù ngàn năm đô hộ giặc Tàu mà tinh thần tự chủ, ý chí bất khuất của dân Việt lúc nào cũng hừng hực cháy. Sự mâu thuẩn giữa kẻ mạnh muốn xóa bỏ văn hóa, ngôn ngữ bản địa lại gia tăng sự hiềm khích, phản đối của dân tộc bị trị, đổ thêm dầu vài lửa cho cuộc trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm. Đó chính là bức rào ngăn cản sự đồng hóa sau ngàn năm thống trị đất Nam Việt bởi nhà Tần, nhà Hán từ phương bắc dòm xuống phương nam.

Chữ Nho là do người Việt đặt tên với hàm ý là người có học, ngưòi Tàu sẽ không biết ý nghĩa này; chữ tự nghĩa là chữ sau này dùng vào các âm ghép như Hán tự, văn tự chứ không dùng Hán Nho, văn Nho dù cùng một nghĩa như nhau. Mượn chữ viết để truyền tin là việc làm đúng đắn, bởi vì bất cứ nền văn minh nào được phát hiện thì con người vận dụng và thừa hưởng là điều thiên kinh địa nghĩa, tổ tiên ta không ngại ngùng trước việc vay mượn chữ Hoa để sử dụng trong chuyện giao tế, thông tin, nhưng quy ước cách đọc là một sáng tạo độc đáo. Mỗi chữ viết, tổ tiên ta đặt một âm Việt tương đương, vừa dễ nhớ, vừa liên tưởng đến vật dụng hàng ngày đặng mau thuộc mặt chữ. Âm Việt của chữ Hoa mà sau này đổi thành chữ Hán gọi là âm Hán Việt tức chữ Nho, vì đọc theo tiếng mẹ đẻ thì tất nhiên dễ dàng hơn học tiếng Quảng đông. Văn hào Nguyễn Du chắc không nói được tiếng Tàu nhưng có thể đọc được tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân (9) bằng chữ Nho nên sáng tác ra Đoạn Trường Tân Thanh tức truyện Kiều, một tác phẩm thi ca tuyệt trần trong kho tàng văn học nước nhà, chắc chắn sẽ sống mãi với nhân gian mà nhà văn Phạm Quỳnh của thập niên 40 trong thế kỷ XX từng nói: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước Việt còn” là một minh chứng cho kết quả cao thượng.

Một ngàn năm giặc Tàu đô hộ nước Nam Việt nhưng không đời nào tiêu diệt được ngôn ngữ bản địa, trái lại tiếng Việt lại càng thêm phong phú tạo ra các tác phẩm thi ca, nhạc kịch, liễng đối quá thâm trầm, ý nhị, âm vận lại du dương khiến người nghe tưởng như lời hát vi vu trong gió. Sự sáng tạo chữ Nho của cha ông chúng ta đã giúp cho Nam Việt tránh được tình trạng bị người Hán đồng hóa đã đành, mà nguy cơ mất đất, mất chủ quyền trong thời gian một ngàn năm Bắc thuộc không hề xãy ra. Nền văn hóa lâu đời của Việt tộc rất phong phú, dồi dào nên khó thay thế bằng một loại văn hóa ngoại lai, tinh thần xã hội và kỷ cang gia đình đã bắt rễ từ thời đại Hồng Bàng nên không thể xen kẻ bất kỳ hình ảnh khác lạ nào vào cuộc sống bình dị, mộc mạc của dân quê. Cái đình làng vốn có hàng ngàn năm trước dù nằm âm thầm dưới gốc cây đa nhưng là một cơ sở kháng sinh mãnh liệt cho bất kỳ loại ký sinh ngoại lai nào xâm nhập vào đời sống dân dã đã có từ thời Hùng Vương.

Vô hiệu hóa những âm mưu đồng hóa của người Hán là những tư duy tuyệt đỉnh của tổ tiên chúng ta. Dùng chung một ngôn ngữ là con đường đồng hóa rồi sát nhập vào nước lớn mau lẹ nhất, nhưng điều này không hề xãy ra trên lãnh thổ nước Việt xưa là bởi dân ta có chữ Nho để sử dụng, có chữ Hoa để bút đàm, cả hai phương tiện này là dòng chảy xuyên suốt đầy cảm thông giữa kẻ thống trị và kẻ bị trị nhưng lại không bao giờ hòa quyện với nhau, do đó mà chuyện đồng hóa còn lâu mới thực hiện được đối với một dân tộc có cá tính riêng, có ý chí bất khuất kiên cường, và có kinh nghiệm sống dưới nỗi hà khắc bất công bởi Bắc thuộc cả một ngàn năm đằng đẳng chua cay.

San Jose February 8-2016

___________________________________________  

Ghi Chú:

(1)Văn Lang tên nước đầu tiên của Việt Nam được thành lập và  cai trị bởi các vua Hùng.

(2) Tứ Thư là bốn tác phẩm kinh điển của Tàu gồm: Đại Học , Trung Dung Luận ngữ và Mạnh Tử

(3) Ngũ Kinh là 5 pho kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu

(4) Phong trào Văn Thân là một phong trào quần chúng do các nho sĩ Việt Nam lãnh đạo với mục tiêu “bình Tây, sát tả” để cứu nước. Phong trào này khởi phát từ năm 1864 bằng cuộc bãi thị của sĩ tử trong kỳ  thi Hương tại các trường miền Bắc và miền Trung nhằm phản đối triều đình nhà Nguyễn  Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhượng 3 tỉnh miền Đông của Nam phần cho Pháp.

(5) Cần Vương do ông Tôn Thất Thuyết – một đại thần thuộc phe chủ chiến – đưa vua Hàm Nghi ra ngoài, phát hịch Cần Vương chống Pháp năm 1888. 

(6) Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), do ông Lương Văn Can huy động để  bỏ lối học từ chương, du nhập những tư tưởng mới từ Nhật hoặc các nước tiến bộ để phát triển văn hoá, thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ thông qua các hoạt động giáo dục

(7) Tổng khởi nghĩa Yên Bái:  cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc Dân Đảng vận dụng khởi xướng ngày 10 tháng 2 năm 1930 chống Pháp.

(8) Phú Lang Sa: France, Pháp thuộc, giặc Tây

(9) Thanh Tâm Tài Nhân tên thật là Từ Văn Trường, một nhà văn đời nhà Thanh thế kỷ  XVII tác giả tiểu thuyết Kim Vân Kiều. Cụ Nguyễn Du đi sứ sang Tàu đọc được tác phẩm này nên sáng tác ra Đoạn Trường Tân Thanh tức Truyện Kiều.

 

Tài liệu:

-Lịch sử cổ đại Việt Nam; Đào Duy Anh

An Dương VươngTừ điển bách khoa Việt Nam

-Từ điển điện tử wikipedia.org/wiki/Chữ_Nho

                -Việt Sử Toàn Thư Phạm Văn Sơn, 1960.

                -http://www.taphopdongtam.org/baiviet/phubientapluc.html

               -Đại Nam liệt truyện, ghi chép về gia phả nhà Nguyễn, 

               -Lê quý dật sử, Bùi Dương Lịch 

Đại Nam Quốc sử Diễn ca  Đỗ Văn Ninh
-The Institute for Vietnamese Culture & Education

 




Nhà văn Nguyên Thanh Xuân (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn Nguyễn Thanh Xuân

 

inviteh

Thanh Xuân là một đứa con gái sinh trưởng và lớn lên tại thành phố Đalat trong một gia đình mười hai anh chị em với người cha làm Trưởng Ty Thú Y kiêm Phó Trưởng Ty Nông Nghiệp.

Từ nhỏ Thanh Xuân được đi học trường Mến Thánh Giá , Đà lạt, sau được đổi tên là trường tiểu học Thiên-Hương do các bà sơ dòng Mến Thánh Giá thành lập.

Khi đến tuổi vào trung học, Thanh Xuân được thi đậu vào Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân năm 1970 học lớp đệ thất.  Đến năm 1975, khi đất nước bị rơi vào tình trạng khói lửa, bắt đầu từ tháng 3, những tỉnh lỵ miền trung mất dần theo bản đồ và bị cộng sản chiếm đóng.  Khoảng giữa tháng tư, dân chúng ở Đà Lạt kéo nhau bỏ chạy tuy rằng không có một tiếng súng nổ.  Gia đình cha mẹ Thanh Xuân và mấy anh chị em đi đường xe đò chạy về Nha Trang bỏ lại sau lưng ngôi nhà yêu quý và bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu.  Năm đó Thanh Xuân vừa học hết lớp 11C (C tượng trưng cho môn văn chương) trường Bùi Thị Xuân.

Sau khi Viet Nam đã rơi vào tay cộng sản ngày 30 tháng tư năm 1975, cả gia đình cha mẹ anh chị em đang ở Saigon và trú ngụ tại nhà người chị thứ Ba nằm trên đường Công Lý gần phi trường Tân Sơn Nhất.

Tháng tư 1975 cả gia đình bị kẹt lại Saigon với niềm đau buồn của người dân bị bỏ rơi.  Thanh Xuân đã ghi tên vào học năm cuối lớp 12A tại trường Nguyễn Thượng Hiền và thi đậu tú tài toàn phần năm 1976.  Vì lý do gia đình cha cô làm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời trước 1975 (bọn cộng sản liệt kê vào thành phần con ngụy) cho nên Thanh Xuân không được tuyển vào đại học.

Tuổi mới 18, cô mang một tâm hồn mơ mộng như tất cả những người con gái Việt Nam trong lứa tuổi này, nhưng trong một xã hội như cộng sản thì họ chỉ muốn vinh danh dân lao động cho nên ép buôt tất cả những thanh niên thiếu nữ trong lứa tuổi 17, 18, nếu không đi học thì phải đi về vùng kinh tế mới khai phá đất để trồng trọt phát triển kinh tế cho nhà nước.

Chính vì thế khoảng cuối tháng chín năm 1977, gia đình người chị lớn âm thầm thu xếp một chuyến đi vượt biển qua đường Rạch Giá, hai người em được chọn để mang theo làThanh Xuân và người chị kế Thanh Loan.  Sự lựa chọn để dấn thân trong một cuộc ra đi mạo hiểm mà người ta thường nói: “Một sống, hai chết” đã làm cho Thanh Xuân trở nên gan dạ, chấp nhận cái chết nếu đi không lọt.

Con thuyền định mệnh đã rời Rạch Giá vào một đêm không có trăng nên tối mịt, sau năm ngày năm đêm trôi dạt trên biển khơi đã được tắp vào một đảo bỏ hoang chỉ dành cho dân tị nạn lúc bấy giờ, đó là đảo Paula Tengah nằm gần Maylasia.  Trại tị nạn lúc bấy giờ có khoảng hơn 1000 người đang chờ giấy tờ đi định cư xứ người.

Trong danh sách những người chọn đi Mỹ, gia đình Thanh Xuân thuộc diên có làm cho Mỹ thời trước và có thể nói và đọc Anh ngữ lưu loát cho nên thời gian chờ đợi chỉ có ba tháng (so với những người khác đã chờ đợi hơn một năm mà vẫn chưa thấy được gọi tên).

Đầu năm 1978, Thanh Xuân và gia đình đã đặt chân đến Mỹ, định cư tại Mountain View, California dưới sự bảo lãnh của người anh rễ và chị dâu.

Thanh Xuân bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới lạ, ban ngày đi làm cho một hảng điện tử và ban đêm đi học ở Foothill College, sau đó chuyển qua San Jose State University học về kinh doanh, và hiện đang làm địa ốc tại Intero Real Estate Almaden về buôn bán nhà cửa.

Năm 1985, Thanh Xuân lập gia đình với một người Mỹ Ed Cutshaw và có ba người con trai.  Năm 1989 nhờ sự bảo lãnh của phu quân, Thanh Xuân đã đem cha mẹ và 4 chị em còn lại qua đoàn tụ tại San Jose.

Năm 2009, khi thân phụ qua đời, Thanh Xuân đi với con trai út về Việt Nam thăm quê hương lần đầu tiên sau 25 năm xa quê hương đất tổ.  Khi trở về Mỹ, cô có một cảm hứng dâng tràn và viết hai tác phẩm đầu tay bằng hai thứ tiếng Anh và Việt ngữ với chủ đề: “Con đường đi đến giàu sang và hạnh phúc” và cuốn thứ nhì “Bí ẩn của sự thành công”.  Hai cuốn sách xuất bản qua nhà xuất bản Mỹ và đã được đưa vào thư viện toàn cầu (library of congress) và đang hiện bán qua Amazon hoặc Barn and Nobble.

Sách của cô thuộc diện tâm linh và nói rất nhiều về những định luật của vũ trụ như luật thu hút, luận nhân quả, luận cho và nhận.v.v.

Nguyện vọng của Thanh Xuân là bằng cách nào cho người đời sống và biết cách áp dụng những định luật này trực tiếp vào những lối suy nghĩ và hành động của mình mỗi ngày để tạo cho mình một cuộc sống như những ước mơ mình có sẵn.

Cô còn nói rằng mỗi người, vật hay sinh vật đang sống trong thế giới vũ trụ đều phải theo như nhau, không một ai hay một vật gì có thể đi ngược chiều.  Nếu biết cách đi thuận buồm xuôi gió thì cuộc sống trở nên đẹp vô cùng.

Thế thì tại sao con người chúng ta luôn tìm kiếm hoài mà không thấy hạnh phúc?  Tại sao bao nhiêu người mơ ước được cuộc sống giàu sang nhưng mãi hoài vẫn loay hoay cơm gạo áo tiền, sống chật vật và thiếu thốn?  Nếu bạn nào chưa hài lòng với cuộc sống hiện tại và muốn thay đổi cuộc đời, hãy tìm đọc sách của Thanh Xuân. Website:  www.xuanthanhnguyen.com hoặc vào Amazon www.amazon.com tìm tựa đề : ”A Road to Wealth and Happiness” or “ The secret to success” by Nguyen Thanh Xuan.

con-duong-di-toi-sang-giau               bi-an-su-thanh-cong

Quê Hương Việt Nam trong ký ức
Nguyễn Thanh Xuân

 

Quê hương tôi trước 1975, một hình ảnh đẹp nên thơ cho dù trong thời chinh chiến, cho dù mãnh đất quê hương Việt Nam đã bị dày xéo bởi bom đạn khói lửa như những lớp hằn trên con lưng con ngựa hoang.  Riêng tôi, có lẽ tôi chưa lớn đủ để có nhận thức được bao nỗi hoang mang lo lắng từng ngày của mẹ cha, những ưu tư của mẹ tôi nhớ đứa con trai lớn đang đi ra chiến trường không trở về thăm nhà trong những dịp tết.

Tôi còn nhớ năm 1967 khi tôi được 9 tuổi, một năm trước biến cố Mậu Thân 1968, cảnh chết chóc mỗi ngày trên Tivi và cảnh tan tóc ở cố đô Huế.  Năm đó gia đình tôi cũng hay tin anh hai tôi tử trận, ba má tôi đau buồn mà người đau khổ nhất là má tôi, bà thương anh tôi vì đó là con trai đầu lòng, má tôi khóc sưng cả mắt.

Đám tang của anh ở Sài Gòn, vìcả gia đình tôi lại ở Đà Lạt cho nên chỉ có người chị thứ ba và má tôi đi đưa đám tang của anh với một vài người thân.  Gia đình năm đó mất đi một người anh nên vắng tiếng cười, tuy tôi chỉ mới 9 tuổi, chưa đủ tuổi để hiểu được sự mất mác lớn lao đến dường nào.

Năm kế là biến cố tết Mậu Thân, Đà Lạt không ngoại lệ, mỗi ngày tôi đi học về thấy xác Việt Cộng nằm phơi trên đồi, máu me còn chưa khô.  Tôi vừa sợ vừa buồn vì không hiểu tại sao lại con người có thể giết nhau khi cùng một giống nòi.  Quê hương tôi đẹp quá nhưng cảnh tang tóc khắp nơi, gia đình nào cũng có ít nhất một người con hy sinh vì tổ quốc.  Hình ảnh mẹ ôm con chạy loạn ngoài miền trung mỗi ngày chiếu trên tivi ám ảnh vào trong đầu óc tôi.  Ngoài những buổi sáng đi học, những buổi trưa dài tôi thường đi vào rừng thông lượm củi đem về cho má tôi nấu bếp.  Những buổi trưa hè lang thang bắt bướm, bắt dế hoặc thả diều trên sân banh.

Quê hương Việt Nam của tôi, chiến tranh càng ngày càng khốc liệt khi tiến dần đến năm 1972, mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị, từng thị trấn một bị chiếm đóng và mất đi dần dần trên bản đồ, từ miền trung chạy đến miền nam và cuối cùng năm 1975, Viêt Nam đã hoàn toàn ngã gục trong hơi thở cuối cùng khi Sài Gòn thất thủ và giọng ca của Bill Cosby với bản nhạc White Christmas vang lên vào tháng tư như một dấu hiệu cho tất cả mọi người sự bỏ cuộc.

Trãi qua 10 năm lớn lên trong thời chinh chiến, năm 1975 tôi vừa mới 17 tuổi, tuổi đẹp nhất của thời con gái, tuổi vừa biết yêu và biết mơ mộng viễn vông.

Tôi thường ngồi lặng lẽ một mình để suy ngẫm về cuộc đời, tôi chưa biết yêu chàng trai nào, chỉ biết yêu quê hương và mẹ cha.  Khi gia đình phải rời bỏ Đà Lạt để về Sài Gòn năm 1975, tôi nhớ mái nhà xưa của tôi với căn phòng nhỏ, tôi nhớ cảnh mưa dầm trên Đà Lạt những ngày lội sình đi chợ với má tôi.  Tôi nhớ chiếc xe đạp mini màu đỏ và những con dốc đường Võ Tánh và hàng thông xanh.

Phải tôi là một cô gái trưởng thành hơn một chút thì đã là người yêu của lính rồi, ngôi trường Chiến Tranh Chính Trị và Võ Bị giáp lưng ngay sau sân trường Bùi Thị Xuân và cách nhau có một hàng rào kẻm gai.  Trường nữ trung học lại gần ranh giới của mấy anh chàng sinh viên trường võ bị trở thành những huyền thoại cho nhiều cuộc tình đẹp.

Tôi thường lén nhìn trộm những chàng trai oai hùng trong bộ đồng phục khi họ đi ra phố vào cuối tuần.  Dĩ nhiên mấy người chị của tôi cũng có vài người bạn phi công ghé nhà chơi, nhưng tuổi tôi lúc đó chưa được ai ngó ngàn đến.  Tôi chỉ lấp ló và nhìn trộm những anh chiến sĩ oai hùng này và mơ tưởng đến một ngày nào mình cũng sẽ sánh vai đi bên cạnh một người lính đẹp trai đó.

Quê hương tôi tuy dập vùi với chiến tranh nhưng nếu nói về tình yêu thì phải nói là một quê hương nhiều tình yêu nhất.  Bài hát “Những đồi hoa sim” nói lên cái chết của người em gái hậu phương thay vì người binh sĩ.  Bài ca “Anh không chết đâu anh” với giọng ca nức nở của Thanh Lan làm bao nhiêu người đổ lệ.  Quê hương của tôi chứa chan đầy tình yêu, đầy sự chia ly, kẻ ở người đi, hình ảnh người mẹ quê với đồng lúa chiều, hình ảnh khói lam chiều lan dần trong ống khói của từng nhà, hoặc tiếng chó sủa trong đêm làm cho người mẹ có cảm giác lo âu không biết Việt Cộng có về bắt con trai bà đi theo chúng.

Tình yêu quê hương nói rất nhiều về tình mẹ thương cho con trai đi đánh trận nơi xa và trông đợi con từng ngày.  Tình quê hương nói về những người chiến sĩ lấy trăng làm đèn để viết thư tình cho em gái hậu phương.  Tình cảnh của cô gái cầm trong tay tấm thẻ bài, quấn trên đầu vành khăn tang trắng, đứng bên ngôi mộ người yêu với dòng lệ tuôn tràn.

Hình ảnh của quê hương tôi với những nét mặt u buồn của người thua trận, khi mấy anh lính Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ súng khi thấy đoàn xe tăng của Cộng Sản lăn vào đường phố Sài Gòn. Tôi không thể nào cầm được nước mắt khi chứng kiến một vài người lính trẻ vào nhà xin quần áo thường dân để thay bộ áo lính còn đóng đầy bụi ngoài chiến trường.

Nói về quê hương và tình yêu thì không bút mực nào tả cho xiết.  Tôi đã là một cô gái xuân thì đang ở tuổi mộng mơ thì phải trút bỏ chiếc áo dài trắng, xếp bút nghiên để bỏ nước ra đi trong một đêm tối.  Bước lên chiếc ghe nhỏ để vượt biên bằng đường biển.  Tôi đã bỏ lại sau lưng quê hương tôi, cha mẹ và anh chị em tôi để lên chiếc tàu định mệnh.

Đêm hôm đó, vào khoảng cuối mùa thu năm 1977 tại Rạch Giá, trời tối đen như mực vì họ lựa ngày không có trăng để dễ dàng tránh mặt bọn công an.  Bổn phận của tôi chỉ là một đứa con gái quêgiả vờ xách gào mên cơm đem xuống ghe cho mấy người đánh cá ăn.  Tôi chỉ việc đi lầm lũi trong chiếc áo bà ba cũ kỷ, không cần ngẩng đầu lên nhìn ai, cứ việc đi và khi nhảy được vào ghe rồi thì có người trong đó mở hầm đựng cá để nhảy xuống.

Sau khi vào hầm cá, có một người đậy nấp lại chỉ để hở một khe nhỏ đủ để thở.  Tôi còn nhớ rỏ mùi tanh tưởi trong hầm làm tôi khó chịu nhưng tôi cố gắng nhắm mắt và lẩm nhẩm đọc kinh cầu nguyện trong khi nước mắt chảy dài vừa lo sợ vừa thương quê hương, thương cha mẹ.

Đầu óc tôi quay lại như một cuốn phim dĩ vãng với tuổi thơ mà Phạm Duy từng phổ những bài hát nói về tuổi hồng, thời đi xe đạp với tà aó trắng.  Tôi thiếp đi trong một phút chốc để thấy đỡ buồn nôn vì sự chật chội tanh tưởi trong hầm cá.

Cuốn phim quay lại như một giấc mơ tuyệt đẹp, có những ngày hè tôi được má tôi dẫn về quê ngoại ở Bến Lức.  Nhà tôi anh chị em đông nên mỗi lần hè đến má tôi chỉchọn một đưá và tiếp tục mỗi năm sau đến lượt đứa kế tiếp.  Tôi thứ 11 trong gia đình nếu tính theo thứ, ba má tôi có 14 đứa con, nhưng nếu đếm theo những nhân vật còn sống thì chỉ có 12 anh chị em thôi.  Người Việt Nam thường có câu “Nhà đông con là nhà có phúc”, cho nên má tôi rất hãnh diện có được 12 đứa con xinh xắn, anh em trai thì khôi ngô tuấn tú, chị em gái thìđẹp mặn mà và thỉnh thoảng được đóng vai trò hoa khôi như chị thứ ba của tôi.

Mùa hè năm 1965 tôi được về Bến Lức thăm bà con bên ngoại, năm đó tôi chỉ lên bảy.  Nắm tay theo má tôi đi từ chuyến xe đò này qua chuyến xe đò khác, khi đến quê ngoại tôi là cánh đồng lúa bay thẳng cánh.  Từ ngoài lộđi vào trong làng phải đi qua những con đê sình lầy trơn trợt, phải đi bằng chân đất mới không trợt té.  Tôi rất sợ vì chưa bao giờđi như thế này nhưng có má tôi dẫn dắt nên tôi cảm thấy an tâm.  Từ đằng xa tôi nhìn thấy bóng cây dừa vàđàn vịt đang lội dưới ao, cảnh thanh bình quá, không một tiếng ồn ào chỉ trừ tiếng sáo diều quanh quẩn đâu đây.  Đây không phải là bức tranh vẽ hay trí tưởng tượng mà chính là cảnh vật thật, quê ngoại của tôi đẹp nhưng buồn quá.

Ngước mắt lên trời tôi thấy một vài con diều bay, có lẽ của một vài đứa trẻđang vui chơi thả diều ngoài ruộng.

Khi đến nhà bà ngoại, con chó mực chạy ra mừng nhưđã quen với má tôi từ xưa, tiếng một bà già vọng ra từ cửa trước: “Phải con Vận vềđó không?”, má tôi dạ lớn rồi kéo tay tôi tiến gần lại và thúc dục: “Con chào bà ngoại đi con.”

Tôi lúng túng nói không ra hơi vì thấy bà tôi ăn trầu và ngồi trên võng với gương mặt khóđăm đăm, sau này má tôi cắt nghĩa với tôi là mấy bà nhà quê rất tốt bụng, thương con cháu vô cùng nhưng họ luôn tỏ vẻ chay đá vì hờn giận con cái không về thăm thường xuyên hơn.

Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe bà gọi tên má tôi là Vận, sau này má tôi cũng giải thích làông bà ngày xưa hay sợ gọi tên đẹp thì không tốt cho người đó vì ma quỷ sẽ hờn ghen vàám hại.

Tôi thích quê ngoại nhưng má tôi thường nói bà không thích ở dưới quê vì bà không muốn lấy chồng nông phu và các con bà phải ra ruộng cấy lúa mà không được đi học.  Bà quyết tâm lên thị thành và kiếm được công việc làm trong một nhà in sách ở Sài Gòn.  Mỗi ngày bán sách cho những người yêu thích đọc sách và cũng nhờ vậy gặp được ba tôi, một chàng trai trẻ mêđọc sách.

Thời đó còn là thời Pháp thuộc, ba tôi có khuôn mặt khôi ngô làm cho ai cũng lầm tưởng ông là người Pháp hay ít nhất cũng lai một phần.

Tình yêu của ba má tôi chớm nở bắt đầu từ cuốn sách “Gánh nặng cang thường” và “Ngọn cỏ gióđùa” của tác giả Hồ Biểu Chánh.  Vì hai cuốn sách này mà hai người gặp nhau và yêu nhau tha thiết.  Má tôi kể lại cho các con nghe chuyện tình của hai người, khi ba tôi mua hai cuốn sách đem vềđọc, trong cuốn Gánh nặng cang thường có nhiều trang bị lộn xộn và thiếu vài trang, ba tôi đem lại nhà sách để than phiền và đổi sách.  Cơ hội đầu tiên của một cô gái quê được nói chuyện với một anh chàng đẹp trai và trí thức, và từđó má tôi đã yêu thầm nhớ trộm người thanh niên đẹp trai này.

Thế là hai người yêu nhau và làm đám cưới một năm sau.  Ba má tôi thương yêu nhau như hình với bóng, từ thời Việt Minh, thời Nhật Bản, rồi đến thời Pháp thuộc, hai vợ chồng nương tựa, chung thủy sống với nhau qua nhiều thời đại.  Từ ruộng nương đến thành thị, từ thời thanh bình đến thời chiến, cả hai bồng bế con cái đi tìm nơi sinh sống.

Khi ba tôi bị Việt Minh bắt vì có người chỉ điểm làông đã từng làm việc cho Tây, cũng là một ngày ba mươi tết năm Ất Dậu 1946, má tôi sau hay tin ba tôi bị bắt, bà chuyển bụng và hạ sinh chị ba tôi ởmiền quê ngoại Bến Lức chỉ cómột bà mụ đỡđẻ, loay hoay với đứa con gái mới sinh và đứa con trai đầu lòng mới lên một, bà bồng chống con thơđi tìm chú tôi ở Sài Gòn để nhơ2chú giúp đỡđi tìm ba tôi.

Tình yêu của ba má tôi dài như cuốn tiểu thuyết của Hồ biểu Chánh, tình yêu đậm đà và ngọt ngào chan chứa đầy tình quê hương như một cuốn phim lịch sử.

Khi ba tôi nhận được giấy phép làm cho sở Thú Y vàđược chuyển lên Đà Lạt để làm Trưởng Ty Thú Y và Phó Trưởng Ty Nông Nghiệp năm 1956, gia đình tôi dọn về vàđịnh cư tại thành phố này, trong số những đứa con sinh sau trong đó có tôi sinh trưởng và lớn lên tại đây.

Những ngày sống ởĐà Lạt được xem như thời huy hoàng và hạnh phúc nhất của gia đình tôi, thời tổng thống NgôĐình Diệm và đến thời tổng thống Thiệu.

Đà Lạt là nơi tôi được sinh ra và lớn lên, một thành phố đầy mộng mơ và tình tứ.  Khi đi học trong trường, chị em chúng tôi được mệnh danh là “Con ông bà Thú Y”, chúng tôi rất hãnh diện vô cùng.

Năm 1975 đất nước bắt đầu cảnh loạn ly, khi gia đình tôi di tản bằng đường đèo để đến Nha Trang, rồi từđó vào Sài Gòn cũng là những tuần lễ cuối cùng của thời Việt Nam Cộng Hòa.

 

*****

 

… Tiếng động lớn và có người mở nấp hầm làm tôi giật mình để trở lại với thực tế là mình đang nằm trong một chiếc ghe bé nhỏ chòng chành trên biển cả.

“Mọi người có thể lên bong được rồi vì chúng ta đã ra được hải phận quốc tế an toàn rồi”

Nhiều tiếng thở phào hòa lẫn với vài tiếng reo hò, ánh mặt trời chói chan trên bong tàu làm đôi mắt tôi cay xè, tôi đưa mắt tìm kiếm thì thấy người hai chị tôi, anh rễ và đứa cháu gái mới lên năm.  Mừng mừng tủi tủi tôi ôm chầm chị khóc ròng.

Thế là cuộc sống thay đổi như lật một trang sử mới, tôi khóc thật nhiều vì vui mừng mình đã thoát tay bọn cộng sản, nhưng đau khổ vì mình đã bỏ một quê hương yêu dấu và cha mẹ lại sau lưng.

Tôi muốn quay đầu trở lại nhưng không được nữa, nhìn nước biển đen nhánh như mực tàu và mặtnước biển chấm với chân trời, không thấy đất liền.  Con tàu còn lênh đênh giữa biển rộng mênh mông, tương lai sẽđi vềđâu?  Hàng ngàn câu hỏi bấn loạn trong đầu, cổ khô, miệng đắng, tôi cúi đầu nuốt vào những nỗi đau thương.  Tình yêu quê hương chưa bao giờ thấm thía như lúc này, tình yêu cha mẹ và anh chị em chưa bao giờ được đánh giá cao hơn bao giờ.  Đúng vậy, trong cuộc sống chỉ khi nào mình mất trong tay rồi thì mình mới thấy giá trị thật của nó.

Quê hương tôi chan chứa đầy tình yêu, đậm đà tình ruột thịt máu mủ, đầy những vết hằn vì chiến tranh và tan tóc, nhưng vẫn là một mảnh đất linh thiêng của bao nhiêu đồng bào, tổ tiên đã đổ xương máu.  Quê hương Việt Nam ơi, tiếng quốc ca còn văng vẳng như mỗi buổi sáng thứ hai chào cờ trước sân trường Bùi Thị Xuân.

Tiếng nước biển gầm thét làm cho chiếc tàu bé nhỏ chòng chành như muốn lật, sau 5 ngày 5 đêm vật lộn với tử thần, chiếc tàu bé nhỏ trung thành cũng đưa 27 người trong ghe và chị em tôi đến đảo Pulau Tengah gần Malaysia.

Khi tàu tôi đến gần bờ biển, vài người trong hội Red Cross ra dấu cho chúng tôi dừng lại và không được tiếp tục vào bờ.  Ngồi trên tàu chờ đợi mấy tiếng đồng hồ sau mới được cập vào bờ.

Ai cũng nhảy xuống tàu để vào làm thủ tục giấy tờ, chỉ còn tôi ngồi lại trên tàu. Bổng nhiên òa khóc nức nở vì bắt đầu thức tỉnh với thực tế phủ phàng.  Tôi đã xa quê hương tôi vĩnh viễn, tôi đã xa cha mẹ tôi vĩnh viễn.  Tiếng khóc nức nở hòa điệu với tiếng sóng đang rì rào như vỗvề, tôibước chân xuống đất liền với một cảm giác mát rượi của cát, với tay hất một chút nước để rửa mặt, nước biển mặn và nước mắt pha trộn làm cho cặp mắt cay xè như ai chà xát muối.  Nhìn bóng dáng bơ phờ của tôi trong mặt nước đang bị sóng đánh vỡ tan nhưđang cố tình xóa đi những dĩ vãng.

Tôi ngước nhìn lại góc chân trời xa tắp bên kia biển đông, tôi vẫy tay chào Việt Nam, chào cha mẹ mà không biết bao giờ mình sẽ trở về.  Từ giã quê hương, xin chào tạm biệt quê hương dấu yêu.