Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

Hồ Trường An

LTS: Nhà văn Hồ Trường An đã qua đời hôm Thứ Hai, ngày 27 tháng 1, năm 2020, tức Mồng Ba Tết Canh Tý, tại Troyes, Pháp, hưởng thọ 82 tuổi.

Ngoài những sáng tác  của HTA được nhiều người biết đến, là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký,  Ông còn được dư luận quan tâm khi trao đổi vấnđề xã hội – giới tính – đồng tính luyến ái –… Lúc còn sinh tiền Ông không ngại ngùng và phá biểu thẳng thắn, bộc trực về vấn đề “giới tính”. Việc “đồng tính luyến ái” nay trong những xã hội dân chủ đã trở thành bình thường, bớt thành kiến, thôi không còn “khắt khe” như trước.

Lưu Diệu Vân thực hiện – 15.05.2008

Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11
tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện
đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn
chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn,
tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và
hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại
hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương
việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.

Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng
ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng
bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ
Trường An.

LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự
bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà
văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói
về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ
Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?

ho_truong_an_1991

HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong
buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm,
trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không
đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn?
Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn
tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế
hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi
nào chăng?

Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng
tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi
chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân.
Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang
nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần
là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự
của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc
tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người
bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của
hắn lớn hơn tôi khá nhiều.

Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay
tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967,
bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn
Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại,
vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy
lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi
kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời
gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những
cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt
như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA.
Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc
Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên
80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có
rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh
Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có
thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?

Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời.
Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn
tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay
xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai
như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ
nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương
yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn
mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường.
Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được?
Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn
của một nhà văn gay.

LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện
thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi
quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?

HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng
vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy,
họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng
đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng
các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng
Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên
gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có
phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến
ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.

Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác
nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì
mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho
những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia
đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay
bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng
tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng
gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ
chống lại thiên nhiên.

Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm
tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên
tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay…
cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người
đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc
sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với
tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.

LDV: Nhà văn Hồ Trường An định nghĩa giới tính của mình bằng đường lối nào?

HTA: Cô Vân ơi, câu hỏi nầy trặc trẹo lắm. Tôi không sao có thể định
nghĩa giới tính chính mình. Tôi chỉ biết giới tính chia ra làm ba hạng
người: hạng thứ nhất là hạng người yêu đương và thích làm tình cùng
người khác phái của mình. Đó là những người dị tính luyến ái (les
hétérosexuels). Hạng thứ hai là những người yêu đương và thích làm tình
với người đồng phái. Đó là những người đồng tính dục (les homosexuels),
nhưng nói cho nhẹ nhàng bóng bẩy một chút thì gọi là đồng tính luyến ái
(les homophiles); bên nam giới gọi là gay, bên nữ giới thì được gọi là
lesbiennes. Lại có người thích làm tình với người khác phái tính lẫn
người đồng phái tính. Đó là những người lưỡng tính luyến ái (les
bisexuels). Vua Hán Cao Tổ có nhiều quý phi, cung tần, mỹ nữ. Nhưng ông
ta thỉnh thoảng tìm các cậu trai mới lớn nuôi sẵn trong biệt viện để ông
ta thay đổi thực đơn hành lạc. Những cậu trai như vậy tiếng Pháp gọi là
bé cưng (les mignons). Đó là tôi nói theo nhà Trung Hoa học thuật gia
Robert Van Gulik qua cuốn biên khảo ‘‘La Vie Sexuelle dans la Chine
Ancienne.’’

Trong giới nghệ sĩ Hoa Kỳ thì Marlon Brando cũng thuộc loại lưỡng tính luyến ái. Anh ta mê phụ nữ da màu và đã trải qua hai đời vợ là Anna Kashfi – lai Ấn, Movita – gốc Mễ-tây-cơ. Nhân tình cũa anh ta gồm có các nữ tài tử France Nuyen – lai Việt, Tarita – người thuộc đảo Tahiti, Rita Moreno – dân Mỹ La-tinh. Nhưng bà vợ Anna Kashfi trong cuốn Brando au Petit Déjeuner xác nhận rằng Marlon Brando lẫn James Dean đều là dân lưỡng tính luyến ái. Trước khi nổi danh, trong thời gian sống ở Paris, Marlon chơi thân với điện ảnh gia Roger Vadim và nam tài tử Christian Marquand. Chính anh chàng Marquand này là người yêu của Marlon Brando. Anh ta người Tây-ban-nha lai Á-rập nhưng sinh sống từ nhỏ ở Pháp, đóng phim Pháp, nổi tiếng đẹp trai và sexy. Christian Marquand cũng là dân bisexuel, sau đó kết hôn với nữ tài tử Tina Aumont. Hư thực ra sao đố ai biết rõ. Chúng ta chỉ biết một khi người vợ bị tổn thương thì việc gì mà không dám nói. Anna Kashfi còn dám viết rằng Marlon Brando có tới ba hòn nang. Khi sống trên tại kinh thành Paris, chàng ta đã cùng Roger Vadim và Christian Marquand đi Monmartre để hành lạc theo kiểu ‘‘nga môn khoái lạc’’ do dân phong lưu Trung Hoa phát minh. Đó là đút dương vật vào hậu môn con vịt, rồi thình lình chặt cổ con vịt để cho hậu môn con vịt siết chặt và buông lỏng liên miên dương vật. Marlon Brando trong quyển hồi ký của mình bảo thẳng thừng rằng : ‘‘Tôi cũng có vài kinh nghiệm về đồng tính dục.’’ Riêng James Dean được báo chí thêu dệt mối tình giữa chàng ta và nữ tài tử gốc Ý Pier Angeli, giữa chàng ta và nữ thần nhục cảm Ursuela Andress gốc Thụy- sĩ. Nhưng lại có tin hành lang cho biết người tình đực rựa của chàng là tài tử bô trai cực kỳ thanh tú và hùng tráng là Tab Hunter.

Về phía lưỡng tính luyến ái phái nữ thì vào thời Đệ tam Cộng Hòa có
hai nàng nữ danh kỹ là Liane de Pougy và Emilienne d’Aleçon sắc nước
hương trời. Cả hai đã từ dan díu với các chàng trai quý tộc và các kỹ
nghệ gia Hoa Kỳ thuộc hạng tỷ phú. Liane de Pougy đã từng ăn nằm với
Hoàng tử vùng Galles nước Anh về sau trở thành vua Edouard VII, còn
Emilienne d’Aleçon đã từng dan díu với vua Léopold II nước Bỉ. Cả hai cô
danh kỹ kia còn là nữ sĩ văn chương. Liane viết 7 cuốn tiểu thuyết, nổi
tiếng nhứt là cuốn Idylle Saphique (Tình Yêu Các Cô Đồng Tính Luyến Ái) và cuốn nhật ký Mes Cahiers Bleus
( Những Tập Giấy Xanh Của Tôi). Người tình nuơng mặn mòi thắm thiết
nhứt của Liane de Pougy là nữ sĩ kiều diễm người Mỹ Natalie Cliffod
Barney. Còn Emilenne d’Aleçon về sau kết hôn với anh nài ngựa người Anh
chẳng những trí thức, giàu sụ mà còn đẹp trai. Vì là nài ngựa nên chàng
hơi nhỏ con một chút, nhưng rất xinh xắn dễ yêu. Cả hai si mê nhau điên
cuồng, yêu đương bỏng cháy. Vì yêu nàng, chàng bỏ quốc tịch Anh và xin
vào quốc tịch Pháp. Vì chàng, nàng thôi làm cái nghề đưa ông hoàng ra
cửa trước, rước ông tỷ phú vào cửa sau. Chàng nài ngựa bô trai giỏi văn
chương Pháp nên dạy Emilienne d’Aleçon làm thơ. Do đó nàng cho trình
làng hai thi tập Temple d’Amour (Ngôi Đền Tình Ái) và Les Masques
(Những Cái Mặt Nạ). Chàng nài ngựa yểu mệnh, Emilienne d’Aleçon đau khổ
không nguôi. Từ đó nàng đoạn tuyệt với đàn ông và chỉ ăn nằm với đàn bà
trong đó có nữ nam tước người Ý là Baronne Mimy Franchetti. Cô nữ nam
tước nầy cũng đã từng ăn nằm với Liane de Pougy.

LDV: Sự chấp nhận một cách hân hoan về khuynh hướng tính
dục đặc biệt của mình đã đem lại cho nhà văn những gì ngoài cõi lòng yên
tĩnh cần thiết để cho ra đời những trang viết đầy tình người và sức
sống?

HTA: Sống thành thật với chính mình thì dĩ nhiên được thoải mái về
mặt tinh thần lắm, có phải không cô Vân? Hồi chưa tiếp xúc với giới đồng
tính luyến ái tôi ấm ức trong lòng, khao khát được giao hợp với người
mình yêu. Nhưng ở tại một tỉnh lỵ đất Tiền Giang, tôi tìm đâu ra một đối
tượng tình yêu thuộc loại người như mình? Cho nên tôi đau khổ, tuyệt
vọng, lại còn sợ mọi người chế nhạo mình yêu trai, cho nên tôi không
biết ngỏ tâm sự cùng ai. Năm tôi 25 tuổi, tôi lên Sài Gòn học lớp tập sự
ngành Dược Khoa, tôi được thằng bạn thân học chung với tôi suốt 6 năm
bậc trung học. Nó cũng là dân gay như tôi, nhưng cả hai chỉ là bạn suông
trơn mà thôi. Nó giới thiệu cho tôi một ký giả người Pháp, gốc Ba-lan
tên là Ilya Mustkatblatz. Sau đó, nó chỉ cho tôi những chỗ hội họp của
bọn gay Việt lẫn gay từ các xứ như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Phi-luật-tân, Đại
Hàn, Tàu Chợ Lớn qua làm việc hoặc định cư ở Sài Gòn. Họ thường lui tới
rạp chớp bóng Vĩnh Lợi (mà bọn tôi gọi là Vĩnh Lạc Cung) ở đường Lê Lợi
và gần Bệnh Viện Đô Thành, rạp chớp bóng Moderne (mà chúng tôi gọi là
Mẫu Đơn Đình) ở gần chợ Tân Định. Ngoài ra còn ở nhà hàng Continental,
nhà hàng Givral, Bùng Binh trước chợ Bến Thành là những nơi để bọn gay
kiếm bồ bịch. Ngoài ra ngôi chùa thuộc Nghĩa Trang Bắc Việt, đền thánh ở
Thủ Thiêm cũng là nơi hò hẹn bọn gay.

Không hiểu sao, từ khi tiếp xúc vào xã hội gay, dù lúc tiên khởi tôi
nghĩ mình bắt đầu có một cuộc sống lệch lạc về lề thói, về nguyên tắc
trật tự trong xã hội. Nhưng chính các lệch lạc, cái trái cựa đó khơi dậy
cho tôi biết bao niềm lạc hoan mênh mông và nguồn cảm hứng cực kỳ phồn
thịnh. Tôi phải trải rộng cảm hứng đó lên giấy càng nhiều càng tốt. Tôi
yêu đời, yêu mọi người. Tôi chỉ mong có nhiều người đọc những gì tôi
viết. Nhưng tôi chưa dám viết trực tiếp cái xã hội gay. Nhưng ai cấm tôi
sáng tạo những người đàn bà đa tình phản ảnh nguyên vẹn cái tôi đã bao
lần xao xuyến tâm hồn và xác thân trước hình bóng những nam minh tinh
điện ảnh mà tôi ái mộ? Từ khi lao vào giới gay, tôi vui sống, sáng tác
thơ rất nhiều. Tiếc rằng khi bỏ xứ ra đi, tôi không mang theo được gì,
chỉ nhớ lõm bõm vài bài thơ nhục cảm để khi ra hải ngoại tôi thực hiện
thành thi tập Thiên Đường Tìm Lại.

Vào năm 1966, trước hết, tôi viết truyện ngắn, thơ, kế đó mới tập tành điểm sách, viết tạp ghi. Và sau hết, tôi viết các bài nhận định về kịch ảnh & tân nhạc. Tôi đã từng cộng tác với các tập san Bách Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, công tác với các nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến… Hứng thú đưa đẩy ngòi bút tôi chạy tốc hành trên xấp trang bản thảo khi tôi ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi không dám viết cái tôi của mình là gay. Tôi dệt ra những cảnh giao hợp bỏng cháy, tôi nhập vai vào các nữ nhân vật, còn nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.

Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết
những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa. Tôi chỉ
dám giết những nhân vật già nua từ 80 tuổi trở lên (cho họ chết vì già
yếu chớ không dám cho họ chết vì bịnh hoạn). Lại nữa, các nhân vật đẹp
trai được tôi xe duyên chỉ thắm với những nữ nhân vật nếu không kiều
diễm thì cũng duyên dáng mặn mòi. Nếu các cô lỡ có chửa với người chồng
bô trai ngó hoài…vẫn thích ngó của họ, thì ở chương áp chót của quyển
tiểu thuyết, tôi cho họ xổ bầu đập chum để họ có cái eo thon đẹp, để họ
diện áo đẹp đi rước đèn, đi bát phố cùng chồng. Còn nam nhân vật đẹp
trai nếu rủi bị bịnh ung thư hay bị bịnh AIDS thì nếu không nhờ thuốc
men hiệu nghiệm thì cũng được Đức Thánh Đồng Trinh Maria của thành phố
Lourdes hay Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ dùng phép lạ mà giúp họ
lành mạnh. Như vậy nữ độc giả sẽ an tâm khi xếp quyển sách cũa tôi lại.

Cô xem đó, khi con người được hạnh phúc, họ dễ có tấm lòng vị tha,
không đem giáo điều khe khắc ra buộc tội bất cứ ai. Trong các tác phẩm
của tôi hầu như không có kẻ ác. Thường là những kẻ có cái miệng dữ dằn,
ngáp ra khói, ói ra tro, ho ra sấm sét, nhưng lòng dạ các đương sự hiền
lành như bột sắn, bột khoai. Thường là các mụ đàn bà thuộc loại chằn ăn
trăn quấn, ưa ganh tị từ cái ngáp tiếng ho với bạn bè, ưa thèo lẻo trong
các cuộc ngồi lê đôi mách, nhưng khi đối thủ của mình gặp hoạn nạn
thường ra tay cứu giúp, an ủi, đãi cho kẻ cựu thù những món ăn ngon…
chết giấc luôn! Tôi ưa viết những chuyện vạch tật xấu đàn bà, nhưng độc
giả của tôi hầu như 75% là đàn bà. Vậy có nghĩa là văn chương tôi không
độc địa như siêu vi trùng gây bịnh AIDS, không giúp các nhân vật lao vào
những hành động ác ôn côn đồ thổ phỉ, không xô nạn nhân vào cảnh đoạn
trường.

LDV: Xã hội phong kiến của Việt Nam có ảnh hưởng một cách
tiêu cực đến cái nhìn về giới tính của nhà văn không, trong cuộc sống
cũng như trong quá trình viết lách?

HTA: Ở Việt Nam, chuyện đồng tính luyến ái vào thập niên 50, 60 không
được xem là trầm trọng. Dân mình cho rằng hễ ai mắc phải ‘‘cái tật’’
yêu người cùng phái tính, một khi được lấy vợ gả chồng thì ‘‘lành bệnh’’
ngay. Nhưng bên Âu Châu vào thời Trung Cổ, những ai có hành động quá
thân mật với người cùng phái tính thì bị lôi ra tòa án và Giáo hội
Gia-tô xen vào kết án thiêu sống các đương sự. Tôi không nhớ rõ năm nào
trong thập niên 90 của thế kỷ 20, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã từng
xin lỗi mọi người trên thế giới về chuyện các Giáo Hội Gia-tô đã lên án
xử tử nhà bác học Galilée khi ông ta dám tuyên bố quả đất tròn. Ngài
cũng xin lỗi về vụ các tín đồ Gia-tô a tòng với bọn buôn người bắt dân
Phi Châu bán cho người da trắng làm nô lệ. Nhưng ngài vẫn không thèm xin
lỗi về vụ bọn tăng lữ Gia-tô ở Pháp và ở vài nước Âu Châu đã đem dân
gay thiêu sống vì họ cho rằng những người gay cũng như nhừng người phù
thủy là ác quỷ Sa-tăng cần phải bị tiêu diệt.

Trong quá trình viết lách, trước kia dám khai huỵch tẹt cái sở thích
yêu người cùng phái với mình chỉ có văn hào André Gide ở những quyển
nhật ký. Nhưng ở cuốn L’Immoraliste (Kẻ Vô Luân), ông ta chỉ nói mí mí thôi. Văn hào Thomas Mann với quyển Mort à Venise (Chết Tại Kinh Thành Venise). E.M Forster với cuốn Maurice thì viết hẳn hoi về cuộc tình thầm kín hay công khai của các nhân vật gay. Tuy nhiên E.M Forster viết cuốn Maurice
khi còn sống, nhưng không dám đăng báo hay xuất bản. Trên giường bịnh
chờ chết, ông dặn người nhà khi ôg ta qua đời thì mới cho xuất bản cuốn
di cảo ấy. Còn nữ sĩ Natalie Clifford Barney thì viết lách công khai
chuyện đàn bà đánh chập chõa với đàn bà. Cả nàng danh kỹ Liane de Pougy
dám viết cuộc tình của mình với Natalie Clifford Barney trong cuốn Idylle Saphique
của mình. Vậy mà các ông hoàng ở Âu Châu, các triệu phú, tỷ phú Hoa Kỳ
vẫn tình nguyện chết chung vào lỗ của nàng. Rồi khi nàng leo lên 40 tuổi
có ông hoàng Lỗ-ma-ní nhỏ hơn nàng 15 tuổi cưới nàng làm vợ, cuộc hôn
nhân kéo dài tới khi ông ta lìa đời. Lúc đó Liane xấp xỉ 70 tuổi rồi,
đành sống cô đơn tới lúc nhắm mắt theo chồng.

Về các nhà văn nhà thơ Việt Nam thì vào năm 1966, đã có Đỗ Quế Lâm viết cuốn ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’. Hai nghệ sĩ diễn ngâm thơ là Đoàn Yên Linh và Hồ Bảo Thanh sáng tác những vần thơ đẹp như gấm và dịu như nhung. Họ xưng mình là em, là nàng cô phụ gửi người tình không chân dung nào đó hoặc người tình có thật trong cuộc sống mà họ đã từng si mê. Tiếc thay cả hai không cho xuất bản các bài thơ đẹp kia thành thi tập, chỉ đăng báo lai rai. Đoàn Yên Linh, Hồ Bảo Thanh và tôi đều là bạn của cây sáo thần Thanh Hà. Nhưng Thanh Hà không phải là gay mà là kẻ thông cảm với bọn gay chúng tôi mà thôi. Tình bạn giữa Thanh Hà và tôi từ trong nước, trước 1975 vẫn kéo dài cho tới bây giờ.

Ra hải ngoại, người xung phong viết chuyện đồng quê Nam Kỳ và chuyện đồng tính luyến ái vẫn là H.T.A. Người thứ hai là Ngô Nguyên Dũng trong quyển trường thiên tiểu thuyết Đêm. Lại có thêm Tạ Thái, Nguyễn Thạch Đàn qua những tự truyện dưới hình thức truyện ngắn đăng trên báo Văn. Lại có thêm Lê Nghĩa Quang Tuấn, em trai của hai nhà văn nữ là Lê Thị Huệ và Lê thị Thấm Vân đã từng đi diễn thuyết đòi quyền sống và đòi chỗ đứng trong xã hội cho dân đồng tính luyến ái trong xã hội. Tuấn lại còn chủ trương tạp san dành cho gay và lesbian. Đó là tờ Đối Diện (Face To Face). Thi tập Ầu Ơ… của đương sự rất tuyệt vời về tư tưởng triết học và xen vào đó có những bài thơ nhục cảm chan hòa mộng đẹp, sinh lực, tinh khí, những tư duy rất nhân bản. Theo tôi, những cây viết ở vào cuối thế hệ thứ nhì và đầu thế hệ thứ ba ở hải ngoại, trong hàng ngũ gay thì có Ngô Nguyên Dũng bên Văn, còn Lê Nghĩa Quang Tuấn bên Thi Ca. Cả hai tài hoa rất mực. Còn bên ca nhạc ở hải ngoại thì cũng ít nhất 5 người. Nhưng mà thôi, tôi không tiện hài danh hà tánh các đương sự, cứ để họ tiếp tục hành nghề và giữ mãi mãi là thần tượng của các cô choai choai có hơn không!

LDV: Khung cảnh tự do của quê hương thứ hai đã đem lại
cho ông những thay đổi tích cực gì về khuynh hướng tính dục của mình và
của những người đồng tâm trạng chung quanh ông?

HTA: Tôi qua nước Pháp gặp lúc phong hóa đang biến chuyển tiến bộ.
Phim sex dành cho bọn gay có chiếu vài rạp ở Paris. Tạp chí dành cho gay
Gaipied bán tràn ngập khắp thị trường sách ốc. Nhà trí thức
André Baudry lập câu lạc bộ Arcadie để làm diễn đàn cho dân gay. Chính
tại đây, Lucien Trọng đã đăng đàn diễn thuyết và mở cuộc triễn lãm tranh
sơn dầu của đuơng sự. Ngoài ra, vũ trường Scaramouche dành cho gay. Hơn
một chục phòng tắm hơi dành cho dân gay ở Paris. Các anh chàng gay vào
đó tha hồ khỏa thân hoặc quấn chiếc khăn bông ở hạ bộ. Tìm được kẻ vừa ý
là cả hai dắt nhau vào căn buồng nhỏ để làm tình. Nếu phòng bị chiếm
hết thì tìm chỗ nào hơi tối một chút để giao hoan, chẳng bị ai phá rối.

Nhưng rồi từ năm 1985, bịnh AIDS lan tràn, tôi không dám bén mảng tới bất kỳ chỗ hẹn hò nào, đừng nói chi là phòng tắm hơi. Vả lại, từ năm 1985, tôi bắt đầu phái phì: bụng to như có cái chảo gang hay cái thau nhôm úp lên, lại có cằm đôi như cái nọng heo và còn dến thêm miệng cá má lợn. Đi đâu, tôi cũng vác các bụng bự chang bang như cái bụng chửa sắp tới ngày xổ bầu thì chán quá! Làm diet, chạy jogging, cuốc bộ hàng chục cây số vẫn chỉ sụt bớt 5 kí lô là cùng. Rồi tôi bỏ cuộc vì tôi bị ba chứng bịnh nan y như tiểu đường, cholesterol, cao máu. Từ nằm 1985, người bạn lòng tôi và tôi dù ở chung dưới một mái nhà, ngủ chung một giường, nhưng chỉ là bạn thuần khiết mà thôi. Vào năm 2006, tôi nghe lời bác sĩ thân tín tập thể dục dành cho người già cả, tập thở một cách chăm chỉ theo phương pháp mà Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ dạy, tôi gần như hết bịnh tiểu đường, dứt tuyệt chứng cholesterol, giảm bớt cao máu. Nhưng tôi vẫn phải uống thuốc đều đặn. Do đó mà tôi sụt cân. Thể dục làm cho bụng tôi thon, cằm đôi biến mất. Thở theo phương pháp Tọa Thiền làm cho da mặt tôi sáng hồng. Bụng tuy thon nhưng lại hơi nhão, mông không xệ nhưng không tròn. Cằm đôi tuy mất, nhưng cổ tôi nhăn nhúm như cái nhau con heo nái phơi khô. Ngực tôi tuy đầy đặn nhưng không căng phồng như cánh buồm lộng gió. Bọn trai tráng có cặp mông tròn trặn như trái dưa hấu bổ đôi, bụng chẻ ra làm sau miếng như sáu thẻ chocolate. Vì than ôi, tôi đã 70 tuổi rồi, làm sao có thân vóc rắn chắc và mỹ lệ như bọn đờn ông con trai từ 18 đến 45 tuổi? Lại nữa, tôi đâu còn khả năng tình dục nữa, cho nên tôi đành làm bạn với con Chung Vô Diệm (chim vô dụng) mà thôi.

Thật ra, tôi cũng chẳng buồn tiếc cái thời sống lăng loàn hạnh phúc
cũ. Nếu vào thuở trung niên tôi vẫn còn có sắc vóc ngoạn mục, biết đâu
tôi chơi bời thả cửa, giao hoan thả giàn với bọn gay, để rồi vướng bịnh
AIDS. Như vậy trong cái rủi vẫn có cái may, phải không nào? Rất nhiều
bạn bè tôi xin tôi chỉ họ phương pháp làm gầy, phương pháp làm cho da
mặt mịn màng sáng sủa. Tôi cứ tình thật mà ‘‘khai báo’’. nhưng họ làm
không có kết quả. Thiệt tình tôi không hiểu tại sao? Nhưng đẹp lão để
làm gì? Khi tôi mặc áo thun, quần jean thì thân vóc tôi vẫn là người đàn
ông tuổi ngũ tuần. Nhưng khi vào bãi khỏa thân ở tỉnh nhà thì đây là
thân vóc của một ông già, dù có ngực đầy, bụng thon và mông không xệ đi
nữa. Ở ngoài đời, da mặt tôi thật lý tưởng mà phụ nữ rất hâm mộ. Nhưng
khi tôi được chụp ảnh, khuôn mặt tôi vẫn là khuôn mặt ông già, dù da mặt
chỉ có vài nét nhăn mờ mờ ở chuôi mắt đi nữa. Cho nên tôi không thèm
nhuộm tóc làm gì. Tuổi của tôi hiện giờ có thể làm ông cố được rồi.

ho_truong_an_2008

Khi qua Pháp, tôi đã 40 tuổi, hưởng thụ không bao lâu, nhưng tôi không
thối tiếc một chút cỏn con nào. Mừng là thấy phong hóa tiến bộ một cách
tích cực. Có nhiều nước cho phép cặp gay làm đám cưới với nhau. Tôi thấy
cái dó không cần cái đó. Nhưng thôi, ai cũng có hoàn cảnh riêng, sở
thích riêng, tâm trạng riêng; đừng bắt buộc người khác phải giống mình.
Bây giờ ở Gia-nã-đại và ở vài nước Âu Châu có lịnh phạt những kẻ nào dám
sỉ nhục những chàng gay trước đám đông. Kẻ sĩ nhục sẽ bị phạt nặng nếu
kẻ bị hạ nhục có tìm được nhân chứng. Đối với những nước văn minh tân
tiến, tội đó cũng ngang ngữa với tội kỳ thị chủng tộc. Tôi chỉ thương
xót các em các cháu gay gặp vấn nạn bịnh AIDS nên không được thoải mái
lúc bắt bồ với nhau. Họ không được tâm trạng thảnh thơi như tôi hồi 40
năm về trước khi làm tình với đối tượng của mình.Tôi tin rằng đa số
những kẻ gay cũng như tôi được hạnh phúc khi sống trong xã hội được nới
lỏng nguyên tắc và giáo điều, sống tràn ngập tin tưởng hơn. Có vậy Ngô
Nguyên Dũng sáng tác không hề nhàm mỏi. Có vậy Lê Nghĩa Quang Tuấn mãi
mãi là tấm gương can trường dám đứng đầu sóng ngọn gió. Tôi không hiểu
tại vì sao càng lớn tuổi, Dũng ưa bỏ chín làm mười bất cứ chuyện gì.
Dũng nhìn đời bằng cặp mắt bao dung. Có phải chăng hắn sống trong hạnh
phúc và sống với tâm trạng cởi mở nên mới được đức tánh ấy? Dũng yêu
thích văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn văn nghệ sĩ giới trình diễn nên
không cần lui tới thường xuyên các cuộc hẹn hò trong khi đương sự vẫn
còn là kẻ trung niên tuấn tú, có thể bắt bồ vơi bọn gay Đức dễ ợt. Càng
lớn tuổi đương sự chuộng tâm linh nghiên cứu Phật Giáo. Còn riêng tôi,
trong mùa thu cuộc đời, tôi vẫn nghiên cứu thêm Kinh Đại Thừa như hồi
còn ở quê nhà, sưu tầm sách vở, các hình ảnh các minh tinh điện ảnh và
ca sĩ ngoại quốc. Bắt đầu chớm xuân, tôi trồng hoa ở bao lơn. Trong nhà
tôi bày những chậu cây cảnh những món ngoạn hảo (bibelots) và tranh ảnh.
Tôi không có thời giờ để phiền muộn. Hễ khi cái đầu nóng rực vì viết
lách hơi nhiều, tôi dừng bút lại, lo săn sóc lau chùi nhà cửa, nấu nướng
một món ăn hợp khẩu vị. Đôi khi tôi điện đàm với các bà bạn vốn là độc
giả của tôi để học hỏi cách thức làm những món ăn phổ thông hay những
món ăn đặc biệt sao cho hợp khẩu vị.

Lũ bạn gay của tôi sinh sống ở Paris thường hỏi tôi suốt gần 30 năm
nhà bác tuyệt tích giang hồ. Vậy mà nhà bác chịu đựng được? Có phải
chăng ở Troyes có phòng tắm hơi dành cho bọn gay? Hay có những chỗ hẹn
hò nào khác? Làm sao tôi nói cho lũ bạn tin rằng tôi đã sống đã tạm đầy
đủ rồi. Bây giờ ôn lại ‘‘thời tung hoành’’ cũng chỉ vun quén phong vị
cho văn chương và cho tuổi hoàng hôn, đừng quay lại thời dĩ vãng xa lắc
xa lơ nữa. Tôi còn nhớ một câu nói của đại kịch sĩ Pháp là Jean Louis
Barrault : ‘‘Ở chỗ huy hoàng ánh sáng, hay trong xó kẹt tối tăm, đâu đâu
cũng có hồng ân của Thượng Đế’.’

LDV: Văn của Hồ Trường An đầy chi tiết, sống
động và tràn ngập nhiều nhân vật nữ với tạo hình thật rõ nét. Định hình
giới tính của một nhà văn giữ tầm ảnh hưởng như thế nào đến giọng văn,
chủ đề, và thông điệp gởi gấm?

HTA: Văn chương tôi có nhiều chi tiết sống động? Có thể lắm chớ? Tôi
viết theo cảm hứng, có nhiều khi rất máy móc, không cần suy nghĩ cho
nhuần nhuyện trước khi viết. Thường thường bọn gay chúng tôi thích trào
lộng và có óc quan sát mãnh liệt. Do đó tôi tìm những nhân vật độc đáo,
xem cách sống, cách suy nghĩ và cách ăn nói của họ. Ai chê hạng người
ngồi lê đôi mách là hạng người mất nhân phẩm. Sức mấy mà tôi suy nghĩ
như vậy. Các cuộc ngồi lê đôi mách giúp tôi khám phá và tìm hiểu các
nhân vật độc đáo, những nhân vật có cá tính mạnh.

Tôi nhớ, hồi xa xưa, tôi ở chung với chị Thụy Vũ. Hôm đó, Tô Thùy Yên và chị nằm trên gác. Cô tớ gái của chị đang lục đục dưới bếp. Tôi và lũ bạn kéo về, quây quần bêm mâm gải khát, bắt đầu kể chuyện ngồi lê đôi mách pha trộn chuyện tiếu lâm. Bọn tôi không hay trên gác có người nên chúng tôi tha hồ mà xả máy đía dóc. Khi câu chuyện bắt đầu rời rạc dần thì chị tôi bước xuống, cười ngất: Nãy giờ tao với ông Tiên (chỉ TTY) nằm ngủ trên gác. Nghe bọn bây đấu hót bừa bãi mà cả hai cười muốn bể bụng, muốn tróc mỡ sa ra. Tao lại mắc tiểu. Nhưng ông Tiên cản tao lại để có thể tiếp nghe câu chuyện tụi bây. Trời ơi, tao nín đái, bọng đái căng phồng muốn bể như cái pháo chuột đây nè. Mấy tên này nên tìm gánh hát gia nhập làm hề là phải hơn.

LDV: Thế kỷ gần đây rất nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những hành động công khai
và cởi mở hơn về khuynh hướng tính dục của họ và điều này đã khuyến
khích sự đồng thuận và cái nhìn thấu hiểu ngày một khoan dung của xã hội
về khuynh hướng đồng tính. Theo ông, những người nắm giữ sự ái mộ đặc
biệt của công chúng có trách nhiệm hướng dẫn dư luận vào lối suy nghĩ
bình đẳng hơn trong những nan đề xã hội không?

HTA: Tôi ra hải ngoại vào năm 1977. Tôi có đọc được vài quyển hồi ký
cũa các cây bút gay như hồi ký của kịch tác gia Tennessee Williams, hồi
ký của Gore Vidal, hồi ký đại minh tinh điện ảnh Pháp là Jean Marais mà
tôi còn nhớ cái tựa là Histoire de Ma Vie (Lịch Sử Đời Tôi).
Ngoài ra, nhà văn Renaud Camus và nhà văn Tony Duvert có cho xuất bản
quyển nhật ký của mình công khai bày tỏ những mối tình và những cuộc
liên hệ xác thịt của mình với kẻ đồng phái tính. Còn nhà văn Pháp
Dominique Fernandez qua cuốn L’Étoile Rose (Ngôi Sao Hường) cũng không giấu giếm khuynh hướng đồng tính dục của mình. Quyển L’Étoile Rose
đã làm cho hàng triệu độc giả Pháp và độc giả các nước nói tiếng Pháp
cảm thương cho dân gay bị bọn Đức Quốc Xã giam trong những trại trừng
giới, bị xâm ngôi sao hường trên trán, bị đọa đày dã man. Lại nữa, tôi
có đọc cuốn hồi ký của nhà văn nữ lừng danh xứ Pháp là Françoise Sagan.
Tôi rất cảm phục bà ta ở chỗ dám chia sẻ cảm thông với tâm sự các nghệ
sĩ gay. Bà ta viết về kịch tác gia kiêm văn gia Tennessee Williams kết
bạn với nữ sĩ Carson Mc Cullers. Ông chồng bà Carson Mc Cullers tự tử vì
khám phá ra mình là gay. Bà ta xuống tinh thần, bị suy nhược thần kinh.
Ông Tennessee Williams và anh chàng tình nhân ông ta săn sóc bà. Rồi
ông ta đưa bà ta sang Ý viếng thăm nữ tài tử Anna Magnani. Tại đây ngôi
sao điện ảnh hàng đầu nước Ý này cùng anh tình nhân trẻ tuổi của mình
săn sóc người nữ văn gia bất hạnh kia. Tình bạn giữa Tennessee Williams
và Anna Magnani cũng rất gắn bó keo sơn. Nhờ cuốn phim Le Rose Tatouée
phỏng theo vở kịch cùng tựa của Tennessee William mà Anna Magnani đoạt
giải Oscar một cánh vinh quang. Từ đó, cả hai thân thiết nhau. Lại nữa,
cô Vân chắc cũng biết qua nữ minh tinh Hoa Kỳ Elizabeth Taylor có 3
người bạn gay thân thiết đã từng đóng phim chung với cô ta là
Montgomerry Clft, Rock Hudson, Roddy Mac Dowall. Cô ta giúp do họ vật
chất lẫn tinh thần. Khi Rock Hudson chết vì bịnh AIDS, Liz Talor lập ra
hội giúp đỡ dân bị séro-positif lẫn dân bắt đầu vào thời kỳ bịnh AIDS
bắt đầu phát tác trên hoàn vũ.

Theo tôi, những nhà nghệ sĩ thuộc giới sáng tác bất kỳ trên xứ sở nào
cũng không cần phải e ngại kẻ thưởng ngoạn giảm sút sự ái mộ của mình
khi những kẻ dó biết họ là gay. Các nhà văn lừng danh trên thế giới như
André Gide, François Mauriac, Jean Cocteau, Gore Vidal… vẫn được độc giả
ủng hộ và ái mộ như thường. Bên sáng tác nhạc có Tchaikowski, bên hội
họa có Michel Ange, Léonard de Vinci tới nay văn phẩm, nhạc phẩm lẫn họa
phẩm của họ vẫn được hậu thế truyền tụng.

Những kẻ được quần chúng ái mộ nên đóng góp vào công việc đập tan
thành kiến tiêu cực về vụ đồng tính luyến ái, giúp họ sống tự nhiên theo
căn tính, theo khuynh hướng luyến ái và sở thích tình dục của họ. Rúng
ép, cưỡng bách họ theo bản tính và sự ưa thích của mình tức là làm trái
với cái ĐỨC theo quan niệm của Lão Tử, tức là sống theo bãn tính tự
nhiên của mình. O ép họ hoặc khiên cưỡng họ sống theo người yêu kẻ khác
phái tính là một điều trái tự nhiên, phản khoa học, lại còn độc ác bất
nhân. Françoise Sagan, Mae West, Liz Taylor là những người biết sống vì
biết thông cảm những kẻ muốn sống tự nhiên theo bản tính nhưng lại bị xã
hội đầy những kẻ đầu óc hẹp hòi nguyền rủa, lên án và ngăn cấm.

LDV: Chúng ta đã làm được gì và cần làm thêm những gì để đẩy lùi những sự phân chia kỳ thị giới tính?

HTA: Chỉ cầu mong cho mọi người hiểu rằng đồng tính luyến ái là cái
sở thích bẩm sinh, chứ không phải là cái căn bịnh do xã hội tạo ra. Có
kẻ bảo rằng người đồng tính luyến ái là do trong người đương sự có những
cái gènes (mầm mống) tạo cho đương sự cái khuynh hướng yêu người đồng
phái. Dù tôi không nắm vững vấn đề nầy, nhưng tôi không bao giờ để cho
Ông Trời hay nhà khoa học hay nhà tâm ly học hoặc nhà phân tâm học nào
chữa trị tôi trở thành người đàn ông bình thường. Tôi rất hạnh phúc được
làm chàng gay.

Để đẩy lùi sự phân chia giới tính, người đồng tính luyến ái phải tỏ
ra có tư cách. Trước hết đừng ve vãn cọ quẹt với những người không phải
là gay như mình. Đừng tỏ ra âu yếm quá lố với người tình của mình trước
công chúng hoặc làm trò õng ẹo nữ tính. Có vậy các nhà soạn kịch, các
nhà viết kịch bản không viết tuồng hát hay viết truyện phim phơi bày cái
lố lăng của bọn gay ra. Như thế, bọn gay chúng tôi mới tránh khỏi bị họ
vẽ vời qua những đường nét biếm họa lố lăng. Phải sống như người bình
thường. Đừng mặc cảm, có vậy mới hóa giải đươc một phần lớn sự phân chia
gới tính của kẻ dị tính luyến ái. Còn những người dị tính luyến ái nào
vốn thiếu tấm lòng thông cảm bao dung phải tìm hiểu vì sao thời buổi này
vấn đề đồng tính luyến ái được một vài nước nới lỏng, không bị ngăn cấm
gắt gao. Đó có phải là cái kết quả tích cực của biết bao công việc
nghiên cứu của các nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, nhà
nhân chủng học, nhà sinh lý học, nhà tình dục học v.v… Dần dần họ mới
khám phá cái bí nhiệm của kẻ đồng tính luyến ái và đi đến kết luận tích
cực như sau: đồng tính luyến ái không phải là cái bệnh, cũng không phải
là tật xấu mà là một trạng thái tâm lý học lẫn sinh lý học như bao nhiêu
trạng thái muôn màu muôn vẻ của con người sống trên trái đất này.

LDV: Ông có tin vào tầm ảnh hưởng lớn của văn chương
không? Ông có tin nó có thể giúp chúng ta xóa bỏ những ranh giới khác
biệt giữa người và người không?

HTA: Có chứ cô Vân. Hồi 2 thập niên 30 và 40, văn hào André Gide dám phô bày cái đồng tính luyến ái của mình qua nhiều văn phẩm có giá trị nghệ thuật nên một thiểu số dân Pháp chẳng những không buộc tội bọn gay mà còn đặt lại vấn đề để tìm hiển dân gay sâu xa hơn. Tôi còn nhớ khi nhà đạo diễn James Ivory thực hiện cuốn phim Maurice phóng tác theo tác phẩm cùng tựa của E.M. Forster, khán giả Pháp đến xem chật rạp. Đa số dều chia sẻ tâm sự chàng Maurice do James Wilby đóng. Vào năm 2005, khi cuốn phim Le Secret de Brokeback Mountain của Ang Lee tung ra cũng được giới thưởng ngoạn ủng hộ nồng nhiệt. Đọc những quyển sách của ông André Gide, của ông Robert Peyrefitte (chẳng hạn như quyển Les Amitiés Particulièrs/Tình Bạn Kỳ Đặc) hoặc xem những cuốn phim mà tôi vừa kể thì kẻ thưởng ngoạn phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề kỳ thị dân gay chứ! Nên tôi mãi tin, văn chương có tầm ảnh hưởng đáng kể.

LDV: Với tư cách là một nhà văn và một người trong cuộc,
ông có những lời khuyên nào cho những ai vẫn còn chưa tìm được sự bình
an trong tâm hồn về định hình giới tính của riêng họ?

HTA: Mình hạnh phúc hay không là do chính mình. Mình phải thành thật
với chính mình, phải xem xét hoài bão và nguyện vọng của mình để tìm một
lối sống riêng biệt cho mình với điều kiện mình không làm mất lòng ai,
không dẫm chân và phóng uế vào đời tư kẻ khác. Mình phải chủ trương đời
mình miễn sao đừng làm hại kẻ khác. Tôi xin nhấn mạnh những gì tôi đã
phô bày, cạn tỏ mình nên sống bằng cuộc đời của mình, đừng sống bằng đời
của kẻ khác. Đó là sống theo cái ĐỨC. Sống bằng đời kẻ khác, hoặc sống
tuân theo luật lệ xã hội một cách khít khao mà không để một khe hở nhỏ
nhoi cho ánh nắng tượng trưng cho sự tự do, cho sự quyền biến, cho sự
cảm thông lọt vào thì cuộc sống của mình trở nên lệch lạc nếu không bảo
là què quặt tật nguyền.

LDV: Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Hồ Trường An đã dành
cho độc giả những tâm sự hết sức cá nhân và lòng chân thật đáng quý
trong cuộc nói chuyện này.

*Ảnh trên: nhà văn HTA vào năm 1991. Ảnh dưới – nhà văn HTA vào năm 2008.




Tỳ Bà Hành

Louis Tuấn Lê
Ảnh đính kèm

Nhân lúc thực hiện Video Mạn Đàm Tỳ Bà Hành (琵琶行), tôi đọc qua tác phẩm Tỳ Bà Hành và Tiểu sử Bạch Cư Dị. Quả thật đại thi hào Bạch Cư dị là một thiên tài, mà thời bấy giờ gọi ông là (Thi Tiên) ông cùng đứng tên trong Tam Đại Thi Hào của Trung Hoa, gồm có: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Bản dịch hay nhất của Phan Huy Thực đã ghi dấu nền văn học và ngôn ngữ Việt thật phong phú.

Bốn câu mở đầu
đó là: 

Bến Tầm Dương canh khuya đưa
khách 
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu 
Người xuống ngựa khách dừng chèo 
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti.

Phan Huy Thực

Một chút phân tich về chữ nghĩa
Mở đầu chúng ta thấy Bạch Cư Dị trong nguyên bản ông đã viết: 

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách.

Nghe không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Dịch giả Phan Huy Thực viết “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách“. Chữ dạ có nghĩa là đêm không gợi ý bằng chữ Canh Khuya. Tài năng của dịch giả Phan Huy Thực cộng với tinh thần của tiếng Việt nghe vẫn hay hơn.

Đọc câu thơ thứ hai theo nguyên bản: “Phong diệp địch hoa thu sắt sắt“. Phan Huy Thực dịch “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” thì câu thơ dịch của họ Phan, làm rung động lòng người, nhờ những chữ “lau lách đìu hiu”, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, chúng ta thấy chữ “lau lách” buồn hơn chữ địch hoahơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là “thu sắt sắt”. Tinh thần của chữ Việt tuyệt vời ở chỗ đó.

Tôi cũng thử dịch 8 câu đầu trong bài Tỳ Bà Hành, tôi dịch theo ngôn ngữ của thời hiện tại.

Bản Dịch của Lê Tuấn, Văn Thơ Lạc Việt

Tầm
Dương, bến sông khuya đưa khách

Phong
lau buồn hiu hắt gió thu

Người
xuống ngựa, khách dừng tay

Chén
quỳnh uống cạn, nhớ ngày biệt ly.

Say
chút tình, ngậm ngùi xa vắng

Nước
mênh mông soi bónh hình riêng

Tiếng
tỳ bà réo rắc ngân

Chủ
nhân dừng lại, khách ngần ngại đi.

Tóc Trắng

Bảy
mươi chưa phải tuổi già

Lo
buồn thế sự tóc đà bạc phơ

Bên
sông cò trắng nhởn nhơ

Buồn
nào vương vấn, lông tơ trắng đầu.

LT

“Cảm hứng theo những vần thơ cổ xưa”
















調
















漿



西
















































滿




Hãy Lau Đi – Thơ

Hãy Lau Đi

1

Hãy
lau đi vết bụi quá khứ

Xóa
tan đi dĩ vãng đau buồn

Sự
đổi dời như cơn gió lốc

Cho
tiếng gào, than khóc điên cuồng.

2

Hãy
lau đi vết bụi chinh chiến

Pháo
hỏa châu thắp sáng đêm thâu

Bóng
chinh nhân nỗi buồn trăn trở

Cho
tiếng đời than khóc biển dâu.

3

Hãy
lau đi vết bụi đọa đầy

Song
sắt, gông cùm va đập nhau

Nghe
tiếng khóc than từ địa ngục

Dồn
dập thêm tiếng đập cơn đau.

4

Hãy
lau đi vết bụi cuộc tình

Em
đến bên tôi những hội xuân

Đời
có thêm một lần lỗi hẹn

Nhớ
thương nào để lại bâng khuâng.

5

Hay
thôi! để giọt lệ nấc nghẹn

Cho
tiếng buồn đau ở trong lòng

Một
thời đại tan từng mảng lớn

Lịch
sử còn đang chảy theo dòng.

6

Hãy
vui đi, hoa đời thưởng thức

Mong
thương yêu còn mãi chứa chan

Lay
động những tâm hồn mê sảng

Cho
tình yêu ve vuốt hỏi han.

AET. Lê Tuấn




Bài Thơ CHI LẠ RỨA

Bài Thơ CHI LẠ RỨA

Nguyễn Thị Hoàng

Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc,
Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn.
Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen,
Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.

Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!

Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi!

Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau!
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!

Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.

Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.

Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rứa hè, ai hiểu nỗi!

Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ?

Tui cũng muốn có một người tri kỉ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng!
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa

Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa,
Bởi vì răng tui có hiểu chi mô!
Vì lòng tui là mặt nước sông hồ,
Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.




LÁ THẮM ĐỀ THƠ

“LÁ THẮM ĐỀ THƠ”

(hay là: Lá thắm đưa duyên)

Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mệnh, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.
Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào thì nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô phòng giá lạnh.
Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ngòi nước:
Nước chảy sao mà vội?
Cung sâu suốt buổi nhàn.
Ân cần nhờ lá thắm
Trôi tuốt đến nhân gian.
Nguyên văn:
Lưu thủy hà thái cấp
Cung trung tận nhật nhàn.
Ân cần tạ hồng diệp.
Hảo khứ đáo nhân gian.
Chiếc lá chở bài thơ theo dòng nước chảy xuôi ra ngoài vòng cấm lũy.
Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm dòng nước chảy, Hàn bỗng nhìn thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm tình chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, lên đầu nguồn dòng nước thả lá xuống cho trôi trở xuống.
Nghe oanh thấy liễu chạnh lòng thương,
Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.
Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,
Gởi cho ai đó nói không tường.
(Bản dịch của Phan Như Xuyên)

Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nhìn dòng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.
Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ ( khoảng 3,000), trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người trò chuyện, ý hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.
Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của mình ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của mình vớt được cho vợ xem. Thì ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.
Cổ thi có bài: (*)
Một đôi thi cú theo dòng nước
Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.
Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng
Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.
Nguyên văn:
Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,
Thập tải ưu tư mãn tố hoài.
Kim nhật khước thành loan phượng lữ,
Phương tri hồng diệp thị lương môi.
Trong “Đoạn trường tân thanh” của cụ Nguyễn Du, có câu:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
hay:
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
và:
Nàng rằng hồng diệp xích thằng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
“Lá thắm”, “Hồng diệp” đều do điển tích trên.
./.
(Bài sưu tầm từ trang FB Những Câu Chuyện Thú Vị )




Cung Chúc Tân Xuân – Thơ

Cung chúc tân xuân – Thơ Lê Tuấn

v



Your Eyes




Past The Old School by Chance-Tình Cờ Trước Cổng Trường Xưa




CHỊ+EM

 Thu-Vân & Xuân-Hạnh

Đêm nay là bao nhiêu đêm
Bỗng dưng chị thấy nhớ em vô cùng…
Hôm chị ra đi theo chồng:
Bánh ngon, áo đẹp, người đông, quà nhiều,
Hẳn em chưa buồn bao nhiêu
Trước khi tiệc mãn, trời chiều, đêm khuya .
Nhưng sau khi chị đã đi
Thì em mới thấy buồn chi là buồn…

Đồ-đạc của chị không còn,
Nỗi trống vắng ngập cả hồn thơ-ngây .
Hơi-hám của chị còn đây,
Thói quen ngày cũ… ngày nay đổi dời …!

Em thường bắt chị “à ơi!”
Cho em ngon giấc trong lời hát ru …
Bắt chị kể chuyện ngày xưa
Cho em dệt đẹp giấc mơ nhi-đồng;
Khỏe chị dắt, mệt chị bồng;
Chị kèm em học, chị cùng em chơi …

Bây giờ chị xa em rồi,
Khác người kể chuyện, khác lời hát ru .
Biết em đã quen hay chưa,
Hay còn nhớ chị ngẩn-ngơ sớm chiều …

“Bao-lơn gác thượng chớ trèo!
“Chớ sờ dây điện! Chớ leo thành hồ!
“Tới trường chớ quá nghịch đùa!
“Ra đường chớ có đuổi xô bạn-bè!…”

Những lời chị thường răn đe,
Biết em còn nhớ, còn nghe kỹ-càng?
Chị thương em, út muộn-màng,
Thiên-thần lạc mất thiên-đàng rồi, em!

Ngày xưa: gia-đình ấm êm,
Mẹ cha đầy-đủ, chị em sum-vầy …
Nhưng, từ cha bị tù đày,
Nỗi thiếu vắng phủ rứt-ray cả nhà …
Chị càng thương em thiết-tha
Để bù nỗi vắng xa cha giữa đời …
Bây giờ, chính chị tách rời:
Đã một người, lại một người xa em!

Thư chị: em giành em xem,
Em giữ thật kỹ con tem, cái bì …
Quà chị: me bảo ăn đi,
Em  sợ  hết,  gậm  tí  ti  mỗi  lần…

Thương em vô đỗi, vô ngần,
Chị lại đọc lại từng vần thư em;
Ảnh em, chị lại lấy xem,
Tưởng như có chị bên em mãi hoài …

“Ngày xưa…” mới gần đây thôi,
Một người làm việc mà nuôi cả nhà :
Trẻ thì tha-hồ bánh quà,
Lớn lên đại-học, thi ra thành-tài !…

Bây giờ  thì  chị  Tú Hai,
Thi vào đại-học: không ai cho vào!
Thị-trường hàng hiếm, giá cao,
Lương anh ít, chị khổ-lao góp phần.
Cưới xong phải trả nợ-nần,
Quà em… sợ sẽ… giảm dần, em ơi !

Bây  giờ, chị  xa  em  rồi,
Nhớ  em,  chị  khẽ  ôn  lời  hát  ru:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Thương em, nhớ mẹ, ruột đau chín chiều!”

THANH-THANH

                                                        1975-80




The Former Way-Lối Về




HỒN XUÂN

HỒN XUÂN

(Kính họa bài Tiếng Gọi Xuân Về của thi sĩ Lê Tuấn)

Xuân về lộc trỗ vun cành

Nắng vương lên mảnh khăn lanh óng vàng

Được em yêu chẳng dễ dàng 

Hồn rung mấy bậc nhịp nhàng cung thơ 

Đắm say ra ngẩn vào ngơ

Hồn Xuân đã ngủ trên bờ vai em

Dịu dàng cơn gió ru êm

Mơn man vệt mộng ngang thềm nhẹ rơi

Tim bâng khuâng tiếng gọi mời 

Miên man một cõi mây trời tỏa riêng

Cỏ hoa rực rỡ vào Giêng

Sao em nỡ để tâm phiền anh mang

Xuân nồng hôn khóm cúc vàng

Lắt lay cơn gió nhịp nhàng chân đi

Từ yêu em ước mãi khi 

Bướm hoa chung lối mộng thì hoà chan

Phương Hoa – JAN 16th 2020




Xuân Về

Minh Thuý            

1/17/2020




Ngày xuân đi chợ Tết

Nhớ
lại những ngày Tết Sài Gòn xưa. Xin chia sẻ cùng quý vị bài thơ 5 chữ,
tôi viết đã lâu rồi, bài thơ này mang theo âm hưởng của ca khúc “Em đi
chùa Hương”. Rất mong quý nhạc sĩ (Ngẫu hứng) viết một ca khúc mang giai
điểu (gần gũi với ca khúc Em đi Chùa Hương) hay bài thơ (Ông Đồ Già).
Nếu được như vậy thì hay biết mấy. Rất mong quý vị nữ sĩ VTLV cùng họa
bút để chia sẽ những vần thơ hay cho ngày xuân.

Chúc quý vị một mùa xuân thật vui.

Trân trọng

Lê Tuấn

Ngày xuân đi chợ Tết

Nắng đùa trên mái tóc
Gió đùa vạt áo bay
Em cười vui trong nắng
Cánh hoa hồng trên tay.
Năm nay em mười tám
Tuổi trăng rằm ngây thơ
Mẹ hỏi em có muốn
Lấy chồng sớm hay chờ.
Em còn đang dệt mộng
Trong lứa tuổi xuân thì
Mẹ hỏi em kỳ quá
Lấy chồng sớm làm gì.
Mỗi lần em ra phố
Nhiều chàng trai đứng chờ
Trên đường đi rất ngượng
Em đang tuổi mộng mơ.

Ngày xuân đi chợ Tết
Em gặp chuyện bất ngờ
Một chàng trai tuấn tú
Tặng em một bài thơ.
Bài thơ vần lục bát
Ôm ấp một tình yêu
Lời thơ như gợi nhớ
Kim Trọng gặp Thúy Kiều.

Từ dạo đó em nhớ
Ngồi ngắm mình trong gương
Tô thêm bờ môi đỏ
Em vẫn đợi người thương.
Một hôm Mẹ lại hỏi
Bao giờ cô lấy chồng
Em thẹn thùng ấp úng
Trời đã vào cuối đông.
Gia đình chàng đến hỏi
Em đứng nép bên thềm
Mẹ gật đầu ưng thuận
Em thao thức thâu đêm.
Cuối năm làm đám cưới
Em một lòng thủy chung
Chồng em người lính chiến
Lính Việt Nam Cộng Hòa.

AET. Lê Tuấn

Hương Mùa Xuân

Ngày xuân hương cỏ lạ
Hoa đào chen sắc mai
Bướm ong bay tìm mật
Ngày vui nối tình dài.

Giọt sương khuya lấp lánh
Nắng điểm nhẹ trên môi
Em cười vui ngày Tết
Bên hương say, gọi mời.

Tháng giêng xuân vừa đến
Cho tình yêu lên ngôi
Gợi thêm từng nỗi nhớ
Thơ tràn vào vào hồn tôi.

Lê Tuấn
Mùa Xuân 2019




Tình Xuân

Tình Xuân

Ở hai đầu nỗi nhớLặng lẽ buồn bơ vơ
Anh gặp em ngày đó
Đền bây giờ dại khờ.

Tình xưa thời con gái
Tuổi trăng tròn ngây thơ
Môi chạm môi bỡ ngỡ
Đầy ướt át trong mơ.

Nụ mai vàng trước ngõ
Gió xuân đang đợi chờ
Nắng ươm đầy nỗi nhớ
Mây trắng bồng bềnh trôi.

Cành đào thêm sắc đỏ
Dập dìu khách vui xuân
Lang thang chiều dạo phố
Bỗng dưng lòng bâng khuâng.

Buổi chiều vàng chợt tốiHạt mưa xuân nhẹ rơi
Anh cùng em nhẹ bước
Đêm xuân vẫn gọi mời.

Lê Tuấn
Người nghệ sĩ lang thang

Tình yêu nhiệm mầu

Linh hồn ta yếu đuối
Làm sao vượt lên trên
Bên kia bờ vực thẳm
Cho nỗi nhớ bồng bềnh.

Nhìn thấy bóng dáng em
Ta đã lỡ ôm ghì
Đem vào thơ nỗi nhớ
Mối tình đầu mê si.

Đọc hết trang thánh thư
Hồn ta vẫn nát nhừ
Thiếu tình em là thế
Dù biết đời hư vô.

Cô đơn như Thượng Đế
Yếu đuối như gã khờ
Vì tình nên anh viết
Chữ yêu đầy trang thơ.

Cõi lòng còn day dứt
Huyết mạch chảy trong tim
Dòng nào cho tình sử
Dòng nào chảy lặng im.

Triết lý nào cũng thế
Dạy ta biết yêu nhau
Không chia đôi cắt đứt
Tình yêu sự nhiệm mầu.

Lê Tuấn
Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng




HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN

HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN

Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.

Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.
Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.

Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
Cọp ngồi khóc tỉ tê.
Mạ hỏi
– Con không thương mạ à?
– Dạ có
– Rứa răng con cứ đòi về nhà?
– Con không biết.
Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.

Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.

Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.

Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.

Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.

Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
– Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
– Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
-Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.

Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.

Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.

Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
– Bữa ni Cọp được mấy điểm?
– Con được 10 điểm.
Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
– Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.

***
Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.

Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…

Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.

Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..

Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.

Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.

Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.

Bà không la còn vỗ tay khen:
– Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
***
Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.
Tết.
Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
– Chắc cháy kho đạn?
Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
– Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
– Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.

Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
– Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…

Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.

Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.

Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
– Anh đi với họ.
– Đi mô?
Mạ Cọp thất thanh.
Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
– Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
– Anh đi mô?
Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
– Họ nói chi rứa?
Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.

Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.
Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.

Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.

***
Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm
đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ
lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt
thâm quầng của ba.
Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời
vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà.
Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe
tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
Lính.
Lính mình.
Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
– Mình tái chiếm rồi con.
Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
-Mình tái chiếm rồi hả ba?

***
Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào
SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu
luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều
ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở
về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong
đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái
hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ
của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén
cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người
bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm
định mệnh.

Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm
chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để
tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng
lại.
Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
Khi Cọp trở lại
xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên
đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng
đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa
xa vắng.

***
Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!

Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
Cọp cúi đầu.
“Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”
./.
ThaiNC

Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.
Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
Cọp ngồi khóc tỉ tê.
Mạ hỏi
– Con không thương mạ à?
– Dạ có
– Rứa răng con cứ đòi về nhà?
– Con không biết.
Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.
Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.

Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.
Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.

Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.

Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
– Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
– Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
-Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.

Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.
Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.

Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
– Bữa ni Cọp được mấy điểm?
– Con được 10 điểm.
Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
– Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.

***
Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.
Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…

Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.
Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..

Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.

Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.

Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.
Bà không la còn vỗ tay khen:
– Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
***
Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.

Tết.
Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
– Chắc cháy kho đạn?
Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
– Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
– Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.
Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
– Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…

Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.

Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.
Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
– Anh đi với họ.
– Đi mô?
Mạ Cọp thất thanh.
Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
– Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
– Anh đi mô?
Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
– Họ nói chi rứa?
Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.
Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.

Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.
Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.

***
Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm
đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ
lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt
thâm quầng của ba.
Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời
vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà.
Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe
tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
Lính.
Lính mình.
Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
– Mình tái chiếm rồi con.
Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
-Mình tái chiếm rồi hả ba?

***
Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào
SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu
luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều
ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở
về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong
đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái
hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ
của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén
cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người
bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm
định mệnh.

Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm
chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để
tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng
lại.
Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
Khi Cọp trở lại
xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên
đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng
đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa
xa vắng.

***
Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!
Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
Cọp cúi đầu.
“Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”

ThaiNC




Mùa xuân vừa đến

Mùa xuân vừa đến

Mùa xuân hương vị ngọt ngào

Hoa thơm cỏ lạ đón chào bình minh

Tóc bay nhè nhẹ hương tình

Má hồng môi thắm điểm xinh nụ cười

Mai vàng hé nụ đẹp tươi

Đào về trước ngõ lả lơi gọi mời

Mưa bay lất phất giữa trời

Long lanh hạt ngọc cho đời thêm duyên

Mùa xuân đang đến trước hiên

Môi em thắm đỏ cười hiền đón xuân

Dặt dìu bước nhẹ bâng khuâng

Niềm vui mơ ước xa gần thăm nhau.

Mùa xuân hoa lá đổi màu

Bướm vui bay lượn mở đầu ngày vui

Bãi xuân én lượn sương mù

Bước chân em nở cánh dù đầy hoa.

Lê Tuấn




Hồn đá còn vương

Hồn
đá còn vương

Nghe tin gió đã lên thành bão

Trờ
đất quay cuồng biến hóa mau

Mặt
đất ầm lên ngọn gió hú

Tiếng
người than khóc rợn đêm thâu.

Ván
cờ thua cuộc tự do mất

Chiến
sĩ dừng tay, cuộc thắng thua

Nhớ
người lính chiến mài gươm sắc

Hồn
đá còn vương gió đổi mùa.

Định
mệnh đuổi lùa theo vận nước

Nào
danh với phận có là chi

Cảm
thương người lính bên chiến bại

Chịu
cảnh đọa đầy vẫn khắc ghi.

Lịch
sử đời đời luôn thay đổi

Lên
voi xuống chó cuộc bể dâu

Cõi
tạm trăm năm tri thiên mệnh

Được
mất bại thành thoáng qua mau.

Hôm
nay ta say cùng bạn hữu

Nghiêng
bầu hỏi bạn có lông bông

Ta
rót về phương trời gió loạn

Cho
đời sót chút phận hư không.

Đời
có còn thương người năm trước

Ánh
hào quang lạc mất nơi nào

Chiến
tranh thuở ấy thời binh loạn

Ta
vẫn còn đây, mãi tự hào.

Lê Tuấn




ĐÒ XƯA

ĐÒ XƯA

Truyện Ngắn Thai NC

-Thằng đang bơi, qua bên ni chị nhờ chút.
Đang bơi thỏa thê trên sông, Cọp nghe tiếng gọi từ con đò đang đậu gần đó và thấy chị Lành đang đứng đầu mủi đưa tay ngoắc.
Cọp biết đây là đò bán chè của chị Hiền và chị Lành. Hai người tuy ở chung đò nhưng không phải là chị em vì rất khác nhau. Chị Hiền lớn hơn chị Lành vài tuổi, cao và có nước da ngăm ngăm, giọng chị mang âm hưởng Quảng Nam, trong khi chị Lành thấp và trắng hơn, nói đặc giọng Huế.

Lý do nào hai cô gái không phải chị em thân thuộc, không cùng quê quán lại cùng chung sống trên một chiếc đò thì Cọp không biết, và không cần biết. Cọp chỉ biết rằng mấy tháng trước hai chị cùng chèo đò tới cập bến tại đây để bảng bán chè. Ban ngày hai chị chèo đò bán dạo ở đâu không biết, chiều thường trở về bến ở xóm Chùa Bà nhà Cọp nấu cơm ăn, giặt giủ. Tối đến hai chị lại chèo đi bán chè dạo trên sông.
Cọp biết tên chị Hiền chị Lành vì thỉnh thoảng nghe người ta gọi chè hai chị từ trên bờ, nhưng họ không biết Cọp là ai. Buổi chiều Cọp thường ra bơi sông gần chỗ hai chị neo đò. Cọp chưa bao giờ mua chè chị Hiền chị Lành nên chưa quen nhau.

Cọp bơi lại gần và thấy chị Lành đang đứng kiển chân ở mủi đò cầm cái sào khá dài cố vớt cái quần đen đang dần trôi xa ra khỏi tầm với của chị. Quàn áo mấy chị giặt phơi bị gió thổi xuống sông đây. Không chần chờ, Cọp bơi qua lấy cái quần đưa lại. Chị Lành mừng quá rối rít:
-Cám ơn cu hí. Cu tên chi?
-Tên Cọp.
Chị Lành cười
-Ui cha tên chi mà dữ rứa ? Nhưng thấy cu hiền khô dễ thương ghê.
-Ai rứa ? Có tiếng chị Hiền từ bên trong
– Cái quần Mỹ Á mới may bị gió xuống sông may nhờ thằng cu ni bơi vớt lên chơ không là trôi mất rồi.
– May chưa tề ! Kêu hắn lên cho hắn chén chè.
-Ừ hí, em quên. Cu lên đò chị cho chè ăn nì. Cu chi? Cọp phải không? Cọp lên đây chị múc chè ăn. Không tính tiền mô.
Nghe nói được cho chè, Cọp thích lắm, nhưng đành chịu, nguợng nghịu lắc đầu.

Chị Lành hiểu ngay khi nhìn Cọp qua dòng nước, cười nói vào bên trong
-Hắn lên không được mô Hiền ơi. Hắn đang bơi ở lổ. Hắn dị, hí hí!
-Bày đặt. Con nít con neo ai thèm dòm mà dị !
Chè thì thích thiệt, nhưng làm sao dám tồng ngồng lên gặp hai chị. Nó quảy mình bơi lẹ ra sông, và nghe tiếng chị Lành vói theo
-Ngày mai Cu mặc quần rồi lên đò chị ăn chè nghe.
***

Hôm sau Cọp đã chuẩn bị nên bơi… có mặc quần đàng hoàng và lên đò chị Hiền chị Lành làm một bụng chè thỏa thê.
Kể từ hôm đó Cọp đã quen thân với cả hai chị. Không cần vớt quần vớt áo chi cả, Cọp khi nào cũng được ăn chè không tốn tiền. Không phải chỉ chè mà thôi. Chị Hiền chị Lành thỉnh thoảng kêu bún bò hay cơm Hến vô ăn cũng đều để dành cho Cọp một tô…

Một bữa Cọp bơi đến con đò và thấy chị Lành ngồi một mình thọc hai chân xuống nước. Cọp mon men bơi lại nhưng không leo lên đò như mọi khi mà chỉ đứng dưới.
Đang nói chuyện Cọp để ý chị Lành xắn chiếc quần đen đang mặc lên tới tận đầu gối, thòng cả hai cái chân xuống đong đưa vọc nước. Cọp cứ nhìn sửng đôi chân đến nổi chị Lành ngạc nhiên hỏi
-Mi nhìn chi dưới nước?

Cọp bẽn lẽn nói nó nhìn hai cái chưn chị đong đưa như vậy giống như hai con cá đang lượn đùa nhau.
-Hi hi, chị Lành cười. Thằng ni tưởng tượng ghê hí. Ừ, chừ cho hai con cá bơi đua nghe.

Nói xong, chị phát ra miệng mấy tiếng kêu “ ron-ron- ron…” như tiếng xe máy đang rú ga. Bên dưới chị dùng chưn trái lượn qua qua lượn lại rất lã lướt. Chưn phải cũng lượn rượt theo liền phiá sau. Hết bên trái tới bên phải, cứ như vậy chị cho hai con cá đuổi nhau thật sôi động. Thỉnh thoảng một con hứng chí bay lên khỏi mặt nước, con kia cũng bay theo lên liền không chịu kém.

Thằng Cọp thích quá hò reo hưởng ứng. Chị Lành nghĩ ra trò đua cá thiệt hấp dẫn.
Bỗng nhiên chị Lành cho con cá chưn trái chậm lại để cá chưn phải bắt kịp. Chị xoè ngón chân cái và ngón trỏ ngoạm một cái ngay gót chân, rồi la lên
-Bắt được mi rồi. Bắt được mi rồi…
Xong chị lấy ngón chưn cái của con cá sau ịn một cái vô con cá trước và nói tiếp:
-Bắt được rồi cho hun một cái.
Thằng Cọp cười ngặt nghẻo nhìn chị Lành đạo diễn màn đua cá, nhất là màn cuối bắt được rồi cho hun một cái.
Chị Lành nhìn Cọp nói
-Chừ tau với mi chơi. Tau bơi, còn mi đuổi theo nghe chưa. Cho mi dùng tay làm cá đó.

Cọp chịu. Chị Lành co một chưa lên bờ, chưa kia vẫn để dưới nước và bắt đầu rà tới rà lui.Miệng chị vẫn “ron – ron- ron” rú ga giống như hồi nãy đầy vẻ thách thức. Cọp đâu chịu kém. Nó cũng “ ron- ron-ron” rú ga giống như chị Lành, và nhanh như chớp bất thần cả hai tay chụp xuống dưới nước. Chưa kịp chuẩn bị và không ngờ Cọp mới chịu là …làm liền, nên con cá Lành bị chụp cứng ngắt không kịp phản ứng.

Chị la bai bải
– Ăn gian.! Thằng ni ăn gian. Tau chưa chuẩn bị. Mà mi không được dùng hai tay. Tau một con mi cũng một con thôi. Chừ bắt đầu lại .
Trò chơi lại bắt đầu. Lần này chị Lành đã chuẩn bị, và Cọp chỉ được dùng một tay nên cuộc đua sôi nổi hào hứng hơn. Mỗi lần Cọp chụp hụt là chị Lành lại cười ré lên khoái chí. Nhưng sau nhiều lần chỉ vồ nước sông, Cọp đã nghĩ ra cách chụp cá. Nó không nhắm bàn chưn chị Lành nữa mà nhè ngay… đầu gối chị để chụp. Chỗ này thì dính chắc vì chị đâu có di động được. Từ đầu gối, mặc cho chị Lành vung vẩy dữ dội Cọp vẫn cứ bám lấy và lần mò theo bắp chưn của chị xuống phía dưới cho đến khi nắm được bàn chưn con cá Lành là chị hết đường cục cựa. Chị Lành cười nắc nẻ.
-Mi chơi ăn gian, nhưng mà thôi, cho mi thắng đó. Chừ bắt được rồi cũng hun một cái.

Cọp đang ngơ ngác, chị Lành co chân lên khỏi mặt nước lúc lắc ngón chân cái. Hiểu ý, Cọp bắt chước như hồi nãy dùng ngón tay ịn vô chưn của chị để …hun một cái. Cả hai cười như nắc nẻ khoái chí.
Đang cười, chị Lành bỗng ngưng lại,nhìn Cọp hỏi
-Mi thấy chưn tau đẹp không?
Nói xong chị đưa cái chưn tới sát ngay mặt. Như phản xạ tự nhiên, Cọp dùng cả hai tay bưng chưn chị Lành rồi ngơ ngẩn nhìn. Một tay Cọp đỡ ngay gót, tay kia vân vê những ngón chưn. Cọp nhận ra chưn của chị Lành trắng phau phau. Bàn chưn của chị nhỏ nhắn nhưng đầy đặn không một sợi gân. Đẹp nhứt là năm ngón e ấp tụm lại với nhau chứ không xòe ra như cánh quạt của hầu hết những người khác mà Cọp thấy. Điều đặc biệt là gót chưn của chị tròn lẵn, không một vết nứt nẻ nào. Cọp chưa từng thấy ai có bàn chưn đẹp như ri.

Bỗng nhiên Cọp thấy thèm một cây cà-rem , cây cà rem đậu xanh Cọp thích nhứt, giữa buổi trưa hè… Nó đau đáu nhìn những giọt nước từ bàn chưn chị Lành tụ lại ở đầu ngón và rơi xuống sông, tưởng tượng cây cà-rem …
Cọp thèm một cây cà rem chi lạ !
-Chưn tau đẹp không?
Tiếng chị Lành lặp lại. Cọp thẩn thờ gật đầu.
-Mi thích không?
Cọp lại gật đầu
-Thích thì…cho hun một cái đó.

Hồn vía Cọp lúc nầy như đã bị con Ma Hớp Hồn hớp mất, nó lấy ngón tay tính để ngón chưn của chị để hun như lúc nảy, nhưng chị Lành gạt ra và nói
-Không phải hun rứa. Hun thiệt. Hun bằng miệng.
Chị Lành nói xong đưa chưn tới sát ngay trước mặt Cọp.
Cây cà rem đậu xanh sữa nhúc nhích, nhúc nhích. Cọp nhìn chị Lành thấy chị vừa cười vừa gật gật đầu. Nó mân mê cái chưn trắng ngồn ngộn của chị Lành trong tay, rồi bỗng nhiên như có một sức mạnh nào thúc đẩy, nó đưa mũi tới sát và hít một hơi thiệt mạnh. Chưa bao giờ Cọp hít mạnh như vậy. Nó có cảm tưởng không phải chỉ bàn chưn, mà cả cái chưn của chị, cả người chị Lành, đang chui tọt vô mủi nó.

Không phải chỉ chị Lành.
Con đò,
Dòng sông,
Cả thế giới chung quanh như đều bị Cọp hít hết cả vào người. Chị Lành bật cười sằng sặc làm Cọp bừng tỉnh. Nó dị quá, thả vội cái chưn ra và quay mình chạy vô bờ.
– Chuyện chi rứa? Tiếng Hiền hỏi từ bên trong.
-Thằng Cọp chơ ai. Tui mới chọc chút mà hắn dị hắn chạy rồi.
-Con khỉ ! Hắn còn nhỏ, mi chọc chi rứa?
Tiếng chị Lành cười khanh khách phía sau….

***
Từ giả dòng Hương giang hiền hòa, Cọp rời Huế một sáng trời mưa bay bay, hành trang mang theo là những kỷ niệm.
Kỷ niệm một cái chưn trắng nỏn nà của cô gái bán chè trên sông Hương đã cho Cọp cái cảm giác rạo rực đầu tiên trong đời.
./.

Image may contain: night and outdoor



Mang nhạc vào thơ

Mang nhạc vào thơ

Những bài thơ được phổ nhạc.

Xem thơ chỉ biết đến thơ! Đấy là những bài thơ có giá trị, trường tồn mãi với thời gian. Mình xin làm một chủ đề về những bài thơ tình hay, được yêu thích, đã đi vào âm nhạc.
Bao giờ đủ 100 bài thơ trữ tình hay, thì làm một ebook!
Bài mở đầu, xin chọn nhà thơ Yên Thao với bài thơ ” Nhà tôi”:

NHÀ TÔI

Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy, xạm đen màu tiết đọng
Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương
Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi,đau gì không?
*
Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
Buông tay gàu vui lại thuở Bình Mông
Ghì nấc súng nhớ ơi, ngày đắc thắng
Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dậm
Áo nào phai không sót chút màu xưa
Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh
Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa
*
Tôi có người vợ trẻ
Đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín
Ai ra đi mà không từng bịn rịn
Rời yêu thương nào đã mấy ai vui
Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ.
*
Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngả màu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng gày uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ buổi tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon
ÔI, xa rồi, mẹ tôi
Lệ nhòa mi mắt
Mong con phương trời
Có từng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe giòn tiếng súng nhớ lời chia ly :
– Mẹ ơi, con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui.
*
Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh
Sông sâu mừng , lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi kia, bên trại thù quạnh quẽ
Trông im lìm như một nấm mồ ma
Có còn không, em hỡi ! mẹ tôi già !
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa ?
Tôi là anh lính chiến
Theo quân về giải phóng quê hương
Mái đầu xanh bụi viễn phương
Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch.
*
– Này, anh đồng chí
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành ?
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo lại nhầm nhà tôi !
Nhà tôi ở cuối thôn Đồi
Có giàn Thiên lý, có người tôi thương.

Yên Thao- 1949

Bài thơ đã đc nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với tựa đề ” Chuyện giàn thiên lý”:

Chuyện giàn thiên lý

Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây bao năm dài chinh chiến,
Từng lũy tre muộn phiền,
Tôi có người vợ ngoan.
Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau.

Nhớ đôi môi nàng hiền, xinh xinh màu nắng.
Má nàng hồng, thơm mùi thơm lúa non.
Ai ra đi mà không từng bịn rịn.
Xa người yêu mà dễ mấy ai vui.

Em nhìn theo mà bằng nước mắt chia phôi.
Tôi mạnh bước mà nge hồn nhỏ lệ.
Nay anh lính chiến, người bạn pháo binh.
Mẹ tôi tóc sương từng đêm nge đoạn pháo thật buồn.

Anh rót cho khéo nhé, kẻo nhầm vào nhà tôi.
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý, có người tôi thương

Lá Diêu Bông cuả Hoàng Cầm

“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thờ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ.
Chị bảo:
Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.
Muà đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãng bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xoe chỉ cắm trôn kim.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọị
Diêu bông hời … ới Diêu Bông!”.

Sau này nhạc sỹ Nguyễn Tiến đã phổ nhạc bài thơ này thành bài hát Chuyện tình lá diêu bông

Nhà thơ Xuân Quỳnh, nhà thơ tài năng, có nhiều bài thơ được yêu mến. Đồng điệu, tri âm, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc hai bài thơ hay của Xuân Quỳnh.

Bài thơ “Thuyền và biển”

Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển:

“Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi

Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa… còn xa

Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ

Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)

Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió”

Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố

Bài hát ” Thuyền và biển” nhạc Phan Huỳnh Điểu

Chỉ có thuyền mới hiểu biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu về đâu
Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau lòng thuyền đau rạng vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng vỗ
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố
Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau lòng thuyền đau rạng vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng vỗ
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố
Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố.

Bài thơ “Thư tình cuối mùa thu”

Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay

Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại…
– Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.

Bài hát “Thư tình cuối mùa thu”: nhạc Phan Huỳnh Điểu

Cuối trời mây trắng bay, lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng, mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả, theo dòng nước mênh mông
Mùa thu vàng hoa cúc, chỉ còn anh và em,
chỉ còn anh và em, là cuả mùa thu cũ
Chỉ còn anh và em…

Tình ta như hàng cây đã yên mùa bão gió
Tình ta như dòng sông đã yên ngày thác lũ
Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi, chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…

Kìa bao người yêu mới đi qua cùng heo may
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…

Hữu Loan, nhà thơ chưa bao giờ có tập thơ riêng đc in. Nhưng ông vẫn là nhà thơ có nhiều tác phẩm đc yêu mến. bài thơ “Mầu tím hoa sim” của ông đã đc đông đảo bạn đọc biết đến và yêu quý. bài thơ đã đc rất nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, có thể kể như các tác phẩm lấy lời trực tiếp như: Những đồi hoa sim, mầu tím hoa sim, chuyện hoa sim, áo anh sứt chỉ đường tà… hoặc cảm hứng cho những bài hát lấy ý như: Chuyện người em gái hái sim…
Có thể nói đây là một trong những bài thơ được phổ nhạc nhiều nhất.

Mầu tím hoa sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.

Tôi là người chiến binh xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái,
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!

Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh,
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê …

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương tàn lạnh vây quanh …

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói,
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất,
Trước tin em lấy chồng.

Gió thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về,
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân qua những đồi sim …
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu
1949

Bài hát đc phổ nhạc xúc động nhất là của Phạm Duy, tựa ” Áo anh sứt chỉ đường tà” Thái Thanh ca, nghe tuyệt hay!

Bài thơ “Thời hoa đỏ” đi vào lòng người qua những câu thơ hay, sâu lắng. Nhà thơ Thanh Tùng đã để lại dấu ấn của mình vào vũ trụ một cách như thế! Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc bài thơ này với cùng tên gọi và khiến phần cho bài thơ thêm vang xa. Ca sĩ Thái Bảo rất thành công khi ca bài này,là bài thơ nhạc được yêu thích của nhiều người.

Thời hoa đỏ

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê một thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Thơ của một họa sĩ thì hiển nhiên nó phải có một hình tượng, hình tượng đó phải độc đáo. Đáp ứng đc điều kiện đó, nó trở thành bài thơ có giá trị trường tồn cùng thời gian. Đó chính là bài thơ ” Cuối cùng cho một tình yêu” của họa sĩ Trịnh Cung. Bài thơ đã đc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phổ nhạc cùng tựa đề.

Cuối cùng cho một tình yêu

Ừ thôi em về
Chiều mưa giông tới
Bây giờ anh vui
Hai bàn tay đói
Bây giờ anh vui
Hai bàn chân mỏi
Thời gian nơi đây
Bây giờ anh vui
Một linh hồn rỗi
Tình yêu xứ này
Một lần yêu thương
Một đời bão nổi
Giã từ, giã từ
Chiều mưa giông tới
Em ơi em ơi
Sầu thôi xuống đầy
Làm sao em nhớ
Mưa ngoài sông bay
Lời ca anh nhỏ
Nỗi lòng anh đây.

Nàng bao giờ cũng ở tuổi hai mươi, yêu anh hào hiệp…

Thật cảm động và cao thượng. Bài thơ “Không đề” của nhà thơ Quang Dũng chính là như vậy! Bài thơ đã được ba nhạc sĩ như Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương,Việt Dzũng phổ thành nhạc có tựa đề”Em mãi là hai mươi tuổi”.
Mình rất yêu thích bài thơ này, coi nó như là một trong những đỉnh cao của thơ tình, cũng như đạo làm người.

Bài thơ: Không đề

Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Những cây ổi thơm ngày ấy
Và vầng hoa ngâu mưa thu
Tóc anh đã thành mây trắng
Mắt em dáng thời gian qua

Ngày nay ngày nay
Chuyện đẹp qua đi
Thời gian gấp ruổi
Còn lại chúng ta
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp

Ơi! Con đường xưa
Những mùa trút lá
Cành bàng mồ côi
Cổng cũ rêu phong
Ý đợi người

Ơi! Con đường xưa
Men vườn ổi thơm
Em tuổi hai mươi
Yêu anh hào hiệp

Bỏ em anh đi
Đường hai mươi năm
Dài bao chia ly
Có những vợ chồng

Không là trăm năm
Mà tình thương yêu

Sông ơi! Dài sao
Rộng ơi! Biển cả
Thôi em nước mắt
Đừng rơi lã chã!

Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp.

“Thương nhớ ơ hờ… thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài, mắt em… ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh. Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai…”
Đó là những lời ca tuyệt hay trong bài hát “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc. Bài hát này đã được viết dựa trên hai bài thơ” Đôi bờ” và “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhà thơ Quang Dũng. Hãy thưởng thức hai bài thơ tuyệt phẩm này, cùng câu chuyện tình tuyệt đẹp của nó.

Bài thơ: Đôi bờ

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai ?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai ?

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Kinh thành em có nhớ bên tê ?
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến tề.

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?

Bài thơ: Đôi mắt người Sơn Tây

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.

Vầng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương ?

Mẹ tôi, em có gặp đâu không
Bao xác già nua ngập cánh đồng,
Tôi cũng có một thằng con bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông!

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn!
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em đã bao ngày lệ chứa chan ?

Đôi mắt người Sơn Tây
U ẩn chiều lưẩn lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ.

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Lên núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoát thổi đêm trăng.

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?

Bài thơ này có rất nhiều dị bản do chính tác giả sửa trong các bản in khác nhau.lúc nào rảnh mình bổ sung các dị bản ấy! bản Hoàng Oanh ngâm có vẻ ổn nhất.

Về cuối đời,nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc lại bài thơ ” Tây Tiến” của thi nhân Quang Dũng. Nói phổ nhạc lại, vì theo nhạc sĩ cho biết, bản thảo đầu tiên đã bị thất lạc nửa thế kỷ trước.

Cùng với bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây”, bài thơ Tây Tiến được rất nhiều người biết đến.

Bài thơ: Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Đi vào thơ, rồi từ thơ đi vào nhạc. Nghệ danh “Phố núi” kể từ đó đã xây dụng cho mình một tên tuổi lãng mạn trong thi ca và ngoài đời thực, nơi ấy là Pleiku! Vũ Hữu Định nổi danh với bài thơ ” Còn chút gì để nhớ”, Phạm Duy chắp cánh cho bài thơ bằng cách thêm vào những dòng nhạc,thành bài hát cùng tên.

Bài thơ: Còn chút gì để nhớ

Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương

Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên mắt em ướt và tóc em ướt
Da em mềm như mây chiều trong

Xin cảm ơn thành phố có em
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc bên đồi biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên.

Có điều gì đó nhẹ nhàng, êm dịu, đi vào lòng người mãi mãi không bao giờ quên. Đó chính là bài thơ “Hương thầm” của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn.Mối tình đầu đã thành tượng đài bất tử của tình yêu, không nói nhưng mãi mãi đi theo. Nhạc sĩ Vũ Hoàng đã phổ nhạc bài thơ này với bài hát cùng tên gọi.

Bài thơ: Hương thầm

Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ.
Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa.

Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay,
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm,
Bên ấy có người ngày mai ra trận

Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi,
Nào ai đã một lần dám nói ?

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin,
Cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không dấu được cứ bay dịu nhẹ.

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.

(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấy…)

Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường
Hương thơm sẽ theo đi khắp

Họ chia tay
Vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

Trong tim ai cũng có một quê hương, là nơi êm đềm ẩn náu của tâm hồn. Là nơi ý thác của tâm linh, gửi tấm lòng ở đó dù có đi muôn nơi. Bài thơ “Quê hương- Bài học đầu cho em” của Đỗ Trung Quân đã nói lên tâm hồn của nhiều người, nhiều thế hệ về quê hương. Bài thơ được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc có tựa đề là Quê hương.

Bài thơ Quê Hương – Bài Học Đầu Cho em

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè.

Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa đêm mưa
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương có ai không nhớ….

Ai chả có một thuở học trò, ai cũng có những cánh hoa phượng bay, ai cũng…
Nhà thơ Đỗ Trung Quân với bài thơ ” Chút tình đầu” cùng đi vào lòng người như thế ấy. Bài thơ được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc có tựa đề ‘Phượng hồng”.

Bài thơ: Chút tình đầu

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại mang về

Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp
Mùa hạ leo cô trường khắc nỗi nhớ lên cây
Người con gái mùa sao biết có còn gặp lại
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay…

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng hiểu – chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi….thành câm
Những chiếc giỏ xe trưa nay chở đầy hoa phượng
Em hái mùa hè trên cây
Chở kỷ niệm về nhà
Em chở mùa hè đi qua, còn tôi đứng lại
Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa.

Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”, là câu chuyện tình giang dở. Tại ai? tại vì …
Những hồi ức đẹp đẽ của ngày xưa.

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

***

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! chuông nhà trường

Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

***

Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu qui

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
– Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

***

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu qui ấy
Áo tím nàng thơ đã nhạt màu

***

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa giáo đường

“Lạy Chúa! con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!”
14-11-1957

Sau một năm, tác giả đã sửa lại bài thơ này, ngỡ như là bài thơ hoàn toàn mới. theo mình không hay bằng bài thơ nguyên gốc.
bài thơ sửa lại năm 1958:

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường

Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh

Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường

Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi

Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xớm đạo
Khi nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỹ vật ban đầu!

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường

Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh đem gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẽ thù

Nhưng rồi người bạn đồng song ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ

Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi

Xe tang đã khuất nẽo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
28/ 5/ 58.

Bài thơ được rất nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, nó mang các tựa như: Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Hồi chuông xóm đạo, Chuyện tình hoa trắng… hoặc phổ nhạc lấy ý từ bài thơ như: Người em xóm đạo…

nhà thơ Hữu Thỉnh với tác phẩm “Thơ viết ở biển” mang đến một sự đợi chờ lãng mạn. Nhạc sĩ Phú Quang đã phổ nhạc bài thơ này với tên gọi ” Biển, nỗi nhớ và em”.

Thơ Viết Ở Biển

Anh xa em
Trăng cũng lẻ
Mặt trời cũng lẻ
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn
Gió không phải là roi mà đá núi phải mòn
Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến
Vì sóng đã làm anh
Nghiêng ngả
Vì em…

Cô lái đò, hình ảnh quen thuộc của làng quê ngày xưa. Nhà thơ của Quê, Nguyễn Bính có bài thơ” Cô lái đò” rất hay, khắc họa một cuộc tình duyên cái thời xa xưa ấy… Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc đã phổ nhạc bài thơ này với cùng tên gọi.

Cô lái đò

Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bên sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề

Nhưng rồi người khách tình quân ấy
Đi biệt không về với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông

Xuân này đến nữa đã ba xuân
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân

Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng sông
Cô lái đò kia đi lấy chồng
Vắng bóng cô em từ dạo ấy
Để buồn cho những khách sang sông.

Xuân sắp đến rồi, hãy đọc lại bài thơ “Gái xuân” của Nguyễn Bính và cùng cảm nhận xuân từ cái thuở xa xưa ấy. Bài thơ đã được người tài hoa tay ngang- Từ Vũ phổ nhạc với cùng tên gọi Gái xuân.

Bài thơ Gái xuân

Em như cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,
Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở.
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.

Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Khi phổ nhạc, bởi vì bài thơ ngắn quá, Từ Vũ đã mạn phép tác giả thêm vào một khổ 3 câu thơ, nghe rất Nguyễn Bính!
Xuân đi. Xuân đến hãy còn xuân
Cô gái trông xuân đến bao lần
Xuân đến hoa mai hoa mận nở
“Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”

Mùa xuân, một trong những bài hát mang không khí xuân đến suốt 12 tháng trong năm, bắt nguồn từ bài thơ này. Đó chính là bài thơ “Mùa chim én bay” của nhà thơ,nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền. Người phổ nhạc cho bài thơ, trở thành bài hát có cùng tựa đề là nhạc sĩ Hoàng Hiệp. bài thơ hay, nên bài hát này bất kỳ ai hát, hay chính bạn hát, đều rất hay!

Bài thơ Mùa chim én bay

Khi gió đồng thơm ngát
Hương lúa chín ngọt ngào
Rợp trời chim én liệng
Cho lòng anh nôn nao

Tiếng chim vườn xôn xao
Sắc hoa vàng ngây ngất
Nắng trời đường tươm mật
Nên bỗng vàng long lanh

Cây nẩy đầy chồi xanh
Nhiều như niềm khát vọng
Mây trắng bay yên lành
Đẹp như điều mơ mộng

Em chợt đến bên anh
Dịu dàng như cơn gió
Và lòng anh để ngỏ
Cho tình em mơn man

Em là cánh én mỏng
Chao xuống giữa đời anh
Cho lòng anh xao động
Thành mùa xuân ngọt ngào

Én về én lại xa
Mùa xuân không ở lại
Bên anh em gần mãi
Nên đời vẫn xuân trào

Ngày xuân, đi chùa lễ phật cầu an. Của thiền rộng mở, này duyên hữu duyên…
Ngày xưa có một đoạn tình duyên đi vào truyền thuyết, ấy là chuyện chàng Từ Thức lên tiên, cỡi chiếc áo quan, đền giùm cho nàng Giáng Tiên cành hoa bị gẫy…
Ngày xưa có chàng thi sĩ ở cõi thiền, tên chàng là Phạm Thiên Thư, viết nên bài thơ thiền để đời,”Động hoa vàng”. Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Duy chọn lọc và đưa về lại cõi trần gian với tựa đề”Đưa em tìm động hoa vàng”.

Bài thơ Động hoa vàng

1
Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

2
Xe lên bụi quán hoa đường
Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
Tiếng chim ướt sũng hai mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

3
Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

4
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

5
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

6
Từ chim thuở núi xa xưa
Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đóa sầu

7
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

8
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa

9
Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

10
Sao em bước nhỏ ngập ngừng
Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm thơ
Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

11
Đôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

12
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

13
Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

14
Đêm dài ươm ngát nhụy hoa
Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
Em ơi rủ tóc mây về
Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

15
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

16
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

17
Đợi ai trăng rõi hoa buồn
Vắng em từ thuở theo buồm gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây trôi
Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

18
Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

19
Xuống non nhớ suối hoa rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

20
Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

23
Gầy em vóc cỏ mây dời
Tay em mai nở chân trời tuyết pha
Ngày dài ngựa soải cầm ca
Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

24
Xe lăn bánh nhỏ bụi hường
Lao xao vó rụng trên đường phố mây
Mưa giăng ráng đỏ hao gầy
Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa

25
Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông

26
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm

27
Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca

28
Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ lòng đòng
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ

29
Vào non soi nguyệt tầm rùa
Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư
Thả rùa lại đứng ưu tư
Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa

30
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha

31
Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

32
Người vui ngựa chợ xe thành
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi
Theo chân chim gặp mây trời
Lại qua khói động hỏi người tu non

33
Bông hoa trắng rụng bên đường
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng
Con ong nhỏ mới ra giàng
Cũng nghiêng đôi cánh nhụy vàng rụng rơi

34
Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
Múc bình nước mát về qua
Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa

35
Chim từ bỏ động hoa thưa
Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông
Lên non kiếm hạt tơ hồng
Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay

36
Người về đỉnh núi sương tây
Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa
Bến nam có phố giang hà
Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say

37
Tình cờ anh gặp nàng đây
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương
Qua sông có kẻ chợt buồn
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu

38
Mốt mai em nhớ bao giờ
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không
Chân chim nào đậu bên cồn
Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim

39
Đợi người cuộc mộng thâu đêm
Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa
Anh nằm gối cỏ chờ hoa
Áo em bạch hạc la đà thái hư

40
Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thâu hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

41
Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

42
Ngựa xưa qua ải sương này
Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông
Nước xuôi gờn gợn mây hồng
Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò

43
Hoa đào tưởng bóng đào xưa
Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi
Hoa dương vàng nhạt sầu người
Ta về uống nước sông khuây khỏa lòng

44
Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

45
Khăn trăng từ độ trao tay
Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương
Mốt mai lòng có nghe buồn
Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi

46
Nhện cheo leo mắc tơ trời
Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương
Đánh rơi hạt mận bên đường
Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa

47
Nụ vàng hương rộ tháng ba
Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương
Chẳng như cội liễu bờ dương
Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không

48
Mai nào thơm ngát thu đông
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh
Đôi chim hồng yến trên cành
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang

49
Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn

50
Nến khuya lửa hắt hiu vàng
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
Ý nào hóa hiện ngàn hoa
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni

51
Dỗ non suối giọng thầm thì
Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa
Ni cô hiện giữa ta bà
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng

52
Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

53
Đố ai nhớ hết hoa vàng
Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu
Đố ai tát cạn mạch sầu
Thì ta để tóc lên cầu đón ai

54
Em về sương đẫm hai vai
Dấu chân là cánh lan dài nở đêm
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

55
Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca
Sư về chống gậy trúc qua cầu này
Ngó bờ suối lạnh hoa bay
Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh

56
Có con cá mại cờ xanh
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
Nửa dòng cá gặp phù vân
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi

57
Dù mai lều cỏ chân trời
Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ
Em còn ửng má đào tơ
Tóc xưa dù có bây giờ sương bay

58
Lên non ngắt đóa hoa này
Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhòa
Nom hoài chẳng rõ là ta
Tắm xong khoác áo hát ca về làng

59
Tay đeo vòng ngọc xênh xang
Áo em bay giải tơ vàng thiết tha
Bước chân tìm chán ta bà
Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh

60
Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: thưa bác thiên thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

61
Nước đi từ thủa bao giờ
Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi
Chừng đâu dưới bến hoa tươi
Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông

62
Từ hôm em bỏ theo chồng
Áo trắng em cất áo hồng em mang
Chiều nay giở lại bàng hoàng
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh

63
Đôi chim nho nhỏ trên cành
Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường
Nửa đời mây nước du phương
Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân

64
Gò chiều ùn bụi sương lên
Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng
Bên mồ chồn cáo đùn hang
Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga

65
Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

66
Trúc thưa cổng gió ơ hờ
Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng
Sông ơi xanh nhé một dòng
Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa

67
Đường dài xao xác chim ca
Người còn khoác nón theo tà dương nao
Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẫm trăng vào chén không

68
Đồi thu vắt suối mây hồng
Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên
Bấc sầu lửa lụn chờ em
Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này

69
Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
Em còn áo trắng ngày xưa
Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen

70
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
Vườn chùa có nụ hàm ca
Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn

71
Mai tươi cánh nở bên cồn
Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời
Thu đông tàng ẩn kho trời
Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa

72
Cổng làng mở cánh sao sa
Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai
Lên chùa dâng dĩa hoa nhài
Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư

73
Chuông ngân chiều lặng trầm tư
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng
Điệu về tay giấu chùm bông
Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa

74
Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương
Gió thu từ độ tha phương
Về trên hốc gỗ bên đường lặng im

75
Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay

76
Tình cờ như núi gặp mây
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
Tỉnh ra thì giấc chim bao
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng

77
Cành sen lá chĩu sương trong
Áo ni xám vạt trời hong buồn về
Tay nào nghiêng nón thơ che
Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao

78
Đôi mày là phượng cất cao
Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ
Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ
Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây

79
Tóc em rừng ngát hương say
Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà
Mắt xanh bản nguyện di đà
Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim

80
Mắt nàng ru chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung trời về say

81
Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
Cây bưởi trắng ngát hương đời
Nụ là tay phật chỉ người qua sông

82
Non xanh khoác áo sương hồng
Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay
Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay
Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa

83
Em bên cửa chuốt tay ngà
Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành
Ngày em ướp áo hồ xanh
Con uyên tha thiết trên cành gọi thu

84
Ni về khép cửa chùa tu
Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng
Thu vương ngọn chổi đôi bông
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên

85
Sư lên chót đỉnh rừng thiền
Trong tim chợt thắp một viền tà dương
Ngón tay nở nụ đào hương
Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời
86
Một dòng hoa nổi trên trời
Một dòng hoa nở trong người trầm tư
Cánh nào mở cõi không hư
Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang

87
Thư em ướp nụ lan vàng
Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa
Áo em phất cõi di đà
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ

88
Chênh vênh đầu trượng thiền sư
Cửa non khép ải sương mù bóng ai
Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa

89
Ngày xưa bên dậu vàng hoa
Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời
Năm sau em bỏ đi rồi
Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn

90
Trên nền gạch nẻ rêu phong
Xưa phơi nhã điệu giờ hong đóa quì
Trẻ đào bãi cỏ xanh rì
Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han

91
Non đem nhạn nhốt trong thành
Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
Người còn dệt lụa tằm dâu
Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

92
Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

93
Sáng nghe lan rụng mái nhà
Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
Đường về mù mịt ngàn mây
Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

94
Mây dù chẳng chất non cao
Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

95
Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

96
Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

97
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

98
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

99
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

100
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên.
1971

Có những bóng hồng thấp thoáng trong dĩ vãng… người con gái không rõ mặt, chỉ thấy bờ vai, ẩn hiện trong nỗi nhớ, ai cũng có…
Có người con gái họ Hoàng, đi vào nỗi nhớ đơn phương của chàng thi sĩ thiền Phạm Thiên Thư, tình cảm sâu lắng ấy chỉ phát hiện khi rất nhiều năm sau đọc lại bài thơ này, giữ lại ký ức một thời…
Thi sĩ Phạm Thiên Thư đã giữ lại “Ngày xưa Hoàng thị” và nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ với nhạc phẩm cùng tên.

Bài thơ Ngày xưa Hoàng thị

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài

Anh đi theo hoài
Gót giầy thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn

Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng

Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở

Thương ơi vạn thuở
Biết nói chi nguôi
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ

Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát

Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ

Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ

Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng

Đời như biển động
Xoá dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ

Phố ơi muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ

Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời

Tình ơi tình ơi!




Vần Thơ Lục Bát

Vần Thơ Lục Bát

Vào xem lục bát reo vần

Nào ngờ câu lục, vướng chân em về

Lời thơ ngôn ngữ chân quê

Để cho câu bát, vụng về bên nhau.

Câu sáu quyến rũ mở đầu

Nhường cho câu tám, bắc cầu sang thăm

Duyên tình ước hẹn trăm năm.

Đường xuân phơi phới, trăng rằm tháng giêng

Hoa xuân cánh mỏng chao nghiêng

Cho anh ôm mối muộn phiền nhớ thương

Bài thơ lục bát vấn vương

Đôi vần nối nhịp, cung đường mộng mơ.

Lê Tuấn

“Người
nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng.”




Tự do là gì con hỡi?

Tự do là gì con hỡi?

Là giấc ngủ say con đang men nồng
Trong đêm khuya, ngoài kia ga xe gầm rú
Tự Do là lòng tốt của bao người, 
Từ cô hàng xóm tốt bụng thương con
Đến những người bạn, người anh em thiện chí
Đến giúp mình bằng cả trái tim 
Dù vẫn còn vác gánh nặng thập giá.

Tự Do là gì sau đau quá
Mà phương xa máu đã đổ không ngừng
Trót sinh ra trong mọt thời oan nghiệt
Tự Do ư, con có còn hay mất?
Ngủ đi con Tự Do ngủ đi con.
Đi trên đường buýt tự do lấn tuyến,
Buýt bóp còi, tai con có đau không?
Tự Do ăn Tự Do uống Tự Do làm
Tự Do mắc, Tự Do đau, Tự Do chịu.

Tự Do là gì, biết vâng phục?
Biết nói láo, làm hại tha nhân?
Sống chết mặc bây, mặc kệ nó?
Lỡ ngày mai cha không còn, Tự Do mất,
Máu lại rơi khi con cố đi tìm.
Tự Do ơi!

Image may contain: 1 person, standing and shoes
Một bạn trẻ Hong Kong bị hắc cảnh bắt giữ
Image may contain: one or more people
Nhân viên y tế Hong kong bị trói
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: 2 people, crowd and outdoor
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor

Được Thành Nguyễn




Tôi bỏ thơ vào

Tôi bỏ thơ vào

Tôi bỏ thơ vào chén rượu cay

Cho men tình muộn đắm hương say

Nghe tiếng lòng đau còn thổn thức

Nghẹn ngào ngay cả khói thuốc bay.

Tôi bỏ thơ vào những đám mây

Cho tình cao vút, giấc mơ đầy

Gió thổi từng mây, bay đâu nữa

Đừng tiếc cho nhau cái nắm tay.

Đừng trách thơ tôi có thế nào

Ý tình dẫu có những xôn xao

Có buồn nghe tiếng đời nức nở

Thì cũng xin người một tiếng chào.

Lê Tuấn

Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng.