Ngày ấy lâu rồi

Ngày ấy lâu rồi

Nhớ người xa vắng bóng chiều buông

Từ thuở xa xưa chẳng biết buồn

Ngây thơ trong trắng hoa chớm nở

Trái tim dại khờ mới yêu đương.

Ngày ấy tôi thường dạo phố phường

Ngắm em vui bước buổi trường tan

Những vạt áo dài bay trong nắng

Làm trái tim tôi nhịp rộn ràng.

Ngày ấy tôi thường hay làm thơ

Cả hồn trong trắng đền dại khờ

Mở đầu tôi viết câu lục bát

Gửi chút tình riêng vào trong mơ.

Tôi biết gì đâu một chữ yêu

Mà sao đau nhói ở trong lòng

Mỗi lần em bước qua khung cửa

Tôi vội nhìn theo lòng ước mong.

Tôi sợ sương bay phủ bóng mờ

Xóa đi dấu vết của nàng thơ

Khung trời lạnh lẽo người xa vắng

Em đã đi xa chẳng đợi chờ.

Lê Tuấn

“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng

Viết một bài tình thơ cho thuở dại khờ”




THƠ NHỚ MẸ

THƠ NHỚ MẸ

Thâm tâm vẫn biết đời hư ảo
Mắt cứ trào dâng lệ nhớ thương
Trong mơ thấy mẹ cười nghiêng nón
Mặc áo dài nhung lúc tuổi xuân
Nhớ lúc hoàng hôn bóng ngã dài
Dáng mẹ hao gầy buổi tiển đưa
Thầm thì con nói theo làn gió
Mẹ ở trên trời chắc sẽ vui
Khói hương rồi cũng chìm trong nắng
Tưởng với thời gian sẽ nhạt nhòa
Mây mù che phủ miền thương nhớ
Để mẹ từ đây mãi ngủ yên
Rồi khi trên bước đời vấp té
Con vẩn kêu hòai tiếng mẹ ơi
Con cần một bàn tay che chở
Đặt trên đầu dịu bớt niềm đau
Cần tiếng cười hiền, lời nói ngọt
Xoá mờ đi những vết gai đâm
Đàn con tóc chớm màu sương tuyết
Vẩn ngóng mẹ về trong giấc mơ

(Ngọc Dung)

Image may contain: 1 person



NGẬM NGÙI

NGẬM NGÙI

Chiếc xe đò rùng mình nín thở
Quẳng xuống đường một nhúm xương khô
Gã lính ngụy lưu đày ngơ ngác
Chưa dám tin mình đã trở về
Gã băng qua mùa đông vào phố
Nắng loe hoe đọng ngã ba đường
Chiều ngủ vùi trên manh áo vá
Có con chim cất tiếng chào buồn
Dãy bạc hà hiên trường thuở nhỏ
gió thều thào lúc gã đi qua
Vàng thiêm thiếp thẩn thờ lá đợi
Chút mong manh xuân ấm chợt về
Chiếc cầu nơi tuổi thơ đánh rớt
Đám lục bình khóc ướt dòng sông
Gã lục lọi tìm trong ký ức
Bạn bè xưa ai mất ai còn
Cây trụ điện đứng nơi góc chợ
Gánh cặp loa ruột thắt gan bầm
Hát ra rả vạn lời mị ngữ
Còn riêng mình mòn mỏi tháng năm
Gã tha thẩn mò vào xóm cũ
Người quen xưa tản lạc muôn phương
Trời lồng lộng cao không vói tới
Giẫm cuộc đời nát vụn dưới chân
Con chó già ngồi chơi trước cửa
Ngửi hơi xưa lúc lắt đuôi chào
Chiếc áo mặc lác bươm từng mảng
Con ruồi bay quanh mũi lao đao
Tên công an trông coi khu vực
Biết gã về vác súng hỏi thăm
Con chó nản nhắm nghiền mắt đói
Chuyện thường ngày lâu thét sẽ quen

Quan Dương

Đây là ngã ba cải lộ tuyến Ninh Hoà nơi quốc lộ 1 kéo dài từ Nam ra Bắc . Mũi tên phía phải chỉ hướng Tuy Hoà . Mũi tên còn lại chỉ hướng Ban Mê Thuột . Đó cũng là con đường đi vào phố chợ Ninh Hoà nơi có nhà tôi ở

Mùa đông năm 1981 chiếc xe đò hiệu Khánh Hoà với thùng than to tổ bố đèo theo phía sau rùng rùng ngừng lại và thả xuống nơi này một tên ốm nhách áo quần bèo nhèo nhăn nhúm với bọc đồ được gói trong một miếng ni lông ôm trong bụng . Gã đó là tôi sau sáu năm ở tù vừa được thả về .

Lội theo con đường phía bên trái tôi đi bộ về nhà . Đứng ven bên đường trường Trung học Trần Bình Trọng là nơi tôi đã có sáu năm mài đũng ghế trước khi bước chân vô đời lính. Dãy khuynh diệp trước cổng nay đã sắp già . Những cây khuynh diệp này do chúng tôi trồng khi còn là những cây con bé tí . Năm đó tôi học đệ tam (lớp 10 bây giờ). Nơi này cũng là nơi tôi và các bạn cùng lớp quây quần bên nhau thuở còn đi học . Đang vào mùa đông . Trốn trong nách phía trên cao của dãy khuynh diệp là những vệt nắng chiều thả màu vàng yếu ớt lên những chiếc lá èo ọt . Tôi đứng trước cỗng trường với bộ đồ tù vá đùm đụp nhiều chỗ . Tại nơi này mới hôm nào tôi còn là một cậu học trò với đồng phục quần xanh áo trắng giờ là người tù đang bước vào tuổi trung niên. Cũng chỉ là một người nhưng tôi có cảm tưởng bị tách làm hai . Tôi nhớ bạn bè cùng lớp, những đứa con trai bị dòng chiến tranh cuốn hút tản lạc muôn phương. Những đứa tử trận , những đứa còn sống đang vất vưởng tại một nơi nào của một trại khổ sai nào đó. Những người con gái sợ lỡ xuân thì cũng vội vã lấy chồng là lính giờ cũng đang mòn mõi đợi . Tôi lủi thủi đi vào con phố với biết bao nỗi ngậm ngùi . Không ai nhận ra tôi đang trên con đường . Tất cả đều tan nát…




THƠ PLEIME- THEO CÁNH GIÓ BAY

THƠ PLEIME- THEO CÁNH GIÓ BAY

“Mày nghĩ tụi mình như cánh gió
Ai đi nhốt gió được bao giờ…”

Thiếu úy Nhảy Dù Lê Anh Thái tử trận khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972. Khi được đơn vị giao hoàn xác con, người cha là Lê Văn Tuyến đã tìm thấy một lá thư viết gởi bạn chưa kịp gởi trong những di vật còn lại của con. Ông phổ lá thư đó thành bài thơ sau đây tựa đề là THƠ PLEIME vì thiếu úy Lê Anh Thái đã viết từ khi còn ở Pleime cho đến khi chuyển quân đến Quảng Trị vẫn chưa kịp gởi.

Thiếu úy đã đền nợ nước khi mới tròn 24 tuổi, và có một đứa con mới chào đời 2 tháng đã mồ côi cha.
Thơ Pleime, trích từ tập “Theo Cánh Gió Bay” của thi sĩ Anh Tuyến

Tao được thơ mày cả tháng nay
Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày
Lưng không rời giáp, tay rời súng
Liên lạc thì không có máy bay
Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày
Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây
Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng
Nhớ ngõ Tam Ða tà áo bay
Pleime suốt tháng mưa dầm dề
Mày ơi, thèm quá khói cà phê
Thèm tô phở tái thơm chanh ớt
Thèm rót bọt đầy một cốc bia
Xi nê mày vẫn xem phim chưởng?
Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly?
Những chiều thứ bảy còn đi nhót?
Hay lén ông già nhậu whisky?
Năm nay mày có lên đại học?
Hay thôi, xếp sách nhập quân trường?
Mày tính vào Dù hay Lục Chiến?
Tao chờ mày nhé, ải biên cương
Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang
Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng
Ôm nhau, hai đứa cười ha hả
Râu tóc bù xù như cái bang
Mày nghĩ, đã lâu không được tắm
Hành quân liên tiếp giữa rừng già
Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa
Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da
Hôm qua địch pháo giữa ban ngày
Tao bị thương xoàng ở bả vai
Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt
(Mày đừng có nói mẹ tao hay)
Mẹ tao không biết giờ ra sao?
Còn khóc đêm trường để nhớ tao?
Còn giận tao là thằng bất hiếu
Xem tình cha mẹ như chiêm bao
Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn
Lính kiểng châu thành, lính phất phơ
Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió
Ai đi nhốt gió được bao giờ?
Những đêm biên cảnh sống xa nhà
Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa
Cũng có đôi lần tao muốn khóc
Muốn về thăm mẹ… thế nhưng mà.
..
Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp
Trực thăng đã đáp trong vòng đai
Tản thương lính đã đưa lên đủ
Tao viết thơ này vội gởi ngay
./.
T/g Anh Tuyến




Tôi đã biết mình lầm đường

Bài thơ tâm sự của một lính bộ đội Bắc Việt khi vào Sài Gòn ngày 30/04/1975

Tôi đã biết mình lầm đường lạc lối
Từ sau cái ngày “giải phóng” Miền Nam
Một mùa xuân tang tóc năm bảy lăm
Đi giữa Sài Gòn, tôi nghe mình thầm khóc.
Tôi khóc Miền Nam tự do vừa mất
Và khóc cho mình, chua xót đắng cay
Nửa đời người theo đảng đến hôm nay
Tưởng cứu nước đã trở thành tội ác.
Bởi tôi quá tin nghe theo lời bác
Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.
Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng.
Tôi đã xung phong với bầu máu nóng
Đi cứu Miền Nam ruột thịt nghĩa tình
Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu.
Người dân Miền Nam thật là khó hiểu
Nhà khang trang bỏ trống chẳng còn ai
Phố phồn hoa hoang vắng tự bao giờ
Giải phóng đến sao người ta chạy trốn
Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.
Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Kí gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
Anh bà con tôi- một người công chức
Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
Rồi anh nói: “Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ.”
Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.

Thơ: Huy Phan




VUI GÌ… MỪNG LỄ…?

VUI GÌ… MỪNG LỄ…?

Vui gì đánh trống khua chiêng
Vui gì còn đó vết thương chưa lành 
Vui gì biển hết trong xanh 
Vui gì lũ giặc tung hoành dọc ngang 

Vui gì khản tiếng khóc than 
Ngư dân gục chết tàu chìm biển khơi 
Vui gì đàn đúm vui chơi 
Vui gì mừng lễ rợp trời cờ bay 

Vui gì mắt mẹ còn cay 
Nhà tan cửa nát tháng ngày lưu vong 
Vui gì cá chết đầy sông 
Vui gì ô nhiễm khắp vùng Fomosa 

Vui gì nước mắt của cha 
Ngậm ngùi rời bỏ quê nhà mưu sinh 
Vui gì lũ trẻ thất kinh 
Khi phải chứng kiến nhà mình nát tan 

Vui gì nước mắt hai hàng 
Người dân quỳ gối khóc than xin dừng 
Những chất xả thải hãy ngưng 
Xin đừng rãi xuống khắp vùng dân sinh 

Vui gì khi đất nước mình 
Sông khô, biển chết vô tình làm ngơ 
Vui gì đồng lúa chết khô 
Vui gì còn đó nấm mồ bỏ hoang 

Vui gì khắp nẻo dân oan 
Lang thang khiếu kiện kêu van không nhà 
Vui gì trường học vùng xa 
Còn đang trống hoác bốn bề gió loang 

Đến trường bằng sợi dây ngang 
Treo thân, thí mạng mới sang kia đường 
Vui gì thấy cảnh phố phường 
Mỗi khi mưa đổ con đường như sông 

Vui gì ngập núi nợ công 
Còn quan vơ vét hết đồng thuế dân 
Vui gì chồng chất nợ nần 
Từ già đến trẻ chia phần gánh chung…?

Vui gì mắt mẹ rưng rưng 
Bao năm “giải phóng” chưa từng ngày vui 
Nhìn lên âm ảnh ngậm ngùi 
Đau thương ngày ấy chôn vùi tuổi xuân! 

Hạt Bụi

Theo FB




Tháng Tư Người Xa Tôi

Tháng Tư Người Xa Tôi

Tháng Tư, người xa tôi
Tháng Tư, người về trời
Còn tôi giữa vũng đời
Một mình đứng chơi vơi

Tháng Tư buồn thở than
Nghe có lời nhân gian
Sẻ chia lời sầu tủi
Cho cuộc tình vừa tan

Tháng Tư mảnh khăn tang
Tháng Tư giòng lệ tràn
Bao nhiêu năm mật ngọt
Giờ cay đắng, bẽ bàng

Tháng Tư, người ngủ yên
Không còn chuyện nhớ quên
Hết oán hờn, buồn trách
Thôi than khóc, ưu phiền

Tháng Tư vuốt mắt người
Xong một cuộc tình tôi
Tiễn người về bên ấy
Tôi cũng tàn cuộc vui

Tháng Tư chút ăn năn
Còn trong tôi nợ nần
Bao ân tình đã nhận
Làm sao trả trăm năm

Tháng Tư người đi rồi
Bao thương nhớ khôn nguôi
Còn đây bài Tưởng Niệm
Lời trăn trối cho tôi.

Nguyên Khôi – Trần Ngọc Cư
22-4-2020




Nỗi Buồn

Nỗi Buồn

Nỗi buồn lên tiếng rồi im
Tình riêng thoáng hiện lại chìm trong mơ
Bóng tà dương sáng mập mờ
Chiều buông tắt lịm ngẩn ngơ chợt buồn.

Đời người gió cuốn mưa tuôn
Xa nhau từ dạo căng buồm gió xuôi
Chiều chiều ngồi ngắm mây trôi
Theo cơn đồng thiếp giải hồi oan khiên.

Gió lay hoa rụng ngoài hiên
Mùi hương gợi nhớ người biền biệt xa
Chiều buồn ra ngắm cành hoa
Xem mai chớm nở thấy già tuổi xuân.

Buồn ơi! Xin gửi phù vân
Cho dòng lệ chảy còn ngần dáng sương
Ngoài kia xe bụi phố phường
Nhắn người quên những đoạn trường thế thôi.

Lê Tuấn
“Thả hồn đi hoang vào thăm nỗi buồn, trong thời gian trống rỗng
nằm nhà tránh dịch bệnh Covd 19”




HỒN QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT LÊ NAM SƠN

HỒN QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT LÊ NAM SƠN

Nguyễn Phúc

Sông Lô Lê Nam Sơn tên thật là Lê Nam Sơn, sinh năm 1949 tại Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, quê quán Quảng Nam, sang Đức năm 1980. Có thơ in trong tập Thơ Việt ở Đức, tập 2.

Không hiểu sao, cứ mỗi lần chạm vào thơ lục bát là mỗi lần tôi chạm vào nỗi nhớ quê. Có lẽ, bởi thơ lục bát từ cái hồn quê mà sinh ra, mà hồn tôi lại được nuôi lớn từ lời ru của mẹ :
Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa sổ bay ra cánh đồng..
( Ca dao )

Ca dao lục bát – sáng tác dân gian hay thơ lục bát của các nhà thơ đã có từ rất lâu đời, và được ví như Quốc hồn dân tộc Việt. Thơ lục bát của người ở miền Trung, miền Nam, miền Bắc hay bất kỳ ở đâu, ta đều nhận ra trong nó cái hồn quê Việt. Khi tôi đọc thơ lục bát của Lê Nam Sơn với những câu:

Thèm nghe tí tách bếp hồng
Mái quê nhả khói mục đồng về thôn
Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn
Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi
( Trích – Chiều Hôm )

Thì lòng tôi bỗng trùng xuống một nỗi nhớ quê. Cái thèm của Lê Nam Sơn dội vào cái nhớ trong lòng tôi. Câu thơ chẳng có cánh cò, nhưng cánh cò lại vỗ cánh trong hồn tôi trên sóng lúa rập rờn, trong bóng hình mẹ tôi bên sông, con thuyền ai hun hút đi trong cơn mưa mùa hạ tối đất, tối trời…
Lê Nam Sơn quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Anh sang Đức năm 1980. Thành thực mà nói, tôi biết rất ít về thơ văn miền Nam trước năm 1975. Vì thế khi biết tin có các anh Đặng Lâm, Lê Nam Sơn, Lữ Du từ bên Tây sang tham dự buổi Hội tụ thơ Việt ở Đức, tổ chức ở Thành phố Chemnitz, tôi đã rất háo hức muốn được nghe thơ của các anh. Cần nói rõ hơn điều này, người Việt sống ở phía Tây nước Đức phần lớn là người miền Nam đến từ sau năm 1975, dưới dạng thuyền nhân. Có thể nói, đấy là những cuộc rời bỏ quê hương, ra đi trong thầm lặng, nhưng vô cùng khốc liệt với cả máu và nước mắt. Nó khác cái không khí náo nức, vui tươi của người dân miền Bắc sang lao động, theo ký kết giữa hai chính phủ Việt Nam và Cộng Hòa Dân Chủ Đức từ năm 1980. Do yếu tố lịch sử, nguồn gốc sự ra đi khác nhau, nên sự hòa hợp của người Việt giữa hai miền trong nhiều trường hợp vẫn là rất khó. Tôi vẫn nhớ lời chia sẻ của các anh sau đêm thơ: Thơ không làm chiếc cầu hoà giải, vì thơ vốn dĩ chưa bao giờ có biên giới. Chỉ có tấm lòng thành thực kéo chúng ta lại gần nhau.

Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với các anh. Thơ là tiếng của cõi lòng, hay nói cách khác là sự rung động của tâm hồn, mà hồn ta lại có trong hồn của dân tộc, của giống nòi. Có thế, ta mới cùng yêu được một làn điệu dân ca, yêu khúc hát ca dao và những câu thơ lục bát đã có tự bao đời…Và ngay đêm thơ ấy, qua giọng thơ ấm áp của anh Đặng Lâm, tôi được biết, được yêu thêm một Nguyên Sa, thi sỹ đầy chất trữ tình lãng mạn của miền Nam với bài Áo lụa Hà Đông. Có phải hồn quê đã thấm vào từng đường tơ áo lụa để Nguyên Sa viết Áo lụa Hà Đông giữa Sài Gòn lộng nắng. Và tôi cũng đã lặng đi bởi cái buồn đẹp đến nao lòng, phảng phất hồn thơ Bích khê trong cái sắc mầu huyền diệu của mấy câu thơ Lữ Du:

Rồi những buổi chiều mây vương mầu tím
Cho mắt anh buồn, trời đã vào thu
Sương thu mênh mang, lá vàng rơi rụng
Gió heo may, mưa sắc trắng, sa mù
(Trích, Điệp khúc bốn mùa)

Trở lại thơ lục bát của Lê Nam Sơn. Thơ lục bát thuộc thể thơ không khó làm nhưng khó hay. Điểm đặc biệt trong thơ lục bát của Lê Nam Sơn là bài nào anh cũng gửi được vào đó một chút tình, làm ta cảm động. Đọc thơ anh, ta không có cảm giác nhạt, loãng ấy là bởi anh biết chọn từ ngữ, hình ảnh bám rất sát tứ thơ trong bài, làm cho cấu trúc bài thơ gọn và chặt, nổi lên được cái điều anh định giãi bày. Cũng vì thế, đọc thơ Lê Nam Sơn bao giờ ta cũng lĩnh hội được một điều gì đó: Từ sự cám cảnh trước thân phận những cô gái làng, vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, một ngày bỏ mối tình quê, lặng lẽ theo tình khách thương hồ, sống một cuộc đời sông nước lênh đênh, vô định:

Thương ai như đám lục bình
Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng
Nông sâu, bồi lở, đục trong
Bến quê như thể mãi mong đợi người
Về đâu bèo dạt mây trôi
Về đâu sông nước ai người biết chăng
( Đò Dọc )

Đến chuyện cô gái trú mưa chợt đến, chợt đi như cơn mưa đầu hạ Sài Gòn, để lại trong lòng ta những bâng khuâng tiếc nuối. Đây là một bài thơ hay. Mỗi chúng ta trong cuộc đời, ít nhiều đều có những khoảng khắc rung động, bâng khuâng giống như tác giả. Thơ hay ở chỗ gợi chứ không tả. Câu thơ” Ờ sao em nép thế này”, hai chữ” Ờ sao” đã biến câu thơ thành lời tự vấn, chuyển lời thơ từ tả sang gợi, từ nhìn sang cảm. Từ đây, tác giả không nói sự việc bằng đôi mắt thường, mà từ những rung động của tâm hồn, khiến lòng ta cũng chuyển động cùng với chuyển động trong lòng của thi nhân:

Ờ sao em nép thế này
Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài
Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài…
Hạt trong văn vắt… hạt cài tóc em…
Tiếng mưa rả rích reo thềm
Nghe sao như tiếng ru êm bên mình
(Hạt mưa đầu Hạ )

Chính là tác giả biết lắng nghe chuyển động của lòng mình, để cảm xúc tràn lên những ngôn từ, nên thơ Lê Nam Sơn cảm động và có điều tinh tế. Thi sỹ nghe trong gió mầu lá bớt xamh, nắng nhạt bên thềm, nghe tiếng vọng của hồn thu đang về gõ cửa:

Hình như mầu lá bớt xanh
Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai
Nắng như nhạt sắc hiên ngoài
Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm
( Hình Như )

Thơ lục bát của Lê Nam Sơn thường mang tâm trạng buồn. Tôi không nghĩ tâm trạng ấy là hoàn toàn bởi cuộc sống tha hương, mà có từ một tâm hồn đa cảm. Ngay ở bài Hạt mưa đầu Hạ, chuyện ở Sài Gòn, hơi thơ đã phảng phất buồn, hoặc trong Đò Dọc, có gì ảm đạm hơn cảnh một con thuyền âm thầm rời bến, lặng lẽ trôi dưới màn trời lất phất mưa bay:

Mưa bay lất phất ngoài sông
Một con đò dọc âm thầm nhổ neo
( Đò Dọc )
Đến Hình Như và Chiều Hôm, không chỉ còn là nỗi buồn nhân thế, thi sỹ thấy mình bơ vơ, lạc lõng bất lực với cuộc đời:
Tà dương vỗ cánh chim trời
Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương
Nhớ gì bằng nhớ cố hương
Cô giang một mái chèo buông theo dòng
Buồn tay níu lấy thinh không…
( Trích -Chiều Hôm )

Con người ta khi phảỉ níu vào cái không thể níu: níu lấy thinh không, níu vào hư vô là chỉ khi lòng ta tuyệt vọng, tay đưa lên phía trời xanh cầu cứu thánh thần.

Tâm trạng buồn của thi sỹ đâu còn là của riêng anh nữa, nó là nỗi buồn của muôn vạn sinh linh trên trái đất này, khi phải rời bỏ quê hương, rời bỏ cái cái hồn quê, nơi chôn rau cắt rốn của mình…
Đã ba mùa thơ đi qua, ba lần được gặp, được nghe thơ của các anh, tôi lại phải mượn lời của ông Pascal: Tưởng kẻ viết là một nhà văn, không ngờ lại được gặp một người!

Chemnitz 23-4-2019
*****
Giới thiệu những bài thơ của Sông Lô Lê Nam Sơn…

  
Miền Trung với những cơn mưa dầm kéo dài ngày nhiều khi đến cả tuần mà chưa chịu dứt, mưa thì buồn lắm nhất là với kẻ sống xa nhà, nhà thơ Nguyễn Bính tha hương đến Huế đã không từng than thở là gì!

Giời mưa ở Huế sao buồn thế! 
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày 


Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với  ít nhiều thương cảm.
Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:


Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với  ít nhiều thương cảm.
Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:

Mưa từ đâu mưa về, làm muôn lá hoa rơi tả tơi…
Hoặc…

Mưa rừng ơi mưa rừng, tìm đâu hỡi ơi bóng người xưa…

Lớn lên vào Sài Gòn học, phải sống xa nhà, tháng 5, Sài Gòn sắp bước vào hè, thường thì không có mưa nhưng nếu có đi nữa thì mưa cũng không dài như mưa miền Trung, mưa ào một cái như trút nước chừng 15 hay 20 phút rồi dừng, khách qua đường gặp những cơn mưa bất chợt như thế thường thì chỉ vội tấp vào bất cứ hiên nhà nào bên đường để trú mưa. Những cảnh trú mưa này ít nhiều đã để lại những kỷ niệm đáng yêu đối với tôi. 

Bài thơ “Hạt Mưa Đầu Hạ” được tôi sáng tác với những tình tiết lãng mạng dưới đây cũng nằm trong cảnh trú mưa đáng yêu đó.

HẠT MƯA ĐẦU HẠ
Hạt mưa đầu hạ trên trời
Theo em mưa xuống hiên ngoài nhà ai
Chạy mưa bước ngắn bước dài
Hiên nhà bỗng chốc mấy ai mà đầy

Ờ sao em nép thế này
Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài
Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài…
Hạt trong văn vắt…hạt cài tóc em…

Tiếng mưa rả rích gieo thềm
Nghe sao như tiếng ru êm bên mình
Nép gần thêm nữa đi em
Mùi hương con gái dịu mềm là sao

Mưa đầu mùa mấy dài lâu
Mà sao tôi muốn dài lâu riêng mình
Trú mưa bao kẻ vô tình
Như cơn mưa bất thình lình đó thôi

Thế là đang lúc mưa rơi
Bỗng dưng chậm hạt chưa lơi đã dừng
Thế là mưa chẳng buồn vương
Hạt mưa đầu hạ dễ thường riêng ai

Bước em thấp thỏm vội rời
Ngoài kia trăm ngả bước đời về đâu
Tiếc chi những hạt mưa mau
Tiếc mà chi bước cơ cầu thế nhân

Chiều nay lất phất ngoài sân
Hạt mưa đầu hạ gieo vần thơ tôi

Trước khi hòa bình lập lại năm 1954, gia đình ba má tôi còn ở quê, thời gian này tôi đã được sinh ra và lớn lên dưới lũy tre làng, đã từng nghe tiếng ầu ơ hát ru của mẹ bên dòng sông nhỏ. Với tôi, lũy tre xanh là hình ảnh của một cái gì quen thuộc và thân thương mà tuổi thơ tôi đã trải qua.

Cho đến bây giờ dẫu nơi chốn tha hương tôi cũng không thể nào quên được những lũy tre xanh ngắt của quê nhà, những vòm tre mọc ở bên đường, ngọn tre đan vào nhau và vươn lên từng khóm như muốn ôm ấp mái nhà tranh nhả khói lúc chiều tà. 

Lũy tre xanh, vòm tre xanh là những từ nghe thật gần gủi, êm tai mang hơi hướm cỏ nội hương đồng trong âm vang lùa qua của gió. 

Có sinh ra và lớn lên ở làng quê mới thẩm thấu được trọn vẹn những hình ảnh của lũy tre làng. Bài thơ “Lũy Tre” tôi sáng tác dưới đây là hình ảnh chẳng những của quê hương tuổi thơ tôi mà còn là hình ảnh của quê hương một thời chinh chiến mà tôi đã trải qua.
Em lớn lên từ dưới lũy tre xanh
Dưới tiếng hát mẹ ru bên dòng sông nhỏ…

LŨY TRE
Lũy tre có tự khi nào?
Mà xanh xanh ngắt một màu tre xanh
Thân gầy cành lá xanh đan 
Cho thôn cho xóm nên làng tre ơi
Từ xa thấy lũy tre rồi
Càng thêm háo hức chân người về quê
Chang chang nắng đổ trưa hè
Mái tranh mát với bóng tre quanh làng
Bão bùng tre vẫn hiên ngang
Dẻo dai thân uốn chẳng màng lưng cong
Thẳng người nào chịu đứng khom
Dẫu cành lá vẫn ôm choàng lấy thân
Đời tre cúi xuống đời măng
Là truyền sức sống nuôi mầm tương lai
Những trưa nắng đổ đường dài
Thương người tre đứng miệt mài bóng che
Quê nghèo tre chẳng hề chê 
Đất cằn tre vẫn chẳng nề sinh sôi
Một đời bao bọc quen rồi
Một đời thân thiết với người với quê
Có gì phía sau lũy tre
Tình chòm xóm đã chuyền qua bao đời
Tre xanh thắm cả tình người
Thấm hồn dân tộc thấm lời quê hương

Ngày xưa, thời còn chinh chiến, tôi đã từng qua những, vùng sông nước miền Tây. Nói đến miền Tây, chắc ai cũng biết, nó là miền của sông nước mênh mông, với ruộng đồng sông lạch, vùng của Cửu Long Giang. Ở đây các hoạt động vận chuyển đều phụ thuộc vào thuyền bè trên sông nước. Có lần ngồi uống rượu chung với khách thương hồ trên những chuyến đò dọc tại một bến của dòng sông lớn, được nghe họ kể về những mối tình của họ dọc theo những bến sông mà thấy thương cảm cho những đời gái quê lỡ trao thân theo người tứ chiếng. Tôi sáng tác bài thơ này cũng vì cảm nhận đó.

ĐÒ DỌC
Em tôi bỏ chuyến đò ngang
Em theo đò dọc vô vàn xa xăm
Một lần em có về thăm
Rồi đi đi mãi biệt tăm không về
Nắng chiều thoi thóp bờ tre
Sao em quên vội lời thề với anh
Chắc làng ở cạnh dòng sông
Nên bao cô gái lấy chồng đều xa

Trai làng thì cứ thật thà
Ngêu ngao hát mãi bài ca chung tình
Thương ai như đám lục bình
Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng

Nông sâu, bồi lở, đục trong
Bến quê như thể mãi mong đợi người
Về đâu bèo dạt mây trôi
Về đâu sông nước ai người biết chăng

Mưa bay lất phất ngoài sông
Một con đò dọc âm thầm nhổ neo

HÌNH NHƯ
Hình như trời chớm vào thu
Tinh mơ đã có sương mù mong manh
Hình như màu lá bớt xanh
Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai

Nắng như nhạt sắc hương ngoài
Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm
Lâu nay ngỡ đã yên nằm
Ở trong cùng tận đáy lòng thu ơi

Vào thu chỉ để bao người
Buồn thu hiu hắt đầy vơi ít nhiều
Giao mùa chỉ để cô liêu
Giữa lòng nhân thế bao điều hư hao

Hình như có gió lùa vào
Cửa phòng tôi mở lúc nào chẳng hay

CHIỀU HÔM
Tà dương vỗ cánh chim trời
Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương
Nhớ gì bằng nhớ cố hương
Cô giang một mái chèo buông theo dòng

Buồn tay níu lấy thinh không
Lao xao con nước thì thầm đuổi nhau
Xa xanh xanh ngắt một màu
Đục trong mấy bến nông sâu mấy dòng

Thèm nghe tí tách bếp hồng
Mái quê thở khói mục đồng về thôn
Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn
Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi

Thèm trong nỗi nhớ chơi vơi
Trong từng hơi hướm ngọt bùi quê hương
Giật mình tóc đã điểm sương
Tàn cơn rong ruổi còn vương bụi hồng

Chiều hôm phủ xuống mênh mông
Quyện vào nỗi nhớ ngập lòng bên song.

GẶP LẠI 
Bao nhiêu vật đổi sao dời
Tan đàn xẻ nghé dập vùi bao phen
Tình cờ ta gặp lại em
Xứ người lưu lạc ngỡ quên nhau rồi
Cũng may còn chút gì rơi
Rớt trong ánh mắt nụ cười ngày xưa
Tóc em sợi nắng sợi mưa
Nét mai ra vẻ xế trưa cũng nhiều
Giữa dòng lưu lạc gieo neo
Thương em tay chống tay chèo lẻ loi
Thơ Kiều lục bát nổi trôi
Có vần nào vận vào đời em chăng
Nợ dâu tội nghiệp thân tằm
Em tôi dang díu nợ nần hồng nhan
Cũng trèo leo với đa đoan
Để rồi trật vuột dở dang nửa chừng
Để rồi nhắm mắt đưa chân
Để rồi lặn hụp giữa dòng mông mênh
Nhìn em rồi ngắm lại mình
Cũng trôi nổi cũng lênh đênh theo dòng
Quê nhà một ngóng hai mong
Hỏi thu thu đợi hỏi đông đông chờ
Hỏi xuân xuân quá hững hờ
Hỏi tình lưu lạc ngu ngơ đáp lời
Nhìn nhau hai đứa cùng cười
Mà nghe thấm thía chiều ơi..! Xứ người

MẸ QUÊ
Thương hoài bà mẹ Việt Nam
Mong con mắt lệ mỏi mòn bao năm
Chiều nay ngoài chốn xa xăm 
Có đời lưu lạc nhớ thầm mẹ quê
Thân cò dầu dãi nắng mưa
Dâu tằm trút mãi sớm khuya tảo tần
Đời con lưu xứ bao năm
Đâu bằng đời mẹ nhọc nhằn mấy mươi
Nuôi con từ thủa nằm nôi
Từ lời ru mẹ à…ơi… ngọt bùi
Mẹ vui khi thấy con cười
Con buồn mẹ lại đứng ngồi không yên
Dạt dào tình mẹ triền miên
Mẹ là tất cả của niềm thương yêu
Mẹ tôi nay đã về chiều
Mà sao mắt mẹ vẫn nhiều lệ rơi
Mưa nhiều ướt lá mồng tơi
Ướt con đường dốc một đời mẹ qua
Mưa nhiều ướt áo bà ba
Ướt màu tóc mẹ phôi pha sắc trời
Con đi mưu chuyện lỗ lời
Héo hon mẹ đợi cuối đời chưa thôi
 

RA ĐI

“Ra đi là sự đánh liều
Nắng sớm ai biết mưa chiều ai hay” (1)
Ra đi cho đó xa đây 
Cho nghe biết mấy lòng đầy gió sương
Ra đi là sự cùng đường
Tìm trong tắc biến dễ thường mấy ai
Ra đi nào biết ngày mai
Thương quê cũng mặc, thương ai cũng đành
Ra đi tóc vẫn còn xanh
Giờ thì tóc đã đổi thành muối tiêu 
Dõi về quê cũ thân yêu
Sông xa mấy khúc, chim kêu mấy ngàn
Tháng năm thương nhớ vô vàn 
Ngẫm đời lưu lạc mà càng thương thân
Sông xưa chắc đã thay dòng?
Người xưa giờ biết đục trong bến nào?
Tìm về trong giấc chiêm bao
Chập chờn hình bóng thủa nào phôi phai
Bạn bè còn mất những ai
Hỏi ra mới biết còn vài đứa thôi
Ai đi về phía quê tôi
Làm ơn cho nhắn vài lời nhớ thương
Ngóng về cố lý mờ sương
Nghe bao sầu nhớ còn vương cuối chiều

(1) ca dao

VỘI                

Cho bà xã Thu Nga 

Em ơi, đừng vội vã già (1)
Trăm năm dẫu ngắn cũng là trăm năm 
Khuyết tròn trăng vẫn là trăng 
Đời cho được mấy nhiêu rằm làm riêng


Em ơi, đừng vội vã phiền
Tình ta mấy lúc mà nên đá vàng
Trách chi chút nghĩa cũ càng
Mấy ai giữ mãi bóng vang một thời


Em ơi, đừng vội ngậm ngùi
Cứ tìm hưng phế cuộc đời mà yêu
Mai kia mốt nọ xế chiều
Thôi em tưởng tiếc ít nhiều mà chi


Nghe em đừng vội làm gì
Cứ thong thả bước mà đi với đời
Dẫu qua bao cuộc đổi dời
Mãi luôn đằm thắm nụ cười nghe em

(1): trích câu thơ Nguyễn Duy

EM GÁI

Hôm qua hạnh phúc đến tìm

Ân cần gõ cửa sao em vắng nhà

Đường lầy em muốn đi xa

Lối trơn em thích vượt qua một mình

Đùa dai dẳng với ái tình

Rồi đem chuyện bất thình lình cợt chơi

Thế là sau mỗi trận cười

Em tôi lệ đẫm đầy vơi má đào

Nhưng rồi em quẹt lệ mau

Thay hương thay phấn đổi màu son môi

Bao nhiêu lần thách thức đời

Bấy nhiêu lần tóc dần phôi phai dần

Thản nhiên xem cứ như không

Em đong em đếm tình gần tình xa

Tình này chẳng mấy thiết tha

Tình kia ừ chỉ mặn mà thế thôi

Quỷ tha ma bắt em tôi

Cứ như giỡn hớt đùa chơi cuộc đời

Chiều nay mưa gió tơi bời

Em tôi bèo giạt hoa trôi nữa rồi

ƯỚC GÌ
Ước gì ôm được quê hương
Vào lòng cho thoả nhớ thương cõi lòng
Ngỡ rằng cách núi ngăn sông
Ngỡ rằng xa mặt cách lòng quê ơi
Càng xa càng nhớ khuôn nguôi
Thiết tha như nỗi nhớ người tình chung

Đôi khi hạnh phúc vô cùng
Trong dòng suy tưởng mông lung tìm về
Chỉ là lắt lẻo cầu tre
Hiu hiu ngọn gió trưa hè con sông
Chỉ là những mái nhà tranh
Chiều về nhả khói quây quần bên nhau
Chỉ là nhịp võng đêm thâu
Mẹ ru con giấc ngủ sâu êm đềm

Bao nhiêu nỗi nhớ không tên
Bấy lâu nay tưởng ngủ quên trong lòng
Thời gian cùng những hoài mong
Là niềm trắc  ẩn mảnh lòng tha phương
Ước gì hôn được quê hương
Như là từng được hôn em thủa nào
Để tôi hôn ngọt hôn ngào
Sông dài biển rộng biết bao nhiêu tình

Ước gì quê ở bên mình
Để trang trải mối u tình với quê
Để cười để nói mải mê
Để lòng tôi thấy hả hê với đời
Để tôi rủ nắng trên trời
Xuống đây sưởi ấm tình người phương xa
Để nhìn chiếc áo bà ba
Bên dòng sông Cửu chan hoà nắng quê
Để nghe rộn bước chân về
Ba mươi sáu phố phường xưa xa nào
Để tôi chẳng hiểu vì sao
Câu thơ lục bát đi vào nón em
Chiều về nắng đổ nghiêng nghiêng
Vàng phai tà áo dài em trên đường

Ước gì làm được khói sương
Để tôi quyện với Trường Sơn, Thái Bình
Im nghe con nước thề nguyền
Núi mòn biển cạn vẫn tròn thuỷ chung
Ước gì làm được dòng sông
Chảy về hợp với Cửu Long, Hồng Hà
Căng bầu sữa mẹ phù sa
Nuôi hai bồ lúa quê nhà bội thu
Xoá tan đi lớp sương mù
Đói nghèo quanh quẩn cầm tù quê hương

Ước gì thấy được quê hương
Như là từng thấy tuyết sương xứ người
Sài Gòn, Hà Nội, Huế ơi !
Ở đây chỉ có một trời nhớ thương
Chân đi khắp lối cùng đường
Vẫn chưa đi nổi một phương quê nhà

Bôn ba khắp nẻo đường xa
Hôm nay cảm thấy nhớ nhà làm sao




Corona siêu vi thật nhỏ

Corona siêu vi thật nhỏ

Có một loài siêu vi trùng thật nhỏ
Nó đến đây làm đảo lộn lòng người
Mắt trần tục chúng ta không nhìn thấy
Quyền năng của nó thay đổi trong đời.

Nó áp đặt thêm nhiều quy tắc mới
Đeo khẩu trang và ghi nhớ rửa tay
Nó ra lệnh phải nằm nhà cô lập
Nếu ra ngoài, khoảng cách nhớ chia ngay.

Nó giúp ta nhận biết thêm thời gian
Nhiều đến mức không biết phải làm gì
Những người con bắt đầu hiểu cha mẹ
Biết yêu thương, đùm bọc lấy gia đình.

Nó ra lệnh mua thật nhiều thực phẩm
Cùng nhau vơ vét dọn sạch cửa hàng
Cả loài người là nạn nhân của nó
Thật bình đẳng không phân biệt sang hèn.

Nó là con vi trùng nhỏ xíu đó
Nhưng quyền năng thì rộng lớn vô cùng
Trong im lặng con người cùng tâm trạng
Nỗi sợ hãi phân định thật đồng đều.

Corona, loài siêu vi thật nhỏ
Đến nơi này làm thay đổi bao điều
Sự sống chết loài người bỗng thức tỉnh
Thân phận người, nhỏ bé biết bao nhiêu.

Lê Tuấn
“Vần thơ nằm nhà tránh dịch bệnh”




NHỚ HOÀI CẢNH CHỊ XOÁY THEO DÒNG NƯỚC

Người em trai “nàng thơ” bảo rằng suốt mấy chục năm trời, cả gia đình không ai dám đọc, dám nghe bài thơ Mầu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự “rờn rợn” và nỗi đau đớn tiếc thương.

Từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi tìm về ấp Thị Long, huyện Nông Cống – nơi được ghi “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” nằm lại.

Bất ngờ qua điện thoại, ông Nguyễn Hữu Đán bảo: “Mẹ già tôi không nằm ở Nông Cống. Mẹ đang nằm ở nghĩa trang làng Định Hòa ở thành phố Thanh Hóa, cũng là quê của bà”.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 1.

Làng Định Hòa thuộc phường Đông Cương, nằm cách cầu Hàm Rồng vắt qua sông Mã non ba cây số đường chim bay.

Tìm đến nhà thờ họ Lê Đỗ, ông thủ từ Lê Đỗ Dạng say sưa giới thiệu về ngôi nhà thờ cổ ba gian chạm trổ công phu được làm từ thời Khải Định, là nhà thờ cổ hiếm hoi, gần như duy nhất còn lại trong vùng.

Bên bảng phả hệ treo trên bức tường, ông diễn giải ngài tổ Lê Thành đến đất Định Hòa lập ấp từ mấy trăm năm trước, vốn là công thần nhà Lê Trung hưng được ban quốc tính nên con cháu về sau lấy họ Lê Đỗ.

Bảng phả hệ thể hiện người cha Lê Đỗ Kỳ đời thứ 17, bà Ninh đời 18.

Nằm cách khu dân cư Định Hòa một cánh đồng rộng trồng nhiều hoa hồng và rau màu tươi tốt, nghĩa trang họ Lê Đỗ được xây dựng qui mô với hàng trăm ngôi mộ xếp theo thế thứ.

Phần mộ “nàng thơ” nằm ở dãy thứ sáu, tấm bia ghi rõ: “Mộ chí bà Lê Thị Ninh, đời thứ 18, sinh năm 1932, tạ thế 29-4-1949”.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 2.

Sau khi thắp hương, ông Dạng dẫn chúng tôi vào làng tìm gặp ông Lê Đỗ Tùng, trưởng ban điều hành dòng họ.

Ông Tùng là cán bộ về hưu, không biết có người trong họ vốn là “nàng thơ” dù ông rất thích bài thơ Mầu tím hoa sim. Ông “hi vọng” nhiều thông tin sẽ nằm trong gia phả mà mình lưu giữ.

Chúng tôi lần giở bản gia phả trong sự hồi hộp, bỗng “bắt phải vàng” khi ở đời thứ 18, mục 238, ghi rõ rành: “Lê Thị Ninh, tức Lê Đỗ Thị Ninh (1932-1948, giỗ ngày 29-5), cha: Lê Đỗ Kỳ, mẹ: Đái Thị Ngọc Chất, chồng: Nguyễn Hữu Loan (nhà thơ, 1916-2010), mộ ở làng Định Hòa”.

Thông tin trong gia phả dù vài độ lệch về ngày tháng nhưng khẳng định rõ phần mộ kia chính xác là “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” của thi sĩ tài hoa Hữu Loan.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 4.

Nhờ ông Tùng, chúng tôi liên lạc với ông Lê Đỗ Bình – em trai “nàng thơ” – và chốt cuộc hẹn tại Hà Nội.

Ngồi trên phiến đá xanh trước đền Ngọc Sơn bên hồ Gươm, ông Bình kể nhiều về một thời loạn lạc tứ tán. Từ đầu năm 1947, tiêu thổ kháng chiến, ngôi nhà lớn ở Thanh Hóa bị giật sập, cả gia đình sơ tán lên ấp Thị Long sinh sống, nơi người bố có trang trại rộng chừng 5 – 7 mẫu.

Đến đoạn, giọng ông chùng nghẹn xuống, nhắc hình ảnh người chị xoáy trôi theo dòng nước suốt mấy chục năm vẫn mãi trong tâm trí.

“Sông Chuồng hôm ấy đang mùa nước dữ, nước chảy xiết, dâng cao. Mẹ tôi cùng chị Ninh đưa quần áo ra bến giặt, tôi và hai đứa em nữa theo sau. Chị Ninh không may bị trượt chân, tôi nhìn rõ cảnh chị bị dòng nước xoáy cuốn vào và đưa đi.

Mẹ tôi la hét gọi người đến cứu nhưng vì dân ở cách xa, không ai nghe thấy. Mãi lúc sau, một thanh niên xuống vớt chị lên, cách chỗ trượt chân khoảng chừng trăm mét. Mẹ tôi bất thần không biết gì nữa” – ông Bình kể.

Tang trùng tang, bà Đái Thị Ngọc Chất đau đớn tột cùng bởi người mẹ ruột sống cùng mình cũng qua đời trước đó không lâu. Bà cho an táng con gái cạnh người mẹ.

Mãi đến năm 1967, bà sai ông Bình về Thị Long tìm mộ mẹ và con gái đưa về cải táng đầu làng Định Hòa. Sau này khi Trường cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa xây dựng, phần mộ bà Ninh tiếp tục được dời đến nghĩa trang gia đình.

Trong câu chuyện dài, ông nhớ mãi hình ảnh người chị gái có “khuôn mặt khá bầu, người hơi đậm, thấp và nhỏ nhắn” và ngậm ngùi vì di ảnh duy nhất bị thất lạc trong chiến tranh.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 5.

Sau đợt cải cách ruộng đất 1954, ông Bình tìm về Vân Hoàn ở cùng anh rể hơn 1 tháng mới ra Hà Nội.

Ông nhớ mãi Hữu Loan hồi đó “suốt ngày đọc sách rồi đi ra đi vào, viết lách làm thơ. Thỉnh thoảng anh đưa tôi đi về mấy xóm chài xem họ xiếc tép, làm cá. Cái thời cơm gạo khó khăn, hai anh em ăn toàn khoai lang”.

Sau đó không lâu, khi Hữu Loan đang làm báo Văn Nghệ, ông Bình cũng tìm đến nhà anh rể gần Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở lại 2 tuần để chờ một người anh từ chiến khu trở về.

Năm 1985, ông Bình lại về thăm anh rể ở Vân Hoàn, giai đoạn bài thơ Mầu tím hoa sim “đã công khai, nổi tiếng như cồn”. Ông kể: “Anh Loan bảo tôi: “Người ta sẽ đến đây tìm mộ nàng thơ Mầu tím hoa sim. Tôi muốn đưa mộ bà Ninh về Vân Hoàn này”.

Tôi trả lời anh rằng chị gái đã bị di dời nhiều lần, nay đã mồ yên mả đẹp. Vả lại anh bây giờ đã yên bề gia thất, mười đứa con sum vầy, có người chăm sóc. Đưa chị về đây cũng cô quạnh lắm, chẳng nên chút nào”.

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 6.
Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 7.

Ông Bình kể khi còn sống, mẹ không bao giờ cho nghe bài thơ Mầu tím hoa sim. Hễ ai đọc lên là bà khóc. Mãi sau khi mẹ qua đời (1987), anh em trong gia đình mới đọc và nghe các bài hát phổ thơ, vậy mà không lần nào không rơi nước mắt.

“Bây giờ chúng tôi già rồi, “trơ” ra rồi, vậy mà đọc còn thấy đau xót lắm, bởi anh Hữu Loan viết tình cảnh rất thật. Ba người anh đi bộ đội, người em chưa biết nói đều có.

Còn đồi sim, trong trí nhớ tôi hồi ấy nơi trang trại ở vùng bán sơn địa Thị Long, màu tim tím cứ trải dài đến tận núi. Rồi những hình ảnh mẹ tôi “ngồi bên mộ con đầy bóng tối”, “bình hoa ngày cưới thành bình hương”… tất cả đều thật hết” – dừng kể, ông khẽ đọc những câu thơ trong nỗi buồn miên man.

Câu chuyện gia đình Hữu Loan lẫn gia đình “nàng thơ” Mầu tím hoa sim cho biết Hữu Loan luôn thương, kính và biết ơn người mẹ vợ Đái Thị Ngọc Chất.

Tuy nhiên, theo ông Bình, có lẽ vì hai bên “có khác nhau” nên ít liên lạc. Đến khi người mẹ mất ở Hà Nội, gia đình ông cũng không báo.

Khi biết tin, Hữu Loan đã làm đôi câu đối vừa thể hiện dâng mẹ, vừa ẩn ý trách cứ:

Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 8.
Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 9.



TỪ ĐỨA BÉ ĐẺ RƠI ĐẾN BÀI THƠ TÌNH THẾ KỶ

Chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa kể đã lan truyền rất lâu ở làng.

Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi đi khoảng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn. Từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.

Nép bên sườn núi, nhìn ra sông Mã, chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 1.

Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại.

Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.

Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào.

Nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông “khoe” ngay: “Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu”.

Vừa nói, ông Dũng vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 2.

Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng.

Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn. Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Lê vào tới thềm chùa thì bà sinh rớt con ngay ở đó.

Sư trụ trì ngày ấy nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.

Cậu bé Hữu Loan lớn lên với trí thông minh, học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào “điềm trời”.

Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan tỏa sáng khi đỗ “tú tài Tây” tại Hà Nội, bằng cấp thời ấy rất hiếm người đạt tới.

Chỉ cần có bằng tú tài là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời, nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 3.
Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 4.
Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 5.

Trong suốt hành trình chúng tôi tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.

Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 6.

Là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên bà Tham Kỳ giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc…

Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, bà Chất đã mời Hữu Loan về dạy kèm cho ba con trai của mình.

Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là cô bé con.

Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính cô con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi.

Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.

Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: “Bố tôi kể sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa.

Vô tình thấy cụ đang diễn thuyết, lúc đó là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, mẹ Ninh đã tháo ra hết ủng hộ cách mạng.

Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: “Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ”.

Là phụ nữ, biết “bệnh” tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến “anh Loan”.

Sẵn mối cảm mến đặc biệt với thầy giáo và biết được tình ý của con gái, bà Tham Kỳ đã viết bức thư rồi sai người cậu tên Ngân chuyển vào nơi Hữu Loan đóng quân.

Nội dung nôm na: Cái Ninh nhà tôi nó khen anh lắm, hôm nọ vì anh mà nó tháo hết vàng bạc để ủng hộ cách mạng. Nó nhắc anh suốt. Nếu anh có ưng thì gia đình sẽ gả Ninh cho anh, đồng ý thì anh về sớm…

Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất các con về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách thành phố Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc.

Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:

“Ngày hợp hôn

Nàng không đòi may áo cưới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

Bên anh chồng độc đáo.

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi!”.

Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn.

Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: “Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh”.

Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 7.

Sau thời gian “truyền tụng ngầm”, bài thơ Mầu tím hoa sim lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến “quy kết” bài thơ là “thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản”, được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con.

Ở miền Nam, tác phẩm Mầu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim.

Đến năm 2004, Mầu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng…

Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 8.



Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu

Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu

Phạm Xuân Nguyên

Một cô gái dân tộc Dao Tuyển ở thôn Ngám Xá, xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát (Lào Cai) sát biên giới Việt Trung đã trở thành người đầu tiên trong bản đậu đại học và cũng là người đầu tiên ở xã vùng cao này đi du học châu Âu. Năm 2016, sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam và đi làm hai năm, cô đã giành được học bổng toàn phần Erasmus Mundus trị giá 50.000 USD đào tạo thạc sĩ ngành quản lý tài nguyên rừng bền vững của Trường đại học Gottingen (Đức) và Trường đại học Padova (Italia). Cuốn sách mang tên “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng Erasmus”. Và tên tác giả là Chảo Yến.

This image has an empty alt attribute; its file name is Sach-cogai-Dao-hocbong-Eramus-1.jpg

Đường ngược chiều của Chảo Yến là đi ngược lại những định kiến, quan
niệm, thái độ của dân bản, kể cả bố mẹ và những người thân nhất trong họ
hàng, gia đình, cho rằng con gái thì không nên học lắm làm gì, con gái
người dân tộc thiểu số thì càng không mong học cao vì học sao lại người
Kinh. Cô bé đi học sớm tuổi khi được mẹ cho đi theo cùng chị đến trường
ngày khai giảng và rồi từ ngày đó, việc học của cô là chuỗi ngày vật lộn
với cái sự ăn đói mặc rách và đủ mọi sự thiếu thốn của một gia đình
nông dân nghèo vùng cao.

Hãy nghe cô thạc sĩ hiện nay ở thủ đô kể lại cái ăn của cô bé là mình hồi nhỏ ở quê: “Tôi
khai vị bữa sáng bằng lá me rừng, món chính là lá xuyến chi, có hôm đổi
sang lá tàu bay cho phong phú. Tôi kết thúc bữa sáng bằng món tráng
miệng là lá chó đẻ, có nơi gọi là sam hôi. Tôi chào đón bữa trưa bằng
món nộm lá thập cẩm: lá chó đẻ, lá tàu bay, lá me rừng, lá xuyến chi và
nhiều loại “rau thơm” khác có nguồn gốc xuất xứ không từ trên cành cây
thì cũng dưới mặt đất. Bữa tối của tôi sẽ hoành tráng hơn vì tôi được ăn
ở những nơi yêu thích của loài lợn như chuồng lợn hoặc các bụi rậm và
tất nhiên, các món ăn cũng không kém phần đặc sắc. Tất cả các bữa ăn của
tôi đều được ăn kèm với một loại gia vị mà gia đình người Việt Nam nào
cũng có, đó là muối trắng”
 (tr. 41).

Cứ thế,  bố mẹ suốt ngày lên nương rẫy, cô bé sống tự nhiên như cây
cỏ cùng chúng bạn và đi học hồn nhiên như đi chơi. Nhưng cô đã được Trời
phú cho trí thông minh nên học giỏi. Học giỏi nhưng hết năm lớp 9 thì
cô đành phải ở nhà cùng anh trai theo bố mẹ lên rẫy phát nương hoặc chăn
trâu, lấy củi dù cô rất muốn được xuống huyện dự thi vào lớp 10. Thầy
giáo thương trò đến nhà thuyết phục bố mẹ cho cô đi học tiếp cũng không
được và cô sau khi nghe lỏm xong câu chuyện của người lớn lòng đầy buồn
bã đã ra ngồi chuồng lợn khóc ròng bỏ cả bữa tối. Để nguôi ngoai nỗi
thèm học, cô tranh thủ những lúc chăn trâu lại đứng nấp ghé lớp học mà
mình đã học qua đến nỗi thầy giáo cũ lại cho vào lớp ngồi cùng để có dịp
ôn lại kiến thức cũ mong năm sau đi thi. Hy vọng lại nhen nhóm trong
cô. Nhưng rồi nó lại nhanh chóng bị dập tắt bởi những lời bàn ra tán vào
của bà con xóm bản để cuối cùng bố mẹ cô quyết định dứt khoát và lạnh
lùng là cô phải ở nhà đi rẫy thay vì đi học tiếp. Đó là sự ngược chiều.

Ba năm ở nhà cô đã những muốn ruồng bỏ, quên đi ước mơ đến trường học
tiếp, nhất là khi cô phải chứng kiến cảnh các chủ nợ đến nhà mình giằng
từng bao lúa mới tuốt xong để trừ vào món nợ bán lúa non mà bố cô đã
ứng trước để có tiền lo việc học cho các con. Cô đã tìm cách vào rừng
lấy măng phơi khô bán chợ, đã thử mua rau đưa sang Trung Quốc bán, đã
liều sang bên kia biên giới làm công kiếm tiền.

Và cô tưởng đã yên phận như bao cô gái vùng cao khác. Nhưng rồi ước mơ lại bùng cháy trong cô, “lần này không còn chỉ là đơn giản là thích đi học nữa mà là khát vọng thoát nghèo”
(tr. 212). Và người thầy giáo cũ đã khích lệ cô, đã lại đến nói chuyện
với bố mẹ cô. Rồi cô được xuống huyện thi vào lớp 10 và thi đậu vào
Trường Trung học Phổ thông số 2 Bát Xát. Cô được vào lớp 12A4 là lớp cá
biệt của trường. Cô được bầu làm lớp trưởng cả ba năm học. Cô được nhận
học bổng của tổ chức Global Care cho học sinh vượt khó học giỏi ngay năm
học đầu cấp.

Vượt qua những khó khăn nghịch cảnh cô đã bước đầu chứng tỏ được
mình. Nhưng cùng lúc, sự ngược chiều lại tăng lên với cô mỗi khi về nhà
thấy bố mẹ không vui, thấy những người bà con chòm xóm mỉa mai, dè bỉu
việc học của mình, thấy sự độc ác hồn nhiên của mọi người. “Tôi thật
sự sợ con đường về nhà! Sợ cái bản làng tôi yêu từng ngóc ngách, sợ
những con người mà tôi từng rất yêu quý. Bản làng lúc đấy đã có điện
lưới quốc gia, nhưng đường về nhà thì lại bị mất điện, nên chúng tôi
chẳng muốn tìm đường về”
(tr. 230) – cô gái lúc đó đã nghĩ vậy.

Nhưng cô vẫn quyết ngược chiều. Tốt nghiệp phổ thông, cô thi đậu vào
Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tiếp tục phát huy năng lực học tập
của mình, chinh phục được tiếng Anh, từ đó mở ra cho mình con đường đi
đến châu Âu, vươn ra thế giới. Cô đã chủ động nắm lấy vận mệnh mình và
biết “căng buồm đợi gió” khi vận may đến. Cô chọn ngành học về rừng vì
cô sống ở rừng, biết nỗi đau của rừng khi bị con người phá hủy và nỗi
đau của người khi vì phá rừng mà bị thiên nhiên trừng phạt. Hiện giờ
Chảo Yến đang làm việc tại Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Hà Nội).
Cô gái tuổi Ngọ (1990) đã thực sự tung vó ngựa vượt qua những rào cản
ngược chiều để phi tới những miền xa khát vọng, những đỉnh cao mơ ước,
cống hiến sức lực và năng lực của mình cho lợi ích cộng đồng.

Cuốn tự truyện “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng
Erasmus” đọc thích vì giọng điệu kể chuyện. Chảo Yến kể lại cuộc đời
tuổi trẻ của mình bằng lời văn hồn nhiên, tinh nghịch, mang chất tuổi
mới lớn (teenage) tạo được sự đồng cảm yêu mến nơi người đọc dù chuyện
bố mẹ, bản làng và của chính cô nhiều buồn bã, đau xót. Những trang kể
về buổi khai trường, về buổi học cấp hai đầu tiên, về cuộc đi chợ huyện,
về cảnh tranh mót mía với bầy lợn, về cậu bạn tên Hộp, về chuyện
“cave”, về hình ảnh người bố trong buổi lễ tri ân trưởng thành của con
gái, về chuyến đi của bố con lần đầu xuống Hà Nội… đọc lên có thể cười
khóc được.

Đặc biệt trong truyện kể của Chảo Yến hiện lên sinh động những con
người quanh cô, đã giúp cô dám làm hành trình ngược chiều đi tới ước mơ.
Đó là những người thầy ở cấp trung học và đại học. Đó là anh chị em
trong nhà. Và trên hết là người mẹ của cô. Mẹ hay quát mắng, phát mông,
đánh đòn con gái mỗi khi cô nghịch ngợm. Mẹ đã có lúc cùng bố muốn con
gái thôi học ở nhà. Nhưng chính mẹ sau hôm nói chuyện với thầy giáo đã
quyết định cho con gái xuống huyện thi vào lớp 10 bất chấp ý bố không
muốn. Mẹ tin ở đứa con gái “đầu hai xoáy” của mẹ. Mẹ đã truyền cho con
gái quyết tâm đi tới từ lời tâm sự: “Cuộc đời mẹ từ bé đã vất vả,
tám tuổi mẹ đã phải đi làm thuê cùng bà ngoại để mua thuốc phiện cho ông
ngoại. Sau ông ngoại mất, mẹ lại phụ bà ngoại nuôi các cậu, các dì. Mẹ
cũng rất muốn được đi học, đến lúc lấy bố con mới được ông nội dạy để
biết đọc báo. Mẹ mà được đi học mẹ chắc chắn cũng học giỏi như con,
nhưng đời mẹ coi như bây giờ chỉ có các con thôi. Nên con hãy nhớ những
gì mẹ kể, những gì người ta đối xử với bố, với mẹ, với nhà mình, để cố
gắng học. Con tuyệt đối không được thất bại, con phải cho mọi người thấy
con đường mình đi là đúng”
(tr. 229). Nghe những lời này của mẹ,
cô gái biết không thể tự cho phép mình bỏ cuộc. Cô đã dấn bước tiếp trên
con đường đã chọn, đã quyết tâm leo hết con dốc Khó Khăn để được “rã
rời” trong hạnh phúc tột độ khi lên tới đỉnh dốc.

Khép lại cuốn tự truyện của mình, Chảo Yến viết: “Tôi không dám
nói tôi là người thành công, nhưng với tôi nụ cười tít mắt của bố mẹ
khoe khắp nơi rằng “Con gái tôi sắp đi Đức học thạc sĩ”, nụ cười của
thầy Lee, thầy Dũng khi nói “Congratulations! Well done, I’m proud of
you”, hay chỉ đơn giản là quyết tâm đi học của một vài em nhỏ ở trường
cấp hai trên bản, đó chính là sự thành công. Thành công còn là cả khi
tôi dám thoát khỏi lớp vỏ bọc, dám mơ ước được bay cao, bay xa như bao
người. Hay đúng hơn, tôi vốn đã thành công ngay từ giây phút tạo hóa cho
tôi được làm con của bố mẹ. Dù có nghèo, có vất vả, nhưng chính hoàn
cảnh đó đã tôi luyện tôi thành một người kiên cường”
(tr. 276).

Có lẽ cả cuốn sách và những lời này của tác giả sẽ truyền được cảm
hứng cho nhiều người đọc. Chảo Yến đã có dự định trích 10% lợi nhuận từ
cuốn sách này để lập một quỹ học bổng dành cho các học sinh nghèo ở quê
mình và cho các sinh viên ở Trường Đại học Lâm Nghiệp nơi cô từng học.




Buồn nào chạm nhẹ

Tiếp theo những vần thơ (nằm nhà tránh dịch bệnh lây lan). Sáng hôm nay tôi nhận ra có một nỗi buồn vừa chạm nhẹ và vần thơ lục bát, tôi phải viết ra để nhna65n biết mình đang suy tư có nghỉa mình đang hiện hữu. Xin chia sẻ cùng quý vị. Chúc qúy vị bình an trong mọi ngày.

Lê Tuấn

Buồn nào chạm nhẹ

Nỗi
buồn sương trắng bay về

Hạt
sương đêm đọng trên lề trang thơ

Trăng
còn đẫm nguyệt trong mơ

Hoa
rơi thềm lạnh hững hờ sương bay.

Buồn
nào chạm nhẹ trên tay

Cho
rung động đến trải bày tình riêng

Em
về hoa lá chao nghiêng

Giải
oan bao nỗi oan khiên phận đời.

Nụ
cười hồng má đôi mươi

Bay
tà áo mỏng bước dời gót xuân

Nụ
tầm xuân vướng theo chân

Cho
bao thương nhớ tần ngần nhìn theo.

Lệ
rơi ướt mối tình nghèo

Bước
đi lòng vẫn nghẹn ngào thương ai

Tìm
xem có một dấu hài

Buôn
lời ướm hỏi trang đài còn vương.

Buồn
nào chạm bóng tà dương

Xa
xăm mấy nẻo một phương diệu vời.

Một
thời trôi nổi bên trời

Đóa
vô thường nở trong người suy tư.

Lê Tuấn

“nỗi buồn vừa chạm,
khi nằm nhà tránh dịch bệnh’




Tỳ Bà Hành Mạn Đàm – Phần 2




Trăng Đêm Và Em

Trăng Đêm Và Em

1
Đêm khuya trăng đã sáng soi
Là khi em bước lên ngôi nữ hoàng
Thơ ngây một đóa hoa vàng
Che tà lụa mỏng điệu đàng bước đi.
2
Em làm khổ mối tình si
Hồn nghiêng ngả gọi xuân thì nhớ duyên
Vai nghiêng ôm mái tóc huyền
Đôi bờ ngực nở trên miền vấn vương
3
Theo em bước mấy cung đường
Đèn hoa trước ngõ phố phường sương bay
Em về hoa nở trên tay
Gót hài vướng bụi thêm dài bước đi.
4
Bụi mờ che vết chim di
Vỗ đôi cánh nhỏ bay khi dáng chiều
Ta về mỏi gót liêu xiêu
Ghé thăm quán vắng tiêu điều úa thu
5
Để buồn vỗ giấc mây mù
Âm vang lãng đãng tiếng tù và xưa
Trao nhau khăn lụa sầu đưa
Lau dòng lệ ướt cơn mưa cuối mùa.
6
Giọt rơi sương lạnh gió lùa
Áo em sũng ướt còn chưa muốn về
Đường chiều mỏi bước ê chề
Lời thơ não nuột buồn tê tái buồn.
7
Chờ ai trăng mọc cuối thôn
Vắng em từ dạo căng buồm gió xuôi
Ngẩn ngơ nhìn áng mây trôi
Lòng tha thiệt đợi, chia đôi nhánh buồn.

Tế Luân




TỪ ĐÂY – From Here

TỪ ĐÂY

Anh đứng đây trông về nơi em

qua một phía trời có mây và nắng

nắng trải rất mềm hàng cây đứng lặng

mây xõa lưng chừng anh ngẩn ngơ thêm

Anh đứng đây trông về nơi em

qua những lớp dày kẽm gai tường đá

có những cảnh đời rất quen mà lạ

lập lại từng ngày sáng tối chiều trưa

Anh đứng nơi đây trông về phố xưa

cách một quãng đường vài trăm cây số

kỷ niệm ngày nào rất nhiều để nhớ

như nhớ thương em nhớ mấy cho vừa

Anh đứng hôm nay trông về hôm qua

vượt mấy thời gian xô về dĩ vãng

có một rừng thơ một trời sao sáng

em đưa xuân về mấy độ hương hoa

Anh đứng hôm nay trông về hôm qua

non nước lênh đênh phận người dâu bể

thương quá từng đêm phòng khuê đơn lẻ

xin hẹn nhau ngày tàn cuộc phong ba

Anh đứng hôm nay trông về ngày mai

mộng ước mai sau mộng ước thật dài

hạnh phúc, quê hương, tình yêu, cuộc sống

còn đấy rất nhiều dự tính tương lai.

                                        SONG NHỊ

FROM HERE

I  stand here 
and  look at your residing place
Through a full-of-clouds-and-sunshine space.
Quiet are lines of trees and mild the sun spread;
Half-way clouds hang down and more moved I get.

I stand here and gaze
upon the zone you abide
Over barbed wires and stony walls that divide.
Quite a lot of life sights very familiar but unusual
Occur every morning and evening repeatedly dual.

I stand here and observe
our dear former abode
Some hundreds of kilometers hence apart a road.
Memories of those days are numerous to treasure
And countless to miss and love you to my pleasure.

I stand here today to
look back on the ancient times
Reaching to bygone dates, rushing to old climes.
A universe of muse, a sky of starlight you did bring
Perfumes and flowers manifold the spirit of spring.

I stand here today to
think of the past and hate
The vicissitudes as our country and people’s fate.
What a pity lonely you are spending every night!
I promise to reunite with you when ends this plight.

I stand here today to
look forward to tomorrow
Nurturing dreams about our future free from sorrow.
There are our Happiness, Motherland, Love, Life,
And for hereafter so many plans, so much to strive.

Translation
by THANH-THANH




Hạnh Phúc Xót Xa

Hạnh Phúc Xót Xa

Tôi
vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường
bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần
nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và
mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại,
một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc
cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia
đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có
thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và
hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào
guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do
một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được
nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý
nghĩa”?

Địa
điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành
phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng
lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con
gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ
chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ
hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không
thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi
phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo
“forget it!”

Sáng
thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại
reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu
dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng
cả tên lẫn họ của tôi.

–  Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.

– 
Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm
thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich,
chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.

Tôi
giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá
nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm
sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê
Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.

Sau
khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ
chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.

Thời
gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn
làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na-uy. Được thầy cô dạy kèm riêng,
và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất
đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng
tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam
lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi
được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị
xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá
đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân
đạo khác.

Nói
là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở
Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào
bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ
Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử
quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn
nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới,
nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành
ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm
thêm ngoài giờ hành chánh.

Tuy
nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp”
không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị
bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên
biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông
dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để
diễn đạt những điều “tế nhị”. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng
cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là
một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và
rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị
hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển,
đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di
Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương
tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch
để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo
dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm
sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông
dặn dò:

– 
Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị.
Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng
ngôn ngữ.


ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại
bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không
đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và
bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải
yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi
hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.

Một
hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra
phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân
đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan
đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người
khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có
nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ
Nạn trong khu vực thị xã.

Chúng
tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là
một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn
mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng
túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Ủy
Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài
lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà, cô
gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái
theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản
thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một
băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của
cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà
Kari Mette lái xe chạy theo sau.


phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi
mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam
giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một
lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang
mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp
cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.

Khi
trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật
buồn và ái ngại, một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ
tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần
thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau
đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác
sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người
làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận
bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện.
Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt
khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng
ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu
cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích
ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi
chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi,
nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn
khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh
giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì,
cứ gọi cho tôi.

Kể
từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy
nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã
tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập
truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.

Sau
một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa
ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm.
Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi
và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù
gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề
trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.


không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn
khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều
đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi
được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo
và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di
tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một
người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47
người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn
lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy
hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh
niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục
soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi
rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi
hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định
giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la
khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác

Vừa
mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt
theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường
như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không
bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng
kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hãi
đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.

–  Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.

– 
Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền
trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.

Tối
hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình
không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân
xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay,
cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.

Tay
thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác.
Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn,
nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một
ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc,
giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.

Sau
khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên
lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái
khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu
khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng
họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội
nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong
nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân
xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một
ngày đêm giông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi
hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?

Anh
cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà
để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả
anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu
có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi.
Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ
giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.

–  Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.

– 
Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước
uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ
những lần trước.

Đó
là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi
cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến
lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ
lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới
lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen
đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng
Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm
cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc
nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con
hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô,
làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã
trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu
đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.

Bọn
họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng,
ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu
mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường
ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe
như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô
gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt.
Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến
cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người
tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào
nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ
gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất
động nghe lòng dạ bồi hồi.

Gió
từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút
yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa
em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên
một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề,
hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một
xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường
cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới
và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng
chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước
một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô
vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh
nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở
nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công
chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ
học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến
tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất,
là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm
trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có
người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng,
cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một
lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.


bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi
ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm
cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã
gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên
đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã
quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh,
đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời
nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác
trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một
bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn
tìm lại được!

Đầu
óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương
thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn
người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị
giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển.
Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô
gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh
mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.

Tôi
định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát,
đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát
đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự
nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho
mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ
cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được
đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:

– 
Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì
những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang
giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù
em rất nhớ mẹ và các em.

Ngần
ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi
về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa
sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục,
gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều
bổ túc hồ sơ.

Hai
hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000
kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào
biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo
là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô
nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô
chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc
động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô
được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác
dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ
cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng lo lắng gì về
chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo
trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn
cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn
được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn
định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe
những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự
các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ
của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ.
Trong mắt cô sáng lên niềm vui.

Một
lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy
vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin
cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng,
nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô
còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo
là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.

Khi
được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy
cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép
cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh
nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người
đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói
trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất
nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô
còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối
cùng cô gật đầu.

Cuối
tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một ít thức ăn Việt
nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ
tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành
quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện
sinh đẻ.


sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ
chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi
ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút,
tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ
gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy
cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.

Sau
một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã
hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích
hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện
cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.

Mấy
ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông
dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô
nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói
vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp
điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “Tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.

Ngày
đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé
siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không
mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi.
Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho
biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ
không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên,
tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng
tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không
cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.

Từ
hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi
thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn.
Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi,
một người biết quá nhiều về cô.

* * *

Bích
Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà, vợ
chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của
người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của 25 năm trước.
Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45, 46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích
Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm
chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.

– 
Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một
mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?

Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:

–  Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.

Chúng
tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa
mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra
mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong
mới lên tiếng:

– 
Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới.
Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên
đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.

Cô cười bẽn lẽn:

– 
Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót
lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt
nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và
mang ơn anh chị.

Tôi cười:

– 
Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ
cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi
viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo
rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu
được, nên không có ý tìm Kiều.

Đúng
là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở
đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất
tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai
cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong
vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và
trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của
Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi
vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên
đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con
của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu
năm.

Được
chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc
trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại
học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai
cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi
tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về
đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt
nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.

– 
Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai
cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi
không có dịp được gặp bà.

Đang vui, bỗng Kiều xúc động:

– 
Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con
cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu
Bách.

– 
Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm
những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin
là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi
nói để an ủi.

Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:

– 
Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều
đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích
Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.

– 
Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi
quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là
chữ lót của em.

Tôi cười phụ họa:

– 
Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là
Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin
lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi
tên Bích nghe.

– 
Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia
đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua
rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em
biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải không?

Cả ba chúng tôi đều cười.

Kiều
nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì
không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô
bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho
chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai
trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai
cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông
minh.

–  Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.


cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út
của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và
bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp,
đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi,
tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày
đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và
chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi
là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy
nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế
gian này.

– 
Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm
thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em
sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em
cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết
chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em
thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn
thờ.

–  Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?

Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:

– 
Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba
của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ
lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy
thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được
từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc
ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng
gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em
đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em,
bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn
giấu, đè nặng mãi trong lòng.

Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:

–  Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?

– 
Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay,
còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.

Cuối
cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang
xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má
cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh
phúc.

Lễ
thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal
Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu
chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các
bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ.
Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở
mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn
người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ
chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ
vật, theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra
đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ
có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc
đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành.
Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất
giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước
kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn
nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên
người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men
rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng
hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết
những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và
hạnh phúc.

Lễ
thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu
biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông
bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho
Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có
lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà
trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và
xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh
thành dưỡng dục của mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước
thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của
mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha
bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.

Khi
vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều
âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc
mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng.
Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của
hạnh phúc.

Không
khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào
lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.

phạm tín an ninh




CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ

CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ

Một truyện ngắn của Nguyễn Dậu

Mỗi năm vào dịp sang thu, tôi lại được mời lên Ba Vì một lần. Đây là một vùng gò đồi rất đẹp. Hàng ngàn quả đồi nõn nuột cỏ xanh, tròn trịa như một mâm xôi. Rồi kế đến là vùng đồi dứa, đồi sim, đồi sơn, đồi trẩu. Càng vào sát chân núi, rừng càng rậm rạp dần, thâm u dần, để trở thành rừng già trùm lấp những tảng đá nguyên sinh nổi tiếng trên non Tản.

Bạn tôi, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quyền đã nghỉ hưu và định cư tại nơi đây. Trang trại của ông – có thể gọi như vậy – gồm gần hai chục nóc nhà làm bằng gạch và gỗ, nằm trên một trái đồi hình yên ngựa, xung quanh có hai ba dòng suối nhỏ uốn lượn vây bọc. Xa hơn nữa, một dòng sông mênh mang đỏ rực phù sa, đang cuồn cuộn chảy xuôi, mất hút vào giữa những eo núi hẻo lánh.

Thật ra mảnh đất này không phải là đất tổ của Quyền. Năm 1948 chúng tôi có dịp chiến đấu chống Pháp ở đây. Rồi tới năm 1953 lại một phen nữa, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phá bung hành lang trung du của địch mở lối thông thoát ở miền đồng bằng lên Việt Bắc, qua nẻo Hòa Bình, Sơn Tây, Phúc Thọ. Trong một tối lửa trại liên hoan quân dân, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền được một cô gái xinh đẹp nhất vùng Bất Bạt say đắm. Ở anh có nét điển xảo của trai Hà Nội, có tư thế hiên ngang, có ngựa hồng, côn-bát là hình ảnh “trai thời loạn” rất dễ làm xao xuyến những trái tim thiếu nữ thời bấy giờ. Họ thành vợ thành chồng. Con cái của họ giờ đã khôn lớn, hầu hết đi công tác ở nơi xa. Cố nhiên họ đã nên ông nên bà, và có một đàn cháu nội cháu ngoại khá đông đúc.

Thiếu tướng là một con người sởi lởi, hào phóng, chí tình chí cốt với họ hàng và bầu bạn. Nhưng ông mắc bệnh gia trưởng quân phiệt một cách nặng nề. Ông yêu thương mọi chiến sĩ, nhưng cậu nào bướng bỉnh, ông cho đi an dưỡng hoặc cho thuyên chuyển tới đơn vị khác không thương tiếc. Ông đùm bọc họ hàng đến hết mình, nhưng chớ nên để ông phật ý. Chỉ một giận dữ nhỏ, ông thù ghét rất lâu, thậm chí đáng buồn là ông ghét họ suốt đời.

Như nhiều người khác, ông cũng mắc bệnh nghề nghiệp. Nghĩa là ông ưa mọi ý muốn của ông phải được chấp hành, mọi rắp tâm phải được thực hiện. Bởi vậy, con dâu về ở cạnh ông đã đành. Con rể cũng phải về ở cạnh ông nữa. Rồi dần dần, một số con cháu trong họ cũng thiên cư đến đây quây quần cùng ông, cho “tre ấm bụi”. Không cần phải khéo léo cho lắm, ở cương vị ấy, người ta dễ dàng “ngói hóa” cho cả xóm. Thế là cái xóm nhỏ gồm toàn con cháu của ông, trở thành trang trại. Sau khi về hưu thì vị thiếu tướng nghiễm nhiên trở thành chòm chóp của trang trại này.

Mới sáu mươi hai, thiếu tướng còn trẻ khỏe hơn tuổi tác. Ông cao lớn đẫy đà hồng hào, dáng đi mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tiếng cười rồ rộ, tràn trề sức sống. Tuy đầu óc ông không còn thích nghi với một đơn vị chính quy hiện đại nữa, song ông quá thừa năng lực điều khiển việc sản xuất kinh doanh của trang trại, để cho nó ngày một phồn vinh sung túc.
Ngoài công việc điều hành trang trại, thiếu tướng đặc biệt ham thích săn bắn, câu cá, cờ tướng. Đôi khi, cao hứng lên, ông cũng làm thơ. Những bài thơ Đường luật, lổn nhổn những từ ngữ xửa xưa: sơn hà, tráng sĩ, vung gươm, thôn nữ cửi canh, chinh phụ, bồi hồi v.v…

Bởi tôi cũng thành thạo vài ngón như bắn súng, câu cá và ham cờ, nên vừa là niềm vui vừa là tai họa, mỗi năm ông bạn già ấy lại “buộc” tôi phải lên chơi với ông một lần, thậm chí, ông có lúc còn chèo kéo tôi lên định cư hẳn cùng ông, làm quân sư quạt mo cho ông trên một số lĩnh vực.

Lần này, Nguyễn Hồng Quyền xuống tận Bất Bạt để đón tôi. Thiếu tướng không dùng xe máy “Ban căng” như mọi lần. Thay vào đó, ông cưỡi một con ngựa trắng đực tơ, bốn vó khá dài. Trên tay ông dong theo dây cương một con ngựa hồng cái, có bộ lông rất mượt, có cặp mắt màu vàng chanh, và bộ lông bờm màu hồng thật không gọt xén. Trao cương ngựa cho tôi, ông vừa vỗ về con Hồng, vừa nhìn tôi cười ha hả:
– Sao? Ngạc nhiên lắm à? Có gì đâu, tớ muốn chúng mình lại cùng nhau phóng ngựa, như ngày xưa trẻ trung đã phi ngựa trên thảo nguyên Hoa Bắc ấy mà. Xương sống lưng của tớ thì tuyệt rồi. Mà xương sống của ông thì chắc cũng chẳng kém gì đâu. Đồng ý chứ?
Tôi tỏ vẻ hân hoan. Bởi vì cái gì dính tới thời son trẻ cũng gây cho tôi một niềm ham thích.

– Đồng ý thôi. Chỉ phiền cái xắc du lịch của mình hơi nặng.
– Cứ ghì vào sau yên ấy. Con Hồng không chịu nhường bước con Bạch đâu. Rồi ông sẽ thấy nó phi nước đại hay đến mức nào. Phải tháo kính trắng ra bỏ vào túi áo, kẻo văng mất đấy.
– Cặp ngựa này ông sắm từ bao giờ vậy? Năm ngoái tôi không thấy chúng.
– À, mới lên Lạng Sơn tậu đấy. Lúc thường thì dùng chúng kéo máy ép mía, máy ép dầu. Lúc cần thì đi săn. Săn thú mà không có ngựa tốt để cưỡi thì nguy hiểm lắm. Ông quá rõ điều đó còn gì? Thôi, lên ngựa đi!
Chúng tôi cùng lên ngựa. Quyền huýt gió một tiếng chói tai. Từ bụi cỏ gần đấy, một con chó to lớn mầu trắng đen loang lổ, băng lại cạnh chân ngựa. Nó ve vẩy đuôi, giương cặp mắt xanh thau, chờ lệnh chủ.

Thiếu tướng hể hả, hất hàm hỏi tôi:
– Ông vẫn nhớ nó chứ?
– Làm sao tôi quên được con Tuýt của ông. Không phải chó nữa, mà thực sự là con cọp rừng. Năm nay nó đến bốn chục kilô đấy nhỉ?
Vị chòm chóp của trang trại cười rung cả yên ngựa:
– Bẩy mươi bẩy kilô đấy!
Thế còn con Múc?
– À, Con Múc, cái con trời đánh ấy ông nhắc đến nó làm gì? Rồi thì tôi sẽ cho ông rõ mọi chuyện. Ê, này Tuýt! Mày không kính chào bạn của chủ mày à?

Con Tuýt ngoáy tít cái đuôi dài, “oẵng” một tiếng hùng dũng. Đoạn nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước chụm lại, hướng về tôi mà vái ba vái.

– Thôi, đủ rồi – Chủ nó ra lệnh – Hãy dẫn đường cho chúng tao.
Con Tuýt vọt lên trước. Con ngựa Bạch lao theo. Không chờ giật cương, con Hồng cũng băng lên, phi song song cùng bạn nó. Chúng tôi vùn vụt phi lên đèo, lượn quanh suối rồi lại vượt dốc, băng đèo. Sau lưng chúng tôi, bụi đỏ của vùng đồi đá ong bốc lên cuồn cuộn.

Con Tuýt xứng đáng được chủ nó cưng chiều. Nó bỏ xa đầu ngựa hàng trăm mét. Có lúc nó tạt sang sườn trái, có lúc nó lại vòng bên sườn phải chúng tôi. Bốn chân nó thoăn thoắt, mờ mờ không còn rõ hình hài. Bộ lông khoang của nó như kẻ một đường thẳng trên ngọn cỏ. Đôi lúc, nó đánh hơi thấy một mùi hoang thú nào đó. Nó lập tức rống lên, rẽ ngang vào rừng sơn. Song dù máu săn của nó nóng tới đâu, nó vẫn nghe lệnh chủ mà quay ngoắt trở lại, rồi vun vút băng vọt lên dẫn đầu. Đôi ngựa chúng tôi đang cưỡi đây, cũng rất hăng máu non tơ, dường như muốn đuổi vượt con chó Tuýt. Chúng thở ra hơi trắng, bốn vó dồn dập sải dài nước đại. Sỏi đá, cây cỏ dưới mặt đường, như kéo thành vệt, loang loáng trôi về sau lưng. Nhưng không ổn. Chẳng nói gì ngựa thồ, ngựa ép mía, ngay đến ngựa chiến cũng không thể theo kịp tốc độ của chó săn. Con Tuýt láu lỉnh hiểu ý đôi ngựa. Ngựa phi nhanh, nó tăng tốc nhanh hơn. Ngựa chậm dần, nó hãm đà phóng, cứ lững thững ở mé trước như trêu như chọc.

Quả thật đây là những giây phút sung sướng lành mạnh trong đời tôi. Thuở trai trẻ, chúng tôi được dịp ngồi trên yên những con ngựa cao lớn mà bay vút trên thảo nguyên bao la. Những con ngựa ấy, tôi chỉ đứng ngang bả vai chúng, rất xứng đáng với những cái tên rất kêu: “Thiên-lý-Hoa-lưu”, “Tích-tuyết-ô-truy”, “Xiển-điện-hoàng-phiêu”… so với chúng, thì hai con ngựa nhiệt đới mà chúng tôi đang cưỡi đây, chỉ đáng gọi là những con nghẽo xoàng xĩnh. Song tôi vẫn thấy chứa chan hào hứng. Tôi thầm cảm ơn bạn già, cảm ơn đội ngựa, cảm ơn con Tuýt tinh thông, cảm ơn đất trời mênh mông và cảnh sắc của thiên nhiên hào hùng xung quanh… Tất cả đã khuấy lại trong tim tôi những kỷ niệm đẹp đẽ đã trôi qua, những sôi nổi chỉ còn âm ỉ của một thời xuân sắc đã lướt vào dĩ vãng.
Vị chòm trại đột ngột chụm môi rúc còi lanh lảnh ra lệnh cho chó và ngựa dừng lại bên bìa rừng trẩu.
– Được nửa đường rồi, chúng ta tạm nghỉ một lát. Thế nào, ông bạn, cảm giác về sống lưng ra sao?
Cả hai chúng tôi cùng nhảy xuống. Cương ngựa được cột chặt vào gốc trẩu. Chúng lúc lắc đầu, quạt mạnh đuôi, gõ móng ngựa thậm thịch xuống nệm cỏ, tỏ ý còn muốn được rong ruổi nữa, tuy rằng hơi thở của chúng đã khá nặng nề.

Chúng tôi ngồi xuống nệm cỏ mật, giữa hai hàng trẩu non. Thiếu tướng rót rượu mật ong ra. Chúng tôi cùng nhau tợp vài ngụm rồi hút thuốc lá, loại thuốc sợi vàng óng, đặc sản của Ba Vì. Riêng Quyền, ông nhồi vào tẩu. Ông đã quen dùng tẩu từ mấy chục năm rồi.

Tôi lim dim mắt, hỏi bạn già.
– Tình hình các cháu nội ngoại của ông ra sao? Nhất là cái con Quỳnh ấy?
– Chúng nó đều ăn khỏe, ngủ khỏe. Riêng cháu Quỳnh thì ngoài phần học văn hóa ra, cháu vẫn thích đi chơi trên đồi rừng, vẫn thích làm thơ về rừng. Từ ngày không còn con Múc, nó ít đi rừng hơn. Và tôi cũng cấm cháu nữa.
– Nghĩa là, anh không hề thấy con Múc quay trở về?
– Con Múc trở về ấy à? – Thiếu tướng mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ – Về con Múc, anh sẽ được thấy mọi điều. Hiện giờ tôi không muốn nói cùng anh vội. Nhớ rằng tôi mời anh lên đây lần này khác hẳn những lần trước. Dù rằng anh không ưa săn bắn, tôi vẫn ép anh phải dự cùng tôi một cuộc săn bắn bằng được.
– Một con thú đặc biệt mới xuất hiện chăng?
– Ồ, bí mật quân sự!

Tôi không hỏi gì nữa. Tính nết đến khỉ của cái ông già này là vậy! Khi không, tự dưng ông nói tộc toạc đủ mọi điều. Lúc thích hỏi, thì ông ta lì lì ngậm tăm.

Con Tuýt nằm duỗi chân cách chủ nó chừng nửa mét. Lười thè dài, mầu đỏ hồng có điểm những chấm đen lấm tấm. Thân nhiệt của nó, được xả ra từ đầu lưỡi, bốc thành hơi trắng nóng hầm hập. Hàm răng của nó trắng bóng. Bốn chiếc răng nanh cửa dài và cong, sáng nhoáng đến dễ sợ. Chẳng rõ từ ngày nó ra đời rồi trưởng thành đến nay, bộ nanh ghê gớm kia đã cắn xé biết bao gà lôi, với chim đa-đa, thỏ và chồn, hươu và hoẵng, gấu và cáo. Kinh dị hơn, chủ nó đã đôi lần tường thuật cho tôi nghe những trận ác đấu của nó với gấu ngựa và báo đen. Trong những cuộc cắn xé sinh tử đó, phần lớn nó đã chiến thắng, dù đẫm máu nhưng huy hoàng. Có nhiều phen nó đã sắp bị kẻ thù xé xác, nhờ nòng súng thiện xạ của ông chủ, nó được cứu thoát. Chủ và chó đều có ân huệ sâu xa với nhau.

Nếu như chủ đã cứu chó thoát khỏi cửa tử nhiều phen, thì chó cũng đã dăm bảy bận đưa chủ trở về cõi sống.
Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.

Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi:
– Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.

Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.

Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi:
– Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.

Vốn thâm giao, thường niên gặp gỡ, lẽ cố nhiên tôi hiểu rõ lai lịch con Tuýt vô giá kia. Tổ của nó vốn nòi chó săn Na-uy băng giá. Trong trận tiêu diệt đồn Đại Bục năm xưa, giữa hàng trăm chiến lợi phẩm quan trọng, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền chỉ mừng rỡ khi đoạt được con chó săn này, vốn là kẻ “cận vệ” của tên Pháp đồn trưởng. Ông gởi về nhà, giao cho vợ ông trông nuôi. Trong đàn con cháu của nó, ông Quyền chọn lựa được một con chó cái mầu trắng như tuyết, không pha tạp một sợi lông màu nào. Và ông đặt cho nó một cái tên rất âu yếm: Bạch Ngọc!

Bạch Ngọc có đôi tai nhỏ, dựng đứng. Ức nó nở, bụng nó thon, toàn thân nó chắc nịch như thỏi giò bó. Đôi mắt của nó mang màu da cam, le lói tia sáng. Nó không sủa inh ỏi như chó nhiệt đới, mà lặng lẽ tiếp cận đối thủ, và chỉ tấn công khi nó biết chắc sẽ có một cú đợp chí mạng.

Năm trước một lần về phép thăm nhà, thiếu tướng lấy làm lạ lùng thấy con Bạch Ngọc thường hay lặng lẽ băng mình vào rừng sâu những lúc xế chiều. Ông xỏ ủng da vào chân, xách khẩu AR15, loại tiểu liên cực nhanh, rồi cũng lặng lẽ đi vào rừng, theo hướng đi của con Bạch Ngọc.

Từ xa, dưới một góc trám già nua, ông đã thấy Bạch Ngọc đang đùa giỡn với một con chó rừng vạm vỡ, có bộ lông đen bóng như lụa lĩnh. Ông rón rén vòng theo hướng ngược chiều gió, dần dần tới gần đôi chó bằng động tác đi cực kỳ êm nhẹ của thợ săn lành nghề. Và ông nằm phục xuống quan sát.

Đôi chó quá vui vẻ, nên không hề phát hiện con người đã gần chúng. Nòng súng AR15 đã được nâng lên. Song, chỉ một tích tắc ngắn ngủi, vị thiếu tướng tinh ranh đã quyết định không bóp cò. Ông chỉ rê đầu súng theo hoạt động của con chó rừng đen tuyền kia, mà chờ đợi.

Con chó rừng và con Bạch Ngọc ngửi hít nhau, đùa rỡn vật lộn nhau. Sắp đến lúc phấn khích, con chó rừng rụt cả đầu, cả thân mà chạy thành vòng tròn rộng xung quanh con Bạch Ngọc. Đôi lúc nó ngẩn cao đầu, tru lên từng hồi dài, rồi tung vọt người lên không, nhảy vút từ tảng đá này sang tảng đá khác với niềm cuồng say ghê gớm. Con Bạch Ngọc cũng nhảy nhót, nhưng dường như nó chỉ xoay mình trên tâm điểm. Cuối cùng nó hứng khởi cắn nhẹ vào má con chó rừng, rồi đứng im với tư thế mời mọc.

Quả như ông thiếu tướng dự kiến. Một hiện tượng thiêng liêng của tự nhiên đã diễn ra. Con chó rừng hăm hở làm cái việc gắn đuôi con Bạch Ngọc. Biết chắc rằng đôi chó rừng không thể mau chóng tách rời nhau, thiếu tướng đứng lên, nhẹ nhàng lùi dần ra cửa rừng. Ông ngồi trên một khúc gỗ ẩm ướt, mồi lửa vào tẩu thuốc và ngâm nga một câu thơ gì đó. Ông vui! Một cuộc phối giống vô cùng hiếm hoi mà có dụng ý đến đâu người ta cũng không dám mong ước. Thiên nhiên yêu chiều ông đến thế là cùng.

Chừng nửa tiếng sau, con Bạch Ngọc êm như ru chạy ra. Nhác thấy chủ, nó ngạc nhiên nhưng mừng quýnh. Đôi mắt sung sướng của nó lấp lánh như bốc lửa. Ông Quyền đập nhẹ bàn tay lên đầu nó, nói với nó vài lời trìu mến, khi nhìn thấy từ cục thịt dưới đuôi nó rỉ ra vài giọt máu tươi. Đoạn, cả chủ cùng chó, với niềm hoan hỉ, chậm bước quay về trại. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, con người say sưa sát phạt kia đã không nổ súng vào một con thú rừng.

Trước khi lên xe, trở lại đơn vị, ông dặn dò cặn kẽ vợ con cách chăm sóc và bồi dưỡng Bạch Ngọc, đồng thời phải biên thư báo cho ông biết diễn biến của nó từng tuần một. Bà Quyền ngoan ngoãn vâng lệnh chồng! Bà chỉ âm thầm buồn bực vì xưa nay chưa bao giờ chồng bà quan tâm như thế tới bà, tới con gái và con dâu mỗi kỳ thai nghén sinh nở.

Con Bạch Ngọc đã không phụ lòng ông chủ. Nó đẻ lứa đó được bốn con chó con. Con đầu khoang đen trắng, tức con Tuýt. Con thứ hai hoàn toàn đen kịt, có cặp mắt tóe lửa giống mẹ, được đặt tên là Múc, còn hai con kia mang mầu lông xám đậm. Tuy tiếc đứt ruột, vị thiếu tướng vẫn phải tặng một con cho một ông Bộ trưởng có ân sâu dìu dắt ông tự thuở thiếu thời.

Khi Tuýt và Múc được tám tháng tuổi, cũng là lúc ông tướng già được về hưu. Ông dốc hết sức mình vào việc dẫn dắt trang trại ngày một phồn vinh trên đường kinh doanh. Cũng với sự tận tình như vậy, ông chăm sóc, huấn luyện con Tuýt, con Múc cùng một bầy năm sáu con chó săn khác. Tuýt và Múc càng lớn càng khác biệt nhau. Cùng vạm vỡ, cao lớn, cùng ngông cuồng với thiên chức săn đuổi tìm diệt, song con Tuýt được chủ nó yêu quý hơn con Múc nhiều. Tuýt biết phán đoán, ửng xử hầu hết ý chủ. Nó gần như hiểu tiếng người. Ngoài chức trách dữ dằn, quyết liệt và man rợ trong săn bắt, nó rất dịu dàng, quấn quít con người. Chỉ cần dạy bảo đôi lần, nó biết mừng đón và biết vái chào, biết canh phòng và làm vui lòng chủ. Nếu cần sai nó lấy đôi dép, lấy con dao, lấy chiếc điếu cày, nó làm rất khéo. Nếu cần thúc nó trừng phạt gia cầm và gia súc, nó tuyệt đối làm vừa ý chủ.
Con con Múc thì hoàn toàn ngược lại.

Nó không hề thua kém Tuýt về khoản săn đuổi, vật lộn và cắn xé. Nhưng chỉ thế thôi. Nó dửng dưng với những việc mà con Tuýt say mê. Nó không quẩn quanh bên chân chủ, không biết chào đón, lại càng đần độn với những việc chủ muốn sai khiến. Trong cái trại đông đảo người này, nó chỉ thân thiết và gắn bó với riêng cháu Quỳnh. Mỗi lần cháu Quỳnh lên đồi sim, hoặc vào rừng, nó thường đi theo, nửa bước không rời. Những lúc tiễn cháu Quỳnh đi học rồi, nó thường quay về nằm duỗi dài chân ở đầu thềm dỏng tai nghe, chăm chú nhìn. Nó nghe gió ngà, nghe suối reo, nghe mọi động tĩnh trong rừng sâu. Đầu mũi ướt bóng của nó luôn luôn nhún động, để như nắm bắt, như phân biệt, như tận hưởng mọi thức hơi lạ theo gió lùa tới.

Nó thờ ơ như vậy, dần dà, nó bị ông chủ ghẻ lạnh. Ông quên đi những công lao của nó, chỉ còn biết cáu gắt quát tháo mỗi khi nó lỳ lợm không chịu xua đuổi đàn gà quấy phá vườn rau, hoặc không chịu xua đuổi lũ gia súc đang tứ tán trên đồi. Tình hình xấu đến nỗi, ông đã quất cho nó vài ngọn roi da, khi nghi ngờ nó xơi tái mất hai con gà trống Đông Cảo, mà ông lận đận về mãi miền Từ Hồ mới mua được.

Trong nghề săn bắn và nuôi dưỡng chó săn, ai cũng biết rằng người ta tuyệt đối tránh ngược đãi chó của mình. Sự trung thành sẽ mất đi, nếu con chó bị trừng phạt oan uổng. Một con người tinh ranh và sáng suốt như thiếu tướng Hồng Quyền mà cũng phạm phải sai sót đó, thật đáng buồn biết chừng nào.
Sở dĩ ông thù ghét nhưng chưa nỡ ruồng bỏ con Múc vì hai lý do. Thứ nhất, ông sợ cháu Quỳnh buồn. Ông yêu thương và quý báu cháu Quỳnh, còn cháu Quỳnh thì lại trìu mến con Múc như một bạn nhỏ thân thiết. Thứ hai, hồi đầu năm, con Múc lập được một chiến tích có thể xem là phi thường được.

Những ngày đầu xuân, mưa phùn và nắng ấm, làm cho rừng già trở nên tươi rói vì những búp nõn và chồi non. Tại các nẻo đồi mươn mướt từng đợt cỏ xanh mềm như nhung lụa. Muông và thú trong rừng sau đợt nghỉ đông hoặc ngủ đông dài dặc, bây giờ bừng tỉnh, nhộn nhịp đi kiếm ăn, tìm đôi, phối giống, và sinh sản.

Một đàn lợn rừng từ bên kia sông Đà, đã ùa sang bên này. Các đồi lạc, đồi dứa của trang trại bị lợn rừng tàn phá nặng nề. Ông Quyền cùng Quý, con trai thứ ba, quyết định rủ nhau đi săn bắt đàn lợn rừng tệ hại kia. Lợn rừng chậm chạp, chỉ cực kỳ hung dữ khi bị dồn vào tử địa. Có khoảng sáu con họp thành đàn, đang trũi húc vào các luống lạc. Khi phát hiện ra có người và chó vây bủa, chúng mở đường máu lao về phía sông Đà. Chúng đi, tựa sườn vào nhau, hai nanh dưới to bằng ngón tay trỏ, nhe ra, lông bờm dựng đứng. Đàn chó phân vân, không biết nên tấn công đàn lợn bằng cách nào. Những mảnh đạn ghém tuy trúng đích cũng không khiến chúng ngã được, bởi lớp mỡ quá dày.

Bản thân vị thiếu tướng cũng có phần lúng túng, chưa có cách nào để đạt kết quả tối ưu. Trong khi đó, đàn lợn vẫn rất trật tự, tựa sườn vào nhau mà lần lượt xuống sông bơi đi hết. Riêng có con đầu đàn, khổng lồ, không hiểu sao nó lại không lao xuống nước. Nó dừng chân bên bụi lau, và quay đầu trở lại. Đôi mắt nhiều lòng trắng của nó long sòng sọc. Nó tru hộc lên, những chiếc lông cứng và dài như lông nhím dựng đứng suốt từ gáy tới lưng. Hai chiếc nanh trước trắng bóng, cong cong của nó chĩa ngược lên trời với vẻ đe dọa không thể không làm ta rùng mình.

Con Tuýt bị chủ thúc xông lên. Chính nó cũng chần chừ. Bởi vì giống chó săn thường chỉ đánh vào điểm yếu nhất của đối thủ là hầu họng. Các loại hoang thú thường để lộ cổ họng, dù có lớp mao bao bọc. Với lợn rừng lại là chuyện khác. Nó hầu như không có cổ. Lớp mỡ dầy đặc ứ bự xung quanh vùng mặt, nối liền bả vai và xương ức.

Bị hối thúc vì lệnh chủ, con Tuýt nhảy vào. Nó ngoạm đúng phần má của con mồi. Nhưng nó đã bị trừng trị trở lại. Con lợn rừng chỉ hất mạnh cái mũi lên, hai chiếc nanh nhọn đã đóng ngập vào xương sườn con Tuýt. Con Tuýt rống lên đau đớn, nhưng nhanh nhẹn, nó vùng thoát rồi chạy về bên chủ, máu chảy đầm đìa. Ông thiếu tướng kinh hoàng vì đấu sĩ số một của ông chiến bại. Ông lập tức nâng khẩu AR15 lên. Cùng lúc ấy con Múc đã xông tới. Ông liền ngừng lại để xem bản lĩnh của con Múc. Con Múc hiểu rằng, qua cú đòn đau của con Tuýt, nó không thể ngoạm cổ con lợn rừng được. Nó liền chạy vòng quanh con mồi. Con lợn rừng hung tợn và lỳ lợm cũng xoay tròn thân mình, đôi mắt trắng sáng không rời con Múc. Bất thình lình, đang đà chạy bình thường, còn Múc nhảy vào con lợn. Nhưng khi gần tới cổ lợn, nó ngoặt người đổi hướng và đợp rất chính xác vào cẳng chân sau của con mồi. Tiếng xương gãy nghe ròn lắc rắc. Con mồi rống lên, nhưng con Múc đã vọt được ra xa. Lợn rừng hung tợn lên gấp trăm lần. Nó khập khiễng nhưng nhanh nhẹn xông vào tấn công bất kỳ ai. Cũng may hôm ấy tất cả đều ở trên mình ngựa, nên bầy ngựa nhảy dạt ra khá nhanh nhẹn. Cơ hội tốt đẹp đó tạo thuận lợi cho Múc. Trong khi con lợn xông theo con ngựa của ông Quyền, thì từ mé sau, con Múc băng tới, và ngoạm vỡ xương chiếc chân bên kia của con lợn. Lúc này con lợn mới rống lên thảm thiết. Gãy hai cẳng giò mé sau, nó không còn sức bật sức dướn nữa. Nó nằm bẹp xuống, điên cuồng dũi răng nanh vào đất đá, làm cho đất đá bị lõm thành một hố sâu. Phần còn lại, Múc dành cho người và bầy chó kia kết thúc. Nó đứng im, vừa thở vừa ngắm nghía con mồi bị nó đánh gục.

Sau cái chuyện đó, ông Quyền, với con mắt người đi săn thấy rằng ở con Múc còn nhiều tiềm năng ghê gớm, mà chỉ khi lâm sự nó mới bộc lộ ra. Còn với cặp mắt của người chủ, ông vẫn không xóa bỏ được mối ác cảm đối với “tên đày tớ” ương bướng này.

Trở về trại, ông chăm sóc chu đáo vết thương con Tuýt, nhưng việc cần phải làm là ban thưởng cho con Múc thì ông không làm.
Năm trước lên thăm và ở chơi cùng ông Chòm Trại, tôi đã thân ái nhắc nhẹ ông về tính công bằng, và sự cần thiết phải gạt bỏ thành kiến. Song, ông bạn già của tôi vốn không thể cao cả hơn thượng đế được, mà chính thượng đế rất bảo thủ. Ông cười, chế nhạo lại tôi:
– Trừng phạt và ưu ái là hai mặt của sự chăm sóc và gây dựng. Nếu con Múc muốn tôi ưu ái nó thì nó hãy ngoan ngoãn như con Tuýt. Tôi có hẹp hòi gì đâu? Mà, có nực cười không nhỉ, khi anh thấy cần giảng dạy cho tôi về mặt nuôi dạy chó săn?

– Về việc đào tạo chó săn thì anh hơn tôi không chỉ một, mà là hàng vạn lần. Tôi chỉ lưu ý anh về tính di truyền sinh vật. Theo anh kể, bố nó là giống chó rừng thuần chủng. Còn mẹ nó là nòi giống của loại chó tinh quái có nguồn gốc hàn đới xa xôi, đã được thuần hóa. Con Tuýt được thừa hưởng cái gien máu của mẹ nó quá nhiều. Còn con Múc thì ngược lại, nó giống bố nó từ thể hình, màu lông và tính cách. Ở nó tính “rừng” đậm hơn tính “nhà”.
Thiếu tướng cười

vang vọng, đắc thắng:
– Theo ý anh thì con hổ và con voi rừng có mang tí tính “nhà” không? Vậy mà người ta dạy nó làm xiếc được đấy. Vấn đề là nó có ngoan ngoãn không? Có phục tùng không?
– Nhưng anh đã có tình thương yêu và tính kiên nhẫn của những nhà dạy thú chưa?

Ông tướng già quen với việc ra mệnh lệnh lúc này mới im bặt. Ông trầm ngâm giây lâu, đoạn vỗ vai tôi:
– Này, mình tặng con Múc cho ông đấy!
– Tặng tôi?
– Mình rất thực tâm. Có lẽ ở cùng ông thích hợp cho nó hơn.
– Ôi, cảm ơn tình bạn của anh. Nhưng, tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của tôi à? Vả chăng, tôi biết kiếm đâu ra thịt sống để nuôi nó, trong khi chính tôi cũng chả có thịt mà ăn?

Chúng tôi lại cười, và cùng cười rồ rộ. Nguyễn Hồng Quyền không phải con người lúc nào cũng cố chấp, ông ta chỉ bướng bỉnh lúc nào bị sự ngu dốt xúc phạm. Trộn lẫn trong tim ông có tính hồn nhiên, phóng khoáng, tự phụ và hiếu thắng, nên nói chung, ông ta không giận bực lâu. Sự hào phóng và khoáng đạt vẫn là phong thái chủ chốt của ông.

Tuy chưa hoàn toàn gạt bỏ sự căm ghét con Múc, song ông xem chừng cũng muốn mối quan hệ xấu ấy được đổi khác đi. Một hôm, để con Tuýt ở nhà, ông gọi riêng con Múc ra sông tắm cùng ông. Chủ và chó cùng bơi lội đùa nghịch. Ông ôm con Múc vào vòng tay, ngắm nghía những sợi lông dưới cằm nó. Ông sờ nắn những cái móng đã thoái hóa ở cổ chân nó, (phương đông gọi là huyền đề).

Lúc đầu con Múc le lói ánh mắt đề phòng người chủ. Chưa khi nào nó được ông gần gũi, xoa vuốt như lần này. Nên, với bản chất rừng, nó hoang mang nghi ngờ ông. Cử chỉ của nó rất e dè, thận trọng. Có lúc tưởng chừng như nó sắp sửa muốn liếm tay, liếm mặt ông nữa, nhưng khi gần sát ông, nó liền đứng khựng và trở lùi. Lưỡi nó lè dài, mắt nó rừng rực ngắm thẳng vào mắt ông. Người và thú cùng dò xét nhau và cùng chưa xóa bỏ được định kiến. Con Múc không biết nói gì, cái đó đã hẳn. Những cử chỉ để giải tỏ lòng trung, nó cũng không thạo nữa. Nó biết làm sao đây để ông chủ hiểu rằng mặc dù bị ông ghẻ lạnh, ruồng rẫy, nó vẫn yêu mến ông, vẫn muốn gắn bó với cái trang trại này, cái cơ ngơi này.

Một đêm mưa rét, khi con Tuýt và bầy chó săn kia đi tìm nơi ấm áp ngủ ngon, con Múc đã phát hiện thấy một con báo gấm đang quẩn quanh ngoài hàng rào mắt cáo, tìm lối vào trại. Nếu là con Tuýt hoặc chó khác, đã sủa ngậu lên, báo hiệu cho chủ. Với Múc, nó không ồn ào thế. Nó xù lông, nhảy vút tới bên bờ rào, đôi mắt tóe lửa. Con báo gấm, một ác thú nham hiểm bậc nhất ở rừng sâu, vừa gầm gừ nhè nhẹ, vừa chạy đi chạy lại tìm một lỗ hổng to rộng. Con Múc cũng gầm gừ nhè nhẹ, bám sát con báo gấm từng bước chân để ngăn chặn. Nếu không có hàng rào tre khỏe khoắn, chắc chắn đã diễn ra một cuộc cấu xé đẫm máu, mà phần bi thảm hẳn thuộc về con Múc. Bởi vì chó rừng, dù hung hãn, đồ sộ tới mức nào cũng không phải là đối thủ của báo gấm. Khi đói khát, bị cơn đói cồn cào kích thích, báo gấm dám liều lĩnh tấn công và cắn xé cả cọp rừng.

Cứ như vậy, hai con thú trong cái thế đối chọi qua lớp rào tre, suốt đêm mưa gió. Đã mấy lần báo gấm định leo trèo hàng rào cao. Nhưng nó biết rằng khi leo rào, nó sẽ bị phơi bụng ra. Một ác thú nham hiểm đâu có dại dột vậy.

Lúc trời tang tảng sáng, con báo gấm đành rống lên một tiếng căm hờn, vút thẳng vào rừng. Con Múc ướt sũng, mệt mỏi bơ phờ, trở về nằm dài ở cửa buồng cháu Quỳnh.

Chính cái lần ấy, khi thấy con Múc rũ rượi, thảm hại vì suốt đêm căng thẳng, ông chòm trại đã chỉ vào mặt nó mà mắng:
– Mày giấu đôi gà Đông Cảo của tao ở góc nào, hang hốc nào. Đêm qua mưa gió lẻn đi làm một bữa hả hê phải không?
Chiến công quật ngã lợn rừng đầu đàn làm cho mối quan hệ chủ và chó có phần đẹp hơn. Nếu cứ cái đà ấy, cái đà mà chiến tích của Múc ngày càng vượt trội Tuýt, thì số phận của nó sẽ đẹp đẽ nhường nào. Nhưng hỡi ơi, định mệnh của nó nghiệt ngã, số kiếp của nó có chứa sẵn một kết cục ảm đạm, nên đã xảy ra một việc cực kỳ phi lý như sau:

Vào độ rằm tháng bảy, khắp nơi người ta náo nức sửa soạn cúng lễ vong hồn tiên tổ. Về phần mình, ông thiếu tướng với cương vị chòm chóp của trại, ông làm hẳn cỗ thái lao, để trước là tỏ lòng tri ân tổ tiên, sau là ban ân cho con cháu. Thái lao, theo tục cổ là lễ tam sanh, gồm có một trâu trắng, một ngựa trắng và một dê trắng. Ông Quyền không thể quá ư nệ cổ, nên biến báo đi chút ít: một lợn trắng, một dê trắng và một gà trắng. Thế, e là cũng quá linh đình rồi. Dê và lợn đã được quay hồng. Gà thì được rán chín cả con. Tất cả bầy đặt trên bàn thờ tổ.

Con Tuýt quanh quẩn dưới gầm bàn thờ. Mùi vị thịt rán kích thích tì vị nó dữ dội, xưa nay nó chỉ biết mùi thịt sống và cũng chỉ ăn toàn thịt sống. Người nuôi chó săn thường dùng máu nồng và thịt gây để kích thích tính hăng say xâu xé. Chưa bao giờ Tuýt được ngửi hít hương vị thơm tho lạ lùng đến thế.

Trên gian thờ tổ vắng ngắt.
Cánh mũi của Tuýt phập phồng nở rộng, nước rớt nước dãi của nó lều rều theo đầu lưỡi xuống đất. Bằng một động tác còn nhanh hơn ma quỷ, con Tuýt nhảy lên ban thờ, ngoạm chắc lấy con gà quay, rồi vọt ra cửa. Nó toan tính phóng thẳng ra nơi vắng vẻ bên bờ suối.
Tại hiên hè, nó gặp con Múc đang nằm ở buồng cháu Quỳnh. Cũng lúc đó, tiếng đế ủng của ông chủ thậm thịch nơi xa. Nó vội nhả con gà quay ra, nhảy tót vào cửa ngách, rồi êm như động tác của mèo cái, nó vọt qua cửa sổ, mất hút.

Ông thiếu tướng tròn xoe mắt nhìn con gà thái lao có vết răng chó bập vào, rồi ông trừng mắt nhìn con Múc nằm gần đó. Giận sôi sùng sục, ông vào nhà ngang lên tiếng gọi vợ con. Đoạn, ông rút chiếc roi gân bò, chạy đến bên con Múc.

Múc không hiểu người ta định làm gì, song nó linh cảm thấy sự chẳng lành. Nó đứng phắt dậy toan mừng chủ chút ít thì một loạt roi da xiết bỏng trên lưng nó. Con vật rú lên thê thảm, nhảy vọt ra sân, nhưng vẫn còn bàng hoàng ngơ ngác, chưa dám chạy xa hẳn. Chỉ đến lúc nhác thấy ông chủ giằng lấy khẩu súng hai nòng trên tay cậu Quý, thì nó hiểu rằng không thể chậm trễ chút nào. Từ cái “gậy” sắt ấy nó đã thấy tóe lửa nhiều lần. Sau lúc lửa tóe, có bao muông thú giãy giụa tan xác.

Bởi vậy, nó dồn hết sức lực vào bốn cẳng, luồn lỏi qua dãy chuồng gà, chuồng lợn, rồi vượt qua cửa rào, nó lao thẳng về phía rừng. Sau lưng nó, vang lên những tiếng nổ đoàng đoàng, tiếng chiu chíu xé gió bên tai nó. Bản năng sinh tồn giục nó chạy miết. Cũng chưa khi nào nó chạy tinh khôn như lần này. Không kẻ chỉ, không thẳng băng, mà ngoằn ngoèo đổi hướng. Có lúc tiếng đạn sát sạt trên lưng, nó nằm lăn ra, giả tảng chết. Rồi thình lình lại vọt lên, băng đi như một vệt đen mờ ảo.

Vào tới rừng, nó đứng lại quay nhìn xóm trại. Nó thoáng thấy ông Quyền và cậu Quý trên yên ngựa. Dẫn đầu đàn chó săn tầm thường là con Tuýt – anh ruột nó, kẻ xảo quyệt đáng ghê đối với nó. Thế là nó chạy thẳng, chạy mãi vào rừng sâu, sang tận bên kia núi Ba Vì.

Từ đó nó trở về cuộc sống hoang dại mà tổ tiên nó xưa kia hằng sống.
Ngồi một lúc, chúng tôi cùng nghiêng người, nằm chống tay trên nệm cỏ. Xa xa, ba đỉnh núi màu lam sẫm như lách qua những dải mây trắng mà chĩa chọc nền trời xanh. Núi non Ba Vì thuần một màu đen sẫm của rừng già. Đó đây từng vệt lá cây màu vàng màu, đỏ xỉn, và màu xanh nõn nuột của rừng cọ, rừng son.

Thiếu tướng Quyền gõ gõ tẩu thuốc, gảy hết lượt tàn tro, đoạn nạp thêm mồi sợi mới. Ông nheo mắt nói với tôi:
– Lúc nãy anh cứ gặng hỏi xem tôi mời anh lên để săn bắn con thú gì. Tôi nói thật ra, e rằng anh ngạc nhiên.
– Con Múc?
– Chính thế. Anh nhanh ý đấy.
– Quả thật không còn gì khiến tôi kinh ngạc hơn. Con Múc vẫn còn sống, anh cứ để cho nó sống. Nó đã giúp ích anh không ít. Anh hãy rộng lượng cho nó được tự do.
– Tôi cũng có ý quên nó đi. Nhưng nó làm hại tôi quá chừng. Tôi không thể không diệt nó.
– Làm hại?
– Chừng một năm nay, nó thường xuất hiện ở bìa rừng. Có lúc nó còn mò vào trại. Thậm chí nó còn dám xông vào buồng cháu Quỳnh.
– Thế thì có gì là tai hại? Nếu như là nó muốn quay về với chủ cũ thì sao? Chuyện ấy xưa nay thường xảy ra.
– Ông bạn ơi, ông quá đồng cảm với nó đấy. Một năm nay tôi đã mất hai chục con gà, bốn đầu lợn và hai con dê sữa đấy. Để khi nào tôi găm vào mình nó trọn băng đạn AR15, rồi tha hồ ông thương xót nó.
– Nếu là do cầy cáo và báo beo vồ bắt thì sao? Chẳng có chó rừng nào khênh nổi dê lợn đâu, nhất là lại khênh qua hàng rào tre nhà anh.
Thấy mình đuối lý, ông chòm trại đỏ mặt, châm thuốc hút:
– Cứ cho là beo báo tha dê và lợn đi, còn những con gà? Anh không thấy là con Múc nó rất háu thịt gà à? Đôi gà Đông Cảo và con gà Thái Lao… anh đã rõ rồi đấy!
Đến lượt tôi đuối lý. Tôi im lặng hồi lâu. Lòng tôi bồn chồn và buồn bã. Tôi chợt thấy tiếc công tiếc việc ở dưới Hà Nội. Té ra tôi lên đây là để chứng kiến cái kết cục mạng sống của con Múc.
Thiếu tướng hỏi tôi:
– Sao, ông nghĩ ngợi gì vậy?
– Không, à, con Múc giờ đây nó thế nào? Ông đã đích mắt nhìn thấy nó chưa?
– Rồi. Tôi lại bắn trượt nó hai lần nữa. Thật là một con chó quái quỷ lạ lùng. Nó to lớn gấp rưỡi, hung dữ gấp mười, còn nhanh nhẹn thì gấp trăm.
– Để sinh sống và tồn tại giữa bầy ác thú trong rừng sâu, nó cần phải trưởng thành như vậy. Nó không thể không độc dữ hơn.
– Anh vẫn cứ bênh nó chằm chặp.
– Tôi tiếc rằng anh đã bất công với nó. Trong trường hợp bị hắt hủi, bị hằn thù như vậy, đến con người cũng không thể không biến đổi tính cách, huống chi một con thú.

Chúng tôi lại lên ngựa. Con Tuýt lại dẫn đường. Có thể do cách nói năng bộc trực của tôi, khiến bạn già không vui. Dọc đường ông chẳng nói một câu nào. Bởi vậy, tôi biết mình sai lầm. Định kiến của con người quen bệnh quyền uy kia là không thể thay đổi. Tôi tỏ lòng thương tiếc con Múc nhiều quá, điều đó chỉ khiến ông Quyền càng tăng thêm quyết tâm hạ sát nó mà thôi.

Thấy chúng tôi phi ngựa về đến cổng trại, bà Quyền và đàn con cháu ra tận sân chào đón. Bà năm nay đã ngót sáu mươi. Vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn, nên trông bà không đến nỗi già nua như tuổi tác. Trên vẻ mặt thanh tao của bà vẫn còn những đường nét vốn xưa xinh đẹp. Song, ở bà, điều hấp dẫn người ta chính là phong thái đôn hậu, hiền từ. Cạnh bà là cháu Quỳnh, cũng mảnh mai hiền từ, cũng gương mặt trái xoan, trông cháu giống bà ngoại như đúc.

Cháu nhảy bổ vào lòng tôi:
– Cháu chào ông trẻ. Ông có khỏe không ạ?
Tôi nâng bổng cháu lên, rồi hạ cháu xuống:
– Cảm ơn cháu! Ông trẻ vẫn khỏe. Còn cháu cứ mỗi năm lên đây, ông lại thấy cháu như ăn nhầm phải bột nở ấy. Cao bằng bà rồi đây này.
Cả nhà cùng cười giòn giã. Bà Quyền hào hứng nói:
– Ấy, ông cứ quở cháu thế. Cháu lại bé đi mất!
– Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không?
Cháu Quỳnh cười như nắc nẻ:
– Cháu chả việc gì phải hãi con Múc cả – Cháu ghé sát tai tôi, thì thào – Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe. Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm!
Thiếu tướng Quyền quát to:
– Quỳnh, mày nói gì ông phỏng?
Cháu Quỳnh vội vàng “không ạ” rồi lẻn ra nấp sau lưng bà. Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng:
– Khiếp cho ông! Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này – Bà quay sang phía tôi, cười – Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi.

Ông Quyền hỏi vợ:
– Cạo tôi? Cạo đầu tóc, hay cạo râu ria?
– Cạo cái cặp mắt gườm gườm của ông ấy!
Ông già cười khà khà.
Một chút xung đột ý kiến không làm sứt mẻ tình bầu bạn giữa chúng tôi. Chỉ vài câu chuyện vui vui, hoặc vài ván cờ là tất cả sẽ qua đi như mưa rào ngày hạ. Nói chung thì, theo ý tôi, Nguyễn Hồng Quyền là một người biết chơi đẹp, biết ăn ở, biết cư xử. Trên đời còn nhiều những mẫu người đáng chán hơn; hãnh hợm một cách ngu si, thông thái trong tưởng tượng, hào phóng có điều kiện, và ngủ say li bì trên hào quang giả trá.

Chúng tôi đi bơi, đi câu cùng nhau. Ông dắt tôi đi xem tận mắt những máy ép mía do ngựa kéo, rồi máy ép dầu lạc, dầu sả. Ông còn dự định chế tạo một loại xà phòng dùng nguyên vật liệu địa phương. Tôi vui mừng và chúc mừng ông về tất cả mọi điều ấy. Ở ông hiện rõ những ham muốn vật dục chủ nghĩa. Nhưng, dẫu sao cũng là còn muốn làm việc, còn muốn sáng tạo, muốn sinh lợi. Thế chẳng có ích cho đời hơn là chỉ ngồi ôn lại quá khứ hào nhoáng đã xa xôi sao?

Duy có điều tôi mong được biết là kế hoạch vây bủa con Múc. Ông già chỉ tinh quái, lim dim mắt, cười ruồi, rồi lảng sang chuyện khác. Tôi làm sao yên tâm được. Tôi biết rằng chỉ khi nào găm đủ cả băng đạn vào mình con Múc, ông Quyền mới có thể ăn ngon ngủ yên. Lay chuyển ý định phi lý trong đầu ông thiếu tướng, có lẽ còn khó hơn vần đá tảng ngược tới Ba Vì.
Người được gặp gỡ con Múc nhiều nhất lại chính là cháu Quỳnh.
Chuyện đáng buồn xảy ra với con Múc khiến cháu giận dỗi ông ngoại. Cháu khóc liền mấy ngày, bỏ ăn mất ba bữa, và ngẩn ngơ thương tiếc không lúc nào nguôi.

Hơn nửa năm sau. Một hôm cháu lên đồi kiếm sim chín và hoa rừng thì bất ngờ cháu gặp con Múc đứng ngay trước mặt cháu và ve vẩy đuôi chào mừng. Quỳnh không tin vào mắt mình nữa. Cháu nhìn chó, sợ hãi. Con Múc lông lá sồm soàm, bẩn thỉu và dữ tợn quá. Thấy con thú cứ ngoáy tít đuôi mãi, cháu bạo dạn hỏi nó:
– Mày có phải là Múc không? Nếu là Múc thì lại đây với mình! Nào!
Nói xong cháu ngồi xuống, giang hai tay ra. Con Múc xô vào người Quỳnh hơi mạnh, làm cháu suýt ngã ngửa ra. Đôi bạn thân thiết ấy, làm mọi cử chỉ có thể làm để tỏ tình thương nhau. Con Múc hôi tanh nồng nặc, nhưng Quỳnh cứ để mặt nó liếm lên má, lên tóc cháu. Cháu ứa nước mắt, hỏi nó:
– Bạn ở rừng sâu à?
-!
– Bạn có khổ với lũ hổ báo không?
-!
– Bạn có bị đói luôn không?
Con chó chỉ biết rít ứt trong họng, cà sát bộ lông vào người cô chủ của nó. Phải nửa tiếng sau, Quỳnh mới buồn rầu rời chó.
– Bạn không về được đâu. Ông mình sẽ giết chết!
Con chó hiểu ý ấy. Nó oẳng nhẹ một tiếng. Đôi mắt của nó nhoáng ánh lửa, ve vẩy đuôi một lần nữa, liếm bàn tay Quỳnh một lần nữa, rồi băng vút về rừng.

Từ đó, cứ cách vài buổi, cháu Quỳnh lại lên đồi sim một lần. Lần nào con Múc cũng đợi sẵn. Mỗi lần vậy, đôi bạn lại trìu mến ve vuốt nhau, rồi lại bịn rịn chia tay.
Nếu tôi là một cây bút giàu sức tưởng tượng và không biết kiềm chế, tôi sẽ lợi dụng đặc thù của văn chương mà viết vài đoạn thật hay. Tôi sẽ thêu dệt rằng: Một lần cháu Quỳnh gặp gấu ngựa ở trong rừng, con Múc đã tung hết sức lực ra để vật lộn với gấu cứu cô chủ. Hoặc giả là: Có lần cháu Quỳnh bị trăn quấn. Con Múc đã bật vọt lên cao. Khi buông mình rơi xuống nó ngoạm đúng “thất thốn” là tử huyệt của giống trăn. Nó cắn xé đến nỗi con trăn phải từ từ nới bỏ vòng quấn, cô chủ nó thoát nạn. Cũng có thể lãng mạn hơn, tôi viết rằng: Có lúc người và chó ngồi dưới ánh trắng bên bờ suối, rồi con Múc rúc lên lanh lảnh từng hồi, gọi bạn tri âm của nó cùng một đàn chó xinh xắn ra chào mừng cô chủ.

Nhưng bởi vốn có tính thận trọng một cách hủ lậu, tôi không thể bịa đặt như vậy. Về mối quan hệ lạ lùng kia, tôi chỉ có thể nói thêm điều này. Một lần, cháu Quỳnh bị cảm cúm nặng. Hơn chục ngày liền, cháu không thể ra đồi sim gặp con Múc. Nửa đêm cháu nghe thấy có tiếng cào cửa quen thuộc. Cháu vui mừng chạy ra tháo chốt cài. Con Múc tọt vào, âm thầm quấn quýt cháu Quỳnh. Không may cho nó, con Tuýt và lũ chó săn kia phát giác đã sủa nhặng lên, rồi chặn kín cửa ra vào. Con Múc nhe nanh xông thẳng vào con Tuýt như một ánh chớp. Con Tuýt không ngờ rằng con Múc đã biến đổi mạnh mẽ dữ dội nhường ấy. Bị cắn xoạc bả vai, nó lăn ra sủa rống lên. Bày chó kia kinh hãi không dám nhúc nhích. Con Múc nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, biến vào đêm tối.

Ông Quyền đã gạn hỏi cháu gái đủ điều. Cháu Quỳnh chỉ khóc thút thít, không hé lấy nửa lời. Ông liền tuyên bố với cả nhà:
– Con Múc lọt vào trại để trả thù. May có con Tuýt không thì cái Quỳnh bị xé xác ra rồi. Từ nay cả nhà phải cẩn thận lưu ý. Cái giống chó đã thù là thù dai lắm đấy!
Ông băng bó vết thương cho con Tuýt, ban thưởng cho nó khá hậu hĩnh: một ký thịt nai rất tươi.

Dù sao trẻ thơ vẫn là trẻ thơ, ông cháu vẫn là ông cháu. Cháu Quỳnh sợ tính ông nghiêm nghị, giận ông xử nặng con Múc, nhưng nó vẫn rất yêu ông ngoại. Ông cháu làm lành với nhau, thân thiết với nhau vì sợi dây huyết thống bí ẩn ràng buộc.
Vào dịp rằm tháng tám, ông Quyền dùng xe máy đưa cháu Quỳnh đi Hà Nội sắm đồ chơi trung thu cho các em nhỏ. Ông còn đưa cháu đi vào lăng viếng di hài Bác Hồ. Cháu sung sướng. Cháu hớn hở. Trong một phút bồng bột hồn nhiên. Cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại:
– Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé?
– Ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó?
– Cháu tìm được thì sao nào?
Ông thiếu tướng cười phì:
– Đến mười cái thằng bố mày, đến mười cái thằng ông mày cũng chả tìm nổi, nữa là…

Qua vẻ mặt và ánh mắt của cháu gái, ông chòm trại dường như phát hiện ra điều gì. Ông bèn gặng hỏi cháu gái:
– Cháu thấy nó rồi phải không?
– Vâng ạ.
– Ở đâu?
– Nhưng ông phải hứa với cháu là không giết nó cơ.
– Ừ, ông hứa!
Cháu gái hào hứng kể cho ông ngoại nghe hết mọi điều đoạn kết luận:
– Cháu thấy là nó, con Múc ấy, nó chẳng có lỗi gì đâu ông ạ.
– Nó ăn gà, ăn dê, ăn lợn…
– Cháu chả thấy tận mắt khi nào. Nhà mình có nhiều chó hư. Sao ông chỉ nghi ngờ mình nó thôi?
– Nó không vâng lệnh. Nó không chịu sai khiến như con Tuýt, thế cũng là tội to rồi. Những quân bướng, cần phải nghiêm trị.

Ngày hôm sau cháu Quỳnh lên đồi sim với con Múc. Ông già chòm trại lặng lẽ xách súng đi theo cháu gái, cách chừng ba trăm mét. Cháu Quỳnh không thấy con Múc đâu. Còn ông già thì thoáng thấy. Tuy không nhìn rõ hình thù nó, song ông thấy các bụi sim lay động ràn rạt, ông biết rằng con Múc đã nhìn rõ ông. Nó chuồn biến như tăm cá mất hút dưới đáy sông. Cháu Quỳnh hoàn toàn không rõ gì về việc ông nó đi theo mé sau cả.

Những lần sau, mỗi khi cháu Quỳnh lên đồi sim, ông già thường gói cho cháu một ít thịt rán tẩm bột, bảo đem cho con Múc. Cháu gái cảm động ứa nước mắt, tưởng rằng ông ngoại đã thực sự hồi tâm chuyển ý, sẽ cho đón con Múc về. Còn ông già cũng rất vui sướng khi cháu gái khoe với ông rằng con Múc đã ngốn sạch sành sanh gói thịt rán, đến nỗi không còn tí mỡ dính lá chuối.

Một buổi chiều, tôi sang làng Ngọc Nhi, thăm mấy người bạn cũ trở về. Vào đến sân, tôi ngạc nhiên khi trước mắt tôi là quang cảnh sửa soạn đi săn: người ngựa, súng ống, dây chão và đòn khiêng. Bày chó săn ngồi thành vòng tròn chờ đợi chủ. Con Tuýt lăng săng chạy đi chạy lại. Nó ve vẩy đuôi, đứng nghếch nghếch mắt nhìn chủ, chờ đợi sai khiến, hoặc đi giám sát từng con ngựa, cứ y như là một viên phó quan của cuộc săn vậy.

Thiếu tướng với vẻ mặt đỏ gay, cặp mắt lóng lánh có nhiều sợi lông mày bạc trắng cong rủ xuống quanh mi. Mỗi lần mở cuộc săn bắn, ông thường có vẻ say sưa, kích động như vậy.
Tôi hỏi lại ông:
– Săn gì vào cái giờ chiều này?
– Chó rừng!
– Con Múc phải không? Anh miễn cho tôi can dự vào cuộc sát phạt này nhé.
– Không được! Anh phải tận mắt thấy tôi sẽ chiến thắng sau hai ba lần thất bại.
– Bạn ơi, anh cầm chắc thắng lợi đến thế nào?
– Như cầm tỏi gà trong tay vậy.

Lòng tôi buồn rầu, nhưng tính tò mò thúc giục. Vả chẳng, tôi muốn xem sẽ kết thúc ra sao, cái trò quái gở giữa một bên quyết ý tìm diệt và một bên tinh quái né tránh. Chúng ta, con người, loại động vật cao cấp nhất, nhờ có hai bàn tay lao động đã phát triển được trí thông minh. Nhưng sau khi rời bỏ rừng sâu, tiến về đồng bằng, xây dựng nên những trung tâm văn hóa, chúng ta đã quay lưng lại, đã phũ phàng và độc ác với rừng sâu. Chúng ta đã tàn hủy cái nôi sinh ra mình. Chúng ta đã săn bắn, tiêu diệt các sinh vật còn nương tựa vào rừng, mà ngu ngốc không hiểu rằng chúng ta đã tàn hủy tự nhiên và phá hoại thế cân bằng sinh thái. Các sinh vật, dữ và lành, tồn tại được nhờ rừng rậm. Rừng rậm tồn tại và phát triển được cũng đã nhờ sự sinh sôi của muông thú. Và cuối cùng, nếu muông thú và rừng rậm không tồn tại nữa, thì làm sao chúng ta có thể tồn tại được?

Thuở xa xưa, con người sống đơn giản hơn. Người ta chỉ biết rằng điều quý nhất ở trên đời là mưa nắng trăng sao, điều quý ở dưới đất là ngũ cốc dồi dào, điều quý ở trong nhà là cháu thảo con hiền. Nhưng ngày nay, điều quý lại là châu báu vàng bạc, là uy thế lộng quyền, là sát phạt muông thú và sát phạt lẫn nhau. Hôm qua tôi đau đớn anh đấm tôi. Ngày hôm nay, tôi sung sướng được hành hạ nó. Ngày mai nó hả hê vì trừng trị kẻ khác… Một cơn lốc luẩn quẩn xoáy sâu vào ngõ cụt. Biết bao giờ mới tỉnh ngộ, mới tháo gỡ, mới đồng cảm và yêu thương?

Đoàn săn bắn rầm rập phóng lên đồi sim. Tôi và ông thiếu tướng sóng vai nhau. Cậu Quý và người anh rể vòng ra mé sau đồi. Con Tuýt ngông cuồng hăng say dẫn đầu đàn chó – những con chó có hình thể tuyệt đẹp, băng băng nhảy nhót giữa các làn cây bụi cỏ.
Chỉ chớp nhoáng sau, gọng kìm vây bủa đã xiết chặt quả đồi. Tôi kinh hoàng khi thấy cháu Quỳnh đang ngồi khóc. Con Múc nằm duỗi thẳng cẳng dưới chân cháu.

Cháu Quỳnh chạy lại bên ông ngoại khóc nức nở:
– Ông ơi, ông. Con Múc ăn xong gói thịt là nó lăn ra. Nó sắp chết mất rồi. Làm sao lại thế, hả ông?
Ông già cúi xuống an ủi cháu gái:
– Không sao đâu, nó không thể chết được. Thuốc ngủ chỉ vừa liều lượng thôi mà.
– Ông trộn thuốc ngủ vào thịt…? Trời ơi…

Con chó rừng mềm rũ rượi. Song đôi mắt rực lửa của nó vẫn trừng trừng ngắm nhìn tất cả. Nó hiểu rằng nó đã bị bịt hết mọi ngách sống. Thuốc ngủ liều cao làm tê liệt thần kinh và gân cốt nó. Nhưng từ nơi xa xăm nào không rõ, có thể là từ rừng sâu, có thể là trong từng tế bào máu, nảy sinh ra một ý chí mãnh liệt giục nó phải vượt lên, phải sống còn. Nó rống to lên một tiếng, vọt mình lên, phóng cẳng lao đi.

Lập tức con Tuýt đuổi sát mé sau. Con Múc vừa chạy vừa ngã. Nó lồm cồm bò dậy, được vài bước lại ngã rúi rụi. Cuối cùng không chạy nữa, nó quay phắt lại, nhe bộ răng nanh ghê gớm, chờ đợi. Con Tuýt và cả bầy chó đã hiểu sức mạnh khủng khiếp của con Múc, chỉ chờn vờn nhảy nhót ở khoảng xa, không dám tiếp cận.

Để khỏi mất thì giờ, ông chòm trại nâng nòng súng AR15. Một loạt đạn ngắn gọn rít lên, hòa cùng một tiếng thét xé trời đất của cháu Quỳnh. Con Múc lăn ra đất, không chút giãy giụa. Nó nhận đủ cả băng đạn từ cổ trở xuống. Máu nó xối tuôn, đỏ sẫm cả bộ lông đen. Đôi mắt nó mở to, vẫn màu lửa nhưng dịu hơn, trong đó có nhoáng lồng ánh mây trắng, trời xanh, rừng sẫm và ngọn Ba Vì uy nghi mầu tím đậm.

Có lẽ đã được huấn luyện đầy đủ, nên, khi con mồi gục xuống rồi, bày chó săn đua nhau lăn sả vào, mỗi con đợp cho con Múc một miếng để làm vui lòng chủ, với dáng dấp bẩn thỉu hèn mạt quá chừng.

Cháu Quỳnh chạy đến cạnh tôi. Thấy quanh cảnh thương tâm ấy, lòng dạ trẻ thơ không chịu đựng nổi. Cháu lả đi trong vòng tay tôi. Không rõ phải tôi hoa mắt hay bị hoang tưởng, tôi thấy vầng trán mịn màng của cháu bỗng như gợn nhiều nếp hằn sâu, còn mái tóc xanh đen của cháu bỗng như bạc trắng đi.
Thiếu tướng tiến lại, kéo vai áo tôi:
– Về thôi, anh. Cháu Quỳnh làm sao thế?
Tôi nói như mình trong mộng:
– Anh bắn giỏi thật đấy. Một cú “đúp” tuyệt vời! Anh hạ sát cả con Múc lẫn cháu Quỳnh.

Ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên:
– Bậy nào! Không thể thế được. Cháu Quỳnh có làm sao không?
Tôi nâng cháu Quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên:
– Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi.
Tháng 8 – 1988

Nguyễn Dậu (1930-2002): tham gia cách mạng từ 1946, từng là chiến sĩ pháo binh, sau năm 1954 làm việc trong Phòng Văn nghệ thuộc Tổng cục chính trị, biên tập viên báo Văn Nghệ, cán bộ Sở Văn hoá Hà Nội, rồi làm thợ cắt tóc, rồi giải chiếu bán giày dép rong ở bên đền Ngọc Sơn, thấy công an hay quản lý thị trường từ xa thì… chạy. Một văn tài ít được nhắc đến.




Chợt Nhớ Năm Xưa

Buổi sáng cuối tuần nhâm nhi ly cafe, nhìn trời đất bỗng nhiên ngẫu hứng viết bài thơ lục bát với tựa đề “Chợt nhớ năm xưa”. Xin chia sẻ cùng qúy vị đọc cho vui.

Lê Tuấn

image.png

Chợt Nhớ Năm Xưa

Gió thu lay động áo nàng

Xôn xao tiếng bước chiều vàng năm xưa

Hàng cây phố cũ lưa thưa

Bốn mươi năm trước, cũng vừa cơn đau.

Tháng tư trời đất đổ nhào

Cho người điên loạn tiếng gào khóc thương

Thời gian qua mấy đoạn trường

Bay theo hạt bụi nhiễu nhương cuộc đời.

Bốn mươi năm sợi tơ trời

Lòng như tan nát thế thời đổi thay

Thuở nào chinh chiến trả vay

Bây giờ già héo đắng cay phận người.

Lửa thiêng còn thắp sáng ngời

Thơ tôi chấm phá thêm lời vấn vương

Dẫu rằng trời đất vô thường

Lòng buồn nhớ lại con đường năm xưa.

Tế Luân (Lê Tuấn)

“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng

Chợt thấy lòng buồn nên nhớ về năm xưa, một thời chinh chiến trước năm 1975”




Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

Hồ Trường An

LTS: Nhà văn Hồ Trường An đã qua đời hôm Thứ Hai, ngày 27 tháng 1, năm 2020, tức Mồng Ba Tết Canh Tý, tại Troyes, Pháp, hưởng thọ 82 tuổi.

Ngoài những sáng tác  của HTA được nhiều người biết đến, là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký,  Ông còn được dư luận quan tâm khi trao đổi vấnđề xã hội – giới tính – đồng tính luyến ái –… Lúc còn sinh tiền Ông không ngại ngùng và phá biểu thẳng thắn, bộc trực về vấn đề “giới tính”. Việc “đồng tính luyến ái” nay trong những xã hội dân chủ đã trở thành bình thường, bớt thành kiến, thôi không còn “khắt khe” như trước.

Lưu Diệu Vân thực hiện – 15.05.2008

Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11
tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện
đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn
chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn,
tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và
hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại
hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương
việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.

Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng
ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng
bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ
Trường An.

LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự
bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà
văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói
về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ
Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?

ho_truong_an_1991

HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong
buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm,
trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không
đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn?
Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn
tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế
hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi
nào chăng?

Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng
tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi
chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân.
Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang
nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần
là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự
của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc
tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người
bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của
hắn lớn hơn tôi khá nhiều.

Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay
tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967,
bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn
Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại,
vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy
lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi
kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời
gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những
cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt
như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA.
Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc
Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên
80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có
rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh
Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có
thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?

Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời.
Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn
tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay
xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai
như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ
nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương
yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn
mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường.
Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được?
Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn
của một nhà văn gay.

LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện
thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi
quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?

HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng
vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy,
họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng
đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng
các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng
Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên
gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có
phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến
ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.

Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác
nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì
mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho
những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia
đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay
bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng
tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng
gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ
chống lại thiên nhiên.

Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm
tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên
tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay…
cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người
đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc
sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với
tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.

LDV: Nhà văn Hồ Trường An định nghĩa giới tính của mình bằng đường lối nào?

HTA: Cô Vân ơi, câu hỏi nầy trặc trẹo lắm. Tôi không sao có thể định
nghĩa giới tính chính mình. Tôi chỉ biết giới tính chia ra làm ba hạng
người: hạng thứ nhất là hạng người yêu đương và thích làm tình cùng
người khác phái của mình. Đó là những người dị tính luyến ái (les
hétérosexuels). Hạng thứ hai là những người yêu đương và thích làm tình
với người đồng phái. Đó là những người đồng tính dục (les homosexuels),
nhưng nói cho nhẹ nhàng bóng bẩy một chút thì gọi là đồng tính luyến ái
(les homophiles); bên nam giới gọi là gay, bên nữ giới thì được gọi là
lesbiennes. Lại có người thích làm tình với người khác phái tính lẫn
người đồng phái tính. Đó là những người lưỡng tính luyến ái (les
bisexuels). Vua Hán Cao Tổ có nhiều quý phi, cung tần, mỹ nữ. Nhưng ông
ta thỉnh thoảng tìm các cậu trai mới lớn nuôi sẵn trong biệt viện để ông
ta thay đổi thực đơn hành lạc. Những cậu trai như vậy tiếng Pháp gọi là
bé cưng (les mignons). Đó là tôi nói theo nhà Trung Hoa học thuật gia
Robert Van Gulik qua cuốn biên khảo ‘‘La Vie Sexuelle dans la Chine
Ancienne.’’

Trong giới nghệ sĩ Hoa Kỳ thì Marlon Brando cũng thuộc loại lưỡng tính luyến ái. Anh ta mê phụ nữ da màu và đã trải qua hai đời vợ là Anna Kashfi – lai Ấn, Movita – gốc Mễ-tây-cơ. Nhân tình cũa anh ta gồm có các nữ tài tử France Nuyen – lai Việt, Tarita – người thuộc đảo Tahiti, Rita Moreno – dân Mỹ La-tinh. Nhưng bà vợ Anna Kashfi trong cuốn Brando au Petit Déjeuner xác nhận rằng Marlon Brando lẫn James Dean đều là dân lưỡng tính luyến ái. Trước khi nổi danh, trong thời gian sống ở Paris, Marlon chơi thân với điện ảnh gia Roger Vadim và nam tài tử Christian Marquand. Chính anh chàng Marquand này là người yêu của Marlon Brando. Anh ta người Tây-ban-nha lai Á-rập nhưng sinh sống từ nhỏ ở Pháp, đóng phim Pháp, nổi tiếng đẹp trai và sexy. Christian Marquand cũng là dân bisexuel, sau đó kết hôn với nữ tài tử Tina Aumont. Hư thực ra sao đố ai biết rõ. Chúng ta chỉ biết một khi người vợ bị tổn thương thì việc gì mà không dám nói. Anna Kashfi còn dám viết rằng Marlon Brando có tới ba hòn nang. Khi sống trên tại kinh thành Paris, chàng ta đã cùng Roger Vadim và Christian Marquand đi Monmartre để hành lạc theo kiểu ‘‘nga môn khoái lạc’’ do dân phong lưu Trung Hoa phát minh. Đó là đút dương vật vào hậu môn con vịt, rồi thình lình chặt cổ con vịt để cho hậu môn con vịt siết chặt và buông lỏng liên miên dương vật. Marlon Brando trong quyển hồi ký của mình bảo thẳng thừng rằng : ‘‘Tôi cũng có vài kinh nghiệm về đồng tính dục.’’ Riêng James Dean được báo chí thêu dệt mối tình giữa chàng ta và nữ tài tử gốc Ý Pier Angeli, giữa chàng ta và nữ thần nhục cảm Ursuela Andress gốc Thụy- sĩ. Nhưng lại có tin hành lang cho biết người tình đực rựa của chàng là tài tử bô trai cực kỳ thanh tú và hùng tráng là Tab Hunter.

Về phía lưỡng tính luyến ái phái nữ thì vào thời Đệ tam Cộng Hòa có
hai nàng nữ danh kỹ là Liane de Pougy và Emilienne d’Aleçon sắc nước
hương trời. Cả hai đã từ dan díu với các chàng trai quý tộc và các kỹ
nghệ gia Hoa Kỳ thuộc hạng tỷ phú. Liane de Pougy đã từng ăn nằm với
Hoàng tử vùng Galles nước Anh về sau trở thành vua Edouard VII, còn
Emilienne d’Aleçon đã từng dan díu với vua Léopold II nước Bỉ. Cả hai cô
danh kỹ kia còn là nữ sĩ văn chương. Liane viết 7 cuốn tiểu thuyết, nổi
tiếng nhứt là cuốn Idylle Saphique (Tình Yêu Các Cô Đồng Tính Luyến Ái) và cuốn nhật ký Mes Cahiers Bleus
( Những Tập Giấy Xanh Của Tôi). Người tình nuơng mặn mòi thắm thiết
nhứt của Liane de Pougy là nữ sĩ kiều diễm người Mỹ Natalie Cliffod
Barney. Còn Emilenne d’Aleçon về sau kết hôn với anh nài ngựa người Anh
chẳng những trí thức, giàu sụ mà còn đẹp trai. Vì là nài ngựa nên chàng
hơi nhỏ con một chút, nhưng rất xinh xắn dễ yêu. Cả hai si mê nhau điên
cuồng, yêu đương bỏng cháy. Vì yêu nàng, chàng bỏ quốc tịch Anh và xin
vào quốc tịch Pháp. Vì chàng, nàng thôi làm cái nghề đưa ông hoàng ra
cửa trước, rước ông tỷ phú vào cửa sau. Chàng nài ngựa bô trai giỏi văn
chương Pháp nên dạy Emilienne d’Aleçon làm thơ. Do đó nàng cho trình
làng hai thi tập Temple d’Amour (Ngôi Đền Tình Ái) và Les Masques
(Những Cái Mặt Nạ). Chàng nài ngựa yểu mệnh, Emilienne d’Aleçon đau khổ
không nguôi. Từ đó nàng đoạn tuyệt với đàn ông và chỉ ăn nằm với đàn bà
trong đó có nữ nam tước người Ý là Baronne Mimy Franchetti. Cô nữ nam
tước nầy cũng đã từng ăn nằm với Liane de Pougy.

LDV: Sự chấp nhận một cách hân hoan về khuynh hướng tính
dục đặc biệt của mình đã đem lại cho nhà văn những gì ngoài cõi lòng yên
tĩnh cần thiết để cho ra đời những trang viết đầy tình người và sức
sống?

HTA: Sống thành thật với chính mình thì dĩ nhiên được thoải mái về
mặt tinh thần lắm, có phải không cô Vân? Hồi chưa tiếp xúc với giới đồng
tính luyến ái tôi ấm ức trong lòng, khao khát được giao hợp với người
mình yêu. Nhưng ở tại một tỉnh lỵ đất Tiền Giang, tôi tìm đâu ra một đối
tượng tình yêu thuộc loại người như mình? Cho nên tôi đau khổ, tuyệt
vọng, lại còn sợ mọi người chế nhạo mình yêu trai, cho nên tôi không
biết ngỏ tâm sự cùng ai. Năm tôi 25 tuổi, tôi lên Sài Gòn học lớp tập sự
ngành Dược Khoa, tôi được thằng bạn thân học chung với tôi suốt 6 năm
bậc trung học. Nó cũng là dân gay như tôi, nhưng cả hai chỉ là bạn suông
trơn mà thôi. Nó giới thiệu cho tôi một ký giả người Pháp, gốc Ba-lan
tên là Ilya Mustkatblatz. Sau đó, nó chỉ cho tôi những chỗ hội họp của
bọn gay Việt lẫn gay từ các xứ như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Phi-luật-tân, Đại
Hàn, Tàu Chợ Lớn qua làm việc hoặc định cư ở Sài Gòn. Họ thường lui tới
rạp chớp bóng Vĩnh Lợi (mà bọn tôi gọi là Vĩnh Lạc Cung) ở đường Lê Lợi
và gần Bệnh Viện Đô Thành, rạp chớp bóng Moderne (mà chúng tôi gọi là
Mẫu Đơn Đình) ở gần chợ Tân Định. Ngoài ra còn ở nhà hàng Continental,
nhà hàng Givral, Bùng Binh trước chợ Bến Thành là những nơi để bọn gay
kiếm bồ bịch. Ngoài ra ngôi chùa thuộc Nghĩa Trang Bắc Việt, đền thánh ở
Thủ Thiêm cũng là nơi hò hẹn bọn gay.

Không hiểu sao, từ khi tiếp xúc vào xã hội gay, dù lúc tiên khởi tôi
nghĩ mình bắt đầu có một cuộc sống lệch lạc về lề thói, về nguyên tắc
trật tự trong xã hội. Nhưng chính các lệch lạc, cái trái cựa đó khơi dậy
cho tôi biết bao niềm lạc hoan mênh mông và nguồn cảm hứng cực kỳ phồn
thịnh. Tôi phải trải rộng cảm hứng đó lên giấy càng nhiều càng tốt. Tôi
yêu đời, yêu mọi người. Tôi chỉ mong có nhiều người đọc những gì tôi
viết. Nhưng tôi chưa dám viết trực tiếp cái xã hội gay. Nhưng ai cấm tôi
sáng tạo những người đàn bà đa tình phản ảnh nguyên vẹn cái tôi đã bao
lần xao xuyến tâm hồn và xác thân trước hình bóng những nam minh tinh
điện ảnh mà tôi ái mộ? Từ khi lao vào giới gay, tôi vui sống, sáng tác
thơ rất nhiều. Tiếc rằng khi bỏ xứ ra đi, tôi không mang theo được gì,
chỉ nhớ lõm bõm vài bài thơ nhục cảm để khi ra hải ngoại tôi thực hiện
thành thi tập Thiên Đường Tìm Lại.

Vào năm 1966, trước hết, tôi viết truyện ngắn, thơ, kế đó mới tập tành điểm sách, viết tạp ghi. Và sau hết, tôi viết các bài nhận định về kịch ảnh & tân nhạc. Tôi đã từng cộng tác với các tập san Bách Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, công tác với các nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến… Hứng thú đưa đẩy ngòi bút tôi chạy tốc hành trên xấp trang bản thảo khi tôi ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi không dám viết cái tôi của mình là gay. Tôi dệt ra những cảnh giao hợp bỏng cháy, tôi nhập vai vào các nữ nhân vật, còn nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.

Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết
những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa. Tôi chỉ
dám giết những nhân vật già nua từ 80 tuổi trở lên (cho họ chết vì già
yếu chớ không dám cho họ chết vì bịnh hoạn). Lại nữa, các nhân vật đẹp
trai được tôi xe duyên chỉ thắm với những nữ nhân vật nếu không kiều
diễm thì cũng duyên dáng mặn mòi. Nếu các cô lỡ có chửa với người chồng
bô trai ngó hoài…vẫn thích ngó của họ, thì ở chương áp chót của quyển
tiểu thuyết, tôi cho họ xổ bầu đập chum để họ có cái eo thon đẹp, để họ
diện áo đẹp đi rước đèn, đi bát phố cùng chồng. Còn nam nhân vật đẹp
trai nếu rủi bị bịnh ung thư hay bị bịnh AIDS thì nếu không nhờ thuốc
men hiệu nghiệm thì cũng được Đức Thánh Đồng Trinh Maria của thành phố
Lourdes hay Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ dùng phép lạ mà giúp họ
lành mạnh. Như vậy nữ độc giả sẽ an tâm khi xếp quyển sách cũa tôi lại.

Cô xem đó, khi con người được hạnh phúc, họ dễ có tấm lòng vị tha,
không đem giáo điều khe khắc ra buộc tội bất cứ ai. Trong các tác phẩm
của tôi hầu như không có kẻ ác. Thường là những kẻ có cái miệng dữ dằn,
ngáp ra khói, ói ra tro, ho ra sấm sét, nhưng lòng dạ các đương sự hiền
lành như bột sắn, bột khoai. Thường là các mụ đàn bà thuộc loại chằn ăn
trăn quấn, ưa ganh tị từ cái ngáp tiếng ho với bạn bè, ưa thèo lẻo trong
các cuộc ngồi lê đôi mách, nhưng khi đối thủ của mình gặp hoạn nạn
thường ra tay cứu giúp, an ủi, đãi cho kẻ cựu thù những món ăn ngon…
chết giấc luôn! Tôi ưa viết những chuyện vạch tật xấu đàn bà, nhưng độc
giả của tôi hầu như 75% là đàn bà. Vậy có nghĩa là văn chương tôi không
độc địa như siêu vi trùng gây bịnh AIDS, không giúp các nhân vật lao vào
những hành động ác ôn côn đồ thổ phỉ, không xô nạn nhân vào cảnh đoạn
trường.

LDV: Xã hội phong kiến của Việt Nam có ảnh hưởng một cách
tiêu cực đến cái nhìn về giới tính của nhà văn không, trong cuộc sống
cũng như trong quá trình viết lách?

HTA: Ở Việt Nam, chuyện đồng tính luyến ái vào thập niên 50, 60 không
được xem là trầm trọng. Dân mình cho rằng hễ ai mắc phải ‘‘cái tật’’
yêu người cùng phái tính, một khi được lấy vợ gả chồng thì ‘‘lành bệnh’’
ngay. Nhưng bên Âu Châu vào thời Trung Cổ, những ai có hành động quá
thân mật với người cùng phái tính thì bị lôi ra tòa án và Giáo hội
Gia-tô xen vào kết án thiêu sống các đương sự. Tôi không nhớ rõ năm nào
trong thập niên 90 của thế kỷ 20, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã từng
xin lỗi mọi người trên thế giới về chuyện các Giáo Hội Gia-tô đã lên án
xử tử nhà bác học Galilée khi ông ta dám tuyên bố quả đất tròn. Ngài
cũng xin lỗi về vụ các tín đồ Gia-tô a tòng với bọn buôn người bắt dân
Phi Châu bán cho người da trắng làm nô lệ. Nhưng ngài vẫn không thèm xin
lỗi về vụ bọn tăng lữ Gia-tô ở Pháp và ở vài nước Âu Châu đã đem dân
gay thiêu sống vì họ cho rằng những người gay cũng như nhừng người phù
thủy là ác quỷ Sa-tăng cần phải bị tiêu diệt.

Trong quá trình viết lách, trước kia dám khai huỵch tẹt cái sở thích
yêu người cùng phái với mình chỉ có văn hào André Gide ở những quyển
nhật ký. Nhưng ở cuốn L’Immoraliste (Kẻ Vô Luân), ông ta chỉ nói mí mí thôi. Văn hào Thomas Mann với quyển Mort à Venise (Chết Tại Kinh Thành Venise). E.M Forster với cuốn Maurice thì viết hẳn hoi về cuộc tình thầm kín hay công khai của các nhân vật gay. Tuy nhiên E.M Forster viết cuốn Maurice
khi còn sống, nhưng không dám đăng báo hay xuất bản. Trên giường bịnh
chờ chết, ông dặn người nhà khi ôg ta qua đời thì mới cho xuất bản cuốn
di cảo ấy. Còn nữ sĩ Natalie Clifford Barney thì viết lách công khai
chuyện đàn bà đánh chập chõa với đàn bà. Cả nàng danh kỹ Liane de Pougy
dám viết cuộc tình của mình với Natalie Clifford Barney trong cuốn Idylle Saphique
của mình. Vậy mà các ông hoàng ở Âu Châu, các triệu phú, tỷ phú Hoa Kỳ
vẫn tình nguyện chết chung vào lỗ của nàng. Rồi khi nàng leo lên 40 tuổi
có ông hoàng Lỗ-ma-ní nhỏ hơn nàng 15 tuổi cưới nàng làm vợ, cuộc hôn
nhân kéo dài tới khi ông ta lìa đời. Lúc đó Liane xấp xỉ 70 tuổi rồi,
đành sống cô đơn tới lúc nhắm mắt theo chồng.

Về các nhà văn nhà thơ Việt Nam thì vào năm 1966, đã có Đỗ Quế Lâm viết cuốn ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’. Hai nghệ sĩ diễn ngâm thơ là Đoàn Yên Linh và Hồ Bảo Thanh sáng tác những vần thơ đẹp như gấm và dịu như nhung. Họ xưng mình là em, là nàng cô phụ gửi người tình không chân dung nào đó hoặc người tình có thật trong cuộc sống mà họ đã từng si mê. Tiếc thay cả hai không cho xuất bản các bài thơ đẹp kia thành thi tập, chỉ đăng báo lai rai. Đoàn Yên Linh, Hồ Bảo Thanh và tôi đều là bạn của cây sáo thần Thanh Hà. Nhưng Thanh Hà không phải là gay mà là kẻ thông cảm với bọn gay chúng tôi mà thôi. Tình bạn giữa Thanh Hà và tôi từ trong nước, trước 1975 vẫn kéo dài cho tới bây giờ.

Ra hải ngoại, người xung phong viết chuyện đồng quê Nam Kỳ và chuyện đồng tính luyến ái vẫn là H.T.A. Người thứ hai là Ngô Nguyên Dũng trong quyển trường thiên tiểu thuyết Đêm. Lại có thêm Tạ Thái, Nguyễn Thạch Đàn qua những tự truyện dưới hình thức truyện ngắn đăng trên báo Văn. Lại có thêm Lê Nghĩa Quang Tuấn, em trai của hai nhà văn nữ là Lê Thị Huệ và Lê thị Thấm Vân đã từng đi diễn thuyết đòi quyền sống và đòi chỗ đứng trong xã hội cho dân đồng tính luyến ái trong xã hội. Tuấn lại còn chủ trương tạp san dành cho gay và lesbian. Đó là tờ Đối Diện (Face To Face). Thi tập Ầu Ơ… của đương sự rất tuyệt vời về tư tưởng triết học và xen vào đó có những bài thơ nhục cảm chan hòa mộng đẹp, sinh lực, tinh khí, những tư duy rất nhân bản. Theo tôi, những cây viết ở vào cuối thế hệ thứ nhì và đầu thế hệ thứ ba ở hải ngoại, trong hàng ngũ gay thì có Ngô Nguyên Dũng bên Văn, còn Lê Nghĩa Quang Tuấn bên Thi Ca. Cả hai tài hoa rất mực. Còn bên ca nhạc ở hải ngoại thì cũng ít nhất 5 người. Nhưng mà thôi, tôi không tiện hài danh hà tánh các đương sự, cứ để họ tiếp tục hành nghề và giữ mãi mãi là thần tượng của các cô choai choai có hơn không!

LDV: Khung cảnh tự do của quê hương thứ hai đã đem lại
cho ông những thay đổi tích cực gì về khuynh hướng tính dục của mình và
của những người đồng tâm trạng chung quanh ông?

HTA: Tôi qua nước Pháp gặp lúc phong hóa đang biến chuyển tiến bộ.
Phim sex dành cho bọn gay có chiếu vài rạp ở Paris. Tạp chí dành cho gay
Gaipied bán tràn ngập khắp thị trường sách ốc. Nhà trí thức
André Baudry lập câu lạc bộ Arcadie để làm diễn đàn cho dân gay. Chính
tại đây, Lucien Trọng đã đăng đàn diễn thuyết và mở cuộc triễn lãm tranh
sơn dầu của đuơng sự. Ngoài ra, vũ trường Scaramouche dành cho gay. Hơn
một chục phòng tắm hơi dành cho dân gay ở Paris. Các anh chàng gay vào
đó tha hồ khỏa thân hoặc quấn chiếc khăn bông ở hạ bộ. Tìm được kẻ vừa ý
là cả hai dắt nhau vào căn buồng nhỏ để làm tình. Nếu phòng bị chiếm
hết thì tìm chỗ nào hơi tối một chút để giao hoan, chẳng bị ai phá rối.

Nhưng rồi từ năm 1985, bịnh AIDS lan tràn, tôi không dám bén mảng tới bất kỳ chỗ hẹn hò nào, đừng nói chi là phòng tắm hơi. Vả lại, từ năm 1985, tôi bắt đầu phái phì: bụng to như có cái chảo gang hay cái thau nhôm úp lên, lại có cằm đôi như cái nọng heo và còn dến thêm miệng cá má lợn. Đi đâu, tôi cũng vác các bụng bự chang bang như cái bụng chửa sắp tới ngày xổ bầu thì chán quá! Làm diet, chạy jogging, cuốc bộ hàng chục cây số vẫn chỉ sụt bớt 5 kí lô là cùng. Rồi tôi bỏ cuộc vì tôi bị ba chứng bịnh nan y như tiểu đường, cholesterol, cao máu. Từ nằm 1985, người bạn lòng tôi và tôi dù ở chung dưới một mái nhà, ngủ chung một giường, nhưng chỉ là bạn thuần khiết mà thôi. Vào năm 2006, tôi nghe lời bác sĩ thân tín tập thể dục dành cho người già cả, tập thở một cách chăm chỉ theo phương pháp mà Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ dạy, tôi gần như hết bịnh tiểu đường, dứt tuyệt chứng cholesterol, giảm bớt cao máu. Nhưng tôi vẫn phải uống thuốc đều đặn. Do đó mà tôi sụt cân. Thể dục làm cho bụng tôi thon, cằm đôi biến mất. Thở theo phương pháp Tọa Thiền làm cho da mặt tôi sáng hồng. Bụng tuy thon nhưng lại hơi nhão, mông không xệ nhưng không tròn. Cằm đôi tuy mất, nhưng cổ tôi nhăn nhúm như cái nhau con heo nái phơi khô. Ngực tôi tuy đầy đặn nhưng không căng phồng như cánh buồm lộng gió. Bọn trai tráng có cặp mông tròn trặn như trái dưa hấu bổ đôi, bụng chẻ ra làm sau miếng như sáu thẻ chocolate. Vì than ôi, tôi đã 70 tuổi rồi, làm sao có thân vóc rắn chắc và mỹ lệ như bọn đờn ông con trai từ 18 đến 45 tuổi? Lại nữa, tôi đâu còn khả năng tình dục nữa, cho nên tôi đành làm bạn với con Chung Vô Diệm (chim vô dụng) mà thôi.

Thật ra, tôi cũng chẳng buồn tiếc cái thời sống lăng loàn hạnh phúc
cũ. Nếu vào thuở trung niên tôi vẫn còn có sắc vóc ngoạn mục, biết đâu
tôi chơi bời thả cửa, giao hoan thả giàn với bọn gay, để rồi vướng bịnh
AIDS. Như vậy trong cái rủi vẫn có cái may, phải không nào? Rất nhiều
bạn bè tôi xin tôi chỉ họ phương pháp làm gầy, phương pháp làm cho da
mặt mịn màng sáng sủa. Tôi cứ tình thật mà ‘‘khai báo’’. nhưng họ làm
không có kết quả. Thiệt tình tôi không hiểu tại sao? Nhưng đẹp lão để
làm gì? Khi tôi mặc áo thun, quần jean thì thân vóc tôi vẫn là người đàn
ông tuổi ngũ tuần. Nhưng khi vào bãi khỏa thân ở tỉnh nhà thì đây là
thân vóc của một ông già, dù có ngực đầy, bụng thon và mông không xệ đi
nữa. Ở ngoài đời, da mặt tôi thật lý tưởng mà phụ nữ rất hâm mộ. Nhưng
khi tôi được chụp ảnh, khuôn mặt tôi vẫn là khuôn mặt ông già, dù da mặt
chỉ có vài nét nhăn mờ mờ ở chuôi mắt đi nữa. Cho nên tôi không thèm
nhuộm tóc làm gì. Tuổi của tôi hiện giờ có thể làm ông cố được rồi.

ho_truong_an_2008

Khi qua Pháp, tôi đã 40 tuổi, hưởng thụ không bao lâu, nhưng tôi không
thối tiếc một chút cỏn con nào. Mừng là thấy phong hóa tiến bộ một cách
tích cực. Có nhiều nước cho phép cặp gay làm đám cưới với nhau. Tôi thấy
cái dó không cần cái đó. Nhưng thôi, ai cũng có hoàn cảnh riêng, sở
thích riêng, tâm trạng riêng; đừng bắt buộc người khác phải giống mình.
Bây giờ ở Gia-nã-đại và ở vài nước Âu Châu có lịnh phạt những kẻ nào dám
sỉ nhục những chàng gay trước đám đông. Kẻ sĩ nhục sẽ bị phạt nặng nếu
kẻ bị hạ nhục có tìm được nhân chứng. Đối với những nước văn minh tân
tiến, tội đó cũng ngang ngữa với tội kỳ thị chủng tộc. Tôi chỉ thương
xót các em các cháu gay gặp vấn nạn bịnh AIDS nên không được thoải mái
lúc bắt bồ với nhau. Họ không được tâm trạng thảnh thơi như tôi hồi 40
năm về trước khi làm tình với đối tượng của mình.Tôi tin rằng đa số
những kẻ gay cũng như tôi được hạnh phúc khi sống trong xã hội được nới
lỏng nguyên tắc và giáo điều, sống tràn ngập tin tưởng hơn. Có vậy Ngô
Nguyên Dũng sáng tác không hề nhàm mỏi. Có vậy Lê Nghĩa Quang Tuấn mãi
mãi là tấm gương can trường dám đứng đầu sóng ngọn gió. Tôi không hiểu
tại vì sao càng lớn tuổi, Dũng ưa bỏ chín làm mười bất cứ chuyện gì.
Dũng nhìn đời bằng cặp mắt bao dung. Có phải chăng hắn sống trong hạnh
phúc và sống với tâm trạng cởi mở nên mới được đức tánh ấy? Dũng yêu
thích văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn văn nghệ sĩ giới trình diễn nên
không cần lui tới thường xuyên các cuộc hẹn hò trong khi đương sự vẫn
còn là kẻ trung niên tuấn tú, có thể bắt bồ vơi bọn gay Đức dễ ợt. Càng
lớn tuổi đương sự chuộng tâm linh nghiên cứu Phật Giáo. Còn riêng tôi,
trong mùa thu cuộc đời, tôi vẫn nghiên cứu thêm Kinh Đại Thừa như hồi
còn ở quê nhà, sưu tầm sách vở, các hình ảnh các minh tinh điện ảnh và
ca sĩ ngoại quốc. Bắt đầu chớm xuân, tôi trồng hoa ở bao lơn. Trong nhà
tôi bày những chậu cây cảnh những món ngoạn hảo (bibelots) và tranh ảnh.
Tôi không có thời giờ để phiền muộn. Hễ khi cái đầu nóng rực vì viết
lách hơi nhiều, tôi dừng bút lại, lo săn sóc lau chùi nhà cửa, nấu nướng
một món ăn hợp khẩu vị. Đôi khi tôi điện đàm với các bà bạn vốn là độc
giả của tôi để học hỏi cách thức làm những món ăn phổ thông hay những
món ăn đặc biệt sao cho hợp khẩu vị.

Lũ bạn gay của tôi sinh sống ở Paris thường hỏi tôi suốt gần 30 năm
nhà bác tuyệt tích giang hồ. Vậy mà nhà bác chịu đựng được? Có phải
chăng ở Troyes có phòng tắm hơi dành cho bọn gay? Hay có những chỗ hẹn
hò nào khác? Làm sao tôi nói cho lũ bạn tin rằng tôi đã sống đã tạm đầy
đủ rồi. Bây giờ ôn lại ‘‘thời tung hoành’’ cũng chỉ vun quén phong vị
cho văn chương và cho tuổi hoàng hôn, đừng quay lại thời dĩ vãng xa lắc
xa lơ nữa. Tôi còn nhớ một câu nói của đại kịch sĩ Pháp là Jean Louis
Barrault : ‘‘Ở chỗ huy hoàng ánh sáng, hay trong xó kẹt tối tăm, đâu đâu
cũng có hồng ân của Thượng Đế’.’

LDV: Văn của Hồ Trường An đầy chi tiết, sống
động và tràn ngập nhiều nhân vật nữ với tạo hình thật rõ nét. Định hình
giới tính của một nhà văn giữ tầm ảnh hưởng như thế nào đến giọng văn,
chủ đề, và thông điệp gởi gấm?

HTA: Văn chương tôi có nhiều chi tiết sống động? Có thể lắm chớ? Tôi
viết theo cảm hứng, có nhiều khi rất máy móc, không cần suy nghĩ cho
nhuần nhuyện trước khi viết. Thường thường bọn gay chúng tôi thích trào
lộng và có óc quan sát mãnh liệt. Do đó tôi tìm những nhân vật độc đáo,
xem cách sống, cách suy nghĩ và cách ăn nói của họ. Ai chê hạng người
ngồi lê đôi mách là hạng người mất nhân phẩm. Sức mấy mà tôi suy nghĩ
như vậy. Các cuộc ngồi lê đôi mách giúp tôi khám phá và tìm hiểu các
nhân vật độc đáo, những nhân vật có cá tính mạnh.

Tôi nhớ, hồi xa xưa, tôi ở chung với chị Thụy Vũ. Hôm đó, Tô Thùy Yên và chị nằm trên gác. Cô tớ gái của chị đang lục đục dưới bếp. Tôi và lũ bạn kéo về, quây quần bêm mâm gải khát, bắt đầu kể chuyện ngồi lê đôi mách pha trộn chuyện tiếu lâm. Bọn tôi không hay trên gác có người nên chúng tôi tha hồ mà xả máy đía dóc. Khi câu chuyện bắt đầu rời rạc dần thì chị tôi bước xuống, cười ngất: Nãy giờ tao với ông Tiên (chỉ TTY) nằm ngủ trên gác. Nghe bọn bây đấu hót bừa bãi mà cả hai cười muốn bể bụng, muốn tróc mỡ sa ra. Tao lại mắc tiểu. Nhưng ông Tiên cản tao lại để có thể tiếp nghe câu chuyện tụi bây. Trời ơi, tao nín đái, bọng đái căng phồng muốn bể như cái pháo chuột đây nè. Mấy tên này nên tìm gánh hát gia nhập làm hề là phải hơn.

LDV: Thế kỷ gần đây rất nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những hành động công khai
và cởi mở hơn về khuynh hướng tính dục của họ và điều này đã khuyến
khích sự đồng thuận và cái nhìn thấu hiểu ngày một khoan dung của xã hội
về khuynh hướng đồng tính. Theo ông, những người nắm giữ sự ái mộ đặc
biệt của công chúng có trách nhiệm hướng dẫn dư luận vào lối suy nghĩ
bình đẳng hơn trong những nan đề xã hội không?

HTA: Tôi ra hải ngoại vào năm 1977. Tôi có đọc được vài quyển hồi ký
cũa các cây bút gay như hồi ký của kịch tác gia Tennessee Williams, hồi
ký của Gore Vidal, hồi ký đại minh tinh điện ảnh Pháp là Jean Marais mà
tôi còn nhớ cái tựa là Histoire de Ma Vie (Lịch Sử Đời Tôi).
Ngoài ra, nhà văn Renaud Camus và nhà văn Tony Duvert có cho xuất bản
quyển nhật ký của mình công khai bày tỏ những mối tình và những cuộc
liên hệ xác thịt của mình với kẻ đồng phái tính. Còn nhà văn Pháp
Dominique Fernandez qua cuốn L’Étoile Rose (Ngôi Sao Hường) cũng không giấu giếm khuynh hướng đồng tính dục của mình. Quyển L’Étoile Rose
đã làm cho hàng triệu độc giả Pháp và độc giả các nước nói tiếng Pháp
cảm thương cho dân gay bị bọn Đức Quốc Xã giam trong những trại trừng
giới, bị xâm ngôi sao hường trên trán, bị đọa đày dã man. Lại nữa, tôi
có đọc cuốn hồi ký của nhà văn nữ lừng danh xứ Pháp là Françoise Sagan.
Tôi rất cảm phục bà ta ở chỗ dám chia sẻ cảm thông với tâm sự các nghệ
sĩ gay. Bà ta viết về kịch tác gia kiêm văn gia Tennessee Williams kết
bạn với nữ sĩ Carson Mc Cullers. Ông chồng bà Carson Mc Cullers tự tử vì
khám phá ra mình là gay. Bà ta xuống tinh thần, bị suy nhược thần kinh.
Ông Tennessee Williams và anh chàng tình nhân ông ta săn sóc bà. Rồi
ông ta đưa bà ta sang Ý viếng thăm nữ tài tử Anna Magnani. Tại đây ngôi
sao điện ảnh hàng đầu nước Ý này cùng anh tình nhân trẻ tuổi của mình
săn sóc người nữ văn gia bất hạnh kia. Tình bạn giữa Tennessee Williams
và Anna Magnani cũng rất gắn bó keo sơn. Nhờ cuốn phim Le Rose Tatouée
phỏng theo vở kịch cùng tựa của Tennessee William mà Anna Magnani đoạt
giải Oscar một cánh vinh quang. Từ đó, cả hai thân thiết nhau. Lại nữa,
cô Vân chắc cũng biết qua nữ minh tinh Hoa Kỳ Elizabeth Taylor có 3
người bạn gay thân thiết đã từng đóng phim chung với cô ta là
Montgomerry Clft, Rock Hudson, Roddy Mac Dowall. Cô ta giúp do họ vật
chất lẫn tinh thần. Khi Rock Hudson chết vì bịnh AIDS, Liz Talor lập ra
hội giúp đỡ dân bị séro-positif lẫn dân bắt đầu vào thời kỳ bịnh AIDS
bắt đầu phát tác trên hoàn vũ.

Theo tôi, những nhà nghệ sĩ thuộc giới sáng tác bất kỳ trên xứ sở nào
cũng không cần phải e ngại kẻ thưởng ngoạn giảm sút sự ái mộ của mình
khi những kẻ dó biết họ là gay. Các nhà văn lừng danh trên thế giới như
André Gide, François Mauriac, Jean Cocteau, Gore Vidal… vẫn được độc giả
ủng hộ và ái mộ như thường. Bên sáng tác nhạc có Tchaikowski, bên hội
họa có Michel Ange, Léonard de Vinci tới nay văn phẩm, nhạc phẩm lẫn họa
phẩm của họ vẫn được hậu thế truyền tụng.

Những kẻ được quần chúng ái mộ nên đóng góp vào công việc đập tan
thành kiến tiêu cực về vụ đồng tính luyến ái, giúp họ sống tự nhiên theo
căn tính, theo khuynh hướng luyến ái và sở thích tình dục của họ. Rúng
ép, cưỡng bách họ theo bản tính và sự ưa thích của mình tức là làm trái
với cái ĐỨC theo quan niệm của Lão Tử, tức là sống theo bãn tính tự
nhiên của mình. O ép họ hoặc khiên cưỡng họ sống theo người yêu kẻ khác
phái tính là một điều trái tự nhiên, phản khoa học, lại còn độc ác bất
nhân. Françoise Sagan, Mae West, Liz Taylor là những người biết sống vì
biết thông cảm những kẻ muốn sống tự nhiên theo bản tính nhưng lại bị xã
hội đầy những kẻ đầu óc hẹp hòi nguyền rủa, lên án và ngăn cấm.

LDV: Chúng ta đã làm được gì và cần làm thêm những gì để đẩy lùi những sự phân chia kỳ thị giới tính?

HTA: Chỉ cầu mong cho mọi người hiểu rằng đồng tính luyến ái là cái
sở thích bẩm sinh, chứ không phải là cái căn bịnh do xã hội tạo ra. Có
kẻ bảo rằng người đồng tính luyến ái là do trong người đương sự có những
cái gènes (mầm mống) tạo cho đương sự cái khuynh hướng yêu người đồng
phái. Dù tôi không nắm vững vấn đề nầy, nhưng tôi không bao giờ để cho
Ông Trời hay nhà khoa học hay nhà tâm ly học hoặc nhà phân tâm học nào
chữa trị tôi trở thành người đàn ông bình thường. Tôi rất hạnh phúc được
làm chàng gay.

Để đẩy lùi sự phân chia giới tính, người đồng tính luyến ái phải tỏ
ra có tư cách. Trước hết đừng ve vãn cọ quẹt với những người không phải
là gay như mình. Đừng tỏ ra âu yếm quá lố với người tình của mình trước
công chúng hoặc làm trò õng ẹo nữ tính. Có vậy các nhà soạn kịch, các
nhà viết kịch bản không viết tuồng hát hay viết truyện phim phơi bày cái
lố lăng của bọn gay ra. Như thế, bọn gay chúng tôi mới tránh khỏi bị họ
vẽ vời qua những đường nét biếm họa lố lăng. Phải sống như người bình
thường. Đừng mặc cảm, có vậy mới hóa giải đươc một phần lớn sự phân chia
gới tính của kẻ dị tính luyến ái. Còn những người dị tính luyến ái nào
vốn thiếu tấm lòng thông cảm bao dung phải tìm hiểu vì sao thời buổi này
vấn đề đồng tính luyến ái được một vài nước nới lỏng, không bị ngăn cấm
gắt gao. Đó có phải là cái kết quả tích cực của biết bao công việc
nghiên cứu của các nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, nhà
nhân chủng học, nhà sinh lý học, nhà tình dục học v.v… Dần dần họ mới
khám phá cái bí nhiệm của kẻ đồng tính luyến ái và đi đến kết luận tích
cực như sau: đồng tính luyến ái không phải là cái bệnh, cũng không phải
là tật xấu mà là một trạng thái tâm lý học lẫn sinh lý học như bao nhiêu
trạng thái muôn màu muôn vẻ của con người sống trên trái đất này.

LDV: Ông có tin vào tầm ảnh hưởng lớn của văn chương
không? Ông có tin nó có thể giúp chúng ta xóa bỏ những ranh giới khác
biệt giữa người và người không?

HTA: Có chứ cô Vân. Hồi 2 thập niên 30 và 40, văn hào André Gide dám phô bày cái đồng tính luyến ái của mình qua nhiều văn phẩm có giá trị nghệ thuật nên một thiểu số dân Pháp chẳng những không buộc tội bọn gay mà còn đặt lại vấn đề để tìm hiển dân gay sâu xa hơn. Tôi còn nhớ khi nhà đạo diễn James Ivory thực hiện cuốn phim Maurice phóng tác theo tác phẩm cùng tựa của E.M. Forster, khán giả Pháp đến xem chật rạp. Đa số dều chia sẻ tâm sự chàng Maurice do James Wilby đóng. Vào năm 2005, khi cuốn phim Le Secret de Brokeback Mountain của Ang Lee tung ra cũng được giới thưởng ngoạn ủng hộ nồng nhiệt. Đọc những quyển sách của ông André Gide, của ông Robert Peyrefitte (chẳng hạn như quyển Les Amitiés Particulièrs/Tình Bạn Kỳ Đặc) hoặc xem những cuốn phim mà tôi vừa kể thì kẻ thưởng ngoạn phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề kỳ thị dân gay chứ! Nên tôi mãi tin, văn chương có tầm ảnh hưởng đáng kể.

LDV: Với tư cách là một nhà văn và một người trong cuộc,
ông có những lời khuyên nào cho những ai vẫn còn chưa tìm được sự bình
an trong tâm hồn về định hình giới tính của riêng họ?

HTA: Mình hạnh phúc hay không là do chính mình. Mình phải thành thật
với chính mình, phải xem xét hoài bão và nguyện vọng của mình để tìm một
lối sống riêng biệt cho mình với điều kiện mình không làm mất lòng ai,
không dẫm chân và phóng uế vào đời tư kẻ khác. Mình phải chủ trương đời
mình miễn sao đừng làm hại kẻ khác. Tôi xin nhấn mạnh những gì tôi đã
phô bày, cạn tỏ mình nên sống bằng cuộc đời của mình, đừng sống bằng đời
của kẻ khác. Đó là sống theo cái ĐỨC. Sống bằng đời kẻ khác, hoặc sống
tuân theo luật lệ xã hội một cách khít khao mà không để một khe hở nhỏ
nhoi cho ánh nắng tượng trưng cho sự tự do, cho sự quyền biến, cho sự
cảm thông lọt vào thì cuộc sống của mình trở nên lệch lạc nếu không bảo
là què quặt tật nguyền.

LDV: Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Hồ Trường An đã dành
cho độc giả những tâm sự hết sức cá nhân và lòng chân thật đáng quý
trong cuộc nói chuyện này.

*Ảnh trên: nhà văn HTA vào năm 1991. Ảnh dưới – nhà văn HTA vào năm 2008.




Tỳ Bà Hành

Louis Tuấn Lê
Ảnh đính kèm

Nhân lúc thực hiện Video Mạn Đàm Tỳ Bà Hành (琵琶行), tôi đọc qua tác phẩm Tỳ Bà Hành và Tiểu sử Bạch Cư Dị. Quả thật đại thi hào Bạch Cư dị là một thiên tài, mà thời bấy giờ gọi ông là (Thi Tiên) ông cùng đứng tên trong Tam Đại Thi Hào của Trung Hoa, gồm có: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Bản dịch hay nhất của Phan Huy Thực đã ghi dấu nền văn học và ngôn ngữ Việt thật phong phú.

Bốn câu mở đầu
đó là: 

Bến Tầm Dương canh khuya đưa
khách 
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu 
Người xuống ngựa khách dừng chèo 
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti.

Phan Huy Thực

Một chút phân tich về chữ nghĩa
Mở đầu chúng ta thấy Bạch Cư Dị trong nguyên bản ông đã viết: 

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách.

Nghe không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Dịch giả Phan Huy Thực viết “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách“. Chữ dạ có nghĩa là đêm không gợi ý bằng chữ Canh Khuya. Tài năng của dịch giả Phan Huy Thực cộng với tinh thần của tiếng Việt nghe vẫn hay hơn.

Đọc câu thơ thứ hai theo nguyên bản: “Phong diệp địch hoa thu sắt sắt“. Phan Huy Thực dịch “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” thì câu thơ dịch của họ Phan, làm rung động lòng người, nhờ những chữ “lau lách đìu hiu”, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, chúng ta thấy chữ “lau lách” buồn hơn chữ địch hoahơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là “thu sắt sắt”. Tinh thần của chữ Việt tuyệt vời ở chỗ đó.

Tôi cũng thử dịch 8 câu đầu trong bài Tỳ Bà Hành, tôi dịch theo ngôn ngữ của thời hiện tại.

Bản Dịch của Lê Tuấn, Văn Thơ Lạc Việt

Tầm
Dương, bến sông khuya đưa khách

Phong
lau buồn hiu hắt gió thu

Người
xuống ngựa, khách dừng tay

Chén
quỳnh uống cạn, nhớ ngày biệt ly.

Say
chút tình, ngậm ngùi xa vắng

Nước
mênh mông soi bónh hình riêng

Tiếng
tỳ bà réo rắc ngân

Chủ
nhân dừng lại, khách ngần ngại đi.

Tóc Trắng

Bảy
mươi chưa phải tuổi già

Lo
buồn thế sự tóc đà bạc phơ

Bên
sông cò trắng nhởn nhơ

Buồn
nào vương vấn, lông tơ trắng đầu.

LT

“Cảm hứng theo những vần thơ cổ xưa”
















調
















漿



西
















































滿