Giải nhì Văn Thơ Lạc Việt 2014 Chuyến Tầu Định Mệnh của tác gỉa TônNữ Áo Tim


Kính mời quý vị xem video phần I của ngày Phát Giải VTLV 2014
https://www.youtube.com/watch?v=IO6A04ug9ig&feature=youtu.be


Giải nhì Văn Thơ Lạc Việt 2014 "Chuyến Tầu Định Mệnh của tác gỉa Tôn Nữ Áo Tím (Kim Thư). do nhà tài trợ GS Nguyễn Cao Can trao giải.
Xin quý vị đọc để hiểu được Chuyến Tầu Định Mệnh ra sao…?
Kiếp sống con người là thế...Không thoát khỏi cái định mệnh có sẵn trong một kiếp đời…nhấ là kiếp sống của người dân Việt Nam…! 

Tiểu Sử Tôn Nữ Áo Tím:

Tiếng còi xe inh ỏi, hòa lẫn với tiếng réo gọi nhau ơi ới… làm cho không khí của bến xe Lê Hồng Phong buổi sáng trở nên nhộn nhịp hẳn lên. Lẫn lộn trong dòng hành khách, người đi buôn, kẻ đi công tác …. Hương ngơ ngác giữa phòng vé. Nàng cố mua cho được một tấm vé đi ngay. Cầm tờ điện tín khẩn trong tay, mang thêm một túi hành lý nhỏ, gọn, Hương cố chen vào quầy vé, nhưng hễ chen được đến gần cửa thì nàng lai bị gạt ra… Cứ thế mấy lần, mồ hôi bắt đầu rít rát ở trán. Hương vẫn yên lặng và kiên nhẫn chờ đợi . Nàng nghĩ "thế nào cũng phải tới phiên mình". 

Một người đàn ông đứng trước mặt Hương từ lâu bỗng nhiên quay lại nhìn . Có lẻ ông thấy Hương đứng chờ đợi đã lâu, không một lời phàn nàn, kêu ca như mọi người chung quanh, cũng không có dáng vẻ của một con buôn … Ông hỏi :
" Cô lấy vé đi đâu ?”
Thấy người có vẻ tử tế, đàng hoàng, Hương mỉm cười, chìa tờ điện tín khẩn ra, cố tình cho người đàn ông thấy, nàng lễ phép trả lời :
" Dạ, đi Huế.”
Ông chăm chú nhìn vào hàng chữ "Mẹ hấp hối, con về ngay". Sau đó, ông lấy tấm giấy từ tay Hương, đưa cao lên rồi nói lớn :
" Có điện tín khẩn cấp đây, xin cho 1 vé ra Huế ngay.”
Vừa nói, ông ta kéo Hương , rẻ đám người đang chờ đợi vào sát quầy bán vé. Hương không hề biết về nội qui dành riêng cho những trường hợp khẩn cấp như nhà có tang chế hoặc bệnh tật … thì luôn luôn được hưởng quyền ưu tiên "một". Thế là nàng yên tâm với tấm vé trong tay, và không quên cám ơn người đàn ông tốt bụng .

Chuyến xe đưa Hương trở lại thành phố Huế vào buổi sáng còn mờ sương . Sự nôn nóng gặp lại Mẹ làm cho Hương quên hết mệt mỏi . Xuống xe, nàng đứng một lát, hít thở thật sâu không khí trong lành buổi sáng, và cũng để cho gân cốt thư giãn sau những tiếng đồng hồ ngồi bất động . Hương đảo mắt nhìn quanh một vòng, nàng bỗng nghe một người từ khuất sau lưng hỏi:
“ Cô có ai tới đón không ?”
Hương quay lại, hơi ngạc nhiên khi gặp lại người đàn ông đã giúp nàng lấy chiếc vé tốc hành từ bến xe Sài Gòn . Nàng nói thầm : “Ủa, cái ông này cũng đi Huế sao!” và cúi đầu chào :
“ Dạ, không. Chờ xích lô chở về.”
“ Nhà cô ở mô ?”
Hương đưa mắt nhìn người đàn ông lạ. Nàng nghĩ “Cái ông ni coi bộ đa sự quá!” . Hương chỉ tay về hướng cầu Gia Hội.
“ Dạ, qua khỏi cầu, đi một chút là tới.”
Vừa nói, vừa đưa tay ngoắc một chiếc xích lô đang trờ tới:
“ Về gần bến đò Cồn Bác lấy mấy ?”
Không cần nghe bác xích lô trả lời, người đàn ông nhanh nhảu:
“ Mười đồng được rồi, chở cô về đi. Người ta lâu lắm mới trở lại đây.”
Bác xích lô chừng như rất quen biết với người đàn ông ấy. Bác nhảy xuống lấy tay phủi phủi cái nệm :
“ Được rồi, cô lên xe đi.”
Hương lên xe, ngồi tựa thẳng lưng ra sau. Nàng ngơ ngác nhìn phố xá hai bên đường. Sáng sớm, đường sá vẫn còn vắng vẻ, Nàng thoáng chút tò mò về người đàn ông :
“ Bác quen ông đó à ?”
“ Đó là chú Hưng, học tập cải tạo về, đi buôn chuyến.”
Hèn gì ông ta tỏ ra quen biết nhiều người từ bến xe Sài Gòn ra tới Huế. Nàng đưa mắt nhìn hai bên đường, nhà cửa vẫn không thay đổi gì , có vẻ xuống cấp vì không được sửa sang, tu bổ … Đời sống người dân nghèo đi nhiều kể từ sau ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm. Sáu năm trôi qua, sáu năm Hương rời xa thành phố, theo cơn gió thời cuộc đẩy đưa nàng trôi vào tận Sài Gòn Ngày qua ngày, cuộc sống với nàng là một sự đuổi bắt. Hương mỏi mòn đuổi theo cái lý tưởng tự do ở một nơi nào xa xôi mờ mịt. Nhưng số phận nghiệt ngã vẫn chưa chịu buông tha cho nàng … 

Xe ngừng lại, Hương trả tiền, bác xích lô nài nỉ xin thêm. Nàng đưa thêm năm đồng nữa . Nét mừng rỡ lộ rõ trên gương mặt già nua của bác . Hương cám ơn rồi bước vội vào nhà.
Không gian như trùng xuống, nàng được đón tiếp không bằng những nụ cười mừng vui của những tháng ngày xa cách, mà bằng những ánh mắt âu lo, muộn phiền …
“ Dạ, thưa Ba, Mạ răng rồi? Nàng hỏi thay cho lời chào.”
Ba Nàng im lặng :
“ Bác sĩ lắc đầu, Ba mới đưa Mạ con về tối hôm qua.”
Hương theo Ba vào nhà phòng trong , Nàng yên lặng đứng nhìn Mẹ nằm thiêm thiếp, hơi thở yếu ớt, khó nhọc. Buồn! Nỗi buồn quá lớn trĩu nặng tâm tư nàng. Hương không kh&oacu
te;c được vì chẳng còn nước mắt để khóc! Nỗi đau tận cùng đã làm đầu óc nàng đóng băng tê cứng. Bỗng dưng một cảm giác căm thù ùa vỡ … Nàng căm thù xã hội, nàng oán ghét chế độ … Tất cả như một cơn sóng dữ ập tới, cuốn phăng đi hạnh phúc của biết bao gia đình. Trước mắt, cơn sóng dữ đang từ từ cuốn đi người Mẹ thân yêu của nàng. Hương sững sờ nhìn Mẹ . Nàng cố gắng nghe Mẹ thều thào trong hơi thở :
“ Con tới rồi à? Còn anh, chị con có về cùng không? ”
Hương buộc lòng phải dối Mẹ:
“ Dạ, bận việc, sẽ về sau Mẹ ạ.”
Thật sự, họ đang trên đường đào thoát ở Bà Rịa Vũng Tàu .
“ Còn thằng Khoa được thả chưa ?”
Hương xót xa đến nghẹn ngào, cho đến giờ phút này con cái vẫn là điều lo lắng của Mẹ. Hương bỗng nhiên mềm rũ người, nàng quỵ xuống và ôm chầm lấy mẹ :
“ Mẹ ơi! con cái, đứa mô cũng lớn rồi, mẹ lo làm chi cho mệt.”
Hương thấy một giòng nước đang rỉ xuống từ khóe mắt Mẹ … Đó cũng là những giọt nước mắt cuối cùng mẹ nàng để lại trên thế gian này, và đó cũng là những giọt nước mắt chia ly trong ngày Hương trở lại. Mẹ nàng ra đi mang theo nỗi phiền muộn vì con cái mỗi đứa một nơi. Đứa đi tù, đứa thì nổi trôi ở đâu không tin tức … Sự ra đi của Mẹ là một giải thoát. Mẹ nhắm mắt buông tay, không còn phải chứng kiến những cay đắng giữa đời thường. Không phải xót xa theo từng bữa cơm độn bo bo với khoai sắn, không phải nhìn thấy những cảnh đời oan trái của các gia đình có chồng đi cải tạo, những quyền quý cao sang, trong phút chốc, bỗng trở nên bần cùng đến tội nghiệp! 
Mẹ ra đi, Hương nghe tâm tư mình gần gũi với một người bạn qua khái niệm về sự hợp tan của cuộc đời : “Cái gì rồi cũng đến, đến rồi sẽ qua, qua rồi lại mất … Như là có là không, như hạt sương trên lá, như giọt nắng long lanh, mong manh làn mây khói, đời hợp tan kiếp người” (*)
Tiễn đưa Mẹ vào một ngày mùa đông, người thân, bà con thì ít mà bạn bè thì nhiều . Trong khu phố, ba Hương rất được mọi người quý trọng. Ông thừa hưởng sự thông minh giỏi giắn của ông nội nàng, cụ Nghè Phiên. Ba nàng vẫn rất tự hào về cái bằng Phó Bảng của Nội trong kì thi Đình 1901 ngày xưa, đã mang lại tiếng thơm không ít cho dòng họ. Các Cậu và Dì ai ai cũng kính trọng anh rể và xem ba Hương như một người anh cả gương mẫu. Cậu Khải, một bác sĩ được trở về sau mấy năm học tập, đã rất chăm chút, lo lắng cho sức khỏe của ba nàng. Cậu thuê hẳn 1 chiếc xích lô cho Ba ngồi theo xe tang. Người đàn ông tên Hưng ấy đã tự nguyện đẩy xe giúp. Hương âm thầm bước theo bên cạnh chiếc xích lô . Bỗng nhiên nàng nghe ông ta hỏi:
“ Anh Nhân không về à ?”
Hương giật mình, trố mắt ngạc nhiên :
“ Ủa, răng mà ông biết anh Nhân ?”
Người đàn ông nở nụ cười thân thiện:
“ Anh là Trung, Trung “cột đèn” đây mà, không nhận ra à ?”
Quả đúng vậy, nếu ông ta không nói thì Hương không làm sao nhìn ra đó là Anh Trung . Hồi còn học ở trường Quốc Học, anh Trung này chơi rất thân với Nhân, anh của nàng . Họ thường cùng nhau ôn thi tú tài dưới cột đèn . Họ cũng thường chia nhau một tô hủ tiếu gõ lúc nửa đêm …. Cả một khung cửa màu xanh mở toang trong kí ức nàng. Thế nhưng Hương phải khép chặt lại ngay, nàng cố xua đi mọi hình ảnh của hạnh phúc, yêu thương mà ngày xưa anh em nàng đã tận hưởng. Hương lẳng lặng tìm cách đi chỗ khác. Nàng không muốn nghe ai hỏi han gì về sự vắng mặt của mấy anh chị em nhà nàng. Ít nhất là trong lúc này. Người ta bàn tán, xì xầm … “Chết mà con cái không được đầy đủ, tội quá!”. Nàng không buồn giải thích, cũng không muốn để trong lòng vì sự vắng mặt đó có một lý do thật tế nhị, buộc phải giữ kín. Họ đang tìm đường đào thoát, họ nhắm mắt, nín hơi giao phó cả sinh mạng của họ cho biển trời mây nước … Cần gì đến sự sống chết của người ở lại. Cũng từ đó, gia đình Hương được sự quan tâm đặc biệt của quan chức chính quyền Huế . Nhà có người vượt biên là phản quốc, là phải đi kinh tế mới …. 

Sau tang lễ, Cậu Hương đã đưa cả nhà vào Sài Gòn nghỉ ngơi một thời gian cho khuây khỏa . Hương trở lại với công việc làm bình thường, chỉ khác là mỗi ngày, nàng phải lo cơm nước cho cả nhà. Anh Trung “cột đèn” cũng thường xuyên có mặt giúp đỡ gia đình Hương trong buổi đầu lạ lẫm ở Sài Gòn. Ba Hương thấy anh Trung thì luôn luôn nhắc về chuyện cũ, về anh trai nàng. Một lần, vô tình, Hương nghe người ta gọi anh Trung là Hưng, và nàng nhớ lại bác xích lô đón nàng ở bến xe Huế cũng đã cho Hương biết “đó là chú Hưng, học tập cải tạo về, đi buôn chuyến” . Thế có nghĩa ngoài tên Trung, anh ấy còn có một tên nữa là Hưng . 
“ Một người có hai tên, chẳng có gì lạ”.
Nàng nghĩ .
Mẹ mất đi, anh chị lớn trong nhà cũng đều ra đi. Hương trở thành trụ cột chính. Nàng lo lắng, ôm đồm mọi việc … Sau hơn hai tuần lễ, sự vất vả của Hương đã được bù đắp khi có tin các anh, chị nàng đã đến nơi an toàn. Ba là người vui nhất, Hương thấy Ba khỏe hẳn ra, tươi tỉnh và linh hoạt hơn bao giờ. Niềm hạnh phúc như pháo râm rang nổ âm thầm trong tim mọi người. Sau hai tuần nghỉ dưỡng, Ba đưa mấy em trở về Huế cùng với một tương lai tươi sáng đang rộng mở trước mặt. Anh chị nàng sẽ là nguồn lực chính cho mọi sinh hoạt trong gia đình, mở ra những con đường sáng cho các em.

Hương còn lại với căn nhà trống vắng từ khi anh chị nàng ra đi. Anh Trung trở nên thân thiện lúc nào không hay. Anh xem Hương như một người em gái :
“ Hương vô Sài Gòn từ lúc nào ?” 
Hương cười lăc đầu :
“ Không nhớ anh ơi ! Cực quá làm cho đầu óc lười nhìn về quá khứ. Chỉ biết lo cho hiện tại và đối phó với ngày mai.”
Hương bâng quơ, mường tượng lại cái ngày rời Huế . Mấy năm rồi nhỉ ? Nàng quay cuồng theo cơn lốc thời thế. Cuộc sống với bề bộn công việc khiến con người nàng trở nên hối hả. Cứ mãi lo toan với sinh tồn mà Hương đánh mất đi những giây phút bình yên cho chính mình. Nàng phải đấu tranh để có được một cuộc sống tự nhiên, hòa hợp với những đồng nghiệp không cùng chí hướng. Nàng cố gắng sống một cách bình thản để dấu che những toan tính cuồn cuộn trong lòng. Một sự bình yên bên ngoài mà trong tâm tưởng rối bời như tơ nhện.

Một lần, ở cơ quan, Hương phản ứng với chị Duyên, một cán bộ trong bưng mới về ngồi vào ghế chủ sự phòng khi ông này bị bắt đi tập trung cải tạo. Cuộc đấu khẩu giữa hai đồng nghiệp mà tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau. Nàng nhớ mãi câu nói đầy oán thù của chị:
“Có nàm không thì đưa đơn thôi việc, nói nôi thôi quá!” 
Hương nghe đau trong lòng và thầm tiếc cho miền nam đã phải đi lùi một thập niên thì mới hòa đồng nỗi với những suy nghĩ và cách sống của những người này. Khi mà những tà áo dài thướt tha nơi công sở được biến thể thành những chiếc áo bà ba. Mặc áo dài sẽ bị cho là luộm thuộm, vướng víu … cản trở tốc độ việc làm. Hương thấy rõ dã tâm vắt chanh bỏ vỏ của lớp người này. Khi họ mới tiếp quản, họ cần giữ nhân viên cũ, họ khai thác tất cả những gì cần thiết cho họ… Sau đó, họ tìm mánh lới để gạt bỏ những nhân viên cũ mà họ gọi là “ngụy quyền” bằng rất nhiều thủ đoạn. Thuyên chuyển từ phòng ban này qua phòng ban khác, từ quận nội thành ra quận ngoại thành… Tạo sự nản chí cho nhân viên để rồi họ tự ý bỏ việc. Lường trước được tình hình do, Hương đã gởi đơn xin thuyên chuyển. Nàng không dại gì nghỉ việc trong lúc này. Vì Hương biết mọi dính líu công việc với chính quyền sẽ là một lợi thế giúp nàng giữ được căn nhà anh chị nàng để lại. Nếu không khôn khéo, người ta sẽ tịch thu nhà và nàng phải đi kinh tế mới. 

Một buổi chiều, ở sở làm về, Hương nhận được một giấy triệu tập của chủ tịch phường. Sáng hôm sau, nàng xin cơ quan vào trể để trình diện ủy ban nhân dân phường. Sau lời chào, chị chủ tịch phường vào ngay câu chuyện :
“ Chị là Nguyễn Thị Lam Hương ? “ 
“ Đúng vậy “
“ Chị đang ở nhà số 67 đường Nguyễn Kim?”
Hương ngần ngừ gật đầu.
“ Rồi làm sao? “
Chị chủ tịch phường nói một mạch, như cố áp đảo tinh thần Hương :
“ Với căn hộ có diện tích như vậy, chị không được ở một mình. Tôi sẽ bố trí cho gia đình một cán bộ ở phía sau. Chị ở phía trước. Chị ký vào biên bản cam kết này đi.”
Tờ giấy cam kết được đẩy về trước mặt Hương. Nàng bình tĩnh, vì đây là điều Hương đã tiên đoán trước, khi họ không có cớ lấy nhà. Nàng nói :
“ Thưa chị, tôi không ở một mình. Tôi còn có anh em và gia đình cũng đang cùng ở. Anh chị tôi đang ở ngoài quê săn sóc Má tôi bịnh nặng.
Nàng ngần ngừ một chốc rồi đánh bạo nói tiếp :
“ Chồng tôi ở quê cũng sẽ vào sống với tôi.”
Chị chủ tịch hỏi tới :
“ Chị đừng nói dối, nhà chị chạy trốn hết rồi. Còn chồng à? Chị lấy chồng lúc nào? Sao không báo cáo?”
Hương chậm rãi nói một cách dứt khoát :
“ Tôi đã nói sự thật, tôi lấy chồng, cha mẹ, anh em, gia đình tôi biết là đủ rồi.”
Chị chủ tịch phường im lặng, bực tức :
“ Được rồi, chị về đi.”
Hương ra về, trong lòng cố suy nghĩ để ứng phó với tình huống “làm khó” kế tiếp. Lấy đâu ra một ông chồng để làm đồng minh bây giờ, nàng nghĩ.

Một tháng trôi qua, sau những biến cố dồn dập, Hương ngã bịnh. Một mình, trong căn nhà trống trơn, vắng lặng… Hương bị nỗi lo lắng hành hạ. Bịnh thì có thuốc, nhưng sự lo lắng, buồn phiền cho thế cuộc, là một tâm bệnh, kh&ocir
c;ng có thuốc chữa. Hương luôn suy nghĩ “liệu mình có thể sống được trong hoàn cảnh khốn đốn này không?” Một xã hội mà sự tước đọat trắng trợn được bao che bởi mỹ từ "tiếp quản". Họ lấy đi mọi thứ, từ xe cộ, nhà cửa, cho đến những hãng xưởng qui mô … Nếu có phản ứng thì họ cho là tư sản mại bản, nếu ngoan ngoãn chấp hành theo đường lối của họ thì được tôn vinh là tư sản dân tộc. Tư sản mại bản là có tội với dân, tư sản dân tộc là có công với nước. Có tội thì họ đưa đi học tập cải tạo không hẹn ngày về. Bác Khương, chủ một hãng nhôm “Cây Dừa” có tiếng tăm của Sài Gòn đã trở nên điên loạn vào cái ngày họ tiếp quản hãng nhôm của bác. Cho đến một hôm, vì uống quá say, bác ấy đã vĩnh viễn ra đi vì một tai nạn xe cộ. Hương rơi vào cảm giác lo sợ cùng cực. Phải đi thôi, càng nhanh càng tốt. Hương gào lên trong khoảng tối:
"Mẹ ơi! hãy giúp con!”
Hương giật mình tỉnh lại thì thấy mình đang nằm trên giường bịnh, với bình nước biển tòong teeng trên đầu giường. Anh Trung đang chăm chú nhìn, nàng cảm thấy nhức đầu :
" Ủa, anh tới hồi nào?”
" Hương đau làm sao mà mê sản dữ vậy ?” 
Nàng im lặng, đưa mắt nhìn lên trần nhà, loáng thoáng nghe bác sĩ trò chuyện :
" Chị không sao, chỉ vì làm việc quá sức . Anh đưa về nhà cho chị tịnh dưỡng vài ngày và uống thuốc là khỏe lại ngay.”
Một ý nghĩ khôi hài thoáng qua "Họ tưởng Anh Trung là chồng mình” làm Hương mỉm cười.

Từ ngày Hương ở bịnh viện về, nhà không còn trống trải. Anh Trung quanh quẩn làm mọi việc cho Hương được nghỉ ngơi. Sự săn sóc của anh Trung đã làm thay đổi cách nhìn của Hương. Tình cảm anh em như dòng sông êm đềm từ bao lâu nay đang giấy lên những gợn sóng âm thầm lặng lẽ, ẩn kín một nơi nào đó dưới dòng chảy bình lặng kia.
Cho đến một hôm anh Trung trở lại sau một chuyến hàng Huế-Sài Gòn, cùng với chị Huyền, là người chị lớn của anh. Hương vốn hiếu khách, nàng vui vẻ và ân cần mời chị Huyền ở lại. Mặc dù chưa bao giờ gặp chị, nhưng cảm giác thân tình đã được hình thành từ lòng tốt của anh Trung đối với gia đình nàng. 
Buổi tối, trước hôm chị Huyền rời Sài Gòn, hai người đã ngồi lại nói chuyện thật khuya về anh Trung. Một hoàn cảnh éo le được phơi bày, một số phận khắt nghiệt đã đóng dấu vào cuộc đời của anh:
"Ngoài tên Trung ra, anh ấy còn có tên Hưng nữa phải không chị?” 
Chị Huyền mỉm cười, lắc đầu :
"Đâu có, Hưng là tên của đứa em con ông chú ở dưới làng.” 
Hương ngạc nhiên, tròn mắt nhìn, chị nói tiếp :
" Nó đi cải tạo mà bỏ trốn, phải lấy giấy tờ của người khác sống lây lất như vậy đó.”
Hương mường tượng đến bộ phim "Người tù khổ sai" mà nàng đã được xem từ rất lâu. :
" Ủa, rứa bây giờ anh cứ đi nhởn nhơ như vậy mà không sợ à ?”
" Thì phải chịu rứa thôi, lâu lâu, nó tạt qua nhà…”
Hương hỏi dồn :
" Rứa thì anh ở đâu?”
Chi Huyền nhỏ tiếng:
" Nó tội lắm! Ở lung tung trên xe đò, xe lửa, và khắp mọi nơi trên nửa đất nước hình chữ S này. Không nơi nào mà nó không đặt chân đến”
Hương yên lặng, nàng nghĩ Anh Trung đang sống một cuộc sống ngoài vòng pháp luật. 
Chị Huyền nói tiếp :
" Theo chị biết, em bây giờ là một công nhân viên của nhà nước, được tổ chức công đoàn quận, và thành phố bảo vệ, em có thể giúp đem lại cho nó một cuộc sống hợp pháp với xã hội.”
Hương đủ thông minh để hiểu những gì chị Huyền muốn nói. Nàng nghĩ “giúp đem lại một cuộc sống hợp pháp chỉ bằng một cách là đăng ký kết hôn” Nàng nói :
“ Chị ơi! Vậy thì việc Anh ấy đã hiện hữu bao lâu nay với một cái tên khác sẽ là một tội phạm. Chị nói tiếp:
“ Biết vậy, nhưng em thấy đó, nó là người rất hiền lành tử tế, hai bác nhà em và nhà chị cũng biết nhau hết. Em giúp nó tạm thời trong lúc này, rồi tìm đường vượt biên. Chị sẽ lo tất cả. Em làm phước đi, mở cho nó một con đường sống “

Đúng, hai gia đình nàng và thầy Trợ rất thân thiết với nhau. Họ biết nhau trong từng gốc nhãn, từng bụi tre. Họ thân nhau trong từng buổi trưa hè nắng cháy, trần trụi vẫy vùng dưới dòng nước sông Hương trong mát …
Chị Huyền vẫn nói, và Hương cứ nghe, chị cố năn nỉ dỗ dành … Nàng nhìn lại mình, một nạn nhân của chế độ. Hương không hề có ý nghĩ lấy chồng. Thế nhưng bây giờ Hương đang phải đối diện với một sự chọn lựa, hoặc một cái ngoảnh mặt làm ngơ, hoặc mở rộng vòng tay giảỉ cứu cho một con người đã không còn đất sống. Phải, Anh Trung đã không còn một lối thoát nào nữa, ngoài việc tìm đường trốn chạy. 
Thế là họ đến với nhau. Khởi đầu bằng sự cảm thông rất thầm lặng. H
ai tâm hồn họ cùng nhìn về một điểm sáng ở cuối con đường hầm. Họ sống bằng hy vọng của từng giây phút chờ đợi, ngóng trông, họ thở bằng niềm tin ở một ngày mai tươi sáng ….. Cả hai đang chờ đợi một tín hiệu cho cuộc đổi đời ở một nơi nào đó bên ngoài cái xứ sở này. Anh Trung đã cảm thấy yên tâm với cuộc sống không vướng bận lo âu, tránh né…
Sáu tháng trôi qua, buổi sáng khi trời vừa hừng đông, một thanh niên trẻ đến gặp Hương. Người này là trung gian trong chuyến vượt biên thành công của anh chị nàng. Hương chưa kịp mời khách thì người thanh niên kéo ghế ngồi và nói rất nhanh: 
“ Chị Hương, sáng mai, trước 6 giờ, người ta sẽ chờ chị ở bến xe miền tây. Đứng ngay quầy vé số 4, sẽ có người tới hỏi chị đi đâu, chị nói đi Bà Rịa, người ta sẽ nói Bà Rịa hết chỗ, đi Vũng Tàu thì còn. Rồi chị sẽ theo họ. Chị nhớ là trước 6 giờ nghe. Thôi em đi.”
Hương tiễn khách. Nàng bâng khuâng suốt cả ngày cho đến tối, khi anh Trung về, nàng tin cho anh Trung biết :
“ Anh chuẩn bị những thứ cần thiết, ngày mai đi sớm.”
Anh Trung nhìn Hương, không lộ vẻ vui mừng hay lo lắng. Anh hiểu rằng việc trốn chạy là điều tất nhiên, và đây là lần thứ ba, anh hy vọng điều may mắn sẽ đến. Lần thứ nhất ở Thuận An, Huế, rồi Phan Thiết là lần thứ hai, anh mất khá nhiều tiền, nhưng lòng khao khát đi tìm tự do nơi anh quá lớn cho nên sự mất mát kia trở thành nhỏ bé, không đáng kể: 
“ Thế mai Hương có phải theo anh?”
Hương bật cười:
“ Hương phải đưa anh đi cho an toàn.
Nàng không đắn đo suy tính khi làm người ở lại. Cho dù hiện tại Hương đã quá mệt mỏi vì cuộc sống đầy bon chen này, nhưng trái tim nàng là một biển trời bao dung, độ lượng. Nếu Hương ra đi, anh Trung sẽ gặp phải những khốn đốn với cuộc sống chui nhủi, trốn tránh của một tên tội đồ “vượt ngục”. Nàng mỉm cười, bình thản và sẵn sàng mở rộng vòng tay vì Hương biết mình vẫn còn nhiều cơ hội. 
Anh Trung nắm chặt tay Hương :
“ Anh cám ơn Hương nhiều, việc này chị Huyền sẽ biết và sẽ sòng phẳng với Hương.”
Cho đến bây giờ, anh Trung vẫn xem Hương như một người em gái. Họ tôn trọng lẫn nhau ngay cả trong lời ăn tiếng nói. Hương thấy anh Trung là người tội nghiệp, anh Trung thì nhìn Hương dưới ánh mắt của một ân nhân. Họ đến với nhau không bằng tình yêu đôi lứa mà chỉ là một sự cần thiết, nương nhờ vào nhau để qua đi cái giai đoạn “bôn ba” tìm đường trốn chạy. 

Vượt biên từ lúc nào, đã trở thành một cao trào, một căn bệnh lây lan rất nhanh. Đi đâu cũng nghe bàn tán xầm xì, từ trong nhà ra đến các ngỏ ngách ngoài phố, trong cơ quan ra đến chợ trời. Người thì đóng tàu để đi, người thì mua giấy tờ hộ khẩu của người Hoa để đi, người thì đi băng rừng vượt suối qua Lào, qua Căm Bốt, qua Thái Lan.… Tất cả chỉ vì tự do. Vì tự do, họ đánh đổi cả mạng sống mình. Vì tự do, họ quên đi nỗi sợ hãi khi đối diện với sóng to gió lớn giữa biển trời mênh mông, giữa núi rừng thăm thẳm. Họ sẵn sàng chọn cái chết để được sống dưới bầu không khí trong lành bay bỗng bởi hai chữ “tự do”. 
Ăn bữa tối xong, anh Trung bắt đầu soạn những thứ cần thiết cho ngày mai đi sớm. Kéo ra giữa nhà một túi ba lô, anh gọi Hương đến gần rồi tỉ mỉ lấy ra từng gói nhỏ, anh nói rất từ tốn, anh giải bày những gì liên quan cuộc sống trốn tránh của anh:
“ Hương biết không, đây là những thứ nuôi sống anh từ bao lâu nay. Đối với chúng ta, nó không là gì cả, nhưng với họ là rất quý.”
Anh lấy từng gói nhỏ được bao bọc cẩn thận trong giấy báo và mở ra. Hương thấy đó là những chiếc đồng hồ cũ, những cây bút máy Paker. Ngoài ra còn có những chiếc radio nhỏ gọn cở bằng hai bàn tay. Những món đồ cũ được anh chùi mài, đánh bóng lên trông rất mới :
“ Ở lại, nếu có thì giờ, Hương ra chợ trời, tìm mua các thứ này về để dành. Mấy người ngoài Bắc vô đây, họ rất thích. 
Hương yên lặng, nàng nhận ra được một điều “té ra họ thiếu thốn quá, họ nghèo nàn quá vậy sao!”. Nàng buộc miệng :
“ Hèn chi trong cơ quan của Hương, lâu lâu cứ nghe các cán bộ xúm nhau lại khoe “đổng” (đồng hồ) hai cửa sổ, ba cửa sổ, “đổng” không người lái … 
Anh Trung cười :
“ Thì đó, họ ở trong bưng, làm gì có được những thứ đó. Cho nên họ thích mua sắm đồng hồ và anh bán rất được giá.”
Không nghe Hương nói gì, có vẻ như nàng không đồng thanh tương ứng với công việc này, anh nói tiếp:
“ Ăn theo thuở, ở theo thời, lúc này mình phải như vậy. Hương thu gom những thứ này gởi về ngoài nhà, chúng ta lời được xấp mấy lần giá vốn. Anh không đùa đâu.” 
Anh bắt đầu xếp trở lại những món đồ đó vào một cái rư
ơng nhỏ, đóng nắp, khóa cẩn thận rồi đưa chiếc chìa khóa cho Hương. Trong đôi tay ấm áp của anh, nàng nghe anh dỗ dành :
“ Hương nghe lời anh đi, nó sẽ giúp đỡ cho Hương rất nhiều trong lúc này.” 
Anh buông tay ra rồi nhìn vào mắt Hương, anh nói nhỏ :
“ Và khi cần thiết, Hương cứ lấy làm quà cho mấy cán bộ trong cơ quan, rất có hiệu quả.”
Hương mở to mắt nhìn anh Trung:
“ Anh dạy cho Hương hối lộ à? ” 
Rồi nàng mím môi và co vai lại như một cách trả lời là “sẽ không bao giờ có chuyện đó xảy ra.” 
Làm một giáo viên, Hương rất ngại việc chuồi lót, xin xỏ …. Cho dù trong trường có lần Hương nghe bạn bè chê “ nhỏ Hương không biết giao tế ”. Đúng là Hương rất vụng về trong việc lấy lòng cấp trên. Cho nên Hương bị ở vào cái thế trung gian, người “sạch và ngay” thì có nhiều người thương và người cấp trên thì họ nể nang nhưng lại không thích nàng. Cũng chính vì thế mà Hương rất hiếm khi được đề bạt lên chức hay lên lương. Trừ khi có những tình huống đặc biệt thì nàng mới được đề bạt như một thành tích cần phải có của trường mỗi khi thành phố phát động phong trào thi đua trong những dịp lễ lớn. 
Nàng nhìn chiếc rương cũ và hình dung ra một gia tài mà anh Trung để lại trước lúc chia tay. Qua đó, Hương nhớ chị Ngọc, con của một bộ trưởng, vợ một vị trung tá, ngày ấy uy nghi ngần nào! Đi ra một bước là lên xe hơi, có người hầu kẻ hạ.… Vậy mà giờ đây, thỉnh thoảng Hương thấy chị chạy xuôi chạy ngược ở chợ trời. Chị buôn bán thuốc tây, khi thì ở chợ ĐaKao, khi thì ở chợ Vườn Chuối. Bon chen vậy mà chị đã cho hết bốn đứa con vượt biên ra nước ngoài. Chị còn móc nối cho rất nhiều người đào thoát, và cứ mỗi người như thế, chị có được một khoảng hoa hồng tương xứng. Nhờ vậy mà chị sống rất thoải mái để vài tháng đi thăm nuôi chồng học cải tạo tận ngoài Bắc. Những mẫu người như chị Ngọc, anh Trung,…. trước kia họ không biết một tí gì về mánh mum, buôn bán …. vậy mà bây giờ, họ phải lăn lộn, xoay vần theo thời thế. Để rồi từ đó có những chức danh mà chợ trời ban cho họ: “trùm thuốc tây”, “trùm đồ cỗ”, “trùm đô la”…. Tất cả do cái xã hội “cộng sản” nó tạo nên như thế. 

***
Trung lẫn lộn trong đám người cùng đi chung chuyến tàu. Họ theo người dẫn đường dưới bầu 
trời tối đen như mực. Lần theo tiếng sột sọat, cả đoàn lầm lũi nối đuôi nhau. Sau hơn một tiếng đồng hồ, họ được lệnh ngồi xuống chờ. Tiếng người thanh niên nói nhỏ nhưng rất rõ ràng: 
" Mấy dì , mấy chú ngồi yên lặng, đừng nói chuyện lớn tiếng. Chờ có dấu hiệu ngoài bờ sông là con dẫn từng hai người một đi ra. Cố gắng đừng gây tiếng động nhiều.
Mọi người nhìn theo hướng tay chỉ của người thanh niên. Tất cả chi là một màu đen hun hút. Người thanh niên nói tiếp: 
" Ngồi yên, đừng đi đâu hết, sẽ bị lạc đường đó. Còn mấy toán khác nữa, không phải chỉ có một toán này thôi đâu. Con nghĩ mấy dì, mấy chú ngồi niệm kinh sẽ vơi bớt sự hồi hộp, lo âu, ….
Trung thoáng một chút bình yên trong lòng qua cách trao đổi của người dẫn đường. Thật thà và đầy trách nhiệm, biết thấu hiểu và chia sẻ nỗi sợ hãi với bà con.
Mọi người ngồi khá lâu. Sự chờ đợi nào cũng lê thê đáng sợ! Bên cạnh Trung, hai mẹ con đang mãi mê đọc kinh cầu nguyện, họ ngồi bó gối yên lặng.
Sự chờ đợi hình như đã đến lúc mõi mòn thì bỗng nhiên từ phía xa, Trung thấy lóe lên một điểm sáng, quơ thành hình vòng tròn rõ nét trong khoảng tối hun hút. Trong chừng một phút, Trung đếm được ba lần. Đó là tín hiệu của người chủ ghe đang chờ ngoài bờ sông. Cả đoàn lần lượt từng đôi một, đứng lên di chuyển theo người thanh niên trong thứ tự im lặng. Họ được nghe dặn dò cẩn thận: 
" Bây giờ con đưa các cô chú tới ghe nhỏ theo sông ra biển, sau đó sẽ chuyển qua ghe lớn rồi đi thẳng ra khơi “
Chiếc ghe nhỏ xíu tròng trành làm cho mọi người chao đảo. Trong cái chập choạng của bóng tối, Trung ngồi bừa xuống, lưng dựa sát vào mạn ghe. Trong chốc lát, bà con lỗm ngỗm ngồi dính vào nhau, không biết người ngồi bên mình là ai, chỉ còn nghe thấy mùi hơi người và tiếng thở nhẹ. Trong đêm vắng, tiếng khua nước nghe rất vang, chiếc ghe lướt nhẹ theo dòng chảy. Trung mệt mỏi nhắm mắt ngủ mê trong chốc lát, anh nghe tiếng của người chủ ghe: 
“ Bà con ai còn ở ngoài thì làm ơn chui xuống hầm ghe hết đi, chừng 1 giờ nữa là yên “
Chiếc ghe vượt qua trạm gác một cách bình yên, không nghe một lời hỏi han, cũng chẳng cần phải ngừng lại một phút giây nào. Tất cả đều được sắp xếp một cách ổn thõa. 
Ra đến biển, cả đoàn người được tuần tự chuyển lên ghe lớn. Trung lén nh&ig
rave;n vào chiếc đồng hồ dạ quang anh cột theo trên cổ, đã 11 giờ đêm. Mọi chuyện sẽ được giải quyết trong vòng 7 tiếng đồng hồ nữa thì trời sẽ sáng. Lần chuyển tiếp này, những thân phận sẽ được phó mặc cho trời và biển. Thành hay bại là do phúc đức của mỗi người, có vượt qua được những trở ngại, thử thách … để đến với bến bờ tự do hay không? 
Mùi hôi tanh xông lên nồng năc, cho bà con biết đây là một chiếc ghe đánh cá. Tất cả chen nhau ngồi bừa xuống sàn ghe yên lặng. Hành lý chỉ là những chiếc túi nhỏ, gọn nhẹ dính theo bên mình. Họ lặng lẽ ngồi đâu vào đó để chuẩn bị cho một cuộc vượt thoát, tìm tự do ở bên kia bờ đại dương. Bên ngoài, trời tối đen như mực. Niềm tin yêu hy vọng lẫn lộn trong nỗi lo lắng bồn chồn, hai trạng thái đối nghịch nhau đang tranh đua xâu xé trong từng trái tim. Thoát được hay không? phải chăng do một định mệnh an bài. Chú tài công cho nổ máy và chiếc ghe bắt đầu xoay hướng ra khơi, khởi đầu cho một chuyến đi mà điểm đến thật quá mịt mờ. Những số phần như những ngọn nến trước gió, chực chờ bừng sáng hay vụt tắt trong làn tơ kẻ tóc …. 

***
Do bận rộn với công việc, Huơng thấy thời gian trôi rất nhanh. Ba tuần lễ, sau khi Trung rời Sài Gòn, Hương nhận được lá thư của chị Huyền từ Huế, chị muốn biết tin tức của Anh Trung. Hương đọc thư với một cảm giác rất bình thường, nàng không thấu hiểu được sự nôn nóng của chị Huyền là thế nào. Đối với Trung, nàng chưa cảm nhận được sức trói buộc của sợi dây tơ hồng. Tình cảm của Huơng đối với Trung chưa tới mức để cùng chia sẻ nổi lo lắng trước sự sống còn của anh. Hương cho chi Huyền biết là mọi sự phải chờ đợi, đến lúc có tin là tự nó đến. Tin lành hay tin dữ… thì cũng phải đến. 
Thời gian cứ trôi qua một cách vô tình. Hương vẫn mãi lo níu kéo công việc để giữ chân với cái gọi là chính quyền Xã Hội Chủ Nghĩa. Tinh thần nàng luôn đặt trong trường hợp phải đối phó, vì nàng chẳng có ai để dựa dẫm. Có chăng là Hương phải nhờ vào tiền, tiền như một phép lạ. Nàng thấy anh Trung hoàn toàn hợp lý khi khuyên Hương phải biết hối lộ, phải biết ăn theo thuở, ở theo thời, và đây là thời điểm nàng phải đem tiền ra dọn cho mình một con đường sáng. Với tiền, Hương đã mua được tờ khai gia đình có kèm thêm gia đình của người bà con và lo luôn giấy sang tên chủ quyền nhà cho họ. Hương thênh thang chờ đợi cơ hội đến với mình. 
Hai tháng trôi qua, Hương quên bẳng đi cái số phận của anh Trung đang nổi trôi trên biển. Bất ngờ một hôm chị Huyền xuất hiện. Buổi sáng, bầu trời mang một màu xanh thật đẹp làm cho nụ cười của chị Huyền trở nên rạng rỡ như chưa bao giờ, chị nói như reo:
“ Hương ơi! Thằng Trung nó gởi thơ về rồi nì em ơi, chị mừng quá!
Cả hai cùng chia sẻ với nhau niềm hạnh phúc hiếm quý ấy bằng một cái ôm thật chặt:
“ Hương chúc mừng cho chị và gia đình.
Chị rối rít:
“Chị thật cảm ơn em, cả gia đình chị mang ơn em. Đây, thơ đây, em coi đi, nó viết cho em đó, tội lắm!
Hương mở tấm giấy đã nhàu nát nhưng vẫn còn đọc được chữ : “ Hương, anh đã đến nơi bình an, xin lỗi em, anh không thể gởi tin trực tiếp về cho Hương vì anh nghĩ sẽ rất bất tiện cho em khi phải đón nhận những lá thơ từ những người chối bỏ quê hương mình. Anh đợi Hương.”
Hương vui khi nhận ra rằng lòng nhân ái và sự hy sinh của mình đã đem đến một kết qủa tốt đẹp. Nàng cảm nhận một điều gì thật ấm áp khi biết ở một nơi xa nào đó, đang có một người chờ đợi mình. Rồi một ngày gần đây, nàng sẽ gặp lại Trung cùng với những hạt mầm tình yêu và sẽ nở hoa trên miền đất tự do màu mỡ, nơi đó mới thật sự là nơi chốn cho nàng và Trung xây dựng một mái ấm gia đình. 

San Jose, 7/28/14




MỘT NGÀY VỚI NỘI TÂM. (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

MỘT NGÀY VỚI NỘI TÂM.
 
   Tôi là nhà văn, nhà báo, một văn nghệ sĩ.  Cả cuộc đời của tôi dành cho một lý tưởng: Bênh vực quyền sống, quyền làm người, quyền được suy tư, quyền được nói lên tiếng nói của mình.
   Tự do ngôn luận là một trong những quyền căn bản nhất của bản Tuyên Ngôn
Nhân Quyền năm 1948. Mỗi người có quyền trình bày tư tưởng của mình bằng lời nói, bằng ngòi viết và bằng hành động . Tôi và những người khác, 14 người tất cả, đã ngồi tuyệt thực tượng trưng để nói lên ý nghĩ của mình: chúng tôi muốn có nhân quyền ở đất nước chúng tôi cũng như không còn có những tù nhân chính trị nữa.
   Ý kiến của tôi có thể đúng, có thể sai, nhưng tôi có quyền nói lên ý kiến đó. Cùng với quyền đó, tôi lại phải có bổn phận tôn trọng ý kiến người khác, dù là đúng, dù là sai, nhưng tôi không thể bóp nghẹt hay bưng bít nó đi bằng cách này hay cách khác. Đó là quy luật của xã hội tự do dân chủ. Trong thời đại tiến bộ của loài người ngày nay, không thể còn có những người bị bắt bớ, giam cầm chỉ vì tư tưởng và tín ngưỡng của họ.
   Những người cầm bút thường hay sống với nội tâm của họ. Một ngày một đêm sống ở ngoài trời chính là lúc sống cho nội tâm nhiều nhất.
   Đêm hôm đó ngồi ngoài trời cùng với những người bạn, mới quen nhưng cùng chí hướng, tôi nhìn những ngọn nến thắp sáng trước mặt tôi, giữa đêm khuya trời lạnh. Ngọn lửa lung linh trước những cơn gío của mùa Đông miền Nam Cali khiến tôi liên tưởng đến thân phận con người lung linh như ngọn đèn muốn tắt trước cơn bão tố của bạo lực, Tôi đã nhớ … nhớ rất nhiều.
  Tôi đã nhớ đến một ngọn đồi bên kia bờ Thái Bình Dưong , trên vùng cao nguyên Trung phần của đất nước thân yêu của tôi. Ngọn đồi đó ở gần một trại cải tạo, trong khu vực lao động khổ sai của chúng tôi. Vì là một miền rừng núi hoang vu, nên dù đứng xa ở phía nào chúng tôi vẫn có thể nhìn lên ngọn đồi đó. Chúng tôi gọi là “Vườn sắn” nhưng thực ra đó là nơi chôn người, chôn những người tù cải tạo đã chết trong trại tù. Mỗi lần vác cuốc, vác rìu đi lao động, chúng tôi nhìn về Vườn Sắn và tự hỏi phải chăng chuyến đi lên đó sẽ là chuyến đi cuối cùng của cuộc đời mình. Bởi vì chúng tôi đã biết đi tập trung cải tạo là có đi mà ít có về.
   Rồi có những ngày, tình cờ ngước mắt nhìn lên ngọn đồi, chúng tôi thấy hình ảnh thê lương trên sườn đồi in rõ trên nền trời xanh biếc: Bốn người tù cải tạo khiêng một cái hòm làm bằng ván sơ sài theo sau là một Vệ binh Công an áo vàng vác súng . Chúng tôi buông cuốc cúi đầu khẽ thở dài. Chúng tôi biết lại có một người bạn vĩnh viễn từ gĩa chúng tôi rồi.
   Tôi còn nhớ, nhớ khá nhiều bạn bè của chúng tôi đã an nghỉ trên đồi. Tôi còn nhớ anh Trung Tá Nguyễn Văn Thanh ở Nam Hà về đây, bị đánh chết, cũng nằm ở đó.
   Tôi còn nhớ 5 người bị cùm nhiều nhất ở Gia Trung, Người thứ nhất là anh Thiếu tá Trần Văn Kính, sau khi tháo cùm được một ngày, đã chết tức tưởi. Tôi nhớ anh lắm, vì trước khi lìa đời, anh còn nói được một câu : “ Khánh ơi ở lại nhé!” Suốt đời tôi, chắc tôi không thể nào quên câu nói này. Người thứ hai là anh Trung úy Võ Hồng đã chết vì kiết lỵ chỉ vài ngay sau khi được tháo cùm. Còn lại ba người còn sống đến nay, nhưng không phải là quân nhân mà là dân sự, Người thứ nhất là nhà văn Nguyễn Sĩ Tế, Tiến sĩ văn chương Pháp, Anh không chết, nhưng khi được tháo cùm sau 9 tháng kiên giam, tôi thấy anh quay đi một vòng rồi ngã vật xuống như một cái cây bị đốn gốc và đổ nhào. Người ta phải khiêng anh đi cấp cứu.
   Người thứ hai là luật sư Mai Văn Lễ, Tiến sĩ kinh tế của Harvard. Anh Lễ không ngã nhào, nhưng sau khi tháo cùm,  anh chống hai tay bò lết, vì hai chân anh đã bị liệt.
   Người thứ ba là tôi. Tôi không té, không bò, nhưng tôi phải vịn vào tường mới đi được, vì lúc đó tôi chỉ còn da bọc xương. Thấy tôi lúc đó người ta gọi tôi là “Cái thây ma biết đi” hoặc khôi hài hơn, có anh bạn bảo tôi: : ”Tôi thấy anh đi trên bờ ruộng mà chỉ sợ có ngọn gió nào thổi mạnh là anh sẽ  bay đi như chiếc lá”.
   Tôi còn nhớ… những người bạn thân yêu của tôi, những người bạn cầm bút, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, đã bị lùa đi cải tạo vào mùa xuân năm 1976 cũng chỉ vì những gì họ đã viết, vì tư tưởng, vì chánh kiến của họ. Rất nhiều… rất nhiều .. nhưng hỡi ôi, đã có những người gục ngã trước cơn gió của bạo lực.
   Hồ Hữ Tường chết ở Hàm Tân, Nguyễn Mạnh Côn chết ở Xuân Lộc. Hiếu Chân chết ở khám
Chí Hoà, Dương Hùng Cường chết ở T.20.
   Hai người anh kính yêu của tôi là Vũ Hoàng Chương và Trần Việt Sơn đã được thả về để …chết ở nhà sau khi đã quá kiệt lực trong những năm tháng tù đầy . Cả người bạn của tôi, Minh Đăng Khánh cũng đã chết sau khi về nhà vì tê liệt.
   Những người còn sống, sau khi thoát nạn, đã tủa đi khắp phương trời bằng cách này hay cách khác. Riêng ở Mỹ này, đã có Nguyễn Sĩ Tế, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Hồ Văn Đồng, cũng như một số người đã sang Âu, sang Úc và tất nhiên cũng còn những người ở lại quê nhà… Chúng tôi những người có may mắn được cầm bút trở lại, chẳng thể nào quên những người anh em mình. Cũng chẳng thể quên bà con, đồng bào mình.
   Ở Gia Trung, người tôi nhớ nhất là một người con gái, con của Trung Tá Lò Văn E, Gốc người Thái của miền thượng du Bắc Việt. Anh Lò Van E đi cải tạo đến lúc đó là đã 6 năm trời mà không được tin tức gì về gia đình. Anh sống rất kham khổ thiếu thốn, vì tự ái ít khi chịu nhận sự giúp đõ của bạn bè may măn hơn có gia đình tiếp tế. Rồi một ngày kia, anh nhận được một tin mừng: Đó là lá thư của con gái anh, viết thay cho mẹ, nói rằng trong mấy năm qua mẹ con quá lam lũ khổ sở, không kiếm nổi kiếng ăn, có lẽ vì gốc người thiểu số không quen buôn bán, nhưng bây giờ thì dành dụm được hút tiền rồi, nhất định sẽ cho con gái lên thăm anh và cho anh chút quà.
   Khoảng một tháng sau, quả nhiên cô con gái lên thăm cha cô, đến trại thì trời đã chạng vạng tối, nhưng hỡi ôi, đúng lúc cô đặt tờ giấy phép xin thăm trước mặt người Công an giữ nhà thăm nuôi thì cũng là lúc mà trong trại tù, anh Lò Van E đã trút hơi thở cuối cùng, vì bao năm thiếu dinh dưỡng và kiệt lực. Cô con gái chỉ còn được phép nhìn mặt cha lần cuối và nức nở khóc như mưa.
   Sáng hôm sau, tôi tình cờ cuốc đất bên con đường đi lên “Vườn Sắn”, Tôi thấy bốn người bạn tù cải tạo đòn sóc khiêng cái quan tài làm bằng ván thông của anh Lò Văn E, và theo sau ngoài anh lính vác súng đi theo như thường lệ, còn có cô con gái của anh. Lần đầu tiên một người bên ngoài được đi theo quan tài của một người tù cải tạo chết trong tù. Trời ơi, tôi làm sao quên nổi hình ảnh đó. Cô con gái đi theo cha lần cuối, mà mặt cô lạnh như băng, mắt cô không còn nhòa lệ nữa, mà thay vào đó là một đôi mắt mở trừng trừng, tôi có cảm tưởng như đôi mắt đó đang tóe ra những tia lửa căm hờn, và công phẫn đén cùng độ. Không, tôi không thể nào quên. 
   Tôi cũng côn nhớ đến chị Quách Thị Thu Hương đến trại thăm chồng đem theo một đứa con gái còn nhỏ tuổi. Nhưng khi chị đến trại, chưa kịp gặp mặt chồng thì đêm hôm đó, chị ngã bịnh rồi chết luôn ở nhà thăm nuôi. Chị đã thay chồng nằm an giấc ngàn thu trong nghĩa trang của những người tù cải tạo chăng? Tôi không nhìn thấy , nhưng đã nghe thấy những chuyện đau thương, chẳng hạn có người vợ hiền lặn lội đi thăm chồng cải tạo miền Thanh Hoá Nghệ Tĩnh, đến nơi chỉ còn gặp nấm mồ của chồng mới chôn, chị đã cắt tóc rải lên nấm mồ trước khi ra về, cũng như chuyện một người vợ khác đào huyệt lấy xương của chồng đem về miền Nam chôn cất…
   Và tôi nhớ… Tôi nhớ đến biết bao người vợ hiền, chung thủy, đã vượt đèo trèo suối, gồng gánh, xách mang trên những nẻo đường rừng xa tắp, lên thăm chồng trọn tình nghĩa phu thê, chỉ cốt đem lại một chút thức ăn, mong chồng đủ sức tiếp tục cuộc sống tù đầy để một ngày kia còn có hy vọng gặp lại được vợ con.
   Tôi đến đất Mỹ này chẳng còn gì, ngoài một lòng sắt son khi cầm bút, với chí hướng một dạ thủy chung với những người bạn còn sống hay đã chết; và một hoài bão nhỏ nhoi : Làm thế nào để không còn những cảnh đau thương như vậy nữa trên trái đất này.
15/12/1992.
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.           



TRÙNG DƯƠNG ƠI!

 

 Trần Mộng Tú

                                                    TRÙNG DƯƠNG ƠI!

 

                                                   “Gửi Thái, Thiết, Vân, Frank và mùa Hè ở Bandon.”

 

 

    Nguyên ngày hôm qua biển rất hiền, biển nói khẽ, biển thở nhẹ nhàng, biển mở mắt ra, biển nhắm mắt lại, biển an hòa. Sóng xô như gió thổi nhẹ trên cánh đồng mạ xanh, sóng mềm như mi mắt người tình, bọt sóng như một chuỗi hạt trai dài vô tận.

Tám bàn chân từ xa rủ nhau đến, gọi hai bàn chân bạn. Mười bàn chân cùng chạy về phía biển.

 Những bàn chân đi bên cạnh nhau, lúc dang xa, rời rạc, riêng tư, lúc chập vào nhau ríu rít. Ngửa mặt, nhìn trời, mây trắng nõn từng cụm trên nền xanh biếc. Mây uốn lượn, thay đổi hình dáng, vẽ bức tranh vân cẩu. Cúi xuống, nhìn sóng nước. Chao ơi là đẹp! Biển êm như tấm chăn vừa tung ra; sóng nhẹ, đánh lên bãi như sữa đổ; cát mịn như da thịt thanh xuân. Có tiếng ai hỏi:

 

   –   Muốn đến Hoàng Sa đi lối nào?

 

   –   Cứ đi thẳng hướng tây.

 

  –   Nghĩa là cứ dẫm lên sóng nước, cứ băng qua mầu xanh mênh mông này?

 

  –    Đúng.

 

–          Không phải đâu, đừng nghe, cứ rẽ về tay phải, hướng bắc.

 

Một giọng khác cất lên:

 

–          Hay mình rẽ trái, về hướng Nam đúng hơn.

 

–          Tốt hơn về nhà, vào Map Quest. Điểm khởi hành là Bandon, Oregon- Mỹ, điểm đến là Hoàng Sa, Việt Nam.

 

 Ngập ngừng một chút, tiếng ai chen vào:

 

–          Có chắc không, coi chừng gây lúng túng cho Map Quest, Hòang Sa, bây giờ thuộc Trung Quốc chứ.

 

         Im lặng, chỉ có tiếng sóng đánh nhẹ lên những bàn chân. Một tiếng nói thật khẽ lại cất lên:

–          Nhưng vào Map Quest rồi, biết đường rồi, có về tìm lại không?

 

Không thấy ai trả lời. Những bàn chân cứ bước song song với biển và tiếng trả lời cứ giữ trong lòng.

 

 

  Cứ thế mà đi trên bãi, những dấu chân mờ dần trong cát theo buổi chiều đang xuống.

 

Những bàn chân của kẻ xa xứ, đang in dấu trên cát của bên này bờ đại dương, trong cái an vui bè bạn, vẫn có cái ngậm ngùi riêng mang. Mỗi hồn vọng ra biển, về phía bên kia bờ, một cách khác nhau.

 

 Đêm về, biển gọi bằng những tiếng còi hu…hu…hu…từ Light House (Nhà hải đăng) suốt đêm. Nằm nghiêng nghe biển gọi, ôm sóng đầy lòng. Sóng không hiền nên mi mắt không khép lại trong đêm. Trở dậy uống ly nước lọc. Chao ôi! Làm sao uống được trùng dương vào lòng.

Ngôi nhà nằm song song với biển, đêm tĩnh lặng, không trăng, dán mắt vào khung kính cũng chỉ nhìn thấy những mái nhà như những vòm nấm khổng lồ, trải dài phía biển. Đêm như những miếng thạch đen, cắt vụn ra từng miếng.

 

Biển sáng nay thức dậy hung hãn, sóng đổ những tiếng gầm nghe xa như tiếng sấm. Rủ nhau xuống bãi xem mặt trời lên. Vừa đi vừa xăm xoi nhìn dấu vết tinh khôi đầu ngày mới in xuống, nào hay, đã có những dấu thức dậy sớm hơn mình: Dấu bàn chân trần đủ năm ngón và gót lõm xuống cát, bàn chân là dấu vết bước vào đời nguyên thủy mong manh đầu tiên của con người; dấu gót giầy thể thao khỏe mạnh vẽ những vạch uốn lượn, vững chắc; dấu chân ngựa tròn cái vết móng sắt in sâu một cách tự tin; dấu lượn vòng của lốp xe đạp, như một trò chơi trên cát; dấu chân chó to, nhỏ, gần gũi, thân mật; nhưng ngoạn mục nhất, nhiều nhất là dấu chân của bầy chim biển, chúng thanh mảnh, như những cái tăm. Mới nhìn xuống, tưởng như ai tinh nghịch vừa vứt tung ra một nắm tăm tre trên bãi. Nhìn một lúc, thấy cũng giống như vết cào xước trên lưng cát. Dấu chân chim nhiều lắm. Sóng chưa kịp kéo đi hết, đàn chim lại sà xuống in những dấu chân mới. Biển là thế giới của hải âu. Chúng sống và chết với sóng, với cát. Suốt dọc dài của biển, thỉnh thoảng lại gặp một xác hải âu, chúng chết thế nào, cách nào, ai biết. Chỉ thấy cái chết  của chúng thảm quá! Sóng đánh xác vào tận trong bãi, đã bốc mùi. Cánh rời ra từng chiếc, rải rác trên bãi. Nhìn xác chúng, khó hình dung được khi còn sống, những cánh chim bay là là trên mặt nước xanh, nô đùa với sóng là đề tài cho bao nhiêu bài thơ, bản nhạc, bức hình, tranh vẽ. Những cánh chim đó còn bay vào trong kỷ niệm của những mối tình.

Rồi những con dã tràng nhỏ xíu, chạy thật nhanh, trốn thật nhanh, khi ẩn, khi hiện, không làm sao bắt kịp chúng. Chúng xây lâu đài trên cát như loài người xây mộng  lớn, mộng con trong đời. Cũng mong manh, cũng xụp lở, cũng tiếp tục xây lại từ đầu.

 Trên bãi còn những thân cây nằm ngang dọc, chúng gẫy đổ ở rừng nào, ai biết được! Chỉ biết chúng trôi dạt ra biển, sóng kéo vào bờ. Chúng mất gần như hết lớp áo mặc ngoài, chúng bị sóng vùi dập, sóng soi mòn, chúng không còn giữ được cái vẻ nguyên thủy của cây nữa. Đôi khi trông chúng giống như một bông hoa biển khổng lồ, đôi khi như vòng tay âu yếm của người mẹ, hay cái đầu ngơ ngác, thất thần của một con vật không rõ hình, ở quá lâu trong nước biển.

 

Biển hôm nay không hiền nữa, biển đang nổi cơn giận dữ. Vừa đi song song với biển vừa nghe như một nỗi đe dọa phủ chụp xuống mình. Nhìn con sóng dâng cao, đứng thẳng, rồi đổ xuống một tiếng rầm, những bàn chân chùn bước lại. Đứng lui vào trong, tránh sóng tràn lên, để rồi chạy không kịp, vẫn ướt gần qua đầu gối. Nhìn ra ngoài khơi, không thấy tỏ đường chân trời. Biển khuất lấp một phần, bởi sương phủ kín từ xa, kéo thẳng một hàng song song với mặt biển; sóng dâng cao, tới tấp, trắng xóa đánh vào bờ, hóa thành một bức tranh với mầu xanh của nước ở giữa, mầu trắng của sương và của sóng cùng ôm hai bên.

 

 Ai đó lại chỉ tay ra biển, lên tiếng:

 

     –  Tưởng tượng đi, tưởng tượng một chiếc thuyền mong manh, với hai, ba chục người. Già có, trẻ con có, đang kêu khóc, vật vã trên đó. Làm sao mà không chìm, làm sao mà bơi qua đầu ngọn sóng, để sống còn.

 

  –  Có đấy, có người Trời cứu, sống còn. Nhưng họ nói, đến chết không bao giờ dám nhìn biển nữa.

 

Câu thơ của Vũ Hoàng Chương được một người đọc lên:

 

        Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

        Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh

 

 Rồi một người khác tiếp theo:

 

        Biển vô tận xá gì phương hướng nữa

        Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh.

 

  Lạ thật đấy! Thi sĩ có phải tiên tri đâu mà làm câu thơ cho vận vào cả một dân tộc như vậy.

 

–          Dân tộc mình bị vận từ thời trứng nước. Khi không cha mẹ chia tay, người đem con lên núi, người mang con xuống biển. Rồi bặt tăm, chẳng quay đầu nhìn lại nhau. Cha mẹ không nhìn nhau, nên con cháu, tàn sát nhau không thấy động tâm, không thấy rung lòng.

 

Im lặng, chỉ có tiếng sóng trả lời. Những bàn chân vẫn bước song song với biển.

 

Những ngày ở biển, có hôm sóng hiền hòa, có hôm sóng giận giữ. Nhưng bầu trời lúc nào cũng trong xanh và mây trắng từng mảng lững thững trôi, những đám mây vô xứ.

Những bàn chân vẫn sáng, chiều, rủ nhau ra bãi. Bước song song với biển, nghe sóng đánh trong lòng. Họ vừa đi bên nhau, vừa nói chuyện văn chương, chuyện quê nhà, quê người, chuyện sông, chuyện biển.

 Vừa đi vừa ngửa mặt nhìn trời xanh, mây trắng, rồi lại nhìn đường chân trời giáp với biển, tưởng tượng quê hương mình ngay đó, ngay cái ngấn mênh mông trời nước đó.

 

    Chia tay, người ở lại với biển. Sáng, chiều nghe sóng động một mình, đuổi theo mây trắng trên trời một mình.

 

 Người về hồ, lặng đứng nhìn những chiếc thuyền nhỏ đang lũng thững dăng buồm, trôi hiền hòa trong dòng nước êm ả không một tiếng động. Câu hát nào từ một cõi xa xăm bỗng vọng về:

 

“ Trùng dương ơi, có xót xa cũng hoài mà thôi!” (*)

 

 

 tmt

 Tháng 9/09

 

(*) Ngày Đó Chúng Mình- Phạm Duy

 




Ngọc Thiên Hoa : QUÊ HƯƠNG TÌNH YÊU VÀ NỖI NHỚ VỚI NHỮNG HẠT NGỌC TRẦM TÍCH

QUÊ HƯƠNG TÌNH YÊU VÀ NỖI NHỚ VỚI NHỮNG HẠT NGỌC TRẦM TÍCH

 Tác giả: Ngọc Thiên Hoa

  

Tâm hồn con người, trí tuệ con người "hồn không cày xới có ngày xanh rêu" vì "vườn hoang cỏ dễ mọc dày". Bởi vậy, ta thường nghe câu: "Văn ôn, võ luyện". Văn không luyện, võ không ôn đến khi nguy khốn chỉ khôn… đầu hàng!

Từ khi trở lại Nha Trang

.

con bọ ngựa chống kiếm" của Duyên Anh. Nó chả đả động đến con người nhưng làm con người chợt bình tỉnh. Chàng Synh "thiền" để mà "tĩnh" đến nỗi thấy cả "cành trơ" cục cựa "vuốt mặt". Tức tâm nhập vào cảnh trời đất rồi còn gì? Sao không chịu "tĩnh" tiếp cho "cành trơ" xuống tí nữa… "vuốt râu"? Khiếp quá! "Con bọ ngựa chống kiếm" của Duyên Anh lập tức chìm vào "mơ màng" rồi… thăng luôn! Dè đâu, Thủy Lâm Synh này ngông, bắt chước Lý Bạch lôi trăng (choàng trăng) đi dạo như bạn bè. Lý Bạch ôm trăng… vật xuống sông bơi để… uống nước sông thay vì uống rượu, tắc thở. Thủy Lâm Synh có chữ "Thủy" chống chèo nên thoát kiếp ma sặc nước bên hồ! Hú vía, anh chàng lỡ tay đánh rớt: "Vài dòng thơ vụng chợt rơi xuống hồ", ngông tập hai tới nơi !

.

Anh về có mộng bằng không". Mộng gì đây? Gặp cố nhân? Một kẻ xanh mồ, một em xa lạ phương nào, một em không dám nhìn… Tại sao vậy? "Mộng dưới hoa" đã trở thành cổ tích, dệt bản tình ca nữa làm gì! Người "em" của Thủy Lâm Synh "hóa bụi sang sông’. Người "em" của Nguyễn Thành Kim cũng qua cầu nhân duyên:

.

 

 

 

Photography > HDR (12  




Nguyễn Thị Thanh Dương : CHẠY ĐÂU CHO THOÁT.

CHẠY ĐÂU CHO THOÁT.

                               Nguyễn Thị Thanh Dương.

              

Có lúc giận nhau, lúc muộn phiền,
Vợ chồng là nợ cũng là duyên, 
Chạy đâu cho thoát, tìm đâu nữa? 
Đàn bà nào thì cũng…như em.

 

Tình cờ anh Tư Chuột gặp anh Ba, một người bạn cũ ở cây xăng, Anh Ba ngắm nghía anh Tư Chuột rồi thốt lên:

–         Chà, lâu mới gặp, từ ngày lấy vợ trông khác hẳn ra.

Tư Chuột giật mình, không biết mặt mũi mình có biểu hiện điều gì khác thường ? hay anh Ba chỉ nói một cách chân tình.?

–         Trông mày có da có thịt chẳng bù ngày xưa như thằng ốm đói. Chắc vợ mày mát tay lắm?

Tư Chuột cười, nửa nạc nửa mỡ:

–         Đời làm chồng cũng có vui có buồn bạn ơi…

Đổ xăng xong, Tư Chuột chào tạm biệt bạn lái xe về nhà. Hôm qua hai vợ chồng mới cãi nhau một trận, chuyện bé xé ra to, chỉ toàn là những nguyên nhân vớ vẩn. Con vợ anh thì nói dai, nói dài, anh hiền thì hiền nhưng cục tính chịu không nổi, thế là to chuyện.

Cãi nhau xong là tới màn hòa bình thân ái và lần sau lại cãi nhau tiếp, làm như đó là những gia vị chua cay, mặn ngọt của cuộc sống, không có không được.

Vẫn biết rằng hết giận lại thương, mà sao mỗi lần cãi nhau anh Tư Chuột thấy ghét cái bản mặt của vợ qúa. Nó giận mặt nó chảy ra như cục bột người ta ủ cho nở để làm bánh, nước mắt nước mũi sụt sùi, miệng thì không ngớt kể tội anh, nào là không thương vợ, không lịch sự với vợ, không chiều vợ.

Tư Chuột phải quát lên:

–         Cô nói nhiều qúa, hơn cả cái đài radio nữa , mà đài người ta còn ngừng nghỉ để quảng cáo, còn cô thì không, cứ xa xả bất tận…

Những lúc như thế anh bực mình tự trách mình sao cách đây 3 năm anh lại yêu nó, mê nó qúa trời? cái đôi mắt nhạt nhòe tùm lum nước mắt đó mỗi lần nhìn anh là anh cảm động bối rối. Cái miệng nói dai như đỉa đói đó anh đã từng ao ước được đặt lên một nụ hôn rồi có chết cũng đành. Còn cái tên Nguyễn Thị Bông của nó, hồi chưa cưới về, anh thấy đơn giản dễ thương, bây giờ những lúc gận hờn nhau chưa có cái tên nào quê mùa thô kệch đến thế.

Khi chưa tỏ tình anh chỉ sợ thất bại chua cay, cuộc đời không có nó thì sẽ vô nghĩa, vậy mà anh được nó đáp lại tình yêu, cưới nó, sống với nhau mấy năm nay, cuộc đời anh có ý nghĩa gì đâu?

Nó bước vào đời anh và làm đảo lộn mọi thứ trong cuộc sống của anh bấy lâu. Hồi chưa cưới nó hiền lành dễ thương, ăn nói nhỏ nhẹ, những ngày đầu sống chung nó đúng là người tình trong mộng, anh nói gì nó nghe nấy ngoan ngoãn như một cô em bé bỏng, mỗi tuần anh mang cái check lương về, nó lịch sự chẳng cần nhìn xem là bao nhiêu, và nói:

– Anh cứ để trong tủ cho em.

 Nên anh vẫn tiêu xài thoải mái như thuở còn độc thân, cà phê thuốc lá, bia bọt lai rai…

 Khi còn là người yêu, nó đã nói bằng tấm lòng thông cảm bao la:

–         Tiền bạc không thành vấn đề, miễn là mình thương nhau, cùng lo xây dựng hạnh phúc gia đình

Anh sung sướng đã gặp người vợ lý tưởng. Nhưng cưới nhau xong, chỉ sau một thời gian ngắn thì “người vợ lý tưởng” của anh đã biến mất. Cuối tuần anh chưa kịp đưa cái check lương ra thì nó hỏi huỵch toẹt:

–         Check đâu?

Rồi nó nhìn con số, hỏi tiếp:

–         Sao lâu quá chưa được lên lương? Anh sắp được interview lên lương nữa chưa?

Hoặc có lần nó hỏi:

–         Hãng anh có bonus mỗi quarter không?

Nó cũng làm hãng xưởng như anh nên rành lắm ba cái vụ này, anh khó mà qua mặt được nó.

 Rồi nó bắt anh dẹp bỏ checking account, không xài check book nữa

Mỗi tuần nó phát cho anh 10 đồng để tiêu xài …tùy ý thích ( dĩ nhiên là trong phạm vị 10 đồng). Nó nói mình phải để dành tiền mai mốt down nhà, sinh con, mỗi tuần mình chừa ít tiền mặt đủ đi chợ, tiêu dùng, còn bao nhiêu deposit vào bank, nếu để check book anh cao hứng xài bừa, không ai kiểm soát được.

Tư Chuột buồn bã than:

–         Em à hồi xưa má anh còn sống, anh ở với má, lãnh lương về biếu má ít tiền má còn không lấy, nói thôi con để dành mà xài. Còn em, người dưng nước lã bỗng nhảy vô đời anh với danh xưng “Người vợ” và bóc lột anh tới tận xương tủy.

Nó khẳng định:

–         Má khác, em khác. Mỗi người có một lý lẽ riêng.

Chưa hết, nó còn kiếm đâu ra khu apartment rẻ tiền. Hồi độc thân Tư Chuột xài sang, ở khu apartment đẹp, khang trang, nay lấy vợ, anh phải…xuống cấp ở khu chộn rộn lu bu để tiết kiệm hơn trăm đồng mỗi tháng.

Từ đây Tư Chuột biết là đời mình đã có chủ, ban đầu anh phản đối chuyện nó đưa anh 10 đồng một tuần, thì nó lý giải:

–         Mọi thứ khác như ăn ở em …bao hết rồi, còn đòi gì nữa?

–         Nhưng 10 đồng không đủ cho anh uống cà phê !

Thì nó nạt:

–         Mắc mớ gì anh phải ra tiệm uống ly cà phê cộng tiến típ thành 3-4 đồng? Để em ra chợ mua một hộp cà phê thượng hạng pha cho anh được mấy gallon tha hồ mà uống cả ngày.

Anh cố trình bày:

–         Em ơi, uống cà phê phải nhâm nhi từng giọt và nghe nhạc mới sảng khoái tâm hồn…

Nó cũng trình bày:

–         Anh ơi, nhà mình cũng có nhạc nè, và có cả em nữa nè…không đủ sao?

Thế là anh đành chấp nhận 10 đồng còn hơn là uống cà phê với nhạc và…em ở nhà.

Nó còn chủ trương hai vợ chồng không nên ăn nhà hàng, dơ thấy mồ, hồi mới đến Mỹ em làm phụ bếp nên rành lắm, mỡ màng, bột ngọt, hàn the…người ta xài thoải mái, miễn là ăn ngon và đẹp mắt, khách hàng bịnh ráng chịu. Cái bảng dán trong nhà bếp mỗi lần nhân viên đi restroom nhớ rửa tay, nhưng dường như để cho nhân viên vệ sinh của thành phố đến kiểm tra thì đúng hơn, vì chẳng ai có thì giờ nhớ tới điều nhắc nhở vệ sinh tối thiểu ấy, cứ việc làm đồ ăn, bưng đồ ăn cho khách mà chưa thấy ai thưa kiện bị đau ốm hay chết chóc gì cả.

Nên nó ra tay trổ tài làm món nọ, nấu món kia cho Tư Chuột vừa miệng để quên đi cái thói quen đi ăn nhà hàng từ thuở độc thân. Anh đã vô tròng dần dần cái luật lệ của nó hồi nào không hay, trước kia anh sống thoải mái, phóng khóang, ở phòng đẹp, ăn xài sang, lãnh lương check nào là bay luôn check đó, cuộc sống hoang đàng chưa ngừng nghỉ bao giờ cho tới khi anh lấy nó.

Bây giờ anh đã kinh ngạc khi nhìn thấy món tiền trong bank của hai vợ chồng kha khá, dù nhiều lúc bực mình anh cũng phải công nhận nó tính toán hay thật, chẳng cần tốt nghiệp trường đại học kinh tế, tài chánh nào mà nó biết tính toán, biết cách chi tiêu đâu ra đấy, có của ăn của để.

Anh Tư Chuột bước vào nhà, lòng dịu lại muốn làm lành với vợ, nhưng vừa thấy mặt anh nó làm mặt lạnh quay đi, anh đến gần, nó…né ra như sợ đụng phải lửa.

Cái điệu giận hờn này thì tối nay chắc cũng giống tối qua, hai người nằm quay lưng vào nhau, lạnh lùng xa cách như hai quốc gia chung một biên giới nhưng không có hòa bình.

Anh cụt hứng, cơn giận anh trở về vị trí cũ, anh vào bếp thấy nồi phở đang hầm trên bếp chắc là chưa xong. Cuối tuần nào nó cũng nấu món, không phở thì cơm tấm, bún riêu thay phiên nhau cho đỡ ngán. Nó nói trống không:

–         Chưa có phở đâu.

Nghe câu nói trống không anh Tư Chuột càng sôi gan, không thèm đáp lại, dù chỉ là một câu nói trống không “khinh người” như nó. Tư Chuộc lấy rổ quần áo dơ đem ra xe để đi giặt, mặc kệ nó mặt sưng mày xỉa ngồi nhà canh nồi phở, mà chưa chắc lát nữa anh thèm ăn, cho nó ế luôn.

Anh đi giặt đồ và tận hưởng chút hạnh phúc riêng tư, nghĩa là anh quẳng đồ vào máy giặt, trả công cho chủ vài đồng để họ sấy giùm. Trong thời gian đó anh sang qúan cà phê bên cạnh, ở đó có một mối tình cảm ỡm ờ, lơ lửng….

Như tất cả những người đàn ông trên cõi đời này, anh ngồi mơ màng bên khói thuốc lá, bên mùi cà phê thơm và ngắm các em nhân viên trong quán xinh tươi để tạm quên đi con vợ nhà. Đây là cái thú vui cuối tuần của anh, vì đời còn gì vui nữa đâu từ khi anh lấy vợ?

Trong quán cà phê có một cô em rất dễ thương, chẳng hiểu sao cô có vẻ cảm tình với anh, mỗi lần anh đến đây cô đều tiếp đãi tận tình, ưu tiên . Vì anh đẹp trai hay vì anh ngồi trầm ngâm bên ly cà phê hàng giờ để đợi quần áo xấy khô, cô em cà phê tưởng anh ngồi…trồng cây si cô nên cảm động?

Tư Chuột và cô thường chuyện trò qua lại, những lúc vắng khách cô còn ngồi cùng bàn với anh. Chuyện tâm tình ở quán cà phê rồi cũng bay đi theo khói thuốc lá, theo dòng đời.

Anh nghĩ thế nên cứ tặng nhau những nụ cười, những lời nói đẹp, lãng mạn tuyệt vời cho vừa lòng nhau.

Anh thấy mình trẻ ra, lòng tự ái anh được vuốt ve, con vợ ở nhà hành anh bao nhiêu, ra quán cà phê anh được cô em chiều chuộng bấy nhiêu. Dần dần anh thấy mến cô, những khi hờn giận vợ, anh tiếc rẻ nếu như còn độc thân thì anh sẽ chọn cô, sẽ cưới cô làm vợ.

Dưới mắt cô em cà phê anh vẫn là một anh chàng độc thân bay bướm.

Tuần trước anh bị một phen hú vía. Hôm đó là ngày thứ bảy, hai vợ chồng anh đi chợ Việt Nam , anh đẩy xe chợ theo chân vợ như một cái đuôi, anh có thích thú gì chuyện chợ búa đâu, nhưng nó bắt anh đi cho có đôi có cặp, cho mọi người thấy hai vợ chồng hạnh phúc.

Đến dãy bán gia vị, trong lúc vợ anh đang mải tìm mấy gói nấu bún bò Huế thì anh đứng ngáp ruồi nhìn ông đi qua bà đi lại. Bỗng anh giật mình khi thấy bóng dáng cô em cà phê vừa lướt qua, may qúa, cô không quẹo vào dãy này, nhưng anh cũng phải chuồn thôi, kẻo đụng độ tay ba thì con vợ anh sẽ ghen lên làm bể tung cả chợ và người tình cà phê kia sẽ đau khổ chừng nào !

Thừa lúc vợ không để ý, anh “bỏ của chạy lấy người”, nghĩa là anh bỏ xe, bỏ vợ đi như chạy, như bị ma đuổi ra khỏi chợ, mắt anh không dám liếc dọc liếc ngang, chỉ sợ gặp cô em cà phê, gọi anh lại thì cũng chết.

Ra tới bãi parking, chui tọt vào xe anh mới hoàn hồn, ngồi thở phào thoải mái, mặc dù anh biết rằng chốc nữa vợ ra sẽ giận dữ lắm.

Đúng như anh nghĩ, vợ anh đã sồng sộc đẩy xe chợ ra, chưa kịp bỏ đồ vào xe, nó nhào ra la anh trước:

–         Tại sao anh bỏ ra đây làm em kiếm anh khắp chợ mỏi cả chân?

Anh vờ nhăn nhó:

–         Nhức đầu qúa em ơi, anh cảm thấy choáng váng nên phải chạy ra đây ngồi nãy giờ mới tỉnh. Ôi, mà em lo gì, anh có là con nít đi lạc đâu mà em phải kiếm?

Nó tin lời anh, không la lối nữa, sau khi hì hục chất đồ vào xe, nó còn âu yếm bảo anh:

–         Anh chắc còn mệt, ngồi qua bên kia để em lái xe cho.

Hôm ấy anh thầm cám ơn hai người đàn bà, cô em cà phê đã không nhìn thấy anh và vợ đã tin lời nói dối của anh.

                                   ************ ***

Tư Chuột vừa ngồi vô bàn, như thường lệ cô em cà phê bưng ra một tách cà phê đen. Cô thủ thỉ:

–         Sao hôm nay anh ra trễ vậy?

Trời, cô đếm từng giờ để gặp anh sao? Anh cảm động qúa:

–         Sáng nay anh đi đổ xăng và rửa xe xong là tới đây gặp em nè.

Giọng cô nũng nịu:

–         Anh ơi, nếu anh thật lòng thương em thì…

–         Ờ…ờ …anh cũng thật lòng thương em mà.

–         Thì mình phải tính tới đi anh, không lẽ mỗi tuần mình chỉ gặp nhau một lần thôi sao?

Tim anh đập loạn xạ, không phải vì sung sướng khi được người đẹp tha thiết muốn chuyện lâu dài, mà vì anh sợ, anh đang bị dồn vào ngõ cụt, mối tình cà phê lơ lửng theo tháng ngày sắp đến hồi hạ màn.

Anh tìm cớ thối lui:

–         Nhưng em ơi, anh chỉ là một công nhân quèn lương không đủ sống nên chưa dám nghĩ gì.

–         Anh đừng lo, tiền bạc không thành vấn đề, miễn là chúng mình thương nhau lo xây dựng hạnh phúc gia đình.

Tư Chuột giật bắn người, câu nói này nghe quen quen, anh đã nghe rồi, thì ra từ miệng Nguyễn Thị Bông lúc hai người đang tìm hiểu, chưa cưới nhau.

Cách đây 3 năm anh  đã nói câu này với Nguyễn thị Bông, với tất cả chân tình để mong nó thông cảm, chịu lấy anh. Và hôm nay anh cũng nói ý đó để mong cô em cà phê chê anh, chán anh, cô rút lui cho được việc, để anh có cái thú đau thương của mối tình dang dở, có cớ hờn trách cô, nhưng ai ngờ cô lại nói y chang câu vợ anh đã nói.

Anh hồi hộp hỏi cô em cà phê:

–         Em có họ hàng gần xa gì với Nguyễn Thị Bông không?

Cô cà phê ngạc nhiên hỏi lại:

–         Nguyễn thị Bông nào? tại sao anh lại lôi cô Nguyễn thị Bông vào đây?

Anh thở ra nhẹ nhỏm:

–         À, hồi nào tới giờ anh thấy em giống như chị Nguyễn thị Bông, là vợ của thằng bạn anh ấy mà, bây giờ anh chợt nhớ ra nên hỏi em vậy thôi

Cô cà phê âu yếm mắng yêu anh :

–         Vô duyên, người ta đang bàn chuyện tình cảm mà hỏi câu lãng xẹt. Anh có muốn tính tới chuyện chúng mình không nào?

Anh mắc nghẹn chưa biết trả lời sao thì lúc đó trời cứu anh, có vài người khách vào cô phải ra bán hàng. Anh nhìn đồng hồ đã hơn một tiếng qua rồi, chắc đống quần áo ở tiệm đã xấy xong, anh liền ra quầy trả tiền cô em cà phê và để lại một câu chẳng liên quan gì đến câu hỏi lúc nãy của cô cà phê:

–         Anh về nghe. Trời coi bộ muốn mưa rồi.

Anh biết chẳng bao giờ anh tới đây nữa, vì anh không thể trả lời câu hỏi của cô. Và cũng nhân dịp này anh phát hiện ra một chân lý: “Đàn bà nào cũng giống nhau” Bằng cớ là cô em cà phê đã nói câu y chang vợ anh đã nói, hiền dịu, tử tế biết bao, rồi bây giờ vợ anh đã thay đổi nhanh như con tắc kè đổi màu. Thì dù anh có còn độc thân, có cưới cô em cà phê chăng nữa, chẳng sớm thì muộn, cô lại quản lý toàn diện cuộc đời anh như vợ anh bây giờ. Chạy đâu cho thoát?

     Vợ anh quản lý hiệu qủa trông thấy, tuy đời anh bị mất tự do nhưng tiền bạc có dư, cơm nóng canh ngon đầy đủ, anh không phải lêu lổng đi ăn hết nhà hàng này đến nhà hàng khác như ngày còn độc thân, và nhất là vợ thương anh thật lòng, tất cả những vụ cãi nhau, chung quy nó đều hờn trách anh không quan tâm đến nó, không yêu thương nó nhiều như nó đã yêu thương anh. Thôi thì anh cứ an phận trong vòng tay vợ cho chắc anh, tiếc rẻ gì mối tình qua đường trong quán cà phê!

Lát nữa về tới nhà anh sẽ làm huề với vợ, sẽ ăn tô phở ngon lành. Nghĩ tới đó, Tư Chuột vừa lái xe vừa reo lên một cách sung sướng:

–         Nguyễn Thị Bông, anh đang về với em đây. Em vẫn là người vợ lý tưởng của đời anh. 

Nguyễn Thị Thanh Dương




Phùng Nhân : HẦM CÁ VỒ VỚI MARY

HẦM CÁ VỒ VỚI MARY


Phùng Nhân

 

ASau những năm học trung học ở xứ Úc Châu nầy, anh bắt đầu ăn quen với những cái bánh Mc Donald, hay KFC mà họ quảng cáo đầy đường, nên cái tuổi như anh ăn vài lần thì bén mùi bén vị.

Rồi anh nghỉ học, đi làm như bao nhiêu người khác hiện đang tạm cư ở đây. Bởi tiếng Anh một khi học nó hết vô rồi, cho dù có nhồi nhét bao nhiêu cũng đều quên hết. Nhưng rồi sức vóc mỗi ngày một lớn, việc đòi vợ cũng là một việc hết sức tự nhiên của con người. Nhưng ai đã từng sống ở nước Uùc vào những năm 1975 cho tới năm 1985, thì mới thấy việc lấy được một cô vợ Việt Nam đâu phải dễ. Có khi chỉ có một đứa con gái, mà có tới cả chục thằng giành. Mấy ông già nào ở vào thời đó, nếu may mắn có được một đứa con gái, thì  sẽ được mấy đứa thanh niên vác bia tới nhà mời “bác” nhậu vậy thôi mệt nghỉ…

Trong khoảng thời gian đó, mấy đứa thanh niên người Việt tỵ nạn tới tuổi muốn vợ cũng không biết lấy ai, thôi thì lấy đại một con vợ Úc hay thổ dân cho rồi. Chớ còn muốn lấy con gái Việt Nam, thì biết ở đâu mà kiếm!

  Cũng chính vì niềm đau thầm kín đó, mà cậu Mai Cồ Tửng phải đành lấy vợ Úc, cho nên gặp cảnh ngôn ngữ bất đồng. Nhưng được có cái con nhỏ nầy nó cũng chẳng so đo, nhờ vậy mà cuộc sống của gia đình cũng ấm êm hạnh phúc.

Cái ngày mà hai đứa quyết định sống chung vô cùng quan trọng, con Mary nó bắt buộc Mai Cồ Tửng phải tiến hành thủ tục như Tây. Là hai đứa phải dắt nhau ra ngòai Park, rồi nó ngồi dựa ngữa trên một cái ghế đá công viên, còn anh ta thì qùy gối đầu cúi xuống đất để xin được cưới em và đeo nhẩn. Thủ tục như vậy mà cũng rầy rà, bởi thằng con trai mà qùy gối cầu hôn, thì sau nầy thế nào cũng mang trong người chứng bịnh sợ vợ suốt đời là cái chắc.

Thế rồi trong năm nay má anh gởi thơ qua thúc giục biểu về, để cho bà được gặp mặt con dâu, thì bà mới yên lòng mà nhắm mắt mà lià xa dương thế. Cho nên anh phải quyết định dắt Mary về Việt Nam thăm lại mẹ già. Cũng chính vì thế mà anh đi mua vé máy bay không một chút đắn đo. Trong khi đó thì khối cộng đồng người Việt hải ngoại hiện giờ lên án rất gắt gao, cho rằng những người đi du lịch về Việt Nam là đã phản bội lại quốc gia dân tộc. Chớ họ có biết đâu rằng, đã là con người sinh ra, thì làm sao quên được quê hương nguồn cội của mình, thì việc trở về thăm lại mẹ già, đó cũng là một điều nói lên tấm lòng hiếu thảo của một người con.

Trước khi đi thì Mai Cồ Tửng có mời bạn bè lại nhà để làm một tiệc tẫy trần. Có người khuyên anh nên để dành tiền gởi về cho bà gìa xài, hoặc cất nhà hay mua xe cộ thì lợi hơn, chớ còn đi về bển trở qua rồi hối hận. Bởi vì ngoài tiền vé máy bay ra, sẽ còn vô số tiền phí tổn khác nữa…

Trong một bữa tiệc vui đang hồi bốc khói, bởi hơi Beer đang phả kín một vùng, thì thằng Tấn Bộng đang làm chung một hãng với Mai Cồ Tửng cất tiếng hỏi:

– Vậy chớ mầy có đánh điện về Việt Nam, biểu bà gìa làm sẵn cai Toilet cho vợ mầy chưa? Chớ còn tụi đầm mũi lỏ mắt xanh nầy, thì nó làm sao đi cầu trên hầm cá vồ cho được. Lạng quạng thì nó bị cá vồ táp rụng lông háng như chơi, cả vùng Cái Bè của mầy tao biết hết, tìm đâu ra được một cái Toilet trong nhà. Chi bằng mầy đánh điện về bên đó, biểu lo làm trước để sẵn đó đi, chớ đợi tới mầy đem con vợ đầm về tới xứ rồi, thì việc ỉa đái cũng rất là phiền phức.

Mai Cồ Tửng cười ruồi, rồi đáp nhỏ:

 – Bữa nay cận quá, có làm cũng không kịp. Về tới bển có kẹt quá, thì tao cho bả đi bô, hay là tao biểu bà chị của tao, làm ơn dắt con Mary tập đi cầu cá vồ dùm tao chắc được.

Cả bàn tiệc cưới lên như đàn ong vở tổ. Thằng Tấn Bọng nói tiếp:

– Tối nay mầy phải sinh hoạt trước với bả, là bên xứ của mầy hiện nay bà con mình còn đi cầu trêân hầm cá vồ, chớ khôâng phải như ở bên nây, đi cầu tiêu máy xong rồi bấm nút xả nước là xong. Còn đi cầu cá vồ khi ngồi xuống, rặn xong thì phải coi chừng, mấy con cá thấy cái đít của vợ mầy trắng quá, tụi cá giành coi rồi quẩy nước văng lên, biểu nó phải liệu hồn mà xách cái quần đứng lên cho kịp lúc…

Mai Cồ Tửng bưng ly Beer lên hớp, rồi để xuống nói:

– Tao đã dạy cho bả nhiều thứ lắm, nhứt là tiếng Việt. Nhưng bình thường khi nói chuyện với tao, có lúc bả nói nghe cũng được. Tao chỉ sợ khi đụng chuyện, bả xổ toàn là tiếng ăng lê khôâng quá…

Vợ Mai Cồ Tửng là Mary nghe lén được, bèn nói:

– Cám ơn mấy ông anh đã có lòng tốt lo cho em. Nhưng anh Tửng đã lo cho em nhiều thứ lắm, thương chồng em phải lụy cùng chồng. Mắm nêm mà em còn ăn được, thì hà tất gì đến việc đi cầu cá vồ. Khôâng chừng tới chừng đó, em còn thích thú nữa là khác.

Cả bọn cười ồ lên, rồi đồng thanh bắt buột mỗi thằng phải uống cạn một lon, để ăn mừng văn hoá chồng chuá vợ tôi của mình còn được phát triển trêân nước Úc. Càng về khuya, tiếng mở nắp Beer nghe lắt cắt nhiều hơn là tiếng nói. Những lon Beer khôâng xếp lớp trong thùng, đã tạo ra một bầu khôâng khí vô cùng thân thiết, cho những người đã lìa bỏ xứ sở quê hương. Ông thì say mèm ngồi gục tới gục lui, ông thì âm thầm lấy chìa khóa ra mở cửa xe vọt lẹ.

Đợi cho mọi người ra về hết. Mai Cồ Tửng lo dọn dẹp lại bàn ăn. Bởi người Việt Nam mà lấy vợ Úc, thì kể như mọi việc trong nhà đều do thằng chồng làm hết. Còn con vợ đầm, thì nó chỉ có việc nằm đó phơi nây chờ Sex, chớ đời nào mà nó chịu dọn dẹp như người đàn bà Việt Nam bổn xứ của mình, mỗi khi trong nhà có mở ra đám tiệc. Căn nhà về khuya cũng lặng lẽ âm thầm, khi sương khuya bắt đầu nặng hột. Mai Cồ Tửng nằm xuống thì ngủ một giấc mê mang, còn Mary thì đang lo lắng trong lòng. Bởi cô ta đã nghĩ, chỉ còn có một tuần lễ nữa thì sẽ về tới Việt Nam, một đất nước mà chiến tranh đã xảy ra trên hai mươi năm mới vừa chấm dứt. Liệu rồi đây, mấy người chánh quyền ở đó, họ sẽ nhìn những người như cô ta bằng cặp mắt như thế nào. Nhưng rồi cô ta cũng phải đi thôi, bởi đó cũng là tiếng gọi thiêng liêng, của đạo vợ chồng mà cô ta đã vừa nếm trải.

 

                                                                            ***

 

Sau những ngày chờ đợi, thì hai vợ chồng Mai Cồ Tửng cũng ngồi trêân chuyến bay Qantas đi từ phi trường Sydney về thẳng tới Việt Nam. Khi chiếc máy bay vừa quay mũi hướng ra biển thì cũng được nửa đường, nên mấy người chiêu đãi họ lo cho bữa ăn trưa, khiến cho mấy trăm hành khách trêân chuyến bay bắt đầu thức giấc. Mary và Mai Cồ Tửng tự nãy giờ đã bàn tính với nhau rất nhiều chuyện gia đình, chẳng hạn như con dâu khi gặp bà gìa chồng thì phải làm sao, chớ không phải như ở cái xứ Úc Châu nầy, chỉ cần nói Hello thì kể như xong cái màn thưa thốt. Nhưng Mary trong dạ vẫn lo âu, bởi những hình ảnh người phụ nữ Á Đông ăn trầu, và cái đầu bới tóc làm cho cô ta hơi ngờ ngợ.

Rồi chiếc máy bay cũng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn một cách bình an, sau đó thì mọi người hành khách lật đật bước xuống cầu thang, leo lên chiếc xe Bus đang đậu sẵn để chạy vào ga trình giấy tờ xong rồi đứng sắp hàng chờ nhận hành lý.

Đây là lần đầu tiên Mary mới chứng kiến cái cảnh nầy, mọi người ai nầy cũng sắp hàng rồi móc cuốn sổ Passport cầm tay, nhưng phần đông họ đều có nhét một tấm giấy $10 hay nhiều hơn vào cuốn sổ Passport tùy theo hoàn cảnh mỗi người đang đứng sắp hàng chờ đợi. Trong số nầy lại có Mai Cồ Tửng cũng phải bắt buộc làm theo, bởi số phận người Việt Kiều vượt biển năm xưa, bây giờ chánh phủ Việt Nam họ đang dụ khị nâng lên là khúc ruột xa ngàn dặm trở về, nhưng đâu có người nào không sợ công an, khi nhìn thấy gương mặt của họ hầm hầm tỏ ra không thiện cảm.

Mary đứng nép sau lưng chồng một hồi, rồi cái hàng dài cũng lần lượt tới phiên. Người công an hải quan kiểm soát phi trường, sau khi lật cuốn sổ Passport ra thấy tấm giấy $20 thì ông ta lật đật đùa xuống nằm yên trong hộc bàn. Sau đó ông ta lại ngước lên mỉm cười, rồi hướng dẫn Mai Cồ Tửng điền thêm những ô còn trống. Có lẽ ông ta cũng hơi ngạc nhiên, khi thấy cái ông Việt Kiều nầy nhỏ con, vậy mà lấy được con đầm cao lớn chưn dài nầy cũng lạ…

Khi hai vợ chồng anh vừa bước ra khỏi phi trường, thì cơn nắng miền nhiệt đới dội xuống như một chão lửa than, làm cho Mary thấm mệt. Bởi không quen với khí hậu như vầy, nên Mai Cồ Tửng vẩy chiếc Taxi, rồi biểu tài xế chất valy lên cốp xe, sau đó biểu chạy về khách sạn Hữu Nghị tại bến Bạch Đằng.

Qua ngày hôm sau thì Mai Cồ Tửng đi ra sở bưu điện đánh điện tín về huyện Cái Bè để báo tin cho bà già ngày mai anh về đến. Suốt đêm hôm đó, làm cho anh thao thức trong giấc ngủ chập chờn, khi anh nhớ lại từng con đường làng dẫn vào vườn cây rợp bóng. Ở nơi đó, ngày xưa đã có những con trâu nghé chạy giỡn tung tăng dưới cây rơm còn thơm mùi rạ mới. Bây giờ biết có còn không, bởi đã trải qua bao nhiêu năm vật đổi sao dời. Trong phút giây bùi ngùi, làm cho anh nhớ nôn nao. Vì anh đã bó xứ ra đi kể ra cũng hơn 10 năm trời rồi chớ đâu có ít…

Sáng bữa sau thức dậy, Mai Cồ Tửng nghe nơi vùng thái dương hơi nằng nặng. Anh dắt Mary xuống Canteen uống Café và ăn điểm tâm. Mùi Café Buôn Ma Thuột tỏa ra thơm ngát một vùng, hình như trong hương vị còn nồng mùi đất đỏ cao nguyên, còn thơm muì mồ hôi dầu dải của người dân sơn cước. Mary sau khi hớp vài ngụm Café, rồi hỏi:

– Café nầy họ nhập cảng ở đâu về mà ngon quá vậy anh?

Mai Cồ Tửng đáp với vẻ tự hào:

– Café nầy là thổ sản của quê hương anh. Đâu Mary thử so sánh, coi có bằng của tụi Brasil không?

Mary hớp thêm một ngụm nữa, để nó thấm qua đầu lưỡi một hồi rồi nói:

– Café ở đây ngon hơn Café Brasil nhiều. Vị nó thơm mà dịu chớ không chát. Như vậy thì tại sao họ không xuất cảng ra bên ngoài thế giới hả anh?

Đây là một câu hỏi bất ngờ, nên Mai Cồ Tửng ậm ừ một hồi rồi nói:

– Hôm trước đọc báo. Anh nghe nói có hãng Café Trung Nguyên trụ sở ngoài Buôn Ma Thuột, cũng đang xin thủ tục xuất cảng nhưng không biết đến bao giờ mới xong.

Rồi anh ta nhìn xuống đồng hồ đeo tay, đoạn ngước lên giục:

– Nhanh lên đi Mary. Trễ lắm rồi, trả phòng xong thì mình nhờ bồi phòng kêu dùm một chiếc Taxi. Chớ từ đây về tới huyện Cái Bè, mình đi xe đò thì không tiện…

Trên đường đi từ Sài Gòn ra tới Phú Lâm, Mary thấy cái gì cũng lạ. Dân chúng họ cỡi xe Honda chạy trên đường như mắc cửi, chiếc nầy muốn đụng chiếc kia, vậy mà trên gương mặt của họ vẫn thản nhiên chớ không có gì là sợ hãi.

Chiếc máy chụp hình hiệu Canon được Mary đưa lên bấm liên tục, nhưng khi chiếc xe vừa chạy tới huyện Thủ Thừa thuộc tỉnh Long An, thì cô ta lại reo lên trong niềm vui thích thú, khi thấy một người nông dân đầu đội nón lá tơi, đang đánh cặp trâu cổ đi vòng quanh trên đụn lúa. Mary day qua Mai Cồ Tửng hỏi:

– Vậy chớ họ đang làm gì, mà đánh cặp trâu đi vòng tròn vậy anh?

Mai Cồ Tửng mỉm cười, rồi đáp:

– Người nông dân họ đang đánh trâu đạp lúa…

Mary nói với vẻ ngậm ngùi:

– Thời buổi nầy sao chánh phủ Việt Nam, không cải tiến nông nghiệp cho nó được tiến bộ hơn. Chớ còn bắt ông già, dang nắng như vầy mà năng xuất có được bao nhiêu!

Xe chạy thêm một đoạn đường nữa, bỗng nhiên có một hình ảnh hiện ra trước mắt làm cho Mary rất đổi xốn xang. Đó là một cảnh của hai vợ chồng nông dân, họ đang ngồi ăn cơm trong chòi vịt đã căng lên bằng tấm Nylon nơi mé lộ. Trong chòi vịt đó, đã có nhốt khoảng vài trăm con. Bộ lông ức vừa mọc ra lúng phúng, chung quanh được bao lại với những tấm liếp bện bằng phên tre vuốt mỏng, để giữ cho đàn vịt khỏi bị sút chuồng. Ông chồng ngồi ăn cơm trông mệt mỏi, có lẽ họ đang lo tới bầy vịt nầy khi nuôi lớn chừng một tháng nữa bán có lời hay không. Còn bà vợ thì ngồi thản nhiên, vạch vú ra cho con bú. Thằng nhỏ trong khẳng khiu, da nám đen nhíu lại nhưng chắc cũng hơi lớn tháng. Mary quay qua hỏi nữa:

– Họ sao trông khổ quá vậy anh? Đứa bé sao không gởi trong nhà trẻ, mà phải bồng theo dang nắng như vầy, và nó nút như vậy thì còn gì vú móm của người mẹ?

Mai Cồ Tửng buồn bã nói:

– Chắc gia đình đơn chiếc. Tháng nầy ai nấy cũng ra đồng, nếu đem gởi con, hay mướn người ta giữ thì tiền đâu mà trả. Bởi cái xứ nầy còn nghèo lắm em ơi!

Mary chặc lưỡi, than:

– Tội quá hả anh. Bên nước Úc Châu của mình, một con hưu con, một ngày tiêu chuẩn của nó là 16 lít sữa tươi, đó là chưa nói tới mấy thứ phí tổn khác…

Chiếc xe vẫn chồm lên lướt qua những ổ gà, quốc lộ 4 nầy là huyết mạch nối liền từ vùng Hậu Giang lên tới Sài Gòn. Tuy chính quyền hiện nay, có nới rộng ra, có tu sửa thêm nhiều chỗ. Nhưng hiện thân của nó, cũng là con đường quốc lộ ngày xưa. Nghe nói chánh quyền, đang có dự án để nâng cấp nó lên thành xa lộ…

Trong lòng Mary đang hổn độn, vừa thương cho đất nước Việt Nam sau hơn 10 năm thống nhứt chấm dứt chiến tranh, vậy mà đời sống của dân chúng cũng vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Mai Cồ Tửng vẫn nhắm mắt, dựa đầu vào nệm ghế. Thỉnh thoảng anh ta cũng hé mắt ra nhìn lại đất nước sau mười năm xa cách. Tình trạng vẫn y nguyên, có khi còn tồi tệ hơn nữa là khác.

Mary để yên cho chồng nằm nhắm mắt. Chị ta bắt đầu nhìn đất nước Việt Nam qua lăng kính của bà đầm. Khi chiếc Taxi chạy tới xã Tân Hội, ranh giới Mỹ Tho – Long An thì dưới ruộng nước có một bầy trâu và vài con nghé, xa xa còn có vài cánh cò bói cá thật nên thơ. Trên lưng trâu đưá bé trạc 12 tuổi ngồi vắt vẻo với chiếc roi tre, đầu đội cái nón đệm rộng vành bẻ cúp xuống bít phần gương mặt. Thích quá, Mary đưa máy hình lên bấm. Hy vọng đây là một tấm hình đồng quê sống động, mà cô ta đã từng mơ ước, xem đó là một tác phẩm nghệ thuật của mình. Bởi ở bên nước Úc chỉ có xa lộ và đồi núi mênh mông, chớ làm sao nhìn thấy một đứa trẻ đang ngồi trên lưng trâu trông nhàn nhã.

Khi chiếc xe Taxi vừa chạy tới thị trấn Trung Lương, Mai Cồ bừng tỉnh mắt. Anh ta biểu tài xế Taxi tốp lại, rồi anh hỏi Mary có muốn đi tiêu, tiểu gì không. Bởi đã ngồi trên xe Taxi tới mấy giờ đồng hồ rồi, chắc bây giờ cũng đang tới cử.

Nhưng Mary lại lắc đầu, chiếc xe Taxi tiếp tục chạy trên quốc lộ. Hai bên vườn cây, ruộng lúa lùi dần lại phía sau như một cơn sóng chạy dài. Khi chiếc xe chạy ngang qua huyện lỵ Cai Lậy, làm cho Mai Cồ Tửng nhớ lại ngày xưa. Trong lúc anh ta còn đang học bậc tiểu học ở đây, thì bỗng dưng có một trái hoả tiển 22ly không biết từ đâu bay tới, rồi nổ một tiếng long trời, làm cho học trò, cô thầy giáo lớp chết lớp bị thương không biết bao nhiêu mà kể!

Chiếc xe Taxi vẫn chạy với tốc độ đều đều, khi qua khỏi cầu Bà Tồn thì ngọn gió chướng thổi lồng lộng thốc vào mạn xe, bật ra những tiếng kêu u u như tiếng dều giấy thả bay trong mùa chướng.

Người tà xế Taxi hảm chiếc xe cho chạy chầm chậm, rồi quẹo theo hướng chỉ mũi tên vô huyện Cái Bè. Chạy thêm một đổi nữa, thì Mai Cồ Tửng day qua nói với người tài xế:

– Căn nhà ngói trước mặt là căn nhà tôi, vậy anh coi cho xe đậu chỗ nào cho tiện, để tôi xách mấy cái valy, vì cái cửa ngỏ hẹp chắc xe vô không lọt…

Tiếng con Vện già cất tiếng sủa khô khan, khi nó ngó thấy có mấy người lạ mặt toan bước qua cửa ngỏ. Trong khi đó; thì có mấy người ngồi trong nhà, đã nhìn thấy chiếc Taxi nên chạy vội ra mừng vui ríu rít. Có người còn la lớn. Trời ơi thằng Sáu Tửng nó đã về tới nơi rồi nè. Vậy mà trong nhà mắc lo nói chuyện không hay, nhờ có con Vện nó sủa vang lên mới biết…

Mai Cồ Tửng dúi vào tay người tài xế $20 đô tiền bo. Hiểu ý, anh ta noí tiếng cám ơn, rồi lễ phép chào hỏi mọi người, sau đó bước trở ra xe, để còn tiếp tục một cuộc hành trình của một người tài xế Taxi, tối ngày cứ quần trên đường để mà bắt khách.

Ở đây, ngay lúc nầy. Chỉ có Sáu Tửng, chớ không có mai Cồ Tửng, nên anh ta vòng tay ôm chầm lấy bà già trong tiếng khóc nghẹn ngào. Mới ngày nào má anh còn mạnh khỏe tần tảo nuôi con, vậy mà ngày hôm nay già yếu. Chân bước đi thật là yếu ớt, phải có một cây gậy để nương vào, lại thêm đôi mắt đã phủ một lớp mây mù, mọi cảnh vật bây giờ đối với bà mờ mờ nhân ảnh.

Sáu Tửng ngước mắt nhìn lên bàn thờ cha, một bình nhang khói toả, làm cho quang cảnh quá đổi lạnh lùng. Họ hàng mỗi lúc thêm đông, họ hỏi thăm anh về đời sống của người Việt tha hương bên nước Úc. Nó sung sướng ra sao, mà phong trào vượt biển đang dâng cao rầm rộ. Có người còn nói, tao nghe thiên hạ họ bàn tán, là nếu cột đèn đi được thì nó cũng đi. Còn mầy làm ăn gì có khá hôn, mà dám cả gan bợ con vợ đầm rồi dẫn về đây, không sợ bà già bả giận, rồi mầy đứng cửa giữa làm sao đây hả!

Trong số họ hàng ngồi nghe anh nói, người ta ngạc nhiên từ điểm nầy đến điểm khác. Xe hơi gì mà lền như bánh canh, vợ một chiếc, chồng một chiếc của ai thì nấy chạy. Nhưng họ khoái nghe nhứt là vấn đề cư trú tự do và “an sinh xã hội”, muốn ở đâu cũng được, chớ không có cái cảnh phải trình với ông trưởng khóm, hay ông xã trưởng gì đâu, vậy mà người nào phạm tội thì đừng mong gì trốn tránh…

Người dân ở đây đã bị chế độ cộng sản kềm kẹp họ từ tháng 4 năm 1975 đến nay, thấm thoát cũng đã hơn 10 năm rồi, nên họ đâu có biết rằng trong thế giới nầy đã có những nước có quyền tự do như nước Úc. Cho nên họ hỏi những câu nghe qua thật là tội nghiệp. Còn vợ anh là Mary cũng bắt đầu làm quen với gia đình bên nhà chồng, nên cô ta cũng nói những câu tiếng Việt nghe lơ lớ. Cô ta nhìn thấy cái bếp tro cũng rất lạ kỳ, chỉ cần kê mấy cục gạch chụm đầu vào nhau cũng thành cái bếp. Vậy mà họ cũng nấu ăn, nấu uống cho tới hết đời nầy qua tới đời kia, chớ đâu có thấy họ than phiền điều gì lộ ra ngoài trên khuôn mặt.

Qua ngày hôm sau, sau bữa cơm trưa thì Mary mắc đi cầu, nên cô ta đi tới đứng kế bên cô giáo Phụng hỏi:

– Bây giờ em muốn đi cầu, thì phải làm sao?

  Cô giáo Phụng là chị thứ Tư của sáu Tửng, sau khi mỉm cười rồi đi vô buồng cầm ra một cuộn giấy Toilet Tissue rồi nắm tay Mary dẫn đi vòng ra sau vườn cách nhà chừng 20 thước. Nơi đó có một cái ao cá vồ cũng tới lứa ngoài kí lô 1 con, nhưng vì biết thằng Sáu Tửng sắp dẫn vợ nó về, nên bà già nuôi thúc để dành nấu canh chua chớ không có bán.

Về phần cô giáo Phụng nhìn thấy cái quần Jean cuả Mary đang mặc mà phát sợ, nó chật gần căng cái mông đít. Như vậy thì khi ngồi xuống đi cầu, bầy cá tra quẩy nước, thì làm sao nhóng cái đít lên cho kịp để tránh nước văng lên. Trong lúc đang chần chờ như vậy, tụi con nít ngó thấy con đầm tóc vàng sắp sửa đi cầu cá vồ thì bu lại cũng đông, nhưng tụi nó cũng đứng cách xa canh me chớ không dám tới gần, làm cho cô giáo Phụng thật là khó xử. 

Thôi thì đàng nào cũng lở, phải dạy con Mary biết cách đi cầu lúc nầy. Chớ còn không, thì làm sao giải quyết. Bởi trong lòng đã quyết như vậy, nên mới đưa cuộn giấy Tissue cho Mary, rồi nắm tay dắt lên cầu chớ không thì bị té.

Bởi thông thường cây cầu cá vồ gia đình nào cũng vậy, họ làm rất là sơ sài. Chỉ có bắt một cây đòn đi lên không tay vịn, còn bốn phiá thì họ chỉ che có mấy miếng lá chầm, để khi ngồi xuống nó che khuất cái mông đít mà thôi, cho nên mỗi khi đi cầu cá vồ người ta đều ngồi thủ thế. Khi thấy bầy cá giành ăn, thì họ nhóng cái đít lên một chút. Sau đó họ tiếp tục bình thường, cứ nhóng xuống nhóng lên, chừng nào sạch ruột thì thôi, chớ cũng không thì thế nào cũng bị văng nước ướt mông đít.Đàn cá vồ bắt đầu lượn dữ, sóng gợn từng hồi. Có con lại chạy nổi lưng, vì cái giống cá vồ từ lúc nhỏ cho tới bây giờ, nó thấy hơi người ta thì trừng đầu lên kiếm chác. Có con còn hả họng ra tác hoác để chực chờ, nếu không lanh lẹ thì làm sao no bụng.

Cô giáo Phụng ra dấu cho Mary kéo dây con rít trật ra ngồi xuống, trên bờ vườn phía bên kia, cái đám con nít bắt đầu chỉ trỏ. Bởi đây là lần đầu tiên tụi nó mới thấy một con đầm tóc vàng mà đi iả trên ao cá vồ, nên tụi nó mới hú hí bu lại coi chơi. Trong khi đó thì con Mary vẫn thản nhiên với bầy cá vồ, nhưng nào ngờ bầy cá vồ lại giành ăn với nhau phơi kỳ nổi lên như cá nằm trong rổ xúc. Có con lại hả họng ngước lên nhìn, dường thể nó muốn phóng lên để táp miếng mồi trước khi rơi xuống nước. Sợ quá Mary vội vả đứng lên mà quên kéo cái quần, cứ đứng như vậy mà xổ tiếng ăng lê tới mấy phút đồng hồ, để mặc cho mấy đứa con nít nhìn qua rồi cười ngất…

Vô tới nhà Mary oà lên khóc, khiến cho không khí trong nhà cũng bớt vui. Sáu Tửng ngồi kế bên an ủi, anh ta hứa chắc là nội ngày mai, anh ta sẽ rước thợ hồ đi lại nhà xây một cây cầu vệ sinh giựt nước đàng hoàng, chớ không thể để cho em đi cầu cá vồ nữa đâu, thôi em đừng sợ…

Cùng lúc đó, trong xóm nhỏ miền quê ở huyện Cái Bè, có một tốp con nít chạy đi khoe khắp xóm. Là tụi nó quả quyết, đã nhìn thấy con chim của con đầm nó không giống con chim ở đây, lông lá của nó vàng khè mà còn oăn như râu bắp nữa.

Khiến cho nhiều ông già nhậu vô cửng cửng, rồi đưa tay vuốt râu ngạnh trê nói phỏng. Tao biết trước hết rồi mà, như đám mạ cháy chớ có khác gì đâu. Bởi vậy tao đâu có thèm coi, ngồi nhà nhưng tao đây đều biết hết./-

                                                                                                                                                                    Phùng Nhân